Nông nghiệp chất lượng cao có vai trò rất lớn trong việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp cũng như nâng cao chất lượng nông nghiệp. Đây chính là bước thúc đẩy Việt Nam trở thành một quốc gia có nền nông nghiệp phát triển trên thế giới.
Trang 1MỞ ĐẦU
Hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đang hướng tới việcphát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa- hiện đại hóa Bêncạnh các quốc gia vẫn giữ hướng phát triển nông nghiệp truyền thống,
đã có không ít quốc gia bắt đầu tiếp cận với nền nông nghiệp chấtlượng cao để nâng cao hiệu quả nông nghiệp
“ Nông nghiệp chất lượng cao” không còn là một khái niệm mới mevới nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Israel, Nhật Bản Tuy nhiênđới với Việt Nam việc phát triển nền nông nghiệp theo hướng này vẫnchỉ đang ở những bước đầu Nước ta vẫn khá quen với những nềnnông nghiệp thâm canh với quy mô nhỏ lẻ, thiếu tập trung Đó cũng là
lý do nền nông nghiệp Việt Nam vẫn còn chiếm tỉ trọng nhỏ trong cơcấu kinh tế (Về cơ cấu nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủysản chiếm tỷ trọng 18,12%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm38,50%; khu vực dịch vụ chiếm 43,38% - năm 2014) Hơn nữa, chấtlượng nông sản của nước ta vẫn chưa được đánh giá cao trên thị trườngthế giới Số lượng nông sản xuất khẩu của Việt Nam vẫn chưa nhiều.Đặc biệt, nông sản nước ta vẫn chỉ thâm nhập thị trường nước ngoài vớichất lượng sản phẩm chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu khắt khe củanhiều nước trên thế giới Đây là một trong những nguyên nhân chínhkhiến cho Việt Nam nên áp dụng nền nông nghiệp chất lượng cao vàosản xuất Việc áp dụng nông nghiệp chất lượng cao là phương pháp hiệuquả giúp nâng cao chất lượng nông sản cả trong nước và xuất khẩu Pháttriển nông nghiệp theo hướng chất lượng cao là một vấn đề cần thiết đốivới nền nông nghiệp Việt Nam nói riêng và cả nền kinh tế nói chung.Muốn vậy trước hết chúng ta cần có cái nhìn cụ thể, chính xác về “nôngnghiệp chất lượng cao” Đồng thời phải thấy được những tiềm năng đểphát triển nông nghiệp Nâng cao chất lượng nông nghiệp cần được thựchiện một cách có hệ thống, tổ chức
Bài tiểu luận sẽ góp phần đưa ra cái khái niệm cụ thể hơn về nền nôngnghiệp chất lượng cao Sau đó đưa ra bức tranh về nền nông nghiệp chất
Trang 2lượng cao của một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới như Mỹ, Israel,Nhật Bản Bên cạnh đó còn chỉ ra những tiềm năng cũng như hạn chếcủa Việt Nam trong việc phát triển nông nghiệp chất lượng cao Quantrọng hơn sẽ đưa ra một số giải pháp để giải quyết cũng như thúc đẩynông nghiệp phát triển.
Nông nghiệp chất lượng cao có vai trò rất lớn trong việc chuyển dịch cơcấu nông nghiệp cũng như nâng cao chất lượng nông nghiệp Đây chính
là bước thúc đẩy Việt Nam trở thành một quốc gia có nền nông nghiệpphát triển trên thế giới
NỘI DUNG
I Khái quát về nền nông nghiệp chất lượng cao
1) Định nghĩa về nền nông nghiệp chất lượng cao
Nông nghiệp chất lượng cao là nền nông nghiệp phát triển vớinhững phương thức tổ chức sản xuất tiến bộ đáp ứng với yêucầu về quy mô sản xuất mang tính hàng hoá, tập trung,chuyên canh cao Các phương thức tổ chức sản xuất thích hợp
là trangj trại, gia trại… có quy mô lớn; hoặc có thể các nông
hộ được tổ chức liên kết sản xuất (các hợp tác xã kiểu mới)…nhằm hình thành các vùng chuyên canh, tập trung
2) Đặc điểm của nền nông nghiệp chất lượng cao
-Sản phẩm chất lượng cao phải có ưu thế nổi trội về phẩm chất (nhưhương vị, mẫu mã, độ đồng đều, thành phần dinh dưỡng…)
- Sản phẩm mang tính độc đáo cao, giàu lợi thế so sánh trong cạnhtranh nhờ những yếu tố giới hạn về phạm vi và qui mô phát triển nhưđiều kiện sinh thái, kỹ thuật thâm canh, phẩm chất giống… Nhữngsản phẩm này được coi như những “đặc sản” và luôn được ưa chuộngcao trên thị trường tiêu thụ
- Sản phẩm chất lượng cao đòi hỏi đáp ứng các chỉ tiêu về an toànthực phẩm nhờ được sản xuất theo các qui trình kỹ thuật và công nghệtiến bộ, hiện đại được quản lý và xác nhận chất lượng ở phạm vi quốcgia và quốc tế
Trang 3- Nhiều nước trên thế giới hiện áp dụng các chỉ tiêu của qui trình “Sảnxuất nông nghiệp tốt (GAP)” để xác nhận chất lượng nông sản đảmbảo an toàn vệ sinh thực phẩm và xuất xứ của sản phẩm Tại ViệtNam hiện cũng đang thúc đẩy phát triển nông sản sản xuất theo quitrình GAP với các tiêu chuẩn Viet GAP và Global GAP nhằm đáp ứngyêu cầu về chất lượng sản phẩm an toàn, sạch ngày càng cao của thịtrường nội tiêu cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh, tham gia vàothị trưòng xuất khấu một cách hiệu quả, đặc biệt với những thị trưòngkhó tính nhưng giàu tiềm năng kim ngạch như các quốc gia Bắc Mỹ,
EU, Úc v.v…
Như vậy, sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao cần hội đủ các yếu tố
cả về phẩm chất lẫn về tiêu chuẩn sạch, an toàn cho người tiêu dùng.Đây là những yếu tố mang lại lợi thế cạnh tranh cao cho nông sản chấtlượng cao trên thị trường tiêu thụ thông thường cũng như những thịtrường khắt khe, khó tính
Nông nghiệp chất lượng cao phát triển cơ bản dựa trên kỹ thuật sảnxuất thâm canh, ứng dụng hiệu quả các tiến bộ khoa học - công nghệ,trong đó nông nghiệp công nghệ cao ngày càng khẳng định vai tròđộng lực thúc đẩy quá trính phát triển nông nghiệp cả về lượng lẫn vềchất
Ứng dụng công nghệ cao trong nông - lâm - ngư nghiệp là áp dụngmột cách hợp lý các kỹ thuật tiên tiến nhất trong chọn tạo giống mới,chăm sóc nuôi dưỡng cây, con bằng hệ thống thiết bị tự động, điềukhiển từ xa, chế biến phân bón vi sinh cho cây trồng, thức ăn chănnuôi (gồm cả thuỷ sản), thuốc thú y, bảo vệ thực vật, công nghệ tựđộng trong thuỷ lợi, công nghệ sau thu hoạch và chế biến nông - thuỷsản, công nghệ xử lý chất thải bảo vệ môi trường… Trong đó, côngnghệ sinh học giữ vai trò chủ đạo trong việc phát triển nông nghiệpcông nghệ cao
Việc ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp đã đem lại nhữngbước phát triển đột phá với những ưu thế trong sản xuất Cụ thể như
Trang 4hàng loạt giống mới được tạo ra với những ưu thế về năng suất, chấtlượng kháng sâu bệnh, chịu hạn, chịu mặn… mang lại hiệu quả caotrong sản xuất , phương pháp canh tác hữu cơ sau bệnh, an toàn vệsinh thực phẩm, kỹ thuật canh tác trong nhà kính (có hệ thống điềukhiển tự động hoặc bán tự động đối với các yếu tố nhiệt, ẩm, ánh sáng,phân bón, nước tưới…) giảm bớt sự lệ thuộc vào điều kiện tự nhiên.Đồng thời, việc sử dụng các vật liệu mới như nilon che phủ để chống
cỏ dại, giữ ẩm đất, có thể tự phân huỷ khi cây lớn, sử dụng các phếliệu nông nghiệp như trấu, mùn cưa… làm giá thể trồng cây đảm bảo
vô trùng, thoáng khí, giữ ẩm tốt, tự động hoá, cơ giới hoá trong quátrình sản xuất, vận chuyển sản phẩm, chăm sóc, thu hoạch, bảo quản,chế biến nông sản…
Nông nghiệp chất lượng cao là nền nông nghiệp phát triển với nhữngphương thức tổ chức sản xuất tiến bộ đáp ứng với yêu cầu về qui môsản xuất mang tính hàng hoá, tập trung, chuyên canh cao
Các phương thức tổ chức sản xuất thích hợp là trang trại, gia trại… cóqui mô lớn; hoặc có thể các nông hộ được tổ chức liên kết sản xuất( các hợp tác xã kiểu mới)… nhằm hình thành các vùng chuyên canh,tập trung Như vậy, nền nông nghiệp hàng hoá chất lượng cao cầnđược phát triển có định hướng và được tổ chức sản xuất với nhữngphưong thức phù hợp, đảm bảo tính hợp lý và hiệu quả của qui mô sảnxuất, năng lực đầu tư đồng thời phát huy tính năng động trong quátrình phát triển
3) Vai trò của nền nông nghiệp chất lượng cao
3.1) Đảm bảo an ninh lương thực
Nền nông nghiệp chất lượngcao giúp đảm bảo an ninh lương thực chocác quốc gia Vấn đề an ninh lương thực luôn là một vấn đề đáng quantâm của hầu hết các nước trên thế giới Để đảm bảo điều này cần đến
sự phối hợp của nhiều biện pháp, bao gồm: chính sách, cán cân xuấtnhập khẩu và đặc biệt là việc phát triển nông nghiệp lương thực ởquốc gia Ngày nay, các nước đang dần tiến đến việc sản xuất lươngthực nhằm mục đích xuất khâu Trước hết cần đảm bảo nguồn lương
Trang 5thực dự trữ trong nước Phát triển nông nghiệp chất lượng cao sẽ làmột bước tiến quan trọng trong ván đề đảm bảo an ninh lương thực.Nghiên cứu của các nhà khoa học 13 nước hàng đầu thế giới vừa đượccông bố ở London (Anh) cũng khẳng định vai trò và trách nhiệm củakhoa học trong việc ngăn chặn khủng hoảng môi trường, đảm bảocung cấp lương thực chất lượng và giảm tác động của biến đổi khíhậu Trong khi 12 triệu hécta đất nông nghiệp bị suy thoái hàng năm,các sự kiện thời tiết cực đoan đã gây tổn thất nông nghiệp toàn cầu tới11,4 tỷ USD trong năm 2011 Khoảng 1,3 tỷ tấn lương thực hàng năm,chiếm 1/3 sản lượng lương thực để nuôi sống con người trên toàn cầu,đang bị tổn thất hoặc bị lãng phí.
Thách thức trong vài thập kỷ tới là hòa nhập khoa học vào cuộc chiếntăng sản xuất lương thực mà không gây tổn hại môi trường; đồng thờigiảm tổn thất lương thực sau thu hoạch, góp phần tăng cường an ninhlương thực toàn cầu
Các chuyên gia Liên hợp quốc và các nhà khoa học quốc tế cũng nhấnmạnh trách nhiệm của khoa học trong bối cảnh 1,4 tỷ người trên thếgiới đang sống dưới mức nghèo khổ và 2 tỷ người đang sống ở cáckhu vực khô hạn Trong 4,9 tỷ hécta đất nông nghiệp trên thế giới, cótới 3,7 tỷ hécta đang được sử dụng để chăn thả và trồng các loại câylàm thức ăn cho gia súc
Chính vì thế vấn đề nông nghiệp chất lượng cao có vai trò thúc đẩysản lượng lương thực, từ đó đảm bảo cân bằng lương thực quốc gia.Hiệun nay vấn đề biến đổi khí hậu đang trở thành vấn đề nóng củatoàn cầu Một nghiên cứu mới bao gồm các nhà nghiên cứu đến từMIT (Viện công nghệ Massachusetts - Massachusetts Institute ofTechnology) đã chứng minh những mối tương tác nói trên có thể kháquan trọng, cho thấy những người làm chính sách cần đưa cả hai yếutố: ấm lên toàn cầu và ô nhiễm không khí vào để tính toán khi tìmcách giải quyết vấn đề an ninh lương thực
Nghiên cứu này đã xem xét chi tiết sản lượng toàn cầu của 4 loại câylương thực hàng đầu gồm: lúa gạo, lúa mì, ngô và đậu tương – chiếmhơn một nửa lượng calo tiêu thụ của con người trên toàn cầu Nghiên
Trang 6cứu dự đoán các ảnh hưởng sẽ thay đổi rất đáng kể giữa các vùng khácnhau, và một số loại cây lương thực bị tác động mạnh hơn so với loạicây lương thực khác hoặc bị tác động mạnh hơn bởi các yếu tố khác:
Ví dụ, lúa mì rất nhạy cảm với tiếp xúc ozone, trong khi đó ngô lại bịtác động bất lợi nhiều hơn do nhiệt độ
Nông nghiệp chất lượng cao sẽ giúp tăng năng suất đồng thời với cácchính sách phát triển xanh sẽ giúp giảm thiểu ảnh hưởng của môitrường đối với nông nghiệp
Theo ước tính của Liên Hiệp Quốc, dân số thế giới sẽ đạt 9 tỉ ngườivào năm 2050 Cùng với sự gia tăng dân số, thế giới còn phải đối mặtvới vấn đề biến đổi khí hậu, nhiên liệu hóa thạch tăng giá, hệ sinh tháisuy thoái cũng như tình trạng khan hiếm đất và nước – tất cả đangkhiến các phương thức sản xuất lương thực hiện hành không còn bềnvững Trước những thách thức này, sự cải tiến về công nghệ sản xuấtnông nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng
Trang công nghệ TechNewsWorld của Mỹ có bài giới thiệu về nôngnghiệp đô thị Nông nghiệp đô thị là mô hình trồng trọt và chăn nuôibên trong và xung quanh thành phố Nó đồng nghĩa với việc sản xuấtlương thực ngay tại các khu vực dân cư đông đúc, với nhiều loại hìnhkhác nhau như vườn rau tự nhiên, vườn rau trong nhà lưới (ngăn sâuhại xâm nhập) và canh tác nông nghiệp trong môi trường có kiểm soát(CEA)
CEA là một công nghệ trồng trọt tiên tiến, kết hợp giữa kỹ thuật, khoahọc cây trồng và những công nghệ quản lý dựa trên máy tính nhằm tối
ưu hóa các hệ thống canh tác, chất lượng cây trồng cũng như hiệu quảsản xuất Theo đó, nó cho phép nhà nông điều chỉnh các yếu tố môitrường theo ý muốn, bao gồm nhiệt độ, ẩm độ, độ pH và hàm lượngdinh dưỡng trong đất Mô hình trồng trọt này cho phép chuyển đổi cácnhà máy, nhà kho, tòa nhà bị bỏ hoang thành các trang trại hữu dụng.Với CEA, nhà nông kết hợp mô hình nuôi thủy sản với mô hình thủycanh (trồng cây trong nước) nhằm tạo ra hệ thống thủy canh tích hợpsinh học Đây là một hệ thống sản xuất lương thực bền vững, kết hợphài hòa giữa trồng các loại rau quả với nuôi thủy sản trong một môi
Trang 7trường cộng sinh, tuần hoàn và khép kín Không chỉ ứng dụng vàotrồng trọt trong nhà, CEA còn được các trường đại học hoặc công ty
sử dụng vào việc nghiên cứu những thay đổi của môi trường đối vớicây trồng, chẳng hạn như nghiên cứu sự quang hợp khi so sánh mộtcây được trồng dưới ánh sáng cảm ứng và một cây được trồng với ánhđèn LED
Như vậy nông nghiệp chất lượng cao có một vị trí quan trọng trongviệc đảm bảo an ninh lương thực trước những thách thức về môitrường và dân số thế giới Nông nghiệp chất lượng cao sẽ là bước đệmđảm bảo nguồn lương thực dự trữ cũng như cung ứng cho xuất khẩucủa quốc gia Vì thế cần phải chú trọng phát triển nông nghiệp chấtlượng cao để đảm bảo an ninh lương thực thế giới cả ở hiện tại vàtương lai
3.2) Tăng sức cạnh tranh cho hàng nông sản trên thị trường
Sản phẩm nông nghiệp ngày càng gặp phải nhiều rào cản thương mại
do các nước nhập khẩu dựng lên dưới hình thức chống bán phá giá,chống trợ cấp, nhằm khống chế thị phần, bảo hộ cho sản xuất trongnước Những rào cản kể trên đã trực tiếp tác động làm giảm tính cạnhtranh công bằng của hàng nông sản các nước trên thị trường thế giới.Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc nâng cao sức cạnh tranhhàng nông sản, đặc biệt là ở các nước nông nghiệp là việc làm vừa cấpbách, vừa lâu dài phải gắn liền trong tổng thể chiến lược xây dựng nềnnông nghiệp chất lượng cao, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế,thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn
Có thể thấy rõ vai trò quan trọng của nền nông nghiệp chất lượng caotrong lộ trình nâng cao sức cạnh tranh của hàng nông sản:
Xây dựng nền nông nghiệp chất lượng cao đi liền với cải tạo, pháttriển các loại giống có năng suất cao và áp dụng tiến bộ khoa học - kỹthuật, tổ chức lại sản xuất sẽ tạo sức mạnh cung cấp cho thị trườngnhững lô hàng nông sản lớn Thực hiện cơ giới hóa, hiện đại hóa, xâydựng vùng nguyên liệu gắn với nhà máy chế biến và thực hiện đa dạnghóa sản phẩm, phát triển các doanh nghiệp, hợp tác xã cổ phần nôngnghiệp, qua đó hình thành vùng sản xuất hàng hóa lớn trong nôngnghiệp Có chính sách thu hút đầu tư trong và ngoài nước, đặc biệt là
Trang 8cao Đầu tư mạnh cho nghiên cứu khoa học (giống cây trồng và vậtnuôi, kể cả những giống có gien chuyển đổi thích nghi với điều kiệncanh tác khắc nghiệt của nông dân vùng sâu, vùng xa); công nghệ sauthu hoạch Những biện pháp này được thực hiện sẽ giúp tăng năngsuất và nâng cao chất lượng sản phẩm, là yếu tố quan trọng trước hết
để hàng nông sản có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới
Xây dựng nền nông nghiệp chất lượng cao đòi hỏi thực hiện đánh giá
cụ thể, chọn lọc các mặt hàng nông sản có khả năng cạnh tranh để chútrọng phát triển cũng như có biện pháp khắc phục những yếu kém củanhững mặt hàng còn hạn chế về khả năng cạnh tranh trên thị trường.Trong đó, chú trọng các giải pháp đồng bộ về kỹ thuật và kinh tế làmcho sản phẩm thích ứng với thị trường Xác định rõ chủng loại và thịtrường xuất khẩu chủ yếu, bảo đảm giống tốt cho cây trồng xuất khẩu.Xây dựng một danh mục hàng hóa nông sản cho xuất khẩu Lựa chọnnhững loại đặc sản thị trường thế giới đang có nhu cầu lớn, dễ trồng
mà các nước trong khu vực không có hoặc chưa chú ý sản xuất nhằmgiảm bớt áp lực cạnh tranh, áp dụng khoa học - kỹ thuật để tăng tỷtrọng xuất khẩu sản phẩm Ðối với các sản phẩm chế biến cần lựachọn loại sản phẩm xuất khẩu vào thị trường nào tương đối rộng rãi vàchế biến thành nhiều loại sản phẩm khác nhau
Nền nông nghiệp chất lượng cao gắn liền với việc xây dựng và pháttriển thương hiệu cho các mặt hàng nông sản Việc xây dựng thươnghiệu không khó, cái khó là làm sao phát triển và giữ vững đượcthương hiệu sau khi đã xây dựng Muốn vậy, điều quan trọng nhất làphải bảo đảm chất lượng của nông sản đúng theo yêu cầu của ngườitiêu dùng và của thị trường Việc hình thành các doanh nghiệp sảnxuất, kinh doanh hàng nông sản có quy mô lớn, tăng cường xây dựngcác chuỗi cung ứng nông sản sẽ là cơ sở ban đầu để hình thành cácthương hiệu mạnh của các doanh nghiệp và nông sản trên thị trườngthế giới
Kiện toàn tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thốngthông tin thị trường từ Trung ương đến các địa phương; thành lập cácđiểm thông tin thị trường ở các vùng chuyên canh có tỷ suất hàng hóalớn; phối hợp hoạt động của các điểm thông tin với hoạt động của các
tổ chức khuyến nông, các câu lạc bộ, các hiệp hội ngành hàng vàdoanh nghiệp; tăng cường việc theo dõi, nghiên cứu thị trường quốc
tế, thông tin kịp thời cho các doanh nghiệp và nông dân; duy trì vàphát triển các trang điện tử trên mạng Internet về nông sản và các
Trang 9doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng nông sản; đặt vấn đề với các
tổ chức quốc tế, đề nghị trợ giúp kỹ thuật xây dựng thí điểm sàn giaodịch nông sản và nâng cao năng lực xúc tiến thương mại đối với hàngnông sản; có chính sách khuyến khích các địa phương, các doanhnghiệp sản xuất kinh doanh hàng nông sản tham gia các hội chợ nôngsản trong nước và quốc tế, xây dựng các trung tâm giao dịch và giớithiệu sản phẩm nông nghiệp ở nước ngoài… cũng là những nhiệm vụđặt ra để xây dựng nền nông nghiệp chất lượng cao và nâng cao sứccạnh tranh cho các mặt hàng nông sản
Ngoài ra, vai trò của Nhà nước đối với phát triển nền nông nghiệp chấtlượng cao cũng vô cùng quan trọng trong, thể hiện qua các chính sách
hỗ trợ nhằm xóa đói giảm nghèo và giúp đỡ nông dân trong phát triểnsản xuất nông sản có quy mô lớn, sản xuất theo quy hoạch; thực hiệnhợp đồng bán sản phẩm cho doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu;chính sách hỗ trợ nông dân mua sắm trang thiết bị phục vụ sản xuất,
sơ chế, chế biến, bảo quản nhằm nâng cao năng suất lao động vàchất lượng sản phẩm
Thực hiện đồng bộ các giải pháp nêu trên, với sự hợp tác, nỗ lực từnhiều phía là cơ sở để xây dựng nền nông nghiệp chất lượng cao, từ
đó nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản góp phần xây dựngnền nông nghiệp ở các nước sớm đi lên sản xuất hàng hóa lớn và cóthương hiệu quốc gia mạnh trên thị trường nông sản thế giới
3.3) Nông nghiệp chất lượng cao gắn với phát triển bền vững
Phát triển bền vững là mối quan tâm trên phạm vi toàn cầu Khái niệm
về phát triển bền vững được đưa ra với sự động thuận cao của cácquốc gia trên thế giới là: “Phát triển bền vững là quá trình có sự kếthợp chặt chẽ, hợp lý và hai hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, đó là:phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường”
Phát triển nông nghiệp bền vững là một cấu thành quan trọng của pháttriển bền vững Phát triển nông nghiệp bền vững được hiểu một cáchkhái quát là: nâng cao chất lượng môi trường và nguồn lực được dùngtrong nông nghiệp nhằm thoả mãn nhu cầu nông sản cho con người vànhu cầu nguyên liệu cho công nghiệp, đảm bảo khả thi về kinh tế điđôi với nâng cao chất lượng cuộc sống cho nông dân và ngông thôngtrong dài hạn
Trang 10Nền nông nghiệp chất lượng cao gắn với phát triển bền vững là nềnnông nghiệp phát triển trên cơ sở thâm canh cao nên nông nghiệp chấtlượng cao cũng được xác định như một giải pháp đáp ứng yêu cầuphát triển bền vững khi đồng thời hướng tới các mục tiêu hiệu quả cao
về kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường Một số loại hình sản xuất củanông nghiệp chất lượng cao như: nông nghiệp ứng dụng công nghệcao, nông nghiệp hữu cơ, canh tác sinh học - canh tác sinh thái… đềuchú trọng không chỉ nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng, vậtnuôi mà còn đảm bảo để hệ môi trường sinh thái được cải thiện, bảo
vệ một cách tích cực
Tại Việt Nam, trong những giai đoạn vừa qua, quá trình công nghiệphoá, đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ, tạo nên áp lực ngày càng caotrong khai thác, sử dung các nguồn tìa nguyên, đặc biệt tài nguyên đất,nước… Trong bối cảnh đó, nông nghiệp chất lượng cao là yêu cầuphát triển tất yếu nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và giảmthiểu các áp lực trong khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệmôi trường sinh thái
4) Một số nền nông nghiệp chất lượng cao trên thế giới
4.1) Nền nông nghiệp Israel
Nền nông nghiệp Israel phát triển ở trình độ cao Bất chấpđiều kiện địa lý không thích hợp cho nông nghiệp, Israel làmột nhà xuất khẩu lớn của thế giới về nông sản và đứng hàngđầu về công nghệ trong nông nghiệp Hơn một nửa diện tíchđất là sa mạc, điều kiện khí hậu khắc nghiệt và thiếu nướchoàn toàn không thích hợp cho nông nghiệp Tính đến năm
2014, 24,2% diện tích Israel là đất nông nghiệp Hiện nay,nông nghiệp chiếm 2,5% tổng GDP và 3,6% giá trị xuất khẩu.Mặc dù lao động trong nông nghiệp chỉ chiếm 3,7% tổng lựclượng lao động trong nước, Israel tự sản xuất được 95% nhucầu thực phẩm, phần còn lại được bổ sung từ việc nhậpkhẩu ngũ cốc, các loại hạt lấy dầu, thịt, cà phê, ca cao, đường
- Thành tựu của nền nông nghiệp:
Hình thức tổ chức nông nghiệp:
Trang 11Phần lớn nông nghiệp của Israel được tổ chức theo hình thức hợp tác
xã, hình thành từ các thập kỷ đầu của thế kỷ 20 Thúc đẩy bởi cả ýtưởng và hoàn cảnh thực tế, các nhà tiên phong đã tạo ra hai hình thứcnông nghiệp mới: kibbuttz, một cộng đồng tập thể với phương tiện sảnxuất chung và mỗi thành viên được hưởng lợi ích từ công việc củachính mình, và moshav, kiểu hợp tác xã của làng trong đó mỗi thànhviên sử dụng đất của mình để sản xuất, nhưng đầu vào và đầu ra (kể cảmarketing) được thực hiện tập thể, theo một đầu mối Cả hai hình thứclao động tập thể này đều được tạo ra để hiện thực hóa giấc mơ cộngđồng nông nghiệp dựa trên bình đẳng xã hội, hợp tác và tương trợ lẫnnhau Ngày nay, sản lượng nông nghiệp của các hợp tác xã này vẫnchiếm đa số áp đảo trong sản xuất nông nghiệp, kể cả phục vụ thịtrường nội địa lẫn xuất khẩu
Quản lý đất đai
Đất đai ở Israel được nhà nước quản lý rất chặt chẽ và được tận dụngtriệt để Nhà ở của dân thì xây trên các triền núi đá, còn đất đồng bằngtuyệt đối sử dụng cho trồng trọt và canh tác Israel đi tiên phong trênthế giới trong lĩnh vực cải tạo đất hoang mạc, sa mạc thành đất nôngnghiệp trù phú Có thể hiểu đơn giản quy trình này như sau: San bằngđất hoang mạc, sỏi đá; Phủ lên đó 1 lớp đất dày, ít nhất là 1/2 m;Trồng các loại cỏ hoặc cây dại không cần tưới nước khoảng từ 3-5năm, để biến đất chết thành đất màu Sau quá trình cải tạo này, đấthoang mạc biến thành đất nông nghiệp và được giao cho các chủ đất(nhà đầu tư) để tiến hành sản xuất Do vậy, bước vào thế kỷ 21, Israel
là nước duy nhất trên thế giới đã mở rộng được diện tích rừng và quỹđất nông nghiệp
Đầu tư R&D và ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại trong sảnxuất nông nghiệp
Các ứng dụng R&D có định hướng trong nông nghiệp đã được tiếnhành tại Israel từ đầu thế kỷ 20 Lĩnh vực nông nghiệp hiện nay củanước này hầu như gắn chặt với khoa học và công nghệ, với các tổ
Trang 12cả phối hợp với nhau nhằm tìm kiếm các giải pháp để giải quyết cácvấn đề trong nông nghiệp mà nước này gặp phải Đối mặt với hàngloạt các vấn đề, từ giống di truyền, kiểm soát bệnh dịch tới canh táctrên đất cằn, R&D trong nông nghiệp của Israel đã phát triển các côngnghệ để tạo ra sự biến chuyển ngoạn mục không chỉ trong số lượng
mà cả chất lượng các sản phẩm nông nghiệp của đất nước Các phátkiến nổi tiếng của Isreal được ứng dụng rộng rãi trong hoạt động nôngnghiệp có thể kể đến như: công nghệ tưới nhỏ giọt, kén tồn trữ lươngthực, kiểm soát côn trùng theo phương pháp sinh học, công nghệ chănnuôi bò sữa công nghiệp, sản xuất thực phẩm từ khí nhà kính… Chìakhóa của thành công này là nhờ các thông tin hai chiều giữa bản thâncác nhà khoa học và các nhà nông Thông qua mạng lưới dịch vụ mởrộng nông nghiệp (và sự tích cực tham gia của nhà nông vào toàn bộtiến trình R&D), các vấn đề trong nông nghiệp được chuyển trực tiếptới các nhà nghiên cứu để kiếm tìm giải pháp Từ đó, các kết quảnghiên cứu khoa học cũng được nhanh chóng chuyển tới đồng ruộng
để thử nghiệm, thích nghi và điều chỉnh
Israel là nước hàng đầu về xuất khẩu các thực phẩm được trồng trongnhà kính Israel xuất khẩu hơn 1,3 tỷ USD sản phẩm nông nghiệp mỗinăm, ngoài ra còn xuất khẩu 1,2 tỷ USD các sản phẩm và công nghệđầu vào cho nông nghiệp
Nhằm hạ giá thành sản phẩm, tăng sản lượng, cải thiện chất lượng vàtiết kiệm nhân công, các sáng chế về máy móc nông nghiệp cũng nhưthiết bị điện tử phụ trợ đã được ra đời và áp dụng nhanh chóng và rộngrãi vào đời sống Đặc biệt là các máy móc, thiết bị phục vụ đất trồngtrọt, chống xói mòn, các máy gieo hạt, thu hoạch và các thiết bị phùhợp cho thâm canh tăng vụ, tưới tiêu (tự động hóa)… Nhiều thiết bị tựđộng khác cũng được sử dụng trong chăn nuôi như máy vắt sữa, máythu hoạch trứng, các hệ thống cho ăn tự động… và các máy móc phục
vụ sau thu hoạch như máy phân loại sản phẩm, máy đóng gói, hệthống kho trữ và đặc biệt là hệ thống vận tải chuyên biệt Những côngnghệ phát triển trong nước cũng chú trọng tới việc kiểm soát bón phân
Trang 13tự động hóa (thông qua hệ thống máy tính), có thể bón phân qua nướctưới tiêu, các biện pháp kiểm soát độ ẩm, tạo môi trường trong lànhcho trồng hoa, các thực phẩm trái mùa…
Quản lý nhà nước về nông nghiệp
Bộ Nông nghiệp Israel hỗ trợ và kiểm soát toàn bộ các hoạt động nôngnghiệp của đất nước, gồm cả việc duy trì các tiêu chuẩn cao đối vớicác sản phẩm cây trồng và vật nuôi, đề ra các kế hoạch thúc đẩy, pháttriển nông nghiệp thông qua các hoạt động nghiên cứu và thị trường(kể cả marketing) Từ nhiều năm nay, nông nghiệp Israel được Chínhphủ nước này kiểm soát chặt chẽ thông qua hệ thống trợ cấp sản xuất
và định mức nước tiêu thụ cho mỗi mùa vụ Hiện nay, nước này cũngkiểm soát định mức sản xuất và chất lượng của một số sản phẩm nôngnghiệp như sữa, trứng, gà con và khoai tây
Các chương trình nghiên cứu nhằm gia tăng lượng nước để tưới tiêucũng đang được tiến hành, chủ yếu thông qua tăng lượng nước mưa(tạo mưa nhân tạo), khử mặn trong nước và sử dụng các hệ thống lọcnước để tái sử dụng Các nghiên cứu mới đã dẫn tới việc khai thácnước mặn ở các bể chứa nước khổng lồ tại sa mạc Negrev, dùng chomột số giống cây phù hợp
Cũng như nhiều nước khác, nông nghiệp Israel cũng phải chịu áp lựcbởi lượng nhân công phục vụ trong lĩnh vực này ngày càng ít đi (giảm40% từ năm 1960 tới năm 1996) Mặc dù vậy, lượng nhân công ít ỏitrong nông nghiệp ngày nay lại đem lại sản lượng lớn hơn so với trướckia Trong đầu những năm 1950, một nông dân có thể cung cấp đủlương thực cho 17 người thì vào năm 1994, mỗi người trong số họ đã
có thể nuôi được 90 người
4.2) Nền nông nghiệp Mỹ
Trang 14Nước Mỹ có ngành nông nghiệp tân tiến, hiện đại nhất thế giới Laođộng nông nghiệp chiếm khoảng 1% trong tổng dân số 322 triệungười Tính đến tháng 4-2014, lực lượng lao đông Mỹ, ( labor force ),gồm có tổng số 155 triệu ,421 nghìn người, trong đó, lao động nôngnghiệp có 1 triệu,879 nghìn người, chiếm tỷ lệ khoảng 0,7% Đất đai
Mỹ có diện tích 9,161,923 km2, trong đó, đất khả canh chiếm18,1% Theo thống kê nông nghiệp, công bố trong tháng 2 năm 2014 ,thì năm 2012, tổng số nông trại ở Mỹ có 2,109,363 cái, trung bình mỗitrại có diện tích 434 acres, ( 1 acre = 0.4015 ha ) Năm 2012, tổng giátrị nông phẩm đạt $394.6 tỷ, tăng 33% so với năm 2007, trong đó thu
về các sản phẩm trồng trọt $219.6 tỷ, sản phẩm chăn nuôi đạt $171.7tỷ
Mỹ là nước dẫn đầu thế giới về xuất cảng nông phẩm, xuất cảng đậunành đạt $24.7 tỷ, chiếm 50.5%, bắp, đạt kim ngạch $9.3 %, luá mi
$8.2 tỷ, chiếm 18% thị phần xuất cảng nông phẩm của toàn thếgiới.Từ năm 1960 đến năm 2014, Mỹ luôn luôn có thặng dư về mậudịch nông nghiệp, xuất khẩu nông nghiêp năm 2012 đạt $141.3 tỷ, vàước tính năm 2014 đạt $149.5 tỷ, chiếm hơn 10% tổng số kim ngạchxuất khẩu của toàn ngành và thặng dư mậu dịch nông nghiệp lên đếntrên $ 38.5 tỷ
- Thành tựu của nền nông nghiệp:
Cơ giới hóa nền nông nghiệp
Vào đầu thế kỷ 20, phải có 4 nông dân mới sản xuất nông phẩm đủnuôi cho 10 người, ngày nay, một nông dâm Mỹ có thể cung cấp đủlương thực nuôi 100 người Mỹ và 32 người đang sống tại các nướctrên thế giới
Cơ giới hoá nông nghiệp được thực hiện rất sớm tại Hoa kỳ, nhưngphát triển manh nhất là vào những thập niên 1940 đến thập niên 1970,thời kỳ kết hợp cơ giới với việc sử dụng phân hoá học, cải tiến hạtgiông và là giai đoạn thực hiện cách mạng xanh Năm 1907, cả nước chỉ có 600 máy kéo, đến năm 1950 , số máy kéo lên đến 3,400,000
Trang 15cái Chi phí máy móc chiếm một tỷ lệ rất lớn trong tồng chi phí đầu tưvào sản xuất nông nghiệp Có những máy liên hoàn , kết hợp máy kéovới máy cày, máy gieo trồng, máy gặt, rất hiện đại giá mỗi cái giá $100,000 Cơ giới hoá gần như thay thế sức người, sức vật tại Mỹ Sựkết hợp cơ giới với cải tiến trong kỹ thuật canh tác và chế biến nôngsản đang làm thay đổi phương pháp sản xuất và phân phối lương thựctại Mỹ và tại các nước trên toàn thế giới.
Nhờ cơ giới hoá và cải thiện kỹ thuật trồng trọt, kỹ thuật chăn nuôi giasúc, sản lượng nông nghiệp tăng lên đến 75% mỗi năm, giải quyếtđược nạn thiếu hụt thực phẩm trên thế giới Cơ giới hoá là một bướctiến rất lớn trong ngành nông nghiêp Mỹ và các nước trên toàn thếgiới
Ứng dụng khoa học kĩ thuật trong sản xuất nông nghiệp
Trên thế giới, kỹ thuật trông cây GMC đã áp dụng từ năm 1996 trêndiện tích 17 triêu ha, đến năm 2013 diện tích trông cây GMC tăng lên
100 lần với diện tích 175 triêu ha Năm 2012 , nước Mỹ có 69.5 triệu
ha cây trồng biến đổi gen, bao gồm đâu nành, bắp, bông vài, củ cảiđường, đu đù và vài loại hoa màu khác Hiện nay, tỷ lệ đất trồng câybiến đổi gen chiếm một tỷ lệ rất lớn, 98% với củ cải đường, 91% vớiđậu nành, 88% với bông vải, và 85% đối với bắp
Nhờ tạo được cây trồng chuyển đổi gen, có đặc tính mới, như chiuđược khí hậu lạnh hoặc nóng, trồng đưọc trên đất mặn, có đặc tínhchống được sâu bệnh, chống cỏ dại, kéo dài thời gian bảo quản, nôngsản thu hoạch nhiều và lâu hư thối Điểm nổi bật là loại cây trôngGMC cải thiện được môi trường vì ít dùng thuốc trừ sâu, ít dùng thuốcdiệt cỏ, khí hậu bớt ô nhiễm, giảm bớt lượng CO2 Nông dân ít tiếpxúc hoá chất, người tiêu thụ được hưởng thức ăn bổ dưỡng hơn, thựcphảm ít chứa chất độc hại
Theo ước tính từ giai đoạn 1996 đến 2012 , nhờ áp dụng trồng câyGMC, thu nhâp đã gia tăng $117 tỷ, trong đó 58% do giảm chi phí sảnxuất, 42% do tăng năng suất
Trang 16Việc áp dụng kỹ thuật sinh học trong nông nghiệp có nhiểu mặt tíchcực, tuy nhiên cũng có một số tiêu cực đang bàn cãi như làm thay đổiđặc tính thiên nhiên, làm gia tăng dị ứng do cây trồng mới mang lại,một số vi trùng gây bệnh sẽ kháng lại thuốc chữa trị Mặt khác, kỹthuật trồng cây GMC theo diện đại trà, đã làm cho các công ty chuyêncung cấp giống, như Monsanto, Syngenta, thu được một số tiền lờiquá lớn, lợi tức phân bổ không cân đối giữa các công ty cung cấp hạtgiống và nông dân sản xuất.
Nước Mỹ sẽ là vựa lương thực, cung cấp, nuôi sống dân sô của toànthế giới Với sức mạnh của nông nghiệp Mỹ, trong tương lai, ngànhnông nghiệp Mỹ sẽ là một khí giới bảo vệ nước Mỹ Sức mạnh củanông nghiệp Mỹ, một ngày nào, có thể là khí giới mạnh hơn bất kỳloại khí giới nào hiện có trên thế giới
4.3) Nền nông nghiệp Nhật Bản
Trước khi trở thành một trong vài nước công nghiệp hàng đầu thếgiới, Nhật Bản cũng là một nước nông nghiệp với tỉ lệ nông dân trongtổng dân số tương đương với Việt Nam Trước Minh Trị Duy Tân vàonăm 1868, tới 80% dân số Nhật Bản làm nghề nông và lúa là nông sảnchính Các phương pháp thâm canh cần nhiều lao động được phát triển
vì mỗi hộ gia đình chỉ có một diên tích ruộng hạn chế Những đặcđiểm nông nghiệp này đã làm gia tăng các thông lệ trong canh táccũng như những tập tục ảnh hưởng đến toàn bộ nền văn hóa Nhật Bản
- Thành tựu của nền nông nghiệp:
Phát triển khoa học-kỹ thuật nông nghiệp
Để phát triển nông nghiệp, Nhật Bản coi phát triển khoa
học-kỹ thuật nông nghiệp là biện pháp hàng đầu Nhật Bản tậptrung vào các công nghệ tiết kiệm đất như: tăng cường sửdụng phân hoa học; hoàn thiện công tác quản lý và kỹ thuậttưới tiêu nước cho ruộng lúa; lai tạo và đưa vào sử dụng đạitrà những giống kháng bệnh, sâu rầy và chịu rét; nhanh chóng
Trang 17đưa sản xuất nông nghiệp sang kỹ thuật thâm canh, tăng năngsuất
Để phát triển khoa học-kỹ thuật nông nghiệp, Nhật Bản chủyếu dựa vào các viện nghiên cứu nông nghiệp của Nhà nước
và chính quyền các địa phương Viện quốc gia về khoa họcnông nghiệp được thành lập ở cấp Nhà nước là cơ quan cótrách nhiệm tổng hợp gắn kết toàn bộ các viện nghiên cứu cấpngành thành một khối Bên cạnh đó, các viện nghiên cứunông nghiệp cũng tăng cường liên kết nghiên cứu vối cáctrường đại học, các xí nghiệp tư nhân và các hội khuyến nông;liên kết vối các tổ chức này và các tổ chức của nông dân đểgiúp nông dân tiếp cận công nghệ, trang thiết bị tiên tiến, giúptăng năng suất, chất lượng, đảm bảo nông nghiệp tăng trưởng
ổn định
Cải cách ruộng đất
Cải cách ruộng đất năm 1945 và 1948 đã tạo động lực kíchthích mạnh mẽ nông nghiệp phát triển, mở rộng việc mua bánnông phẩm và tăng nhanh tích lũy
Để duy trì, bảo vệ những vùng đất tốt dùng cho mục đíchnông nghiệp, năm 1969 Nhà nước đã ban hành Luật Cải tạo
và phát triển những vùng đất có khả năng mở rộng sản xuấtnông nghiệp Đến năm 1970, Luật Đất đai nông nghiệp vàLuật Hợp tác xã nông nghiệp được sửa đổi bổ sung đã nốirộng quyền hạn cho thuê, phát canh đất sản xuất nông nghiệpcũng như quyền quản lý cho các tập đoàn và các hợp tác xã(HTX) nông nghiệp Năm 1975, Nhật Bản quyết định thựchiện chính sách phát triển nông nghiệp toàn diện, bao gồm:đảm bảo an toàn lương thực; xem xét lại chính sách giá cả;hoàn thiện cơ cấu sản xuất, đẩy mạnh các công trình phúc lợitrong các làng xã Đồng thời chương trình "Đẩy mạnh sửdụng đất nông nghiệp" được triển khai Chương trình nàyđược bổ sung vào năm 1980, và nhờ vậy nó giữ vai trò quantrọng trong việc hoàn thiện cơ cấu sản xuất nông nghiệp
Trang 18Từng hộ sản xuất riêng lẻ, vối quy mô quá nhỏ thì không thể
có đủ điều kiện kinh tế và kỹ thuật để HĐH quá trình sản xuấtnông nghiệp hàng hóa lớn Năm 1995 số lượng nông trại giảm
791 nghìn cái (giảm 18,7%) so vối năm 1985 Quy mô ruộngđất bình quân của một nông trại có sự thay đổi theo hướngtích tụ ruộng đất vào các trang trại lớn để tăng hiệu quả sảnxuất Xu hướng này thể hiện rõ nhất trong giai đoạn 1990-
1995, qui mô đất lúa bình quân/hộ tăng từ 7180m2 lên8120m2
Phát triển sản xuất có chọn lọc, nâng cao chất lượng nông sản
Bước ngoặt của chính sách nông nghiệp của Nhật Bản thực sựbắt đầu khi Luật Nông nghiệp cơ bản được ban hành vào năm
1961, với hai phương hướng chính sách chủ yếu: Phát triểnsản xuất có chọn lọc, cụ thể là đẩy mạnh sản xuất những sảnphẩm có nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng và giảm sản xuấtnhững nông phẩm có sức tiêu thụ kém; Hoàn thiện cơ cấunông nghiệp, kể cả việc phát triển những nông hộ và HTX cónăng lực về quản lý kinh doanh và canh tác
Trong những năm 1960 và 1970, sự phát triển mạnh mẽ củanền kinh tế Nhật đã đẩy thu nhập của nhân dân tăng đáng kể.Cũng trong thời gian này, lao động trong nông nghiệp giảmxuống khoảng 50%, song năng suất lao động lại tăng bìnhquân hàng năm 5-8% nhờ tăng cường cơ giới hoa và cải tiếnquy trình kỹ thuật Đây là tỷ lệ tăng bình quân cao nhất ởnhững nước phát triển
Các ngành thực phẩm chế biến phát triển, giúp cho người dânsống ở nông thôn có thêm nhiều việc làm, thu nhập được cảithiện, do đó Nhật Bản đã tạo cho mình một thị trường nội địa
đủ lốn cho hàng hoa công nghiệp tích lũy lấy đà chuyển sangxuất khẩu Khi sản xuất hàng hóa lớn phát triển, Nhật Bản tậptrung đất đai, mở rộng quy mô sản xuất, phát triển nông hộlớn hoặc trang trại để tạo điều kiện cơ giới hóa, tăng năng suấtlao động, tăng khả năng cạnh tranh
Trang 19 Phát triển các hợp tác xã và các tổ chức kinh tế hợp tác xã dịchvụ
Hợp tác xã có vị trí rất quan trọng trong phát triển nôngnghiệp ở Nhật Bản Hầu hết những người nông dân đều là xãviên của HTX nông nghiệp Chính phủ rất coi trọng thể chếvận hành các HTX nông nghiệp và đã ban hành, thực hiệnnhiều chính sách giúp đỡ phát triển, không ngừng mở rộngquy mô sản xuất nhằm giúp người nông dân thoát khỏi cảnhđói nghèo và cùng hội nhập vào nền kinh tế thế giới TheoLuật Hợp tác xã nông nghiệp, năm 1972 Liên hiệp các HTXnông nghiệp quốc gia Nhật Bản chính thức được thành lập vàđược Chính phủ giao thực hiện các mục tiêu về phát triểnnông nghiệp và nông thôn Hệ thống HTX nông nghiệp NhậtBản được phân làm 3 cấp, hoạt động vối tôn chỉ dựa vào sự
nỗ lực hợp tác giữa các HTX nông nghiệp cấp cơ sở, các liênđoàn cấp tỉnh và cấp trung ương tạo thành một bộ máy thốngnhất hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương Vai trò củacác HTX và tổ chức kinh tế HTX dịch vụ đã thúc đẩy quátrình tích tụ, tập trung ruộng đất và chuyên môn hóa sâu theohướng thương mại hóa trong nông nghiệp nước này
II Nền nông nghiệp VIỆT NAM
1) Vai trò nông nghiệp với nền kinh tế Việt Nam
4.4) Nông nghiệp chiếm tỉ trọng lớn trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hàng năm của Việt Nam
Để nghiên cứu vai trò của SX nông nghiệp đối với tăng trưởngGDP ở Việt Nam ta quan sát số liệu từ năm 2000 đến 2014 và sửdụng mô hình định lượng như sau:
a) Số liệu năm 2000 – 2014
Bảng 1 ghi lại giá trị Tổng sản phẩm quốc nội GDP, ước tính theo giá hiện hành của quý I năm 2015 và Tổng giá trị SX nông nghiệp theo các năm 2000 – 2015
Năm GDP ước tính
theo giá hiện
Giá trị SX nông
Cơ cấu của giá trị SX nông
Trang 20hành (quý I 2015) (tỷ đồng)
nghiệp (tỷ đồng)
nghiệp/ GDP (%)
b) Phân tích vai trò của SX nông nghiệp đến GDP hàng năm vàtăng trưởng GDP – mô hình kinh tế lượng giản đơn
Trang 21Sử dụng phân tích kinh tế lượng ta ước lượng sự phụ thuộc GDPcủa VN hàng năm vào 2 - Biến Giá trị SX nông nghiệp (NN)
- Biến Giá trị GDP bị giảm trong những năm Việt Nam chịu ảnhhưởng từ khủng hoảng kinh tế (từ năm 2008) (KH) Biến KH làbiến giả , nhận giá trị “0” khi Việt Nam chưa chịu khủng hoảngkinh tế, giá trị “-1” trong những năm khủng hoảng
Mô hình hồi quy lý thuyết:
Trang 22Heteroskedasticity-robust standard errors, variant HC1
coefficient std error t-ratio p-value
Kết quả cho ta hệ số α NN= 6.04
Vậy, SX nông nghiệp đóng góp một phần lớn trong tăng trưởngGDP của VN, khi giá trị SX nông nghiệp tăng 1 tỷ đồng thì trungbình tổng sản phẩm quốc nội tăng 6.04 tỷ đồng Trong những nămViệt Nam chịu ảnh hưởng của khủng khoảng kinh tế (từ năm 2008)trung bình tổng sản phẩm quốc nội bị giảm do chịu ảnh hưởngkhủng hoảng là 287398 tỷ đồng
4.5) Nông nghiệp cung cấp nguyên liệu đầu vào cho công nghiệp chế biến
Trang 23Chế biến nông sản, thực phẩm là chế biến sản phẩm của ngànhtrồng trọt và chăn nuôi Muốn có nguyên liệu cho ngành côngnghiệp chế biến phải phát triển nông nghiệp Ta xét số liệu sảnlượng cây công nghiệp của nước ta năm 2014:
Cây côngnghiệp
Sản lượng(nghìntấn)Chè (búp) 746.2
Cà phê
Cao su(Mủ khô) 660.0
Nông nghiệp có vai trò chủ đạo trong việc cung cấp đầu vào chocác ngành công nghiệp chế biến
Đảm bảo nguyên liệu cho sản xuất thực chất là đảm bảo một trongcác yếu tố chủ yếu của sản xuất, nghiên cứu ưu nhược điểm trongcông tác cung cấp nguyên liệu đồng thời có biện pháp đảm bảocung cấp đầy đủ, kịp thời, đúng chủng loại và quy cách phẩm chất
4.6) Nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm cho nhu cầu trong nước, đảm bảo an ninh lương thực
Nhu cầu về lương thực thực phẩm là nhu cầu cơ bản, cần thiết nhấttrong phát triển kinh tế - xã hội
Do đó, việc phát triển nền nông nghiệp Việt Nam thoả mãn các nhucầu về lương thực, thực phẩm trở thành điều kiện quan trọng để ổnđịnh xã hội, ổn định kinh tế Bảo đảm nhu cầu về lương thực, thực
Trang 24phẩm không chỉ là yêu cầu duy nhất của nông nghiệp, mà còn là cơ
sở phát triển các mặt khác của đời sống kinh tế - xã hội
Trong phạm vi ví dụ, ta sẽ phân tích sản lượng của lương thựcchính ở Việt Nam: lúa gạo Theo ước tính của bộ nông nghiệp MỹUSDA, sản lượng lúa của Viêt Nam năm 2014 đạt 44,8 triệu tấn,sản lượng gạo 28 triệu tấn Việt Nam nhập khẩu phần lớn gạo từCăm-pu-chia và một lượng nhỏ gạo nếp từ Lào được dùng để đápứng nhu cầu trong nước, do phần lớn gạo được trồng ở đồng bằngsông Cửu Long hoàn toàn phục vụ cho hoạt động xuất khẩu Kimngạch nhập khẩu gạo của Việt Nam từ Căm-pu-chia mùa vụ2013/14 vẫn duy trì ở mức 100.000 tấn Tuy không có số liệu chínhthức về lượng gạo nhập khẩu, vì lúa từ Căm-pu-chia được chuyểnvào Việt Nam phần lớn qua đường tiểu ngạch thông qua nhữngchiếc thuyền nhỏ, khiến cho việc theo dõi rất khó khăn, nhưng đểđáp ứng nhu cầu trong nước năm 2014 Việt Nam sản xuất được 28triệu tấn gạo, so với kim ngạch nhập khẩu gạo từ Campuchia chỉ100.000 tấn, nông nghiệp SX lúa gạo của Việt Nam đáp ứng hầuhết nhu cầu trong nước, tạo nền tảng vững cahwcs cho phát triển an
Nôngnghiệp
Côngnghiệ
p
Dịc
h vụ
Trang 25có 69,7% lực lượng lao động ở khu vực nông thôn, và 62,2% làmlao động nông nghiệp.
Lực lượng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp là lực lượng laođộng đông đảo nhất, có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tếđất nước
4.8) Xuất khẩu lao động làm tăng ngoại tệ và tăng thu ngân sách nhà nước
Việt Nam tập trung xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp có sứccạnh tranh cao như lúa gạo, cà phê, thủy sản… Năm 2014, giá trịxuất khẩu mặt hàng nông nghiệp của Việt Nam đạt 30,8 tỷ USD,tăng 11,2 % so với năm 2013 (theo Tổng cục thống kê).Trong 3tháng đầu năm 2015, tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp
là 6,13 tỷ USD
Việt Nam là một trong những quốc gia xuất khẩu nông sản hàng
Trang 26mỗi năm Xuất khẩu nông nghiệp không chỉ mang lại nguồn ngoại
tệ lớn, tham gia thị trường trao đổi và là công cụ điều hành nềnkinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước mà còn thúc đẩy cơ hội kí kếtnhiều hiệp định như TPP, VCUFTA, RCEP…
5) Thực trạng nền nông nghiệp Việt Nam
5.1) Thực trạng nền nông nghiệp Việt Nam trước khi gia nhập WTO
a) Cơ sở hạ tầng và khoa học kĩ thuật áp dụng vào SX nôngnghiệp kém chất lượng
Việt Nam là quốc gia xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới, vớinhiều mặt hàng đạt giá trị kim ngạch hơn một tỷ USD mỗi năm.Tuy vậy hiện tượng mất giá kém cạnh tranh của sản phẩm nôngnghiệp liên tục xảy ra trong những năm trước 2007
Việc phần lớn phụ thuộc vào nguồn vốn trong nước làm cơ sở hạtầng và khoa học kĩ thuật của Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệpnghèo nàn và yếu kém Năng suất sản xuất thấp, giá thành sảnphẩm cao, chất lượng thấp và mẫu mà không hấp dẫn làm giảmnăng lực cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu Sảnphẩm nông nghiệp chất lượng cao của nước ngoài có chất lượngcao, sản lượng lớn, giá thành cạnh tranh có sức cạnh tranh rất lớn.Tiềm lực về tài chính của các doanh nghiệp cũng như cơ sở hạ tầng
và nền tảng khoa học kĩ thuật thể hiện năng lực và tiềm lực của cảnền sản xuất, khi các mặt kể trên chưa tốt thì nền sản xuất có nhiềubất lợi và rủi ro Trong thời gian này, “Cú hích bên ngoài” – dòngvốn đầu tư và chuyển giao công nghệ từ các quốc gia lớn là rất cầnthiết, đồng thời có thêm nhiều sự cạnh tranh cũng là động lực chonền sản xuất trong nước nói chung
b) Xuất khẩu nông nghiệp gặp nhiều khó khăn khi tìm kiếm thịtrường và cạnh tranh trên trường quốc tế
Như phân tích ở trên, sản phẩm nông nghiệp Việt Nam trướcnăm 2007 có giá thành cao, số lượng chưa nhiều, chất lượng thấp,mẫu mã chưa hấp dẫn Đây là những thách thức cho nông sản Việt
Trang 27Nam khi xuất khẩu ra thị trường ngoài nước Vì vậy xuất khẩunông sản Việt Nam vẫn chủ yếu ở dạng thô và nhằm vào những thịtrường dễ tính Việc thâm nhập những thị trường lớn như Liênminh châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc vẫn còn rất khó khăn với cácdoanh nghiệp Việt Nam.
Bên cạnh đó việc chưa gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giớimang lại ít cơ hội mở rộng thị trường và đàm phán, cùng với việc
“thông tin thị trường” không đầy đủ tiềm ẩn nhiều rủi roc ho nhiềumặt hàng xuất khẩu Nhiều năm, Trung Quốc là thị trường nhậpkhẩu nông sản chiếm tỷ trọng lớn của Việt Nam, bởi đây là thịtrường "dễ tính", tiêu chuẩn thấp, không có hàng rào kỹ thuật…Tuy nhiên, sự "dễ tính" này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro và ngày cànglàm giảm giá trị của hàng nông sản Việt Nam
5.2) Thực trạng nông nghiệp Việt Nam sau khi gia nhập WTO
a) Thuận lợi
1 Khi Việt Nam gia nhập WTO, những lợi ích tiềm năng như
mở rộng thị trường cho những mặt hàng xuất khẩu truyển thốngnông nghiệp và thủy sản, đồng thời chúng ta có cơ hội tiếp cận
cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO( về lâu dài) giúp tránhđược những vụ kiện vô lý như cá tra- cá bas a giữa VN và Mỹ.Một khi ngành nông nghiệp đứng vững trên sân chơi WTO thìkinh tế nông nghiệp trở thành động lực chính thúc đẩy công cuộcxóa đói giảm nghèo Lúc đó, nông nghiệp là chìa khóa tạo ra sự
ổn định và phát triển vùng nông thôn Trong bối cảnh đó, ngànhnông nghiệp có thêm nhiều cơ hội phát triển
2 Thuận lợi thứ 2 đó là Việt Nam đã được tăng vốn đầu tư vàchuyển giao công nghệ cao từ các quốc gia khác Tuân thủ cácquy định luật lệ của WTO, VIệt Nam đã xây dựng và củng cốniềm tin của các quốc gia khác trong cơ chế chính sách củamình, do đó đã thu hút được đầu tư nước ngoài vào nước nhà
3 Đồng thời Việt Nam có cơ hội thuận lợi để tiếp cận nguồnvốn vay, các hình thức tín dụng và các tổ chức tài chính quốc tếnhư WB, IMF… Quá trình hội nhập WTO cũng góp phần nângcao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam Hơn thế nữa trongbối cảnh kinh tế toàn cầu suy giảm thì nông nghiệp vẫn đứngvững
Trang 284 Khi gia nhập WTO, ngành trồng trọt Việt Nam còn đượcnhững cơ hội lớn để phát triển, do các loại thuế phải được cắtgiảm theo đúng lộ trình: Khi thuế nhập khẩu vật tư nông nghiệpđược cắt giảm dần thì người nông dân có cơ hội được mua cácloại vật tư nông nghiệp với giá rẻ hơn trước đây Không nhữnggiá vật tư nông nghiệp nước ngoài nhập vào giảm mà bản thâncác nhà cung cấp dịch vụ này trong nước cũng phải điều chỉnhgiá để cạnh tranh (Vật tư nông nghiệp bao gồm: phân bón, thuốcbảo vệ thực vật, giống cây trồng, máy móc nông nghiệp, )
Trong số đó, giống cây trồng là loại hàng hoá được cắt giảm thuếsuất thuế nhập khẩu xuống còn rất thấp, thậm chí tới mức 0%.Đây là một trong những thuận lợi rất lớn đối với sản xuất nôngnghiệp
4 Ngành chăn nuôi cơ bản vần là phân tán, trình độ thấp Giáthành cao, chất lượng thấp không đáp ứng yêu cầu hội nhập Sảnphẩm chăn nuôi trong nước còn phải đối mặt với việc trợ cấp từcác nước giàu
5 Sau hội nhập, xuất khẩu tiếp tục đối mặt với các rào cản kỹthuật và áp lực sản xuất nước ngoài Đã từng có một xu thế ảotưởng cho rằng việc gia nhập WTO, cơ hội để hàng VN thâmnhập thị trường thế giới sẽ dễ dàng nhưng điều này chỉ đúng trênbình diện xu thế, nhưng hoàn toàn không đúng trong ngắn hạn,đặc biệt trong bối cảnh thị trường thế giới bị suy thoái
Trang 296 Chưa chuẩn bị tốt về năng lực bảo vệ người tiêu dung nộiđịa Sau những năm đầu hội nhập WTO, những hạn chế về chếtài, về phân định chức năng nhiệm vụ của bộ máy triển khai, vànăng lực con người đã làm cho VN gặp phải thách thức rất lớnđối với các vấn đề an toàn thực phẩm Ở thị trường nội địa vấn
đề vệ sinh an toàn thực phẩm gặp nhiều vấn đề với cả sản phẩmsản xuất trong nước và sản phẩm nhập khẩu Thực tế hiện naycho thấy tình trạng tồn dư các chất có hại cho sức khỏe conngười trong nông sản đang còn khá cao
7 VN đã thực hiện cắt giảm thuế suất nhập khẩu cao hơn cảmức cam kết và nhanh hơn mức cam kết theo lộ trình cho dùtrước đó khi đàm phán VN đã nỗ lực để nâng được mức thueestsuất lên cao hơn cho nhóm mặt hàng thịt để bảo hộ ngành chănnuôi trong nước
6) Tiềm năng phát triển nền nông nghiệp chất lượng cao ở Việt Nam:
6.1) Điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý
Sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Trong đó cónhững
yếu tố tác động trực tiếp đến kết quả sản xuất nông nghiệp như: đất
ẩm của khí hậu nước tat hay đồi Nhìn chung Việt Nam có một mùanóng mưa nhiều và một mùa tương đối lạnh, ít mưa Những đặc điểmnày đem lại cho nông nghiệp nhiều thuận lợi cơ bản Với lượng mưatương đối lớn, đảm bảo nguồn nước ngọt phong phú cho sản xuất và
Trang 30cây trồng và vật nuôi phong phú, có giá trị kinh tế cao Tính chất nhiệtđới ẩm gió mùa cùng với vị trí địa lý thuận lợi gần biển là một điềukiện tuyệt vời cho sự phát triển của nông nghiệp Việt Nam Chúng ta
có 2 đồng bằng phù sa lớn đó là đồng bằng sông Hồng và đồng bằngsông Cửu Long- 2 vựa lúa quan trọng của cả nước- chính nhờ vị trígần biền và thời tiết thuận lợi của nước nhà Bên cạnh đó, mạng lướisông ngòi dày đặc, bao gồm hạ lưu, chi lưu của các con sông lớn nhưsông Hồng, sông Thái Bình và sông Cửu Long, cùng với các sông nhỏchảy trong các ô nội địa khác cũng góp phần bồi đắp, tạo nên nhữngđồng bằng phù sa màu mỡ thuận lợi cho sự phát triển của nôngnghiệp
6.2) Điều kiện chính trị:
Không giống như một số nước khác, Việt Nam có một nền chính trịkhá ổn định, tình hình xã hội bình yên tạo điều kiện cho sự pháttriển của kinh tế nói chung và cho nông nghiệp nói riêng Chính vìđiều kiện chính trị của Việt Nam ổn định nên các nhà đầu tư nướcngoài vào nước ta có niềm tin để rót vốn vào, FDI tăng lên rấtnhanh
6.3) Nguồn lao động trong nông nghiệp:
Cơ cấu dân số Việt Nam thuộc nhóm “cơ cấu dân số trẻ”- là mộtđiều kiện thuận lợi cho sự phát triển không chỉ nông nghiệp mà còncác ngành kinh tế khác Dưới đây là bảng cơ cấu dân số chia theo
Trang 31(Số liệu của cục tổng kê năm 2011)
Hiện tượng” dư lợi dân số” khi đất nước bước sang thiên niên kỷmới là một lợi thế song việc có tận dụng được lợi thế này haykhông lại phụ thuộc vào tầm nhìn trong các chính sách phát triểnnguồn nhân lực trong mối liên hệ với các chính sách kinh tế- xã hộikhác Hơn nữa nguồn lao động trong nông nghiệp là những người
có kinh nghiệm lâu năm, mọi người luôn sáng tạo và có kinhnghiệm trong việc đối phó với những vấn đề khó khăn trong nôngnghiệp như sâu bọ, hạn hán, lũ lụt vào mùa hạ… Bên cạnh đó, mộtlợi thế nữa của nguồn lao động trong lĩnh vực nông nghiệp là nước
ta là một nước có nguồn lao động dồi dào đặc biệt là lao động ởnông thôn Dưới đây là bảng số liệu lực lượng lao động phân theokhu vực thành thị- nông thôn
Nơi cư trú/ Vùng kinh tế - xã
hội
LLLĐ
(1000 người)
Tỷ lệ (%)
Tổng số