1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tài liêu bội dưỡng thường xuyên môn Toán học năm 2018

31 221 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 399 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để tạo điều kiện thuận lợi cho các sở giáo dục và đào tạo và đội ngũ giáo viên thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng thường xuyên nội dung bồi dưỡng đáp ứng nhu cầu phát triển nghề nghiệp liên tục của giáo viên (nội dung bồi dưỡng 3) theo quy định tại Thông tư số 262012TTBGDĐT ngày 10 tháng 7 năm 2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy chế bồi dưỡng thường xuyên giáo viên mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên,

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO GIA LAI TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM

TÀI LI U B I D Ệ Ồ ƯỠ NG KI N TH C TH Ế Ứ ƯỜ NG XUYÊN

Chuyên Đề:

BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TOÁN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

HỌC SINH TIỂU HỌC

Giảng viên: Ths Lê Như Thiện

Trang 2

MỤC LỤC

A ĐẶT VẤN ĐỀ 1

B NỘI DUNG 3

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NĂNG LỰC NGHỀ NGHIỆP CỦA GIÁO VIÊN TIỂU HỌC 3

1.1 Năng lực giáo dục 4

1.1.1 Năng lực chẩn đoán: 4

1.1.1 Năng lực chẩn đoán: 4

1.1.2 Năng lực sử dụng ngôn ngữ 5

1.1.2 Năng lực sử dụng ngôn ngữ 5

1.1.3 Năng lực cảm hóa học sinh 6

1.1.3 Năng lực cảm hóa học sinh 6

1.1.4 Năng lực đáp ứng 7

1.1.4 Năng lực đáp ứng 7

1.1.5 Năng lực đánh giá 8

1.1.5 Năng lực đánh giá 8

1.1.6 Năng lực thiết lập mối quan hệ: 8

1.1.6 Năng lực thiết lập mối quan hệ: 8

1.2 Năng lực dạy học 9

1.2.1 Năng lực triển khai chương trình dạy học: 9

1.2.1 Năng lực triển khai chương trình dạy học: 9

1.2.2 Năng lực chuẩn bị kế hoạch dạy học 10

1.2.2 Năng lực chuẩn bị kế hoạch dạy học 10

1.2.3 Kĩ năng tổ chức các hoạt động nhóm 11

1.2.3 Kĩ năng tổ chức các hoạt động nhóm 11

1.2.4 Năng lực giải quyết các tình huống 11

1.2.4 Năng lực giải quyết các tình huống 11

Chương 2: MỘT SỐ CÁCH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NÂNG CAO NĂNG LỰC DẠY HỌC TOÁN Ở TIỂU HỌC 14

2.1 Một số cách tổ chức các hoạt động khởi động tiết học 14

2.1.1 Tổ chức hoạt động trò chơi 14

2.1.1 Tổ chức hoạt động trò chơi 14

2.1.2 Đố vui 18

2.1.3 Kể chuyện 20

2.2 Một số cách tổ chức hoạt động dạy học kiến thức mới 21

2.2.1 Hoạt động giới thiệu bài mới 21

2.2.1 Hoạt động giới thiệu bài mới 21

2.2.2 Hoạt động hình thành kiến thức 22

2.2.2 Hoạt động hình thành kiến thức 22

2.2.3 Hoạt động dạy học thực hành và luyện tập 26

2.2.3 Hoạt động dạy học thực hành và luyện tập 26

2.2.4 Tổ chức dạy học ứng dụng toán vào thực tiễn 26

2.2.4 Tổ chức dạy học ứng dụng toán vào thực tiễn 26

C KẾT LUẬN 28

D.TÀI LIỆU THAM KHẢO 29

Trang 3

Chuyên đề: BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TOÁN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

HỌC SINH TIỂU HỌC

ThS Lê Như Thiện

Trường Cao đẳng Sư phạm Gia Lai

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã kí ban hành Nghị quyết Hội nghị lầnthứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) với nộidung đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu côngnghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa và hội nhập quốc tế

Đảng và Nhà nước xác định mục tiêu của đổi mới lần này là: Tạo chuyểnbiến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngàycàng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhândân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềmnăng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồngbào; sống tốt và làm việc hiệu quả

Mục tiêu giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hìnhthành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, địnhhướng nghề nghiệp cho học sinh; Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chútrọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, nănglực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năngsáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời (Trích nghị quyết số 29-NQ/TW)

Đối với cấp tiểu học mục tiêu định hướng hình thành cho học sinh cácphẩm chất và năng lực sau:

Về phẩm chất: Yêu gia đình, quê hương, đất nước; Nhân ái và khoan

dung; Trung thực tự trọng chí công vô tư; Tự lập, tự tin, tự chủ và có tinh thầnvượt khó; Có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước, nhân loại và môitrường tự nhiên; Thực hiện nghĩa vụ đạo đức, chấp hành kĩ luật, pháp luật

Về các năng lực chung: Năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề,

năng lực sáng tạo, năng lực tự quản lí, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, nănglực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, năng lực sử dụng ngôn ngữ,năng lực tính toán

Năng lực dạy học của giáo viên là một trong những yếu tố quan trọngnhất, tác động đến sự thành công hay thất bại của chương trình giáo dục phổ

Trang 4

thông mới, do đó việc bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên tiểu học là mộtcông việc cấp bách chuẩn bị thực hiện chương trình mới; Để giúp học sinh hìnhthành phẩm chất và năng lực như đã nêu ở trên, thì nhiệm vụ của người giáo viên

là tu dưỡng đạo đức và tự học tập, tự bồi dưỡng, tự hoàn chỉnh mình luôn là tấmgương sáng cho học sinh noi theo

Theo bản thân tôi thì năng lực nghề nghiệp giáo viên cần được bồi dưỡngtập trung vào các vấn đề cơ bản:

- Một là bồi dưỡng kiến thức chuyên môn và năng lực nghiên cứu khoahọc

- Hai là bồi dưỡng năng lực giảng dạy (năng lực nghiệp vụ sư phạm)

- Ba là bồi dưỡng phát triển các giá trị, đạo đức nghề nghiệp (phẩm chất).Trên cơ sở giáo viên tiểu học, tự bồi dưỡng hàng năm và được tập huấnthường xuyên của các cấp, về cơ bản lí thuyết, đại đa số giáo viên tiểu học đãtiếp thu và lĩnh hội được tinh thần đó, nhưng thực tế, việc triển khai vận dụng,còn gặp một số khó khăn nhất định, đặc biệt là tổ chức các hoạt động dạy họcđịnh hướng phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh

Vì vậy để giúp giáo viên tiểu học, nâng cao năng lực giảng dạy sự cần

thiết phải bồi dưỡng chuyên đề “Bồi dưỡng năng lực tổ chức các hoạt động

dạy học toán theo định hướng phát triển năng lực học sinh tiểu học”.

Vì điều kiện thời gian nghiên cứu, hoạt động trải nghiệm thực tế ở tiểuhọc của bản thân còn hạn chế, khả năng diễn đạt, các ví dụ minh họa chưa hay,rất mong các bạn đồng nghiệp, giáo viên tiểu học góp ý, để chuyên đề hoàn thiệnhơn, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên tiểu học

Trang 5

B NỘI DUNGChương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NĂNG LỰC NGHỀ NGHIỆP CỦA

GIÁO VIÊN TIỂU HỌC

Như chúng ta đã biết quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học

(Ban hành kèm theo Quyết định số 14/2007/QĐ-BGDĐT ngày 04 tháng 5 năm

2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) Giáo viên cần có các năng lực

sau:

- Năng lực tìm hiểu học sinh Tiểu học;

- Năng lực tìm hiểu môi trường nhà trường Tiểu học;

- Năng lực tìm hiểu môi trường xã hội;

- Năng lực dạy học các môn học;

- Năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục kĩ năng xã hội, kĩ năng sống và giá trị sống cho học sinh Tiểu học;

- Năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo;

- Năng lực giải quyết các tình huống sư phạm;

- Năng lực giáo dục học sinh có hành vi không mong đợi;

- Năng lực tư vấn và tham vấn giáo dục Tiểu học;

- Năng lực hiểu biết các kiến thức khoa học nền tảng rộng, liên môn;

- Năng lực chủ nhiệm lớp;

- Năng lực giao tiếp;

- Năng lực hoạt động xã hội, năng lực phát triển nghề nghiệp và năng lựcnghiên cứu khoa học giáo dục Tiểu học

Trên cơ sở của quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học (Ban

hành kèm theo Quyết định số 14/2007/QĐ-BGDĐT ngày 04 tháng 5 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Người giáo viên cần có hai năng lực cơ bản là: Năng lực giáo dục và nănglực dạy học, hai năng lực này có mối quan hệ mật thiết với nhau

Năng lực giáo dục gồm: Năng lực tìm hiểu học sinh, môi trường, xã hội,năng lực giải quyết các tình huống sư phạm, năng lực giáo dục các hành vikhông mong đợi, năng lực chủ nhiệm lớp, năng lực giao tiếp, năng lực hoạt động

xã hội

Trang 6

Năng lực dạy học gồm: Năng lực tổ chức các hoạt động dạy học, năng lựcdạy học các môn học tích hợp, năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục kĩ năng

xã hội, kĩ năng sống và giá trị sống cho học sinh tiểu học, năng lực tổ chức hoạtđộng trải nghiệm sáng tạo…

1.1 Năng lực giáo dục

Giáo dục tiểu học được xem là bậc học, nhằm giúp học sinh, hình thànhnhững cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thểchất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để tiếp tục học các bậc cao hơn Nền tảngnhân cách, kĩ năng sống, kĩ năng học tập cơ bản (nghe, nói, đọc, viết và tínhtoán) của học sinh được hình thành ở tiểu học và được sử dụng trong suốt cuộcđời của mỗi con người Học sinh tiểu học được dạy từ những thói quen nhỏ nhấtnhư cách cầm bút, tư thế ngồi viết, cách thưa gửi, đi đứng, ăn mặc cho đến các kĩnăng tự phục vụ, kĩ năng giao tiếp, các kĩ năng học tập và khả năng tự học, sángtạo

Để giáo dục được học sinh, người giáo viên cần có năng lực tìm hiểu họcsinh, các năng lực đó thường là một tổ hợp các năng lực như: Năng lực chuẩnđoán, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực cảm hóa học sinh, năng lực đáp ứng,năng lực thiết lập mối quan hệ…

1.1.1 Năng lực chẩn đoán:

Năng lực chuẩn đoán: Tức là năng lực phát hiện và nhận biết đầy đủ,chính xác và kịp thời sự phát triển của học sinh, những nhu cầu cần được giáodục từng học sinh

Đối với giáo viên tiểu học đây là năng lực đặc biệt quan trọng vì sự pháttriển về các mặt của học sinh ở lứa tuổi tiểu học diễn ra rất nhanh, nhưng lạikhông đồng đều, do đó người giáo viên phải biết chuẩn đoán học sinh qua nhữngbiểu hiện sau:

- Thông qua chữ viết (viết số và phép tính) của học sinh, người giáo viên

có những chuẩn đoán ban đầu và biết những nhu cầu, cần giáo dục (rèn luyện)học sinh đó qua môn tập viết

- Thông qua giọng nói, cách phát âm, ngữ điệu đọc của học sinh, ngườigiáo viên hiểu được khả năng tiếng việt của học sinh đó và có kế hoạch dạy học(rèn luyện) thêm phần Tiếng Việt

- Thông qua một vài phép tính đơn giản, người giáo viên không chỉ đánhgiá kết quả của phép tính mà thông qua thái độ cử chỉ nét mặt, có thể chuẩn đoánngay học sinh cần có nhu cầu giáo dục lĩnh vực nào trong môn toán

Trang 7

- Thông qua cách ăn mặc: Quần áo, giày dép, cặp sách, búi tóc, phươngtiện đi lại của học sinh, người giáo viên có thể chuẩn đoán được mức độ quantâm chăm sóc của gia đình đối với học sinh, điều kiện kinh tế của gia đình đó….

- Trong giờ học giáo viên quan sát, thông qua thần thái của từng học sinh,giáo viên có thể nhận ra trạng thái tâm lý, thái độ học tập, sức khỏe,…từ đó giáoviên chuẩn đoán được sự thuận lợi hay khó khăn của học sinh trong quá trìnhnhận thức

Trong dạy học và trong giáo dục người giáo viên tiểu học phải thâm nhậpvào thế giới bên trong của trẻ, sự hiểu biết tường tận và nhân cách của chúng,cũng như năng lực quan sát tinh tế những biểu hiện tâm lí của học sinh trong quátrình dạy học và giáo dục

Người giáo viên còn xác định được khối lượng kiến thức, phạm vi kiếnthức và kĩ năng cần lĩnh hội của học sinh, từ đó người giáo viên dự đoán đượcnhững thuận lợi và khó khăn, xác định đúng đắn mức độ căng thẳng cần thiết khihọc sinh phải thực hiện những nhiệm vụ nhận thức

Năng lực hiểu học sinh là kết quả của một quá trình lao động, đầy tráchnhiệm, thương yêu học sinh và sâu sát học sinh, nắm vững kiến thức chyên môn,

am hiểu đầy đủ về tâm lí học trẻ em và tâm lí sư phạm cùng với một số phẩmchất khác

1.1.2 Năng lực sử dụng ngôn ngữ

Như chúng ta đã biết có nhiều cách phân loại về ngôn ngữ: Ngôn ngữ âmthanh (nói), ngôn ngữ kí tự (viết), ngôn ngữ hình ảnh (cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt,trang phục…)

- Năng lực sử dụng ngôn ngữ là năng lực biểu đạt rõ ràng ý nghĩ, tình cảmcủa mình bằng lời nói cũng như nét mặt và điệu bộ

Khi giáo viên sử dụng ngôn ngữ cần đảm bảo các yêu cầu sau:

Nội dung ngôn ngữ sử dụng phải sâu sắc: Từ mỗi đơn vị biểu đạt đến toànbài giảng, ngôn ngữ phải chứa đựng mật độ thông tin lớn, diễn tả, trình bày phảichính xác, cô đọng, lời nói, cách trình bày, diễn giảng phải đảm bảo tính luậnchứng, tính kế tục tức là từ ý nghĩa này dẫn đến ý nghĩa khác một cách logic

Hình thức ngôn ngữ của thầy giáo phải giản dị, sinh động, lời nói giàuhình ảnh, biểu cảm với cách phát âm mạch lạc, lời nói không cầu kỳ hoa mỹ,nhưng cũng không khô khan, tẻ nhạt, đừng dài dòng, nhưng đừng quá ngắn, khicần có thể điểm qua một vài pha trò nhè nhàng và sự khôi hài đúng chỗ

Người giáo viên phải có kỹ năng, kỹ xảo, biết cách sử dụng khả năngtruyền cảm của mình trước học sinh bằng cách tận dụng và phối hợp giữa lời nói

Trang 8

với ngôn ngữ phụ như: cử chỉ, hành động, nét mặt và những phương tiện kháccủa ngôn ngữ, làm cho tiết dạy sinh động hơn.

Một số vấn đề lưu ý khi giáo viên sử dụng ngôn ngữ như không sử dụngcác từ ngữ địa phương, không phát âm sai, cố gắng phát âm theo chuẩn TiếngViệt Liệt kê các từ hay nhầm lẫn sử dụng sai như l và n; ch và tr; s và x; ng vàngh; d và gi….và bản thân mỗi giáo viên chúng ta cần biết mình còn những hạnchế nào, trong việc sử dụng ngôn ngữ

Năng lực sử dụng ngôn ngữ là kết quả của cả một quá trình học tập vànghiên cứu ở trường sư phạm, trong môi trường giảng dạy, nghiên cứu tài liệu,học tập ở đồng nghiệp…

1.1.3 Năng lực cảm hóa học sinh

Năng lực cảm hóa học sinh là năng lực gây được ảnh hưởng trực tiếp củagiáo viên bằng tình cảm và ý chí đối với học sinh, nói cách khác đó là khả nănglàm cho học sinh nghe, tin và làm theo giáo viên bằng tình cảm và niềm tin

Năng lực cảm hóa học sinh phụ thuộc vào một tổ hợp các phẩm chất nhâncách thầy giáo như:

+ Tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình trong công tác

+ Niềm tin vào sự nghiệp chính nghĩa cũng như kĩ năng truyền đạt niềmtin đó

+ Lòng tôn trọng học sinh, phong cách dân chủ nhưng trên cơ sở yêu cầucao đối với học sinh (cần tránh sự khoan dung vô nguyên tắc, sự cả tin một cáchngây thơ, sự thiếu kiên quyết của thầy giáo …)

+ Sự chu đáo và khéo léo đối xử của giáo viên

+ Lòng vị tha và các phẩm chất của ý chí

Để có năng lực này, thầy giáo cần:

+ Phải phấn đấu và tu dưỡng để có nếp sống văn hóa, phong cách mẫumực nhằm tạo ra một uy tín chân chính và thực sự

+ Xây dựng một quan hệ thầy trò tốt đẹp: Vừa nghiêm túc, vừa thân mật;

có thái độ yêu thương và tin tưởng học sinh; biết đối xử dân chủ và công bằng,chân thành và giản dị, biết phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của họcsinh

+ Có tư thế tác, phong mẫu mực trước học sinh

Năng lực đối xử khéo léo sư phạm (xử lí tình huống sử phạm), trong quátrình giáo dục thầy giáo thường đứng trước tình huống sư phạm khác nhau đòihỏi người thầy giáo phải giải quyết linh hoạt, đúng đắn và có tính giáo dục cao;

Trang 9

Sự khéo léo đối xử sư phạm là một thành phần quan trọng của “tài nghệ sưphạm”.

Sự khéo léo đối xử sư phạm là kĩ năng tìm ra những phương thức tác độngđến học sinh một cách có hiệu quả nhất, là sự cân nhắc đúng đắn những nhiệm

vụ sư phạm cụ thể phù hợp với những đặc điểm và khả năng của cá nhân cũngnhư tập thể học sinh, trong từng tình huống sư phạm cụ thể

Năng lực này được biểu hiện:

+ Sự nhạy bén về mức độ sử dụng bất cứ tác động sư phạm nào: Khuyếnkích, trách phạt…

+ Nhanh chóng xác định được vấn đề xảy ra và kịp thời áp dụng nhữngbiện pháp thích hợp

+ Quan tâm đầy đủ, chu đáo, có lòng tốt tế nhị và vị tha, có tính đến đặcđiểm cá nhân từng học sinh

+ Biết phát hiện kịp thời và giải quyết khéo léo những vấn đề xảy ra bấtngờ, không nóng vội, không thô bạo

+ Biết biến cái bị động thành cái chủ động giải quyết một cách mau lẹnhững vấn đề phức tạp đặt ra trong công tác dạy học và giáo dục

1.1.4 Năng lực đáp ứng.

Năng lực đáp ứng: Đó là năng lực đưa ra được những nội dung và biệnpháp giáo dục đúng đắn, kịp thời, phù hợp nhu cầu của học sinh và yêu cầu củamục tiêu giáo dục

Giáo viên tiểu học cần có tri thức, có năng lực hiểu biết để đáp ứng đượcnhu cầu của công việc;

Năng lực đáp ứng là một năng lực cơ bản, trong các năng lực sư phạmcủa người giáo viên dạy học; Tức là giáo viên có khả năng đáp ứng nhu cầu củahọc sinh trong quá trình giảng dạy và giáo dục

Do tiến bộ của khoa học, kĩ thuật, nên xã hội yêu cầu ngày càng cao đốivới trình độ văn hóa chung của thế hệ trẻ, mặt khác thầy giáo cũng cần làm hứngthú và nguyện vọng của thế hệ trẻ ngày càng phát triển Thầy giáo có nhiệm vụphát triển nhân cách học sinh nhờ một phương tiện đặc biệt là tri thức, quanđiểm, kĩ năng, thái độ, nhất là những tri thức khoa học thuộc lĩnh vực giảng dạycủa mình, tạo ra uy tín cho người thầy giáo

- Người thầy giáo có tri thức và tầm hiểu biết rộng thể hiện ở chỗ: Nắmvững và hiểu biết rộng lĩnh vực khoa học chuyên môn giảng dạy của mình

Trang 10

- Thường xuyên theo dõi những thành tựu mới trong lĩnh vực khoa họcthuộc chuyên môn mình phụ trách

- Có năng lực tự học, tự bồi dưỡng và hoàn thiện tri thức của mình

Từ đó người giáo viên mới có khả năng, xử lí các tình huống trong dạyhọc

1.1.5 Năng lực đánh giá

Năng lực đánh giá: Đó là năng lực nhìn nhận sự thay đổi trong nhận thức,

kĩ năng thái độ và tình cảm của học sinh

Trong giai đoạn hiện nay việc đánh giá học sinh tiểu học được thực hiệntheo văn bản hợp nhất số: 03/ VBHN- BGD ĐT ngày 28 thánh 9 năm 2016 của

Bộ đã chỉ rõ: “ Đánh giá học sinh tiểu học nêu trong quy định này là những hoạtđộng quan sát, theo dõi, trao đổi, kiểm tra, nhận xét quá trình học tập, rèn luyệncủa học sinh; tư vấn hướng dẫn, động viên học sinh; nhận xét định tính hoặc địnhlượng về kết quả học tập; rèn luyện, sự hình thành và phát triển một số năng lựcphẩm chất của học sinh tiểu học” Tại khoản 2 điều 3 mục đích đánh giá với họcsinh: “Giúp học sinh có khả năng tự nhận xét, tham gia nhận xét, tự học, tự điềuchỉnh cách học; giao tiếp hợp tác; có hứng thú học tập và rèn luyện để tiến bộ”

Đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh, nên những lời nhận xét của giáo viênđánh giá học sinh có vai trò vô cùng quan trọng, trong quá trình hình thành phẩmchất và phát triển năng lực của học sinh.Vì vậy, người giáo viên cũng phải rènluyện kĩ năng đánh giá và cách sử dụng ngôn ngữ, trong đánh giá sao cho phùhợp với học sinh

1.1.6 Năng lực thiết lập mối quan hệ:

Năng lực thiết lập các mối quan hệ như: Quan hệ đồng nghiệp, quan hệvới phụ huynh học sinh và nhất là quan hệ với học sinh

Năng lực giao tiếp sư phạm là năng lực nhận thức nhanh chóng nhữngbiểu hiện bên ngoài và những diễn biến tâm lý bên trong của học sinh và bảnthân, đồng thời biết sử dụng hợp lí các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ,biết các tổ chức điều khiển và điều chỉnh quá trình giao tiếp nhằm đạt mục đíchgiáo dục

- Năng lực giao tiếp sư phạm được biểu hiện ở các kĩ năng chính như:

Kĩ năng định hướng giao tiếp: thể hiện ở khả năng dựa vào sự biểu lộ bênngoài như: Sắc thái biểu cảm, ngữ điệu thanh điệu của ngôn ngữ, cử chỉ, độngtác, thời điểm và không gian giao tiếp mà phán đoán chính xác về nhân cáchcũng như mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh

Trang 11

Kĩ năng định vị: đó là khả năng biết xác định vị trí trong giao tiếp, biếtđặt vị trí của mình vào vị trí của của đối tượng và biết tạo điều kiện để đối tượngchủ động thỏa mái giao tiếp với mình.

Kĩ năng điều khiển quá trình giao tiếp thể hiện ở: Kỹ năng điều khiển đốitượng giao tiếp, kỹ năng làm chủ trạng thái cảm xúc của bản thân và kỹ năng sửdụng phương tiện giao tiếp

Kĩ năng làm chủ trạng thái cảm xúc của bản thân, biết kiềm chế trạng tháixúc cảm mạnh, khắc phục những tâm trạng có hại, khi cần thiết có thể bộc lộnhững tình cảm mà lúc này không có hoặc có mà yếu ớt Đó chính là, biết điềuchỉnh và điều khiển các diễn biến tâm lí của mình cho phù hợp với hoàn cảnhgiao tiếp

Phương tiện giao tiếp đặc trưng của con người là lời nói, kĩ năng này biểuhiện ở chỗ: giáo viên biết lựa chọn những từ đắt thông minh, hiền hòa lịch sự …trong giao tiếp; mặt khác biết sử dụng những phương tiện phi ngôn ngữ như cửchỉ, điệu bộ, nét mặt nụ cười …

- Ngoài ra người giáo viên còn có sự tiếp xúc với đồng nghiệp, với phụhuynh học sinh, với các tổ chức xã hội khác Thông qua sự giao tiếp này giáoviên đóng góp công sức của mình vào việc thống nhất, tác động giữa các lựclượng giáo dục, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ

Việc rèn luyện năng lực giao tiếp, không tách rời việc rèn luyện các phẩmchất đạo đức và nhân cách của người giáo viên

1.2 Năng lực dạy học

1.2.1 Năng lực triển khai chương trình dạy học:

Đó là năng lực tiến hành dạy học, căn cứ vào mục đích và nội dung giáodục và dạy học đã được quy định, nhưng phù hợp với đặc điểm của đối tượng

Nhóm các năng lực dạy học bao gồm:

Năng lực chế biến tài liệu học tập là năng lực gia công về mặt sư phạmcủa thầy giáo, đối với tài liệu học tập, nhằm làm cho nó phù hợp với trình độ vàđặc điểm nhân cách học sinh nhưng phải đảm bảo logic sư phạm

Năng lực chế biến tài liệu học tập được thể hiện:

Người giáo viên đánh giá đúng tài liệu, xác lập được mối quan hệ giữa yêucầu kiến thức của chương trình, với trình độ nhận thức của học sinh, phải biếtđược những thuận lợi và khó khăn của học sinh khi tiến hành giảng dạy

Giáo viên phải biết xây dựng lại tài liệu, để hình thành cấu trúc bài giảngvừa phù hợp với logic nhận thức, vừa phù hợp với logic sư phạm lại thích hợp

Trang 12

với trình độ nhận thức của trẻ; Muốn làm được điều đó, giáo viên cần phải đảmbảo những yêu cầu sau:

- Có khả năng phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa kiến thức

- Phải có suy nghĩ sáng tạo thường thể hiện ở chỗ: Trình bày tài liệu theosuy nghĩ và lập luận của mình, cung cấp cho học sinh những kiến thức sâu sắc vàchính xác, có liên hệ vận dụng vào thực tiễn cuộc sống

Tìm ra những phương pháp mới, hiệu nghiệm để cho bài giảng đầy sức lôicuốn và giàu cảm xúc tích cực, nhạy cảm với cái mới và giàu cảm hứng sáng tạo

Năng lực hướng dẫn tìm hiểu tài liệu; Kết quả lĩnh hội kiến thức phụ thuộcvào ba yếu tố: Trình độ nhận thức của học sinh, nội dung bài giảng và cách dạycủa giáo viên

Giáo viên chuẩn bị bài tốt, nhưng chưa chắc dạy đã hay, muốn dạy học đạtkết quả cao thì người thầy giáo phải có năng lực tổ chức các hoạt động học phùhợp với nhận thức của học sinh

Năng lực truyền đạt tài liệu của giáo viên là năng lực tổ chức và điềukhiển, các hoạt động nhận thức cho học sinh thông qua hoạt động dạy và họctrong tiết dạy đó

Năng lực này thể hiện ở chỗ:

+ Nắm vững kĩ thuật dạy học mới, tạo cho học sinh ở vị trí “người phátminh” trong quá trình dạy học

+ Truyền đạt tài liệu rõ ràng, dễ hiểu và làm cho nó trở nên vừa sức vớihọc sinh; Gây hứng thú và kích thích học sinh suy nghĩ tích cực và độc lập; Tạo

ra tâm thế có lợi cho sự lĩnh hội, học tập của học sinh

Việc hình thành một năng lực như vậy, nắm được kĩ thuật dạy học mới nêutrên quả là không dễ dàng mà nó là kết quả của một quá trình học tập nghiêm túc

và rèn luyện tay nghề công phu của người giáo viên

1.2.2 Năng lực chuẩn bị kế hoạch dạy học

Người giáo viên có được năng lực chuẩn bị kế hoạch dạy học, điều đầutiên người giáo viên cần có các kĩ năng sau:

- Kĩ năng phân tích chương trình dạy học;

- Kĩ năng xác định mục tiêu bài dạy;

- Kĩ năng chuẩn bị phương tiện dạy học;

- Kĩ năng nắm bắt đối tượng;

- Kĩ năng lựa chọn tài liệu và chuẩn bị tri thức mới;

Trang 13

- Kĩ năng dự đoán những khó khăn của học sinh trong quá trình lĩnh hội trithức mới;

- Kĩ năng soạn bài;

- Kĩ năng lựa chọn các phương pháp dạy học

1.2.3 Kĩ năng tổ chức các hoạt động nhóm

- Kĩ năng thành lập nhóm học tập;

- Kĩ năng phân công nhiệm vụ học tập;

- Kĩ năng hướng dẫn tổ chức các hoạt động nhóm;

- Kĩ năng quan sát theo dõi, điều chỉnh các tiến trình của hoạt động nhóm;

- Kĩ năng tổ chức báo cáo kết quả hoạt động của các nhóm

1.2.4 Năng lực giải quyết các tình huống.

Tình huống có vấn đề trong dạy học toán có thể tạm chia ra thành haidạng: Một là tình huống có vấn đề xảy ra trong dự kiến của giáo viên; Hai là tìnhhuống có vấn đề xảy ra ngoài dự kiến

- Tình huống có vấn đề xảy ra trong dự kiến thì việc giáo viên giải quyếttình huống này không có gì khó khăn Vì giáo viên đã có tâm thế chuẩn bị và đã

có phương án giải quyết một cách phù hợp

- Tình huống có vấn đề trong dạy học toán tiểu học, có khi xuất phát từthực tiễn nội dung dạy học, trong đơn vị kiến thức, từ trao đổi và tìm tòi của họcsinh trong quá trình thảo luận Nếu tình huống này xảy ra thì giáo viên thườnglúng túng và gặp khó khăn, cách giải quyết tình huống này có thỏa đáng cóthuyết phục học sinh hay không, phụ thuộc vào năng lực của giáo viên Vì vậyviệc rèn kĩ năng giải quyết các tình huống là rất cần thiết cho mỗi giáo viên

Để có năng lực giải quyết các tình huống thì những việc làm thường xuyêncủa giáo viên là: Biên soạn tình huống cho từng đơn vị kiến thức, từng bài dạycủa mình, nhưng phải thỏa mãn các yêu cầu cơ bản của một tình huống như:

- Tình huống phải sát với thực tế nội dung giảng dạy

- Tình huống phải thật sự thách thức với học sinh, học sinh không thể trảlời ngay được mà phải huy động kiến thức và giải pháp, mới giải quyết được

- Nội dung tình huống phải phù hợp với trình độ học sinh, không nên đưa

ra tình huống phức tạp cao hơn khả năng của học sinh và ngược lại, và điều nàycũng có thể làm nản lòng học sinh, không muốn tham gia giải quyết tình huống,như vậy hiệu quả sẽ không đạt như mong muốn

Trang 14

- Theo kinh nghiệm của bản thân, thay vì người giáo viên đưa ra các phản

ví dụ, người giáo viên có thể soạn ra các tình huống sai lầm thường gặp của họcsinh nhằm củng cố kiến thức một cách chắc chắn hơn

Trong thời gian qua giáo viên thường coi trọng việc dạy học, tức là chủyếu hình thành kiến thức và kĩ năng cho học sinh, mà chưa chú trọng nhiều côngtác giáo dục, cụ thể là hình thành phẩm chất đạo đức cho học sinh, không phảiđến giờ dạy học phân môn đạo đức, người giáo viên mới hình thành phẩm chấtđạo đức cho học sinh mà phải được thường xuyên tích hợp trong quá trình dạyhọc

Thông qua việc dạy học môn toán, người giáo viên có thể rèn luyện chohọc sinh tính cẩn thận, kiên trì, vượt khó, làm việc có kế hoạch, khoa học…

Tất cả các giáo viên đều biết, nhưng việc có hình thành được các phẩmchất đó không, lại là vấn đề khác, các giáo viên thường phát hiện học sinh giảitoán sai, thường nhắc nhở học sinh, phải cẩn thận không được làm sai, vì nếulàm sai, sau này kiểm tra hoặc thi học kì, thi chuyển cấp … thì không làm được,chính vì vậy mà mục tiêu giáo dục, đã ít nhiều đi chệch hướng là học để thi

Theo bản thân, mỗi hoạt động trong dạy học toán, đều có thể tích hợp vớicác yếu tố giáo dục và hình thành một phẩm chất đạo đức cho học sinh tiểu học

Ví dụ 1: Khi học sinh thực hiện bài toán tính giá trị biểu thức có dấu

ngoặc, một học sinh đã làm chưa chính xác mở dấu ngoặc mà quên đóng dấu

ngoặc, người giáo viên cho học sinh nêu một số ví dụ mở mà không đóng có gây

tác hại và nguy hiểm gì không?

Nếu học sinh chưa lấy được giáo viên có thể gợi ý lấy một ví dụ như: Mởđiện không tắt điện; mở cửa mà không đóng cửa; mở nước mà không đóngnước…

Ví dụ 2: Khi thực hiệu tính giá trị biểu thức có nhiều dấu ngoặc học sinh

đã làm sai qui tắc về thứ tự mở các dấu ngoặc, nhiệm vụ người giáo viên cầncủng cố lại quy tắc cho học sinh hiểu, ngoài ra người giáo viên có thể lấy thêm

các ví dụ từ cuộc sống để giáo dục học sinh Như cha ông ta thường dạy: “học

ăn, hỏi nói, học gói, học mở”.

Hoạt động thảo luận: Anh chị làm sáng tỏ nhận định sau:

1) “Thầy giáo là người nghệ sĩ trên bục giảng”

2) “Thầy giáo là kĩ sư tâm hồn”

Một số câu danh ngôn hay

Trang 15

1) Người thầy trung bình chỉ biết nói Người thầy giỏi biết giải thích.Người thầy xuất chúng biết minh họa Người thầy vĩ đại biết cách truyền cảmhứng (William A Warrd)

2) Học không biết chán, dạy người không biết mỏi (Khổng Tử)

3) Người thầy thực sự hiểu biết không bắt bạn bước vào ngôi nhà tri thức của thầy, mà hướng dẫn bạn đến ngưỡng cửa tư duy và tri thức của bạn (Khalil Gibran)

4) Nhà giáo không phải là người nhồi nhét kiến thức mà đó là công việccủa người khơi dậy ngọn lửa cho tâm hồn (Uyliam Batơ Dit)

5) Thầy giáo bình thường giải thích những rắc rối, thầy giáo có năng khiếutiết lộ sự đơn giản (Robert Brault)

Ngày đăng: 28/12/2018, 22:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w