Luận văn, thạc sĩ, tiến sĩ, khóa luận, cao học, đề tài
Trang 11.1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Đất đai có vị trí quan trọng đối với đời sống con người và đối với nền sản xuất xã hội, nhất là khi nền kinh tế phát triển, đời sống của nhân dân được tăng lên thì nhu cầu về sử dụng đất đai đối với tất cả các ngành sản xuất và đời sống xã hội cũng tăng lên Do vậy vấn đề đặt ra là phải tổ chức quản lý và sử dụng quỹ đất một cách hợp lý, tiết kiệm, đem lại hiệu quả cao nhưng vẫn bảo
đảm được tính bền vững
Từ xưa đến nay, đất đai là một trong những vấn đề quan trọng nhất của cách mạng nước ta, được Đảng và Nhà nước quan tâm từ Cách mạng Dân tộc dân chủ nhân dân đến Cách mạng Xã hội chủ nghĩa và cả trong thời kỳ đổi mới Đất đai cũng là vấn đề phức tạp và nhạy cảm vì nó đụng đến mọi người dân, mọi tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội và cả đến quan hệ quốc tế
Nước ta là một nước nông nghiệp, hiện có 80% dân cư sống ở nông thôn
và khoảng 70% lực lượng lao động của toàn xã hội làm việc ở khu vực này Theo như Luật Đất đai 1993 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì "đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các dân cư,
xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng"[8]
Mặc dù rất quan trọng nhưng đất đai chỉ phát huy vai trò vốn có của nó dưới sự tác động tích cực của con người một cách thường xuyên Quá trình tổ chức sản xuất nông nghiệp ở nước ta đã cho thấy được bài học là sản xuất tập trung, quy mô lớn khi trình độ tổ chức quản lý thấp sẽ không những không phát huy được năng lực sản xuất mà còn gây ra tình trạng sử dụng lãng phí các nguồn tài nguyên, trong đó có đất đai
Từ khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (4/1988), hộ nông dân đã thực
Trang 2sự trở thành đơn vị kinh tế tự chủ Chủ trương này đã giải phóng được sức sản xuất trong nông nghiệp và nông thôn, trong đó có ruộng đất Mặc dù vậy, quá trình phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn gặp nhiều khó khăn, sản xuất nông nghiệp còn chứa đựng nhiều yếu tố thiếu bền vững Một trong những nguyên nhân nổi cộm là việc tập trung ruộng đất chưa tốt
Trước yêu cầu đổi mới quản lý nhằm chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, ngày 14/7/1993 Luật Đất đai được ban hành và sau đó ngày 2/12/1998 Quốc hội khoá IX thông qua Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung; Luật
Đất đai sửa đổi, bổ sung (2001) Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung đã chú ý đến quan hệ kinh tế, khơi dậy động lực kinh tế trong việc bảo vệ và sử dụng đất
đai, gắn bó giữa người lao động với loại tư liệu sản xuất đặc biệt này, đồng thời tăng cường vai trò giám sát, điều tiết vĩ mô đối với đất đai của Nhà nước Ngoài ra, đã có một số các văn bản dưới Luật ra đời (như Nghị định số 17/1999/NĐCP ngày 29/3/1999 và Nghị định số 85/1999/NĐCP ngày 28/8/1999 của Thủ tướng Chính phủ) có tác dụng không nhỏ thúc đẩy quá trình tập trung ruộng đất, tạo điều kiện thuận tiện cho sản xuất và đời sống Gần đây nhất Luật Đất đai đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26/11/2003; Luật này quy
định về quản lý và sử dụng đất đai có hiệu lực thi hành bắt đầu từ ngày 01/07/2004
Huyện Chương Mỹ có tổng diện tích đất tự nhiên là 23.294,15 ha và 58.115 hộ, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 14.282,09 ha, là một huyện bán sơn địa, có số dân đông nhất tỉnh, trình độ văn hoá và trình độ sản xuất của các hộ nông dân còn hạn chế, tỉ lệ số hộ nông dân đói nghèo còn cao Huyện nằm trong vùng phân lũ, chậm lũ của Trung ương, địa hình đất canh tác khá phức tạp, có cả đất đồi gò, đồng bằng và đất trũng Trước kia, những nhận xét về Chương Mỹ thường chỉ là có nhiều tiềm năng để phát triển kinh
Trang 3tế Giờ đây khi nói tới Chương Mỹ người ta nghĩ ngay tới một nơi sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu nổi tiếng Không dừng lại ở việc phát huy nghề tiểu thủ công nghiệp, huyện Chương Mỹ đang tiếp tục khai thác tiềm năng đất đai để phát triển kinh tế bằng phong trào chuyển đổi cơ cấu trong
nông nghiệp, xây dựng các “cánh đồng 50 triệu” Tuy nhiên, đồng thời với
việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng thì vấn đề ruộng đất và tập trung ruộng đất của huyện là bài toán khó đang đặt ra cho các nhà quản lý của huyện trong vấn đề giảm ô thửa, tăng diện tích đất canh tác bình quân trên một hộ, tăng diện tích của thửa đất, nhận thức của người dân khi tham gia vào quá trình tập trung ruộng đất…
Trước khi chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài
* CN Hoàng Văn Định (1999), Một số vấn đề về việc tập trung ruộng đất trong nông nghiệp nước ta, đã đưa ra kết luận:
Muốn cho quá trình và xu thế tích tụ và tập trung ruộng đất phát triển vững chắc, lành mạnh, Nhà nước phải có chính sách thoả đáng đối với hộ nông dân nghèo thiếu đất và không còn đất canh tác, nhất là ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long Đối với những hộ này cần được phân loại cụ thể và có giải pháp phù hợp với từng địa phương Đối với kinh tế trang trại, Nhà nước cũng cần có thái độ, chính sách phù hợp Vì đối với mô hình kinh tế trang trại, việc tích tụ ruộng đất là tất yếu, là hướng phát triển hiệu quả
* PGS.TS Nguyễn Văn Khánh (2001), Biến đổi cơ cấu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp ở vùng châu thổ sông Hồng trong thời kỳ đổi mới, đã đưa ra kết luận:
Cần tiếp tục hoàn thiện chính sách ruộng đất Tích cực chuyển đổi và thực hiện tập trung hoá ruộng đất nhằm khắc phục tình trạng manh mún về ruộng đất, để tạo điều kiện áp dụng cơ giới hoá, thuỷ lợi hoá và hiện đại hoá quy trình gieo trồng, chăm bón và thu hoạch lúa, màu, nhằm nâng cao hiệu
Trang 4quả sản xuất nông nghiệp
* GS.TS Lâm Quang Huyên (2002), Vấn đề ruộng đất ở Việt Nam đã đưa ra một số kết luận sau:
- Giải quyết vấn đề ruộng đất nói chung gồm hai công đoạn cách mạng
để chuyển sở hữu ruộng đất và sử dụng hợp lý, sử dụng ruộng đất đạt hiệu quả cao
- Cách mạng ruộng đất ở Việt Nam là một cuộc cách mạng ruộng đất triệt để vì do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
- Ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý, nông dân được quyền sử dụng ruộng đất lâu dài và các quyền rộng rãi khác, đáp ứng
được ước nguyện và tâm lý lâu đời của người cày đối với ruộng đất
- Để bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và nhu cầu lương thực thực phẩm cho cả nước, việc bảo vệ và mở rộng quỹ đất nông nghiệp là một nhiệm
vụ chiến lược trong quản lý vĩ mô của Nhà nước
- Cần sử dụng ruộng đất thật tốt để phục vụ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
* ThS Bùi Quang Dũng (2002), Nghiên cứu thực trạng và ảnh hưởng của quá trình tập trung ruộng đất đến phát triển nông nghiệp tại huyện Thạch Thất - tỉnh Hà Tây, đã đưa ra kết luận:
- Tập trung ruộng đất là một yêu cầu khách quan, là hiện tượng sẽ diễn ra trong suốt quá trình phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá tập trung với quy mô lớn, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lại lao động trong xã hội
- Tập trung ruộng đất tạo điều kiện để áp dụng những tiến bộ kỹ thuật mới, tăng năng suất cây trồng, tác động mạnh mẽ đến quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Để nâng cao hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp thời gian tới
và đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn đồng
Trang 5thời phát huy được thế mạnh của huyện Chương Mỹ thì vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý đất đai là làm thế nào để thúc đẩy nhanh quá trình tập trung ruộng
đất của huyện Xuất phát từ lý do trên, tôi lựa chọn đề tài "Nghiên cứu thực trạng quá trình tập trung ruộng đất tại huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây"
nhằm đánh giá thực trạng quá trình tập trung ruộng đất phát triển sản xuất nông nghiệp của địa phương, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp tại huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng quá trình tập trung ruộng đất của hộ nông dân, phát hiện những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn từ đó đề xuất ý kiến nhằm thực hiện tốt quá trình tập trung ruộng đất tại huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về tập trung ruộng
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các mối quan hệ kinh tế trong quá trình tập trung ruộng đất như thuê đất, mua đất, mượn ruộng đất, đấu thầu đất, thừa kế quyền sử dụng đất với chủ thể là hộ nông dân
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Đề tài nghiên cứu ở một số xã đại diện của huyện Chương
Trang 6Mỹ, tỉnh Hà Tây
- Thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng về tình hình đất đai của huyện Chương Mỹ từ năm 1994 đến nay, trong đó các số liệu về điều tra tình hình kinh tế hộ nông dân thực hiện trong năm 2003
- Nội dung: Nghiên cứu những vấn đề phát sinh trong quá trình tập trung ruộng đất và các giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình tập trung ruộng đất ở huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây
Trang 72.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về tập trung đất nông nghiệp
2.1.1 Khái niệm về tập trung ruộng đất
Theo Từ điển Từ và ngữ Việt Nam (trang 1542, 1655, 1801) thì tập trung
(tập là tụ họp lại, trung là giữa) nghĩa là dồn tất cả vào một chỗ để tăng cường sức mạnh Ruộng đất là đất đai trồng trọt nói chung Tích tụ là dồn vào, tập trung nhiều vào một chỗ
Thực chất tập trung ruộng đất là việc tăng quy mô diện tích cho hộ do dồn, đổi, thuê, mua, đấu thầu
Đối với nông nghiệp việc tập trung ruộng đất, tăng quy mô kinh doanh của các chủ thể kinh doanh là vấn đề có tính quy luật Nó diễn ra với quy mô
và tốc độ khác nhau tuỳ từng nước và phụ thuộc trước hết vào quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp Quá trình này đã làm thay đổi tương quan giữa lao động và đất đai trong sản xuất, kinh doanh nông nghiệp theo các giai đoạn khác nhau của tiến trình lịch sử
Như vậy, tập trung ruộng đất có thể được hiểu là phương thức làm tăng quy mô về diện tích của thửa đất và chủ thể sử dụng đất Quy mô ruộng đất
được tăng lên thông qua việc tập trung ruộng đất trên cơ sở các quan hệ ruộng
đất trên phương diện tự nhiên và quan hệ sở hữu
2.1.2 Tác dụng của tập trung ruộng đất đối với sản xuất nông nghiệp
Đất đai được coi là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế được trong sản xuất nông nghiệp, vì vậy quy mô và trình độ phát triển sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất chặt chẽ vào tính chất và mức độ tập trung về đất
đai cho sản xuất
Trang 8Việc tập trung ruộng đất vào tay chủ sở hữu mới tạo ra kết quả hai mặt:
- Một số hộ nông dân không có đất, buộc họ phải đi làm nghề khác, làm thuê hoặc rời bỏ quê hương tìm kế sinh nhai
- Tạo cho chủ đất có điều kiện áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, đầu tư thâm canh tăng năng suất cây trồng
Tập trung ruộng đất hợp lý sẽ thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá hiện đại Nó là kết quả của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng tiến bộ, trên cơ sở đó thực hiện lại phân công lao động một cách hợp lý Tuy nhiên, tập trung ruộng đất nếu không được kiểm soát chặt chẽ và thiếu sự quản lý điều chỉnh của Nhà nước thì bên cạnh những mặt tích cực cũng sẽ nảy sinh nhiều tiêu cực không kém phần gay gắt như sự phân hoá xã hội, phân hoá giàu nghèo
Quá trình tập trung ruộng đất có ý nghĩa rất lớn đối với phát triển sản xuất nông nghiệp Tập trung ruộng đất giúp cho sử dụng ruộng đất đầy đủ, tiết kiệm và có hiệu quả, góp phần bảo vệ, tái tạo và khôi phục chất lượng của ruộng đất, nâng cao hiệu quả sử dụng ruộng đất thông qua việc khuyến khích chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát triển nông nghiệp hàng hoá theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá Tập trung ruộng đất có tác động tích cực đến thu nhập và đời sống của hộ nông dân và được coi như là điểm mấu chốt của quan hệ hàng hoá tiền tệ trong nông nghiệp và phân công lại lao động trong nông thôn
Tập trung ruộng đất sẽ khắc phục được tình trạng manh mún, tạo ra sự thuận lợi cho người sản xuất ứng dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh cây trồng, đem lại hiệu quả cao; thực hiện tốt các biện pháp thuỷ lợi hoá, cơ giới hoá và hợp tác hoá, đưa sản xuất nông nghiệp phát triển, thuận tiện cho công tác quản lý đất đai
Quá trình tập trung ruộng đất là quá trình hình thành kinh tế nông trại sản xuất hàng hoá quy mô lớn và là sự điều chỉnh một bước rất cơ bản và quan
Trang 9trọng về quan hệ sở hữu trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn [5, 150] Trên thực tế hiện nay cho thấy, một mâu thuẫn lớn đang đặt ra cho nền nông nghiệp nước ta là có nhiều sản phẩm có khối lượng hàng hoá lớn nhưng lại được sản xuất ở những hộ có quy mô nhỏ hoặc rất nhỏ Vì thế chất lượng nông sản hàng hoá thấp, tính chất đồng nhất kém, người sản xuất trực tiếp không nắm được thông tin thị trường, hậu quả là sản xuất và phân phối nông phẩm của nước ta chịu những thua thiệt không nhỏ Mâu thuẫn trên chỉ có thể giải quyết thoả đáng thông qua con đường tập trung ruộng đất
Sự chuyển dịch nền nông nghiệp từ sản xuất tự nhiên tự cấp tự túc sang phát triển sản xuất hàng hoá là một xu thế mang tính quy luật trong tiến trình phát triển của xã hội Đó là quá trình phát triển nền nông nghiệp theo hướng tập trung hoá, chuyên môn hoá được thực hiện trên cơ sở của sự tập trung về
đất đai Như vậy, trong điều kiện sản xuất hàng hoá đã tương đối phát triển, tập trung ruộng đất là điều kiện căn bản để chuyển từ sản xuất tự cấp tự túc phân tán manh mún sang sản xuất tập trung hoá, chuyên môn hoá và sản xuất hàng hoá Tập trung ruộng đất ở những nơi có quan hệ hàng hoá tiền tệ phát triển có thể dẫn đến tình trạng một bộ phận nông dân không có đất nhưng thu nhập và đời sống của nhóm hộ này không những không bị ảnh hưởng mà một
bộ phận còn được cải thiện phát triển cao hơn Tuy nhiên, những ưu việt của tập trung ruộng đất cũng không được thể hiện ở những vùng đất chật người
đông, các tiềm năng tự nhiên đã được tập trung đầu tư khai thác ở mức tối đa gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng của ruộng đất
Tóm lại, tập trung ruộng đất là quá trình tất yếu khách quan của kinh tế hàng hoá, là yêu cầu của sản xuất hàng hoá, thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lại lao động trong xã hội
2.1.3 Các hình thức tập trung đất nông nghiệp
Tập trung ruộng đất có xu hướng tăng lên theo yêu cầu phát triển của sản xuất hàng hoá Tập trung ruộng đất là việc sáp nhập hoặc hợp nhất ruộng đất
Trang 10của những chủ sở hữu khác nhau vào một chủ sở hữu hoặc hình thành một chủ
sở hữu mới có quy mô ruộng đất lớn hơn [16, 127] Tập trung ruộng đất diễn
ra theo hai con đường a) hợp nhất ruộng đất của các chủ sở hữu cá biệt nhỏ hơn thành một chủ sở hữu cá biệt khác lớn hơn Một trong những con đường hợp nhất ruộng đất là thông qua việc xây dựng hợp tác xã sản xuất nông nghiệp ở nước ta trước đây và b) sáp nhập ruộng đất của các chủ sở hữu nhỏ cá biệt cho một chủ sở hữu cá biệt để tạo ra quy mô lớn hơn Con đường này
được thực hiện thông qua biện pháp tước đoạt hoặc chuyển nhượng mua bán ruộng đất
Các hình thức được diễn ra trong tập trung đất đó là thuê đất, thuê lại đất, mua đất, mượn đất, mượn ruộng, đổi đất, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng
đất, thế chấp bằng ruộng đất, chuyển đổi quyền sử dụng đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất
Với tư cách là một tài sản, một tư liệu sản xuất, cũng giống như các tài sản khác, tư liệu sản xuất khác, ruộng đất có những hình thức sở hữu nhất định
và được quy định bởi luật pháp Việc xác lập các quyền lợi trong sử dụng ruộng đất biểu hiện ở các quyền sử dụng, thừa kế, chuyển đổi, chuyển nhượng, thế chấp và cho thuê Quyền sử dụng của chủ thể sử dụng đất đã được Luật Đất đai (1993), Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai (1998), Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai (2001) và Luật Đất
đai (2003) của Việt Nam quy định cụ thể như sau:
- Quyền sử dụng ổn định lâu dài là người chủ sử dụng đất được quyền sử dụng ổn định lâu dài và Nhà nước chỉ thu lại đất trong những trường hợp pháp luật đất đai quy định cụ thể Người sử dụng đất phải sử dụng đúng mục đích Nhà nước quy định, nếu thay đổi mục đích sử dụng phải được phép của cấp có thẩm quyền
- Quyền chuyển đổi quyền sử dụng đất được hiểu là người sử dụng đất có quyền chuyển đổi quyền sử dụng đất của mình cho người khác tức là chỉ
Trang 11chuyển đổi về không gian, địa điểm mà không thay đổi mục đích sử dụng của
đất để thuận tiện cho việc sử dụng, trên cơ sở thoả thuận hai bên cùng có lợi Sau khi chuyển đổi các mảnh đất nhỏ thường được ghép lại thành thửa lớn vì vậy diện tích/thửa sẽ tăng lên
- Quyền chuyển nhượng quyền sử dụng là người được Nhà nước giao quyền sử dụng đất có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất đó cho người khác theo những quy định của pháp luật về đất đai Người được chuyển nhượng đất sẽ có nhiều đất hơn, như vậy đất được tập trung vào tay những người làm nông nghiệp
- Quyền thừa kế quyền sử dụng đất không hoàn toàn giống như thừa kế tài sản dân sự bởi lẽ đất đai thuộc sở hữu toàn dân và luôn nằm trong sự quản
lý của Nhà nước Thừa kế là thừa kế quyền sử dụng chứ không phải thừa kế quyền sở hữu đất Người được thừa kế đất sẽ có nhiều đất hơn để phát triển sản xuất
- Quyền thế chấp là thế chấp quyền sử dụng đất không giống như thế chấp tài sản khác Quyền thế chấp này một mặt khẳng định tính pháp lý của người chủ sử dụng hợp pháp đó, mặt khác giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trở thành công cụ pháp luật của việc lưu chuyển đất Dùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất làm thế chấp giá trị quyền sử dụng của mảnh đất đó và tuỳ thuộc vào khả năng sinh lợi của mảnh đất đem thế chấp, bởi vì trong thời gian thế chấp bên có vốn cho vay (bên nhận thế chấp) chỉ nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bên thế chấp để làm tin chứ không nhận đất sử dụng (trừ khi hết hạn mà không trả nợ)
- Quyền cho thuê là người sử dụng đất hợp pháp vì lý do bất khả kháng nên tạm thời không thể sử dụng đất trong một thời gian nhất định thì được cho người khác thuê đất của mình để sử dụng Bên thuê đất phải sử dụng đúng mục đích, trả tiền thuê, trả lại đất khi hết hạn thuê Bên thuê và bên cho thuê phải thực hiện đúng hợp đồng đã cam kết phù hợp với pháp luật Người đi thuê
Trang 12đất sẽ có diện tích lớn hơn, đất được tập trung giúp cho sản xuất được thuận lợi hơn
Việc quy định các quyền của Nhà nước và các quyền của chủ thể sử dụng
đất trong đó có hộ nông dân tạo nên cấu trúc của quan hệ sở hữu đất đai phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta hiện nay, đồng thời tạo ra cơ sở pháp lý cần thiết cho quan hệ đất đai vận động có hiệu quả trong cơ chế mới Đây là một biện pháp quan trọng để giải quyết tốt mối quan hệ giữa vấn đề sở hữu đất
đai với lợi ích chính đáng của người sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước, thúc đẩy quá trình tập trung ruộng đất
2.1.4 Đặc điểm, các mối quan hệ trong quá trình tập trung đất nông nghiệp
• Đặc điểm của đất nông nghiệp
Khác với các tư liệu sản xuất khác, đất là tư liệu sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp và có những đặc điểm sau:
- Đất vừa là sản phẩm của tự nhiên vừa là sản phẩm của lao động Đặc
điểm này đòi hỏi trong quá trình sử dụng, con người phải không ngừng cải tạo
và bồi dưỡng ruộng đất, làm cho đất ngày càng màu mỡ hơn Tiến hành tập trung ruộng đất giúp cho hộ nông dân sử dụng ruộng đất có hiệu quả hơn
- Đất bị giới hạn về mặt không gian, nhưng sức sản xuất của đất là không
có giới hạn Điều này có nghĩa là mỗi đơn vị diện tích đất đai, nhờ tăng cường
đầu tư vốn, sức lao động, đưa khoa học và công nghệ mới vào sản xuất và sản phẩm đem lại trên một đơn vị diện tích ngày càng nhiều hơn Tập trung ruộng
đất giúp cho hộ nông dân thực hiện thâm canh, xen canh, luân canh cây trồng hợp lý, tăng hệ số sử dụng ruộng đất
- Đất có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều, nó gắn liền với điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi vùng Đặc điểm này đặt ra yêu cầu sử dụng đất một cách đầy đủ, hợp lý và có hiệu quả Do ruộng đất có chất lượng không đồng đều giữa các khu vực nên trong quá trình sử dụng cần thiết phải cải tạo và nâng cao độ phì cho đất để nâng dần độ đồng đều của
Trang 13ruộng đất và đạt năng suất cây trồng cao Tập trung ruộng đất tạo điều kiện thuận lợi cho hộ nông dân có thêm nhiều diện tích để canh tác tuy nhiên cần
sử dụng ruộng đất hợp lý, tiết kiệm đem lại hiệu quả cao nhưng vẫn bảo đảm tính bền vững
- Đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không bị hao mòn và đào thải khỏi quá trình sản xuất, nếu sử dụng hợp lý thì ruộng đất có chất lượng ngày càng tốt hơn Như vậy việc sử dụng ruộng đất đúng đắn và có hiệu quả tuỳ thuộc vào chính sách ruộng đất của Nhà nước, các chính sách kinh tế vĩ mô khác và mục
đích của người sử dụng đất
• Các mối quan hệ trong quá trình tập trung đất nông nghiệp
Bước đầu tiên của chính sách đất đai là tạo nên sự công bằng (mọi người
được chia đều diện tích sử dụng) nhưng công bằng hiểu theo nghĩa với phát triển là cần tập trung vào tay những người làm nông nghiệp giỏi Từ đó, mâu thuẫn tiếp theo đặt ra là sẽ có người không có đất và có người nhiều đất, những người không đủ đất sẽ lựa chọn hướng kinh doanh khác Trong điều kiện sức sản xuất kém, nghèo thì chia đều đất là quan trọng nên quá trình tập trung đất diễn ra rất khó khăn, phức tạp
Trong nông nghiệp ruộng đất là tư liệu sản xuất đặc biệt, nó vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội Vì vậy, các quan hệ trong quá trình sử dụng ruộng đất được biểu hiện trên các phương diện tự nhiên, kinh tế,
xã hội [3, 152-155]
Các quan hệ ruộng đất mà thực chất là các quan hệ của Nhà nước với các tập thể, các cá nhân sử dụng ruộng đất; giữa các cá nhân, tập thể sử dụng ruộng đất với nhau phải được xác lập một cách hợp lý Mối quan hệ ấy được xây dựng thông qua việc phân định đúng đắn quyền năng của mỗi bên đối với ruộng đất Người đi thuê đất, mượn ruộng đất, đổi đất, tham gia đấu thầu đất phải thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ do người có đất đặt ra về giá thuê, thời gian thuê, hình thức thuê
Trang 14Quan hệ ruộng đất về mặt kinh tế là quan hệ được xem xét về khía cạnh kinh tế Trên phương diện này, ruộng đất được xem xét ở mục đích sử dụng Trong những điều kiện khác nhau ruộng đất sẽ được sử dụng với mục đích khác nhau và vì vậy sẽ cho kết quả và hiệu quả khác nhau
Quan hệ sở hữu về ruộng đất là một trong những quan hệ cơ bản nhất trong quá trình sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp Về mặt xã hội, quan hệ sở hữu về ruộng đất là sự biểu hiện tập trung nhất trong quan hệ ruộng đất, nó là nhân tố quyết định đến quan hệ đất đai về mặt tự nhiên và kinh tế Trong mỗi thời đại lịch sử, mỗi chế độ sở hữu, mỗi quan hệ sở hữu đất
đai được biểu thị một cách khác nhau Về bản chất các quan hệ ruộng đất phải
được đặt trong một chỉnh thể thống nhất hữu cơ của các yếu tố kinh tế, xã hội, chính trị và môi trường, trong đó yếu tố kinh tế là trọng tâm [3, 151-153]
- Đi thuê đất và thuê lại đất để canh tác
- Đất được nhượng lại do kinh tế của hộ khó khăn, thiếu lao động hay đi làm việc khác
- Nhận thừa kế, xẩy ra đối với những trường hợp có quan hệ mật thiết Tất cả các hình thức trên đều với chung mục đích là gộp đất đai lại thành thửa lớn tăng diện tích để tiện canh tác và áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Vì vậy, xu hướng tập trung đất được biểu hiện như sau: Một số hộ làm ăn khá giả, có vốn, có trình độ kỹ thuật và trình độ quản lý kinh doanh muốn có thêm đất đai để sản xuất, thành lập trang trại Đây là một yêu cầu tất yếu nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế nông thôn, tạo ra những vùng chuyên
Trang 15môn hoá Một số hộ muốn vươn tới quy mô sản xuất lớn để thu lợi nhuận cao
đã tìm cách tập trung đất cho mình Một số hộ yếu kém tự thấy không tự bảo
đảm được cuộc sống trên ruộng đất giao nhận đã chuyển nhượng, cho thuê lại
đất để vừa đáp ứng được yêu cầu cuộc sống trước mắt đồng thời tập trung nguồn lực cho các nguồn thu nhập khác có hiệu quả hơn Đây chính là con
đường tất yếu để giảm thiểu những lao động không cần thiết, chuyển lao động nông nghiệp sang các ngành kinh tế khác, trước hết là công nghiệp, nó sẽ diễn
ra khá mạnh trong thời kỳ công nghiệp hoá, đồng thời có tác dụng thúc đẩy nông nghiệp phát triển
Tuy nhiên, không thể không đề cập tới những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tập trung ruộng đất, gồm các yếu tố khách quan mang tính xã hội như trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sự phân công lao động xã hội, chế
độ quản lý ruộng đất, vai trò tác động của Nhà nước, triển khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn chậm và những yếu tố chủ quan của các chủ thể
sử dụng đất như nhận thức của nông dân, nhu cầu của nông dân về ruộng đất
2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tập trung đất nông nghiệp
• Sự phát triển của công nghệ
Cùng với ruộng đất, lao động và vốn, công nghệ trong nông nghiệp cũng
là nguồn lực quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của nông nghiệp Sự thay
đổi công nghệ là sự hoàn thiện về kiến thức hay kỹ thuật để nâng cao năng lực sản xuất Nông dân tự rút kinh nghiệm trong quá trình sản xuất và sử dụng các nguồn lực dẫn đến thay đổi kỹ thuật Sự thay đổi khoa học kỹ thuật do nông dân đã và sẽ là một trong những động lực rất căn bản trong sự phát triển nông nghiệp nhất là hiện nay không phải ngẫu nhiên mà chúng ta có các chương trình nghiên cứu và khuyến nông có sự tham gia của người dân [10, 25 - 28] Khi công nghệ ngày càng phát triển, yêu cầu đặt ra là diện tích đất canh tác của hộ nông dân phải đủ lớn, giảm được bờ vùng bờ thửa, tưới tiêu thuận lợi tiện cho áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất thì cây trồng
Trang 16sẽ cho năng suất cao, chất lượng tốt Như vậy, các nhà quản lý và người nông dân phải làm thế nào để tiến hành tập trung ruộng đất thành các thửa lớn hơn, gọn khu, gọn khoảnh khi đó việc áp dụng các khoa học và công nghệ mới vào sản xuất mới đem lại hiệu quả cao và bảo vệ được môi trường sinh thái, phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững
• Quan hệ thị trường
Thị trường nông phẩm thường có nhiều người bán và nhiều người mua Giá nông phẩm sẽ do cả cung và cầu quy định Tính chất tươi sống và dễ hư hỏng của sản phẩm, chi phí bảo quản, giá của sản phẩm cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến thu nhập của người nông dân [10, 49 - 62] Như vậy, tập trung ruộng đất sẽ tạo cho nông dân có nhiều đất đai để canh tác, thâm canh tăng vụ tạo ra nhiều sản phẩm cho thị trường Tuy nhiên, để cho người sản xuất không
bị thua thiệt khi đem sản phẩm sản xuất ra thị trường và khuyến khích được người nông dân trong sản xuất cần có sự can thiệp của Chính phủ về chính sách giá cả như xác định giá trần, giá sàn hoặc thực hiện quỹ bình ổn giá để
ổn định giá cả trong nông nghiệp
• Chính sách nông nghiệp
Chính sách nông nghiệp, nông thôn là tổng hợp các biện pháp của Nhà nước nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế phát huy mọi tiềm năng, nội lực, phát huy mặt tích cực và khắc phục mặt hạn chế tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ quyền lợi của người sản xuất đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp hàng hoá Chính sách của Nhà nước là hành lang pháp lý, nó không bất định
mà được bổ sung, sửa đổi ngày càng hoàn thiện hơn đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của xã hội Các chính sách đều hướng tới mục tiêu là sử dụng đầy
đủ và hợp lý ruộng đất để tạo ra ngày càng nhiều nông sản phẩm với chất lượng cao, giá thành hạ, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của mọi tầng lớp dân cư, có tác động tích cực đến các ngành kinh tế quốc dân, tạo ra nhiều nông sản cho xuất khẩu, không ngừng bảo vệ, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng của
Trang 17ruộng đất
Chính sách nông nghiệp, nông thôn trong những năm qua đã có tác động không nhỏ đến quá trình tập trung ruộng đất như diện tích của thửa đất tăng, diện tích của người sử dụng đất tăng, đồng ruộng được quy hoạch lại gọn khu gọn khoảnh khuyến khích nông dân phát triển sản xuất nông nghiệp trên mảnh
đất của mình, giúp người nông dân tập trung đất tăng quy mô sản xuất Các chính sách nông nghiệp đề ra đều bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người
sử dụng đất; khuyến khích được người sử dụng ruộng đất đầu tư lao động, vật tư, tiền vốn và áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật để làm tăng giá trị sử dụng đất, thâm canh tăng vụ nâng cao hiệu quả sử dụng đất, khai hoang, phục hoá, lấn biển, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, mở rộng diện tích sản xuất nông nghiệp, bảo vệ, cải tạo và làm tăng độ màu mỡ của đất, sử dụng tiết kiệm
đất Chính sách nông nghiệp đã giúp cho người quản lý đất đai kiểm soát và khống chế việc lấn chiếm đất đai, chuyển quyền sử dụng đất trái phép, sử dụng đất không đúng mục đích, huỷ hoại đất giúp cho người nông dân yên tâm với sản xuất nông nghiệp
ở Việt Nam, trong điều kiện gần 80% dân số tập trung tại nông thôn và sống nhờ vào sản xuất nông nghiệp nên Đảng ta xác định nông nghiệp luôn là mặt trận hàng đầu và Nhà nước có chính sách bảo đảm cho người làm nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản có đất để sản xuất, đồng thời Nhà nước bảo hộ mọi quyền lợi và lợi ích của người sử dụng đất hợp pháp Vì vậy vấn đề hạn điền được đặt ra nhằm góp phần phân công lao động tránh việc phân hoá ngày càng nhanh giữa người giàu và người nghèo tại nông thôn, tránh việc đầu cơ đất đai làm trắng tay những người nông dân có khả năng làm giàu từ sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường, vấn đề hạn điền lại có quan hệ chặt chẽ với vấn đề tập trung ruộng đất Tập trung ruộng đất là yêu cầu khách quan của nông nghiệp hàng hoá song Luật Đất đai cũng như các chính sách của Đảng và Nhà nước phải khẳng định rõ việc tập
Trang 18trung ruộng đất phải dựa trên nguyên tắc: Hiệu quả sản xuất kinh doanh, không cho phép buôn bán đất, kinh doanh theo kiểu phát canh thu tô Tập trung ruộng đất một mặt giải quyết cho những người trực tiếp tổ chức sản xuất kinh doanh sản phẩm hàng hoá nông nghiệp có đất để sử dụng, mặt khác vẫn bảo đảm cho nông dân có đất để sản xuất
Hạn điền là mức đất tối đa mà luật pháp cho phép cá nhân được quản lý,
sử dụng Vấn đề hạn điền được điều 44 - Luật Đất đai quy định ”Hạn mức đất nông nghiệp trồng cây hàng năm của mỗi hộ gia đình là không quá 3 ha do Chính phủ quy định cụ thể đối với từng địa phương”… Vấn đề này cũng được quy định tại điều 70 - Luật Đất đai 2003 Như vậy, Chính phủ trong thẩm quyền của Luật Đất đai phải có quy định cụ thể rõ ràng về quyền lợi của người
có diện tích lớn vượt quá hạn mức Việc quy định này một mặt phải bảo đảm quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, mặt khác phải có chính sách khuyến khích mọi tổ chức cá nhân tận dụng đất đai để sản xuất nông nghiệp thông qua việc khai hoang, phục hoá, cải tạo đất trống đồi núi trọc, đất hoang ven biển
Theo tinh thần của Luật Đất đai hiện hành, người đang sử dụng đất nông nghiệp vượt quá hạn mức vẫn được Nhà nước cho phép tiếp tục sử dụng nhưng phải nộp một khoản phụ theo quy định của Nhà nước Người có diện tích đất vượt quá hạn mức không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ổn
định, lâu dài và được giải quyết theo hướng
- Nếu diện tích do khai hoang hoặc nhận quyền sử dụng của người khác thì nộp thuế phụ thu vượt hạn mức do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định Hết hạn sử dụng đất Nhà nước sẽ thu hồi Nếu Nhà nước chưa sử dụng đến đất
đó thì có thể giao cho người có đất tiếp tục sử dụng
- Nếu diện tích do lấn chiếm, do đòi lại trái phép thì Nhà nước sẽ thu hồi
- Nếu ở địa phương nào bình quân diện tích quá thấp, có nhiều hộ không
có hoặc thiếu ruộng thì UBND xã bàn bạc, thương lượng với những hộ có
Trang 19nhiều diện tích vượt hạn mức để chuyển một phần diện tích đất đó cho những
hộ thiếu đất Số diện tích này được bồi hoàn theo giá quy định
Trong hơn 15 năm qua, khởi đầu sự đổi mới kinh tế nước ta xuất phát từ nông nghiệp Bởi vì nông nghiệp nước ta là cơ sở, nền tảng phát triển kinh tế quốc dân, bảo đảm an ninh lương thực, ổn định kinh tế - chính trị xã hội Trong đó có những quyết sách lớn, có ý nghĩa là mốc son của lịch sử Nghị quyết 10 của Bộ chính trị về đổi mới kinh tế nông nghiệp (1988); Nghị quyết Trung ương 5 về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn (1993); Nghị quyết 06 của Bộ Chính trị về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn (1998) và mới đây hàng loạt các chính sách như Nghị quyết 5 của Ban chấp hành TW Đảng (khoá IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển
và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, về đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 - 2010
Trên cơ sở chính sách kinh tế nhiều thành phần và Luật Đất đai, Nhà nước đã ban hành một số chính sách đất đai có tác động không nhỏ đến sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn như:
- Luật Đất đai 1993 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và 2001) với nội dung cơ bản sau:
+ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý Nhà nước giao ruộng đất cho các đơn vị và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài có thời hạn hoặc tạm thời
+ Cho phép người giao quyền sử dụng đất đai được chuyển quyền sử dụng và bán thành quả lao động cũng như kết quả đầu tư trên đất được giao + Cấm mua bán đất trái phép
Như vậy, với nội dung trên thì các quyền và trách nhiệm của người sử dụng đất đã được cụ thể hoá ngày càng đáp ứng tốt hơn các quan hệ ruộng đất thời kỳ mới, tạo điều kiện cho các hộ nông dân an tâm sản xuất lâu dài trên những thửa ruộng được giao
Trang 20- Luật Đất đai 2003 (có hiệu lực thi hành bắt đầu từ ngày 01/07/2004) với nội dung cơ bản Quy định về quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai, chế độ quản
lý và sử dụng đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
+ Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ ban hành qui định
về giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp
+ Nghị định số 02/CP ngày 15/1/1994 của Chính phủ ban hành qui định
về giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, các hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
+ Nghị định số 17/1999/NĐ/CP ngày 29/3/1999 của Chính phủ về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất
và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất
+ Nghị quyết 06 ngày 10/11/1998, Bộ Chính trị đã thừa nhận trang trại như một hình thức phát triển kinh tế hộ sản xuất hàng hoá với quy mô lớn hơn, trình độ cao hơn
+ Thông tư số 1417/1999/TT - TCĐC ngày 18/9/1999 của Tổng cục Địa chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 17/1999/NĐ/CP ngày 29/3/1999 của Chính phủ về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa
kế quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất + Nghị định số 79/2001/NĐ - CP ngày 01/11/2001 về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 17/1999/NĐ/CP ngày 29/3/1999 của Chính phủ
về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền
sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất Nét mới của Nghị định này là mở rộng việc uỷ quyền và bảo lãnh
+ Nghị định số 68/2001/NĐ - CP ngày 01/10/2001, Thông tư số 1842/2001/TT - TCĐC ngày 01/11/2001, Quyết định số 42a và 42b/2001/QĐ
- TCĐC ngày 01/11/2001 quy định về quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai
Trang 21+ Nghị định số 273/QĐ - TTg ngày 12/4/2002 về việc kiểm tra, đầu tư xây dựng và quản lý sử dụng đất đai [15, 27 - 201]
Từ những chủ trương của Đảng và Nhà nước đưa ra trong các thời kỳ phát triển kinh tế, các Luật, Nghị định, Thông tư cũng được ban hành, là những chế định về luật pháp vừa là nền tảng cho sự ổn định lâu dài và vừa có tính cấp bách giúp cho phát triển nông nghiệp hàng hoá theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá
• Tâm lý người sản xuất nhỏ
Như chúng ta đã biết, sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào các yếu
tố không chắc chắn như thời tiết, khí hậu, dịch bệnh và các điều kiện tự nhiên khác Tâm lý của người dân nói chung là khi có rủi ro xẩy ra họ thường thu hẹp quy mô sản xuất để tối thiểu hoá sự thiệt hại về mùa màng Khi tiếp thu một công nghệ mới, nông dân cũng thường ứng xử khác nhau tuỳ theo cách nghĩ và hoàn cảnh kinh tế của họ
Đối với đất đai, khi tiến hành tập trung ruộng đất mặc dù đây là chủ trương đúng đắn nhưng mức độ tiếp thu và vận dụng của người dân còn thấp
Họ luôn có tư tưởng "cào bằng" muốn ai cũng phải "có tốt, có xấu", "có gần,
có xa", giữ đất cho con cháu mình, không làm thì để đó không cho ai thuê, mượn, hay bán đi Nói chung, tâm lý của nông dân đối với vấn đề ruộng đất và sản xuất nông nghiệp còn mang nặng tính bảo thủ và lạc hậu điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình tập trung đất
2.2 Một số kinh nghiệm thực tiễn về tập trung đất nông nghiệp
2.2.1 Tập trung đất nông nghiệp ở một số nước trên thế giới
Nhiều nước trên thế giới, đặc biệt một số nước trong khu vực có kinh doanh về sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn gần giống với nước ta,
đã đạt được những thành tựu rất quan trọng trong việc tập trung ruộng đất
Trang 22• Kinh nghiệm của Trung Quốc
Nhà nước Trung Quốc đã tiến hành cuộc cải cách nông nghiệp, nông thôn năm 1978, đó là khâu đột phá của công cuộc cải cách kinh tế ở Trung Quốc Quá trình cải cách được chia thành hai giai đoạn, giai đoạn I từ năm
1978 đến năm 1984, giai đoạn II từ năm 1985 đến năm 1990 Sau hơn 20 năm
đổi mới đã đem lại bộ mặt mới cho nông nghiệp và nông thôn Trung Quốc, có
được như vậy là nhờ sự ổn định chính sách ruộng đất ở đất nước này
Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã kiên trì đường lối phát triển và đã đạt
được thành công ban đầu về hoạch định chính sách và chiến lược phát triển kinh tế nông thôn bằng Nghị quyết Hội nghị TW 3 khoá XI tháng 12/1978 Nhà nước Trung Quốc đã đặt ra vấn đề thực hiện chế độ trách nhiệm khoán sản đến hộ gia đình nông dân, chế độ này bao gồm nhiều hình thức khoán công đoạn định mức để tính thù lao, khoán ngành nghề theo sản lượng để tính thù lao, khoán sản lượng đến từng hộ, người lao động, tổ sản xuất, hộ gia đình Như vậy, tựu trung lại có ba hình thức tập trung đất chủ yếu là khoán công việc, khoán sản lượng, khoán toàn bộ Chế độ khoán sản lượng trong nông nghiệp ở Trung Quốc nhìn bề ngoài là hình thức khoán sản lượng cho mỗi hộ gia đình nông dân để tính toán thù lao cho xã viên Nếu là hình thức khoán toàn bộ thì cũng căn cứ vào sản lượng mà tính toán mức giao nộp Nhưng xét về thực chất lại là khoán ruộng đất với mục đích kéo dài thời hạn khoán ruộng đất để khuyến khích nông dân tăng đầu tư bồi bổ sức đất, thực hiện thâm canh Chủ trương này nhằm kiện toàn chế độ khoán sản phẩm đến
hộ, khắc phục tình trạng nông dân bóc ngắn cắn dài, kinh doanh có tính chất cướp đoạt độ màu mỡ của đất đai Thời hạn khoán ruộng đất từ 15 năm trở lên,
đối với loại kinh doanh có chu kỳ sản xuất dài có tính chất khai hoang như vườn quả, rừng, đồi hoang… thì thời hạn khoán phải dài hơn Ngoài ra Nhà nước Trung Quốc còn cho phép hộ nông dân có quyền chuyển nhượng ruộng khoán, cụ thể là khuyến khích từng bước tập trung ruộng đất vào tay những
Trang 23người làm ruộng giỏi ở Trung Quốc mỗi hộ có khoảng 0,5 ha chia làm 4 - 5 mảnh, các hộ nông dân tiến hành đổi ruộng cho nhau để có ruộng liền khoảnh Trong quá trình thực hiện khoán ruộng đất cho các hộ nông dân phải bảo đảm, giữ vững hai nguyên tắc: Một là, tôn trọng nguyện vọng của quần chúng nhân dân, không được áp đặt Hai là, phải bảo đảm theo nguyên tắc số lượng và giá trị ngang bằng (có nghĩa là những thửa ruộng có cùng cấp độ hoặc những thửa ruộng đã được cải tạo nâng cao màu mỡ thì khi điều chỉnh phải quy đổi theo
hệ số để đền bù về mặt kinh tế) [20, 68 – 73]
Như vậy, từ những năm 1978, Trung Quốc đã tiến hành cải cách theo thể chế kinh tế nông thôn, thực hiện hình thức kinh doanh khoán sản lượng đến hộ nông dân thực chất là khoán ruộng đất, hoàn thành công việc thiết kế lại đồng ruộng thông qua tập trung ruộng đất, bước đầu “mềm hoá” hình thức chuyển nhượng ruộng đất giữa các hộ nông dân, thực hiện đúng đắn chính sách đất
đai đạt kết quả tốt và hoàn thành cơ bản vào cuối giai đoạn đầu của cuộc cải cách
Cơ chế khoán hộ đã góp phần đưa nền nông nghiệp Trung Quốc thoát khỏi trì trệ, sa sút kéo dài hơn 30 năm kể từ khi giành được độc lập, đã hoàn sinh cho cuộc sống của nông dân và góp phần tích luỹ phát triển nông thôn cả nước và là cơ sở kinh tế - xã hội để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá
• Kinh nghiệm của Nhật Bản
Tuy nằm ở vùng Đông á song Nhật Bản lại có điều kiện tự nhiên và kinh
tế - xã hội lúc xuất phát khá giống nước ta Địa hình đồi núi là đặc trưng của nước này, nó chiếm gần 3/4 diện tích tự nhiên, trong đó có núi lửa hoạt động
và khá thường xuyên Thời tiết cũng được chia thành 4 mùa rõ rệt khá thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi Trong các vùng đồi hiểm trở lại đan xen những đồng bằng, thung lũng nhỏ hẹp rất thích hợp với sản xuất nông nghiệp, song các con sông có độ dốc cao, nước chảy xiết lại gây
Trang 24trở ngại cho hoạt động của ngành Ruộng đất ít và dân số đông nên bình quân ruộng đất vào loại thấp nhất thế giới, chỉ đạt khoảng 350 m2/người cũng là một thách thức lớn đối với nước này [20, 77- 86]
Sau chiến tranh thế giới thứ II Nhật Bản đã có chính sách cải cách ruộng
đất và được tiến hành làm hai cuộc cải cách ruộng đất
- Cuộc cải cách lần thứ nhất, Chính phủ Nhật Bản đã ban hành đạo luật nhằm:
+ Xác lập quyền sở hữu ruộng đất của nông dân
+ Buộc phải thực hiện chính sách chuyển nhượng ruộng đất đối với các
địa chủ hiện sinh sống ở các làng xã có trên 5 ha ruộng và toàn bộ ruộng đất của các địa chủ vắng mặt
+ Địa tô được thanh toán bằng tiền mặt
- Cuộc cải cách lần thứ hai, Chính phủ Nhật Bản ban hành luật:
+ Sửa đổi luật điều chính ruộng đất
+ Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền Chính phủ + Củng cố quyền sử dụng ruộng đất
+ Xác lập quyền sở hữu ruộng đất của nông dân nhằm giảm nhẹ địa tô + Ban hành sắc luật riêng về việc xác lập quyền làm chủ của nông dân
Do kết quả của chính sách cải cách ruộng đất, hệ thống địa chủ ở Nhật Bản sụp đổ, hầu hết người cày đã có ruộng Quyền sở hữu ruộng đất đã trở thành động lực kích thích mạnh mẽ nông nghiệp phát triển, người nông dân có ruộng cày và các tư liệu sản xuất khác, thực hiện tốt kỹ thuật canh tác và đã thực sự trở thành một tầng lớp xã hội quan trọng trong xã hội đương thời
• Kinh nghiệm của Đài Loan
Đài Loan là vùng lãnh thổ đất chật, người đông, bình quân ruộng đất đầu người thấp (chỉ khoảng 470m2) Địa hình đồi núi chiếm 2/3 diện tích đất tự nhiên cũng gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp Sau chiến tranh thế giới thứ II Đài Loan cũng bị tàn phá nặng nề, nông nghiệp xa sút nghiêm trọng,
Trang 25tình trạng đói kém xẩy ra ở mọi nơi, lương thực tiêu dùng trong nước chủ yếu
là nhập khẩu Tình trạng trên kéo dài hơn 5 năm kể từ năm 1946 Bước sang thập niên 50, Chính phủ đã có chủ trương cải tạo nông nghiệp trên cơ sở những tiềm lực vốn có của mình là lao động và đất đai bằng ba chính sách lớn
là cải cách ruộng đất, cải tiến kỹ thuật sản xuất nông nghiệp và kiến thiết xã hội nông thôn
Chính sách cải cách ruộng đất của Đài Loan được chia làm ba bước:
- Bước 1: Giảm địa tô để giảm bớt gánh nặng về kinh tế cho người nông
dân
- Bước 2: Nhà nước quy định mức ruộng đất cá nhân có quyền chiếm
hữu
- Bước 3: Số ruộng đất trên hạn mức, được pháp luật quy định giá hợp lý
ưu tiên cho nông dân mua nhằm làm cho người cày có ruộng
Các yếu tố lao động và đất đai được giải phóng nên ngay từ năm 1952 sản xuất nông nghiệp đã đạt được đỉnh cao của những năm trước chiến tranh Toàn lãnh thổ lúc này đã có 679.750 trang trại với 876.100 ha canh tác, chiếm 97,34% diện tích canh tác cả nước Các trang trại tập trung sản xuất hàng hoá nông sản đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của nhân dân và xuất khẩu tạo tích luỹ phát triển công nghiệp Do Chính phủ Đài Loan có chủ trương phát triển nông nghiệp nuôi công nghiệp nên các trang trại thuần nông được hưởng ưu đãi, người nông dân được đề cao bằng vị trí kinh tế và đời sống trong sự nghiệp phát triển công nghiệp đất nước Do nhịp độ phát triển kinh tế nhanh nên các ngành sản xuất trong nền kinh tế Đài Loan có sự thay đổi mạnh mẽ, trong đó cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp khá rõ nét Chính sự thay
đổi đó đã làm cho dòng lao động dịch chuyển từ nông thôn ra thành thị ngày một lớn lên và kéo theo giá cả sức lao động ở khu vực nông nghiệp, nông thôn cao hơn trước Sự kiện này làm cho nông nghiệp Đài Loan lâm vào trì trệ do khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá nông nghiệp nước này giảm sút
Trang 26bởi giá thành cao
Để bù lại đó Chính phủ chủ trương một chính sách mới về nông nghiệp nhằm thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông thôn Năm 1973 Chính
phủ thực hiện cơ giới hoá nông nghiệp, năm 1974 lập quỹ "trợ giá l ương thực"
và tạo mọi điều kiện để nông dân sản xuất, cải thiện đời sống Do có sự hỗ trợ của Nhà nước nên ngành nông nghiệp Đài Loan phục hồi, phát triển, nông sản hàng hoá lấy lại được sức cạnh tranh ở thị trường trong nước, chấm dứt chính sách áp đặt giá bất lợi cho nông dân đã tồn tại bấy lâu Tháng 11 năm 1982 Chính phủ tiến hành cải cách nông thôn giai đoạn 2 nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngay tại địa bàn nông thôn theo hướng tăng khả năng sản xuất chuyên môn hoá của các trang trại nông nghiệp, cho phép tích tụ, tập trung hay mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp Hàng loạt các phương thức tổ chức sản xuất nông nghiệp được hình thành sau 1982 như liên kết liên doanh, uỷ thác kinh doanh, thuê mướn, thay mặt kinh doanh đã tạo điều kiện cho nông nghiệp chuyển dịch sang làm ngành nghề khác cũng ở địa bàn nông thôn Kết quả chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn
ở Đài Loan hơn 50 năm qua là rất đáng ghi nhận Kinh nghiệm của Đài Loan
là bài học cho các nước đang phát triển trong khu vực học tập [20, 98- 103]
• Kinh nghiệm của ấn Độ
Để thúc đẩy nông nghiệp phát triển, Chính phủ ấn Độ đã tiến hành nhiều bước để loại trừ các yếu tố bóc lột và sự bất công xã hội trong quan hệ đất đai
Đầu tiên là loại bỏ chế độ chiếm hữu trung gian, được thể hiện triệt để trong phạm vi gần 2/5 đất nước với số lượng gần 20 triệu nông dân và đưa lại cho họ quyền quan hệ trực tiếp với Nhà nước Đến năm 1985 Chính phủ ấn Độ quyết
định thi hành đồng bộ những đạo luật có trong hai năm trên phạm vi cả nước
để thực hiện người cày có ruộng, đất đai có chủ Nội dung chủ yếu của chính sách này bao gồm:
- Một tá điền được bảo đảm quyền về đất đai với điều kiện là trả nợ tiền
Trang 27thuế đúng hạn Trong thời gian hợp đồng địa chủ không được lấy lại quyền trồng cấy trên đất đã hợp đồng với tá điền và người lĩnh canh
- Đạo luật về điều chỉnh giá thuê với tá điền quy định là giá thuê chỉ bằng 1/5 ữ 1/4 tổng sản lượng
- Trao quyền sở hữu cho những người tá điền và lĩnh canh, loại chế độ địa chủ Kết quả là đã có 4 triệu tá điền trở thành người chủ ruộng đất và cày cấy với một diện tích hơn 4,2 triệu ha
Cùng với tác động tích cực của chính sách đất đai là chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp và chính sách cải tạo đất đã đưa đến cuộc “cách mạng xanh” trên đất nước ấn Độ, tổng sản lượng lương thực tăng vọt, các hộ nông dân yên tâm đầu tư sản xuất Tuy nhiên, đất đai canh tác của ấn Độ hết sức manh mún (những thửa ruộng rộng
10 ha trở lên chỉ chiếm 2,4% tổng số thửa với 22,8% tổng diện tích đất sử dụng) Chính phủ ấn Độ đang có những biện pháp để khắc phục tình trạng mạnh mún ruộng đất [20, 104 – 106]
• Kinh nghiệm của Mỹ
Có thể nói Mỹ là một trong số ít nước có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế nói chung, nông nghiệp nói riêng Đó là vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên giàu có, tàn dư của lối làm ăn lạc hậu không ảnh hưởng và còn tránh được sự phá hoại của chiến tranh thế giới Với cách thức tổ chức một nền kinh tế thị trường, lấy lợi nhuận làm mục tiêu nên mọi hoạt động kinh tế - xã hội đều mang tính thực dụng Máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, năng lượng, sức lao động, thời gian đều được tính toán sử dụng hiệu quả một cách triệt để Đó là nguyên nhân chủ yếu nhất làm cho năng suất lao động ở Mỹ vượt trội hơn các nước khác và trở thành một quốc gia có tiềm lực kinh tế hùng mạnh nhất thế giới [20, 108 - 111]
Mục tiêu của sản xuất nông nghiệp không phải là tự túc, tự cấp mà là tạo
Trang 28ra hàng hoá bán trên thị trường trong và ngoài nước với khối lượng lớn Mặc
dù giá trị sản lượng nông sản hàng hoá ở Mỹ chiếm một bộ phận không đáng
kể trong tổng sản phẩm quốc dân (khoảng 2%) nhưng Chính phủ Mỹ vẫn rất quan tâm đến sản xuất nông nghiệp Chính phủ Mỹ cấp đất cho hộ và đồng thời cho phép mua bán hoặc thuê đất để hình thành trang trại Sản phẩm nông nghiệp chủ yếu do 2,2 triệu trang trại sản xuất ra, trong đó có trang trại gia
đình (có quy mô từ 180 - 200 ha) chiếm gần 90% Do quy mô các trang trại loại này nhỏ nên chỉ chiếm khoảng 65% diện tích canh tác, 70% giá trị sản lượng nông nghiệp và gần 30% lao động xã hội Các nông trại liên doanh và hợp doanh chiếm hơn 10%, có quy mô bình quân khoảng 800 - 900 ha Các trang trại đi thuê đất hoàn toàn có quy mô diện tích bình quân 229 ha Đối tượng có đất cho thuê bao gồm nhà nước và tư nhân Có khoảng 20% nông trại
đã sử dung máy tính hiện đại để lập chương trình phát triển sản xuất cho ngành trồng trọt và chăn nuôi Việc tích tụ và tập trung ruộng đất để đi vào công nghiệp hoá đã tạo ra ưu thế cạnh tranh về chất lượng nông sản và giá thành ở nước Mỹ
Qua kinh nghiệm của các nước cho chúng ta thấy, kinh tế nông thôn chỉ
có thể phát triển khi mọi thành phần kinh tế trong khu vực hướng vào sản xuất hàng hoá, trong đó lực lượng sản xuất chủ yếu là nông dân tham gia sản xuất nông nghiệp Nghiên cứu tài liệu về kinh tế nông nghiệp, nông thôn các nước
đều cho thấy, điều kiện cơ bản đầu tiên để nông dân sản xuất nông sản hàng hoá là được quyền sở hữu tư liệu sản xuất trong đó có ruộng đất và tổ chức sản xuất bằng hình thức tập trung hoá ruộng đất dưới các hình thức khác nhau như chuyển nhượng, thuê, thầu [20, 112 - 116]
2.2.2 Tình hình tập trung đất nông nghiệp ở Việt Nam
• Tình hình chung của cả nước
Đối với Việt Nam, một đất nước có gần 80% dân số là nông dân và sản phẩm nông nghiệp vẫn chiếm gần 40% GDP thì nông nghiệp được coi là một
Trang 29cơ sở quan trọng cho sự phát triển kinh tế của đất nước Thực tế những năm qua cũng như suốt chiều dài lịch sử cho thấy tầm quan trọng của nền nông nghiệp và nông thôn Việt Nam Nông nghiệp sản xuất ra nông sản thiết yếu để duy trì cuộc sống của đại bộ phận dân cư, đồng thời cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và hàng hoá để xuất khẩu; còn nông thôn là nơi cung cấp nguồn lao động chủ yếu cho các ngành kinh tế quốc dân Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn không chỉ tạo ra nguồn thu nhập cho đại bộ phận dân cư,
mà còn góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Tổng diện tích đất tự nhiên cả nước có 32.924.061 ha, trong đó diện tích
đất nông nghiệp là 9.345.346 ha; đất lâm nghiệp có rừng là 11.575.429 ha; đất chuyên dùng là 1.532.843 ha; đất nhà ở là 443.178 ha; đất chưa sử dụng và sông suối, núi đá là 10.027.265 ha Việt Nam có diện tích đất nông nghiệp xếp hạng 58/200 nước trên thế giới; dân số xếp hạng 15, nên diện tích đất nông nghiệp tính bình quân 1 nhân khẩu xếp hạng 159 Do đó quy mô đất đai nông nghiệp của Việt Nam thuộc loại thấp nhất thế giới Tuy sản xuất nông nghiệp đã phát triển khá nhanh, nhưng nếu chỉ dựa vào nông nghiệp thì người nông dân không thể trở thành giàu có Thực tế cho thấy, nguồn thu từ kinh tế nông nghiệp thường đạt ở mức thấp Chính vì vậy, trong điều kiện dân số ngày càng tăng, bình quân diện tích ruộng đất ngày càng giảm, bình quân diện tích
tự nhiên vào loại thấp, khoảng 0,44 ha/người, bình quân đất canh tác là 0,08 ha/người, bình quân đất canh tác của mỗi hộ nông nghiệp 0,68 ha, đất đai lại phân bố không đều giữa các vùng Mật độ dân số đồng bằng sông Hồng cao nên bình quân diện tích đầu người thấp khoảng 0,05 ha/người; đồng bằng sông Cửu Long đất đai màu mỡ, mới khai thác nên diện tích bình quân cao, khoảng 0,1758 ha/người Dân số đồng bằng Bắc Bộ chiếm 20% cả nước, nhưng đất chỉ
có 5% [12, 231-232] Vì vậy, xu thế phát triển kinh tế phù hợp sẽ là tăng nhanh năng suất nông nghiệp đi đôi với việc mở rộng ngành nghề, giảm nhanh
số hộ nông nghiệp để chuyển sang làm dịch vụ hoặc các ngành nghề thủ công;
Trang 30hoặc phải biết khai thác thế mạnh của địa phương, nhanh chóng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, ra sức thâm canh tăng vụ nhằm đưa nông nghiệp chuyển mạnh sang nền sản xuất hàng hoá Một vấn đề đặt ra là muốn phát triển kinh tế hàng hoá phải tăng cường tập trung ruộng đất trong làng xã Theo Luật Đất đai (ruộng đất được coi là tài sản có thể nhượng lại, thế chấp ) thì việc tập trung ruộng đất vào một số người, dẫn tới tình trạng phân hoá giàu nghèo trong nông thôn
Tuy đã đạt được những thành tựu kinh tế - xã hội đáng kể trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, song quan hệ ruộng đất và sản xuất nông nghiệp hiện nay trong nông thôn vẫn chứa đựng nhiều mâu thuẫn và hạn chế cần phải khắc phục Quan hệ sở hữu - sử dụng ruộng đất trong nông thôn
đang có những biến đổi đáng kể Nhiều vấn đề mới nảy sinh nhưng chưa có biện pháp giải quyết hữu hiệu Tình trạng manh mún ruộng đất vốn đã từng tồn tại ở nông thôn, nay đang được phục hồi và củng cố do cách phân chia
ruộng đất theo nguyên tắc bình quân nhân khẩu, "có tốt, có xấu", "có gần, có
xa" Ruộng đất chia thành ô thửa nhỏ, quá manh mún trước hết sẽ gây khó khăn cho việc lập sơ đồ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và công tác quản lý đất đai Nếu tình trạng manh mún này không được khắc phục thì chắc chắn sẽ làm cản trở năng lực sản xuất - kinh doanh hàng hoá của kinh
tế nông nghiệp, là một trở ngại lớn cho quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn nước ta
Bên cạnh đó, phương pháp giải quyết đối với những nhân khẩu mới sinh
sẽ ra sao, trong khi Luật Đất đai quy định trong vòng 20 năm ruộng đất không
được phân chia lại Đó là những vấn đề rất bức xúc có ý nghĩa xã hội quan trọng, thu hút sự quan tâm không chỉ của nông dân mà còn của các nhà khoa học, các cấp lãnh đạo và quản lý, các cơ quan hữu quan về nông nghiệp, nông dân và nông thôn Việt Nam [13, 154- 158]
ở nước ta, ruộng đất luôn luôn là một vấn đề cốt tử đối với nông dân
Trang 31Muốn có chính sách giải quyết thoả đáng vấn đề ruộng đất đối với các hộ nông dân, cần thiết phải hiểu được sâu sắc quá trình diễn biến của quan hệ ruộng đất qua các thời kỳ, trên phạm vi cả nước cũng như từng địa phương, bởi các chính sách ruộng đất đều mang tính kế thừa lịch sử
Thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, giai cấp địa chủ với 3%
số dân đã chiếm đến 41% tổng diện tích ruộng đất, còn nông dân lao động với 97% số dân chỉ có 36% diện tích ruộng đất, trong số đó số hộ không có ruộng
đất có tới 59%
Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước dân chủ nhân dân tiến hành cải cách ruộng đất, tịch thu, trưng thu, trưng mua của địa chủ và thực dân chia cho nông dân, giao quyền làm chủ thực sự cho nông dân đối với ruộng đất
Trong kháng chiến chống Mỹ, khi đất nước bị chia thành hai miền thì ở miền Nam, nguỵ quyền tiến hành cải cách điền địa, thực chất là tước bỏ quyền làm chủ ruộng đất của nông dân; ở miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, đã tiến hành hợp tác hoá nông nghiệp, ruộng đất được tập trung vào hợp tác xã Sau ngày thống nhất đất nước, chính sách đất đai được áp dụng thống nhất cả nước Sau nhiều năm tiếp tục cải tạo nông nghiệp theo con đường hợp tác hoá kém hiệu quả, các chính sách nông nghiệp và chính sách ruộng đất đã
có những thay đổi cơ bản theo hướng coi hộ nông dân là đơn vị tự chủ, nông dân được quyền sử dụng và quản lý ruộng đất giao khoán Tuy vậy, đến nay trước các yêu cầu mới, vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn, mâu thuẫn và thách thức đặt ra cho cả bản thân các hộ nông dân trong việc sử dụng có hiệu quả ruộng đất và cả cho Nhà nước trong việc hoàn thiện các chính sách quản lý ruộng đất
• Tập trung đất nông nghiệp ở một số địa phương
Trong những năm gần đây với xu thế phát triển chung của đất nước thì kinh tế nông nghiệp, nông thôn cũng có những bước tiến đáng kể Cơ cấu kinh
Trang 32tế nông nghiệp, nông thôn thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Vì vậy, yêu cầu được đặt ra với các hộ sản xuất là phải sản xuất theo hướng sản xuất hàng hoá, sản xuất lớn, muốn vậy phải có quá trình tập trung ruộng đất Phong trào đổi ruộng khởi phát cách đây hơn 10 năm tại tỉnh Hà Tây, sau lan dần đến nhiều tỉnh khác phía Bắc như Vĩnh Phúc,
Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Thanh Hoá, Nghệ An… đã cho thấy rõ hiệu quả trên nhiều mặt Đây là một việc làm hết sức thiết thực, đem lại lợi ích lớn, tạo điều kiện quy hoạch lại đồng ruộng với quy mô thửa lớn hơn, thực hiện cơ giới hoá, sinh học hoá, thuỷ lợi hoá, hoá học hoá… theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp
Cả nước hiện nay có 75 triệu thửa đất canh tác bình quân mỗi hộ 0,3 ha - 0,5 ha, bình quân 6,8 thửa/hộ (ở miền núi 10 - 20 thửa/hộ, khu bốn cũ 7 - 10 thửa/hộ, Tây Nguyên 5 thửa/hộ, Đông Nam Bộ 4 - 5 thửa/hộ, đồng bằng sông Cửu Long 3 thửa/hộ, đồng bằng sông Hồng 7 - 10 thửa/hộ) Sau khi thực hiện dồn điền đổi thửa như Hưng Yên trước đây đất nông nghiệp có 89.000 ha, sau khi dồn điền, đổi thửa lên 92.309 ha (tăng 4%) Đã có 18 tỉnh (80 huyện, 700 xã) thực hiện dồn điền đổi thửa đạt kết quả tương tự như Hưng Yên [19]
• Nghệ An
Nghệ An là một tỉnh nằm trong vùng Bắc Trung Bộ, với tổng diện tích tự nhiên 1.648.730 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp 195.944,40 ha chiếm 11,88% Bình quân diện tích đất nông nghiệp theo đầu người là 670 m2, đây là mức thấp so với cả nước (1.224 m2) Đến năm 1999 việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng
ổn định lâu dài theo Nghị định 64/CP ở Nghệ An đã cơ bản hoàn thành Toàn tỉnh có 456.479 hộ nông nghiệp (đạt 91,34%) với tổng diện tích đã cấp là 136.105 ha trên tổng số 144.203 ha (đạt 94,38%) Tuy nhiên, thực trạng đất nông nghiệp bị chia cắt phân tán, manh mún Tỉ lệ thửa đất có diện tích dưới 100m2 chiếm 20%, từ 200 - 300 m2 chiếm 30%, từ 300 - 500 m2 chiếm 30%,
Trang 33trên 500 m2 chiếm 20%; trung bình mỗi hộ được giao 2000 - 3000 m2 phải nhận từ 10 - 15 thửa trên 10 xứ đồng cách xa nhau, cá biệt có hộ được giao trên 40 thửa, có thửa chỉ 13 m2 Trước tình hình đó, ngày 5/4/2001 Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Nghệ An đã ra Chỉ thị số 02/CT - TU vận động nông dân chuyển đổi ruộng đất để tạo điều kiện cho việc công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; UBND tỉnh thành lập Ban chỉ đạo, Tổ chuyên môn để chỉ đạo cụ thể việc tổ chức thực hiện cuộc vận động chuyển đổi ruộng đất trên
địa bàn toàn tỉnh, trong đó có 17 xã điểm của tỉnh
Tính đến ngày 5/12/2001, trên địa bàn toàn tỉnh có 87 xã và ở 8 huyện đã thực hiện công tác chuyển đổi ruộng đất, vượt dự kiến ban đầu là 17 xã điểm, nổi bật nhất là huyện Đô Lương và huyện Quỳnh Lưu Kết quả đã thực hiện xong việc giao đất ở thực địa là 29 xã; tổng diện tích đất nông nghiệp đã được chuyển đổi giao cho hộ là 10.796,41 ha, chiếm 7,93% so với tổng diện tích đất nông nghiệp đã giao khi thực hiện Nghị định 64/CP; tổng số hộ được chuyển
đổi là 37.342 hộ đạt tỉ lệ 8,18%; đã đào đắp được 1.357.191 m3 đường giao thông, bờ vùng, bờ thửa và hệ thống kênh mương thuỷ lợi trên 407,36 ha; xây dựng được hàng nghìn cầu, cống các loại Về cơ cấu chuyển đổi cây - con, đã thực hiện được 999,29 ha (2 lúa - cá là 422,61 ha; 1 lúa - cá 20 ha; chuyên lúa, màu 304,93 ha)
Trong số 17 xã điểm của tỉnh, tổng số thửa đất nông nghiệp giao cho hộ
từ 173.143 thửa nay rút xuống còn 76.041 thửa, giảm 97.150 thửa (56% số thửa ban đầu); bình quân diện tích một thửa từ 337 m2 nay tăng lên 818 m2; thửa có diện tích lớn nhất 3.000 m2 nay tăng lên 7.500 m2; thửa có diện tích nhỏ nhất 17 m2 nay tăng lên 100 m2; bình quân một hộ trước đây có 9,5 thửa nay giảm xuống còn 5,9 thửa; các thửa đất công ích đã được quy hoạch tập trung hơn, cụ thể là từ 4.594 thửa nay rút xuống còn 2.571 thửa
Việc chuyển đổi ruộng đất từ ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn ở Nghệ An là một bước quan trọng trong công cuộc cơ giới hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,
Trang 34nông thôn; đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế nông nghiệp, đáp ứng yêu cầu
đòi hỏi của cơ chế thị trường trong giai đoạn mới [27].
• Hà Nam
Sau gần một năm triển khai, tính đến ngày 31/12/2001, Hà Nam đã cơ bản hoàn thành công tác chuyển đổi ruộng đất Trước khi chuyển đổi bình quân mỗi hộ nhận 8,1 thửa, trong đó có hộ lên tới 20 thửa Sau chuyển đổi bình quân mỗi hộ chỉ còn 4,18 thửa, giảm gần 4 thửa/ hộ Toàn tỉnh số thửa sau chuyển đổi giảm 48,60% so với trước chuyển đổi Huyện có tỉ lệ giảm nhiều nhất là huyện Bình Lục 58,9% Các xã có tỉ lệ giảm cao nhất là xã Mỹ Thọ 82,4%, La Sơn 78,4% Số hộ có 1 thửa chiếm 4,7% (khoảng 9.000 hộ) Số
hộ có từ 2 - 3 thửa chiếm 29,6% Số hộ nhận 4 - 5 thửa chiếm 60,4% Theo thống kê của 5 huyện, thị, trước chuyển đổi có 2.081 vùng đất công ích, sau chuyển đổi chỉ còn 1.169 vùng (giảm 58,83%) Huyện có tỉ lệ giảm nhiều nhất
là Kim Bảng (67,5%) [11]
• Hà Tây
Hà Tây có diện tích tự nhiên 219.160 ha, dân số 2,4 triệu người, là tỉnh
đầu tiên nắm bắt được nhu cầu cũng như thực tế tự phát đổi ruộng dồn ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn, phong trào này đã được nhân rộng trong các địa phương của tỉnh Thực hiện Luật Đất đai 1987, Hà Tây đã tiến hành giao ruộng ổn
định lâu dài cho hộ nông dân sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp
Đến cuối năm 1993 đã cơ bản hoàn thành việc này Tuy nhiên do giao đất
nông nghiệp trên cơ sở “khoán 10”, nên ruộng đất giao cho hộ nông dân rất
manh mún Từ yêu cầu của thực tiễn sản xuất, tháng 2/1997 tỉnh uỷ Hà Tây đã
có Chỉ thị số 14 về việc chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp từ nhiều ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn Thực hiện chủ trương của tỉnh uỷ, đến cuối năm 1999 việc chuyển đổi ruộng đất trong toàn tỉnh Hà Tây đã cơ bản hoàn thành, với 306/
317 xã thực hiện (chiếm khoảng 96,5% tổng số xã trong toàn tỉnh) Cùng với việc chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp, tỉnh đã tiến hành đồng thời việc cấp
Trang 35giấy chứng nhận sử dụng đất cho nông dân Đến nay đã cấp giấy chứng nhận
cho 431.544 hộ (92,8% số hộ nông dân) Có thể nói việc "dồn điền, đổi thửa"
của Hà Tây là một chủ trương đúng đắn, hợp với lòng dân, được rất nhiều địa phương học tập Điển hình trong thực hiện phong trào này là huyện Phú Xuyên và ứng Hoà
Trong 2 năm (1997 - 1998), cả 28 xã, thị trấn của huyện Phú Xuyên đã thực hiện chủ trương đổi ruộng từ ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn gắn với quy hoạch sử dụng đất và giao ruộng ổn định cho 42.570 hộ nông dân và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 99,8% số hộ Kết quả đã giảm được số thửa của mỗi hộ từ 10 - 25 thửa, xuống còn 3 - 4 thửa, từ 727.388 thửa xuống còn 164.882 thửa (giảm 562.506 thửa) Một số xã như Nam Triều, Sơn Hà mỗi
hộ chỉ nhận mỗi hộ chỉ nhận 1 - 2 thửa Tri Trung là một xã nhỏ của huyện Phú Xuyên, nằm đúng vùng trũng, sình lầy nhất của huyện, với 2 thôn Trung Lập và Tri Chỉ, có 6 đội sản xuất, diện tích tự nhiên là 361,54 ha, đất canh tác 245,94 ha; tổng số nhân khẩu toàn xã là 3.756 người trên 937 hộ, hộ nông
nghiệp là 912 hộ Năm 1997 “dồn điền đổi thửa” lần 1 số thửa còn là 2.658
thửa, trong đó có 5 hộ nhận 1 thửa, 540 hộ nhận 3 - 4 thửa và 457 hộ nhận từ 4
- 5 thửa Thực hiện “đồn điền đổi thửa” lần 2 tổng số thửa còn là 1.487 thửa,
giảm 1.171 thửa so với trước, có 235 hộ nhận 1 thửa, 626 hộ nhận 2 thửa, không có hộ 3 thửa
ở huyện ứng Hoà công tác chuyển đổi ruộng đất cũng diễn ra sôi động,
đến nay về cơ bản huyện đã chuyển đổi xong, số thửa bình quân/hộ giảm xuống còn từ 2-3 thửa Hệ thống kênh mương nội đồng được cải tạo, hoàn thiện và phòng Địa chính cũng đã lập xong bản đồ giải thửa làm cơ sở cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ nông dân
Tuy nhiên, cũng có một số địa phương trong tỉnh thực hiện việc chuyển
đổi này còn chậm điển hình là huyện Quốc Oai Trước đây mỗi hộ có từ 15 -
18 ô thửa, ruộng đất manh mún sản xuất tốn công, hiệu quả kinh tế thấp Sau
Trang 36khi dồn ô thửa, nay mỗi hộ còn từ 6 - 10 ô thửa Theo sự chỉ đạo của tỉnh từ năm 2002, UBND huyện chỉ đạo phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vận dụng các xã tiếp tục dồn điền đổi thửa để mỗi hộ chỉ còn từ 1- 3 ô thửa Tuy nhiên, tính đến nay, toàn huyện Quốc Oai mới chuyển đổi được hơn 30 ha
từ năm 2000, chủ yếu là diện tích trũng do các hộ đấu thầu, hộ nhiều là 2ha,
hộ ít 0,5 ha trồng lúa + cá [1]
Như vậy, chủ trương tập trung ruộng đất của tỉnh Hà Tây là đúng đắn, hợp lòng dân, cần được tiếp tục phát huy và nhân rộng Tuy nhiên, ở mỗi địa phương khác nhau cách thực hiện cũng khác nhau nên kết quả và hiệu quả đem lại cũng không giống nhau Vì vậy, cần dựa vào thực trạng phát triển nông nghiệp của từng địa phương trong tỉnh để đưa ra giải pháp phù hợp thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội của địa phương, góp phần phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá ổn định và bền vững, phù hợp với yêu cầu khách quan của sự phát triển sản xuất và chủ trương công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Đồng thời hướng người dân xây dựng và phát triển những cánh đồng 50 triệu đồng/ ha/ năm ở các địa phương trong giai đoạn tới
Trang 37Năm 2003, tuy huyện Chương Mỹ chịu ảnh hưởng của thiên tai song với
sự quan tâm, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền từ huyện tới cơ sở, sự cố gắng nỗ lực của các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể và toàn bộ nhân dân trong huyện, Đảng bộ và nhân dân Chương Mỹ đã phấn đấu
đạt và vượt các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội; an ninh - quốc phòng mà nghị quyết HĐND huyện đề ra Kinh tế tăng trưởng 10,8%, giá trị tăng thêm (theo giá cố định năm 1994) là 676 tỷ đồng, bằng 101,4% kế hoạch Mặc dù chịu ảnh hưởng liên tiếp của các cơn bão lớn nhưng năm 2003, Chương Mỹ vẫn được mùa, giá trị thu nhập trên 1 ha gieo trồng tăng 1,7%, đạt 23,4 triệu
đồng Đã chuyển đổi được 228 ha diện tích đất cao hạn, năng suất thấp sang trồng hoa màu, cây ngắn ngày bước đầu cho thu nhập khá, gấp từ 1,5 đến 2 lần trồng lúa Chuyển đổi 155 ha vùng úng trũng từ công thức hai lúa sang 1 lúa + 1 cá và chăn thả gia cầm, đưa tổng diện tích chuyển đổi theo công thức này lên 269 ha
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - x∙ hội của huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây
Chương Mỹ là huyện liền kề với thủ đô Hà Nội, cách thị xã Hà Đông 10
km, Hà Nội 20 km về phía Tây Là huyện có nghề mây tre giang đan truyền thống Là vùng đất có cảnh quan đẹp, có truyền thống lịch sử lâu đời, có nhiều
di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh nổi tiếng như chùa Trầm, chùa Trăm Gian, núi Hoả Tinh, là quê hương của nhà sử học Ngô Sĩ Liên, đô đốc Đặng Tiến Đông Nhiều di tích đã được Nhà nước xếp hạng Chương Mỹ có 02 khu vực Miếu Môn, Xuân Mai đã được Chính phủ phê duyệt quy hoạch trong chuỗi đô thị Miếu Môn, Xuân Mai, Hoà Lạc Tuy nhiên Chương Mỹ cũng là
Trang 38huyện nằm trong vùng phân lũ của Trung ương
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
• Vị trí địa lý
Chương Mỹ là huyện bán sơn địa của tỉnh Hà Tây, phía Đông giáp huyện Thanh Oai, phía Tây giáp huyện Lương Sơn tỉnh Hoà Bình, phía Nam giáp huyện ứng Hoà và huyện Mỹ Đức, phía Bắc giáp huyện Hoài Đức và huyện Quốc Oai
• Thời tiết - khí hậu
Huyện Chương Mỹ nằm ở trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, được chia thành 2 mùa rõ rệt, mùa đông lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau và nhiệt độ trung bình vào khoảng 16 - 210C, mùa hạ nóng từ tháng 4 đến tháng
10 và nhiệt độ trung bình khoảng 23,7 - 29,70C
Nhiệt độ trung bình trong năm là 20 0C, nhiệt độ cao nhất là 380C, nhiệt
độ thấp nhất là 90C (vào tháng 1 và tháng 2), lượng mưa bình quân hàng năm trên địa bàn huyện 1.700mm/ năm Độ ẩm bình quân khoảng 83%
Số giờ nắng trung bình là 1460 - 1560 giờ nắng/năm, cao nhất vào tháng
6, đạt 180 giờ/tháng, thấp nhất vào tháng 1 đạt 90 giờ/tháng
Huyện Chương Mỹ có sông Đáy chảy qua dài 28 km từ xã Phụng Châu
đến xã Hoà Chính
3.1.2 Tài nguyên đất đai
Huyện có tổng diện tích đất tự nhiên 23.294,15 ha, trong đó:
- Đất nông nghiệp 14.282,09 ha, chiếm 61,3%
Trang 39- Đất lâm nghiệp 585,6 ha, chiếm 2,51%
- Đất chuyên dùng 5.034,18 ha, chiếm 21,61%
- Đất thổ cư 1.206,07 ha, chiếm 5,18%
- Đất chưa sử dụng và sông ngòi - núi đá vôi 2.186,21ha, chiếm 9,39% Vùng đất sản xuất lương thực, rau mầu tập trung ở các xã nằm ven sông
Đáy ở phía Đông huyện
Vùng sản xuất cây công nghiệp hàng năm và cây ăn quả lâu năm tập trung ở các xã phía Tây của huyện
Tình hình đất nông nghiệp của huyện được thể hiện ở bảng 3.1
Bảng 3.1 Tình hình diện tích đất nông nghiệp (Đến ngày 1/10/2003)
1 Đất trồng cây CN lâu năm 277.63 - 277.63 -
-2 Đất trồng cây ăn quả 339.97 178.49 82.83 67.55 11.1
3 Đất trồng cây lâu năm khác 4.48 - 4.48 -
-4 Đất ươm cây giống 0.5 - - 0.5
Trang 40Tài nguyên khoáng sản của huyện Chương Mỹ khá đa dạng và phong phú, trữ lượng đá các loại khoảng 5.000.000m3 nằm ở các xã Trần Phú, Tân Tiến,
Mỹ Lương, Nam Phương Tiến, Thuỷ Xuân Tiên, đá vôi tập trung ở các xã Trần Phú, Nam Phương Tiến
Tài nguyên nước huyện có 3 hồ lớn là hồ Đồng Sương, Văn Sơn, Miễu trữ lượng nước 15.000.000m3 phục vụ tưới tiêu cho các xã Trần Phú, Hữu Văn,
Mỹ Lương, Tân Tiến, Thuỷ Xuân Tiên, thị trấn Xuân Mai
3.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
• Điều kiện kinh tế
Vị trí địa lý của huyện rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội, huyện có hệ thống giao thông đường bộ quốc lộ 6A đi qua huyện với tổng chiều dài là 19km, quốc lộ 21A với tổng chiều dài 18 km, tỉnh lộ 80 với tổng chiều dài 20 km Hiện nay tất cả các hệ thống đường trục huyện đã được nâng cấp đổ bê tông hoặc thâm nhập nhựa theo chương trình vốn phân, chậm lũ và chương trình WB II, làm mới 67 km đường trục chính trong huyện, với tổng giá trị 52,14 tỷ đồng, góp phần rất lớn vào việc giúp huyện Chương Mỹ đẩy nhanh việc phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế (Xem bảng 3.2)
Số máy điện thoại hiện có trong huyện là 8.031 máy, bình quân đạt 2,97 máy/100 dân Toàn huyện có 25 điểm bưu điện văn hoá xã và 8 bưu cục phục
vụ, đã phủ sóng di động 80% diện tích
Huyện Chương Mỹ hiện có 150 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 3; doanh nghiệp của Trung ương và của Tỉnh là 14; còn lại là các công ty TNHH và doanh nghiệp của địa phương Hàng năm tạo ra giá trị hàng hoá là 1.600 tỷ, tạo việc làm cho 7.484 lao động trong đó lao động của huyện là 6.297 chiếm 84%
Huyện có tiềm năng về du lịch và các di tích được xếp hạng quốc gia chùa Trăm Gian, chùa Trầm, bước đầu đã hình thành du lịch làng nghề như làng nghề mây tre giang Phú Vinh; du lịch sinh thái như làng nghề Tiên Lữ