Luận văn, thạc sĩ, tiến sĩ, khóa luận, cao học, đề tài
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp I
Đoàn mạnh tường
nghiên cứu thực trạng chuyển nhượng, tập trung
ruộng đất ở huyện ô môn tỉnh cần thơ
luận văn thạc sỹ kinh tế
Hà nội 2004
Trang 2Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp I
Đoàn Mạnh Tường
nghiên cứu thực trạng chuyển nhượng, tập trung
ruộng đất ở huyện ô môn tỉnh cần thơ
Luận văn thạc sỹ kinh tế nông nghiệp
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 50201
Người hướng dẫn khoa học: TS Quyền Đình Hà
Hà Nội 2004
Trang 3Lời cam đoan
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Đoàn Mạnh Tường
Trang 4Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình
và sự cổ động lớn lao của nhiều tập thể và cá nhân
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và niềm kính trọng tới các nhà khoa học, các giảng viên, Bộ môn Phát Triển Nông Thôn - Khoa Kinh Tế và PTNT, Khoa Sau Đại học trường Đại học Nông nghiệp I-
Hà Nội, Bộ môn Kinh tế-xã hội Viện Lúa ĐBSCL, đặc biệt T.S Quyền
Đình Hà- người đã trược tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các đồng chí cán bộ các xã, Phòng Nông nghiệp & Địa chính, Phòng Thống kê huyện Ô Môn, sở Nông nghiệp & PTNT, sở Tài nguyên môi trường tỉnh Cần Thơ
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự cổ vũ động viên của bạn bè đồng nghiệp
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu trường Đại học Nông nghiệp I- Hà Nội, Ban giám đốc và các phòng ban Viện Lúa ĐBSCL cùng toàn thể bạn bè, gia đình đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội ngày 20 tháng 9 năm 2004
Đoàn Mạnh Tường
Trang 5Mục lục
2 Cơ sở lý luận, thực tiễn và những tác động của chuyển nh−ợng, tập trung ruộng đất 5
2.3.Một số công trình nghiên cứu về chuyển nh−ợng tập trung ruộng đất 22
Trang 64 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 39
4.1 Thực trạng quá trình chuyển nhượng, tập trung ruộng đất ở Ô Môn 39
4.1.2 Những thông tin chung về nhóm hộ điều tra 40
4.1.4 Tình hình tập trung đất đai của nhóm hộ điều tra 63
4.2 Tác động của quá trình chuyển nhượng, tập trung ruộng đất 69
4.2.1 Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu cây trồng, thay đổi hệ thống canh tác 70
4.2.3 Nâng cao kết quả và hiệu quả sản xuất hàng hóa trong nông hộ 75
4.2.4 Tập trung ruộng đất dẫn đến phân công lao động trong nông thôn 80
4.2.5 Gia tăng khoảng cách giàu nghèo trong nông thôn 84
4.3 Giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả quá trình chuyển nhượng và ruộng đất 86
4.3.1 Những quan điểm định hướng cho quá trình chuyển nhượng, tập trung ruộng đất 86
Trang 71 BQ Bình quân
2 CAT Cây ăn trái
3 CNH-HĐH Công nghiệp hóa- hiện đại hóa
Danh mục bảng biểu
Bảng 3.1 Tình hình cơ bản của huyện Ô Môn qua 3 năm 29 Bảng 3.2 Thực trạng cơ sở hạ tầng của huyện Ô Môn 31 Bảng 3.3 Kết quả sản xuất nông- lâm- ng− nghiệp của huyện 32
Trang 8Bảng 3.5 Số hộ được chọn điều tra ở các điểm 36 Bảng 4.1 Tình hình ruộng đất qua các giai đoạn 39 Bảng 4.2 Tình hình chung về nhóm hộ điều tra 41 Bảng 4.3 Diện tích đất sản xuất nông nghiệp của nhóm hộ điều tra 43 Bảng 4.4 Tình hình chuyển nhượng ruộng đất ở các nhóm hộ điều tra 45 Bảng 4.5 Diện tích đất tham gia chuyển nhượng ở các nhóm hộ 47 Bảng 4.6 Tình hình mua thêm đất của các nhóm hộ điều tra 50
Bảng 4.8 Tình hình cầm đất của nhóm hộ điều tra 56 Bảng 4.9 Tình hình cố đất của nhóm hộ điều tra 59 Bảng 4.10 Tình hình mướn đất và cho mướn ruộng đất 62 Bảng 4.11 Tình hình đất trồng cây hàng năm của nhóm hộ điều tra 64 Bảng 4.12 Số mảnh ruộng của hộ tại các điểm điều tra năm 2003 68 Bảng 4.13 Tình hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng sau khi chuyển nhượng 71 Bảng 4.14 Công cụ phục vụ sản xuất ở các nhóm hộ điều tra 74
Bảng 4.16 Kết quả và hiệu quả sản xuất ngành trồng trọt 79
Bảng 4.18 Tổng thu nhập bình quân một hộ và cơ cấu sản xuất 85
Trang 91 mở đầu 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên cơ bản của mỗi quốc gia Đất đai là sản phẩm tổng hợp của thiên nhiên Nó là điều kiện tiên quyết và là cơ sở sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội, giúp cho loài người tồn tại và phát triển Đất gắn bó với con người không chỉ theo nghĩa đất là sự cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của con người mà về phương diện kinh tế, đất tạo ra của cải vật chất [19, 31] Vai trò của đất đai thật to lớn và đa dạng, Uyliam Peti đã nói về vai trò của
đất: "Đất là mẹ, sức lao động là cha, sản sinh ra mọi của cải vật chất" [24, 189] Tuy nhiên đất đai chỉ có thể phát huy vai trò vốn có của nó dưới tác
động tích cực của con người một cách thường xuyên, ngược lại đất đai không thể phát huy tác dụng nếu con người sử dụng đất một cách tùy tiện, chỉ khai thác không thực hiện việc cải tạo bồi bổ Bởi vì, đất đai có hạn và độ màu mỡ của đất đai giảm sút do vừa chịu sự chi phối của những nhân tố tự nhiên, vừa chịu sự chi phối của các nhân tố kinh tế Trước kia người ta cứ nghĩ rằng đất
đai là tài nguyên vô hạn Song thực tiễn phát triển làm cho con người dần dần nhận thức được rằng đất đai là có hạn [19, 32] Do sự nhận thức được đất đai
là có hạn và có thể trở nên khan hiếm cho nên các nước khác nhau đều có những luật định, quy định khác nhau
ở Việt Nam khi nghị quyết 10/NQ/BCT của Bộ Chính trị về cơ chế quản
lý kinh tế nông nghiệp khẳng định nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, chuyển nền kinh tế tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá, chấp nhận nền kinh tế nhiều thành phần, đổi mới cơ chế quản lý hợp tác xã nông nghiệp đã đưa đến
sự thay đổi trong chính sách đất đai
Luật Đất đai ngày 8/1/1988 tạo điều kiện cho nông dân gắn bó với ruộng
đất, yên tâm đầu tư vào sản xuất hơn, đặc biệt cải tạo và bảo vệ đất được giao tốt hơn Tuy nhiên, Luật Đất đai năm 1988 vẫn còn bộc lộ những hạn chế đó
là chỉ mới tập trung điều chỉnh quan hệ ruộng đất trong sản xuất nông nghiệp,
điều chỉnh quan hệ pháp lý hành chính Nhìn chung, trước năm 1993 ở Việt
Trang 10Nam nói chung và ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói riêng đều không cho phép mua bán ruộng đất Chính vì điều này đã dẫn đến hình thành thị trường ngầm về đất đai dưới dạng trá hình đó là: mua bán thành quả lao động, kết quả đầu tư kinh doanh trên đất hay mua bán nhà cửa xây dựng trên đất đai Những vấn đề này đã làm cho công tác quản lý gặp rất nhiều vấn đề khó khăn và phức tạp [19, 39] Tạo ra sơ hở, tiêu cực, tham nhũng trong việc mua bán, sang nhượng, cấp phát đất đai ngoài sự kiểm soát của Nhà nước, gây thất thu cho ngân sách [20, 175- 176]
Trước những yêu cầu đổi mới quản lý nhằm chuyển sang nền kinh tế thị trường có nhiều thành phần và trước những yêu cầu cấp thiết ngày 14/7/1993 Luật Đất đai được thông qua và Luật Đất đai sửa đổi thông qua ngày 2/12/1998 hay các văn bản dưới luật như: Nghị định số 17/1999/NĐCP ngày 29/3/1999 và Nghị định số 85/1999/NĐCP ngày 28/8/1998 của Thủ tướng Chính phủ không những cho phép hộ nông dân được quyền sử dụng lâu dài trên diện tích đất canh tác mà còn có quyền chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế sử dụng đất, và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền
sử dụng đất [22] Chính những điều này đã tạo ra xu hướng chuyển nhượng, tập trung ruộng đất Theo số liệu điều tra cho thấy, bình quân cả nước có tới 15.31% số hộ thuê đất làm rẽ, ở đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là 22.67%, ở
ĐBSCL là 7.03%, số hộ cho thuê đất trong cả nước có 5.91%, ở ĐBSH là 8.36%, ở ĐBSCL là 5.56% Tỷ lệ hộ mua bán đất cũng diễn ra sôi động không kém gì cho thuê làm rẽ, bình quân cả nước có tới 9.83% số hộ bán đất, trong khi đó ở ĐBSH là 4.23%, ở ĐBSCL là 10.54% Tỷ lệ số hộ mua đất trong cả nước là 2.48%, ở ĐBSH là 0.58%, trong khi đó ở ĐBSCL là 5.22% [29, 217-220] Qua số liệu trên ta thấy tình hình chuyển nhượng, tập trung ruộng đất diễn ra hết sức sôi động, đặc biệt là tình hình mua bán ruộng đất ở vùng
ĐBSCL Việc chuyển nhượng, tập trung ruộng đất đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, thâm canh, tăng năng suất cây trồng, nâng cao hiệu quả đầu tư, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế
Trang 11biến, mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản Chính nó tạo điều kiện tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế hàng hóa, hình thành vùng sản xuất tập trung chuyên canh, thúc đẩy sản xuất phục vụ cho xuất khẩu [19, 43- 44]
Tuy nhiên, tập trung ruộng đất cũng đã nảy sinh nhiều vấn đề tồn tại như: số hộ không có đất sản xuất ngày một tăng lên Ô Môn là một huyện thuộc tỉnh Cần Thơ cũng nằm chung trong tình trạng đó Theo số liệu điều tra của Viện Lúa ĐBSCL cho thấy ở Ô Môn có tới 10,46% số hộ hiện tại không
có đất để sản xuất Lý do không có đất của các hộ có rất nhiều tuy nhiên lý do chuyển nhượng ruộng đất ở Ô Môn là nhiều hơn cả (chiếm tới 47%) Vấn đề chuyển nhượng như đã trình bày ở trên, ngoài tác dụng tích cực thúc đẩy tập trung ruộng đất và phát triển sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp thì nó còn góp phần dẫn tới hiện tượng hộ nông dân không có đất sản xuất ở Ô Môn tăng lên Thiếu việc làm, thu nhập thấp, đời sống có nhiều khó khăn đã ảnh hưởng không ít tới kinh tế, xã hội trong khu vực nông thôn ở Ô Môn nói riêng và ở khu vực nông thôn ĐBSCL nói chung Xuất phát từ những vấn đề trên chúng
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:"Nghiên cứu thực trạng chuyển nhượng, tập trung ruộng đất ở huyện Ô Môn tỉnh Cần Thơ"
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu quá trình chuyển nhượng, tập trung ruộng đất Từ đó đề xuất ý kiến nhằm làm hơn đối với tình hình chuyển nhượng, tập trung ruộng đất, tạo điều kiện cho công tác quy hoạch vùng sản xuất trong nông nghiệp, thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp ở huyện Ô Môn, tỉnh Cần Thơ
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về chuyển nhượng, tập trung ruộng đất
- Đánh giá thực trạng quá trình chuyển nhượng,tập trung ruộng đất ở
Ô Môn - tỉnh Cần Thơ
Trang 12- Đưa ra những khuyến nghị thực hiện tốt hơn quá trình chuyển nhượng, tập trung ruộng đất ở địa phương
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề liên quan đến chuyển nhượng, tập trung ruộng đất trong nông thôn, những tác động của nó đến công tác quản
lý đất, sản xuất nông nghiệp Đề tài còn quan tâm tới sản xuất hàng hoá và thu nhập của các hộ nông dân
đất, đề xuất ý kiến cho quá trình chuyển nhượng, tập trung ruộng đất
- Thời gian nghiên cứu: số liệu phản ánh tình hình chuyển nhượng, tập trung ruộng đất những năm gần đây (2000-2003)
1.3.3 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài tập trung trả lời một số câu hỏi nghiên cứu sau:
* Chuyển nhượng và tập trung ruộng đất dựa trên cơ sở nào?
* Chuyển nhượng và tập trung ruộng đất trong vùng nghiên cứu diễn ra như thế nào?
* Những yếu tố nào ảnh hưởng đến quá trình chuyển nhượng và tập trung ruộng đất?
* Tác động của chuyển nhượng và tập trung ruộng đất đến những vấn
đề gì về kinh tế, xã hội?
* Những giải pháp nào đặt ra cho quá trình chuyển nhượng và tập trung ruộng đất?
Trang 132 Cơ sở lý luận, thực tiễn và những tác động của
chuyển nhượng, tập trung ruộng đất
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Những khái niệm
2.1.1.1 Khái niệm về đất đai
C.Mác viết: “Đất là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện cần để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông lâm nghiệp”[4, 3- 4]
Đất là vật thể thiên nhiên hình thành lâu đời do kết quả quá trình hoạt
động tổng hợp của 5 yếu tố gồm: Đá, thực vật động vật, khí hậu, địa hình và thời gian Tất cả các loại đất trên trái đất này được hình thành sau một quá trình thay đổi lâu đời trong thiên nhiên
“Đất là lớp bề mặt của trái đất, có khả năng cho sản phẩm cây trồng để nuôi sống loài người” [4, 5]
“Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp” [22, 25]
2.1.1.2 Khái niệm về chuyển nhượng ruộng đất
ở nước ta “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý” [22, 7] Luật Đất đai và các văn bản dưới luật chỉ cho phép các chủ thể sử dụng đất có quyền chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê, thừa kế, thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng Chủ thể sử dụng ở đây là những tổ chức,
hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất để sử dụng chứ không giao quyền sở hữu cho các chủ thể
Vậy thực chất chuyển nhượng ruộng đất là chuyển nhượng quyền sử dụng đất của người này cho người khác trên cơ sở có giá, người nhận đất phải
Trang 14trả cho người chuyển quyền sử dụng đất một khoản tiền ứng với mọi chi phí
đầu tư làm tăng giá trị sử dụng ruộng đất [9, 17- 18]
Tuy nhiên trong lý luận về “Vấn đề chuyển nhượng ruộng đất của nông dân” Lê- Nin có viết: “Việc chuyển quyền sở hữu ruộng đất từ tay người này qua tay người khác được gọi là sự chuyển nhượng ruộng đất” [21, 438- 439]
2.1.1.3 Khái niệm về tập trung ruộng đất
Tập trung ruộng đất được hiểu theo nhiều cách khác nhau, tuy nhiên có hai cách chủ yếu đó là:
- Hợp nhất ruộng đất từ các thửa đất nhỏ thành một thửa đất lớn hơn
- Sáp nhập ruộng đất của các chủ sử dụng nhỏ cá biệt cho một chủ sử dụng cá biệt khác để tạo ra quy mô lớn hơn Cách này diễn ra thông qua biện pháp tước đoạt hoặc chuyển nhượng mua bán ruộng đất [19, 40]
Tập trung ruộng đất là phương thức làm tăng quy mô diện tích của
mảnh đất của chủ thể sử dụng đất Quy mô ruộng đất được tăng lên thông qua việc tập trung ruộng đất dựa trên cơ sở quan hệ ruộng đất và quan hệ chủ sử dụng [9, 18- 19]
Tập trung ruộng đất là việc sáp nhập hoặc hợp nhất ruộng đất của những chủ sử dụng khác nhau vào một chủ sử dụng hoặc hình thành nên một chủ sử dụng mới có quy mô ruộng đất lớn hơn [19, 40]
2.1.1.4 Mối quan hệ giữa chuyển nhượng với tập trung ruộng đất
Hiện tượng chuyển nhượng ruộng đất dù xảy ra ở bất cứ phương diện nào và hình thức nào: chuyển nhượng, thuê mướn và cho thuê mướn, cầm cố cũng đều có sự tham gia trao đổi của các tác nhân (cá nhân, hộ nông dân, các đơn vị tổ chức sử dụng đất) Bản chất của việc trao đổi này chính là việc mua bán quyền sử dụng đất, giá cả trong trường hợp này là khoản tiền ứng với mọi chi phí đầu tư làm tăng giá trị sử dụng ruộng đất Việc chuyển nhượng ruộng đất đã hình thành nên thị trường bất động sản trong nông nghiệp (thị trường đất đai) Từ đó giúp hộ nông dân tập trung ruộng đất tối ưu hoá quy mô sản xuất nông hộ [16, 12]
Trang 15Tập trung ruộng đất là phương thức làm tăng quy mô diện tích của thửa đất
và chủ thể sử dụng đất Quy mô ruộng đất tăng lên thông qua việc tập trung ruộng
đất trên cơ sở quan hệ ruộng đất ở phương diện tự nhiên và quan hệ sở hữu
Tóm lại: các hoạt động của chuyển nhượng ruộng đất với sự góp mặt của thị trường bất động sản trong nông nghiệp đều dẫn đến việc tập trung ruộng đất Đó là một yêu cầu khách quan, là xu thế phát triển hợp quy luật Tuy nhiên muốn tập trung ruộng đất tạo quy mô lớn để sản xuất hàng hoá, phân công lao động thì cần phải có các hình thức chuyển nhượng Các hình thức chuyển nhượng sẽ diễn ra trong suốt quá trình phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá lớn, thực hiện chuyển dịch kinh tế và phân công lại lao động trong quá trình CNH-HĐH đất nước Chuyển nhượng ruộng đất diễn ra mạnh dẫn đến quá trình tập trung ruộng
đất mau chóng ở giai đoạn đầu Tuy nhiên khi hiện tượng chuyển nhượng chậm lại thì quá trình tập trung cũng diễn ra chậm dần và càng chậm khi quy mô nông hộ
đạt được một mức nhất định đủ cho quy mô và yêu cầu cho sản xuất nông sản hàng hoá
2.1.2 ý nghĩa của chuyển nhượng và tập trung ruộng đất trong nông nghiệp
2.1.2.1 Sự cần thiết chuyển nhượng và tập trung ruộng đất trong nông nghiệp
Trong nền sản xuất nông nghiệp sự phù hợp với chính sách vĩ mô của Nhà nước thể hiện bằng nghị định 64/CP của Chính phủ ra ngày 15/10/1993 về việc giao quyền sử dụng đất lâu dài cho tập thể, cá nhân và hộ gia đình, ban hành 5 quyền, Luật Đất Đai 26/11/2003 mở rộng tới 9 quyền như: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho người sử dụng đất, quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất [23, 120] cho người sử dụng đất cũng như các chủ trương, chính sách đối với nông hộ là một động lực mạnh mẽ giúp cho sự sản xuất nông nghiệp, riêng nghị định 64/CP đã mang lại sự công bằng, bình đẳng cho người sử dụng đất, đem lại sự an tâm đầu tư, thâm canh, cải tạo, bồi bổ ruộng đất Song do địa hình ở nhiều vùng địa phương không giống nhau nên việc giao ruộng đất không giống nhau và gặp nhiều khó khăn,
Trang 16nhiều hộ nông dân phải sản xuất trên nhiều mảnh ruộng khác nhau với quy mô diện tích nhỏ Thực trạng sản xuất này gọi là manh mún trong sản xuất
Trước sự phát triển kinh tế của đất nước đòi hỏi phải có một nền sản xuất nông nghiệp phát triển, phục vụ cho đất nước Yêu cầu của nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá, chất lượng nông sản phẩm đạt yêu cầu xuất khẩu Thực trạng sản xuất phân tán, quy mô sản xuất nhỏ, đơn lẻ, đang từng bước lạc hậu và không
đáp ứng nhu cầu bức xúc của thực tế Đối với Nhà nước việc quản lý ruộng đất trong thực trạng phân tán, manh mún nhỏ lẻ là một công việc rất phức tạp và tốn kém Đối với hộ nông dân việc bảo vệ trông coi nông sản ngoài đồng rất khó khăn Những nông sản phẩm có giá trị cao cần phải được chăm sóc và bảo vệ tốt Sản xuất nhỏ hiệu quả sản xuất không cao, tốn nhiều chi phí và nguồn lực Chính vì thế cho nên đòi hỏi phải có sự chuyển nhượng, tập trung ruộng đất trong sản xuất nông nghiệp Sự chuyển nhượng, tập trung ruộng đất tạo ra một số thuận lợi như sau:
- Trong sản xuất nông nghiệp, việc tập trung ruộng đất tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, thâm canh, tăng năng suất, sản lượng cây trồng trên một đơn vị diện tích
- Giảm giá thành sản phẩm sản xuất ra do giảm chi phí và tăng khối lượng sản phẩm Trong bất kỳ việc vạch kế hoạch nào liên quan đến phát triển nông nghiệp đều luôn có những vấn đề về thu nhập của gia đình nông dân và quy mô hoạt động mà đến lượt nó lại có ảnh hưởng mạnh đến thu nhập của
đơn vị nông nghiệp Việc quản lý các chương trình của nhà nước, như những chương trình cải cách ruộng đất có thể được sử dụng để gây ảnh hưởng đến quy mô nông trại [3, 157] Thu được nhiều lợi nhuận trên mảnh đất (quy mô lớn), tăng sản lượng trên một đơn vị diện tích (đầu tư thâm canh), giảm giá thành sản xuất (giảm chi phí, tăng khối lượng sản phẩm), nâng cao phẩm chất
và tình hình tiêu thụ (áp dụng tiến bộ KHKT) [3, 162]
- Sử dụng các công cụ cơ giới hoá trong sản xuất nông nghiệp Việc cơ giới hóa nông nghiệp Việt Nam đang ở trình độ thấp do quy mô nông trại rất
Trang 17nhỏ và người nông dân rất nghèo, cả hai đều là trở ngại cho cơ giới hóa Với một nền nông nghiệp quảng canh và thâm canh cao việc cơ giới hóa sẽ trở thành bắt buộc Súc vật dùng trong nông nghiệp không đủ để thực hiện tất cả các công việc Chuyển nhượng và tập trung ruộng đất diễn ra mạnh mẽ cần phải có máy kéo, máy bơm để phục vụ sản xuất [3, 164]
2.1.2.2 ý nghĩa của chuyển nhượng và tập trung ruộng đất giữa các hộ
* ý nghĩa của chuyển nhượng ruộng đất:
- Góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá:
Nông nghiệp phát triển sẽ làm nền tảng đẩy mạnh CNH-HĐH Ngược lại, sự yếu kém và không hiệu quả của nông nghiệp sẽ không duy trì được sự sống còn của công nghiệp, sản phẩm của công nghiệp có thị trường rất hẹp vì hầu hết dân cư có sức mua kém Phát triển NN và CNH-HĐH có liên hệ mật thiết với nhau NN không thể tăng trưởng nhanh mà không có sản xuất, chế biến và tiếp thị nông nghiệp yêu cầu máy móc, thiết bị hiện đại, phân bón, thuốc trừ sâu những sản phẩm của công nghiệp Khi NN được hiện đại hóa, lao động NN giảm xuống và được thu hút vào những ngành công nghiệp khác
ở địa phương cũng như tại các trung tâm đô thị [30, 83]
Đất nước ta đang trong quá trình CNH-HĐH chuyển nhượng ruộng đất
là một trong những bước đầu tiên trong quá trình phát triển nền sản xuất hàng hoá theo tính chất đại công nghiệp, đặc biệt là với quá trình CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn Chuyển nhượng trung ruộng đất làm cho quy mô sản xuất ngày càng lớn hơn từ đó thúc đẩy phát triển nền sản xuất hàng hoá theo tính chất sản xuất đại công nghiệp Từ đây có thể đưa máy móc vào sản xuất
một cách tập trung, tạo ra các vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá
- Phát triển các hình thức hợp tác trong sản xuất nông nghiệp:
Do đòi hỏi quá lớn về nguồn lực để tập trung cho sản xuất như mua máy móc, xây dựng hệ thống thủy lợi bảo vệ nông trại cho nên chuyển nhượng ruộng đất góp phần phát triển các hình thức hợp tác trong sản xuất nông nghiệp và nông thôn
Trang 18- Xây dựng mô hình kinh tế trang trại và phát triển sản xuất hàng hoá
Trong phát triển kinh tế trang trại cần rất nhiều yếu tố đầu vào để đánh giá sự khác biệt giữa hình thức phát triển kinh tế trang trại với phát triển kinh
tế hộ gia đình, quy mô diện tích đất sử dụng trong sản xuất là một trong những tiêu chí Phát triển kinh tế trang trại cần phải có quy mô diện tích đủ lớn, chuyển nhượng ruộng đất tạo điều kiện hình thành và phát triển kinh tế trang trại [1, 15- 20]
- Chuyển dịch cơ cấu lao động Khi nền CNH-HĐH phát triển nhanh
chóng đòi hỏi phải có một lực lượng lao động lớn làm việc trong các ngành công nghiệp và dịch vụ Để đáp ứng được đòi hỏi này thì một phần lao động tất yếu trong nông thôn, (từ trước tới giờ làm việc trong ngành nông nghiệp) chuyển qua làm việc ở trong các ngành công nghiệp và dịch vụ Tuy nhiên, hiện nay tốc độ chuyển dịch cơ cấu ngành nghề của hộ và lao động nông thôn vẫn còn chậm so với yêu cầu và không đều, tỷ trọng hộ lao động nông nghiệp lớn nhưng chuyển dịch vẫn rất chậm Tính chất thuần nông vẫn còn phổ biến Tình trạng lao động thừa, việc làm thiếu nhưng ngành nghề dịch vụ phi nông nghiệp phát triển chậm, khả năng tạo việc làm mới chưa cao [15]
* ý nghĩa của tập trung ruộng đất:
Sự xuất hiện, tồn tại và hoạt động của hiện tượng tập trung đất đai nói chung và ruộng đất trong nông nghiệp nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc hình thành và công khai hoá thị trường đất đai, thừa nhận đất
đai là hàng hoá đặc biệt có giá trị, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho di chuyển các nguồn lực sản xuất, lao động và vốn vào tay người sản xuất kinh doanh có hiệu quả, thúc đẩy quá trình phân công lao động mạnh mẽ trong nông thôn Tập trung ruộng đất là tiền đề cơ bản cho quá trình tích tụ đất đai,
có tập trung đất đai thì mới có tích tụ đất đai, ý nghĩa của việc tập trung ruộng
đất có thể được thể hiện trên một số khía cạnh sau đây:
Sự thuận lợi về các khâu vận chuyển trong các khâu chăm sóc, gieo trồng và thu hoạch làm những công việc đó ở một hay một số thửa ruộng lớn
Trang 19đỡ tốn chi phí hơn là rải rác mảnh ruộng thành nhiều mảnh nhỏ ở các nơi, các
xứ đồng khác nhau của nông hộ [16, 14]
Tạo điều kiện thâm canh tăng năng suất cây trồng, tăng cường đầu tư của người sản xuất, thúc đẩy việc chuyển dịch cơ câu, bố trí cây trồng hợp lý, từng bước đưa cơ giới hoá vào sản xuất Điều này chỉ thực hiện có hiệu quả nhất trên các mảnh ruộng có diện tích lớn, được quy hoạch ở những nơi, xứ
đồng cụ thể [16, 14]
Sự tập trung những mảnh ruộng nhỏ thành những mảnh ruộng lớn sẽ giảm bớt được nhiều công việc vô ích trong tất cả các khâu công việc của sản xuất, với những mảnh ruộng nhỏ hơn nhưng tổng diện tích vẫn thế tạo nhiều diện tích bờ, mất diện tích sản xuất, tưới tiêu gặp nhiều khó khăn hơn với mảnh ruộng lớn hơn
Từ việc tập trung ruộng đất sẽ quy tụ đất đai thành những vùng cụ thể,
rõ ràng làm việc sử dụng quỹ đất của địa phương hợp lý và có hiệu quả hơn là việc để chúng phân tán khắp nơi làm cho việc quản lý chưa chặt chẽ, chưa hợp
lý [16, 14]
* Mặt tiêu cực của chuyển nhượng, tập trung ruộng đất:
Chuyển nhượng ruộng đất cũng gây ra không ít khó khăn trong việc phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn Chuyển nhượng ruộng đất diễn ra mạnh
mẽ và nhanh chóng, trong khi đó quá trình CNH-HĐH đang ở giai đoạn đầu Việc phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ chưa theo kịp, không đáp ứng được yêu cầu về tạo việc làm cho lao động Chính vấn đề này dẫn tới
trong một giai đoạn nhất định sẽ xảy ra tình trạng như:
- Lao động nông thôn không có việc làm tăng lên do không có đất, thiếu
đất phục vụ cho sản xuất:
Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn cho nên khi chuyển nhượng ruộng
đất thì xảy ra tình trạng một số nông hộ thiếu đất hoặc không có đất sản xuất Tình trạng này thay đổi theo xu hướng tăng và mang tính phổ biến hơn Trong
điều kiện đời sống phần nào dễ chịu thì không khi nào người nông dân lại đem
Trang 20bán ruộng đất của mình [21, 438] Vì một lý do hay một rủi ro nào đó mang lại dẫn tới số hộ thiếu đất canh tác có thể chuyển sang thành hộ không có đất
Hộ nông dân quen làm việc trên mảnh đất của mình Khi họ không có đất, họ khó có thể kiếm được một công việc ở lĩnh vực khác, lao động nông thôn không kịp thích ứng với sản xuất trong các ngành công nghiệp và dịch vụ Do
họ chưa được đào tạo tay nghề, trình độ kỹ thật và rèn luyện tác phong Đặc biệt phần lớn lao động nông nghiệp chưa sẵn sàng làm việc trong các ngành công nghiệp và dịch vụ, một lĩnh vực hoàn toàn mới mẻ đối với họ Họ chỉ có thể đi làm thuê, mướn cho những người có ruộng đất và các trang trại sản xuất nông nghiệp
- Gia tăng khoảng cách giàu nghèo ở nông thôn:
Khi đất đai trong tay chủ đất, họ sẽ tận dụng triệt để các nguồn lực thuận lợi nhất, khai thác tối đa sức sản xuất của đất bằng cách đầu tư thâm canh tăng vụ, từ đó tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa, đem lại cho nhà đầu tư những khoản lợi từ sản xuất nông nghiệp
Trong khi đó thu nhập chính của những hộ không có đất từ công việc thuê mướn của chủ trang trại, chủ đất Số tiền công đó chỉ đảm bảo mức sống tối thiểu của họ Chính những điều đó dẫn tới khoảng cách giàu nghèo trong nông thôn ngày một gia tăng
2.1.3 Ruộng đất, mối quan hệ sử dụng, hình thức chuyển nhượng và mức độ tập trung
2.1.3.1 Ruộng đất và các mối quan hệ sử dụng
* Quan hệ về mặt tự nhiên: Trong sản xuất nông nghiệp ruộng đất là tư
liệu sản xuất đặt biệt, nó vừa là sản phẩm của tự nhiên vừa là sản phẩm của xã hội Vì vậy, các mối quan hệ trong quá trình sử dụng đất đai được biểu hiện trên các phương diện tự nhiên, kinh tế xã hội [5, 152- 155]
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên gắn liền với khí hậu, môi trường trên phạm vi toàn cầu cũng như từng vùng, từng miền từng lãnh thổ
Trang 21* Quan hệ ruộng đất về mặt kinh tế là quan hệ được xem xét về mặt kinh tế, đất đai tham gia vào tất cả quá trình sản xuất và các ngành sản xuất vật chất của xã hội Nó như là một tư liệu sản xuất đặc biệt Vì vậy mỗi ngành sản xuất khác nhau thì nó có quan hệ khác nhau Đối với vấn đề này ta xem xét ở mục đích sử dụng Vì với mục đích sử dụng khác nhau đất đai sẽ được sử dụng khác nhau: Đất đai sử dụng trong nông nghiệp bao gồm cây trồng hàng năm, cây trồng lâu năm, trồng rừng, nuôi trồng thuỷ sản, sử dụng trong ngành công nghiệp, du lịch [9, 6- 7]
* Quan hệ xã hội: Trong các mối quan hệ thì quan hệ sở hữu ruộng đất
là một trong những quan hệ cơ bản nhất của con người trong quá trình sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp Xét về mặt xã hội quan hệ sở hữu ruộng đất là biểu hiện tập trung nhất trong quan hệ ruộng đất, nó có tính quyết
định đến quan hệ đất đai về mặt tự nhiên và kinh tế [5, 152- 153]
Đất đai với tư cách là một yếu tố của sản xuất nông nghiệp, vị trí của ruộng đất gắn liền với điều kiện sinh thái, xã hội, kinh tế Đặc điểm này đặt ra yêu cầu các quan hệ ruộng đất phải đạt được mục tiêu sử dụng ruộng đất một cách đầy đủ, hợp lý và hiệu quả Chính vì thế quan hệ sở hữu đất đai và sử dụng ruộng đất được Đảng và Nhà nước ta khẳng định rõ ràng: “Đất đai thuộc
sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước giao đất, cho thuê đất cho các tổ chức, hộ gia đình và các cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài hoặc có thời hạn theo quy định của pháp luật” [22] Luật
Đất đai và các văn bản dưới luật cho phép các chủ thể sử dụng đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất, thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng [22, 49- 50]
Trong nền kinh tế thị trường sự phát triển của nền kinh tế đã mở ra các khả năng cho các quan hệ kinh tế, xã hội phát triển một cách toàn diện và nhanh chóng hơn, đồng thời các quan hệ kinh tế thông qua các quan hệ giá trị
Đất đai vừa vận động theo quy luật chung, vừa vận động theo quy luật riêng
Từ những quy luật riêng và chung đang đặt ra yêu cầu có sự xử lý về quan hệ
Trang 22đất đai như: chuyển nhượng, tập trung, chuyển đổi, cho thuê Thực hiện các yêu cầu nói trên sẽ làm cho quá trình chuyển nhượng, tập trung diễn ra nhanh chóng từ đó đẩy mạnh quá trình CNH- HĐH, quá trình sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp phát triển [5, 156]
2.1.3.2 Một số hình thức chuyển nhượng ruộng đất phổ biến hiện nay
- Người này thuê đất của người kia để sản xuất kinh doanh
- Chuyển nhượng đất cho người khác để đi làm nghề phi nông nghiệp
- Cha Mẹ không làm ruộng nữa để lại cho con cái làm nhưng không phải trả tiền thuê đất
- Một số gia đình, có người đi làm và ở lại thành phố có đất ở quê nhưng không làm mà để cho Anh em của họ làm
- Cha, Mẹ chuyển nhượng cho con cái khi chúng lập gia đình
- Một diện tích ít hơn nhưng tốt hơn (gần nhà, dễ tiêu nước, chất lượng
đất tốt) đổi lấy một diện tích lớn hơn nhưng xấu hơn (xa nhà, khó tiêu nước, chất lượng xấu hơn)
- Do hộ nào đó chuyển qua làm nghề khác, không làm ruộng nữa thì họ cho thuê toàn bộ ruộng đất của mình hàng năm
- Vì lý do bất đắc dĩ về kinh tế có hộ cũng có thể chuyển nhượng tạm thời một số đất nhất định của mình để có tiền giải quyết công việc ngay trước mắt (cầm, cố), hết hạn họ lại tìm cách chuộc lại số ruộng đất
đó [16, 11]
2.1.3.2 Tập trung và mức độ tập trung ruộng đất
- Chuyển đổi các mảnh ruộng nhỏ thành mảnh ruộng lớn (dồn điền đổi thửa)
- Làm tăng quy mô diện tích của hộ bằng cách mua thêm ruộng đất khi mức hạn điền còn cho phép
- Có tiền cầm thêm ruộng đất để sản xuất nông nghiệp
- Đấu thầu thêm ruộng đất chưa được khai thác để mở ruộng diện tích sản xuất
- Thuê, mướn thêm ruộng đất của các tổ chức, cá nhân để sản xuất
Trang 232.2 Thực tiễn quá trình tập trung ruộng đất
2.2.1 Trên thế giới
Chuyển nhượng, tập trung ruộng đất là một việc làm hết sức cần thiết và cấp bách, phù hợp với yêu cầu của phát triển sản xuất, chủ trương đẩy mạnh CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn Việc chuyển nhượng, tập trung ruộng
đất không chỉ có ở Việt Nam mà đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới
* Trung Quốc: nhà nước Trung Quốc đã tiến hành cải cách nông nghiệp
và nông thôn từ năm 1978 Quá trình cải cách đó được chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn I từ năm 1978- 1984, giai đoạn II từ 1985-1990 và sau đó đề ra phương hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn cho thập kỷ 90 Trong những chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn của giai đoạn đầu cải cách Nhà nước Trung Quốc có đặt ra vấn đề: “Thực hiện chế độ trách nhiệm khoán sản xuất đến hộ nông dân” [29] Chế độ trách nhiệm khoán sản xuất trong nông nghiệp gồm nhiều hình thức, khoán công đoạn định mức để tính thù lao, khoán ngành nghề theo công đoạn để tính thù lao, khoán sản lượng đến từng nông hộ, khoán sản lượng đến người lao động, khoán toàn bộ cho hộ gia đình Nếu quy lại thì có 3 hình thức chủ yếu sau: khoán công việc, khoán sản lượng, khoán toàn bộ Chế độ trách nhiệm khoán sản lượng trong nông nghiệp ở Trung Quốc hình thành bề ngoài là hình thức khoán theo sản lượng cho mỗi
hộ gia đình nông dân để tính thù lao cho xã viên Nếu là hình thức khoán toàn
bộ thì cũng căn cứ vào sản lượng khoán mà tính toán định mức giao nộp Nhưng thực chất lại là khoán ruộng đất, như văn kiện số 1 năm 1984 quy định:
“Kéo dài thời hạn khoán ruộng đất để khuyến khích nông dân tăng đầu tư bồi
bổ sức đất, thực hiện thâm canh” Chủ trương này nhằm kiện toàn chế độ khoán sản phẩm đến hộ, khắc phục tình trạng bóc ngắn cắn dài kinh doanh có tính chất cướp đoạt độ màu mỡ của ruộng đất Thời hạn khoán ruộng đất từ 15 năm trở lại Đối với chu kỳ kinh doanh, chu kỳ sản xuất dài có tính chất khai hoang như vườn cây ăn trái, rừng, đồi hoang thời hạn khoán dài hơn Trước khi kéo dài thời hạn khoán, nếu quần chúng có yêu cầu điều chỉnh ruộng đất
Trang 24thì có thể dựa vào nguyên tắc: “đại ổn định, tiểu điều chỉnh” thông qua thương lượng có thể điều chỉnh một cách đầy đủ, sau đó tập thể thống nhất điều chỉnh Trong thời hạn khoán những nông hộ không có sức làm ruộng hoặc có yêu cầu không nhận ruộng khoán hay nhận ít để chuyển sang ngành nghề khác thì có thể đem số ruộng đó trao cho người khác, hoặc trả lại tập thể.Sau này trong quá trình phương hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn Nhà nước Trung Quốc vẫn đặt ra vấn đề: “Tiếp tục ổn định trách nhiệm khoán sản
đến hộ”, Chỉ thị số 18 năm 1990 của Trung Quốc quy định: “ổn định quan hệ nhận khoán không có nghĩa là không cho phép có sự điều chỉnh về mảnh ruộng và
số lượng ruộng khoán, những thửa ruộng quá phân tán, không thuận tiện cho canh tác thì có thể căn cứ vào nguyện vọng của quần chúng mà tiến hành điều chỉnh theo nguyên tắc số lượng và giá trị ngang bằng” [16, 15] Như vậy cơ bản trong chính sách ruộng đất của Trung Quốc là khoán trách nhiệm sử dụng đất tới từng
hộ nông dân, đồng thời cho phép hộ nông dân được quyền góp cổ phần bằng ruộng đất vào các tổ chức sản xuất kinh doanh nông nghiệp trên cơ sở chế độ cổ phần Hiện nay ở Trung Quốc mỗi hộ có khoảng 0,5 ha chia làm 4-5 mảnh, các hộ nông dân đang tiến hành đổi ruộng cho nhau để có ruộng liền khoảnh [9, 24]
* Đài Loan sau khi tổng kết phát hiện chỉ có 20% mảnh đất nông nghiệp được tưới trực tiếp từ mương tưới, 20% thửa đất nông nghiệp liền kề
đường giao thông, 50% số mảnh bị chia làm 3 mảnh nhỏ với diện tích là 0,052
ha Chính phủ Đài Loan đã lập tức có chủ trương củng cố ruộng đất bằng biện pháp chuyển nhượng, chuyển đổi, giao ruộng đất [16, 16]
* Nhật Bản sau khi phát hiện chỉ có 31% số mảnh đất liền kề với mương tưới tiêu và 28% số mảnh đất liền kề đường giao thông, đa số các mảnh đất đã được chia nhỏ tới 3 lần [16, 16], mỗi hộ nông dân Nhật Bản có nhiều mảnh ruộng, các mảnh ruộng có quy mô từ 500m2 đến 1000m2, nằm phân tán Nhà nước Nhật Bản cũng đã tiến hành chuyển đổi, chuyển nhượng ruộng đất Năm 1961 Chính phủ Nhật Bản ban hành luật cơ bản về nông nghiệp với 3 mục tiêu rộng, chắc chắn, sâu Rộng tức là nâng kích thước
Trang 25ruộng từ quy mô nhỏ lên quy mô lớn, chắc chắn chính là cải tạo nền đất yếu nhiều bùn, trên cơ sở thiết kế xây dựng hệ thống thoát nước cho từng mảnh và toàn khu vực để có thể sử dụng thuận lợi, đồng thời cải tạo tầng canh tác ruộng đất đảm bảo độ dày khoảng 1 m Gắn liền với việc xử lý hình dạng, kích thước mảnh ruộng là việc xây dựng hệ thống tưới tiêu và san ủi mặt bằng Việc chuyển đổi ruộng đất là công việc phức tạp ở Nhật vì đất đai thuộc sở hữu tư nhân Việc chuyển đổi ruộng đất dựa trên nguyên tắc tương ứng về diện tích và giá trị với điều kiện đó là đất phi NN xen kẽ được chuyển đổi ra khu
đất quy hoạch dành cho mục đích phi NN, trong việc chuyển đổi thì đứng trên
3 góc độ: cùng giá trị, cùng vị trí và diện tích Tuy nhiên, giá trị là yếu tố chính Mặt khác đất NN mức tăng giảm diện tích từng người không quá 20%
Đất quy hoạch làm mương tưới tiêu và công trình công cộng được trừ vào diện tích của hộ theo tỷ lệ sinh bình quân Yêu cầu của một thửa ruộng sau khi đổi phải đạt diện tích tối thiểu 3000m2 nhưng phải tiếp giáp với mương tưới tiêu,
đường giao thông Sự chuyển đổi lúc đầu là khó khăn phức tạp, vì vậy có nơi làm dần từng bước lúc đầu từ 500m2 lên 1000m2, sau vài năm lên 2000m2 rồi 3000m2 Quá trình chuyển đổi này thường kéo dài từ 5-6 năm [13] Việc tổ chức xử lý chuyển đổi ruộng đất NN do tổ hợp cộng đồng NN có từ 15 hộ trở lên đứng ra xin phép, ủy ban NN cấp tỉnh có quyền cho phép xử lý chuyển đổi
đất [13] Kết quả 2 triệu ha trong số 2,7 triệu ha dất trồng lúa đã được xử lý, chuyển đổi số phần còn lại, phần lớn là ruộng bậc thang và đồi cỏ Trước xử lý chuyển đổi bình quân một hộ có 3,4 mảnh ruộng nay còn 1,8 mảnh Việc chuyển đổi xử lý ruộng đất NN đã làm tăng năng suất của máy NN, tăng sức sản xuất của đất đai, tăng năng suất lao động của nông dân, tạo điều kiện để phát triển sản xuất hàng hóa, để nâng cao sức cạnh tranh của NN [13]
* Mỹ: là một trong những nước lớn trên thế giới nằm ở khu vực phía Bắc Mỹ, khí hậu thời tiết của Mỹ phần lớn thuận lợi cho sản xuất trồng trọt và chăn nuôi Mỹ là một nước có nền công nghiệp phát triển với quy mô lớn vào mức cao nhất thế giới, đã tạo cơ sở vật chất kỹ thuật thúc đẩy nông nghiệp
Trang 26nhanh chóng phát triển, công nghiệp hoá là điều kiện phát huy tích tụ, tập trung ruộng đất Sản xuất nông nghiệp của Mỹ là điển hình của nền kinh tế trang trại, sản xuất nông sản hàng hoá phát triển ở trình độ cao Tất cả những yếu tố đầu vào, đầu ra phục vụ cho sản xuất nông nghiệp ở Mỹ đều là hàng hoá Mục tiêu sản xuất nông nghiệp ở Mỹ không phải là tự cấp tự túc mà là sản xuất hàng hoá bán trên thị trường trong và ngoài nước với khối lượng lớn [11] Nhà nước Mỹ cấp đất cho hộ và đồng thời cho phép mua bán hoặc thuê
đất để hình thành lên các trang trại ở Mỹ số trang trại canh tác trên ruộng đất riêng chiếm khoảng 60% Tổng số trang trại canh tác trên ruộng đất tự có và thuê chiếm 80%, hơn 116 nghìn trang trại thuê làm hoàn toàn ruộng đất để sản xuất Các trang trại sản xuất hoàn toàn trên ruộng đất tự có quy mô bình quân
108 ha Các trang trại đi thuê đất hoàn toàn có quy mô bình quân là 229 ha Các trang trại vừa canh tác trên đất tự có vừa đi thuê thêm thường có quy mô lớn hơn, bình quân đạt khoảng 357 ha Đối tượng có đất cho thuê bao gồm Nhà nước và tư nhân, ở Mỹ khoảng 40% đất đai thuộc sở hữu Nhà nước do Chính phủ và chính quyền địa phương quản lý Việc tích tụ và tập trung ruộng
đất để đi vào công nghiệp hoá đã tạo ra ưu thế cạnh tranh về chất lượng nông sản và giá thành ở nước Mỹ Mặc dù vậy những trang trại sản xuất nông nghiệp nước Mỹ không hoạt động độc thân mà nằm trong hệ thống kinh tế liên ngành
2.2.2 ở Việt Nam
2.2.2.1 Chính sách đất đai ở Việt Nam
Đất đai là một yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, có vai trò đặc biệt không chỉ đối với sản xuất nông nghiệp mà còn đối với cả công nghiệp, dịch
vụ phi nông nghiệp Đối với Việt Nam, một đất nước có gần 80% dân số sống, làm việc ở nông thôn, sản phẩm nông nghiệp chiếm gần 23% GDP thì nông nghiệp vẫn được coi là một cơ sở quan trọng cho sự phát triển kinh tế của đất nước [10] Thực tế suốt những năm qua ở Việt Nam, quan hệ đất đai có lịch sử biến động thường xuyên Dưới thời kỳ Pháp thuộc, ruộng đất chủ yếu tập
Trang 27trung vào tay địa chủ và thực dân Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, Nhà nước Dân chủ nhân dân tiến hành cải cách ruộng đất, tịch thu, trưng thu, trưng mua của địa chủ và thực dân chia cho nông dân, giao quyền làm chủ thực sự cho nông dân đối với ruộng đất [9, 25]
Trong kháng chiến chống Mỹ, khi đất nước bị chia làm hai miền: ở Miền Nam, ngụy quyền tiến hành cải cách điền địa, thực chất là tước bỏ quyền làm chủ ruộng đất của nông dân, ở Miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiến hành hợp tác hoá nông nghiệp, ruộng đất được tập trung vào HTX Sau ngày thống nhất đất nước, chính sách đất đai ở Miền Bắc được áp dụng thống nhất cả nước Sau nhiều năm tiếp tục cải tạo nông nghiệp theo con đường hợp tác hoá kém hiệu quả, các chính sách nông nghiệp và chính sách ruộng đất đã có những thay đổi cơ bản theo hướng coi hộ nông dân là đơn vị tự chủ, nông dân được quyền sử dụng và quản lý ruộng đất do HTX giao khoán
Luật Đất đai được Quốc hội thông qua ngày 08/01/1998 với một số nội dung cơ bản như sau:
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý Nhà nước giao ruộng đất cho các đơn vị và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài có thời hạn hoặc tạm thời
Cho phép người được giao quyền sử dụng đất, có quyền sử dụng và bán thành quả lao động cũng như kết quả đầu tư trên đất được giao
Cấm mua bán đất đai trái phép [22]
Như vậy với nội dung trên thì Luật Đất đai năm 1988 đã tạo điều kiện
để nông dân gắn bó với đất hơn, yên tâm đầu tư vào sản xuất, cải tạo và bảo vệ
đất đai được giao
Nghị quyết 10/NQ-BCT của Bộ Chính trị ra đời khẳng định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, chuyển nền kinh tế tự cung tự cấp sang nền kinh
tế hàng hoá Điều này đã đưa đến sự thay đổi trong chính sách ruộng đất mà cốt lõi là giao cho các hộ nông dân quyền sử dụng đất ổn định lâu dài
Trang 28Trước yêu cầu của đổi mới quản lý nhằm chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với sự bất cập của Luật Đất đai năm 1988, năm 1993 và sau đó năm 1998 Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai sửa đổi bổ sung Trong
đó nội dung chủ yếu nhằm khơi dậy động lực phát triển sản xuất, gắn bó đất
đai với người lao động, tăng cường vai trò của Nhà nước Nhà nước ban hành một số chính sách đất đai chủ yếu như:
Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ ban hành quy định
về giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp
Nghị định số 02/CP ngày 15/01/1994 của Chính phủ ban hành quy định
về giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, các hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
Nghị định số 17/NĐ/CP ngày 19/3/1999 của Chính phủ về thủ tục chuyển
đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất
Nghị quyết 06 ra ngày10/11/1998 của Bộ Chính trị thừa nhận kinh tế trang trại như một hình thức phát triển kinh tế hộ sản xuất hàng hoá với quy mô lớn hơn, trình độ cao hơn
Luật Đất đai năm 1993, các Nghị định, Nghị quyết của Chính phủ đã tạo nên một hệ thống chính sách đồng bộ về đất đai Nó góp phần cho sản xuất nông nghiệp tiếp tục tăng trưởng vững chắc, các ngành sản xuất hàng hoá hình thành, an ninh lương thực bảo đảm
2.2.2.2 Tình hình chuyển nhượng, tập trung ruộng đất ở một số địa phương trong nước những năm gần đây
Thực tế thì sự tồn tại của việc chuyển nhượng, tập trung ruộng đất đã diễn ra trên phạm vi cả nước Tuy nhiên, mức độ và xu thế phát triển của từng hiện tượng có khác nhau, từng địa phương là khác nhau Quá trình chuyển nhượng diễn ra một cách ngầm hiểu giữa các đối tượng có tham gia chuyển nhượng và tích tụ ruộng đất, họ thường tự tìm đến nhau, thống nhất với nhau
Trang 29về thời hạn, cách thức, các điều kiện khác sau đó có thể viết văn bản nhờ hợp tác xã, chính quyền địa phương làm chứng Theo một số nghiên cứu gần đây thì hiện tượng này có khoảng 5% nông dân không muốn có đất để sản xuất ở
đồng bằng Bắc bộ nhưng con số này lại là 22% ở ĐBSCL [29] Điều này nói lên rằng hiện tại ở ĐBSCL có một bộ phận lớn nông dân muốn nhượng lại số
đất của mình để chuyển sang làm nghề khác, nhiều khi có thể làm thuê cho những chủ đất khác sản xuất có hiệu quả hơn, thu nhập làm thuê của họ tính ra
có thể lớn hơn là việc họ tự bỏ vốn ra để sản xuất trên mảnh đất của họ
Chuyển nhượng, tập trung ruộng đất trong nông nghiệp ở nước ta cũng luôn luôn xuất hiện mặt tiêu cực của nó, đó là việc cưỡng ép nhượng bán ruộng đất giữa các hộ nông dân nghèo (vì nhiều lý do khác nhau) với các chủ
đất Để tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp phát triển, trong những trường hợp cụ thể có thể áp dụng cơ chế chuyển nhượng và tập trung một cách mềm dẻo ruộng đất giữa các hộ nông dân Trước mắt là sự diễn ra sôi động của hiện tượng đổi đất, chuyển nhượng đất giữa các hộ nông dân trong cả nước, cần thiết phải tiến hành nghiên cứu và thúc đẩy phát triển, hoàn thiện đổi ruộng, chuyển nhượng ruộng đất trong thời gian tới Hiện nay phong trào đổi ruộng, chuyển nhượng ruộng đất ở các địa phương trong cả nước diễn
ra sôi động, có những địa phương đổi ruộng, chuyển nhượng, tập trung ruộng
đất diễn ra một cách tự phát nhưng cũng có một số nơi đã trở thành cuộc vận
động có chủ trương, đường lối theo hướng dồn điền đổi thửa như:
Hà Nam: trong những năm qua đã thực hiện các chính sách về quản lý
sử dụng đất đai Các hộ nông dân được giao quyền sử dụng đất ổn định lâu dài, yên tâm phấn khởi sản xuất, tích cực đầu tư cải tạo ruộng đất, áp dụng tiến bộ KHKT, thâm canh tăng năng suất cây trồng Từ đầu 2002 Hà Nam cơ bản hoàn thành công tác chuyển đổi ruộng đất Trước chuyển đổi bình quân 8,1 mảnh ruộng cho một hộ cá biệt có những hộ tới 20 mảnh Sau khi tích cực thực hiện chính sách chuyển đổi ruộng đất mỗi hộ còn 4,18 mảnh, số mảnh ruộng toàn tỉnh giảm 48,60% so với trước chuyển đổi [12]
Trang 30Hà Tây: trước khi chuyển đổi có huyện bình quân mỗi hộ có tới 15-20 mảnh ruộng (Phú Xuyên) sau chuyển đổi chỉ còn 4-5 mảnh ruộng Phần lớn công tác chuyển đổi ruộng đất được triển khai theo chỉ đạo của các cấp trên nguyên tắc tự nguyện, tự giác của bà con nông dân, chuyển nhượng cương quyết nhưng không áp đặt [14]
Thanh Hóa: thấy được tầm quan trọng của đất đai là nguồn lực cơ bản trong xây dựng kinh tế Nhìn lại thực trạng đất NN và sản xuất của tình sau khi thực hiện nghị định 64/CP còn rất nhiều bất cập Với 600 hộ nông dân, bình quân 15 thửa/hộ, diện tích mỗi thửa khoảng 200m2 thậm chí có thửa nhỏ hơn 36m2, số thửa này bị phân tán ở các xứ đồng, thực trạng này là lực cản đối với việc phát triển sản xuất hàng hóa [14] Tỉnh ủy Thanh Hóa đã ra chỉ thị 13/CT ngày 3/9/1998 triển khai công cuộc vận động "Đổi ruộng, dồn thửa"[25], chuyển đổi ruộng đất và nhiều huyện đã đạt được một số thành tích
đáng kể ví dụ như: Quảng Hòa năm 1997 có 650ha đất tự nhiên thì 400ha đất sản xuất chi ra làm 17.000 mảnh cho 1.300 hộ dân Sau khi thực hiện chỉ thị của tỉnh nay còn 7.000 mảnh bình quân mỗi hộ có 4 mảnh, diện tích của mảnh lớn hơn 500m2/mảnh [9, 30]
2.3 Một số công trình nghiên cứu về chuyển nhượng, tập trung ruộng đất
Trước khi chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này thì đã có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề hiện tại tôi đang nghiên cứu như:
* Lâm Quang Huyên, Vấn đề ruộng đất ở Việt Nam Trong nghiên cứu này
đã đưa ra một số kết luận như sau: Giải quyết vấn đề ruộng đất nói chung gồm hai công đoạn: Cách mạng để chuyển sở hữu ruộng đất và sử dụng hợp lý, sử dụng ruộng đất đạt hiệu quả cao Cách mạng ruộng đất ở Việt Nam là một cuộc cách mạng ruộng đất triệt để vì do Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo Ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý, nông dân
được quyền sử dụng ruộng đất lâu dài và các quyền khác, đáp ứng được ước nguyện và tâm lý lâu đời của người cày có ruộng Cần sử dụng ruộng đất thật
Trang 31hợp lý với việc khai thác nguồn lực đất đai bền vững từ đó phục vụ cho tiến trình CNH-HĐH đất nước [17]
* Lê Đình Thắng khi nghiên cứu ở ĐBSCL có đưa ra các quan điểm giải
quyết tình trạng hộ nông dân không có ruộng, thiếu ruộng Sau khi phân tích, tác giả đã rút ra một số kết luận sau đây:
Những hộ nông dân không có ruộng, thiếu ruộng là hiện tượng có thật và
có xu hướng tăng lên, nhưng đừng vì thế mà trở lại "chia đều ruộng đất" cho các
hộ nông dân, trở lại tình trạng "nghèo đều" Tập trung ruộng đất vào một số hộ nông dân làm ăn giỏi để hình thành trang trại sản xuất hàng hóa có những mặt tích cực, nhưng nếu thả nổi thì mặt tiêu cực sẽ bùng lên và vượt ra ngoài giới hạn cho phép Để giải quyết tình trạng hộ nông dân không có ruộng, thiếu ruộng thực chất là phải tạo việc làm để có thu nhập ổn định cho người nông dân
* Nguyễn Đình Hương cùng các cộng sự trong sản xuất và đời sống của các
hộ nông dân không có đất hoặc thiếu đất ở ĐBSCL thực trạng và giải pháp rút
ra một số kết luận sau:
Việc tập trung ruộng đất vào tay một số người tạo điều kiện cho tăng năng suất cây trồng, nâng cao hiệu quả đầu tư, cung cấp nguyên liệu cho nông nghiệp và mở rộng thị trường tiêu thụ Song nó lại biến nông dân không có đất thành lao động làm thuê
Tập trung ruộng đất thành trang trại, đồn điền thì nông dân không có đất trở thành người công nhân nông nghiệp, một số vào làm việc tại các công xưởng Song cũng có một số nông dân không có việc làm trở thành thất nghiệp
Việc tập trung ruộng đất dù theo con đường nào cũng chỉ diễn ra nhanh chóng nhờ sự can thiệp của Nhà nước [19, 43- 44]
* Đỗ Kim Chung nghiên cứu về thị trường chuyển nhượng và cho thuê đất đai
trong nông nghiệp ở Việt Nam đã chỉ ra rằng:
Thị trường chuyển nhượng và cho thuê đất đai là tất yếu và cần thiết, nó
đã và đang tồn tại do nhiều nhân tố tác động lẫn nhau
Trang 32Các hoạt động thị trường đất đai rất đa dạng và phong phú: thuê đất, cho thuê đất, mượn- cho mượn đất, mua- bán đất [15]
* Hoàng Văn Cường nghiên cứu về tập trung ruộng đất đối với thu nhập của
hộ nông dân đã rút ra kết luận:
Trong điều kiện sản xuất hàng hóa đã tương đối phát triển, tập trung ruộng đất là điều kiện căn bản để chuyển từ sản xuất tự cấp, tự túc phân tán manh mún sang sản xuất tập trung hóa, chuyên môn hóa và sản xuất hàng hóa
Tập trung ruộng đất ở những vùng có quan hệ hàng hóa tiền tệ phát triển
có thể dẫn đến tình trạng một bộ phận nông dân không có đất nhưng thu nhập và
đời sống của nhóm hộ này không những không bị ảnh hưởng mà còn được cải thiện phát triển cao hơn Những ưu việt của tập trung quy mô đất đai chỉ được thể hiện đầy đủ rõ nét ở những nơi các quan hệ của sản xuất hàng hóa đã bắt đầu phát triển rộng rãi
* Bùi Thị Định khi nghiên cứu thực trạng và tác động của chuyển đổi ruộng
đất nông nghiệp giữa các hộ nông dân sau khi thực hiện nghị định 64/CP của Chính phủ tại xã Phúc Thành huyện Vũ Thư, Tỉnh Thái Bình đã rút ra kết luận: Chuyển đổi ruộng đất ở đây mới chỉ xảy ra tự phát giữa các hộ nông dân Các hộ nông dân thiếu vốn để mở rộng sản xuất với tâm lý của người sản xuất nhỏ đã làm hạn chế sự phát triển của thị trường đất đai Để khắc phục hậu quả
do chuyển đổi ruộng đất để lại cần:
Mở rộng ngành nghề tại địa phương
Đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, đa dạng hóa cơ cấu cây trồng [14]
Trang 333 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đặc điểm địa bàn huyện Ô Môn
3.1.1 Vị trí địa lý
Ô Môn là một huyện của tỉnh Cần Thơ, đối với tỉnh mang một ý nghĩa quan trọng về mặt vị trí địa lý, là vùng ngoại vi của thành phố Cần Thơ Không gian của huyện với các yếu tố về cơ sở vật chất, địa bàn, các yếu tố về
tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển đô thị Cần Thơ về phía Bắc Việc gắn kết
về mặt tự nhiên và kinh tế nói lên vấn đề không thể thiếu trong việc phát triển chung của thành phố Cần Thơ và của tỉnh
Bắc giáp với huyện Thốt Nốt
Nam giáp với huyện Châu Thành và thành phố Cần Thơ
Đông giáp với tỉnh Đồng Tháp
Tây giáp với tỉnh Kiên Giang
Ô Môn nằm trải dọc phía bờ tây sông Hậu Giang, với vị trí nằm cần kề thành phố Cần Thơ, cần phải qua địa bàn huyện để đến được các đơn vị huyện nội tỉnh và các tỉnh bạn, theo quốc lộ 91 về phía Bắc đến huyện Thốt Nốt và xuôi về tỉnh An Giang, Kiên Giang cũng như đến được tỉnh Đồng Tháp, hệ thống giao thông thủy bộ gắn kết với huyện Châu Thành phía Nam của thành phố Cần Thơ tạo một vùng ngoại vi quan trọng trong việc phát triển của thành phố Cần Thơ, với cự ly không xa trung tâm thành phố khoảng 20 km, và trung tâm đô thị của huyện Ô Môn gắn kết với Thốt Nốt tạo thành trục phát triển với quốc lộ 91 là trục chính Từ trung tâm huyện vượt qua sông Hậu có thể đến
được trung tâm huyện Lai Vung, Thạnh Hưng của tỉnh Đồng Tháp, theo
đường thủy và đường bộ có thể đến được trung tâm huyện Giồng Riềng tỉnh Kiên Giang với cự ly ngắn, là dòng giao thông trung chuyển cũng như quan
hệ về mặt giao thông với các trung tâm đô thị của tỉnh bạn rất thuận lợi Từ các yếu tố trên giúp cho việc hỗ trợ cho việc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội giữa các đơn vị huyện của tỉnh bạn với Ô Môn cũng như Cần Thơ được dễ
Trang 34dàng hiệu quả Việc trao đổi hàng hoá, dịch vụ đi lại từ các nơi về Cần Thơ cũng như các huyện của tỉnh bạn qua của ngõ của Ô Môn sẽ được dễ dàng,
nhanh chóng rút ngắn được cự ly vận chuyển
3.1.2 Điều kiện tự nhiên
Ô Môn nằm trong vùng nước ngọt hoàn toàn, và chịu ảnh hưởng sâu sắc chế độ thuỷ văn Sông Hậu, chịu tác động trực tiếp của chế độ bán nhật triều Sông Hậu Vào mùa mưa thì chịu ảnh hưởng của chế độ lũ Mạng lưới kênh rạch ở Ô Môn khá dày đặc nguồn nước chính được kết nối lấy từ sông Hậu vào các kênh rạch giúp tải nước đi sâu vào đồng ruộng Do chịu ảnh hưởng của chế độ thuỷ văn, thuỷ triều và chế độ lũ ngập hàng năm, cùng với việc đưa nước vào đồng ruộng của các kênh rạch cho nên Ô Môn được chia thành 3 vùng sinh thái rõ rệt Các vùng sinh thái được chia chủ yếu dựa vào đặc trưng của đất và chế độ ngập nước trên bề mặt đó là:
Vùng ngập nông: từ 10-60 cm phân bố ven sông Hậu, thời gian ngập thường từ đầu tháng 9 đến cuối tháng 11 Diện tích ngập khoảng 40% của huyện ở vùng đất được phù sa bồi đắp hàng năm, điều kiện tưới tiêu thuận lợi, cây cối xum xuê Cây trồng chủ yếu là: cây ăn trái, lúa, các loại hoa màu
Vùng ngập trung bình: từ 60-100 cm, thời gian ngập sớm hơn, thường
từ tháng 8 đến tháng 12 dương lịch chiếm 50% diện tích phân bố ở các xã trong huyện Đối với vùng này thảm thực vật khá phong phú, cây trồng chủ yếu là lúa ở chân đất ruộng, cây ăn trái trong các vườn cây ven kênh rạch, cây lấy gỗ được trồng nhiều ven các bờ kênh thủy lợi, đường sá, kể cả quanh đất thổ cư của hộ dân
Vùng ngập hơi sâu: có độ ngập từ 100 cm trở lên, thời gian ngập từ tháng 8 đến cuối tháng 12 dương lịch Trong vùng nước ngập sâu chủ yếu là trồng lúa, cây ăn trái kém phát triển, một số nơi đào đất làm bờ trồng rau màu
và sử dụng mặt nước nuôi tôm cá, nhất là vào mùa lũ [2]
Địa hình đất đai: địa hình của huyện Ô Môn tương đối bằng phẳng, hướng dốc nghiêng dần từ sông Hậu dần về phía Tây Nhìn chung toàn huyện
Trang 35có 3 dạng địa hình: địa hình cao nằm ven sông Hậu, địa hình bằng phẳng nằm
ở phía Tây quốc lộ 91 chủ yếu là các xã nằm ở khu vực giữa huyện, địa hình hơi thấp là các xã nằm ở phía Tây của huyện
Đất đai của huyện được chia thành 3 nhóm chính: nhóm đất tốt đó là nhóm đất phù sa với diện tích có khoảng 34.274 ha chiếm 79,8 % phân bố không đồng đều ở các xã trong huyện, chủ yếu là các vùng đất nằm gần ven Sông Hậu và các kênh rạch Nhóm đất trung bình bao gồm đất phèn nhẹ đến
đất phèn trung bình diện tích 7399 ha chiếm khoảng 17,50% Nhóm đất xấu là các dạng đất có độ phèn nặng với diện tích 1160 ha chiếm 2,7% Nhìn chung
đất đai ở Ô Môn chủ yếu thuộc nhóm đất phù sa, một đặc điểm rất cần thiết đối với cây trồng trong phát triển nông nghiệp Nhóm đất phèn có độ pH từ 5-5,5 và
có diện tích tương đối ít ở Ô Môn [26]
Thời tiết của Ô Môn mang đặc trưng của thời tiết Nam Bộ có hai mùa
rõ rệt đó là mùa mưa và mùa khô, tuy nhiên sự chênh lệch giữa các tháng trong năm là không lớn lắm khoảng 2.50C Nhiệt độ trung bình là 26,6 0C nhìn chung điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng
3.1.3 Điều kiện kinh tế x∙ hội
- Tình hình dân cư và dân trí
Qua bảng 3.1 ta thấy, hiện nay toàn huyện tổng dân số có 329.780 người, trong đó dân số sống ở nông thôn chiếm 83,07% so với tổng dân số toàn huyện Số lao động làm việc ở nông thôn và trong nông nghiệp những năm qua đã giảm đáng kể tuy nhiên so với lao động làm ở các nghành nghề khác vẫn còn cao, chiếm khoảng 72% số lao động của toàn huyện Đến năm
2004 trở thành một quận trực thuộc đơn vị hành chính của thành phố Cần Thơ, những năm qua huyện đã có chủ trương chính sách đào tạo nguồn nhân lực,
đặc biệt quan tâm đến công tác giáo dục và đào tạo, phong trào nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập luôn được phát huy, không ngừng tăng lên Những
cố gắng đó được phản ánh qua số lượng trường học được xây dựng đó là với
Trang 3650 trường cấp I, 15 trường cấp II và 6 trường cấp III Tuy nhiên tỷ lệ trẻ em
đến trường theo độ tuổi cũng vẫn còn thấp chỉ đạt có 97%
- Tình hình sử dụng đất đai của huyện
Qua số liệu bảng 3.1 tình hình cơ bản của huyện qua 3 năm cho thấy tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 54.541,36 ha Diện tích này ổn định qua 3 năm, không có sự biến động Diện tích đất nông nghiệp của huyện chiếm 86,83% diện tích này hàng năm có giảm đi tuy nhiên tốc độ giảm đi là rất nhỏ so với một số vùng khác Do có địa hình tương đối bằng phẳng, đất đai là đất phù
sa, nằm cạnh sông Hậu Giang chịu chế độ thủy triều trong ngày cho nên phần lớn đất nông nghiệp ở huyện Ô Môn được sử dụng để trồng cây hàng năm với diện tích khoảng 40.337,90 ha chiếm tỷ lệ 85,18% diện tích đất nông nghiệp, diện tích trồng cây lâu năm (chủ yếu là cây ăn trái) chiếm 14,66% diện tích đất nông nghiệp, còn lại là mặt nước nuôi trồng thủy sản Huyện Ô Môn là một huyện nằm ở đồng bằng cho nên diện tích đất chủ yếu là đất nông nghiệp, chính vì thế cho nên chỉ có một phần nhỏ diện tích 1.25 ha là đất lâm nghiệp
Diện tích đất thổ cư của huyện là 1.465,99 ha chiếm 2,71% diện tích tự nhiên Với đất thổ cư diện tích hàng năm có chiều hướng tăng lên, tuy nhiên tỷ
lệ tăng lên đang còn giữ ở mức rất nhỏ, hàng năm chỉ tăng 0,01% Diện tích
đất chưa sử dụng ở Ô Môn còn nhiều chiếm tới 4,20%, tuy nhiên cũng rất khó
có thể khai thác được bởi phần lớn diện tích này là các kênh rạch một hệ thống giao thông quan trọng mang tính chất đặc trưng của ĐBSCL
Là một địa phương kinh tế nông nghiệp giữ vai trò quan trọng nên lao
động chủ yếu tham gia vào sản xuất nông nghiệp Hiện tại số lao động trong nông thôn chiếm một tỷ lệ khá cao đó là 72,00% Chúng ta có thể thấy những năm qua cơ cấu kinh tế của huyện đã có những thay đổi nhất định Lao động nông nghiệp đã dần chuyển qua làm bên các nghành công nghiệp và dịch vụ khác, so sánh số liệu lao động năm 2003 với số liệu năm 2001 ta thấy lao động trong nông thôn đã giảm đi với một tỷ lệ đáng khích lệ đó là 6,21% mặc dù tổng
số lao động trong độ tuổi của huyện năm 2003 so với năm 2001 tăng 10,72%
Trang 38Một con số nữa cũng có thể nói lên vai trò quan trọng của kinh tế nông nghiệp đó là: số hộ trong nông nghiệp chiếm tới 85,21% so với tổng số hộ mà huyện hiện có Cũng qua bảng 3.1 này cho chúng ta thấy được một số chỉ tiêu khác như: bình quân diện tích đất nông nghiệp/ khẩu nông nghiệp là 0,17 ha
có giảm so với các năm trước nhưng ngược lại bình quân diện tích đất nông nghiệp/ lao động nông nghiệp lại có xu hướng tăng dần từ 0,36-0.38 ha, nói khác là năm 2003 so với năm 2001 tăng lên 6,60%
- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Trong những năm qua, nhờ sự phát triển của kinh tế, chính sách thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, thành thị với nông thôn cho nên cơ sở vật chất kỹ thuật của huyện như: đường giao thông, hệ thống điện, thông tin liên lạc, thủy lợi và các công trình phúc lợi ngày càng được hoàn thiện và được người dân hưởng ứng cũng như sử dụng qua bảng 3.2 chúng ta thấy
Về giao thông: Ô Môn là huyện nằm giữa các đầu mối giao thông cả
thủy bộ quan trọng cho nên rất thuận lợi cho việc giao lưu sản phẩm hàng hóa với các địa bàn lân cận Đối với giao thông đường bộ, huyện đã đầu tư ngân sách để cải tạo từ huyện xuống xã, đối với hầu hết hệ thống giao thông đường
bộ do huyện quản lý đều được bê tông hóa, rải nhựa Đặc thù của ĐBSCL là người dân dùng xuồng, ghe để làm phương tiện vận chuyển giao thông, tuy nhiên hệ thống giao thông nông thôn cũng ngày càng đi vào hoàn chỉnh hơn Phần lớn các xã trong vùng đều đã cho rải đá, gạch cấp phối đối với các ngõ hẻm đến các ấp
Về thủy lợi: do đặc trưng của ĐBSCL cho nên phần lớn hệ thống thủy
lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp ở Ô Môn không phải là vấn đề quan trọng Hệ thống mương máng, trạm bơm không được chú trọng đầu tư ở vùng này Đặc điểm hệ thống thủy lợi ở ĐBSCL cũng như Ô Môn chủ yếu dựa vào
hệ thống kênh rạch Hệ thống kênh rạch chính là hệ thống tiêu nước, dẫn nước nhập đồng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Như nói ở trên, hệ thống kênh rạch cũng là một mạng lưới giao thông vô cùng quan trọng trong sản xuất, đời
Trang 39sống của nông dân ĐBSCL Qua bảng 3.2 cho ta thấy toàn huyện có hơn 117
km kênh rạch, đây là hệ thống kênh rạch vô cùng quan trong đối với người dân ở Ô Môn, nó vừa phục vụ cho sản xuất nông nghiệp vừa phục vụ cho giao thông, đi lại của người dân
Bảng 3.2: Thực trạng cơ sở hạ tầng của huyện Ô Môn qua 3 năm
% kwh
31,3097,9435,64444,75117,70
234,00470,0012,0012,0057,8061,00
31,30 97,94 35,64 444,75 117,70
264,00 511,00 12,00 14,00 64,83 84,00
31,3097,9435,64444,75117,70
365,00661,0016,0016,0091,00128,00
Nguồn: Phòng Địa chính và Phòng Thống kê huyện
Hệ thống điện: Hệ thống điện toàn huyện đến năm 2003 đã có 16
trạm hạ thế nâng số xã có điện lưới quốc gia về tới trung tâm xã là 100% Toàn bộ số xã nằm trong huyện đã có điện Hệ thống điện lưới đã đi vào từng xã, từng ấp phục vụ sản xuất nông nghiệp, đời sống sinh hoạt của nhân dân trong huyện Với chiều dài đường dây hạ thế lên tới 661 km đã nâng tỷ
lệ số hộ sử dụng điện là 91% tăng 33,2% so với năm 2001 Làm tăng tỷ lệ kwh điện/ người/ năm tăng từ 61 kwh lên 128 kwh
- Kết quả sản xuất nông- lâm- ngư nghiệp ở huyện
Mặc dù huyện Ô Môn đang có xu hướng chuyển dịch kinh tế, giảm dần
tỷ trọng trong nghành nông nghiệp Tuy nhiên ta thấy kinh tế nông nghiệp vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thống kinh tế của huyện Kinh tế nông nghiệp của huyện hàng năm tăng trưởng liên tục và toàn diện