1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thức ăn cho lợn con lai (landrace x yorkshire) từ 7 28 này tuổi tại công ty cổ phând DABACO việt nam

109 711 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu thức ăn cho lợn con lai (landrace x yorkshire) từ 7-28 ngày tuổi tại công ty cổ phần DABACO Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thế Tường
Người hướng dẫn PGS.TS. Tôn Thất Sơn
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Chăn nuôi
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 3,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, thạc sĩ, tiến sĩ, khóa luận, cao học, đề tài

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

- -

NGUYỄN THẾ TƯỜNG

NGHIÊN CỨU THỨC ĂN CHO LỢN CON LAI (LANDRACE X YORKSHIRE) TỪ 7- 28 NGÀY TUỔI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DABACO VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: CHĂN NUÔI

Mã số : 60.62.40

Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS TÔN THẤT SƠN

HÀ NỘI - 2008

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Nguyễn Thế Tường

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi còn nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ quý báu của nhà trường, các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới PGS.TS Tôn Thất Sơn, Thầy giáo đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt thời gian làm luận văn tốt nghiệp

Tôi xin cảm ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo trong Bộ môn Thức ăn - Vi sinh - Đồng cỏ Trường Đại học Nông nghiệp - Hà Nội đã góp ý

và chỉ bảo để luận văn của tôi được hoàn thành

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới: Ban giám đốc, Các Anh, các Chị cùng toàn thể Các bộ công nhân viên Nhà máy thức ăn chăn nuôi cao cấp TOP FEEDS, Xí Nghiệp giống Thuận Thành đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện Đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Để hoàn thành luận văn này, tôi còn nhận được sự động viên khích lệ của những người thân trong gia đình và bạn bè Tôi xin chân thành cảm ơn những tình cảm cao quý đó

Tác giả

Nguyễn Thế Tường

Trang 4

2.3 Ảnh hưởng của thức ăn đên tỉ lệ tiêu hoá của lợn 15 2.4 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 20

3 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG

3.4 Phương pháp phân tích thành phần hoá học của thức ăn thí

3.5 Phương pháp xây dựng công thức thức ăn hỗn hợp 29

3.7 Xác định ảnh hưởng của các công thức thức ăn đến lợn con

Trang 5

3.8 Phương pháp xử lý số liệu 33

4.1 Thành phần hoá học của một số loại nguyên liệu thức ăn 34 4.1.1 Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của một số loại ngô

4.1.5 Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của nguyên liệu

4.1.6 Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của thức ăn bổ

4.2 Sản xuất thức ăn hỗn hợp cho lợn con tập ăn 56 4.2.1 Công thức thức ăn hỗn hợp cho lợn con tập ăn 56 4.2.2 Thành phần hoá học của các công thức thức ăn cho lợn con

Trang 6

4.3.6 Tình hình dịch bệnh 80 4.3.7 Hiệu quả của việc sử dụng các loại thức ăn thí nghiệm 84

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TACN : Thức ăn chăn nuôi

TAHH : Thức ăn hỗn hợp

TPHH : Thành phần hoá học

GTDD : Giá trị dinh dưỡng

TVN (total volatile nitrogen) : Nitơ bay hơi tổng số

TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam

DM : Vật chất khô

DFM : Direct Fed Microbials

US FDA : Food and Drug ministriation

ADG (Average daily gain) : Tăng khối lượng bình quân hàng ngày

LTATN : Lượng thức ăn thu nhận

HQSDTA : Hiệu quả sử dụng thức ăn

Trang 8

Bảng 4.2 Thành phần hoá học của bột huyết tương, bột máu và sữa

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ

Đồ thị 4.1 Khối lượng của cơ thể lợn con từ sơ sinh đến 28 ngày tuổi 65

Đồ thị 4.2 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con từ sơ sinh đến 28 ngày tuổi 71Biểu đồ 4.2 Độ sinh trưởng tương đối của các lô lợn thí nghiệm 73Biểu đồ 4.3 Lượng thức ăn thu nhận của lợn con qua các giai đoạn 77

Trang 10

1 MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở nước ta, chăn nuôi lợn chiếm vị trí hàng đầu trong việc cung cấp thực phẩm cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.Trong những năm qua, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đã đạt được những thành tựu đáng kể về công tác giống, dinh dưỡng và công nghệ chế biến thức ăn

Để đạt được hiệu quả cao trong chăn nuôi, ngoài việc nâng cao chất lượng con giống thì chất lượng và giá thành thức ăn chăn nuôi là một khâu kỹ thuật then chốt Theo thống kê của Cục chăn nuôi Bộ Nông nghiệp và PTNT thì thức

ăn thường chiếm khoảng 70% tổng giá thành sản phẩm chăn nuôi Giảm chi phí thức ăn cho một đơn vị sản phẩm sẽ góp phần giảm chi phí chăn nuôi Vì vậy, việc nghiên cứu để xây dựng được những khẩu phần ăn phù hợp cho từng giai đoạn phát triển của mỗi loại lợn sẽ nâng cao năng suất và hiệu quả chăn nuôi Hiện nay, để nâng cao năng suất chăn nuôi lợn nái, một trong những biện pháp kỹ thuật được ứng dụng trong sản xuất là rút ngắn thời gian cai sữa của lợn con Để có thể cai sữa sớm thành công và đàn lợn con phát triển tốt sau khi cai sữa, cần phải có thức ăn chất lượng tốt và phù hợp với đặc điểm sinh

lý tiêu hoá của lợn con trong giai đoạn này Ngoài kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng hợp lý thì việc xây dựng được khẩu phần ăn thích hợp cho lợn con tập

ăn và thức ăn sau cai sữa có thể coi là chìa khoá của sự thành công Hai loại thức ăn này không những phải chứa đầy đủ và cân bằng các chất dinh dưỡng

để đáp ứng nhu cầu sinh trưởng phát triển mà còn phải dễ tiêu hoá, và có khả năng kích thích tính thèm ăn và an toàn cho lợn con Đây là một hướng nghiên cứu được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm Cho đến nay, nhiều công ty thức ăn trong nước đã nghiên cứu sản xuất thử thức ăn tập

ăn cho lợn con, nhưng kết quả còn nhiều hạn chế Khi sử dụng các loại thức

ăn này lợn con thường bị tiêu chảy, khả năng sinh trưởng kém, tỷ lệ lợn con

Trang 11

còi cọc và chết vẫn còn cao Chính vì vậy, hầu hết các cơ sở sản xuấlt áp dụng biện pháp cai sữa sớm cho lợn con vẫn phải mua thức ăn của các công ty nước ngoài với giá cao Điều này đã làm ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi của các cơ sở chăn nuôi lợn Để có thể hạ giá thành sản phẩm chăn nuôi, giảm nguồn ngoại tệ mua thức ăn của nước ngoài, chủ động nguồn thức ăn sản xuất trong nước, thì việc nghiên cứu để sản xuất thành công thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cho lợn con tập ăn có chất lượng cao, giá thành hợp lý là một yêu cầu

cần thiết Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu

thức ăn cho lợn con lai (Landrace x Yorkshire) từ 7- 28 ngày tuổi tại Công

ty Cổ phần DABACO Việt Nam”

1.2 Mục đích của đề tài

- Đánh giá chất lượng và lựa chọn các loại nguyên liệu để đưa vào sản xuất thức ăn cho lợn con từ 7- 28 ngày tuổi tại Nhà máy thức ăn chăn nuôi TOP FEEDS

- Xác định mức protein và Lysine trong thức ăn tập ăn cho lợn con lai

giống ngoại (Landrace x Yorkshire) từ 7-28 ngày tuổi, nuôi tại Xí nghiệp

giống Thuận Thành thuộc Công ty Cổ phần Dabaco Việt Nam

1.3 Ý nghĩa khoa học của đề tài

1- Xác định được thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của một số loại nguyên liệu thức ăn thường dùng trong chăn nuôi

2- Đánh giá được chất lượng một số loại nguyên liệu thức ăn và chọn lựa được các loại nguyên liệu để sản xuất thức ăn là hoàn chỉnh cho lợn con từ 7- 28 ngày 3- Sản xuất thành công thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh tập ăn cho lợn con (7-28 ngày)

4- Xác định được mức protein và Lysine thích hợp trong thức ăn cho lợn con từ 7- 28 ngày tuổi

5- Kết quả của đề tài là những tư liệu cần thiết cho công tác nghiên cứu

và giảng dạy thuộc chuyên nghành chăn nuôi – thú y

Trang 12

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Một số đặc điểm sinh lý của lợn con

2.1.1 Khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn con

Khi còn trong cơ thể mẹ, sự cân bằng nhiệt của bào thai được xác định

do thân nhiệt của lợn mẹ Sau khi sinh, cơ thể lợn con chưa thể bù đắp được lượng nhiệt bị mất đi nên cơ thể dễ bị lạnh và phát sinh bệnh tật, nhất là bệnh phân trắng lợn con Trong tuần lễ đầu, thân nhiệt của lợn con hoàn toàn phụ thuộc vào nhiệt độ của môi trường Ở hai ngày đầu, nếu nhiệt độ môi trường

từ 5 - 6°C, lợn con có thể chết do lạnh và mất nhiệt Khả năng điều tiết nhiệt ở lợn con trong 3 tuần tuổi đầu còn rất kém do thân nhiệt chưa ổn định Nguyên nhân chủ yếu lớp mỡ dưới da còn mỏng, lượng mỡ và lượng đường glycogen được dự trữ trong cơ thể còn ít, cho nên khả năng cung cấp năng lượng để chống rét bị hạn chế Mặt khác, trên cơ thể lợn lông mao đang còn thưa nên khả năng giữ nhiệt còn kém Do đó, khi nuôi lợn con trong chuồng có nhiệt

độ thấp, ẩm độ cao, thân nhiệt của lợn con giảm nhanh làm cho lợn con dễ bị cảm lạnh, hay bị ỉa chảy và ỉa phân trắng Sau 3 tuần tuổi thân nhiệt lợn con mới tương đối ổn định (39 - 39,50C), khả năng điều hòa thân nhiệt tốt dần lên để đáp ứng với môi trường bên ngoài Nhiệt độ môi trường thích hợp đối với lợn con lúc sơ sinh là 340C; hai tuổi là 300C; 14 ngày tuổi là 200C với độ

ẩm không khí khoảng 60%, riêng nhiệt độ dưới chụp sưởi của lợn con phải đạt 32 – 350C

Thân nhiệt của lợn con sau khi đẻ khoảng 38°C, sau 10 ngày tăng lên 39,5 đến 39,7°C và giữ ở mức đó Trong thời gian này thân nhiệt lợn con có thể biến động trên dưới 1°C Chuồng lạnh là nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp (mẹ đè chết con) làm tỷ lệ chết của lợn con cao Lợn chết trong 48 giờ là

Trang 13

12,1% khi nhiệt độ chuồng nuôi là 20 -250C , trong khi đó tỷ lệ chết là 7,7% khi nhiệt độ chuồng nuôi lớn hơn 250C (Vũ Duy Giảng, 2001)[3]

Lợn con dưới 3 tuần tuổi, nếu nuôi ở nhiệt độ chuồng nuôi là 180C thì thân nhiệt của lợn con giảm xuống 20C so với thân nhiệt ban đầu Khi nhiệt

độ chuồng nuôi giảm xuống 00C thì thân nhiệt lợn con giảm xuống 40C Khi khối lượng sơ sinh trung bình của lợn con là 1,13 kg được nuồi ở trong chuồng nuôi có nhiệt độ 16 – 210C thì sau 30 phút thân nhiệt lợn con bị giảm xuống 1,60C nhưng lợn con có khối lượng trung bình 2,4 kg nuôi trong điều kiện là – 40C thì thân nhiệt giảm tới 16,60C Điều này chứng tỏ khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn con ít phụ thuộc vào khối lượng sơ sinh mà chủ yếu phụ thuộc và nhiệt độ chuồng nuôi và tuổi lợn con

2.1.2 Đặc điểm tiêu hoá của lợn con

Sau khi sinh cần phải cho lợn bú ngay sữa đầu vì sữa đầu có giá trị dinh dưỡng rất cao: hàm lượng vitamin A gấp 5- 6 lần so với sữa thường, vitamin

D gấp 3 lần, vitamin C gấp 2,5 lần, vitamin B1 và sắt gấp 1,5 lần Lợn con mới sinh ra sống nhờ vào sữa mẹ, lúc này chức năng của cơ quan tiêu hoá chưa hoàn thiện Nghiên cứu thành phần của sữa lợn cho biết trong 1 kg sữa đầu có chứa 175g protein thô, gấp khoảng 3 lần so với sữa thường (56g) Song hàm lượng lipit và đường lactose trong sữa đầu ( 67g và 32g/kg) lại thấp hơn trong sữa thường ( 101g và 49g), điều này sẽ giúp lợn con sử dụng sữa đầu tốt hơn

Đặc biệt sữa đầu có 11,29% protein huyết thanh, trong đó có 45,29% là

γ globulin có tác dụng làm tăng sức đề kháng cho cơ thể lợn con Sau khi bú sữa đầu, hàm lượng protein tổng số trong huyết thanh tăng từ 2,28g/100ml lên

6,00g/100ml

Enzym trong dịch vị đã có từ khi lợn mới đẻ, nhưng trước 20 ngày tuổi chúng chưa có khả năng tiêu hoá vì trong dịch vị thiếu axit HCl Hoạt lực của enzym tăng lên theo độ tuổi một cách rõ rệt, cụ thể, 9 ngày tuổi tiêu hoá 30mg

Trang 14

Fibrin trong 19 giờ, 28 ngày tuổi chỉ cần 2 -3 giờ, đến 50 ngày tuổi chỉ cần 1 giờ (Nguyễn Xuân Tịnh, và cộng sự, 1996) [18] Khi cho 3g Pepsin và 500ml HCl 0,4% vào thức ăn cho lợn 3 – 4 ngày tuổi sẽ kích thích tiết dịch vị và tăng khả năng tiêu hoá của lợn con

Hoạt tính của các enzym tiêu hoá mỡ trong đường tiêu hoá của lợn con rất cao, lúc sơ sinh và tăng đáng kể theo tuổi Tuy nhiên Corring và CS (1978)[33], có thông báo rằng hoạt tính enzym lipaza tuyến tuỵ tăng dần theo tuổi Theo Cera và Manha (1990)[29], khối lượng tuyến tuỵ tăng dần tương ứng với sự tăng hoạt tính các enzym lipaza, tỷ lệ tiêu hoá mỡ của lợn con tăng dần theo tuổi và phụ thuộc vào nguồn gốc mỡ Tỷ lệ tiêu hoá mỡ cao nhất ở

mỡ sữa, sau đó đến mỡ lợn, dầu ôliu và thấp nhất đối với tinh dầu ngô Tỷ lệ tiêu hoá mỡ còn phụ thuộc vào độ dài của chuỗi axit béo trong mỡ, chuỗi axit béo càng dài tỷ lệ tiêu hoá mỡ càng thấp

Theo Trương Lăng (1994)[9] lợn con khi mới sinh khả năng tiêu hoá protein rất hạn chế do axit HCl ít, enzym pepsin hoạt động kém Hoạt lực của enzym pepsin tăng lên theo ngày tuổi đo đó khả năng tiêu hoá protein cũng tăng lên Ở 28 ngày tuổi pH dạ dày là 5,3 – 5,5; ở 56 ngày tuổi pH dạ dày là 4

và lúc này khoảng 50% protein được thuỷ phân ở dạ dày và pH dạ dày là 1 - 3

Khả năng ngưng kết sữa của dịch vị lợn con cũng thay đổi theo tuổi, lượng chymozine tăng lên trước 1 tháng tuổi, sau đó bị giảm Khả năng miễn dịch của lợn con thường được đánh giá thông qua hàm lượng γ globulin có trong máu 24 giờ sau khi bú sữa đầu, hàm lượng γ globulin trong máu lợn đạt 20,3 mg/100ml máu, hàm lượng γ globulin trong máu tăng lên chậm dần, đến 3 tuần tuổi chỉ đạt khoảng 24 mg/100ml máu (máu bình thường của lợn trưởng thành có khoảng 65,0 mg γ globulin/100ml máu) Hàm lượng γ globulin tăng lên là do cơ thể lợn con đã có đáp ứng miễn dịch thụ động Một vài nghiên cứu đã phát hiện

Trang 15

rằng miễn dịch thụ động có thể kéo dài tới vài tháng

Những γ globulin có phân tử lượng lớn (macro - molecular globulin) có thể hấp thu toàn bộ qua vách ruột chỉ trong vòng 36 giờ mà không bị mất hoạt tính miễn dịch Chất ức chế tripsin ở sữa đầu đã hạn chế sự phân giải các protein miễn dịch của tripsin trong 1 - 2 ngày đầu sau khi sinh Sau đó, khả năng hấp thu qua niêm mạc ruột giảm xuống là do nồng độ chất ức chế này giảm dần Hơn nữa thành phần sữa đầu cũng biến đổi rất nhanh trong vòng 24 giờ; hàm lượng protein từ 18% xuống còn 7%, hàm lượng γ

globulin giảm từ 51% xuống còn 27%

Khả năng miễn dịch của lợn phụ thuộc vào số lượng γ globulin mà chúng hấp thu được, nhưng tốc độ hấp thu lại bị khống chế bởi hàm lượng γ globulin trong sữa Do đó cho lợn con bú sữa đầu là việc vô cùng quan trọng

để tăng sức đề kháng

Lợn con sinh ra sống nhờ vào sữa mẹ do chúng chưa ăn được thức ăn và

bộ máy tiêu hoá của chúng chưa hoàn thiện, tuy nhiên giai đoạn này cơ quan tiêu hoá của lợn con phát triển rất nhanh Như vậy, ở lợn con nhất là giai đoạn trước 3 tuần tuổi, khả năng tiêu hoá thức ăn còn hạn chế Tuy nhiên, nếu được nuôi dưỡng trong môi trường thích hợp và được cung cấp thức ăn có chất lượng tốt, chế biến hợp lý để tập cho lợn con ăn sớm sẽ cải thiện được những hạn chế này

Các cơ quan tiêu hoá của lợn con phát triển rất nhanh nhưng chưa hoàn thiện Sự phát triển nhanh thể hiện ở sự tăng về dung tích dạ dày, ruột non, ruột già Dung tích dạ dày của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 60 lần lúc sơ sinh (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lit) Dung tích ruột non của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần so với lúc sơ sinh (dung tích ruột non lúc sơ sinh khoảng 0,11 lít)

Trang 16

Dung tích ruột già của lợn lúc 10 ngày tuổi gấp 1,5 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 2,5 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích ruột già lúc sơ sinh khoảng 0,04 lít)

2.1.3 Hiện tượng khủng hoảng sinh lý của lợn con

Lợn con có cường sinh trưởng, phát triển nhanh nhưng không đều qua các giai đoạn, nhanh nhất là 21 ngày đầu, sau 21 thì cường độ giảm Lợn con

có khả năng sinh trưởng phát triển nhanh, khối lượng lợn sau 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần; sau 30 ngày tuổi tăng gấp 6 lần về sau 60 ngày tuổi tăng gấp

14 lần lúc sơ sinh Do có cường sinh trưởng nhanh nên khả năng tích luỹ protein cũng rất nhanh Ở lợn con 20 ngày tuổi, mỗi ngày có thể tích luỹ được 9-14g protein trên 1 kg khối lượng cơ thể Trong khi đó ở lợn lớn mỗi ngày chỉ tích luỹ được 0,3 – 0,5g protein trên 1 kg khối lượng cơ thể Chính vì vậy hiệu quả chuyển hóa thức ăn ở lợn con cũng tốt hơn lợn lớn, nói cách khác tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng ở lợn con là thấp hơn Điều này do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chủ yếu do lượng sữa của lợn mẹ bắt đầu giảm xuống, trong khi đó khả năng tiêu hoá thức ăn của lợn con lại chưa tốt Điều này sẽ làm giảm hàm lượng hemoglobi trong máu, giảm sức đề kháng của lợn con Đây là giai đoạn khủng hoảng thứ nhất của lợn con, giai đoạn khủng hoảng thứ hai đối với lợn con là giai đoạn bắt đầu cai sữa Đặc biệt là khi cai sữa sớm cho lợn con để nâng cao năng suất lợn nái về hiệu quả chăn nuôi lợn Tuy nhiên, tác giả cũng cho biết cai sữa sớm thường gây stress nghiêm trọng cho lợn con, lợn con cai sữa sớm thường ăn ít, tăng khối lượng thấp hay bị tiêu chảy và tỷ lệ chết cao

Để khắc phục hiện tượng khủng hoảng sinh lý ở lợn con người ta có thể sử dụng đồng thời nhiều biện pháp như tập cho lợn con ăn sớm, chọn nguyên liêu thức ăn có chất lượng cao, công nghệ chế biến thức ăn thích hợp và kỹ thuật nuôi dưỡng chăm sóc hợp lý

Trang 17

Tập cho lợn con ăn sớm là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng cho lợn con tập ăn sớm, ăn thêm trong giai đoạn bú sữa sẽ làm tăng khả năng thu nhận thức ăn, tăng tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng trong giai đoạn cai sữa, đặc biệt khi năng suất sữa của lợn mẹ thấp Tập cho lợn con ăn sớm còn làm giảm tỷ lệ hao hụt của lợn nái, thúc đẩy bộ máy tiêu hoá của lợn con phát triển nhanh, sớm hoàn thiện và tạo tiền đề cho giai đoạn sau cai sữa Hoạt tính của các enzym saccaraza, maltaza, trypsin, amilaza tuyến tụy tăng lên đáng kể ở những lợn con được cho ăn thêm thức ăn trong giai đoạn bú sữa

Đối với lợn con cai sữa sớm, khi hệ thống miễn dịch và bộ máy tiêu hoá phát triển chưa hoàn thiện, cần lựa chọn các loại thức ăn chất lượng cao Protein động vật chất lượng cao như bột cá, giàu protein; bột huyết tương (plasme) giàu kháng thể và axít amin quan trọng, bột whey giàu đường lactose rất tốt cho lợn con tập ăn để cai sữa sớm (Deny Cheng Lin, 2002)[34] Phương pháp chế biến thức ăn thích hợp cũng là một biện pháp quan trọng làm giảm thiểu stress đối với lợn con Sử dụng các phương pháp chế biến để làm tăng tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng có trong thức ăn cũng như tăng mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn của lợn con AKey (2002)[23] cho biết, sử dụng plasma không những giúp tăng thêm sức đề kháng mà còn kích thích tính thèm ăn của lợn con Sử dụng thức ăn ép viên không những làm tăng tỷ lệ tiêu hoá mà còn hạn chế lượng thức ăn rơi vãi Kích thước viên thức ăn cũng rất quan trọng đối với thức ăn của lợn con Giảm kích thước viên thức ăn từ 2,4mm xuống 2,0mm đã làm tăng lượng thức

ăn thu nhận ở lợn con lên 5%

Ngoài các phương pháp trên thì phương pháp cho ăn và việc tạo ra một môi trường sống phù hợp đối với lợn con là vô cùng cần thiết, giúp cho lợn con giảm stress và sinh trưởng tốt Số lượng máng ăn, số bữa ăn trong ngày,

Trang 18

chuyển thức ăn từ từ là những yếu tố kỹ thuật cần được lưu ý trong kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con (A Key, 2002)[23] Bên cạnh yếu tố dinh dưỡng thì nhiệt

độ, độ ẩm và chế độ chiếu sáng phù hợp cho từng giai đoạn phát triển của lợn con là những vấn đề cần chú ý Những vấn đề này sẽ giúp cho lợn con có môi trường sống tốt để sinh trưởng phát triển tối đa

2.2 Nhu cầu các chất dinh dưỡng cho lợn con

2.2.1 Nhu cầu về năng lượng cho lợn con

Khi nghiên cứu chế biến và phối trộn thức ăn cho lợn cũng cần chú ý đến mức năng lượng trong 1 kg thức ăn Nhu cầu năng lượng của lợn tăng lên theo tuần tuổi, nhưng nhu cầu năng lượng tính cho 1 kg thể trọng thì giảm theo tuổi

Nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu cho vật nuôi là các loại hạt ngũ cốc như ngô, thóc, gạo, cám gạo, cao lương, lúa mì… Với lợn, ngô vàng được coi

là thức ăn cung cấp năng lượng tốt nhất, chứa nhiều a xít béo thiết yếu và chứa nhiều sắc tố vàng caroten (tiền vitamin A)

Từ khi đẻ ra đến 21 ngày tuổi, nguồn dinh dưỡng chủ yếu của lợn con là

do sữa lợn mẹ cung cấp Vì thế số lượng và chất lượng của sữa lợn mẹ ở giai đoạn này ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của lợn con

Lợn con cứ nhận 1 kg sữa mẹ thì tăng khoảng 250g khối lượng cơ thể Sau 21 ngày sữa lợn mẹ bắt đầu giảm cả về số lượng và chất lượng do đó không đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng ngày càng tăng của lợn con

2.2.2 Nhu cầu về lipit cho lợn con

Lipit thô cũng là 1 trong những chất cần thiết trong khẩu phần ăn của lợn con Nếu thiếu lipit trong khẩu phần con vật sẽ xuất hiện những triệu chứng không bình thường ở da, tốc sinh trưởng giảm, con vật dễ thiếu các vitamin hoà tan trong dầu mỡ như: Vitamin A, D, K… Vì vậy cần bổ sung đủ mỡ, chủ yếu bổ sung bằng dầu thực vật sẽ ngăn ngừa được các hiện tượng trên

Trang 19

Trong khẩu phần của lợn thường có tỷ lệ khô dầu cao nên đáp ứng đầy đủ các axít béo, nhưng cần lưu ý nếu bổ sung axít béo vào trong khẩu phần thì không được bổ sung quá nhiều vì có thể dẫn đến hiện tượng thiếu vitamin E, gây ra những rối loạn ở cơ Khẩu phần thiếu lipit sẽ ảnh hưởng tới trao đổi cacbonhydrat và làm tăng nhu cầu vitamin nhóm B Nhưng thường việc bổ sung dầu mỡ vào thức ăn lại gặp khó khăn lớn là thức ăn sẽ khó bảo quản hơn, dễ bị ôi thiu dẫn đến làm hỏng thức ăn hoặc gây ngộ độc cho gia súc Khả năng tiêu hoá lipit của lợn con tăng theo tuổi của chúng Trong 2 tuần đầu sau cai sữa, thì lượng mỡ bổ sung nên hạn chế ở mức 2 – 3% khẩu phần là đủ Tính dễ tiêu hoá của lipit có thể tăng từ 69% (trong tuần lễ đầu tiên) lên tới 88% ở 4 tuần sau cai sữa Sau 3 – 4 tuần sau cai sữa tỷ lệ lipit trong khẩu phần ăn có thể tăng lên 4 – 5% Khi bổ sung 5% mỡ lợn và hạt dầu cải vào thức ăn tập cho lợn con bú sữa và cho lợn cai sữa 6 – 8 tuần đã thu được hiệu quả rõ rệt Cần chú ý nếu gluxit và lipit không cân bằng xảy

ra các thể xetôn trong quá trình oxy hoá Bình thường xetôn trong máu đạt

1 – 2mg%, nhưng khi dùng mỡ là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu thể xetôn tăng 200 – 300mg% gây hiện tượng xetôn huyết, xetôn niệu, cơ thể lợn bị toan huyết, lợn con chết trong trạng thái hôn mê, vì vậy trừ sữa mẹ

ra thức ăn bổ sung cần có hàm lượng mỡ chỉ vừa đủ

2.2.3 Nhu cầu về protein và axít amin cho lợn con

Protein là nguyên liệu quan trọng cấu tạo nên tế bào Cơ của lợn chiếm 35 – 40% protein, lợn con có tốc độ phát triển mạnh về hệ cơ, khả năng tích luỹ protein lớn do đó đòi hỏi số lượng và chất lượng protein cao Cần cung cấp

21 -23 % protein thô trong khẩu phần

Theo Close và Menke (1996)[31], lợn con có tốc độ tăng trưởng trung bình 200g/ngày ở tuần tuổi thứ hai và 350 g/ngày ở tuần tuổi thứ năm Trong hai tuần lễ đầu các chất dinh dưỡng của lợn con chủ yếu do sữa mẹ cung cấp

Trang 20

Từ tuần tuổi thứ ba sữa của lợn mẹ không đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng cho lợn con do đó cần phải bổ sung thức ăn cho lợn con gọi là thức ăn “Creepfeed” Thức ăn này chứa 20 – 22% protein thô và dễ dàng tiêu hoá đối với lợn con Tỷ

lệ tiêu hoá protein của lợn con không chỉ phụ thuộc vào nguồn gốc mà còn phụ thuộc vào tỷ lệ protein trong thức ăn, hiệu quả sử dụng protein sẽ giảm khi mức protein trong khẩu phần tăng (Zintzen và cộng sự, 1975)[62]

Trong chăn nuôi, người ta thường xác định nhu cầu protein của vật nuôi

theo protein thô và protein tiêu hoá

Để có sự tích luỹ protein thoả mãn thì tất cả axít amin trong thức ăn phải đảm bảo đầy đủ số lượng cũng như chất lượng Sự cân bằng axít amin trong khẩu phần của lợn là rất cần thiết để tổng hợp protein ở các mô Khi thiếu một trong những axít amin cần thiết sẽ dẫn đến thiếu protein của cơ thể

Hiện nay, trong các sản phẩm sinh học có hơn 100 loại axít amin đã được phát hiện, trong đó khoảng 20 – 22 axít amin quan trọng trong dinh dưỡng động vật Trong cơ thể động vật một số axít amin có thể tạo ra trong quá trình chuyển hoá từ các axít amin khác hoặc từ hợp chất chứa nhóm amin

đó là những axít amin không thiết yếu (non-essential axít amin), ngược lại có những axít amin mà cơ thể không tự tổng hợp được hoặc chuyển hoá được, chúng nhất thiết phải đưa vào cơ thể bằng thức ăn, đó là những axít amin thiết yếu Có 10 axít amin thiết yếu là: Lysine, Isoleucine, Histidine, Phenylanine, Methionine, Acginine, Tryptophan, Valine, Threonine, Leucine

Để có sự tích luỹ protein thoả mãn thì tất cả axít amin trong thức ăn phải đảm bảo đầy đủ số lượng cũng như chất lượng Sự cân bằng axít amin trong khẩu phần của lợn là rất cần thiết để tổng hợp protein ở các mô Khi thiếu một trong những axít amin cần thiết sẽ dẫn đến thiếu protein của cơ thể NRC (1998)[50] đã đưa ra nhu cầu về năng lượng trao đổi (ME), protein thô và một

số axít amin cho lợn con (bảng 2.1)

Trang 21

Khuyến cáo về nhu cầu dinh dưỡng cho lợn con cũng còn nhiều ý kiến Theo ỦY Ban Dinh Dưỡng động vật (CKB/HA394,2001) [32] đã khuyến cáo nhu cầu ME, protein thô và một số axít amin tổng số cho lợn con (bảng 2.2)

(Theo ỦY Ban Dinh Dưỡng động vật (CKB/HA394,2001) [32]

Nghiên cứu của Williams, và cs (1994)[63] về nhu cầu axít amin cho lợn tính theo Lysine cho biết, nếu lấy Lysine là 100% thì Isoleucine là 54%; Histidine là 32%; Valine là 68%; Tyrosine+Phenylanine là 33%; Leucine là 101%’ Methionine là 33%; Methionine+Cystine là 57%; Tryptophan là 18%; Threonine là 63%

Lysine là một trong 10 axít amin không thay thế quan trọng bậc nhất Nó có tác dụng làm tăng tốc sinh trưởng, tăng sức sản xuất thịt Nó còn cần thiết cho

Bảng 2.1 Nhu cầu ME, protein thô và một số axít amin cho lợn con

Trang 22

sự tổng hợp nucleotit, hồng cầu, cho sự trao đổi bình thường của protein, nếu thiếu nó trong thức ăn thì hoạt động sống và năng suất của động vật bị giảm sút Thiếu Lysine làm giảm năng suất thịt, làm giảm lượng hồng cầu, huyết sắc tố và tốc độ chuyển hoá canxi, photpho gây còi xương, thoái hoá cơ, làm rối loạn hoạt động sinh dục Yêu cầu Lysine trong thức ăn lợn phụ thuộc vào giống, lứa tuổi và tính năng sản xuất của lợn Khi khẩu phần thiếu hụt Lysine

ta có thể bù đắp bằng việc bổ sung vào khẩu phần L-Lysine tổng hợp từ vi sinh vật Việc bổ sung này mang nhiều lợi ích như cân đối được Lysine trong khẩu phần, giảm phần nào protein động vật là các nguyên liệu đắt tiền Tuy nhiên việc bổ sung này cần được hạn chế không nên vượt quá 0,5%

Bởi vì nếu thừa Lysine sẽ làm giảm khả năng sinh trưởng và giảm hiệu quả sử dụng thức ăn Khi thừa Lysine sẽ làm mất mát Arginine dẫn đến mất cân bằng axít amin Tính đối kháng của cặp axít amin Lysine và Arginine cần được chú ý khi bổ sung Lysine

Để xác định nhu cầu axít amin cho lợn, người ta thường tính nhu cầu Lysine Sau đó dựa trên mẫu protein lý tưởng để tính toán nhu cầu các axít amin còn lại Có thể sử dụng phương trình sau để tính nhu cầu Lysine cho lợn con ( Theo NRC, 1998)[50]

Lysine (%) = 1.793 – (0,0873BW) + (0,00429BW2) – ( 0,000089BW2 )

Trong đó :

- Nhu cầu Lysine tính theo % vật chất khô của khẩu phần

- BW là khối lượng cơ thể của lợn con

Thừa “Yếu tố hạn chế” hay “Không hạn chế” đều làm giảm sự tổng hợp protein của cơ thể Khi thừa axít amin thì trước hết làm giảm sự thu nhận thức

ăn của con vật Người ta vận dụng điều này để điều chỉnh lượng thu nhận thức

ăn của vật nuôi Thừa axít amin còn làm thay đổi quan hệ cân bằng axít amin, tạo ra “Yếu tố hạn chế mới” Thí nghiệm trên chuột cho biết dùng Methionine

Trang 23

gấp ba lần nhu cầu của chuột sẽ gây độc Độ độc của một axít amin lớn hơn hỗn hợp nhiều axít amin (Vũ Duy Giảng, 1996) [4] Cho biết khi cung cấp thừa một hay một số axít amin, mặc dù sự có mặt của chúng đều trên ngưỡng cần thiết nhưng lại làm tăng giá thành do giảm hiệu quả sử dụng thức ăn

2.2.4 Nhu cầu về khoáng cho lợn con

Khoáng ngoài chức năng cấu tạo mô cơ thể, khoáng còn tham gia vào nhiều qúa trình chuyển hoá của mô cơ thể Treong thành phần cấu tạo của nhiều enrym có mặt các nguyên tố khác nhau Vì thế, thiếu khoáng con vật sẽ

bị rối loạn trao đổi chất, sinh trưởng, sinh sản bị ngừng trệ, sức sản xuất giảm Sữa của lợn mẹ có đầy đủ các chất dinh dưỡng nhưng hàm lượng các chất khoáng trong sữa mẹ thấp, trong đó các chất khoáng như: Ca, P, Mg, I, Fe, Cu,

Zn Nên lợn con cần bổ sung khoáng qua thức ăn hoặc nước uống

2.2.5 Nhu cầu về vitamin cho lợn con

Từ “vitamin” miêu tả một hợp chấp hữu cơ khác với axít amin, carbohydrate và lipid, và nhu cầu cần một lượng nhỏ cho sự tăng trưởng và sinh sản bình thường Một số vitamin không cần có trong khẩu phần vì chúng

có thể được tổng hợp từ các thức ăn hoặc các chất đồng hoá khác hoặc do các

vi khuẩn tạo ra trong đường ruột Vitamin tan trong nước gồm các vitamin nhóm B (biotin, choline, folic acid, niacin, axit, pantothenic, riboflavin, thiamin, B6, B12) và vitamin C (axits ascobric) Các vitamin tan trong dầu gồm vitamin A, D, E và K Vitamin cần chủ yếu là các đồng enzym trong đồng hoá các chất dinh dưỡng Trong nguyên liệu thức ăn, vitamin chủ yếu tồn tại như các tiền chất hoặc đồng enzym có thể được liên kết hoặc tổ hợp theo một số cách Do đó, cần quá trình tiêu hoá để giải phóng hoặc chuyển hoá các tiền chất của vitamin hoặc hợp chất thành dạng sử dụng và hấp thụ được Nhu cầu đối với từng vitamin ở các giai đoạn khác nhau trong vòng đời

Để tránh sự thiếu vitamin và thường cho thêm vào khẩu phần của lợn Thêm

Trang 24

nhiều vitamin A và D đã gây độc ở lợn và ngược lại, rất ít triệu chứng ngộ độc đối với vitamin nhóm B hoặc E và K Một số nghiên cứu mới đây cho rằng các mức khuyến cáo của Hội đồng nghiên cứu quốc gia về bổ sung vitamin nhóm B: riboflavin, niacin, axit pantothenic, và B12) không phù hợp

để cho năng suất cao nhất ở lợn mới cai sữa, hoặc lợn có tỷ lệ nạc cao theo Stahly và cs, (1995)[55] Thực tế bổ sung vitamin B2 gấp 2- 10 lần nhu cầu ước tính có xu hướng cải thiện tỷ lệ tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn

ở lợn Tuy nhiên, còn chưa biết cần ở mức độ nào ( cao hơn so với đề xuất của hội đồng nghiên cứu quốc gia Mỹ, (NRC, 1998)[50] Lendemann và cs (1995)[42] quan sát thấy xu hướng cải thiện tăng khối lượng và lượng thức ăn

ăn vào ở lợn cai sữa dùng liều gấp 5 lần khuyến cáo của NRC (1998)[50] (kể

cả vitamin tan trong dầu) song hiệu quả sử dụng thức ăn kém hơn Trong một nghiên cứu khác nhóm này đã dùng liều 7,5 lần liều tiêu chuẩn NRC (1998)[50] đã không thấy kết quả Trong phần lớn các nghiên cứu kể trên các vitamin được dùng phối hợp và liều tăng cường không thể xác định được cho riêng từng vitamin Vì vậy, nhu cầu vitamin nhóm B cho lợn cai sữa không thay đổi, cần có thêm nhiều nghiên cứu nữa để làm rõ điều này

2.3 Ảnh hưởng của thức ăn đên tỉ lệ tiêu hoá của lợn

Có nhiều yếu tố nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiêu hoá các chất dinh dưỡng của lợn Ngoài những yếu tố thuộc về bản thân con vật như giống, tuổi, giới tính thể trạng và sức khoẻ thì các yếu tố bên ngoài như thức ăn, điều kiện môi trường là những yếu tố quan trọng.Trần Quốc Việt và CS (1996)[19] cho biết thức ăn là yếu tố rất quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ tiêu hoá của gia súc nói chung và của lợn nói riêng Thức ăn ảnh hưởng đến tỷ lệ tiêu hoá tuỳ thuộc vào loại thức ăn; tỷ lệ từng loại nguyên liệu thức ăn có trong khẩu phần; tỷ lệ các chất dinh dưỡng có trong thức ăn như protein, axít amin các vitamin và khoáng, phương pháp chế biến thức ăn và cách cho ăn

Trang 25

2.3.1 Loại thức ăn và tỷ lệ phối trộn thức ăn trong khẩu phần

Các loại thức ăn khác nhau có ảnh hưởng khác nhau đến khả năng tiêu hoá, do ảnh hưởng trực tiếp đến sự tiết dịch của bộ máy tiêu hoá Tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô (VCK) của đầu tôm là 80% (Lê Đức Ngoan, 2000)[17] Trần

Cừ và cộng sự (1979) dẫn theo Lương Đức Phẩm (1982)[14] thí nghiệm cho lợn ăn các khẩu phần có cùng mức protein nhưng khác nhau về nguyên liệu thức ăn Kết quả cho thấy hàm lượng các dạng nitơ trong nhũ chấp ruột khác nhau, cao nhất khi cho lợn ăn khẩu phần có ngô, tiếp đến là khẩu phần có cám trộn bột mỳ và thấp nhất là khẩu phần cám

Fanimo và cộng sự (2004)[37], nghiên cứu về giá trị thức ăn của bột tôm cho lợn đã kết luận, khi thay thế hoàn toàn bột cá bằng bột tôm thì làm giảm tăng khối lượng của lợn từ 0,41 kg/ngày xuống còn 0,32kg/ngày Nguyên nhân của sự giảm tăng khối lượng này là do protein trong bột tôm (39,45%) thấp hơn trong bột cá (64,5%).Hàm lượng các axít amin thiết yếu trong bột tôm thiếu cân đối hơn so với bột cá, làm tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng trong khẩu phần chứa bột tôm đã làm giảm khả năng tiêu hoá protein của chúng Kết quả tượng tự cũng được công bố trong thí nghiệm thay thế hoàn toàn bột cá bằng bột đầu tôm trên lợn thịt

Thức ăn nhiều nước làm giảm khả năng tiết nước bọt Pha loãng thức ăn với nước theo tỷ lệ 1:3 (dạng cháo) thì tuyến nước bọt hầu như không tiết Cùng một loại axít amin nhưng bắt nguồn từ loại nguyên liệu thức ăn khác nhau thì tỷ lệ tiêu hoá khác nhau

Thành phần thức ăn trong khẩu phần cũng ảnh hưởng đến khả năng tiết dịch tiêu hoá của gia súc

Dilger và cộng sự (2004)[36] thí nghiệm về tiêu hoá nitơ và axít amin của khẩu phần chứa bột đậu nành trộn với vỏ đậu nành, đã đưa ra kết luận cứ thêm vào khẩu phần ăn của lợn giai đoạn sinh trưởng 1% vỏ đậu nành thì làm

Trang 26

giảm 0,2% tỷ lệ tiêu hoá một số axít amin thiết yếu

Trần Cừ và cộng sự (1985)[1] thí nghiệm về mức tiêu hoá của ba khẩu phần có tỷ lệ của các loại thức ăn ngô mảnh, cám, gạo, bột mỳ, khô dầu lạc, rau lấp, bột xương khác nhau trên lợn lai Móng cái x Đại Bạch đã kết luận có

sự khác nhau về khả năng sử dụng nitơ giữa các khẩu phần thí nghiệm

Bakeeva dẫn theo Trần Cừ và cộng sự (1985)[1] đã thí nghiệm trên lợn với các khẩu phần có cùng loại thức ăn nhưng tỷ lệ phối trộn khác nhau, kết quả khẩu phần có củ cải nhiều hơn khoai tây thì dịch tiêu hoá tăng 2,6 lần so với khẩu phần toàn thức ăn tinh Ngược lại khẩu phần có khoai tây nhiều hơn

so với củ cải thì lượng dịch tiêu hoá chỉ tăng lên 1,6 lần

Lien và cộng sự (1993)[44] cho rằng nếu dùng nguồn thức ăn bổ sung cho lợn bằng đầu tôm ủ rỉ mật đường (tỷ lệ 3:1) và bột máu gia súc thì chỉ nên

sử dụng ở mức 5% tính theo vật chất khô của khẩu phần Nếu tăng lên 10% sẽ làm giảm lượng thức ăn thu nhận và chi phí thức ăn

2.3.2 Thành phần các chất dinh dưỡng trong thức ăn

Khi khẩu phần thức ăn không cân bằng các chất dinh dưỡng sẽ gây căng thẳng với cơ quan tiêu hoá, từ đó giảm sự đồng hoá thức ăn Khẩu phần thiếu protein sẽ làm tăng hoạt động của cơ quan tiêu hoá, làm thải nhiều nitơ theo dịch tiêu hoá điều nay sẽ làm tăng cao tỷ lệ nitơ trao đổi theo phân, kết quả làm cho lợn bị thiếu protein

Campbell (1988)[26] cùng nhiều tác giả đã chứng minh là, khi lượng protein ăn vào thấp hơn nhu cầu protein cần cho tích luỹ thì protein tích luỹ sẽ tương quan tuyến tính với protein ăn vào và không bị ảnh hưởng bởi năng lượng ăn vào (đây gọi là pha protein độc lập) Còn khi lượng protein ăn vào vượt quá nhu cầu protein cần cho tích luỹ sẽ tương quan tuyến tính với năng lượng đưa vào và không bị ảnh hưởng bởi protein ăn vào (gọi là pha năng lượng độc lập)

Trang 27

Otto và cộng sự (2003)[52], nghiên cứu về cân bằng nitơ và tiêu hoá axít amin hôi tràng ở lợn đã đưa ra kết luận là có thể giảm protein khẩu phần từ 15% xuống 12% trong điều kiện có bổ xung axít amin tổng hợp vào khẩu phần mà không ảnh hưởng xấu đến tích luỹ nitơ đối với lợn giai đoạn sinh trưởng Lợn dường như được bù lại việc giảm protein khẩu phần bằng việc gia tăng khả năng tiêu hoá axít amin được bổ sung

Baker và cộng sự (1993)[24], thí nghiệm trên lợn sinh trưởng đã kết luận tăng khối lượng của lợn giảm một cách tuyến tính khi tăng mức protein thô trong khẩu phần lên từ 16,32 và 48% Lượng thức ăn thu nhận cũng bị giảm và màu lông trở nên xám xịt Các kết quả nghiên cứu khác cũng cho biết khẩu phần có mức protein cao hơn nhu cầu của lợn thì làm giảm khả năng hoạt động của một số enzym tổng hợp mỡ

Theo một nghiên cứu khác của Kerr (2003)[41], lợn nuôi bằng khẩu phần chứa 12% protein thô có bổ sung thêm một axít amin thì lượng nhiệt thất thoát thấp hơn so với khẩu phần chứa 16% protein thô Nyachoti và cộng sự (2000)[51]; Yen (1997)[61] cho biết khẩu phần chứa quá mức protein thô làm tăng tiêu tốn năng lượng cho việc phân giải protein dư thừa, ảnh hửơng đến sự trao đổi năng lượng trong cơ thể động vật

Nguyễn Kim Đường và cộng sự (2002)[2] thí nghiệm trên lợn thịt F1 (Đại Bạch x Móng Cái) có khối lượng ban đầu là 23,67kg với các khẩu phần

có mức độ proein thô là 17-15%, 15-13% và 14-12%, tương ứng với hai giai đoạn nuôi các tác giả đã kết luận khẩu phần chưa mức protein thấp ( 14-12%)

có tăng khối lượng cao hơn và tiêu tốn thức ăn thấp hơn khẩu phần chứa các mức protein thô là 17-15% và 15-13%

Theo Trần Cừ và Nguyễn Khắc Khôi (1985)[1], tỷ lệ giữa gluxít và chất chứa nitơ trong khẩu phần có ảnh hưởng đến sự tiêu hóa protein ở dạ dày lợn Khi trong thức ăn có chứa nhiều gluxít dễ tan sẽ làm giảm rõ rệt sự thuỷ phân

Trang 28

protein ở dạ dày Với khẩu phần thức ăn hạt có 32,3% protein được thuỷ phân khi cho thêm 6,5% củ cải đường thì sự thuỷ phân protein ở dạ dày hầu như không có Như vậy, nếu tăng tỷ lệ gluxít trong khẩu phần đến mức nào đó sẽ làm giảm sự thuỷ phân protein

Lợn chỉ có thể đạt được năng sản suất cao khi khẩu phần cân bằng dinh dưỡng hoàn hảo Khẩu phần có giá trị dinh dưỡng hoàn hảo là khẩu phần có chứa cân bằng các yếu tố dinh dưỡng như năng lượng, protein, axít amin, lipit, gluxít, vitamin, khoáng … Vì vậy đối với mỗi nước, mỗi vùng, tuỳ theo giống lợn và điều kiện thức ăn mà phân tích, tính toán phối hợp khẩu phần để tạo ra lượng sản phẩm tối đa với chất lượng cao và giá thành hạ theo (Trần Cừ

và Nguyễn Khắc Khôi, 1985)[1]

2.3.3 Phương pháp chế biến thức ăn

Chế biến thức ăn làm tăng giá trị dinh dưỡng của một số loại thức ăn Các phương pháp chế biến thức ăn thường dùng là nghiền, xử lý nhiệt, ủ tạo viên, chiết xuất dầu … Tuỳ theo loại thức ăn, đối tượng gia súc mà có sử dụng phương pháp chế biến ăn thích hợp để làm tăng khả năng ăn vào cũng như tăng tỷ lệ tiêu hoá

Fastinger và Mahan (2003)[39] thí nghiệm về ảnh hưởng của kích cỡ bột đậu nành (900, 600, 300, và 150 µm) đến khả năng tiêu hoá axít amin và năng lượng trên lợn Kết quả cho thấy, khi kích cỡ hạt bột giảm thì khả năng tiêu hoá các axít amin tăng lên, trong đó các axít amin thiết yếu tăng rõ rệt hơn so với axít amin không thiết yếu Khả năng tiêu hoá các axít amin đạt cao nhất khi hạt bột đậu nành có kích cỡ 600µm Nhóm tác giả cũng đã kết luận, kích

cỡ hạt bột đậu nành không ảnh hưởng đến khả năng tiêu hoá năng lượng của lợn Mailliard và cộng sự (1995)[45] giải thích có sự khác nhau về ảnh hưởng

có sự khác nhau về kích cỡ hạt bột đậu nành đến khả năng tiêu hoá các axít amin thiết yếu là do có sự hấp thu một lượng lớn các axít amin thiết yếu và

Trang 29

không thiết yếu qua ruột non Khi nghiên cứu về vấn đề này, Wondra và cộng

sự (1995)[58]cũng cho rằng kích cỡ hạt thức ăn ảnh hưởng đến khả năng tiêu hoá các chất dinh dưỡng, kích cỡ hạt càng nhỏ làm tăng diện tích tiếp xúc bề mặt của thức ăn với các enzyme phân huỷ các chất dinh dưỡng Kích cỡ hạt bột từ 600 – 700µm được giới thiệu phổ biến cho hầu hết các khẩu phần ăn của lợn theo (Wondra và cộng sự, 1995)[59] Những kết quả tương tự cũng đã được công bố bởi Caine và cộng sự (1997)[25]; Hodgkinson và cộng sự (2000)[40]; NRC(1998)[50]; Traylor và cộng sự (2001)[57]

Xử lý nhiệt đối với thức ăn hạt, đặc biệt là hạt họ đậu sẽ loại bỏ được các chất kháng dinh dưỡng, nhờ đó đã làm tăng tỷ lệ tiêu hoá và giá trị sinh vật học của protein thức ăn (Lã Văn Kính, 2003)[8].Sử dụng nguyên liệu làm chín bằng phương pháp ép đùn sẽ mang lại nhiều hiệu quả tích cực Trong quá trình ép đùn làm gelatin hoá tinh bột, phá vỡ tinh bột thành các hạt có kích thước nhỏ hơn, protein đã chín và phân tán nên dễ tiêu hoá và hấp thu hơn, nhờ đó mà cải thiện khả năng tiêu hoá và sử dụng thức ăn của lợn con Nhờ vào nhiệt độ của hơi nước và ma sát toàn bộ vi khuẩn đã bị tiêu diệt kể cả vi sinh vật gây bệnh vì vậy nguy cơ nhiễm bệnh giảm Các yếu tố kháng dinh dưỡng bị phá huỷ bởi nhiệt trong quá trình ép đùn làm tăng giá trị năng lượng

sử dụng và ức chế men Lypoxygenaza là tác nhân gây ra các mùi lạ trong quá trình bảo quản Đồng thời tạo cho thức ăn có mùi vị hấp dẫn hơn do đó sẽ tăng lượng thức ăn ăn vào và tăng khối lượng của lợn được cải thiện

2.4 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước

2.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Trong những năm gần đây, nghiên cứu về dinh dưỡng về thức ăn cho lợn con được nhiều nhà khoa học quan tâm Nhất là nhu cầu dinh dưỡng và thức

ăn cho lợn con tập ăn và lợn con sau cai sữa Đặc biệt với kỹ thuật cai sữa sớm cho lợn con để nâng cao năng xuất lợn nái nói riêng và hiệu quả chăn

Trang 30

nuôi lợn nói chung, thì vấn đề dinh dưỡng về thức ăn đối với lợn con ngày càng nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu

Xác định nhu cầu dinh dưỡng cho lợn con, Nguyễn Nghị và cộng sự (1994)[11]đã đưa ra kết luận, mức 18% protein thô với 1,28% Lysine là phù hợp cho lợn con Tuy nhiên, các tác giả chưa xác định được nhu cầu các axít amin khác cho lợn con Mặt khác, kết quả này đưa ra nhu cầu về protein và Lysine thấp hơn khá nhiều so với công bố của NRC, DPI với mức protein là 21% và 1,40% Lysine

Hàng loạt nghiên cứu của Lã Văn Kính và cộng sự ( 1999, 2001 )[ 5,6] về cải tiến giống lợn đã cho biết khẩu phần tốt nhất cho lợn con cai sữa có mức năng lượng từ 15 – 16 MJDE/kg và 1,0 – 1,1 g Lysine; 0,40 – 0,44g Methione; 0,57 – 0,63g Methionine + Cystine; 0,63 – 0,70 g Threonine và 0,18 – 0,2g Tryptophan

Trần Quốc Việt và cộng sự (1996)[19] nghiên cứu trên lợn con sau cai sữa, giai đoạn 28 – 60 ngày tuổi đã kết luận mức năng lượng thích hợp là 3300- 3400 Kcal ME/kg, hàm lượng protein từ 20 – 22%; 1,40 – 1,50% Lysine; 0,78 – 0,85% Metthionine + Cystine; 0,88 – 0,95% Threonine và 0,25 – 0,27 % Tryptophan

Tuy nhiên, một vấn đề rất quan trọng khi nghiên cứu thức ăn cho lợn con

là việc sử dụng hợp lý và phương pháp chế biến các nguyên liệu thức ăn theo

Lã Văn Kính (2001)[6] cho biết, xử lý ngô bằng phương pháp ép đùn có rất nhiều ưu điểm Xử lý ngô ép đùn trong khẩu phần ăn cho lợn con sau cai sữa

đã làm tăng khả năng sinh trưởng, tăng lượng thức ăn thu nhận và hiệu quả sử dụng thức ăn

Theo Lê Thanh Hải và cộng sự (1999)[5], xác định nhu cầu năng lượng

và axít amin cho lợn con lai 3 máu sau cai sữa ở 28 ngày tuổi cho biết mức

Trang 31

năng lượng tăng từ 14 – 16 MJDE và Lysine tăng từ 0,8 – 1,1 g/MJDE đã làm tăng khả năng tăng khối lượng cơ thể và hiệu quả sử dụng thức ăn

Kết quả nghiên cứu của Lã Văn Kính (2002)[7], xác định mức protein và axít amin tối ưu cho lợn con sau cai sữa đã kết luận hàm lượng protein là 22% với 1,5% Lysine; 0,85% Methionine + Cystine; 0,9% Threonine và 0,27% Tryptophan là thích hợp cho lợn con từ 28 – 42 ngày tuổi Nghiên cứu thức ăn cho lợn con tập ăn, theo Lã Văn Kính và Vương Nam Trung (2003)[8] cho biết thức ăn có 3300 KcalME/kg với 1,6% Lysine; 0,43% Methionine; 0,91% Methionine + Cystine và 0,96% Threonine là phù hợp Các tác giả còn cho biết, thay thế 40% bột cặn sữa bằng lactose trong khẩu phần của lợn con tập

ăn đã không ảnh hưởng đến khả năng tăng khối lượng và lượng thức ăn thu nhận mà còn giảm 2,71% chi phí thức ăn

Nghiên cứu ảnh hưởng của axít hữu cơ đến năng suất lợn con ở Việt Nam, Dương Thanh Liêm và cộng sự (2001)[10] đã kết luận, axít Lacdry có tác dụng sinh học tốt, cải thiện được các chỉ tiêu về năng suất và sức khoẻ lợn con rất rõ ràng, biểu hiện qua tăng khối lượng của lợn con ở lô thí nghiệm luôn cao hơn lô đối chứng và tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng lại thấp hơn Phòng ngừa tiêu chảy cho lợn con giai đoạn cai sữa bằng phương pháp sử dụng kháng sinh và khống chế thức ăn, Nguyễn Như Pho (2001)[15] cho biết ở ngày đâu cai sữa, hạn chế thức ăn ở mức 30% so với ăn tự do, các ngày sau tăng lên 35% đến ngày thứ tư cho ăn tự do đã có hiệu quả tốt nhất, giảm tỷ lệ tiêu chảy và tỷ lệ còi cọc Nâng cao khả năng tăng khối lượng và hiệu quả sử dụng thức ăn

Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung Bentonite trong khẩu phần đến hiệu quả bảo quản thức ăn, tốc sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn con sau cai sữa và lợn nuôi thịt, theo Trần Quốc Việt và cộng sự (2007)[20] cho biết, bổ sung bertonite trong thức ăn ở tỷ lệ 2% và 3% đã kìm

Trang 32

hãm được sự phát triển của nấm Mucor trong thời gian bảo quản và làm giảm đáng kể tỷ lệ hơn con bị tiêu chảy Hơn nữa, còn cải thiện được tốc sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn so với đối chứng

Tóm lại, trong những năm qua, nghiên cứu nhằm tăng năng suất đàn lợn con nói chung về dinh dưỡng, thức ăn cho lợn con nói riêng được nhiều tác giả quan tâm Đặc biệt những năm gần đây, nghiên cứu các loại thức ăn cho lợn con tập ăn và lợn con cai sữa là vấn đề thời sự Việc sản xuất các loại thức

ăn này còn nhiều hạn chế Vì vậy vẫn cần phải tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện để đưa vào sản xuất

2.4.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Các nghiên cứu của nước ngoài về tiêu chuẩn thức ăn cho lợn con từ tập

ăn tới cai sữa khá phong phú và được nhiều tác giả trên thế giới quan tâm Từ nghiên cứu nhu cầu các chất dinh dưỡng đến việc sử dụng các nguyên liệu thức ăn trong khẩu phần đã có nhiều công bố khoa học có giá trị

Khi nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng, nhu cầu năng lượng luôn được các tác giả quan tâm, bởi vì mức năng lượng là “ chìa khóa chính” cần sử dụng khi phối hợp khẩu phần ăn cho vật nuôi nói chung và lợn con nói riêng Theo Wililam (1976), dẫn theo Camplell và Dunkin (1983)[28] thì một mức năng lượng phù hợp không những đóng vai trò quan trọng với các hoạt động của

cơ thể mà còn làm tăng tỷ lệ protein tích luỹ Tuy nhiên các kết quả nghiên cứu về nhu cầu năng lượng cho lợn con từ tập ăn tới cai sữa trên thế giới là không thống nhất Theo NRC (1998)[50] khuyến cáo mức năng lượng cho lợn con là 14,3 MJDE/ kg

Theo Farrell (1979)[38] phần lớn khẩu phần ăn cho lợn con sử dụng ở Bắc Mỹ thì năng lượng trao đổi chiếm khoảng 94 – 97%, trung bình là 96% năng lượng tiêu hoá

Deny Cheng Liu (2002)[34] cho biết, cần cai sữa sớm lợn con để nâng

Trang 33

cao năng suất lợn nái và hiệu quả chăn nuôi lợn Cai sữa sớm lợn con sẽ làm tăng số lợn con sinh ra từ một nái trong năm và là cơ sở để tăng lượng thịt sản xuất từ mỗi cơ sở chăn nuôi lợn, một chỉ số quan trọng trong chăn nuôi Tác giả còn cho biết, lợn con cai sữa sớm thường ăn ít, tăng khối lượng thấp, hay

bị tiêu chảy và tỉ lệ chết cao Để cai sữa sớm đạt hiệu quả, cần sử dụng thức

ăn tập ăn có chất lượng cao

Akey (2002)[23] cho biết, huyết tương (plasma) là loại thức ăn giàu kháng thể và axít amin rất cần thiết đối với lợn con cai sữa sớm Do đó, nếu cung cấp plasma dưới dạng lỏng qua nước uống rất tốt cho lợn con ngay sau khi cai sữa Bởi vì sau khi cai sữa lợn con ăn rất ít nhưng lại tìm đến nước uống trước tiên Derouchey và cộng sự (2004) sử dụng phương pháp chiếu xạ

để khử trùng plasma rất hiệu quả và có tác dụng tốt với lợn con

Nghiên cứu sản xuất thức ăn cho lợn con,Trygve Veum và Joe Marks (1998) dẫn theo Akey (2002)[23] cho biết, có thể giảm giá thành thức ăn nên dùng 2% plasma + 2,76% bột cá có chất lượng cao và 1,53% bột tế bào máu Akey (2002) cho biết tỷ lệ Lysine trong thức ăn cai sữa sớm của lợn con là 1,6 – 1,8%, cần hạn chế sử dụng nguồn protein từ khô dầu đậu tương Sử dụng plasma có tính kích thích tính thèm ăn, giúp lợn con sau khi cai sữa ăn được nhiều thức ăn

Augenstein và cộng sự (1997)[67] cho biết, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến lợn con sau cai sữa Cần phải chú ý đến môi trường sống, qui trình nuôi dưỡng và đặc biệt là chế độ dinh dưỡng hợp lý là chìa khoá của sự thành công trong cai sữa sớm lợn con

Khuyến cáo mức dinh dưỡng cho lợn con, Augenstein và cộng sự (1997)[67] đã đưa ra chương trình nuôi dưỡng lợn con thành 4 pha là SEW, pha 1 pha 2 và pha 3 SEW là thức ăn tập ăn tới 2,5 tuần tuổi (khối lượng lợn con < 5 kg ), Lysine là 1,7%; Methionine + Cysteine 1,02% Pha 1 thức ăn tới

3 tuần tuổi (khối lượng 5 – 7 kg) mức Lysine là 1,5%; Methionine + Cysteine

Trang 34

là 0,9% Pha 2 và pha 3 (trên 4 tuần tuổi), sử dụng mức Lysine là 1,25%; Methionine + Cysteine là 0,75%

Steve Dritz (2004)[68] lại khuyến cáo mức Lysine cho 4 pha tương ứng

là 1,6 – 1,7%; 1,5 - 1,6%; 1,3 – 1,5% và 1,25 – 1,45% Mức Methionine là 0,44 – 0,47% ở pha SEW; 0,38 – 0,43% ở pha 1; 0,36 – 0,41% ở pha 2 và 0,34 – 0,40% ở pha 3

Nghiên cứu sử dụng bột huyết tương phun sấy cho lợn con cai sữa sớm, Richard và cộng sự (2004)[53] cho biết, sử dụng huyết tương đã làm tăng khả năng sinh trưởng và tăng lượng thức ăn thu nhận của lợn con Tuy nhiên tỷ lệ

sử dụng huyết tương phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi cai sữa, stress môi trường, sức khoẻ và thành phần thức ăn Tỷ lệ dùng huyết tương thích hợp trong khẩu phần thức ăn cho lợn con trong khoảng từ 2 – 8%

Có thể nói nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng cho lợn con cũng còn nhiều ý kiến khác nhau Song một vấn đề quan trọng luôn thống nhất là đối với lợn con và đặc biệt là lợn con cai sữa sớm, vấn đề lựa chọn nguyên liệu thức ăn và tỷ lệ hợp lý các nguyên liệu thức ăn sử dụng trong khẩu phần là vấn đề then chốt Ngoài ra, việc tạo một môi trường thích hợp và qui trình nuôi dưỡng hợp lý là những yếu tố tạo nên sự thành công trong việc cai sữa sớm lợn con

Trang 35

3 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Lợn con lai giống ngoại Landrace x Yorkshire (LxY) từ 7 - 28 ngày tuổi

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

+ Địa điểm nghiên cứu:

- Nhà máy thức ăn TOP FEEDS, phòng kiểm tra chất lượng sản phẩm (KCS) thuộc Công ty Cổ phần DaBaCo Việt Nam

- Trại giống lợn Thuận Thành - Công ty Cổ phần DaBaCo Việt Nam + Thời gian nghiên cứu: từ 10 / 2007 – 7 / 2008

3.3 Nội dung nghiên cứu

+ Phân tích thành phần hoá học của một số nguyên liệu thức ăn chăn nuôi

+ Lựa chọn nguyên liệu, xây dựng công thức thức ăn tập ăn cho lợn con với 2 mức protein và 3 mức Lysine

+ Xác định ảnh hưởng của các công thức thức ăn thí nghiệm đến lợn con từ 7 – 28 ngày tuổi

3.4 Phương pháp phân tích thành phần hoá học của thức ăn thí nghiệm

+ Phương pháp lấy mẫu theo TCVN 4325: 2006

+ Chuẩn bị mẫu thử theo TCVN 6952: 2001 (TCVN, 2005)

+ Định lượng hàm lượng xơ thô theo TCVN 4329: 1986

+ Định lượng hàm lượng khoáng toàn phần theo TCVN 4327: 1986, tro hoá mẫu thức ăn ở nhiệt độ 500 - 550oC

+ Định lượng hàm lượng protein thô theo TCVN 4328: 2001 (TCVN, 2005)

Trang 36

+ Định lượng hàm lượng lipit thô theo TCVN 4321 : 2001 (TCVN, 2005) + Định lượng hàm lượng nước theo TCVN 4326: 2001 (TCVN, 2005)

Tỷ lệ vật chất khô (%) = 100 % - % nước

+ Dẫn xuất không nitơ (DXKN)

DXKN (%) = 100 - (% nước + % protein thô + % chất béo thô + % xơ thô + % khoáng tổng số)

+ Định lượng canxi theo AOAC, (1975)

+ Định lượng photpho theo AOAC, (1975)

+ Định lượng NaCl theo AOAC, (1975)

+ Định lượng hàm lượng protein thuần (Irma Tejada,1983)

- Nguyên lý:

Protein thuần có trong mẫu phân tích bị kết tủa bởi axit Trichloracetic Acid Lượng nitơ phi protein (NPN) không bị kết tủa sẽ được tách ra khi lọc, rửa thu kết tủa

- Cách tiến hành:

Tạo kết tủa protein

- Cân 1g mẫu phân tích đã nghiền nhỏ cho vào cốc 250ml

- Cho thêm 50ml nước cất, đặt lên bếp đun cách thuỷ ở nhiệt độ 45 -

500C trong vòng 45 phút

- Để nguội đến nhiệt độ phòng, cho 5 - 10ml dung dịch axit

Trichloracetic Acid 50% để kết tủa protein thuần có trong mẫu Khuấy đều và

để yên 30 - 40 phút

- Lọc kết tủa qua giấy lọc định lượng Tráng rửa sạch cốc và rửa kết tủa bằng dung dịch Trichloracetic Acid 2% từ 3 - 5 lần

Trang 37

- Đưa phễu và giấy lọc có kết tủa vào sấy ở nhiệt độ 70 - 800C trong 2 giờ, đến khi giấy lọc long ra khỏi phễu là được

- Cho giấy lọc và kết tủa protein vào bình Kjieldahl

- Tiến hành vô cơ hoá mẫu, cất mẫu và tính toán kết quả như phương pháp định lượng hàm lượng protein thô nói trên

+ Phương pháp xác định Nitơ bay hơi tổng số (Total volatile nitrogen - TVN) trong bột cá (Pearson, 1970, dẫn theo Irma Tejada,1983)

Phương pháp này xác định Nitơ amoniac như một chỉ thị để đo sự phân huỷ của protein Căn cứ vào hàm lượng Nitơ amoniac trong bột cá để xem nguyên liệu cá dùng để sản xuất bột cá có bị ươn hay không

Tiêu chuẩn :

- Bột cá dùng cho người có 20 – 30mg Nitơ amoniac/ 100g bột cá

- Bột cá tốt dùng cho gia súc : 115 – 117mg Nitơ amoniac/100g bột cá

- Bột cá hơi ươn : 450 – 500mg Nitơ amoniac/ 100g bột cá

- Bột cá quá ươn, kém : 1100 mg Nitơ amoniac/ 100g bột cá

+ Kiểm tra chất lượng chế biến của khô dầu đỗ tương

- Phương pháp kiểm tra (Irma Tejada,1983) Dùng dung dịch Phenol đỏ

- urê ñể kiểm tra

- Dung dịch Phenol đỏ - urê: Pha 0,14g phenol đỏ với 7ml NaOH 0,1N

và 35ml nước cất Lấy 21g urê pha vào 300ml nước cất, trộn 2 hỗn hợp trên, nhỏ dung dịch H2SO4 0,1N vào ñến khi xuất hiện màu hổ phách thì ngừng

- Cho 5-10 g mẫu đỗ tương hoặc khô đỗ tương vào đĩa Petri, dàn ñều trên đĩa sau đó dung dịch Phenol đỏ - urê ñến khi ngấm hết vào mẫu, 5 phút sau thì quan sát:

+ Nếu thấy màu đỏ xuất hiện vài chấm nhỏ hơn 5% bề mặt đĩa Petri, sản phẩm chín tốt

Trang 38

+ Nếu thấy màu đỏ xuất nhiều là sản phẩm còn sống phải điều chỉnh lại

nhiệt độ

+ Nếu không thấy màu đỏ xuất hiện, sản phẩm cháy, phải điều chỉnh lại nhiệt độ

+ Các axít amin của thức ăn thí nghiệm

Định lượng các axít amin của thức ăn thí nghiệm được tiến hành tại phòng phân tích trung tâm, Viện Chăn nuôi quốc gia

3.5 Phương pháp xây dựng công thức thức ăn hỗn hợp

Các công thức thức ăn hỗn hợp thí nghiệm được xây dựng theo chương trình Brill

3.6 Quá trình sản xuất thức ăn

Sản xuất thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cho lợn con tập ăn theo các bước sau:

Bước 1 Lựa chọn nguyên liệu

Bước 2: Xử lý nguyên liệu trước khi chế biến

Bước 3: Nghiền nguyên liệu

Bước 4: Cân định lượng nguyên liệu theo công thức

Bước 5: Trộn nguyên liệu

Bước 6: Ép viên – Làm nguội

Bước 7: Đóng gói

Trang 39

Sơ đồ qui trình công nghệ sản xuất thức ăn

22 Bin chứa trên máy trộn trong

Máy trộn

Dung dịch đường Dung dịch dầu,

mỡ

N.L vi lượng

Lọc túi Khí sạch

Gầu Vít tải

Thùng chứa hỗn hợp bột

Máy ép viên

Làm nguội Gầu tải

Thùng chứa sản phẩm bột

Sàng phân loại Cân đóng bao Cân đóng bao Khâu bao

Thành phẩm dạng bột

Thành phẩm dạng viên Khâu bao

Trang 40

3.7 Xác định ảnh hưởng của các công thức thức ăn đến lợn con thí nghiệm từ 7 – 28 ngày tuổi

Ngày đăng: 18/08/2013, 21:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Nhu cầu ME, protein thô và một số axít amin cho lợn con   (Theo NRC, 1998) [50] - Nghiên cứu thức ăn cho lợn con lai (landrace x yorkshire) từ 7   28 này tuổi tại công ty cổ phând DABACO việt nam
Bảng 2.1 Nhu cầu ME, protein thô và một số axít amin cho lợn con (Theo NRC, 1998) [50] (Trang 21)
Sơ đồ qui trình công nghệ sản xuất thức ăn - Nghiên cứu thức ăn cho lợn con lai (landrace x yorkshire) từ 7   28 này tuổi tại công ty cổ phând DABACO việt nam
Sơ đồ qui trình công nghệ sản xuất thức ăn (Trang 39)
Bảng 3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm - Nghiên cứu thức ăn cho lợn con lai (landrace x yorkshire) từ 7   28 này tuổi tại công ty cổ phând DABACO việt nam
Bảng 3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm (Trang 41)
Bảng 4.1 Thành phần hoá học của ngô và tấm gạo (n = 7) - Nghiên cứu thức ăn cho lợn con lai (landrace x yorkshire) từ 7   28 này tuổi tại công ty cổ phând DABACO việt nam
Bảng 4.1 Thành phần hoá học của ngô và tấm gạo (n = 7) (Trang 44)
Bảng 4.2 Thành phần hoá học của bột huyết tương, bột máu   và sữa Nuklospray (n= 5) - Nghiên cứu thức ăn cho lợn con lai (landrace x yorkshire) từ 7   28 này tuổi tại công ty cổ phând DABACO việt nam
Bảng 4.2 Thành phần hoá học của bột huyết tương, bột máu và sữa Nuklospray (n= 5) (Trang 48)
Bảng 4.3 Thành phần hoá học của một số loại bột cá (n=7) - Nghiên cứu thức ăn cho lợn con lai (landrace x yorkshire) từ 7   28 này tuổi tại công ty cổ phând DABACO việt nam
Bảng 4.3 Thành phần hoá học của một số loại bột cá (n=7) (Trang 50)
Bảng 4.4 Thành phần hoá học của một số loại đậu tương và khô dầu đậu tương (n = 7) - Nghiên cứu thức ăn cho lợn con lai (landrace x yorkshire) từ 7   28 này tuổi tại công ty cổ phând DABACO việt nam
Bảng 4.4 Thành phần hoá học của một số loại đậu tương và khô dầu đậu tương (n = 7) (Trang 58)
Bảng 4.5 Thành phần hoá học của nguyên liệu trong thức ăn thí nghiệm(%) - Nghiên cứu thức ăn cho lợn con lai (landrace x yorkshire) từ 7   28 này tuổi tại công ty cổ phând DABACO việt nam
Bảng 4.5 Thành phần hoá học của nguyên liệu trong thức ăn thí nghiệm(%) (Trang 61)
Bảng 4.6 Các công thức thức ăn cho lợn  thí nghiệm (%) - Nghiên cứu thức ăn cho lợn con lai (landrace x yorkshire) từ 7   28 này tuổi tại công ty cổ phând DABACO việt nam
Bảng 4.6 Các công thức thức ăn cho lợn thí nghiệm (%) (Trang 66)
Bảng 4.8  Thành phần hoá học của  thức ăn thí nghiệm (tính theo %) - Nghiên cứu thức ăn cho lợn con lai (landrace x yorkshire) từ 7   28 này tuổi tại công ty cổ phând DABACO việt nam
Bảng 4.8 Thành phần hoá học của thức ăn thí nghiệm (tính theo %) (Trang 69)
Bảng 4.9  Thành phần axít amin của thức ăn thí nghiệm (tính theo %) - Nghiên cứu thức ăn cho lợn con lai (landrace x yorkshire) từ 7   28 này tuổi tại công ty cổ phând DABACO việt nam
Bảng 4.9 Thành phần axít amin của thức ăn thí nghiệm (tính theo %) (Trang 70)
Bảng 4.10 Khối lượng lợn con thí nghiệm qua các giai đoạn - Nghiên cứu thức ăn cho lợn con lai (landrace x yorkshire) từ 7   28 này tuổi tại công ty cổ phând DABACO việt nam
Bảng 4.10 Khối lượng lợn con thí nghiệm qua các giai đoạn (Trang 72)
Đồ thị 4.1 Khối lượng của cơ thể lợn con từ sơ sinh đến 28 ngày tuổi - Nghiên cứu thức ăn cho lợn con lai (landrace x yorkshire) từ 7   28 này tuổi tại công ty cổ phând DABACO việt nam
th ị 4.1 Khối lượng của cơ thể lợn con từ sơ sinh đến 28 ngày tuổi (Trang 74)
Bảng 4.11 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm (g/con/ngày) - Nghiên cứu thức ăn cho lợn con lai (landrace x yorkshire) từ 7   28 này tuổi tại công ty cổ phând DABACO việt nam
Bảng 4.11 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm (g/con/ngày) (Trang 77)
Đồ thị 4.2 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con từ sơ sinh đến 28 ngày tuổi - Nghiên cứu thức ăn cho lợn con lai (landrace x yorkshire) từ 7   28 này tuổi tại công ty cổ phând DABACO việt nam
th ị 4.2 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con từ sơ sinh đến 28 ngày tuổi (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w