Luận văn, thạc sĩ, tiến sĩ, khóa luận, cao học, đề tài
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp i
- - - ***- - -
Nguyễn quang thức
Nghiên cứu thị trường của một số doanh nghiệp sản xuất Thức
xuất Thức ăn chăn nuôi đóng trên địa bàn Gia Lâm ăn chăn nuôi đóng trên địa bàn Gia Lâm ăn chăn nuôi đóng trên địa bàn Gia Lâm Hà Nội Hà Nội Hà Nội
tại Bắc Ninh, Bắc Giang
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan: số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ5
được cảm ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2006 Người thực hiện luận văn
Nguyễn Quang Thức
Trang 3Lời cá
Trong thời gian học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ vô cùng tận tình của cơ sở đào tạo, cơ quan công tác, gia đình và bạn
bè
Trước hết, tôi chân thành cảm ơn Khoa đào tạo Sau đại học, Khoa Kinh tế và Phát triển Nông thôn, Bộ môn Quản trị doanh nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp I
- Hà Nội, đã tận tình giúp đỡ trong suốt quá trình đào tạo
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Nguyên Cự, người thày hướng dẫn hết lòng tận tuỵ vì học trò
Tôi xin chân thành biết ơn Lãnh đạo và các phòng ban ở các doanh nghiệp
được chọn làm điểm nghiên cứu trong đề tại, nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình
điều tra
Cuối cùng, tôi xin cám ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, cổ vũ tôi trong suốt quá trình học tập
Hà Nội, ngày tháng năm 2006 Người thực hiện luận văn
Nguyễn Quang Thức
Trang 4Mục lục
Trang
Lời cam đoan ……….….i
Lời cám ơn ……….…ii
Mục lục ……… ii
i Danh mục các chữ viết tắt ……… v
1 Mở đầu ……… …1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài ……… …1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu ………3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu …4
2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 5
2.1 Cơ sở lý luận về thị trường
5
2.2 Cơ sở lý luận về nghiên cứu thị trường ……… 12
2.3 Những chiến lược xâm nhập và mở rộng thị trường ……… 15
2.4 Khái quát chung về TACN và thị trường TACN ……… 17
2.5 Thực trạng ngành chăn nuôi và thức ăn chăn nuôi Việt Nam ……… 23
3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu ………
32
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 32
3.1.1 Đặc điểm của các doanh nghiệp sản xuất TACN ở Gia Lâm-Hà Nội 32
3.1.2 Đặc điểm địa bàn hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang 36
3.2 Phương pháp nghiên cứu
38
3.2.1 Các phương pháp được áp dụng 38
3.2.2 Cách tiến hành 40
3.2.3 Hệ thống các chỉ số nghiên cứu 44
4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 45
Trang 54.1 Cầu thức ăn chăn nuôi công nghiệp tại Bắc Ninh, Bắc Giang 45
4.1.1 Tình hình kinh tế-x5 hội và thành tựu ngành CN ở Bắc Ninh, Bắc Giang 45
4.1.2 Nhu cầu tiêu dùng thức ăn chăn nuôi công nghiệp 47
4.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới lượng tiêu dùng TACNCN 49
4.2 Cung TACNCN tại thị trường Bắc Ninh, Bắc Giang 63
4.2.1 Tình hình cung sản phẩm TACNCN tại Bắc Ninh, Bắc Giang 63
4.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới cung 65
4.3 Thị trường của các DNN sản xuất TACNCN đóng trên địa bàn Gia Lâm tại Bắc Ninh, Bắc Giang
69
4.3.1 Tình hình tiêu thụ TACNCN của các DNN tại thị trường Bắc Ninh, Bắc Giang 69
4.3.2 Thị trường tiêu thụ chủ yếu của các DNN sản xuất TACNCN 72
4.3.3 Hệ thống phân phối của các DNN sản xuất TACNCN ở Gia Lâm 75
4.4 Một số đánh giá của khách hàng về sản phẩm TACN của các doanh nghiệp sản xuất TACNCN tại Gia Lâm 76
4.4.1 Thói quen mua hàng của người tiêu dùng
76
4.4.2 Về chất lượng và giá cả hàng hoá 78
4.5 Mô hình ma trận SWOT trong phân tích năng lực của các DNN tại thị trường Bắc Ninh, Bắc Giang 80
4.5.1 Cơ hội 80
4.5.2 Nguy cơ 81
4.5.3 Những điểm mạnh 82
4.5.4 Những điểm yếu 83
4.6 Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường TACN của các DNN tại Bắc Ninh, Bắc Giang 85
4.6.1 Xác định thị trường mục tiêu 85
4.6.2 Hoàn thiện chiến lược sản phẩm 87
4.6.3 Lấy nghệ thuật sử dụng giá làm vũ khí cạnh tranh 90
4.6.4 Củng cố hệ thống phân phối 93
Trang 64.6.5 T¨ng c−êng c«ng t¸c nghiªn cøu thÞ tr−êng vµ hç trî xóc tiÕn viÖc lµm 94
4.6.6 Hoµn thiÖn bé m¸y qu¶n lý kinh doanh 95
5 KÕt luËn 97
Tµi liÖu tham kh¶o 101
Trang 7Danh môc ch÷ viÕt t¾t
10 NN&PTNT N«ng nghiÖp vµ ph¸t triÓn n«ng th«n
16 TACNCN Thøc ¨n ch¨n nu«i c«ng nghiÖp
Trang 9Mở Đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành chăn nuôi của nước ta trong những năm qua được quan tâm phát triển như là một mục tiêu có tính chiến lược của ngành nông nghiệp Việt Nam Chủ trương phát triển ngành chăn nuôi nước ta đ5 được khẳng định trong văn kiện của
Đảng, chủ trương của Nhà nước và chính sách của Chính phủ Nghị quyết Đại hội
Đảng lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam đ5 chỉ rõ: “Hình thành và phát triển các vùng chăn nuôi tập trung gắn với công nghiệp chế biến thực phẩm, khuyến khích và nhân rộng các hộ chăn nuôi giỏi, các nông trại chăn nuôi… mở rộng mạng lưới chế biến thức chăn nuôi” [7] Trong giai đoạn 2000-2005 Bộ NN&PTNT đ5 phê duyệt triển khai 21 dự án giống vật nuôi với tổng mức đầu tư 430 tỷ đồng [1] Chính vì vậy, trong những năm qua, các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi
đ5 có những bước cải tiến vượt bậc cả về số lượng và chất lượng, cung cấp một lượng thức ăn chăn nuôi đáng kể cho ngành chăn nuôi Hàng loạt các nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi ra đời, số lượng các nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi tăng từ 105 năm 2000 lên 249 năm 2005 Trong đó, phải nói đến các nhà máy của các doanh nghiệp lớn đến từ Pháp, Mỹ, Thái Lan, Trung Quốc, Hàn Quốc… các nhà máy trong nước ngày càng gia tăng và thể hiện vị thế của mình Trong vài năm trở lại đây dịch cúm gia cầm đ5 gây không ít khó khăn cho ngành chăn nuôi và các doanh nghiệp sản xuất TACNCN nước ta, theo ước tính của các chuyên gia khi có dịch cúm mỗi ngày cả nước tồn đọng khoảng 40 triệu quả trứng và hàng ngàn tấn thịt gia cầm, các nhà máy sản xuất TACNCN chỉ hoạt động với 60% công suất [14] Mặc dù vậy, số lượng các nhà máy sản xuất TACNCN vẫn tiếp tục tăng Các nhà máy chế biến TACNCN khá đa dạng về công suất thiết kế, nhỏ nhất là 120 tấn/năm và lớn nhất là 540.000 tấn/năm, tỷ lệ sử dụng công suất đạt 69,7% Năm
2005, cả nước có 19 nhà máy có công suất trên 100.000 tấn/năm chiếm tỷ lệ 7,6%,
28 nhà máy có công suất 31.000 tấn-100.000 tấn chiếm tỷ lệ 11,2%, 57 nhà máy có công suất 5.000-30.000 tấn chiếm tỷ lệ 22,9% và 145 nhà máy có công suất dưới
Trang 105.000 tấn chiếm tỷ lệ 58,2% Tổng lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp sản xuất trong giai đoạn 2000-2005 là 22,2 triệu tấn (năm 2005, đạt 5,34 triệu tấn) tốc độ tăng trưởng bình quân 14,7%/năm và giá trị sản xuất đạt 19.930 tỷ đồng Tuy nhiên, các nhà máy sản xuất TACNCN phân bố không đều trên địa bàn cả nước: 35,7% tập trung ở Miền Đông Nam Bộ, 44,2% ở đồng bằng sông Hồng, 8,4% ở
đồng bằng sông Cửu Long, 6,4% vùng Đông Bắc, 3,2% vùng Bắc Trung Bộ, còn các vùng khác hầu như chưa có nhà máy sản xuất TACNCN Nguyên liệu sản xuất TACNCN thời gian đầu phải nhập phần lớn kể cả thức ăn bổ sung, nhóm nguyên liệu giàu đạm và năng lượng Năm 2005, cả nước nhập khẩu 255,7 ngàn tấn ngô, khô dầu các loại 787,3 ngàn tấn, bột cá 149,3 ngàn tấn, các loại premix, vitamin, khoáng nhập khẩu khoảng 50 ngàn tấn chiếm khoảng 45% tổng giá trị nguyên liệu sản xuất TACNCN và chiếm 31,4% trong tổng số 20,3 ngàn tỷ đồng tiền TACNCN công nghiệp trong nước Cũng nhờ đó mà sản xuất chăn nuôi của nông dân phát triển Tốc độ tăng trưởng của ngành chăn nuôi trong những năm qua luôn ở mức cao Năm 2005, tăng 11,6% trong khi toàn ngành nông nghiệp chỉ có 3,2% Cụ thể
là đàn lợn năm 2001 là 21,7 triệu con thì năm 2005 đ5 tăng lên tới 27,4 triệu con tương đương 6% Đàn bò năm 2001 là 3,9 triệu con thì năm 2005 là đ5 tăng lên tới 5,6 triệu con tương đương 9,5% Năm 2001, đàn gia cầm là 216 triệu con thì đến năm 2003 là 254,3 triệu con song do dịch cúm gia cầm xảy ra vào cuối năm 2003
đầu năm 2004 nên đến năm 2005 tổng đần gia cầm chỉ còn 220 triệu con, cả giai
đoạn tăng 0,4% [1] Tập quán sử dụng thức ăn chăn nuôi công nghiệp đ5 hình thành trong nhân dân và việc sử dụng thức ăn chăn nuôi công nghiệp trong chăn nuôi cũng đạt hiệu quả cao Do đó, những năm gần đây giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi ở nhiều địa phương đ5 chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp như Hà Tây: 43%, Vĩnh Phúc: 35,5%, Bắc Giang: 31%, Bắc Ninh: 41,2%…
Từ những thành tựu của ngành chăn nuôi mà thị trường TACNCN trong những năm qua cũng có tăng trưởng mạnh mẽ, tăng trưởng bình quân 15,5% về sản lượng, cơ cấu thị trường chủ yếu vẫn tập trung vào hai đối tượng vật nuôi là gia súc (lợn) 47% và gia cầm (gà, vịt) 42%, giá cả luôn có xu hướng tăng (giai đoạn 2001-
Trang 112005 tăng bình quân 20%), cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt khi có sự tham gia của cả các nhà đầu tư nước ngoài cũng như các nhà đầu tư trong nước nhờ
đó mà chất lượng sản phẩm và dịch vụ bán hàng ngày càng được cải thiện Tuy nhiên, các lớn thường bỏ trống các mảng thị trường nhỏ lẻ, tạo nên các thị trường trống mà các doanh nghiệp trong nước có thể tận dụng khai thác Hơn nữa, các doanh nghiệp trong nước đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ thường chưa có thói quen nghiên cứu thị trường một cách đầy đủ nên gặp nhiều khó khăn trong chiếm lĩnh và mở rộng thị trường
Do vậy, nghiên cứu tình hình thị trường của một số doanh nghiệp sản xuất TACNCN để khơi dậy tiềm năng thị trường, khắc phục hạn chế từ đó có những giải pháp nhằm xâm nhập và mở rộng là vấn đề hết sức quan trọng không chỉ ở tầm vĩ mô mà là vấn đề sống còn của các doanh nghiệp Do vậy, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “ Nghiên cứu thị trường của một số doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi đóng trên địa bàn Gia Lâm - Hà Nội tại Bắc Ninh, Bắc Giang”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung
Đánh giá khái quát về thị trường TACNCN, tiềm năng tiêu thụ và mức độ cạnh tranh trên thị trường TACNCN
Nghiên cứu thị trường TACNCN của một số doanh nghiệp sản xuất TACNCN ở Gia Lâm Hà Nội tại hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, từ đó đưa ra những giải pháp mở rộng thị trường tiêu thụ TACNCN của các doanh nghiệp này
* Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về thị trường, thị trường TACNCN
- Nghiên cứu thị trường TACNCN của một số doanh nghiệp sản xuất TACNCN ở Gia Lâm - Hà Nội tại địa bàn hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang
- Đưa ra định hướng và một số giải pháp mở rộng thị trường cho các doanh nghiệp sản xuất TACNCN ở Gia Lâm - Hà Nội
Trang 121.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Thị trường tiêu thụ của một số doanh nghiệp sản xuất TACNCN ở Gia Lâm -
Trên cơ sở nghiên cứu tình hình thị trường của các doanh nghiệp sản xuất TACNCN ở Gia Lâm - Hà Nội và một số doanh nghiệp khác ở hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường của các doanh nghiệp sản xuất TACNCN bao gồm những vấn đề: lựa chọn thị trường mục tiêu, chiến lược sản phẩm, chiến lược giá, chiến lược phân phối và hỗ trợ xúc tiến thị trường
Về không gian: Thị trường tiêu thụ của một số doanh nghiệp sản xuất TACNCN ở Gia Lâm - Hà Nội Song chỉ tập trung thị trường ở hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang vì đây là hai tỉnh có ngành chăn nuôi tương đối phát triển và nằm rất gần các doanh nghiệp nghiên cứu
Về thời gian: Điều tra tình hình tiêu thụ sản phẩm TACNCN của các DNN sản xuất TACNCN đóng trên địa bàn Gia Lâm-Hà Nội tại Bắc Ninh, Bắc Giang từ năm 2003-2005 và một số điều tra chuyên môn năm 2005
Trang 13Cơ sở lý luận và thực tiễn
2.1 Cơ sở lý luận về thị trường
2.1.1 Khái niệm chung về thị trường
Thị trường là một phạm trù kinh tế của sản xuất hàng hoá Có rất nhiều khái niệm khác nhau về thị trường và mỗi khái niệm lại được xem xét ở mỗi góc độ khác nhau
Trong tác phẩm “Bàn về cái gọi là thị trường”, viết năm 1893 Lênin cho rằng: “ở đâu và khi nào có phân công lao động x5 hội và có sản xuất hàng hoá thì ở
đó và khi ấy có thị trường” [18]
Theo quan điểm kinh tế học cho rằng: “Thị trường là sự biểu thị ngắn gọn quá trình mà nhờ đó các quyết định của các hộ gia đình về việc tiêu dùng các hàng hoá khác nhau, các quyết định của các doanh nghiệp về việc sản xuất cái gì và như thế nào, các quyết định của công nhân về làm việc bao lâu và cho ai được điều hoà bởi sự điều chỉnh giá cả [11]
Trên quan hệ cung nhu cầu thì các nhà kinh tế cho rằng: “Thị trường là nhóm người bán và người mua một hàng hoá, dịch vụ nhất định” [30]
Theo góc độ marketing, thị trường bao gồm tất cả những khách hàng tiềm năng cùng có một nhu nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thoả m5n nhu nhu cầu và mong muốn đó Như vậy, trên quan
điểm của các nhà marketing thì thị trường là tập hợp những người mua, một nhóm khách hàng có nhu nhu cầu và mong muốn nhất định, do đó có thể được thoả m5n bằng một loại sản phẩm hay dịch vụ cụ thể; họ có đặc điểm giới tính hay tâm sinh
lý nhất định, độ tuổi nhất định và ở một vùng cụ thể [8]
Như vậy, thị trường được coi là nơi diễn ra các mối quan hệ kinh tế, là nơi chứa đựng tổng số cung – nhu cầu, là tập hợp nhu cầu của một loại hàng hoá nào
đó, hoặc cũng có thể coi thị trường là nhóm người bán và nhóm khách hàng hiện
đang có m5i lực và nhu nhu cầu chưa được thoả m5n về một loại hàng hoá, dịch vụ
cụ thể
Trang 14Những khái niệm trên đây cho thấy, thị trường không nhất thiết phải là một
địa điểm cụ thể, nơi mà người mua và người bán gặp nhau và thực hiện các giao dịch Trong nhiều trường hợp khi có sự trợ giúp của các phương tiện thông tin và giao thông hiện đại các công việc giao dịch diễn ra qua điện thoại, các thiết bị thông tin… và vào bất kỳ lúc nào nhưng điều chung nhất đối với người tham gia thị trường đó là họ tìm mọi cách thoả m5n lợi ích của mình Người bán (người sản xuất) muốn tối đa hoá lợi nhuận, người mua (người tiêu dùng) muốn tối đa hoá sự thoả m5n (lợi ích) thu được từ sản phẩm họ mua
Về mặt nguyên lý, sự tác động qua lại giữa người bán và người mua sẽ xác
định giá cả, số lượng, chất lượng, chủng loại của từng hàng hoá, dịch vụ cụ thể Do vậy, cần hiểu thị trường là nơi diễn ra các mối quan hệ kinh tế, là nơi chứa đựng tổng nhu cầu - cung, là tập hợp nhu cầu chưa được thoả m5n
2.1.2 Các yếu tố xác định thị trường
Thị trường được xác định từ những yếu tố nào? Về mặt nguyên tắc muốn có thị trường thì tất yếu phải có chủ thể tham gia vào quá trình trao đổi đó là người mua và người bán, đối tượng của quá trình trao đổi là hàng hoá, dịch vụ hoặc tiền tệ
đồng thời phải có mối quan hệ ràng buộc giữa người mua và người bán về giá cả, chất lượng hàng hoá, điều kiện giao nhận, phương thức thanh toán và các dịch vụ hậu m5i [8]
Đối với các doanh nghiệp họ không quan tâm tới thị trường nói chung mà chỉ quan tâm đến thị trường hàng hoá sản phẩm của doanh nghiệp Thị trường sản phẩm hàng hoá có thể được xác định bằng các đại lượng:
- Khối lượng sản phẩm: nắm bắt được số lượng hàng hoá tung ra thị trường là thành công lớn đối với doanh nghiệp Trên cơ sở đó, doanh nghiệp khai thác tối đa khả năng tiêu thụ sản phẩm ở người tiêu dùng và xây dựng được những chiến lược hợp lý
- Đặc điểm hàng hoá: Nghiên cứu công dụng, phẩm chất, bao bì, nh5n hiệu
và khả năng cạnh tranh của hàng hoá
- Phương thức bán hàng: Có thể là bán hàng trực tiếp, bán hàng qua trung gian và bán hàng bằng đối lưu
Trang 15- Dung lượng thị trường: Là đại lượng phản ánh quy mô cũng như cường độ hoạt động của thị trường Dung lượng thị trường được biểu thị qua những chỉ tiêu chủ yếu như khối lượng hàng hoá nhu cầu, khối lượng hàng hoá cung, cơ cấu nhu nhu cầu, khối lương hàng hoá trao đổi, số lượng các chủ thể tham gia trên thị trường…
- Cơ cấu thị trường: Là đại lượng phản ánh mối quan hệ tỷ lệ giữa các bộ phận, các yếu tố cấu thành nên thị trường Đại lượng này có thể xem xét dưới nhiều góc độ như cơ cấu hàng hoá cung ứng, cơ cấu nhu nhu cầu, cơ cấu của khách hàng…
- Không gian của thị trường: Phản ánh vị trí, địa điểm diễn ra các hoạt động mua bán và trao đổi Ngoài ra, đại lượng này cũng chỉ rõ được đặc điểm, tính chất
và phạm vi vùng thu hút của thị trường (thị trường địa phương, thị trường khu vực) [8]
- Cơ chế quản lý kinh tế và khả năng cạnh tranh của thị trường
- Thu nhập quốc dân và việc phân phối thu nhập quốc dân, chính sách chi tiêu của chính phủ
- Xu hướng phát triển kinh tế của khu vực và quan hệ kinh tế quốc tế của quốc gia
- Tài nguyên thiên nhiên và các nguồn lực khác
* Nhân tố dân cư
Dân số và mật độ dân số: ở những nơi mà dân cư đông đúc, tốc độ dân số tăng nhanh tất yếu làm cho nhu nhu cầu thị trường tăng nhanh, đồng thời dân số có
ản hưởng tới nguồn lao động và tác động vào sự phát triển của sản xuất kinh doanh
Trang 16Sự phân bố dân cư theo vùng l5nh thổ, tỷ trọng và chất lượng của nguồn lao
động trong dân cư cũng ảnh hưởng lớn tới thị trường
Cơ cấu dân cư, đặc điểm về giai tầng x5 hội, thu nhập và khả năng thanh toán của dân cư, các yếu tố đặc điểm tiêu dùng, xu hướng biến động dân cư, sự hình thành các khu dân cư mới cũng sẽ tác động tới thị trường tiêu dùng
* Các nhân tố văn hoá x4 hội
Phong tục, tập quán, tín ngưỡng, truyền thống văn hoá
Trình độ văn hoá và ý thức của dân cư
Chính sách và kết quả đầu tư cho việc phát triển văn hoá x5 hội của đất nước,
sự ra đời của các công trình, các phương tiện thông tin văn hoá x5 hội…
Các sự kiện văn hoá x5 hội, phong trào hoạt động văn hoá x5 hội, các lễ hội truyền thống…
* Các nhân tố chính trị, pháp luật
Hệ thống pháp luật và thể chế
Các chế độ và chính sách kinh tế- x5 hội trong từng thời kỳ
Các quy định, tiêu chuẩn luật lệ
Tình hình chính trị, an ninh và những biến động x5 hội
* Các nhân tố khác
Các nhân tố tự nhiên như đất đai thời tiết, khí hậu, sinh thái…
Vị trí địa lý của thị trường
Môi trường sinh thái, những biến động về tâm lý tiêu dùng, xu hướng đầu tư… 2.1.4 Các quy luật của thị trường
Quy luật giá trị: Là quy luật kinh tế cơ bản của nền sản xuất hàng hoá, quy luật này yêu nhu cầu việc trao đổi hàng hoá phải dựa trên chi phí lao động x5 hội cần thiết sản xuất ra hàng hoá Sản phẩm hàng hoá thể hiện giá trị của nó khi được thoả thuận mua bán trên thị trường [18]
Trong sản xuất, quy luật giá trị buộc người sản xuất phải làm sao cho mức hao phí lao động các biệt của mình phải phù hợp với mức hao phí lao động x5 hội
Trang 17cần thiết, có như vậy nhà sản xuất mới tồn tại được Còn trong trao đổi hay lưu thông phải thực hiện theo nguyên tắc ngang giá, hai hàng hoá trao đổi được với nhau khi cùng kết tinh một lượng lao động như nhau, hoăc trao đổi, mua bán hàng hoá phải thực hiện giá cả bằng giá trị
Quy luật cạnh tranh: Cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa các chủ thể trong nền sản xuất hàng hoá nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hoá để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình Cạnh tranh có thể diễn ra trong tất cả các quá trình của sản xuất hàng hoá: Cạnh tranh mua, cạnh tranh bán giữa những người sản xuất, người tiêu dùng với nhau hoặc giữa những sản xuất với người tiêu dùng [18]
Cạnh tranh chính là cơ chế vận động của thị trường Cạnh tranh là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển Nó buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén, thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng tiến bộ công nghệ khoa học, nâng cao tay nghề, hoàn thiện tổ chức quản lý để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế Mặt khác, nó cũng loại khỏi thị trường những hàng hoá và dịch vụ mà thị trường không chấp nhận
Quy luật cầu - cung: Đây là quy luật chủ yếu của kinh tế thị trường
+ Cầu thị trường: là tổng số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ mà mọi người sẵn sàng và có khả năng mua ở các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất
định (Ceteris-paribus- tất cả các yếu tố khác không đổi) Cầu thị trường là tổng hợp các cầu cá nhân lại với nhau
Quy luật cầu thể hiện mối quan hệ tỷ lệ nghịch của cầu với giá cả Trong
điều kiện các yếu tố khác không đổi thì cầu của chủng loại hàng hoá nào đó sẽ tăng lên khi giá giảm và ngược lại cầu sẽ giảm đi khi giá tăng [11]
* Các yếu tố xác định cầu
- Giá cả của hàng hoá dịch vụ
- Thu nhập của người tiêu dùng
- Giá cả của các loại hàng hoá liên quan Cầu của hàng hoá không chỉ phụ thuộc vào giá của bản thân hàng hoá mà nó còn phụ thuộc vào giá của hàng hoá có liên quan
Trang 18- Dân số: Dân số tăng thì cầu sẽ tăng (với các loại hàng hoá thiết yếu)
- Thị hiếu là sở thích hay sự ưu tiên của người tiêu dùng đối vói hàng hoá hoặc dịch vụ
- Các kỳ vọng: người tiêu dùng có thể kỳ vọng về sự giảm giá, về thu nhập,
về số lượng người tiêu dùng hàng hoá do vậy cũng ảnh hưởng tới cầu
+ Cung thị trường: là số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ mà người bán có khả năng và sẵn sàn bán ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định (Ceteris-paribus- tất cả các yếu tố khác không đổi) Cung thị trường là tổng hợp mức cung của từng các nhân lại với nhau [11]
Quy luật cung phản ánh mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa giá và lượng sản phẩm hàng hoá bán ra Giá bán của một loại hàng hoá nào đó càng cao thì lượng cung của hàng hoá đó càng lớn, bởi vì người sản xuất tập trung nhiều vốn, lao động, kỹ thuật… để sản xuất mặt hàng đó do giá bán cao và thu được nhiều lợi nhuận
2.1.5 Phân loại thị trường
Có rất nhiều tiêu thức để phân loại thị trường
Nếu căn cứ vào hình thái vật chất của đối tượng trao đổi thì thị trường được chia thành thị trường hàng hoá và thị trường dịch vụ
Thị trường hàng hoá là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi các sản phẩm dưới hình thái hiện vật Thị trường hàng hoá bao gồm cả hai bộ phận là thị trường các yếu tố sản xuất và thị trường hàng hoá tiêu dùng
Thị trường dịch vụ là nơi diễn ra các hoạt động mua bán và trao đổi các sản phẩm không tồn tại dưới hình thức hiện vật nhằm thoả m5n cầu phi vật chất của người tiêu dùng
Khi phân loại thị trường các nhà kinh tế căn cứ vào số lượng và vị trí người mua, người bán phân loại thị trường thành thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường độc quyền, thị trường cạnh tranh không hoàn hảo
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường mà ở đó số lượng người mua và người bán phải đông đảo, mỗi người tham gia chỉ chiếm được vị trí rất nhỏ trên thị trường, điều kiện gia nhập hay rút khỏi thị trường là dễ dàng Thị trường cạnh tranh hoàn hảo có các đặc điểm như sau:
Trang 19- Có nhiều người mua và người bán độc lập với nhau
- Tất cả các đơn vị hàng hoá trao đổi được coi là giống nhau Bởi vậy người mua ít quan tâm đến việc họ mua các đơn vị hàng hoá của ai
- Tất cả người mua và người bán đều có hiểu biết đầy đủ về thông tin liên quan đến việc trao đổi Thị trường cạnh tranh hoàn hảo đòi hỏi tất cả người mua và người bán có liên hệ với tất cả những người trao đổi tiềm năng, biết tất cả các đặc trưng của mặt hàng trao đổi, biết tất cả giá người bán đòi và giá người mua trả Mọi người có liên hệ mật thiết với nhau và sự thông tin giữa họ là liên tục
- Hầu như không có gì cản trở việc gia nhập và rút khỏi thị trường
- Doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo có thể bán tất cả sản lượng của mình ở mức giá thị trường đang hiện hành, nếu doanh nghiệp đặt giá cao hơn thì doanh nghiệp sẽ không bán được sản phẩm vì người tiêu dùng sẽ mua của doanh nghiệp khác Doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo có sản lượng quá nhỏ so với cung thị trường do đó các quyết định sản lượng của doanh nghiệp không có ảnh hưởng đến giá thị trường hay nói cách khác đường cầu của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo
là đường cầu nằm ngang
Thị trường độc quyền: Bao gồm thị trường độc quyền bán là thị trường trong
đó chỉ có một người bán nhưng có nhiều người mua và thị trường độc quyền mua là thị trường trong đó có nhiều người bán nhưng chỉ có một người mua Các doanh nghiệp độc quyền ngày càng ít đi trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế
Thị trường canh tranh không hoàn hảo: Đó là thị trường mà vì một lý do nào
đó người tiêu dùng coi mặt hàng của doanh nghiệp khác với doanh nghiệp khác Các doanh nghiệp ở thị trường này canh tranh với nhau bằng việc bán sản phẩm phân biệt Sự không hoàn hảo trong cạnh tranh có thể xuất phát từ những lợi thế về chi phí sản xuất hoặc do những yếu tố cản trở cạnh tranh như uy tín nh5n hiệu hàng hoá, chế độ bảo hộ mậu dịch, quy định của pháp luật Cũng như trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo doanh nghiệp gia nhập thị trường này tương đối dễ và rời bỏ cũng tương đối dễ nếu các sản phẩm của doanh nghiệp trở lên không có l5i [11]
Trang 20Nếu căn cứ vào biểu hiện của nhu cầu và khă năng biến nhu cầu thành hiện thực thì sẽ có: Thị trường lý thuyết, thị trường tiềm năng và thị trường thực tế Tương ứng với ba thị trường này doanh nghiệp có ba loại khách hàng là khách hàng
lý thuyết, khách hàng tiềm năng và khách hàng thực tế
Thị trường lý thuyết toàn bộ dân cư nằm trong vùng thu hút và khả năng phát triển của kinh doanh Trong thị trường lý thuyết bao gồm cả khách hàng tiềm năng, khách hàng thực tế và các nhóm dân cư khác, đó là những người chưa hội đủ điều kiện là nhu cầu và khả năng thanh toán để trở thành khách hàng
Thị trường tiềm năng là bộ phận thị trường mà trong đó khách hàng có nhu cầu và đủ khả năng thanh toán nhưng chưa được đáp ứng hàng hoá, dịch vụ Trong chiến lược thị trường của mình nhà kinh doanh cần hết sức chú trọng tới các giải pháp phát triển thị trường tiềm năng này, bởi và đây là bộ phận khách hàng dễ trở thành khách hàng thực tế nhất của doanh nghiệp
Thị trường thực tế là bộ phận thị trường mà trong đó khách hàng có nhu cầu
đ5 được đáp ứng thông qua hệ thông cung ứng hàng hoá dịch vụ của các nhà kinh doanh Đây là bộ phận thị trường quan trọng nhất trong chiến lược thị trường của doanh nghiệp Mục tiêu hàng đầu của kinh doanh là phải giữ vững được thị trường
và khách hàng thực tế [23]
2.2 Cơ sở lý luận về nghiên cứu thị trường
Nghiên cứu thị trường là hoạt động đầu tiên và rất quan trọng trong hoạt
động marketing của doanh nghiệp Nghiên cứu thị trường là một quá trình bao gồm các hoạt động thu thập, phân tích xử lý, kiểm tra đánh giá các thông tin về thị trường Nghiên cứu thị trường cho phép tăng cường khả năng thích ứng của hoạt
động marketing- mix với nhu cầu và đặc điểm của từng vùng thị trường khác nhau Phân tích thị trường còn giúp các doanh nghiệp dự đoán chính xác khả năng tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của mình, nắm vững các đối thủ cạnh tranh Đặc biệt là quá trình nghiên cứu thị trường cho phép doanh nghiệp hiểu biết và đánh giá
đầy đủ các thông tin về khách hàng như thị hiếu, tập quán, thu nhập và tâm lý tiêu dùng… Marketing- mix là một tập hợp những yếu tố biến động kiểm soát được của
Trang 21marketing mà doanh nghiệp sử dụng để cố gắng gây đươc phản ứng mong muốn từ phía thị trường mục tiêu [23]
Nghiên cứu thị trường không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động marketing của doanh nghiệp mà còn cung cấp những thông tin cần thiết, là những căn cứ để các nhà quản lý hoạch định chiến lược phát triển của doanh nghiệp Mặt khác, nghiên cứu thị trường là cơ sở vững chắc để các doanh nghiệp quán triệt và thực thi tư tưởng và triết lý kinh doanh marketing “bán cái thị trường cần” và
“khách hàng luôn luôn đúng”
Nghiên cứu thị trường được chia thành hai nội dung là nghiên cứu khái quát
và nghiên cứu chi tiết thị trường
2.2.1 Nghiên cứu khái quát thị trường
Nghiên cứu khái quát thị trường được áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp có ý định xâm nhập vào thị trường mới, cần thiết phải lựa chọn thị trường mục tiêu của mình Với nội dung là nghiên cứu quy mô, cơ cấu và xu hướng vận
động của thị trường nhằm xác định khả năng xâm nhập của sản phẩm, chiến lược phát triển thị trường và khách hàng trong tương lai Mặt khác, nghiên cứu khái quát thị trường còn nghiên cứu một cách có hệ thống các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường Từ đó giúp các doanh nghiệp tìm kiếm được những cơ hội thuận lợi, các thị trường có ưu thế trong kinh doanh và đảm bảo sự thích ứng của chính sách marketing với những điều kiện biến động của thị trường [8],[23]
2.2.2 Nghiên cứu chi tiết thị trường
Nghiên cứu chi tiết thị trường là bước nghiên cứu chuyên sâu về khách hàng của nhà kinh doanh Mục tiêu của nghiên cứu chi tiết thị trường là nghiên cứu thái
độ, thói quen, và tập quán tiêu dùng của từng bộ phận khách hàng trong vùng thị trường cụ thể Trên cơ sở đó giúp các doanh nghiệp có những giải pháp marketing nhằm thích ứng và gây ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của nhu cầu Nội dung của quá trình nghiên cứu được chia thành hai vấn đề căn bản là nghiên cứu tập tính tinh thần và nghiên cứu tập tính thực hiện của khách hàng [8],[23]
Trong nghiên cứu thị trường cần phải thu thập những thông tin cơ bản sau
Trang 22+ Thông tin về cầu thị trường gồm: Lượng cầu, cơ cấu của hàng hoá cầu, độ
co gi5n của cầu, sự phân bố của cầu theo không gian và thời gian
+ Thông tin về cung và quan hệ cung trên thị trường: Khối lượng hàng hoá cung, sự phân bố của cung xét theo không gian và thời gian, cân đối quan hệ cung cầu của khách hàng
+ Thông tin về khách hàng: Số lượng khách hàng thực tế và khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp, cơ cấu của khách hàng theo giới tính, độ tuổi, vùng sinh sống…, thu nhập và cơ cấu sử dụng thu nhập, những đặc điểm về thị hiếu, tập quán
và tâm lý tiêu dùng của khách hàng
+ Thông tin về giá cả thị trường: Mức giá bình quân trên thị trường, khoảng giao động của giá, tốc độ biến động của giá cả từng mặt hàng, tác động của giá cả với khối lượng hàng hoá tiêu thụ, nghệ thuật sử dụng giá cả của đối thủ cạnh tranh
+ Thông tin về tình hình cạnh tranh trên thị trường: Số lượng các đối thủ cạnh tranh dọc và cạnh tranh ngang, khả năng chiếm lĩnh thị trường và uy tín của
đối thủ canh tranh, những ưu thế và hạn chế của họ, các thủ pháp mà đối thủ cạnh tranh áp dụng…[23]
Việc thu thập thông tin trên giúp các nhà kinh doanh xác định được thị trường mục tiêu mà sản phẩm của mình sẽ chiếm lĩnh Việc xác định thị trường mục tiêu phải dựa vào các thông tin trên thị trường để tiến hành phân khúc thị trường
Phân khúc thị trường là việc phân chia thị trường thành những nhóm người mua rõ ràng sao cho trong cùng một khúc thị trường mọi khách hàng đều có đặc
điểm và lợi ích tiêu dùng giống nhau Khúc thị trường là một nhóm khách hàng có
sự đồng nhất về nhu cầu và có phản ứng như nhau đối với những tác động marketing của nhà kinh doanh, có thể đòi hỏi những mặt hàng và hệ thống marketing –mix riêng [6] Vậy, phải căn cứ vào những tiêu thức nào để phân khúc thị trường Không có một phương pháp phân khúc thị trường nào thống nhất Các nhà hoạt động thị trường cần phải thử các phương án phân khúc trên cơ sở những tiêu thức khác nhau, một hay đồng thời nhiều tiêu thức với ý đồ tìm kiếm cách tiếp
Trang 23cận có lợi nhất với việc nghiên cứu cấu trúc của thị trường Thường các nhà kinh doanh sử dụng các tiêu thức sau:
+ Phân khúc thị trường theo tiêu thức địa lý: Khu vực địa lý, vùng, tỉnh, mật
độ dân số, khí hậu… Doanh nghiệp có thể quyết định hoạt động trong một hay nhiều vùng địa lý hay trong tất cả các vùng nhưng có chú ý tới những điểm khác biệt về nhu cầu và sở thích của vùng địa lý quyết định
+ Phân khúc thị trường theo tiêu thức tâm lý: Giai tầng x5 hội, lối sống, kiểu nhân cách
+ Phân khúc thị trường theo tiêu thức hành vi của người tiêu dùng: Lý do mua hàng, lợi ích tìm kiếm, tình trạng người sử dụng, cường độ tiêu dùng, mức độ trung thành, mức độ sẵn sàng chấp nhận, thái độ đối với hàng hoá…
+ Phân khúc theo tiêu thức nhân khẩu học: Tuổi tác khách hàng, giới tính, quy mô gia đình, giai đoạn của chu kỳ gia đình, mức thu nhập, loại nghề nghiệp, học vấn, tín ngưỡng, chủng tộc, dân tộc,…
2.3 Những chiến lược xâm nhập và mở rộng thị trường
Sau khi nghiên cứu phân khúc thị trường doanh nghiệp cần phải quyết định lựa chọn phương án chiếm lĩnh bao nhiêu khúc thị trường và xác định được những khúc thị trường có lợi nhất đối với mình
- Chiến lược marketing không phân biệt: Doanh nghiệp bỏ qua những đặc
điểm khác biệt của những phần thị trường, coi thị trường là một thể đồng nhất, tất cả các khách hàng đều có đặc điểm và lợi ích tiêu dùng giống nhau Vì vậy, doanh nghiệp có thể áp dụng một chiến lược marketing thống nhất cho toàn bộ thị trường Chiến lược marketing không phân biệt rất kinh tế Chi phí nghiên cứu thị trường, chi phí quảng cáo, sản xuất hàng, dự trữ hàng và vận chuyển không cao Doanh nghiệp sử dụng chiến lược marketing này thường sản xuất hàng hoá cho những thị trường lớn nhất Tuy nhiên, nếu các doanh nghiệp đồng thời vận dụng chiến lược này sẽ xảy ra sự canh tranh quyết liệt dẫn đến sự khó khăn cho doanh nghiệp
- Chiến lược marketing có phân biệt: Doanh nghiệp quyết định tham gia một
số khúc thị trường Trên cơ sở các khúc thị trường đ5 chia, doanh nghiệp xây dựng
Trang 24hệ thống chính sách marketing phân biệt nhằm thích ứng và khai thác khúc thị trường đó Ngày nay, càng có nhiều doanh nghiệp sử dụng chiến lược marketing có phân biệt vì doanh nghiệp hy vọng tăng khối lượng hàng hoá mua lặp lại của khách hàng từ đó củng cố vị trí ở nhiều khúc thị trường
- Chiến lược marketing tập trung: Thay vì tập trung nỗ lực vào phần nhỏ của một thị trường lớn doanh nghiệp tập trung nỗ lực vào phần lớn của một hay nhiều thị trường con Nhờ marketing tập trung doanh nghiệp đảm bảo cho mình một vị trí vững chắc trên thị trường bởi vì doanh nghiệp hiểu hơn ai hết những nhu cầu của khúc thị trường đó và đạt được danh tiếng nhất định Hơn nữa, nhờ chuyên môn hoá sản xuất, phân phối và các biện pháp kích thích tiêu thụ doanh nghiệp đ5 tiết kiệm
được nhiều lĩnh vực hoạt động của mình Tuy nhiên, chiến lược này gắn liền với mức độ rủi ro cao và nhiều đối thủ cạnh tranh tham gia khúc thị trường đó [23]
Khi lựa chọn chiếm lĩnh thị trường doanh nghiệp cần chú ý đến những yếu tố sau:
+ Phát hiện phần thị trường hấp dẫn nhất: Đó là phần thị trường phải có mức tiêu thụ cao, nhịp độ tăng, mức lợi nhuận cao, ít cạnh tranh và yêu cầu đối với các kênh marketing không phức tạp
+ Khả năng tài chính của doanh nghiệp: Nếu khả năng tài chính hạn chế thì nên chọn chiến lược marketing tập trung
+ Mức độ đồng nhất của sản phẩm: Nếu sản phẩm của doanh nghiệp đơn
điệu thì nên sử dụng chiến lược marketing không phân biệt còn nếu sản phẩm của doanh nghiệp đa dạng thì nên sử dụng chiến lược marketing có phân biệt và marketing tập trung
+ Giai đoạn của chu kỳ sống của sản phẩm: Nếu doanh nghiệp đưa sản phẩm mới ra thị trường thì nên áp dụng chiến lược marketing không phân biệt hoặc marketing tập trung
+ Mức độ đồng nhất của thị trường: Nếu thị trường có mức độ đồng nhất cao thì doanh nghiệp nên sử dụng chiến lược marketing không phân biệt và ngược lại
Trang 25+ Những chiến lược marketing của các đối thủ cạnh tranh: Nếu các đối thủ cạnh tranh sử dụng chiến lược marketing không phân biệt thì doanh nghiệp có thể
có lợi khi sử dụng chiến lược marketing có phân biệt và marketing tập trung [23] 2.4 Khái quát chung về Thức ăn chăn nuôi công nghiệp và thị trường Thức ăn chăn nuôi công nghiệp
2.4.1 Khái quát chung về thức ăn chăn nuôi công nghiệp
Chăn nuôi là một trong hai ngành cơ bản của ngành nông nghiệp Việt Nam Chăn nuôi muốn phát triển tốt phải kể đến sự phát triển của TACNCN TACNCN là nguồn đầu vào của quá trình đầu tư, là cơ sở ban đầu thúc đẩy quá trình tăng trưởng
và phát triển của vật nuôi, là cơ sở để xác định phương thức chăn nuôi của chủ trang trại, hộ chăn nuôi Do vậy, TACNCN giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong sự phát triển của ngành chăn nuôi
TACNCN góp phần thay đổi tập quán chăn nuôi Với sự ra đời của TACNCN
mà tập quán chăn nuôi được chuyển từ chăn nuôi truyền thống là nguồn thức ăn của vật nuôi được tận dụng từ phế phẩm của các ngành chế biến, sinh hoạt… với số lượng ít, chăn nuôi nhỏ lẻ sang một hướng chăn nuôi hiện đại và quy mô lớn
TACNCN tạo ra một năng suất cao trong ngành chăn nuôi Nếu như trước
đây theo phương thức truyền thống nguồn thức ăn không đủ dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của vật nuôi thì ngày nay TACNCN là một công cụ đột phá cho sự phát triển mạnh, nhanh của ngành chăn nuôi Với nguồn thức ăn được chế biến theo nhu cầu dinh dưỡng của vật nuôi nên đ5 tạo được sức tăng trưởng lớn cho vật nuôi
Từ đó mà cung cấp ngày càng nhiều sản phẩm phục vụ đời sống con người Ngoài sức tăng trưởng lớn trong vật nuôi cho một năng suất cao mà nhờ có TACNCN nguồn lao động được sử dụng trong ngành chăn nuôi giảm một cách đáng kể, tạo năng suất lao động cao Nếu như theo phương pháp truyền thống nguồn thức ăn phải được nấu chín, lượng tiêu tốn thức ăn cao nên tiêu tốn rất nhiều thời gian và công sức cho việc phục vụ chăn nuôi thì ngày nay khi sử dụng thức ăn công nghiệp thì lượng thức ăn tiêu tốn ít và lượng lao động sử dụng cũng ít hơn [22],[25]
Trang 26TACNCN góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nhờ có TACNCN mà lượng lao động được sử dụng trong ngành chăn nuôi giảm nên đ5 tạo ra một nguồn lực dự trữ lao động cho ngành công nghiệp và dịch vụ Trong ngành nông nghiệp, ngành chăn nuôi cũng đang dần là mục tiêu cho sự chuyển dịch lao động Vì xuất phát từ
đặc thù của ngành trồng trọt là phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, nằm trải dài trên diện tích rộng lớn, gặp nhiều rủi ro, lao động mang tính thời vụ nên trong thời gian nông nhàn người nông dân chuyển sang chăn nuôi [25]
TACNCN góp phần giảm thiểu ô nhiễm Tạo ra sự cân bằng giữa cung và cầu về các sản phẩm từ chăn nuôi, tạo tiền đề cho sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến, giảm ô nhiễm môi trường do không tập trung gây ra
2.4.2 Khái quát về thị trường thức ăn chăn nuôi
2.4.2.1 Đặc điểm của thị trường thức ăn chăn nuôi
Thị trường TACNCN cũng mang đầy đủ những đặc điểm của thị trường nói chung Ngoài ra, nó còn mang những đặc điểm riêng xuất phát từ đặc điểm của sản xuất nông nghiệp đó là:
- Thành phần cấu thành nên TACNCN phần lớn là các nông sản nên giá cả
đầu vào không ổn định do tính chất thời vụ của nông sản gây nên [33] Do vậy, giá cả của TACNCN thường xuyên biến động, tác động trực tiếp đến người chăn nuôi
- Đối tượng của thị trường TACNCN là ngành chăn nuôi mà đây là một ngành sản xuất nông nghiệp mang tính rủi ro cao, do vậy nhà sản xuất TACNCN trong một chừng mực nhất định cũng gánh chịu chung sự rủi ro với người chăn nuôi khi họ đ5 tin dùng một lượng lớn sản phẩm của doanh nghiệp
- Nhu cầu rất đa dạng với các sản phẩm đắt rẻ khác nhau và cho các giai
đoạn lứa tuổi của vật nuôi nên tạo ra tính cạnh tranh rất cao và ngày càng gay gắt
- Giữa người bán và người mua bị ràng buộc với nhau bởi các quan hệ x5 hội, quan hệ tài chính rất chặt chẽ Người tiêu dùng mua hàng thường mua chịu nên yêu cầu các đại lý kinh doanh TACNCN trung gian phải có một lượng vốn lớn để đáp ứng được thời gian và số lượng chịu dài và lớn Do vậy, việc đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng phụ thuộc chính vào khả năng một bộ phận thương gia (đại lý kinh doanh
Trang 27TACNCN) trong vùng Đây là đặc điểm rất quan trọng của thị trường thức ăn chăn nuôi công nghiệp[32]
2.4.2.2 Cầu về thức ăn chăn nuôi công nghiệp
Khác với các hàng hoá tiêu dùng khác, cầu về hàng hoá TACNCN phụ thuộc vào sự phát triển của ngành chăn nuôi mà sự phát triển ngành chăn nuôi ở các vùng khác nhau thì hoàn toàn không giống nhau, nó phụ thuộc vào tập quán cũng như trình độ chăn nuôi của từng khu vực Đồng thời chăn nuôi ở các giai đoạn khác nhau đòi hỏi chủng loại thức ăn khác nhau Do đó, cầu về TACNCN cũng rất đa dạng cả về chủng loại và giá cả sản phẩm [33]
Nếu ở khu vực chăn nuôi ở quy mô quá nhỏ, quy trình chăn nuôi lạc hậu chủ yếu là chăn nuôi kiểu tận dụng những sản phẩm thức ăn thừa của con người hoặc những phụ phẩm của ngành trồng trọt để chăn nuôi khi đó cầu về TACNCN là rất ít thậm chí bằng không
ở các khu vực có nguồn nguyên liệu TACNCN sẵn có hoặc khu vực chăn nuôi quy mô nhỏ và vừa, chăn nuôi bước đầu theo quy trình bán công nghiệp thì bắt
đầu có cầu về TACNCN vì khi đó người chăn nuôi bước đầu có sự quan tâm tới kỹ thuật và hiệu quả trong chăn nuôi, họ bắt đầu chăn nuôi theo từng giai đoạn của vật nuôi nên cầu về TACNCN tăng lên cả về số lượng và chủng loại Tuy nhiên, ở khu vực này cầu TACNCN dừng ở mức độ nhất định cầu về TACNCN dạng đậm đặc nhiều hơn là TACNCN dạng hoàn chỉnh vì người chăn nuôi vẫn tận dụng nguồn nguyên liệu tự sản xuất hoặc sẵn có ở địa phương tự phối trọn để chăn nuôi Như vậy, cầu về TACNCN ở khu vực này thường thiên về các sản phẩm TACNCN đậm
đặc nhiều hơn các sản phẩm TACNCN hỗn hợp
Và ở các khu vực chăn nuôi phát triển, quy mô chăn nuôi càng lớn, quy trình chăn nuôi càng hiện đại thì cầu về TACNCN càng cao vì khi đó quy mô và quy trình chăn nuôi bắt buộc người chăn nuôi không thể chăn nuôi kiểu tận dụng, mà phải sử dụng TACNCN theo quy trình công nghiệp hoàn toàn, vì quy mô chăn nuôi quá lớn người chăn nuôi không thể tự phối trộn TACNCN Hơn nữa, quy trình chăn nuôi đòi hỏi TACNCN chất lượng cao cân đối đầy đủ dinh dưỡng Do đó, ở khu vực này cầu về TACNCN dạng hỗn hợp là chủ yếu
Trang 28Ngành chăn nuôi càng phát triển thì cầu về TACNCN càng tăng lên Chính vì vậy, cầu về TACNCN phụ thuộc vào các yếu tố sau đây:
- Số lượng hộ chăn nuôi: Số lượng hộ chăn nuôi tỷ lệ thuận với cầu về TACNCN Khi số lượng hộ chăn nuôi càng nhiều thì cầu về TACNCN càng lớn và ngược lại
- Quy mô và quy trình chăn nuôi của hộ: Khi quy mô chăn nuôi càng lớn, quy trình chăn nuôi càng hiện đại thì cầu về TACNCN càng cao và ngược lại
- Tỷ lệ sử dụng TACNCN: Do ngành chăn nuôi có thể sử dụng các sản phẩm của ngành trồng trọt do đó TACNCN hoàn toàn có thể được thay thế, bổ sung bởi các sản phẩm của ngành trồng trọt Vì vậy, cầu TACNCN phụ thuộc tỷ lệ thuận với
tỷ lệ sử dụng TACNCN trong chăn nuôi Tỷ lệ sử dụng TACNCN càng cao thì cầu TACNCN càng lớn và ngược lại Theo thống kê của Cục chăn nuôi- Bộ NN&PTNT
tỷ lệ sử dụng TACNCN của Việt Nam trong thời gian qua có chiều hướng gia tăng song vẫn còn thấp năm 2001 là 27% và năm 2005 là 38,9%, trong khi đó theo số liệu của Ruedi.A.Wild tỷ lệ sử dụng TACNCN của thế giới là 48,2% Như vậy, tỷ
lệ sử dụng TACNCN của Việt Nam còn thấp hơn nhiều so với mức trung bình của thế giới [1]
- Giá cả của TACNCN: Cũng như các hàng hoá khác cầu TACNCN cũng tỷ lệ nghịch với giá cả của nó Tuy đây là loại hàng hoá tư liệu sản xuất nên về nguyên tắc cầu ít co gi5n bởi giá vì người chăn nuôi không thể trong thời gian ngắn có thể thay đổi ngay quy mô chăn nuôi song trên thực tế cầu TACNCN lại rất co gi5n khi giá của nó thay đổi vì khi đó người chăn nuôi có thể sử dụng các nguyên liệu đơn, nguyên liệu sẵn có của ngành trồng trọt để chăn nuôi
- Giá cả của các sản phẩm chăn nuôi: Cầu TACNCN không những phụ thuộc vào giá cả bản thân nó mà còn chịu ảnh hưởng của giá cả các sản phẩm chăn nuôi Khi giá các sản phẩm chăn nuôi có chiều hướng gia tăng thì người chăn nuôi sẽ đầu tư nhiều hơn cho chăn nuôi trong đó có sự đầu tư về TACNCN nên cầu TACNCN tăng lên và ngược lại khi giá cả các sản phẩm chăn nuôi có chiều hướng giảm thì người chăn nuôi sẽ ít đầu tư hơn cho chăn nuôi kể cả TACNCN do đó cầu TACNCN sẽ giảm
Trang 29- Giá cả các nguyên liệu đơn: Khác với các hàng hoá khác TACNCN hoàn toàn
có thể được thay thế bởi các nguồn nguyên liệu đơn có từ trồng trọt như ngô, gạo, sắn, và chăn nuôi như bột thịt, cá, bột cá, Vì vậy, khi giá cả các nguyên liệu đơn giảm thì cầu về TACNCN cũng giảm do được thay thế bởi các nguồn thức ăn khác còn khi giá các nguyên liệu đơn tăng lên thì cầu TACNCN cũng tăng lên
2.4.2.3 Nguồn cung thức ăn chăn nuôi
Do đặc điểm của ngành chăn nuôi là rất đa dạng về quy mô nên cung TACNCN cũng rất đa dạng
Khi chăn nuôi ở quy mô cực nhỏ thì phần lớn các hộ chăn nuôi tận dụng thức
ăn thừa của con người hoặc sử dụng những phụ phẩm có được từ trồng trọt của gia
đình tự chế biến để chăn nuôi, lúc đó cung TACNCN chỉ dừng ở mức tự cung
Khi chăn nuôi phát triển lên quy mô lớn hơn ở mức vừa và nhỏ thì nguồn thức ăn dư thừa hoặc phụ phẩm có được từ trồng trọt của gia đình không thể đáp ứng đủ nhu cầu chăn nuôi nên các hộ chăn nuôi có nhu cầu sử dụng thêm nguồn TACNCN bên ngoài để chăn nuôi khi đó sẽ hình thành các nhà cung cấp TACNCN quy mô vừa và nhỏ Tuy nhiên, cung TACNCN lúc này mới chỉ dừng ở mức nhất
định vì các hộ chăn nuôi vẫn chăn nuôi theo kiểu bán công nghiệp, một phần tận dụng nguyên liệu sẵn có, một phần sử dụng TACNCN
Khi chăn nuôi phát triển cao theo kiểu trang trại lớn thì các chủ trang trại buộc phải sử dụng hoàn toàn TACNCN để chăn nuôi do đòi hỏi của kỹ thuật và quy mô chăn nuôi, lúc này sẽ hình thành các nhà cung cấp TACNCN lớn đáp ứng nhu cầu chăn nuôi
Một đặc điểm nữa của ngành chăn nuôi là trải dài trên một địa bàn rộng lớn với những tập quán và trình độ chăn nuôi khác nhau nên bản thân các nhà sản xuất TACNCN không thể đáp ứng được mọi nhu cầu đa dạng, họ phải dựa vào các đại lý phân phối để cung cấp TACNCN đến người chăn nuôi Hệ thống cung cấp TACNCN này phân thành nhiều cấp
Lớn nhất là các đại lý cấp I đó là các đại lý có tiềm lực kinh tế và tiềm lực thị trường lớn, được ký hợp đồng trực tiếp với các nhà máy sản xuất TACNCN thường là một vài nhà máy và họ được phân một vùng thị trường nhất định thông
Trang 30thường là phân theo địa giới hành chính, một đại lý cấp I thường bao quát một tỉnh hoặc nửa tỉnh Các đại lý này được quyền lấy hàng TACNCN trực tiếp của các nhà máy sản xuất, được hưởng tất cả các chế độ chiết khấu, hoa hồng lớn nhất dành cho nhà phân phối cấp I và họ có quyền và được các doanh nghiệp hỗ trợ việc thiết lập các đại lý cấp II, cấp III và mở rộng thị trường trong khu vực được phân Các đại lý cấp I thường bán hàng cho các đại lý cấp II hoặc các trang trại chăn nuôi quy mô lớn
Tiếp đến là các đại lý cấp II là những đại lý cấp dưới của đại lý cấp I do tiềm lực kinh tế và tiềm lực thị trường hạn chế, họ được bán hàng TACNCN của nhà máy sản xuất TACNCN nhưng không được ký hợp đồng trực tiếp với nhà máy mà phải lấy hàng qua các đại lý cấp I Các đại lý này cũng được các đại lý cấp I phân cho một vùng thị trường nhất định khoảng hai, ba huyện để bán hàng và mở rộng thị trường Các đại lý này bán hàng cho các đại lý cấp III hoặc các trang trại và hộ chăn nuôi quy mô nhỏ và vừa Các đại lý cấp II không bị ràng buộc bởi hợp đồng với các nhà máy sản xuất TACNCN nên cùng một lúc họ có thể phân phối cho nhiều đại lý cấp I của các nhà máy khác nhau và cũng rất dễ thay đổi h5ng TACNCN mà họ bán hàng Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất TACNCN đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ có thể thậm nhập, mở rộng thị trường
Các đại lý cấp III là những đại lý nhỏ cấp x5 họ lấy lại hàng của các đại lý cấp II để bán cho các hộ chăn nuôi trực tiếp có quy mô rất nhỏ Thông thường các
đại lý này cũng là hộ chăn nuôi có uy tín trong vùng, họ lấy TACNCN về một phần
để dùng, một phần để bán lại cho các hộ chăn nuôi khác
Như vậy, tuỳ thuộc vào quy mô và trình độ chăn nuôi, hệ thống phân phối
mà quá trình cung ứng TACNCN có quy mô và đối tượng phục vụ khác nhau Khi quy mô chăn nuôi quá nhỏ, trình độ chăn nuôi thấp cung ứng TACNCN dừng ở mức tự cung Khi quy mô chăn nuôi lớn dần, trình độ chăn nuôi phát triển, cung ứng TACNCN sẽ phát triển theo từ quy mô vừa và nhỏ đến quy mô lớn nhờ hệ thống đại lý từ cấp III, cấp II và cấp I
Trang 312.4.2.4 Khả năng cung cấp nguyên liệu sản xuất và giá thức ăn chăn nuôi công nghiệp trong nước
Cho đến nay, ở nước ta chưa tự sản xuất được nguyên liệu chế biến premix, chất phụ gia và một số các loại chất bổ sung khác phục vụ chế biến TACNCN Khả năng cung cấp nguyên liệu trong nước để chế biến TACNCN đáp ứng được 68-75% nhu cầu Năm 2005, trong nước cung cấp khoảng 3,5 triệu tấn tấm và cám gạo, 2,5 triệu tấn ngô, 1,8 triệu tấn khoai và sắn, 190 nghìn tấn đậu tương và lạc, 35 nghìn tấn bột cá,… còn lại chúng ta phải nhập khẩu 25-38% tổng sản lượng nguyên liệu chế biến TACN Trong khi đó tại các nước sản xuất hàng nông sản xuất khẩu, Chính phủ đ5 ngừng trợ giá cho người sản xuất (theo quy định của WTO) Vì thế, giá một số nông sản phục vụ chăn nuôi (ngô, đậu tương, ) trở về với giá thực sản xuất Chính vì vậy, giá TACNCN của Việt Nam luôn cao hơn so với các nước trong khu vực và thế giới 10-20% Trong khi đó, giá TACNCN có xu hướng tăng dần, mỗi năm tăng 4-5% so với năm trước Điều này là một trở ngại lớn cho các doanh nghiệp sản xuất TACNCN khi gia nhập WTO [32]
2.5 Thực trạng ngành chăn nuôi và Thức ăn chăn nuôi công nghiệp Việt Nam
2.5.1 Thực trạng và xu thế phát triển của ngành chăn nuôi Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia có nền nông nghiệp lúa nước rất lâu đời, do đó ngành chăn nuôi cũng từ đó mà hình thành phát triển Sự phát triển của ngành chăn nuôi gắn liền với sự phát triển của ngành trồng trọt, gắn với đời sống và trình độ kỹ thuật của dân cư Cho đến đầu thế kỷ XIX, mặc dù chăn nuôi có phát triển nhưng săn bắt vẫn giữ vai trò quan trọng Săn bắt cùng với chăn nuôi vẫn là nguồn lực chủ yếu cung cấp thực phẩm cho x5 hội Trình độ chăn nuôi vẫn còn ở mức thấp và mang năng tính tự cấp tự túc
Sang thời Pháp thuộc (1884-1945) ngành chăn nuôi nước ta đ5 có đủ các loại gia súc, gia cầm, song lợn vẫn là vật nuôi có phổ biến nhất và chủ yếu tập trung ở
đồng bằng sông Hồng Tuy nhiên, do khả năng phát triển của ngành trồng trọt đặc biệt là cây lúa ở miền Nam tạo ra lượng thóc gạo rất lớn nên người nông dân Nam
bộ có điều kiện phát triển chăn nuôi Năm 1920, người Pháp cho nhập giống lợn Craonais vào miền Nam đ5 cải tạo giống lợn Bồ Xụ trên cơ sở lai lợn đực giống
Trang 32Craonais với lợn nái Tàu pha sẵn có ở địa phương Năm 1932, nhập lợn đực giống Becsia cho lai với lợn cái Bồ Xụ hình thành nhóm lợn bông Ba Xuyên ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ Năm 1936, nhập giống lợn Yocsia cho lai với lợn Bồ Xụ hình thành nhóm lợn trắng Thuộc Nhiêu ở tỉnh Tiền Giang và một số tỉnh miền Đông Nam Bộ
Bước vào thời kỳ phục hồi kinh tế (1954-1960) đàn trâu bò cày kéo và sinh sản phục hồi mạnh mẽ ở đồng bằng Chú trọng phát triển chăn nuôi gia đình
Vào những năm 1958-1960 nước ta đ5 tiến hành điều tra cơ bản đợt 2 về chăn nuôi, bước đầu nắm bắt được một số đặc điểm về giống và sức sản xuất của lợn (ỉ, Móng Cái, Mường Khương), trâu (Tuyên Quang, Yên Bái, Thanh Hoá, Nghệ An), bò (Mía), gà (Hồ, Đông Tảo), vịt (vịt Cỏ, vịt Bầu), ngỗng (Ré, Loang)
Giai đoạn 1970- 1975: Một số giống cao sản lần đầu được nhập như giống lợn Landrat, Durok của CuBa (1970), giống bò sữa Holstein Friesian Cuba (1971), giống lợn DE của Đức (1973), một số giống gà công nghiệp của CuBa và ngỗng Rheinland của Hungari (1974) Các giống này được nhập để nuôi thuần hoá và triển khai trong sản xuất Trong giai đoạn này công tác nghiên cứu khoa học trong chăn nuôi cũng được phát triển Những vấn đề về dinh dưỡng, giải pháp thức ăn, chuyển từ chăn nuôi lạc hậu dựa vào thiên nhiên sang chăn nuôi theo khẩu phần, phù hợp với lứa tuổi và tính năng sản xuất của gia súc, gia cầm, nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn thức ăn nhất là thức ăn giàu protein; nghiên cứu biện pháp tăng năng suất sinh sản, sử dụng tối đa hiệu lực con đực, nâng cao tỷ lệ thụ thai, tỷ lệ đẻ của
đàn gia súc cái; nghiên cứu các biện pháp tăng năng suất sinh trưởng bằng các biện pháp cải tạo giống nội, thuần hoá giống ngoại, lai tạo giống mới, nhầm chuyển các giống gia súc, gia cầm có năng suất sản phẩm cao, góp phần giải quyết nhu nhu cầu
về thịt và trứng ngày một tăng của x5 hội
Vào những năm 1976-1980, chúng ta đ5 tổ chức điều tra cơ bản những giống gia súc, gia cầm, nguồn TACNCN… Nghị quyết 257-CP ngày 10/7/1979 về phát triển chăn nuôi lợn, Nghị quyết 367-CP ngày 05/10/1979 về chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi trâu, bò sau đó là việc khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động theo Chỉ thị 100 ngày 13/10/1981 đ5 tạo điều kiện cho chăn nuôi gia đình phát triển Nghị quyết 10 của Bộ chính trị Đảng cộng sản Việt
Trang 33Nam ngày 05/04/1988 thúc đẩy chế độ khoán kết hợp với chính sách khuyến khích nông dân làm giàu chính đáng bằng phát triển kinh tế gia đình, thúc đẩy chăn nuôi phát triển Chính nhờ nền tảng trên, sang giai đoạn 1981-1985 đàn lợn tăng 25%,
đàn bò tăng tăng 9,3%, đàn trâu tăng 1,76% và đàn gia cầm tăng 5,8% Vào cuối những năm 1980, bên cạnh việc xuất khẩu 1 triệu tấn thóc, đ5 xuất khẩu khoảng 8.000-10.000 tấn thịt lợn thành phẩm Cùng với sự phát triển của chăn nuôi, công tác khoa học- công nghệ chăn nuôi cũng được đổi mới, phát triển theo chương trình khoa học và công nghệ có mục tiêu cấp Nhà nước như Chương trình 02.03 về phát triển chăn nuôi lợn [22]
Trong thời gian qua, chăn nuôi đ5 được định hướng dần chuyển sang hướng sản xuất hàng hoá, nhưng vẫn mang tính tự cấp tự túc, quy mô nhỏ theo từng hộ gia
đình, phân tán, kỹ thuật lạc hậu, thấp kém Chăn nuôi hàng hoá với quy mô lớn tuy
đ5 hình thành theo các quy mô trang trại ở các địa phương nhưng còn ít và chưa
đều Sản phẩm của các trang trại tạo ra hàng năm chiếm chưa đến 10% tổng sản phẩm toàn ngành, 90% còn lại do các hộ nông dân cung cấp theo phương thức chăn nuôi truyền thống [5] Do vậy, chất lượng và chủng loại sản phẩm chăn nuôi hiện nay chưa đáp ứng được yêu nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu Điều này thể hiện rõ nét trong tất cả các sản phẩm chăn nuôi như thịt, trứng, sữa Để thấy
được tình phát triển ngành chăn nuôi nước ta chúng ta xem bảng thống kê 2.1
Bảng 2.1: Số lượng gia súc, gia cầm của Việt Nam (2001-2005)
Trang 34Qua bảng 2.1 cho thấy, giai đoạn 2001-2005 số lượng đàn gia súc luôn có xu hướng tăng lên, năm sau cao hơn năm trước, bình quân cả giai đoạn tăng 6,43% Trong tổng đàn gia súc thì số lượng đàn lợn chiếm tỷ lệ cao nhất trên 70% (năm
2001 là 21,776 triệu con chiếm 74,87% tổng đàn gia súc, năm 2005 là 27,435 triệu con chiếm 73,52% tổng đàn gia súc) Điều này cho thấy chăn nuôi gia súc Việt Nam tập trung chủ yếu vào chăn nuôi lợn, do đó tốc độ phát triển bình quân giai
đoạn 2001-2005 đạt 6,0% Bên cạnh chăn nuôi gia súc chăn nuôi gia cần của Việt Nam trong giai đoạn vừa qua cũng có sự phát triển mạnh mẽ Năm 2001 tổng đàn gia cầm là 218,120 triệu con thì đến năm 2003 tổng đàn đạt 254,060 triệu con Sau
đó dịch cúm gia cầm xảy ra làm cho ngành chăn nuôi chịu nhiều tổng thất, năm
2004 tổng đàn gia cầm chỉ còn 218,150 triệu con tương đương năm 2001, sang năm
2005 khi dịch cúm gia cầm được khống chế đàn gia cầm phát triển trở lại song mới chỉ đạt 219,910 triệu con
Trong thời gian tới với mục tiêu phát triển ngành chăn nuôi Việt Nam theo hướng tập trung, công nghiệp quy mô vừa và lớn, có năng suất chất lượng, hiệu quả
và sức cạnh tranh cao,… nhằm đưa tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp lên 30% vào năm 2010 và 35% vào năm 2015 Với mục tiêu trên bảng 2.2 cho thấy, tổng
đàn gia súc năm 2006 là 38,809 triệu con và sẽ tăng lên 45,699 triệu con vào năm
2010 và 53,663 triệu con vào năm 2015 Đàn gia cầm là 228,5 triệu con năm 2006 tăng lên 281,8 triệu con vào năm 2010 và 393,7 triệu con năm 2015
Bảng 2.2 Dự báo số lượng gia súc, gia cầm giai đoạn 2006-2015
Năm
Số lượng gia súc (triệu con)
Tỷ lệ tăng BQ (%)
Số lượng gia cầm (triệu con)
Tỷ lệ tăng BQ (%)
Trang 352.5.2 Thực trạng ngành thức ăn chăn nuôi và cung ứng thức ăn chăn nuôi
Trong những năm gần đây, các giống gia, súc gia cầm có năng suất cao, sử dụng quy trình chăn nuôi tiên tiến đang ngày càng phổ biến và trở thành xu thế phát triển tất yếu Số lượng gia súc, gia cầm có sự tăng trưởng mạnh mẽ Do đó nhu cầu TACNCN cũng tăng lên đáng kể Giai đoạn 2001-2005, số lượng gia súc gia, gia cầm tăng 11,6% do đó sản lượng TACNCN tăng trưởng là 15,5% Bảng 2.3 dưới đây phản ánh lượng cầu TACNCN giai đoạn 2001-2005
Bảng 2.3 Sản lượng TACNCN giai đoạn 2001-2005 Tổng sản lượng (triệu tấn)
Tỷ lệ tăng
BQ (%)
Tỷ lệ sử dụng TACNCN
Nguồn: Cục chăn nuôi- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tháng 6-2006.
Từ bảng 2.1 và 2.3 cho thấy do số lượng gia súc, gia cầm tăng cao làm cho nhu cầu về TACNCN giai đoạn 2001-2005 có mức tăng trưởng khá cao, tỷ lệ sử dụng TACNCN là 27% và tổng sản lượng TACNCN là 3 triệu tấn thì đến trước khi
có dịch cúm gia cầm, tỷ lệ sử dụng TACNCN là 33,4% tăng 6,4% do đó sản lượng TACNCN đạt 3,85 triệu tấn tăng 13,27% Cuối năm 2003, đầu năm 2004 dịch cúm gia cầm bùng phát, đến cuối năm 2004 số lượng gia cầm giảm 14% so với năm
2003, số lượng đàn gia súc tăng 6,28% so với năm 2003 Tỷ lệ sử dụng TACNCN
đạt 36,8% chỉ tăng 3,4% so với năm 2003 Do đó sản lượng TACNCN đạt 3,9 triệu tấn chỉ tăng 1,29% so với năm 2003 Sang năm 2005, khi dịch cúm gia cầm được khống chế đàn gia cầm được phục hồi trở lại, tỷ lệ sử dụng TACNCN đạt 38,9% cho nên sản lượng TACNCN tăng cao nhất từ trước tới nay 37,02%, đạt 5,344 triệu tấn Như vậy, do quy mô chăn nuôi và tỷ lệ sử dụng TACNCN công nghiệp ngày càng tăng nên sản lượng TACNCN trong thời gian qua luôn có xu hướng tăng
Trang 36Căn cứ vào sự phát triển của đàn gia súc, gia cầm và tỷ lệ sử dụng TACNCN
có thể dự báo sản lượng TACNCN trong thời gian tới ở bảng 2.4
Bảng 2.4 Dự báo sản lượng TACNCN giai đoạn 2006-2015
Năm
TACNCN cho gia súc (triệu tấn)
TACNCN cho gia cầm (triệu tấn)
Tổng sản lượng TACNCN (triệu tấn)
Tỷ lệ
sử dụng TACNCN (%)
Nguồn: Cục nông nghiệp Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn tháng 6- năm 2006
Qua bảng 2.4 cho thấy số lượng gia súc, gia cầm trong thời gian tới có xu hướng tăng Kéo theo tỷ lệ sử dụng TACNCN tăng từ 42,8% lên 58,7% năm 2010
và 66,4% năm 2015 (sản lượng TACNCN tăng từ 6,667 triệu tấn năm 2006 lên 10,936 triệu tấn năm 2010 và 13,709 triệu tấn vào năm 2015) Như vậy, sản lượng TACNCN trong thời gian tới có xu hướng tăng khá nhanh Điều này cho thấy, tiềm năng thị trường TACNCN là rất lớn và ngày càng phát triển, đây là một thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất TACNCN trong việc khai thác mở rộng thị trường tiêu thụ
Trong những năm qua, ngành sản xuất TACNCN trên thế giới và Việt Nam phát triển rất mạnh mẽ Năm 2003, toàn thế giới với khoảng 4000 nhà máy đ5 sản xuất được 605 triệu tấn TACNCN [32] ở Việt Nam, ngành chăn nuôi có những chuyển biến sâu sắc trong 6-7 năm qua Số lượng các nhà máy chế biến TACNCN tăng từ 100 cái năm 1996 lên 260 cái năm 2005 Số lượng các nhà máy tăng lên là
do các sự gia nhập thị trường TACNCN của các nhà đầu tư trong nước và các nhà
đầu tư nước ngoài đến từ Pháp, Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc… Hàng năm, ngành sản xuất TACNCN Việt Nam sản xuất khoảng 3,2-3,4 triệu tấn/năm
Trang 37Trong tổng số các nhà máy TACNCN thì khu vực tư nhân chiếm 75%, cổ phần 3%, quốc doanh 11% và có vốn đầu tư nước ngoài 11% Các nhà máy tư nhân
có sản lượng 60% công suất thiết kế, trung bình 4900 tấn/năm, các nhà máy quốc doanh tuy sản lượng lớn hơn 8300 tấn/năm nhưng chỉ đạt 34% công suất thiết kế các nhà máy có vốn đầu tư nước ngoài có sản lượng cực lớn 90.000 tấn/năm đạt 84% công suất thiết kế
Về cơ sở hạ tầng: Trung bình các nhà máy tư nhân chỉ có 1 nhà kho, diện tích 3000-4000 m2, các nhà máy quốc doanh và nước ngoài có 2-3 nhà kho với diện tích lớn hơn Rất ít nhà máy tư nhân có các loại máy công nghiệp phục vụ công tác
xử lý và bảo quản nguyên liệu đầu vào Trong khi đó, các nhà máy quốc doanh và nước ngoài thường có 4-9 silô chứa, có ít nhất một máy sấy dùng để sấy ngô, cám gạo, có 4 máy dùng sấy bánh dầu và 2 máy dùng để sấy cá Các nhà máy tư nhân thường sử dụng máy trộn đứng vì tiết kiệm điện thì các nhà máy lớn sử dụng máy trộn ngang Phần lớn các nhà máy tư nhân không trộn đủ thời gian làm cho các nguyên liệu đơn nhất là vi lượng và premix phân bố không đều trong thành phẩm, các nhà máy quốc doanh và cổ phần dành nhiều thời gian trộn hơn song vẫn không
đạt tiêu chuẩn bằng các nhà máy nước ngoài [20]
Về kỹ thuật chế biến: Các nhà máy trong nước sử dụng lỗ sàng nghiền bột cá
to thường là 21mm nhưng các nhà máy nước ngoài thường dùng lỗ sàng nghiền bột cá nhỏ 5mm Các nhà máy tư nhân và cổ phần dùng premix nội địa, các nhà máy nước ngoài dùng premix nhập ngoại, còn các nhà máy quốc doanh dùng cả hai loại trên Trên 90% nhà máy dùng máy vi tính để lập khẩu phần với giá thành thấp, 40% nhà máy có máy phân tích nhanh giá trị dinh dưỡng nguyên liệu đầu vào làm cơ sở lập công thức tối ưu Trong những năm gần đây việc nghiên cứu và đầu tư công nghệ cho chế biến TACNCN được quan tâm nhiều hơn Các phương pháp hiện đại để đánh giá giá trị dinh dưỡng TACNCN, công nghệ chế biến, cân bằng năng lượng, độ đạm, acid amin, vitamin, khoáng đang được quan tâm nghiên cứu Mức tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng lợn từ 3,8-4,0 kg giảm xuống còn 2,9-3,1
kg trong nghiên cứu và trong đại trà là 4,0-4,5 kg xuống còn 3,2-3,5 kg; tương tự
đối với chăn nuôi gà công nghiệp tiêu tốn từ 2,5-3,0 kg thức ăn cho 1 kg tăng trọng xuống còn 2,0-2,2 kg [22] Nhìn chung, khẩu phần thức ăn có chất lượng cao, giá
Trang 38thành thấp là ở các nhà máy nước ngoài và cổ phần còn các nhà máy quốc doanh và tư nhân thì biến động lớn, sản phẩm kém ổn định
Về chủng loại thức ăn: Các nhà máy nước ngoài có sản phẩm đa dạng hơn Thức ăn đậm đặc cho lợn chiếm 19,4%, thức ăn hoàn chỉnh cho gia cầm chiếm 38% còn các nhà máy trong nước đa phần chỉ tập trung sản xuất thức ăn đậm
đặc[6] Điều đáng quan tâm trong mấy năm trở lại đây là sự vươn lên chiếm lĩnh thị trường của các nhà máy TACNCN trong nước Năm 1996 sản lượng TACNCN do các nhà máy có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 63%, còn các nhà máy tư trong nước chiếm 37% (trong đó tư nhân chiếm 22%, quốc doanh 10%, cổ phần 5%), đến năm
2003 các nhà máy trong nước đ5 vươn lên chiếm 45% sản lượng thị trường còn các nhà máy nước ngoài chỉ còn chiếm 55% thị phần Điều này cho thấy, các nhà máy trong nước đ5 dần đứng vững phát triển và có thể cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường Bảng 2.5 Tình hình cung ứng TACNCN của các nhà máy sản xuất TACNCN
Trang 39Qua bảng 2.5 cho thấy, công suất của các nhà máy TACNCN có thể đáp ứng nhu cầu chăn nuôi Tuy nhiên, phần lớn các nhà máy chưa sử dụng hết công suất Nguyên nhân là do khâu khai thác thị trường của các doanh nghiệp còn yếu, đặc biệt là các doanh nghiệp nội địa Bên cạnh đó, phần lớn các nguyên liệu sản xuất TACNCN phải nhập khẩu nên khâu dự trữ nguyên liệu để sản xuất gặp nhiều khó khăn Điều này trở thành một trở ngại lớn khi có dịch cúm gia cầm xảy ra, các nhà máy chịu sự rủi ro lớn khi các hộ chăn nuôi phá sản, một lượng vốn lớn tồn đọng tại các đại lý chưa được thu hồi, doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc quay vòng vốn kinh doanh, khả năng tích trữ nguyên liệu yếu, thiếu chủ động trong sản xuất, hiệu quả kinh doanh thấp buộc các doanh nghiệp phải hạn chế sản lượng đặc biệt là các doanh nghiệp lớn Chính vì vậy, hầu hết các doanh nghiệp sản xuất TACNCN
đều cung cấp theo đơn đặt hàng của các đại lý phân phối chứ không dám sản xuất hàng loạt Năm 2001, công suất sử dụng ở các nhà máy sản xuất TACNCN đạt 90,55% công suất thiết kế sang năm 2004, 2005 sau khi có dịch cúm gia cầm xảy
ra kết hợp với việc tăng gia hàng loạt các nguyên liệu sản xuất TACNCN nên công suất sử dụng của các nhà máy chỉ đạt khoảng 70% công suất thiết kế Điều này
được thể hiện qua biểu đồ 01
Trang 40Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm của các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp
ít thì đến năm 2005 đ5 có 22 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này Trong đó phần lớn các doanh nghiệp đều có quy mô vừa và nhỏ với đặc điểm thiếu tiềm lực kinh tế và yếu trong phòng tránh rủi ro Năm 2004, do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm và giá thành nguyên liệu sản xuất TACNCN đ5 đẩy một số cơ sở sản xuất TACNCN trên địa bàn vào tình trạng giảm mạnh sản lượng thậm chí ngừng hoạt
động Tuy nhiên, với điểm mạnh là các doanh nghiệp này là thích nghi với việc phát huy những tiềm năng của địa phương và cơ sở trong việc khai thác lợi thế so sánh để sản xuất ra những sản phẩm giá thật rẻ, hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt lợi thế vùng gần kề vùng nguyên liệu có sẵn đó là gần cảng biển Hải Phòng nơi mà 90% nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất TACNCN phải qua đó Năm 2005, với việc phục hồi ngành chăn nuôi cộng với lợi thế so sánh trên nên các doanh nghiệp sản xuất TACNCN ở Gia Lâm có sự tăng trưởng mạnh trở lại, các doanh nghiệp sản xuất TACNCN có cơ hội đầu tư vào sản xuất tung sản phẩm ra lấy lại thị phần
Để thấy rõ thực trạng của các doanh nghiệp sản xuất TACNCN tác giả chọn
và nghiên cứu 10 doanh nghiệp tiêu biểu trong số các doanh nghiệp sản xuất TACNCN ở huyện Gia Lâm