1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tác động của xây dựng khu công nghiệp bắc vinh tới việc làm và thu nhập của hộ nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp ở xã hưng đông, thành phố vinh, tỉnh nghệ an

168 1K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tác động của xây dựng khu công nghiệp bắc vinh tới việc làm và thu nhập của hộ nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp ở xã hưng đông, thành phố vinh, tỉnh nghệ an
Tác giả Hoàng Tuấn Lâm
Người hướng dẫn PGS. TS Đỗ Kim Chung
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp I
Chuyên ngành Kinh Tế Nông Nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 168
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, thạc sĩ, tiến sĩ, khóa luận, cao học, đề tài

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

trường đại học nông nghiệp i

Trang 2

Bộ giáo dục và đào tạo

trường đại học nông nghiệp i

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã

đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Hà nôi, ngày tháng năm 2006

Tác giả luận văn

Hoàng Tuấn Lâm

Trang 4

Lời cảm ơnTôi xin bày tỏ sự cám ơn trân trọng tới giáo viên hướng dẫn khoa học PGS.TS Đỗ Kim Chung – Giảng viên Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn – Người thầy đã dành nhiều thời gian tâm huyết, tận tình hướng dẫn chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này

Tôi xin được bày tỏ tấm lòng biết ơn đến Ban giám hiệu Nhà trường, các thầy cô giáo đặc biệt là các thầy các cô trong Bộ môn Phát triển nông thôn – Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn và khoa sau đại học, những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Công ty CP giống cây trồng nghệ

an và các anh chi em đông nghiệp, những người đã tạo mọi điều kiện về thời gian

và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu khoa học

Tôi xin chân thành cám ơn UBND thành phố Vinh, các sở ban ngành: Sở

kế hoạch đầu tự, Sở xây dựng, Phòng thông kê thành phố UBND xã Hưng

Đông, hợp tác xã nông nghiệp 1 Hưng Đông và những người dân ở khu công nghiệp Bắc Vinh đã tham gia các cuộc phỏng vấn, đã cung cấp những số liệu cần thiết và giúp đỡ tôi trong quá trình tìm hiểu nghiên cứu tại địa bàn

Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tôi đã được rất nhiều sự giúp

đỡ, đông viên của các bạn và gia đình Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và ghi nhận những tình cảm quí báu đó

Tôi xin chân thành cám ơn!

Hà nôi, ngày tháng năm 2006

Tác giả luận văn

Hoàng Tuấn Lâm

Trang 5

Mục lục

1 Đặt vấn đề i

2 Một số vấn đề lý luận về nghiên cứu tác động của xây dựng khu công nghiệp tới việc làm và thu nhập của hộ nông dân 5

2.1 Thu hồi đất cho xây dựng khu công nghiệp 5

2.3 Tác động của xây dựng khu công nghiệp đến lao động và việc làm 25 2.4 Những kinh nghiệm xây dựng khu công nghiệp 31

3 Địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 41

4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 58

4.1 Tình hình lao động việc làm và thu nhập ở khu Bắc Vinh trước

4.1.1 Tình hình nhân khẩu lao động ở khu Bắc Vinh 58 4.1.2 Tình hình về chủ hộ nông dân điều tra 60

4.1.4 Tình hình thu nhập của hộ nông dân ở khu Bắc Vinh 65

Trang 6

4.2.1 Mục tiêu xây dựng khu công nghiệp Bắc Vinh 69 4.2.2 Quy mô xây dựng khu công nghiệp Bắc Vinh 69 4.2.3 Quá trình thu hồi đất ở khu công nghiệp Bắc Vinh 75 4.3 Tác động của khu công nghiệp Bắc Vinh tới lao động, việc làm và

4.3.2 Tác động về việc làm của hộ nông dân ở khu Bắc Vinh 83 4.3.3 Tình hình sử dụng vốn của các hộ điều tra 87 4.3.4 Tác động về chuyển dịch cơ cấu ngành nghề 90 4.3.5 Tác động tới thu nhập của nhóm hộ điều tra ở khu Bắc Vinh 95 4.3.6 Tác động tới phương hướng sản xuất kinh doanh sau khi thu

4.4 Giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo việc làm và nâng cao thu nhập

4.4.1 Quan điểm đảm bảo việc làm, thu nhập và đời sống của người

dân có đất bị thu hồi để xây dựng khu công nghiệp 110 4.4.2 Các giải pháp chủ yếu, để giải quyết việc làm, thu nhập và đời

sống của người dân có đất bị thu hồi, đất để xây dựng các khu

5 Kết luận và khuyến nghị 130 Tài liệu tham khảo 133 Phụ lục 136

Trang 7

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

HĐSXKD Hoạt động sản xuất kinh doanh

ILO Tổ chức lao động quốc tế

KBTHĐ Không bị thu hồi đất

Trang 8

SXKD S¶n xuÊt Kinh doanh

Trang 9

Danh mục bảng

3.1 Các dự án đã đầu tư vào khu công nghiệp 47

3.3 Thông tin thu thập từ cấp thành phố, xã, thôn, khu công nghiệp 51

3.5 Ước lương thời gian lao động trong năm của hộ 56 4.1 Tình hình nhân khẩu và lao động ở khu Bắc Vinh trước khi có

4.3 Cơ cấu lao động của nhóm hộ điều tra trước khi thu hồi đất 62 4.4 Tình hình việc làm của nhóm hộ điều tra trước khi thu hồi đất 65 4.5: Thu nhập của hộ điều tra trước thu hồi đất 66 4.6 Tình hình thu nhập của các nhóm hộ điều tra phân theo mức sống 68 4.7 Tình hình lao động ở các doanh nghiệp trong khu công nghiệp

4.8 Tình hình doanh thu của doanh nghiệp và thu nhập của cán bộ

công nhân viên trong khu công nghiệp Bắc Vinh 73 4.9 Khung giá đền bù của các loại đất Giai đoạn I 77 4.10 Tình hình đất nông nghiệp của xã trước khi bị thu hồi đất 78 4.11 Tình hình đất đai của các nhóm hộ điều tra 79 4.12 Thực trạng đất bị thu hồi của các nhóm hộ điều tra 80 4.13 Tình hình lao động trước và sau khi có khu công nghiệp ở khu

4.14 Thời gian làm việc làm của lao động trong các nhóm hộ điều tra

Trang 10

4.15 Tình hình sử dụng tiền đền bù của các hộ điều tra 88 4.16 Biến động về ngành nghề của nhóm hộ điều tra 91 4.17 Cơ cấu lao động trước và sau khi bị thu hồi đất của nhóm hộ

4.21 Biến động trong thu nhập và cơ cấu thu nhập trước và sau có khu

Trang 11

Danh mục bản đồ, Sơ đồ, Đồ thị

Sơ đồ 2.1 Dân số lao động việc làm và thất nghiệp trong nền kinh tế 19

Đồ thị 2.1 Đánh giá lợi ích của dự án sau khi có dự án 30 Bản đồ 2.1 Ranh giới hành chính thành phố Vinh 42

Bản đồ 2.3 Hiện trạng sử dụng đất năm 2005 của xã H−ng đông 45

Trang 12

1 Đặt vấn đề

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Xây dựng khu công nghiệp (KCN) là một trong những yếu tố quan trọng của quá trình đô thị hoá Đất nước ta đang trong quá trình phát triển gắn liền với sự nghiệp CNH - HĐH Các quá trình đó đặt ra những yêu cầu và thách thức mới Các đô thị phải được mở rộng quy mô và HĐH, các KCN tập trung quy mô lớn Cùng với các KCN vừa và nhỏ được hình thành, hệ thống cơ sở hạ tầng phải được cải tạo, hoàn thiện và xây dựng mới Tính đến tháng 3-2004, ở Việt Nam có khoảng 169 KCN và khu chế xuất đã được quy hoạch phát triển, trong đó có 94 KCN, 3 khu chế xuất và 1 khu công nghệ cao đã được thành lập với tổng diện tích trên 19.050 ha, diện tích có thể cho thuê trên 13.204 ha (chưa kể đến diện tích 14.000 ha của KCN Dung Quất) Ngoài ra còn có trên

100 cụm công nghiệp hoặc KCN vừa và nhỏ nằm rải rác trên 20 địa phương trong cả nước Về quy mô KCN và khu chế xuất, bình quân diện tích là 189 ha/khu KCN lớn nhất (không kể KCN Dung Quất) là KCN Phú Mỹ I thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với diện tích 954,4 ha, KCN nhỏ nhất là KCN Bình Chiểu thuộc thành phố Hồ Chí Minh với diện tích là 28 ha Các KCN chủ yếu

được hình thành trong giai đoạn 1996-1998 và tập trung ở 3 vùng kinh tế trọng

điểm với tỷ lệ diện tích lấp đầy đạt khoảng hơn 40% Tính bình quân sau hơn

10 năm diện tích các loại đất được đưa vào cho xây dựng KCN và khu chế xuất là 20.450 ha/năm Sau hơn 10 năm xây dựng và phát triển, các KCN và khu chế xuất đã tạo được sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước (trên 40 nước và vùng lãnh thổ) nên thu hút được 2.802 dự án đầu tư, bao gồm 1.404 dự án có vốn FDI, với tổng số vốn đăng ký là 9.868 triệu USD và 1.398

dự án đầu tư trong nước, với tổng dự toán 55,9 nghìn tỉ đồng Riêng ở Bà Rịa - Vũng Tàu, quý I năm 2004 có 24 doanh nghiệp đang triển khai đầu tư vào 6 KCN, với vốn thực hiện đạt 79,9 triệu USD Trong đó, số dự án đầu tư được

Trang 13

thực hiện nhiều nhất là: 3 dự án, với 4,1 triệu USD Tính đến tháng 3-2004, các KCN Bà Rịa Vũng Tàu có vốn đầu tư thực hiện của các dự án đạt trên 2,7 tỉ

USD, chiếm tỷ lệ 71% tổng vốn đầu tư đăng ký [15]

Quá trình phát triển đó đã tác động mạnh mẽ đến đời sống kinh tế xã hội,

nó đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới, cũng như thúc đẩy phát triển các loại hình DV, bên cạnh đó nó cũng tạo ra những khó khăn khi những người lao

động BTHĐ không có khả năng chuyển đổi việc làm dẫn tới thất nghiệp

Thành phố Vinh cũng không nằm ngoài quy luật phát triển chung của đất nước hàng năm diện tích đất nông nghiệp được chuyển sang đất chuyên dụng

từ 60 ha đến 70 ha để xây dựng KCN và khu đô thị mới, quá trình xây dựng KCN ở đây diễn ra mạnh, cụ thể KCN Bắc Vinh đã đầu tư xong giai đoạn một với diện tích 60 ha và KCN nhỏ Đông Vĩnh đã đi vào hoạt động trong những năm tới sẽ xây dựng các KCN nhỏ tại các phường, xã Hưng Lộc, Nghi Phú Quá trình xây dựng đó đã có những tác động tích cực cũng như tiêu cực đến

đời sống kinh tế xã hội

+ Về tích cực: là tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới, phát triển nhiều loại

hình DV mới trên địa bàn nhờ đó nâng cao thu nhập cho người lao động Tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư, mặt khác nó cũng giải quyết tốt hơn việc xử lý chất thải

+ Về tiêu cực: Xây dựng KCN cũng làm mất việc làm của một số lao

động nông nghiệp do đất nông nghiệp bị thu hẹp Mặt khác do khả năng thích ứng với việc làm mới của một số tầng lớp dân cư thấp nên dẫn tới thất nghiệp

và tệ nạn xã hội cũng phức tạp hơn…

Từ thực tế trên, để tìm hiểu thực trạng việc làm và thu nhập của các hộ nông dân ở trong vùng xây dựng KCN Bắc Vinh Sau khi họ BTHĐ nông nghiệp thì họ nắm bắt cơ hội việc làm mới như thế nào để duy trì và nâng cao

đời sống cho gia đình, cũng như phải đương đầu với những thách thức gì khi không đáp ứng được yêu cầu của công việc mới Quá trình xây dựng KCN Bắc

Trang 14

Vinh đã tạo ra những cơ hội gì? Những thách thức gì? Đối với phát triển kinh tế xã hội nói chung, cho việc làm và thu nhập của hộ nông dân do thu hồi đất

nông nghiệp nói riêng, nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu

tác động của xây dựng khu công nghiệp Bắc Vinh tới việc làm và thu nhập của hộ nông dân do bị thu hồi đất nông nghiệp ở xã H−ng Đông,

thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu chung

Đánh giá những tác động của xây dựng KCN đến việc làm và thu nhập của hộ nông dân ở trong vùng có đất bị thu hồi để xây dựng KCN

- Mục tiêu cụ thể

Góp phần hệ thống hoá các vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về xây dựng KCN và sự tác động của nó đến việc làm và thu nhập của hộ nông dân

Đánh giá những tác động của xây dựng KCN Bắc Vinh đến việc làm và thu nhập của các hộ nông dân do BTHĐ nông nghiệp ở xã H−ng Đông cho xây dựng KCN ở thành phố Vinh tỉnh Nghệ An

Đề xuất một số giải pháp nhằm giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho các hộ nông dân khi BTHĐ để xây dựng KCN nói chung và trên địa bàn nghiên cứu nói riêng

1.3 Đối t−ợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối t−ợng nghiên cứu

Đối t−ợng nghiên cứu là các hộ nông dân chịu sự tác động của KCN Bắc Vinh ở xã H−ng Đông thành phố Vinh tỉnh Nghệ An nói chung và những hộ nông

dân BTHĐ nông nghiệp cho xây dựng KCN ở khu Bắc Vinh nói riêng

- Phạm vi nghiên cứu

* Phạm vi về nội dung:

Trang 15

+ Đánh giá tổng quan những thuận lợi và khó khăn về việc làm và thu nhập của hộ nông dân trong quá trình xây dựng KCN

+ Đi sâu nghiên cứu tác động của xây dựng KCN Bắc Vinh tới việc làm

và thu nhập của hộ nông dân có đất bị thu hồi ở khu Bắc Vinh xã H−ng Đông, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Trang 16

2 Một số vấn đề lý luận Về nghiên cứu tác động của xây dựng khu công nghiệp tới việc làm và thu nhập

của hộ nông dân

2.1 Thu hồi đất cho xây dựng khu công nghiệp

2.1.1 Xây dựng khu công nghiệp

Khu công nghiệp: là khu vực tập trung nhiều doanh nghiệp và cả xí

nghiệp công nghiệp, doanh nghiệp phục vụ sản xuất và doanh nghiệp phục vụ khác Có ranh giới địa lý xác định Các doanh nghiệp trong KCN cùng sử

dụng một hệ thống kỹ thuật hạ tầng và hạ tầng xã hội [4]

Chức năng chủ yếu của KCN là sản xuất và cung cấp DV trực tiếp phục vụ sản xuất Trong những trường hợp cụ thể KCN có thể có khu DV công cộng, khu nhà ở Trong KCN có thể có khu chế xuất, khu kỹ thuật cao [18]

Các KCN là do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập và quản lý phát triển theo một quy chế riêng

Định nghĩa thứ nhất: KCN là khu vực lãnh thổ rộng có nền tảng là sản xuất

công nghiệp, đan xen với nhiều hoạt động DV, kể cả DV sản xuất công nghiệp,

DV sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thương mại, văn phòng, nhà ở Về thực chất

mô hình này là khu hành chính kinh tế đặc biệt như KCN Bata (Indonesia) các công viên công cộng ở khu vực lãnh thổ Đài Loan và một số nước Tây âu [20]

Định nghĩa thứ hai: KCN là khu vực lãnh thổ hữu hạn ở đó tập trung các

doanh nghiệp công nghiệp và DV sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh

Trang 17

sống Mô hình này được xây dựng ở một số nước như Malaysia, Indonesia, Thái lan , khu vực lãnh thổ Đài Loan [20]

Định nghĩa của Việt Nam: theo quy chế KCN, ban hành theo quyết

định 36/CP ngày 24/4/1997 KCN là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện DV cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất [5]

Từ ba định nghĩa trên luận án thống nhất với định nghĩa KCN của Việt Nam

Từ định nghĩa về KCN cho phép rút ra một số kết luận sau:

Khu công nghiệp là một khu vực lãnh thổ hữu hạn được phân cách trong

đường bao hữu hình hoặc vô hình

Được phân bố tập trung với hạt nhân là các doanh nghiệp sản xuất công

nghiệp (hay tiêu dùng, công nghệ chế biến, tư liệu sản xuất) và hệ thống doanh

nghiệp công nghiệp hỗ trợ với doanh nghiệp DV cho sản xuất công nghiệp Các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và DV cho sản xuất công nghiệp

sử dụng hạ tầng kỹ thuật và xã hội theo một cơ chế tổ chức quản lý thống nhất của Ban quản lý KCN

Trong KCN có doanh nghiệp xây dựng KCN, có trách nhiệm đảm bảo hạ tầng kỹ thuật và xã hội của cả khu trong thời gian tồn tại KCN

Nguồn nhân lực chủ yếu là lao động trong nước và tại chỗ

Được quản lý trực tiếp của Chính phủ (từ quyết định thành lập, quy hoạch tổng thể, khung điều lệ mẫu, kiểm tra, kiểm soát )

Một số mô hình công nghiệp khác: KCN địa phương, khu TTCN, KCN

(nông lâm ngư nghiệp) là các khu sản xuất gắn với địa phương có các nghề

TTCN, nghề truyền thống, sản xuất sản phẩm nông - lâm - ngư nghiệp kết hợp

với DV kinh doanh du lịch…

Trang 18

Đặc điểm cơ cấu sản xuất của các KCN này chủ yếu dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ gần với vùng dân cư có các nghề nghiệp truyền thống, TTCN

và các lợi thế về nông - lâm - ngư nghiệp (cây trồng, chăn nuôi, chế biến) [18]

Một số khái niệm khác về khu công nghiệp:

Cho đến nay chưa có quy định pháp quy nào về khái niệm này, song thực

tế có thể đúc rút ra một số khái niệm sau:

Cụm công nghiệp: để thuận lợi trong vận hành sản xuất, quản lý đạt được hiệu quả cao, KCN có thể phân thành nhiều “cụm” hay nhóm xí nghiệp công nghiệp có tính chất gần giống nhau về công nghệ, dễ hợp tác sản xuất, cấp độ vệ sinh, xử lý môi trường, vận tải hàng hóa, quy mô xí nghiệp công nghiệp để thuận lợi cho công tác quản lý quy hoạch xây dựng và bảo vệ môi trường [18] Lô xí nghiệp: mỗi một xí nghiệp công nghiệp (doanh nghiệp) trong KCN

đều cần một diện tích đất đai cụ thể, mỗi đơn vị diện tích này gọi là “lô” đất xí

nghiệp công nghiệp (Mô đun đơn vị trong quy hoạch) có nhiều lô xí nghiệp

công nghiệp trong một cụm công nghiệp [18]

Hệ thống hạ tầng kỹ thuật hoặc “kết cấu hạ tầng” KCN được hiểu như nhau là các công trình kỹ thuật sàn nền, đường giao thông, sân bãi, cung cấp

điện, cung cấp nước sạch, thoát nước, xử lý chất thải và cung cấp các nguồn năng lượng khác [18]

Hệ thống hạ tầng xã hội là hệ thống các công trình đảm bảo cho công nhân KCN về nơi ở, thoát nước, xử lý chất thải và cung cấp các nguồn năng lượng khác

- Bản chất của xây dựng khu công nghiệp

Bản chất của xây dựng KCN là quá trình phát triển các nhà máy xí nghiệp một cách có quy hoạch tổng thể trên phương diện toàn quốc gia, hay một vùng lãnh thổ nhất định nhằm tương trợ lẫn nhau trong SXKD công nghiệp cũng như việc xử lý chất thải Mặt khác việc xây dựng các KCN còn tạo điều kiện cho các địa phương ứng dụng một cách nhanh nhất tiến bộ khoa học kỹ thuật nhờ đó nâng cao được năng suất cũng như hạn chế được vấn đề

Trang 19

gây ô nhiễm môi trường, mặt khác nhờ đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất sẽ nâng cao trình độ cũng như tay nghề cho công nhân, cũng như cán bộ kỹ thuật, dẫn tới sẽ có một lực lượng lao động năng động có tay nghề cao trong sản xuất hiện nay là rất cần thiết

- Vai trò của xây dựng khu công nghiệp

Thu hút vốn đầu tư, tạo nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển kinh

tế xã hội của đất nước, đa dạng hoá nguồn vốn đầu tư phát triển hạ tầng, góp phần tạo ra môi trường hấp dẫn trong việc thu hút đầu tư trong và ngoài nước Góp phần tăng trưởng kinh tế, tạo thêm năng lực sản xuất mới, tạo nguồn hàng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu góp phần chuyển dịch kinh tế và đẩy nhanh tốc độ CNH - HĐH, tạo điều kiện phát triển công nghiệp theo quy hoạch, tránh tự phát, phân tán, tiết kiệm đất đai, sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư, tiết kiệm chi phí sản xuất

Trong khi các nước đang phát triển dư thừa sức lao động thì tình trạng khan hiếm nguồn lao động và giá nhân công cao ở các nước tư bản phát triển

đặt các nước này trước sự lựa chọn sử dụng lao động dồi dào ở các nước đang phát triển Thực tiễn cho thấy, KCN là công cụ hữu hiệu thực hiện chiến lược lâu dài về tạo việc làm và chuyển đổi cơ cấu lao động cũng như sử dụng lao

động một cách hiệu qủa nhất ở các nước đang phát triển

Du nhập kỹ thuật và công nghệ tiên tiến và học tập kinh nghiêm quản lý các công ty tư bản nước ngoài Để tránh bị tụt hậu về kinh tế đặc biệt trong sản xuất công nghiệp và tăng sức cạnh tranh hàng xuất khẩu trên thị trường thế giới, các nước đang phát triển muốn nhanh chóng phát triển khoa học kỹ thuật của quốc gia mình, nâng cao trình độ quản lý kinh tế đất nước Xây dựng KCN để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, từ đó tạo điều kiện nhập khẩu kỹ thuật, công nghệ của các công ty tư bản nước ngoài, học tập quản lý kinh tế của họ là biện pháp hữu hiệu mà nhiều nước từng áp dụng như Trung Quốc, Hàn Quốc , khu vực lãnh thổ Đài Loan

Trang 20

Là hạt nhân thúc đẩy phát triển kinh tế vùng, lãnh thổ, đẩy nhanh tốc độ

đô thị hoá Xây dựng KCN là nhân tố thúc đẩy tốc độ đô thị hoá và tác động lan toả tích cực trong việc CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn

- Tập trung xử lý chất thải, bảo vệ môi trường

Do tập trung các cơ sở sản xuất nên có điều kiện thuận lợi trong việc kiểm soát xử lý chất thải và bảo vệ môi trường KCN là địa điểm tốt nhất để di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm từ các đô thị, thành phố lớn, phục vụ mục tiêu phát triển công nghiệp bền vững

KCN còn có vai trò quan trọng trong chính sách đối ngoại của các quốc gia KCN là nơi thử nghiệm chính sách kinh tế mới đặc biệt là chính sách kinh tế đối ngoại KCN luôn đi đầu trong việc phát triển chính sách kinh tế đối ngoại và thường thể hiện xu hướng của chính sách đối ngoại của toàn bộ nền kinh tế

KCN đóng vai trò tiên phong trong sự phát triển kinh tế quốc dân KCN

sẽ là đầu tàu tăng trưởng kinh tế, kéo theo sự phát triển ở những vùng lân cận

và các vùng khác của đất nước Tác động của KCN tới vùng kinh tế khác sẽ diễn ra theo kiểu “vết dầu loang”

Qua các vai trò của KCN nêu trên cho ta thấy vai trò khác biệt và nổi trội cả về chất và lượng của hình thức KCN so với cụm công nghiệp và doanh nghiệp công nghiệp độc lập phân tán được thể hiện qua các tiêu chí tác động của nó như sau:

Đối với nhà đầu tư vào KCN: với cơ sở hạ tầng kỹ thuật- xã hội sẵn có, nhà đầu tư vào KCN có thể xây dựng được ngay nhà máy, xí nghiệp của mình Trong khi đó nếu đầu tư ở ngoài KCN, nhà đầu tư sẽ mất nhiều thời gian và tiền bạc trong việc đền bù, giải phóng mặt bằng, mất thời gian tốn kém trong việc chờ đợi các đầu nối kỹ thuật cho sản xuất như: điện, cấp nước, thoát nước, viễn thông, giao thông

Đặc biệt đối với các nhà đầu tư nước ngoài, khi đầu tư các dự án có công nghệ cao, đòi hỏi chất lượng cơ sở hạ tầng ở mức độ cao, khi đầu tư ở ngoài

Trang 21

KCN khó có thể đáp ứng được trong điều kiện hiện tại của Việt Nam (điện, nước không ổn định…) Điều này lý giải, hầu hết các dự án sản xuất công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều nằm trong KCN

Cơ chế quản lý “một cửa, tại chỗ” trong KCN, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến các thủ tục xuất, nhập khẩu vật tư, hàng hoá cho sản xuất, thủ tục hải quan, thuế, tuyển dụng lao động… Trong khi đó các doanh nghiệp công nghiệp ở ngoài KCN rất vất vả khi phải giải quyết các vấn đề nêu trên

Đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế vĩ mô Thì việc xây dựng KCN theo quy hoạch phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội (KT-XH) của quốc gia, chiến lược phát triển công nghiệp, chiến lược mậu dịch quốc tế… tạo được bước đi phù hợp với khả năng của đất nước về tài chính, thu hút đầu tư, phát triển hạ tầng… của từng thời kỳ, đảm bảo phân bố lực lượng sản xuất trên lãnh thổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, bảo vệ môi trường, môi sinh Bài học phát triển các cụm công nghiệp như: Cao Xà Lá, Đông Anh (Hà Nội), cụm công nghiệp Việt Trì… của thời kỳ những năm 60, 70 của thế kỷ

XX ở miền Bắc nước ta, hiện để lại những hậu quả rất lớn về môi trường mà

đến nay vẫn chưa khắc phục được

Mặt khác, KCN là “hạt nhân” trong chuỗi quy hoạch đô thị sẽ được hình thành trong tương lai với hệ thống kết cấu hạ tầng ngoài KCN có chất lượng cao, gắn với sự hình thành các khu dân cư, khu thương mại, DV và các khu phụ trợ khác Khác hẳn với các cụm công nghiệp và những cơ sở công nghiệp

độc lập, khi những khu vực này phát triển thành đô thị thì lại phải tính di dời các cơ sở công nghiệp này ra khỏi đô thị mới, vừa gây tốn kém cho xã hội, vừa tạo khó khăn cho các cơ sở công nghiệp Thực tế hiện nay, một số địa phương như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Nghệ An… đang phải chi phí rất lớn về mặt tài chính để di dời các cơ sở công nghiệp trong thành phố, các

đô thị lớn vào KCN ở tại địa phương

Trang 22

Để ban hành các chính sách kinh tế mới, Nhà nước thường thử nghiệm các chính sách này ở KCN, đặc biệt là các chính sách về kinh tế đối ngoại Vì vậy có thể nói rằng KCN luôn đi đầu trong việc phát triển kinh tế đối ngoại và thường thể hiện xu hướng của chính sách đối ngoại của toàn bộ nền kinh tế

Đối với phát triển KT - XH vùng: trên cơ sở lợi thế của vùng, xây dựng

KCN vừa khai thác lợi thế của vùng vừa tránh được đầu tư phân tán, phát huy

được hiệu quả của vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Phát triển KCN là phát triển công nghiệp theo quy hoạch, bảo vệ môi trường, tiết kiệm và phát huy hiệu quả sử dụng đất và các nguồn lực khác, hình thành các đô thị mới, thực hiện văn minh, tiến bộ xã hội, giảm khoảng cách giữa các vùng nông thôn và thành thị Phát triển KCN là giải pháp quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các vùng

Đối với CNH - HĐH đất nước: thì với tính chất “vùng lãnh thổ” như đã

nêu ở trên, KCN là công cụ hữu hiệu thu hút vốn đầu tư, đặc biệt là vốn đầu tư nước ngoài, mặt khác KCN cũng là nơi du nhập kỹ thuật, công nghệ tiên tiến

và học tập kinh nghiệm quản lý của các công ty Tư Bản nước ngoài Qua hoạt

động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong KCN, đã hình thành một đội ngũ cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật có trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới cũng như trình độ quản lý phù hợp với cơ chế mới và phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đây là những điều kiện cần thiết để thực hiện CNH - HĐH đất nước

Đối với hội nhập kinh tế quốc tế: như đã phân tích ở trên, hàng hoá trong

KCN một mặt cung cấp thị trường nội địa để đảm bảo đủ sức cạnh tranh và ngăn chặn hàng nhập lậu từ các nước khác, mặt khác KCN là khu sản xuất hàng hoá xuất khẩu (chiếm 65% - 70% tổng doanh số hàng hoá do KCN làm ra) hướng ra thị trường thế giới được coi như là một cửa ngõ khai thông nền kinh tế trong nước với nền kinh tế trong khu vực và thế giới

Trang 23

Tóm lại: KCN là một hình thức tổ chức kinh tế công nghiệp tiên tiến, hữu

hiệu, phù hợp và khả thi cho các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng, là một xu thế phát triển tất yếu của quá trình công nghiệp hoá hiện

đại hoá (CNH - HĐH) và hội nhập kinh tế quốc tế trong suốt giai đoạn đổi mới và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

2.1.2 Thu hồi đất cho xây dựng các khu công nghiệp

- Khái niệm

Cho đến nay thì vẫn chưa có một khái niệm nào về thu hồi đất nói lên

được tính chất phức tạp của vấn đề này Do đó, để đi đến hiểu thế nào là thu hồi đất, chúng tôi đã nghiên cứu tình hình trong nước cũng như tình hình thực

tế ở địa phương và đã có những nhận định như sau:

Thu hồi đất là một quá trình thực hiện các chính sách của Nhà nước nhằm phục vụ phát triển KT - XH và lợi ích an ninh quốc gia Do đó việc thu hồi đất là sự thoả thuận giữa Nhà nước và các cơ quan có chức năng với người dân có đất trong vùng quy hoạch để đi đến sự thống nhất về giá cả đền bù thiệt hại cho người dân và sự ủng hộ của người dân cho việc thu hồi đất của Nhà nước Nhưng trong những năm qua, các vấn đề này hầu như chỉ thực hiện theo hình thức “top down” trên xuống, mọi giá cả là do Nhà nước và các cơ quan

có chức năng của các địa phương, có đất bị thu hồi áp giá do đó không phù hợp với giá thị trường, do đó gây không ít khó khăn trong việc thu hồi đất của Nhà nước Để hiểu rõ hơn ta xem các quy định về đền bù thiệt hại:

Đền bù thiệt hại có nghĩa là trả lại tương xứng giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì một hành vi của chủ thể khác

Việc đền bù thiệt hại này có thể vô hình “ xin lỗi ” hoặc hữu hình “ bồi thường bằng tiền, bằng vật chất khác ”, có thể do các quy định của pháp luật

điều tiết, hoặc do thoả thuận giữa các chủ thể [2]

Trang 24

- Lý do của việc thu hồi đất:

Công nghiệp hoá là quá trình phát triển của mọi quốc gia trên thế giới Trong thời đại ngày nay, thời đại khoa học công nghệ phát triển nhanh như vũ bão, kinh tế tri thức dần đi vào cuộc sống và toàn cầu hoá là một xu thế không gì có thể cưỡng lại được Thì CNH-HĐH là con đường giúp các nước chậm phát triển rút ngắn thời gian so với các nước đi trước

Về thực chất, đây là quá trình cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng phát triển mạnh công nghiệp và DV, cơ cấu lại việc phân bổ dân cư theo hướng tăng nhanh khối lượng dân cư sống ở khu vực thành thị và giảm mạnh số lượng dân cư sống ở khu vực nông thôn

Để làm được điều này, tất yếu là phải phân bổ lại các nguồn lực phát triển nền kinh tế, trong đó trước hết là nguồn nhân lực, đất đai và lao động Phải chuyển một bộ phận đất đai, trước hết là đất nông nghiệp sang phục vụ cho xây dựng KCN, khu chế xuất, cho việc mở rộng các đô thị cũ và xây dựng các đô thị mới, cũng như cho việc xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng và các công trình công cộng phục vụ lợi ích cộng đồng quốc gia Đồng thời phải chuyển một bộ phận quan trong của lực lượng lao động ở khu vực nông nghiệp

là khu vực có năng suất lao động thấp, sang khu vực công nghiệp và DV là những khu vực có năng suất lao động cao, cũng như thu nhập cao

- Cơ chế thu hồi đất

Chúng ta biết rằng, đất đai là tài sản quý giá, là tư liệu sản xuất chủ yếu của nông dân và nó quyết định cuộc sống của họ và gia đình họ Thu hồi đất

để phát triển KCN, đáp ứng nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia là vấn đề KT-XH lớn của đất nước, nhưng lại phải tính đến lợi ích cơ bản của hàng triệu người dân bị thu hồi đất Hiểu tầm quan trọng của vấn đề này, Nhà nước ta đã ban hành luật đất đai (11/2003) và hàng loạt chính sách vĩ mô hướng vào giải quyết cơ bản vấn đề lao động, việc làm khu vực nông thôn Đặc biệt, hội nghị BCH TW 5 (khoá IX) ra 2 Nghị quyết quan trọng về nông nghiệp và nông

Trang 25

thôn ngày 18/3/2002 có ý nghĩa cực kỳ quan trọng không chỉ đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn mà còn đối với vấn đề việc làm cho nông dân Đó là Nghị quyết 13-NQ/TW về tiếp tục đối mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể và Nghị quyết 14-NQ/TW về đẩy mạnh CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 - 2010 Thủ tướng Chính phủ ra quyết

định số 032/2000/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn; Quyết định số 126/1998/QĐ-TTg ngày 11/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đến năm 2000 [25], tiếp đó là quyết định số 143/2001/QĐ-TTg ngày 27/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chương trình mục tiêu xoá đói, giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2000 -2005, mới đây là Quyết định số 81/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn

Nội dung cơ bản của các chủ trương chính sách trên là: hướng vào tiếp tục giải phóng tiềm năng lao động, đất đai khu vực nông nghiệp, nông thôn tạo động lực mới cho nông dân phát triển kinh tế hộ gia đình, trang trại, làng nghề, doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nông thôn Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn đáp ứng yêu cầu cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH, hội nhập; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, sức cạnh tranh của lao động nông thôn, nông dân; tạo việc làm đầy đủ cho lao động nông thôn, nông dân, nhất là vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất, nâng cao giá trị việc làm cho nông dân

Các chính sách vĩ mô này góp phần quan trọng, tạo thế chủ động, tích cực để giải quyết vấn đề thu nhập, đời sống việc làm cho người lao động nông thôn nói chung, cho lao động nông nghiệp khi BTHĐ nói riêng Ngoài các chính sách trên, Nhà nước đã ban hành một số chính sách hỗ trợ người lao

động như Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 [6] của Chính phủ quy

định việc hỗ trợ nông dân khi thu hồi đất nông nghiệp được hỗ trợ trực tiếp

Trang 26

kinh phí dạy nghề để chuyển nghề; Nghị định 197/2004/NĐ-CP [7] của Chính

phủ về bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (thay thế Nghị

định 22/1998/NĐ-CP) Nghệ An đã thực hiện tốt các chính sách này, bổ sung

chính sách, đầu tư ngân sách cho đào tạo nghề, hỗ trợ phát triển ngành nghề,

mở rộng sản xuất, DV gắn với KCN, khu kinh tế để ổn định cuộc sống cho họ Tuy vậy, việc thực hiện các chủ trương chính sách trên của Nhà nước,

đang đối mặt với nhiều thách thức Vướng mắc lớn nhất trong giải quyết việc làm, thu nhập và đời sống cho người dân có đất bị thu hồi hiện nay là chưa có một khung chính sách đồng bộ để đảm bảo lợi ích cho người dân có đất bị thu hồi Chính vì thế, việc xây dựng một khung chính sách đồng bộ đang là một vấn đề gây bức xúc Theo chúng tôi, khung chính sách này bao gồm Chính sách đền bù, bồi thường thiệt hại; Chính sách tạo việc làm; Chính sách tái

định cư; Chính sách về trách nhiệm và nghĩa vụ của các đơn vị được nhận đất thu hồi sử dụng vào các mục đích phát triển KCN, khu đô thị; Các chính sách xã hội có liên quan

2.2 Lao động việc làm và thu nhập

2.2.1 Khái niệm về lao động việc làm

Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, vì nó tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội Lao động với năng suất, chất lượng, hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước Do vậy điều 55 Hiến

pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã ghi nhận “lao

động là quyền và nghĩa vụ của công dân” [16]

Việc làm đã được tổ chức (ILO) tổ chức lao động quốc tế quan tâm ngay từ khi nó được thành lập vào năm 1919 Hội nghị đầu tiên của tổ chức này đã thông qua công ước về thất nghiệp, yêu cầu các quốc gia thành viên phải báo cáo những

biện pháp thi hành chế độ chống thất nghiệp “Hội nghị ILO năm 1944 đã tán thành tuyên bố Phi-la-đen-phia kêu gọi đảm bảo việc làm đầy đủ và nâng cao tiêu chuẩn sinh hoạt mà mục tiêu của nó đến nay vẫn còn giá trị” [1]

Trang 27

Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân, nếu là cá nhân thì ít nhất phải đủ 18 tuổi có thuê mướn, sử dụng và trả công

lao động (điều 6 luật lao động)

Điều 13 chương II Bộ luật lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

Việt Nam quan niệm rằng “mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm” [3]

Lực lượng lao động là số người trong độ tuổi lao động đang CVL hoặc chưa CVL nhưng đang tìm kiếm việc làm Đề cập đến lực lượng lao động phải xét đến cơ cấu lao động Cơ cấu lao động là thể hiện từng loại lực lượng lao

động giản đơn, phức tạp, trí óc, chân tay và biểu hiện mối quan hệ giữa chúng Nhờ nghiên cứu lao động giúp cho mỗi quốc gia có chủ trương, phương hướng, biện pháp trong giải quyết việc làm và sử dụng lực lượng lao động có hiệu quả Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã thừa nhận con người tiến hoá

và phát triển là nhờ lao động và đã đúc kết tính xã hội hoá ngày càng cao của lao động và kéo theo đó là tính xã hội hoá ngày càng cao của việc làm Chính

từ đó đòi hỏi phải có nhận thức đúng đắn về việc làm trong kinh tế thị trường, những người trong độ tuổi lao động đang chưa CVL, nhưng không có nguyện vọng tìm kiếm việc làm thì không tính vào lực lượng lao động hoặc những người ngoài độ tuổi lao động, nhưng thực tế đang làm việc cũng không tính vào lực lượng lao động

Trong cơ chế quản lý mới, quan niệm về việc làm đã có những thay đổi cơ bản Đã có nhiều khái niệm khác nhau về việc làm Nhưng chung quy lại: việc làm là mọi hoạt động nhằm ra thu nhập đảm bảo cho bản thân gia đình xã hội không bị pháp luật ngăn cấm Theo quan niệm này thì việc làm bao gồm tất cả mọi hoạt động với những nội dung phong phú liên quan đến sự sống còn

và phát triển của một xã hội nhất định

Trang 28

Từ những cơ sở và phân tích trên chúng ta có thể kết luận người CVL là những người trong độ tuổi lao động và đang làm việc trong các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội

Việc làm là một hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, có thu nhập hoặc tạo điều kiện tăng thu nhập cho những người trong cùng hộ gia đình Việc làm bao gồm ba dạng: một là những việc làm nhằm nhận được tiền công, tiền lương dưới dạng tiền hoặc hiện vật Hai là việc làm nhằm thu được lợi nhuận Ba là những công việc cho hộ gia đình nhưng không được trả thù lao Người có việc làm bao gồm:

+ Người chủ (có thuê một hoặc nhiều lao động)

+ Người làm việc có lợi ích cho mình, độc lập KD không thuê mướn lao động + Người làm công ăn lương

+ Người làm việc trong hộ gia đình nhưng không hưởng lương

+ Xã viên HTX

+ Thanh niên của lực lượng vũ trang

Tuy nhiên việc làm là vấn đề rộng và đa dạng, người ta có thể căn cứ vào nhiều tiêu thức khác nhau và kết hợp giữa các tiêu thức đó để tính hiệu quả toàn diện về xã hội và kinh tế để đánh giá phân loại chính xác về việc làm

(việc làm đầy đủ, việc làm hợp lý và việc làm tự do), để làm cơ sở cho việc

hoạch định chính sách giải quyết việc làm của Nhà nước Có thể phân loại việc làm như sau:

Việc làm đầy đủ là người CVL và có thu nhập đủ đảm bảo cho nhu cầu sinh hoạt, vật chất, tinh thần ở mức trung bình của xã hội cho bản thân và gia

đình, không kể thời gian làm việc và năng lực làm việc của họ (đề cập đến mặt lượng, muốn làm việc thì có việc làm)

Việc làm hợp lý là người CVL đầy đủ, công việc đem lại thu nhập đảm bảo thoả mãn mức cao các nhu cầu sinh hoạt vật chất tinh thần cho bản thân

Trang 29

và gia đình, đồng thời nó phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, trình độ, sở

trường của người lao động (mặt chất)

Việc làm hợp lý là bước phát triển cao hơn của việc làm đầy đủ, việc làm hợp lý là việc làm phù hợp với năng lực sở trường và thu nhập của người lao

động Nếu kinh tế khoa học, kỹ thuật càng phát triển càng có điều kiện từng bước nâng cao tỷ trọng việc làm hợp lý

Việc làm tự do là việc làm trong đó người lao động được tự do lựa chọn việc làm với nghề nghiệp thời gian thích hợp, phát huy cao nhất khả năng sáng tạo của mình Thực tế xã hội nước ta người CVL tự do còn quá nhỏ, trong tương lai tỷ trọng này sẽ tăng dần

2.2.2 Khái niệm thất nghiệp

Trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, hiện tượng người không có công ăn việc làm - thất nghiệp là không tránh khỏi, nó phản ánh thực tế nan giải của mọi quốc gia có nền kinh tế thị trường, do quốc gia đó ở trình độ kém phát triển hay phát triển cao Khi thất nghiệp ở mức độ cao, sản xuất sút kém, nguồn lực không được huy động hết, thu nhập dân cư giảm sút, nhiều hiện tượng tiêu cực xã hội phát triển, đôi khi còn kéo theo nạn lạm phát cao Thất nghiệp đang trở thành vấn đề nóng bỏng, gây sứ ép lớn về kinh tế xã hội cho mọi quốc gia trong đó có Việt Nam

Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cũng khuyến nghị các nước dùng khái niệm người thiếu việc làm hữu hình (dạng nhìn thấy được), còn người thiếu việc làm vô hình rất khó xác định ở Việt Nam, theo hướng dẫn điều tra lao

động việc làm năm 2000 của Bộ Lao động – Thương binh xã hội “người thiếu việc làm là những người có số giờ làm việc trong tuần lễ điều tra dưới 40 giờ hoặc có số giờ làm việc nhỏ hơn số giờ quy định và có nhu cầu làm việc” [26]

Theo định nghĩa của AIGRED SANVY: “người thất nghiệp là người khoẻ mạnh muốn lao động để kiếm sống nhưng không tìm được việc làm”[13]

Trang 30

Theo quan điểm khác: một người được coi là thất nghiệp, nếu người đó KCVL và đang cố gắng đi tìm việc làm nhưng không tìm được trên thị trường [17] Khái quát về dân số lao động thất nghiệp việc làm có thể minh hoạ theo sơ đồ sau:

Ngoài độ tuổi lao động ( Trừ những lao động vẫn tham gia làm việc)

ra

Ngoài lực lượng lao động (ốm đau nội trợ, không muốn tìm việc)

Có việc làm

Dân số

Trong độ tuổi lao động ( Cả lao động ngoài độ tuổi lao động nhưng vẫn tham gia làm việc)

Lực lượng lao động

Thất nghiệp

Sơ đồ 2.1 Dân số lao động việc làm và thất nghiệp trong nền kinh tế

Thất nghiệp xảy ra khi số chỗ làm việc trống ít hơn số người đi làm việc hoặc số chỗ làm việc trống đòi hỏi trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp mà người tìm việc không đáp ứng được Có thể nói rằng: không có một nguyên nhân duy nhất dẫn đến thất nghiệp, mà thất nghiệp là kết quả của nhiều yếu tố tác động qua lại lẫn nhau [14]

Tỷ lệ thất nghiệp là % số người thất nghiệp so với tổng số người trong lực lượng lao động

Số người thất nghiệp

Tỷ lệ =

Tổng lực lượng lao động ì100 %

Trang 31

Thất nghiệp được phân loại như thất nghiệp thật sự, thất nghiệp trá hình, bán thất nghiệp, thất nghiệp và thu nhập Có những người bỏ việc, mất việc sau một thời gian nào đó sẽ được gọi lại làm việc Như vậy số người thất nghiệp là con số mang tính thời điểm, nó luôn biến đổi không ngừng theo thời gian, nó vận động từ: có việc ⇒ thất nghiệp ⇒ có việc gọi là dòng luân chuyển thất nghiệp Dòng thất nghiệp có đầu vào là những người gia nhập đội quân thất nghiệp và đầu ra là những người rời đội quân thất nghiệp, khi dòng vào lớn hơn dòng ra thì quy mô thất nghiệp tăng lên và ngược lại quy mô thất nghiệp giảm xuống Dòng thất nghiệp cân bằng thì quy mô không đổi, tỷ lệ thất nghiệp tương đối ổn định Dòng thất nghiệp phản ảnh sự biến động của thị trường lao động Quy mô thất nghiệp gắn với khoảng thời gian thất nghiệp trung bình Khoảng thời gian thất nghiệp trung bình là độ dài bình quân thời gian thất nghiệp của toàn bộ số người thất nghiệp trong cùng một thời kỳ Khoảng thời gian thất nghiệp trung bình được tính bằng công thức sau:

(1)

Trong đó: t : là khoảng thời gian thất nghiệp trung bình

N: là số người thất nghiệp trong mỗi loại

t : là thời gian thất nghiệp của mỗi loại

Nếu khoảng thời gian thất nghiệp trung bình rút ngắn thì cường độ của dòng vận chuyển tăng lên, thị trường lao động biến động mạnh, việc tìm kiếm sắp xếp việc làm trở nên khó khăn hơn

Khi dòng vào lớn hơn dòng ra, số người thất nghiệp và thời gian thất nghiệp kéo dài, xã hội có đông đảo người thất nghiệp dài hạn

Khi nghiên cứu về thất nghiệp chúng ta cần tìm hiểu về nguồn gốc thất nghiệp, thực trạng thất nghiệp, từ đó tìm ra hướng giải quyết Có thể chia ra 4 loại thất nghiệp sau:

Trang 32

+ Thất nghiệp tạm thời xảy ra khi có một số người lao động đang trong thời gian tìm kiếm công việc hoặc nơi làm việc tốt hơn, phù hợp với ý muốn riêng + Thất nghiệp cơ cấu xảy ra khi có sự mất cân đối cung cầu giữa các loại lao động, giữa các ngành nghề khu vực

+ Thất nghiệp do thiếu cầu xảy ra khi mức cầu chung về lao động giảm xuống, nguồn gốc chính là sự suy giảm tổng cầu

+ Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường là loại thất nghiệp theo lý thuyết

cổ điển Nó xảy ra khi tiền lương được ấn định không bởi các lực lượng thị trường và cao hơn mức lương cân bằng thực tế của thị trường lao động

Tóm lại: thất nghiệp tạm thời và thất nghiệp cơ cấu xảy ra trong một bộ phận riêng biệt của thị trường lao động, thất nghiệp thiếu cầu xảy ra khi nền

kinh tế đi xuống, toàn bộ thị trường lao động xã hội bị mất cân bằng (đường cầu lao động dịch chuyển sang trái) Còn theo lý thuyết cổ điển do các yếu tố

W* là mức lương cân bằng ứng với số lượng lao động ổn định N* tại E

Có thể nói thất nghiệp tự nguyện là bao gồm số người thất nghiệp tạm thời và số người thất nghiệp cơ cấu, vì đó là những người chưa sẵn sàng làm việc với mức lương tương ứng đang còn tìm kiếm cơ hội tốt hơn

2.2.3 Khái niệm về thu nhập của hộ nông dân

Thu nhập là một trong những phương tiện giúp con người định hướng giải quyết nhiều vấn đề trong cuộc sống Chính vì vậy, khi nghiên cứu hộ nông dân nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu quan tâm đến thu nhập của nông dân Song do được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau cho nên thu nhập hộ nông dân được nhìn nhận và khái niệm cũng khác nhau

Trang 33

Quan điểm của Chayanov về thu nhập của hộ nông dân trong điều kiện không tồn tại thị trường sức lao động: theo ông thu nhập của hộ nông

dân không giống thu nhập của các xí nghiệp tư bản Thu nhập trong nông hộ không chỉ có tiền lãi KD mà còn bao gồm toàn bộ giá trị lao động Như vậy, thu nhập của hộ nông dân là phần còn lại sau khi lấy tổng giá trị sản xuất trừ

đi tổng chi phí vật chất [28]

Quan điểm của Barnum và Squire về thu nhập của hộ nông dân trong

điều kiện có tồn tại thị trường sức lao động: theo các ông trong điều kiện tồn

tại thị trường sức lao động thì thời gian lao động được phân chia thành thời gian lao động nghỉ ngơi, thời gian lao động làm việc nhà, thời gian làm việc

sản xuất nông nghiệp và thời gian làm việc có tiền công (bao gồm lao động thuê ngoài và lao động đi làm thuê) Từ đó các ông khái niệm thu nhập hộ

nông dân như sau: thu nhập của hộ nông dân được tính bằng giá trị sản phẩm sau khi trừ đi các phần: phần sản phẩm hộ đã tiêu dùng, giá trị công lao động thuê ngoài, chi phí đầu vào cho sản xuất và công giá trị lao động đi làm thuê Song ở đây các ông lại tính giá tiền công giống nhau, điều này không đúng Sau

đó khai niệm này được Allanlow nghiên cứu và bổ sung thêm với điều kiện tiền

công là khác nhau cho các lao động, giá cả các sản phẩm cũng khác nhau [28]

Quan điểm của một số nhà nghiên cứu của Việt Nam: khái niệm này

còn đa dạng và phong phú nhiều Có người lấy giá trị sản phẩm hàng hoá để

đánh giá thu nhập của hộ nông dân Đứng trên góc độ khác có người lấy giá chỉ tiêu tổng giá trị trên một ha diện tích để phân tích đánh giá thu nhập của nông hộ [12] Một số khác lại cho rằng thu nhập của hộ là tổng giá trị sản phẩm từ nông nghiệp, ngành nghề, chăn nuôi, thuỷ sản… [21] Song để đi sâu nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau về nông hộ nhiều nhà khoa học và nghiên cứu kinh tế ở Việt Nam đã sử dụng chỉ tiêu thu nhập hỗn hợp để đánh

giá thu nhập của hộ nông dân Thu nhập hỗn hợp của hộ nông dân là phần thu

Trang 34

sản xuất trong nông hộ) trừ đi chi phí vật chất, trừ tiền công thuê ngoài và trừ chi phí khác (bao gồm thuế, khấu hao tài sản cố định…) [21] Như vậy, trong

phần thu nhập của nông hộ sẽ bao hàm tiền công lao động của chủ hộ, tiền công lao động của các thành viên và lãi KD

Rút ra từ các quan điểm trên Đỗ Kim Chung đưa ra quan điểm về thu

nhập của hộ như sau: vẫn là thu nhập hỗn hợp song phần chi phí mà hộ tự

sản xuất ra không qua trao đổi trên thị trường là khó hạch toán cho nên thu nhập của hộ nông dân vẫn bao gồm cả phần chi phí này Ngoài thu nhập có

được từ các hoạt động sản xuất trong nông hộ thì nguồn thu từ các hoạt động ngoài nông hộ chiếm không nhỏ [8]

Xuất phát từ những quan điểm trên và đặc trưng về hộ nông dân ở Việt Nam, chúng tôi tổng quát về khái niệm thu nhập của hộ nông dân như sau: Thu nhập của hộ nông dân bao gồm các khoản thu từ HĐSXKD trong

nông hộ, tiền công lao động gia đình (chủ hộ và các thành viên), bao gồm các

khoản trao đổi hay không được trao đổi trên thị trường

Ngoài nguồn thu nhập từ các HĐSXKD, nông hộ có thể có thu nhập từ các công việc khác như đi làm thuê, thù từ tài sản bất động sản, tiền lương hưu, từ việc chuyển nhượng tài sản khác như quà biếu, tiền gửi…

Nhìn chung, có thể nói hộ nông dân có thu nhập là từ các HĐSXKD khác nhau như thu nhập theo sản xuất mùa vụ, từ sản xuất nông nghiệp khác, từ sản xuất ngành nghề phi nông nghiệp và nguồn ngoài HĐSXKD Riêng thu nhập mùa vụ vẫn quan trọng và chiếm tỷ lệ lớn trong tổng thu nhập của hầu hết các

hộ nông dân Thu nhập mùa vụ là tổng thu nhập từ các sản phẩm được sản xuất theo mùa vụ như thóc, ngô, lạc, rau…

Như vậy, nếu so sánh hoạt động sản xuất tư nhân thì thu nhập của hoạt

động sản xuất tư nhân là phần thưởng cho người chủ các yếu tố sản xuất để tạo ra hàng hoá, DV Còn đối với hộ nông dân, thu nhập này không phân chia

Trang 35

cho các thành viên mà để làm ngân quỹ chung cho nông hộ Ngân quỹ này

được dùng vào hai mục đích đó là chi tiêu và tích lũy

Quan điểm phát triển ngành nghề phi nông nghiệp nhằm góp phần tăng thu nhập cho nông hộ:

Quan điểm này cho thấy, đến một lúc nào đó phần của dân số phục vụ cho việc ăn uống tăng lên không phải trong khu vực nông nghiệp, mà trong khu vực phi nông nghiệp như các sản phẩm được chế biến do đó, giá trị tăng thêm của khu vực công nghiệp chế biến hay các ngành nghề khác sẽ tăng lên

và vượt giá trị nông nghiệp, khi đó để đáp ứng nhu cầu đồng thời với lợi ích kinh tế, một số hộ nông dân sẽ chuyển sang sản xuất ngành nghề phi nông nghiệp Phát triển ngành nghề phi nông nghiệp còn góp phần tạo khả năng nâng cao quy mô đất nông nghiệp của các nông hộ lên mức cần thiết, giải quyết vấn đề thiếu việc làm nghiêm trọng trong nông thôn Thực tế ở Việt Nam cho thấy, với mức bình quân ruộng đất chung của cả nước thấp: 0,8 ha/hộ nông dân Nếu như phấn đấu đạt doanh số 50 tr.đ/1 ha, mỗi hộ 1 năm chỉ thu được từ nông nghiệp 40 tr.đ doanh số, trừ chi phí vật chất (50%) thu nhập ròng chỉ còn 20 tr.đ/hộ 1 năm ước đạt 333.000 đ/người/tháng như vậy nông thôn Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi nghèo đói [22] Nếu như phấn đấu

50 tr.đ/hộ - năm hay ước đạt trên 800.000 đ/người/tháng Đạt được mức chỉ tiêu này, đời sống dân cư nông thôn và nông dân, mới có sự thay đổi căn bản

và nền kinh tế nông thôn nói riêng, nền kinh tế quốc dân nói chung đã bước sang giai đoạn “cất cánh” Vì thế, muốn tăng thu nhập cho hộ nông dân, không thể chỉ phát triển nông nghiệp mà còn phải phát triển TTCN, công nghiệp và KD, buôn bán, DV ở nông thôn

Tuy nhiên, hộ nông dân muốn nâng cao thu nhập theo hướng phát triển nông nghiệp hay chuyển sang phát triển ngành nghề phi nông nghiệp, điều cần thiết là làm gì để tăng được giá trị sản phẩm thu được và giảm chi phí sản xuất

Trang 36

sản phẩm lớn hơn tốc độ tăng của chi phí Như vậy, đòi hỏi người nông dân phải tự hạch toán kinh tế cho mình Khi đó họ sẽ lựa chọn sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? để có hiệu quả nhất

2.3 Tác động của xây dựng khu công nghiệp đến lao động và việc làm

Trong những năm gần đây quá, trình xây dựng các KCN ở nước ta đã tạo nên những ảnh hưởng to lớn trong phát triển kinh tế, xã hội nó đem đến cho những khu vực dân cư BTHĐ để xây dựng KCN, những ảnh hưởng tích cực rất nhiều, nhưng cũng đem lại không ít những vấn đề tiêu cực nảy sinh cụ thể như sau:

2.3.1 Các tác động của của xây dựng khu công nghiệp đến lao động

Tăng giá trị sử dụng đất

Do đời sống kinh tế nâng cao nên việc khám chữa bệnh của người dân cũng được cải thiện

Khi các KCN phát triển thì sẽ tạo ra một khối lượng công việc lớn và nhờ

đó sẽ thu hút được một lực lượng lao động tại chỗ cũng như trong vùng

Khi KCN hoạt động thì nhu cầu về nhà ở và mức tiêu thụ hàng hoá sản phẩm trong vùng sẽ tăng lên, từ đó sẽ hình thành mạng lưới DV ở địa phương

có KCN sẽ phát triển

* Tác động tiêu cực

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng xấu đi nếu không có sự chỉ đạo chặt chẽ của các cấp có thẩm quyền

Trang 37

Một số hộ nông dân do không chuyển đổi được việc làm do đó kinh tế những hộ này ngày càng đi xuống

Số người lao động có tuổi trên 35 có nguy cơ thất nghiệp cao

Khi xây dựng KCN thì phải thu hồi đất do đó một số người dân sẽ bị mất

đất, làm cho họ thiếu việc làm giảm thu nhập

2.3.1.2 Tác động về xã hội

* Tác động tích cực

Thay đổi bộ mặt văn hoá của địa phương

Phát triển cộng đồng tổ chức

Thay đổi nếp sống của cộng đồng theo hướng tốt lên

Do kinh tế phát triển nên các hộ nông dân ở đây có điều kiện tiếp xúc với phương tiện thông tin đại chúng nhiều hơn, có cơ hội hưởng thụ văn hoá nhiều hơn

Nâng cao khả năng xử lý chất thải cho các nhà máy

Xây dựng KCN tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong công tác

đầu tư sản xuất một cách nhanh chóng hơn và đỡ tốn kém trong công tác đầu tư mặt bằng cơ sở hạ tầng

Trang 38

Nhờ có KCN mà các nhà máy công nghiệp trước đây nằm trong khu đô thị sẽ chuyển vào trong KCN, từ đó tránh được sự ô nhiễm ở trung tâm đô thị, mặt khác khi tập trung lại thì công tác xử lý chất thải ở KCN được giải quyết một cách có quy mô và đồng bộ hơn, đỡ tốn kém hơn cho các nhà máy

* Tác động tiêu cực

Gây ô nhiễm môi trường cho địa phương có KCN

KCN hoạt động sẽ kéo theo nhiều loại hình DV phát triển do đó một số tệ nạn xã hội cũng phát triển

KCN hoạt động sẽ gây ra ô nhiễm không khí cũng như nguồn nước cho khu vực đó, nếu không có biện phát xử lý chất thải một cách có khoa học

2.3.1.4 Tác động về việc làm

* Tác động tích cực

Tăng cơ hội việc làm của người dân:

Xây dựng KCN thì nhu cầu về lao động vào các ngành công nghiệp tại KCN sẽ tăng, dẫn tới lực lượng lao động ở độ tuổi còn trẻ trong vùng sẽ có cơ hôi học tập để đáp ứng được công việc Từ đó sẽ có công việc ổn định và thu nhập cao hơn lao động nông nghiệp trước đây

Xây dựng KCN sẽ kéo theo nhiều loại hình DV phát triển thì những người dân trong vùng có cơ hội về việc làm mới nhờ đó nâng cao thu nhập Khi xây dựng KCN nhu cầu về nhà ở tăng do có nhiều công nhân từ nơi khác tới lao động trong KCN, nhờ đó các hộ dân xung quanh KCN có thể xây dựng nhà cho công nhân thuê nhờ, đó đã nâng cao thu nhập cho hộ

Việc làm cũ của người dân phát triển:

Khi xây dựng KCN thì những hộ nông dân mất đất do không đáp ứng

được công việc mới có tính công nghiệp cao, trong khi đó ở một số địa phương lại có nghề truyền thống về TTCN, thì lực lượng lao đồng này sẽ tham gia vào nhờ đó ngành nghề này sẽ phát triển Mặt khác các công việc này có thể tận

Trang 39

dụng được sức lao động của nhiều loại lao động, cũng như vào thời gian nhàn

rỗi (như nghề thêu đan, mây tre đan)

Khi xây dựng KCN thì đời sống văn hoá ở địa phương cộng đồng

được nâng cao, nhờ đó khả năng sử dụng đồng tiền của đại đa số cộng

đồng cũng được nâng cao, do đó việc đầu tư cho phát triển lực lượng lao

động có hiệu quả cao hơn

* Tác động tiêu cực

Giảm cơ hội việc làm của người dân:

Do nhượng đất cho xây dựng KCN nên những hộ nông dân ở đây sẽ không còn đất sản xuất hoặc chỉ còn lại một phần nên sẽ dẫn tới việc dư thừa lao động, mặt khác một số lao động do không có khả năng chuyển đổi việc làm dẫn tới thất nghiệp

2.3.1.5 Tác động về thu nhập

* Tác động tích cực

Khi xây dựng KCN thì các nhà máy xí nghiệp sẽ thu hút một lượng lao động của xã hội vào làm việc trong các nhà máy xí nghiệp trong KCN nhờ đó thu nhập của các hộ có người được tuyển dụng sẽ có thu nhập cao hơn và ổn định hơn

Do được nhận tiền đền bù nên một số hộ có khả năng đầu tư cho phát triển kinh tế nhờ đó thu nhập của họ cũng tăng lên

Khi các ngành nghề truyền thống của địa phương được khôi phục phát triển và tận dụng được lượng lao động dư thừa, nên thu nhập của các hộ này cũng được tăng lên

Khi KCN hình thành và phát triển sẽ kéo theo nhiều loại hình DV do đó các hộ sống xung quanh KCN có cơ hội KD các loại DV này, nhờ đó thu nhập của họ cũng được nâng lên

Khi có KCN thì do có một lực lượng công nhân tập trung về đây do đó nhu cầu về các loại thực phẩm như rau và hoa quả cũng tăng lên nhờ đó các hộ

Trang 40

nông dân có thể chuyển đổi cây trồng nhờ đó thu nhập của hộ từ sản xuất nông nghiệp cũng được tăng lên

Do kinh tế phát triển nên thu nhập của những hộ nông dân nắm bắt được cơ hội việc làm mới nhờ đó thu nhập sẽ cao hơn nhiều so với trước đây

Mặc dầu kinh tế xã hội phát triển nhưng một bộ phận nông dân do nhượng

đất nên không có khả năng tự cung cấp các nhu cầu thiết yếu cho đời sống hàng ngày nên phải mua dẫn tới mặc dầu thu nhập cao hơn trước, nhưng cuộc sống

về vật chất lại thấp hơn trước đây do chi tiêu tăng nhanh hơn thu nhập

2.3.2 Phương pháp đánh giá tác động của khu công nghiệp đến

lao động và việc làm

- Đánh giá những tác động của xây dựng KCN ảnh hưởng đến vấn đề sau: Việc làm của hộ dân trong vùng trước khi có KCN và sau khi có KCN Thu nhập của hộ dân trong vùng trước khi có KCN và sau khi có KCN

- Dựa trên những số liệu đã thu thập được và qua các phương pháp phân tích sau khi có số liệu cụ thể về sự tác động của xây dựng KCN chúng tôi tiến hành đánh giá các mặt sau:

Việc làm của người lao động trước và sau khi BTHĐ thay đổi như thế nào?

Thu nhập của họ sau khi thu hồi đất có được cải thiện hơn trước khi thu hồi đất không

Chi tiêu của họ trước và sau khi BTHĐ thay đổi như thế nào

Ngày đăng: 18/08/2013, 21:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (1992), Chương trình việc làm thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình việc làm thế giới
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Năm: 1992
4. Bộ Xây dựng (1998), Quy hoạch quản lý và xây dựng các khu công nghiệp ở Việt Nam, NXB Xây dựng. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch quản lý và xây dựng các khu công nghiệp ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Xây dựng
Nhà XB: NXB Xây dựng. Hà Nội
Năm: 1998
5. Chính phủ, Nghị định 36/1997/NĐ-CP ngày 24/4/1997 về quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, Công báo số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 36/1997/NĐ-CP ngày 24/4/1997 về quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao
6. Chính phủ, Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 4/4/1998 về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, Công báo số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 22/1998/NĐ-CP về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Công báo
Năm: 1998
7. Chính phủ, Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Công báo số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 về bồi th−ờng, hỗ trợ và tái định c− khi Nhà n−ớc thu hồi đất
9. Đỗ Kim Chung (2003), Giáo trình dự án phát triển nông thôn, NXB nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình dự án phát triển nông thôn
Tác giả: Đỗ Kim Chung
Nhà XB: NXB nông nghiệp
Năm: 2003
10. Công nghiệp Việt Nam (2004), Tổng quan hội thảo phát triển KCN, KCX ở các tỉnh phía Bắc - những vấn đề lý luận và thực tiễn,http://www.moi.gov.vn/News/Main.asp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan hội thảo phát triển KCN, KCX ở các tỉnh phía Bắc - những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Công nghiệp Việt Nam
Năm: 2004
11. Công ty đầu t− và phát triển khu công nghiệp Bắc Vinh (2005), Thông tin tình hình phát triển cơ sở hạ tầng của KCN Bắc Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin tình hình phát triển cơ sở hạ tầng của KCN Bắc Vinh
Tác giả: Công ty đầu t− và phát triển khu công nghiệp Bắc Vinh
Năm: 2005
12. Nguyễn Sinh Cúc (2003), “Bàn về ph−ơng pháp tính chỉ tiêu, thu nhập/1 ha diện tích đất nông nghiệp”, Tạp chí nông thôn mới số 98 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về ph−ơng pháp tính chỉ tiêu, thu nhập/1 ha diện tích đất nông nghiệp”," Tạp chí nông thôn mới
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Năm: 2003
13. Nguyễn Nguyên Cự, Tô Dũng Tiến (1995), Những nét chủ yếu về kinh tế và đời sống hộ nông dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, Kết quả nghiên cứu và trao đổi khoa học (1992-1994), Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nét chủ yếu về kinh tế và đời sống hộ nông dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
Tác giả: Nguyễn Nguyên Cự, Tô Dũng Tiến
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1995
14. Nguyễn Hữu Dũng (2000), Luận cứ khoa học cho xây dựng chính sách giải quyết việc làm ở n−ớc ta khi chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, Đề tài KX04.04, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cứ khoa học cho xây dựng chính sách giải quyết việc làm ở n−ớc ta khi chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Nhà XB: Đề tài KX04.04
Năm: 2000
15. Hoàng Hải (2004), “Một số vấn đề về đầu t− phát triển các KCN ở Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, Số 61http://www.tapchicongsan.org.vn/index.pl Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về đầu t− phát triển các KCN ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Hải
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
Năm: 2004
16. Hiến pháp n−ớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp n−ớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Hiến pháp n−ớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1992
17. Nguyễn Quang Hiển (1993), Phát triển thị trường lao động ở Việt Nam, Luận án phó tiến sĩ khoa học kinh tế, Tr−ờng Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển thị tr−ờng lao động ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quang Hiển
Năm: 1993
18. Nguyễn Xuân Hinh (2003), Quy hoạch xây dựng và phát triển khu công nghiệp Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Luận án Tiến sĩ kiến trúc, Trườngđại học Xây Dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch xây dựng và phát triển khu công nghiệp Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Tác giả: Nguyễn Xuân Hinh
Năm: 2003
19. Minh Hoài (2003), “Phương pháp tính chỉ tiêu 50 triệu đồng/ha/năm và 50 triệu đồng/hộ/năm”, Tạp chí Tài chính số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tính chỉ tiêu 50 triệu đồng/ha/năm và 50 triệu đồng/hộ/năm”, "Tạp chí Tài chính
Tác giả: Minh Hoài
Năm: 2003
20. Trần Ngọc H−ng (2004) Giải pháp hoàn thiện và phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ khoa học kinh tế, Trường đại học Th−ơng mại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp hoàn thiện và phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam
21. Nguyễn Đình H−ơng (2000), Thực trang và giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ CNH-HĐH ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trang và giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ CNH-HĐH ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đình H−ơng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
22. Vũ Trọng Khải, Đỗ Thái Đông, Đặng Bích Hợp (2004), Phát triển nông thôn Việt Nam từ làng xã truyền thống đến văn minh hiện đại, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nông thôn Việt Nam từ làng xã truyền thống đến văn minh hiện đại
Tác giả: Vũ Trọng Khải, Đỗ Thái Đông, Đặng Bích Hợp
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2004
23. Lê Du Phong (2005), Thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, và nhu cầu cộng đồng và lợi ích quốc gia,Đề tài cấp Nhà n−ớc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của ng−ời có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, và nhu cầu cộng đồng và lợi ích quốc gia
Tác giả: Lê Du Phong
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1. Dân số lao động việc làm và thất nghiệp trong nền kinh tế - Nghiên cứu tác động của xây dựng khu công nghiệp bắc vinh tới việc làm và thu nhập của hộ nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp ở xã hưng đông, thành phố vinh, tỉnh nghệ an
Sơ đồ 2.1. Dân số lao động việc làm và thất nghiệp trong nền kinh tế (Trang 30)
Bảng 4.3. Cơ cấu lao động của nhóm hộ điều tra trước khi thu hồi đất - Nghiên cứu tác động của xây dựng khu công nghiệp bắc vinh tới việc làm và thu nhập của hộ nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp ở xã hưng đông, thành phố vinh, tỉnh nghệ an
Bảng 4.3. Cơ cấu lao động của nhóm hộ điều tra trước khi thu hồi đất (Trang 73)
Bảng 4.6. Tình hình thu nhập của các nhóm hộ điều tra phân theo mức sống - Nghiên cứu tác động của xây dựng khu công nghiệp bắc vinh tới việc làm và thu nhập của hộ nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp ở xã hưng đông, thành phố vinh, tỉnh nghệ an
Bảng 4.6. Tình hình thu nhập của các nhóm hộ điều tra phân theo mức sống (Trang 79)
Bảng 4.12. Thực trạng đất bị thu hồi của các nhóm hộ điều tra - Nghiên cứu tác động của xây dựng khu công nghiệp bắc vinh tới việc làm và thu nhập của hộ nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp ở xã hưng đông, thành phố vinh, tỉnh nghệ an
Bảng 4.12. Thực trạng đất bị thu hồi của các nhóm hộ điều tra (Trang 91)
Bảng 4.17. Cơ cấu lao động trước và sau khi bị thu hồi đất của nhóm hộ điều tra - Nghiên cứu tác động của xây dựng khu công nghiệp bắc vinh tới việc làm và thu nhập của hộ nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp ở xã hưng đông, thành phố vinh, tỉnh nghệ an
Bảng 4.17. Cơ cấu lao động trước và sau khi bị thu hồi đất của nhóm hộ điều tra (Trang 105)
Bảng 4.18. Thu nhập và mức sống của nhóm hộ điều tra trước và sau khi thu hồi đất - Nghiên cứu tác động của xây dựng khu công nghiệp bắc vinh tới việc làm và thu nhập của hộ nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp ở xã hưng đông, thành phố vinh, tỉnh nghệ an
Bảng 4.18. Thu nhập và mức sống của nhóm hộ điều tra trước và sau khi thu hồi đất (Trang 110)
Bảng 4.19. Mức sống của nhóm hộ điều tra trước và sau khi thu hồi đất - Nghiên cứu tác động của xây dựng khu công nghiệp bắc vinh tới việc làm và thu nhập của hộ nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp ở xã hưng đông, thành phố vinh, tỉnh nghệ an
Bảng 4.19. Mức sống của nhóm hộ điều tra trước và sau khi thu hồi đất (Trang 113)
Bảng 4.21. Biến động trong thu nhập và cơ cấu thu nhập trước và sau có khu công nghiệp - Nghiên cứu tác động của xây dựng khu công nghiệp bắc vinh tới việc làm và thu nhập của hộ nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp ở xã hưng đông, thành phố vinh, tỉnh nghệ an
Bảng 4.21. Biến động trong thu nhập và cơ cấu thu nhập trước và sau có khu công nghiệp (Trang 119)
Bảng 2. Cơ cấu lao động của nhóm hộ điều tra trước khi thu hồi đất - Nghiên cứu tác động của xây dựng khu công nghiệp bắc vinh tới việc làm và thu nhập của hộ nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp ở xã hưng đông, thành phố vinh, tỉnh nghệ an
Bảng 2. Cơ cấu lao động của nhóm hộ điều tra trước khi thu hồi đất (Trang 150)
Bảng 3. Tổng thu nhập của hộ điều tra trước thu hồi đất - Nghiên cứu tác động của xây dựng khu công nghiệp bắc vinh tới việc làm và thu nhập của hộ nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp ở xã hưng đông, thành phố vinh, tỉnh nghệ an
Bảng 3. Tổng thu nhập của hộ điều tra trước thu hồi đất (Trang 151)
Bảng 4. Tình hình thu nhập của các nhóm hộ điều tra phân theo mức sống - Nghiên cứu tác động của xây dựng khu công nghiệp bắc vinh tới việc làm và thu nhập của hộ nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp ở xã hưng đông, thành phố vinh, tỉnh nghệ an
Bảng 4. Tình hình thu nhập của các nhóm hộ điều tra phân theo mức sống (Trang 152)
Bảng 5. Tình hình thu nhập của các nhóm hộ điều tra phân theo mức sống - Nghiên cứu tác động của xây dựng khu công nghiệp bắc vinh tới việc làm và thu nhập của hộ nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp ở xã hưng đông, thành phố vinh, tỉnh nghệ an
Bảng 5. Tình hình thu nhập của các nhóm hộ điều tra phân theo mức sống (Trang 153)
Bảng 6. Cơ cấu lao động trước và sau khi bị thu hồi đất của nhóm hộ điều tra - Nghiên cứu tác động của xây dựng khu công nghiệp bắc vinh tới việc làm và thu nhập của hộ nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp ở xã hưng đông, thành phố vinh, tỉnh nghệ an
Bảng 6. Cơ cấu lao động trước và sau khi bị thu hồi đất của nhóm hộ điều tra (Trang 154)
Bảng 7. Thu nhập và mức sống của nhóm hộ điều tra trớc và sau khi thu hồi đất - Nghiên cứu tác động của xây dựng khu công nghiệp bắc vinh tới việc làm và thu nhập của hộ nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp ở xã hưng đông, thành phố vinh, tỉnh nghệ an
Bảng 7. Thu nhập và mức sống của nhóm hộ điều tra trớc và sau khi thu hồi đất (Trang 155)
Bảng 8. Mức sống của nhóm hộ điều tra trước và sau khi thu hồi đất - Nghiên cứu tác động của xây dựng khu công nghiệp bắc vinh tới việc làm và thu nhập của hộ nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp ở xã hưng đông, thành phố vinh, tỉnh nghệ an
Bảng 8. Mức sống của nhóm hộ điều tra trước và sau khi thu hồi đất (Trang 156)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w