1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng một số chất điều hoà sinh trưởng và nguyên tố vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất, phẩm chất cam xã đoài trồng tại khoái châu hưng yên

118 651 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ảnh hưởng một số chất điều hoà sinh trưởng và nguyên tố vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất, phẩm chất cam X4 Đoài trồng tại Khoái Châu-Hưng Yên
Tác giả Nguyễn Mạnh Hà
Người hướng dẫn GS. TS. Hoàng Minh Tấn
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp I
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 4,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, thạc sĩ, tiến sĩ, khóa luận, cao học, đề tài

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp I

-

nguyễn mạnh hà

Nghiên cứu ảnh hưởng một số chất điều hòa sinh trưởng và nguyên tố vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất, phẩm chất cam X4 Đoài

trồng tại Khoái Châu-Hưng Yên

Luận văn thạc sĩ nông nghiệp

Chuyên ngành: trồng trọt Mã số: 60.62.01

Người hướng dẫn khoa học: gs.ts hoàng minh tấn

hà nội - 2007

Trang 2

Lời cam đoan

- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và ch−a từng đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn này đ3

đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, tháng 8 năm 2007 Tác giả luận văn

Nguyễn Mạnh Hà

Trang 3

Lời cảm ơn

Trước tiên tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS TS Hoàng Minh Tấn

là người trực tiếp tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy, các cô bộ môn sinh lý thực vật, khoa Nông học, khoa Sau đại học - Trường Đại học Nông nghiệp I -

Hà Nội,

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới phòng nông nghiệp huyện Khoái Châu, các hộ gia đình mà tôi đ3 tiến hành điều tra trên địa bàn huyện, các cán bộ trường THKTKT Tô Hiệu đ3 động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này

Tôi cũng xin cảm ơn các thầy, các cô đ3 tham gia giảng dạy chương trình cao học cùng toàn thể gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, đ3 giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu trên

Hà Nội, tháng 8 năm 2007 Tác giả luận văn

Nguyễn Mạnh Hà

Trang 4

Môc lôc

2.2 T×nh h×nh s¶n xuÊt vµ tiªu thô cam trªn thÕ giíi vµ trong n−íc 6

2.4 T×nh h×nh nghiªn cøu c©y cam trong vµ ngoµi n−íc 15

3 §èi t−îng, néi dung vµ ph−¬ng ph¸p nghiªn cøu 30

4.1 Thùc tr¹ng s¶n xuÊt cam X3 §oµi ë Kho¸i Ch©u-H−ng Yªn 34

Trang 5

4.1.3 Về phương pháp nhân giống 36

4.2 ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng và nguyên tố vi lượng

đến động thái rụng quả, năng suất, phẩm chất cam X3 Đoài 444.2.1 ảnh hưởng của α-NAA đến động thái rụng quả, năng suất và

4.2.2 ảnh hưởng của GA3 đến động thái rụng quả, năng suất và

4.2.3 ảnh hưởng của axit boric đến động thái rụng quả, năng suất và

4.2.4 ảnh hưởng của chế phẩm Kivica đến đến sự rụng quả, năng

4.2.5 Tổng hợp hiệu quả của việc xử lý các chất điều hoà sinh trưởng

và nguyên tố vi lượng đến năng suất cam X3 Đoài tại Khoái

4.3 Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng chất điều hoà sinh trưởng và

Trang 6

Danh môc ch÷ viÕt t¾t

Trang 7

4.5 Thµnh phÇn s©u bÖnh h¹i cam vµ biÖn ph¸p phßng trõ cña nh©n

Trang 8

4.14 ảnh hưởng của GA3 đến các yếu tố cấu thành năng suất cam 564.15 ảnh hưởng của GA3 đến thành phần cơ giới quả cam X3 Đoài 574.16 ảnh hưởng của GA3 đến phẩm chất quả cam X3 Đoài 584.17 ảnh hưởng cuả axit boric đến động thái rụng quả cam X3 Đoài 604.18 ảnh hưởng cuả axit boric đến thời gian chín và mẫu m3 quả cam

4.24 ảnh hưởng của Kivicađến các yếu tố cấu thành năng suất 694.25 ảnh hưởng của Kivica đến thành phần cơ giới quả cam 704.26 ảnh hưởng của Kivicađến phẩm chất quả cam X3 Đoài 714.27 Hiệu quả của việc xử lý các chất điều hoà sinh trưởng và nguyên

4.28 Hiệu quả kinh tế sử dụng chất điều hoà sinh trưởng và nguyên tố

Trang 9

Danh mục các hình

4.1 ảnh hưởng cuả α-NAA đến động thái rụng quả cam X3 Đoài 464.2 ảnh hưởng của phu α-NAA đến năng suất cam X3 Đoài 504.3 ảnh hưởng cuả GA3 đến động thái rụng quả cam X3 Đoài 53

4.5 ảnh hưởng cuả axit boric đến động thái rụng quả cam X3 Đoài 604.6 ảnh hưởng của axit boric đến năng suất cam X3 Đoài 634.7 ảnh hưởng của Kivica đến động thái rụng quả cam X3 Đoài 664.8 ảnh hưởng của Kivica đến năng suất cam X3 Đoài 69

Trang 10

1 Mở đầu

1.1 Đặt vấn đề

Cây ăn quả chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta Với điều kiện sinh thái đa dạng, chế độ khí hậu nhiệt đới cùng với điều kiện đất đai phong phú, nước ta có khả năng phát triển nhiều loại cây ăn quả với quy mô lớn và tập trung nhằm giải quyết nhu cầu tiêu thụ trong nước và ngoài nước

Những năm gần đây, nghề trồng cây ăn quả đ3 góp phần vào việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, làm tăng giá trị sử dụng đất, tăng thu nhập cho

hộ nông dân, góp phần xoá đói giảm nghèo, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, cải thiện môi trường Trong tương lai ngành trồng cây ăn quả là một ngành sản xuất hàng hoá lớn và có giá trị xuất khẩu cao Năm 2006, Việt Nam đưa diện tích cây ăn quả lên 760 nghìn ha, tăng 5 nghìn ha so với năm 2005 Và

đạt kim ngạch xuất khẩu rau quả 330 triệu USD Trong đó chú trọng phát triển các loại cây ăn quả có lợi thế như: cây ăn quả có múi gồm: cam, quýt, bưởi; dứa, xoài, nh3n, vải, thanh long, sầu riêng, măng cụt, vú sữa [18]

Cam là một trong những cây ăn quả lâu năm của Việt Nam có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao Trong thành phần thịt quả có chứa 6-12% đường, hàm lượng vitamin C từ 40-90mg/100g tươi, các axit hữu cơ 0,4-1,2% trong

đó có nhiều loại axit có hoạt tính sinh học cao cùng với các chất khoáng và dầu thơm, mặt khác cam có thể dùng ăn tươi, làm mứt, nước giải khát, chữa bệnh… Do đó việc phát triển cây cam được xem như là một giải pháp trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng [29]

Việc phát triển cây cam có những yếu tố thuận lợi cho sự phát triểt như: cam có khả năng thích ứng rộng, thời tiết khí hậu thuận lợi phát triển ở nhiều vùng, dễ trồng, đất đai màu mỡ, nguồn nước và nhân lực phong phú, nông dân

Trang 11

Trong những năm gần đây diện tích trồng cam nước ta có chiều hướng tăng vọt Năm 1995 diện tích trồng cam quýt trong cả nước là 55589 ha, năm

1998 tổng diện tích là 67465 ha

Khi vấn đề lương thực cơ bản được giải quyết cùng với nhu cầu mọi mặt

đời sống của nhân dân ngày càng cao thì phát triển kinh tế nông nghiệp theo quy mô lớn ngày càng được mở rộng như: mô hình VAC, mô hình VACR trong đó một trong những cây ăn quả chủ yếu trong mô hình này là cây cam

Khoái Châu là một tỉnh nông nghiệp thuộc trung tâm Đồng bằng sông Hồng Những năm gần đây, đời sống x3 hội đ3 được cải thiện rõ rệt, cơ sở hạ tầng: điện, đường, trường, trạm luôn được quan tâm đầu tư phát triển, tạo điều kiện nâng cao trình độ dân trí, tiếp thu các thành tựu khoa học công nghệ để thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp và chế biến nông sản Điều kiện tự nhiên về đất đai, khí hậu thuận lợi cho thâm canh lúa, cây ăn quả, phù hợp cho việc chuyển dịch cơ cấu cây rau màu và cây ăn quả, trong đó cây có múi đang

được phát triển như một cây trồng quan trọng và đầy tiềm năng

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và nhà nước về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, Hưng Yên nói chung và huyện Khoái Châu nói riêng trong những năm gần đây đ3 tích cực cải tạo vườn tạp, đưa cây cam vào phát triển kinh tế hộ gia đình và trở thành cây chủ chốt trong cơ cấu cây trồng Cây cam

được trồng hầu hết ở các x3 trong huyện trong đó trồng nhiều nhất ở x3 Dạ Trạch, Thuần Hưng, Dân Tiến, Tân Dân, Đông Kết… Tuy nhiên trong quá trình phát triển, do thiếu định hướng quy hoạch, thị trường tiêu thụ chưa ổn

định đồng thời còn bị chi phối bởi nhiều yếu tố bất lợi khác nên giá cả nhiều khi còn rẻ, bảo quản khó khăn, gây thiệt hại cho người sản xuất Mặt khác cam ra hoa với số lượng tương đối lớn nhưng tỷ lệ đậu quả thấp, tỷ lệ rụng quả cao, nên năng suất thường không ổn định, bảo quản sau thu hoạch chưa có biện pháp hữu hiệu nên phẩm chất quả cam bị giảm, từ đó hạ thấp hiệu quả kinh tế

Trang 12

Vì vậy, để tăng tỷ lệ đậu quả, rải vụ thu hoạch quả và tăng phẩm chất quả, việc tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng một số chất điều hòa sinh trưởng,

vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất và phẩm chất quả cam là một trong những đòi hỏi cấp thiết của sản xuất Với hy vọng phần nào giải quyết những khó khăn trên và tăng hiệu quả kinh tế trồng cam, tăng sức thuyết phục đối với người dân, xuất phát từ điều kiện thực tế phát triển cây cam ở Hưng Yên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu ảnh hưởng một số chất điều hòa sinh trưởng và nguyên

tố vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất, phẩm chất cam X( Đoài trồng tại Khoái Châu - Hưng Yên”

1.2 Mục tiêu nghiên của đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng Gibberellin (GA3), α-NAA), axit boric và chế phẩm Kivica đến sự hình thành quả, năng suất và phẩm chất cam X3 Đoài, đề xuất quy trình xử lý thích hợp nhất nhằm làm tăng hiệu quả kinh tế của cam X3 Đoài tại Khoái Châu - Hưng Yên

1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.3.1 ý nghĩa khoa học

- Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp dẫn liệu khoa học về ảnh hưởng một

số chất điều hòa sinh trưởng và vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất quả, phẩm chất quả cũng như thời gian thu hoạch quả

- Kết quả nghiên cứu làm tài liệu tham khảo, góp phần bổ xung thêm những tài liệu khoa học về cây cam cho công tác giảng dạy và nghiên cứu cây cam ở nước ta

Trang 13

1.3.2 ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu sẽ đề ra những quy trình xử lý giống cam X3 Đoài bằng một số chất điều hòa sinh trưởng và vi lượng để tăng hiệu quả sản xuất của cây cam X3 Đoài, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho các vùng trồng cam trên địa bàn tỉnh Hưng Yên

1.4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài được tiến hành trên giống cam X3 Đoài có độ tuổi trung bình 5-6 năm được trồng tại x3 Dân Tiến-Khoái Châu-Hưng Yên trong vụ cam năm 2006

Trang 14

2 Tổng quan tài liệu

2.1 Sơ lược về cây cam

- Nguồn gốc: Cam quýt đang được trồng hiện nay có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Đông Nam châu á Tanaka (1979) đ3 vạch đường ranh giới vùng xuất sứ của giống thuộc chi Citrus từ phía đông ấn Độ qua miền nam Trung Quốc, Australia, Nhật Bản [21]

Theo Trần Thế Tục, nghề trồng cam quýt ở Trung Quốc đ3 có từ

3000-4000 năm trước Hàn Ngạc Trực đời Tống đ3 ghi chép và phân loại các giống cam quýt trồng ở Trung Quốc trong cuốn “quýt lục” điều này khẳng định thêm cho giả thuyết về nguồn gốc của cây cam chanh (Citrus sinensis Osbeck) và các giống quýt ở Trung Quốc theo đường ranh giới gấp khúc Tanaka [21], [27]

- Phân loại: Cam quýt là tên gọi chung của các loài cây ăn quả thuộc họ cam Rutaseae, họ phụ cam quýt Aurantiodeae, chi Citrus bao gồm: cam, chanh, quýt, bưởi, chanh yên, bưởi chùm Họ phụ Aurantiodeae được chia thành 2 tộc chính là Clauseneae (1) và Citreae (2) Tộc 2 được chia thành 3 tộc phụ, trong đó tộc phụ thứ 2-Citrineae bao gồm phần lớn các loài và giống cam quýt nhà trồng hiện nay Citrineae được chia thành 3 nhóm A, B, C Nhóm C

được chia thành 6 chi phụ: Fortunella, Eremocitrus, Poncirus, Clymenia, Microcitrus và Citrus [21], [29]

Chi Fortunella có 4 loài chính, chi Poncirus có 1 loài, chi Citrus được chia thành 2 chi phụ là Eucitrus và Papeda

- Cam X3 Đoài là giống cam được chọn lọc từ Nghi Lộc-Nghệ An, là một giống chịu hạn tốt, chịu đất xấu, đất ven biển Lá cam X3 Đoài thuôn dài, cành thưa, eo lá rộng, mọc đứng Trọng lượng trung bình quả từ 150-200g, có

từ 12-18 hạt, hương vị thơm ngon hấp dẫn nhưng có nhược điểm: nhiều hạt, xơ b3 nhiều Hiện nay giống cam này được trồng phổ biến ở nhiều nơi trong nước

Trang 15

2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam trên thế giới và trong nước 2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam trên thế giới

Theo số liệu thống kê của FAO, 20 năm gần đây sản lượng cam quýt thế giới tăng từ 22 đến 48 triệu tấn Trong vòng 15 năm tính từ 1984 sản lượng cam tăng trung bình 5,1%/năm, quýt 7,5%/năm, chanh 4,7%/năm Tổng sản lượng cam quýt thế giới năm 1987 ước độ trên 50 triệu tấn với tổng diện tích

là 2 triệu ha [29]

Theo thống kê của FAO, năm 2000 tổng sản lượng cam quýt trên thế giới là 85 triệu tấn và phần tiêu thụ khoảng 79,3 triệu tấn, tăng trưởng hàng năm 2,85% Tiêu thụ sẽ tăng lên ở các nước đang phát triển và giảm ở các nước phát triển Cam là thứ quả tiêu thụ nhiều nhất chiếm 73% quả có múi, tập trung ở các nước có khí hậu á nhiệt đới ở các vĩ độ cao hơn 20-220 nam và bắc bán cầu, giới hạn phân bố từ 35 vĩ độnam và bắc bán cầu, có khi lên tới

40 vĩ độ nam và bắc bán cầu [21]

Cũng theo thống kê của FAO năm 1995, có 75 nước trồng cam quýt chia làm 3 khu vực: Châu Mỹ, các nước Địa Trung Hải và các nước á Phi Những nước trồng nhiều cam quýt như: Mỹ (9,6 triệu tấn/năm); Braxin (7,2 triệu tấn/năm); Tây Ban Nha (1,7 triệu tấn/năm) Nhóm 1 chiếm 30% tổng sản lượng thế giới Nhóm 2 chiếm 25-28% (ý, Ai Cập, Ixaren) Nhóm 3 chiếm gần 40% tổng sản lượng thế giới (đứng đầu là Nhật, ấn Độ, Trung Quốc), trong đó Nhật Bản cung cấp 10% sản lượng cam quýt thế giới với 2,7 triệu tấn, chiếm 49,2% tổng sản lượng cấy ăn quả Tổng sản lượng xuất nhập khẩu cam quýt thế giới năm 1980 là 5,159 triệu tấn, trị giá 2,329 tỷ USD Nguồn hàng chủ yếu là các vùng Địa Trung Hải, Nam Phi đi Châu Âu; Mỹ đi Tâu Âu, Nhật Bản [21]

Theo FAO trong năm 2004 sản lượng cam trên thế giới được xếp hạng như bảng 2.1.[18]:

Trang 16

Bảng 2.1 Sản lượng cam của một số nước trên thế giới

và Thuỵ Điển là 50kg [1], [5]

Trong tiêu thụ, quả chế biến vẫn giữ một vị trí quan trọng, khoảng 1/3

số quả được xuất khẩu, trong đó loại quả chế biến nhiều nhất là bưởi chùm rồi

đến cam Tùy từng vùng trồng mà tỷ lệ chế biến có thể cao hay thấp ở Florida, tỷ lệ cam chế biến có thể đạt 80-90%, nhưng ở một số nước nhiệt đới

tỷ lệ chế biến rất thấp [11]

Trang 17

khẩu quả nhiều nhất Có tới 90% quả của Trung Quốc tiêu thụ dưới dạng quả tươi, 10% tiêu thụ dưới dạng chế biến thành nước ép, đóng hộp, đông lạnh, sấy khô, mứt quả Tiêu thụ quả nội địa của Trung Quốc rất lớn, những năm trước đây cầu thường vượt cung khoảng 100 ngàn tấn/năm Người tiêu dùng Trung Quốc thích dùng quả tươi hơn là quả chế biến Thị trường tiêu thụ quả chính của Trung Quốc là Mỹ, Canada, Mehico, Nhật Bản, Đài Loan, Pháp, Hà Lan [47], [31]

Ôx-trây-lia là nước sản xuất nhiều cam quýt, năm 1998 đạt 113 nghìn tấn, phần lớn cam quýt ở đây được xuất sang các nước Châu á như Nhật Bản, Xingapo, Malaysia chiếm 70% lượng cam quýt suất khẩu hàng năm [47]

Nhật Bản là nước sản xuất nhiều các loại quả nhưng cũng là thị trường tiêu thụ quả lớn nhất Năm 1998, Nhật Bản sản xuất trong nước 1,57 triệu tấn quả giảm 21% so với vụ trước Trong các loại quả sản xuất cam chiếm 1,4 triệu tấn

Các nước xuất khẩu cam quýt: Tây Ban Nha, Ixaen, Maroc, Italia Các giống cam quýt được ưa chuộng trên thị trường là cam Washington Navel, Valencia late của Maroc, Samouti của Ixaen, Maltises của Tuynidi, các giống quýt Địa Trung Hải như Clementin, Danxy và Unshiu [21]

2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam trong nước

ở nước ta từ năm 1990-1995 mức sản xuất cam quýt, chanh, bưởi tăng nhanh mặc dù gặp nhiều khó khăn do thời tiết và khí hậu, sâu bệnh phá hại [21]

Theo tài liệu tổng cục thống kê cho biết năm 1999 cả nước có 19.062 ha cam quýt với sản lượng 119.238 tấn trong đó chỉ có 3 tỉnh trồng hơn 1000 ha

là Thanh Hóa, Nghệ An, Bến Tre và hai tỉnh hơn 2000 ha là Tiền Giang và Hậu Giang nhưng năng suất ở tỉnh phía bắc chỉ 20-25tạ/ha trong khi đó các tỉnh phía nam năng suất 47-153 tạ/ha [23]

Trang 18

Theo niên giám thống kê năm 1995 và ước tính diện tích trồng cam quýt cả nước khoảng 60.000ha, sản lượng gần 200.000 tấn Vùng sản xuất cam quýt lớn nhất nước ta là đồng bằng Sông Cửu Long có khoảng 35.000 ha chiếm 57,86% diện tích trồng cây có múi trong cả nước, sản lượng 124.548 tấn [23], [11]

Giữa các vùng sinh thái, sự phân bố cây ăn quả có múi rất không đồng

đều, tập trung chủ yếu vào 3 vùng trọng điểm là vùng Đồng bằng sông Cửu Long, vùng Đông Nam Bộ (chiếm trên 80% diện tích cây ăn quả của cả nước), vùng trung du miền núi phía Bắc (chiếm khoảng 17% diện tích của cả nước, vùng Bắc Trung bộ khoảng 12%) [23]

Các tỉnh vùng Khu Bốn cũ là một vùng cam quýt có truyền thống với các giống nổi tiếng đựơc chọn lọc qua nhiều đời, nên đến nay còn giữ được những nguồn gen quý: cam bù và bưởi Phú Trạch Đây cũng là vùng cam chanh có tiếng từ xưa do có điều kiện thuận lợi, đất tốt, diện tích rộng, mặc dù thời tiết và khí hậu có nhiều hạn chế (gió tây nóng và b3o ) Đ3 có năm diện tích toàn vùng lên tới gần 4000 ha và năng suất điển hình lên tới 400-500 tạ/ha [21], [9], [32], [31]

Các tỉnh miền núi phía Bắc và đồng bằng Sông Hồng là những địa phương có nhiều tiềm năng cho việc phát triển cam quýt Do có đất đai mầu

mỡ, khí hậu có mùa đông lạnh vào gần thời điểm thu hoạch nên cho mẫu m3 quả sáng đẹp hơn

Với sự hợp tác của chính phủ Cuba và chương trình tài trợ của UNDP (1986-1991) một số giống cây có múi được nhập nội và trồng thử ở một số địa phương trong cả nước Qua quá trình chọn lọc đánh giá đ3 chọn được giống phù hợp với điều kiện Việt Nam như cam Valencia, Hanilin, quýt Dancy, bưởi Fibarito Tuy nhiên do chưa tìm được thị trường tiêu thụ, do sự thay đổi về cơ chế quản lý đặc biệt là sự tàn phá của sâu bệnh nên các giống này chưa có vị

Trang 19

trí thực sự ổn định trong sản xuất Những năm gần đây một số giống của Trung Quốc được du nhập vào Việt Nam theo cả hai con đường hợp tác trao

đổi và buôn bán tiểu ngạch, nhưng khả năng thích ứng và hiệu quả thu được chưa thực sự rõ nét [34]

Theo Vũ Công Hậu, tháng 9 năm 1995 chỉ riêng ở Nam Bộ diện tích trồng cây có múi đ3 vượt quá 30.000 ha, hơn cả diện tích chuối và dứa là hai cây trước kia trồng nhiều nhất Các tỉnh trồng nhiều như Tiền Giang năm

1990 là 2673 ha, năm 1995 là 4501 ha, Hậu Giang 1990 là 2720 ha, năm 1995

là 10.000 ha Sản lượng cả nước năm 1990 là 119.238 tấn (Tổng cục thống kê) nhưng chỉ riêng đồng bằng sông Cửu Long sản lượng năm 1995 theo B.Aubert

là 800.000 tấn Cam sau khi thu hoạch một phần được đưa ra miền bắc, một phần được đưa sang Trung Quốc, Campuchia, hao hụt về vận chuyển trong

điều kiện hiện nay là 20-35% thu hoạch Trong khi đó theo chuyên gia Cu Ba sang Việt Nam công tác năm 1993, mức tiêu thụ của ta trong 10 năm tới sẽ là 15kg/đầu người và nếu được cải tiến nghành trồng cam, Việt Nam hoàn toàn

có thể đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ trong nước, chưa nói đến xuất khẩu sang các nước trong khu vực[11], [21]

Tính đến năm 2005 diện tích trồng cam quýt trong cả nước là 87.200 ha với sản lượng đạt 606.400 tấn Biến động về diện tích, năng suất và sản lượng cam quýt ở nước ta những năm gần đây được thống kê trong bảng 2.1

Phát triển cam, quýt ở nước ta phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước là chủ yếu và một phần dùng cho xuất khẩu Trong những năm tới trước mắt xuất khẩu quả có múi chủ yếu là bưởi, kế hoạch đến 2010 là 30 ngàn tấn bưởi, 15 ngàn tấn cam quả tươi và 35 ngàn tấn nước quả đồ hộp [10]

Hiện nay với khoảng 60 triệu dân sống ở các thành phố, thị x3, thị trấn, mức tiêu thụ quả đang có xu hướng tăng lên Điều tra tiêu dùng riêng về quả ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh năm 2000 đ3 lên tới 700 nghìn tấn quả tươi các loại được tiêu thụ trong năm [33]

Trang 20

Bảng 2.2 Diện tích, năng suất và sản lượng cây có múi của cả nước và

Tổ chức tiêu thụ sản phẩm quả có múi cũng rất đa dạng, ngoài hệ thống chỉ đạo sản xuất lưu thông phân phối của nhà nước và Tổng Công ty Rau quả Trung ương với các đơn vị trực thuộc, dưới tác động của cơ chế thị trường, hệ thống tổ chức tiêu thụ quả tươi của tư nhân được hình thành một cách rộng khắp và chặt chẽ từ khâu thu mua đến khâu vận chuyển đường dài bán buôn, bán lẻ cũng tỏ ra có hiệu quả hơn Chính hình thức tổ chức kinh tế nhiều thành phần mà quả tươi được phân bố, lưu thông đi các nơi trên mọi miềm đất nước

Đây là một động lực phát triển, sản xuất quả trong nước

Trang 21

2.3 Cơ sở sinh lý của hiện tượng rụng quả

Sự rụng là hiện tượng sinh lý của cây trồng, do hình thành tầng rời ở cuống lá, cuống quả Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng rụng là do yếu tố môi trường và do yếu tố nội tại

- Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sự rụng quả

Theo Addicott, Lynch (1961) [38], thì nhiệt độ có ảnh hưởng rõ rệt đến

sự rụng, khi cây bị lạnh sẽ kích thích sự rụng ở nhiệt độ cực đoan (nóng quá hay lạnh quá) có thể thúc đẩy nhanh chóng sự rụng

Myers (1940) [59] cho rằng ánh sáng liên quan đến sự rụng theo nhiều cách khác nhau Khi cây không được chiếu sáng đầy đủ hoặc bị che dâm sẽ dẫn đến sự rụng quả Các nghiên cứu trong phòng cho thấy: mức tối thiểu hydratcacbon ở mức nào đấy sẽ gây sự rụng Tuy nhiên, sự thiếu hụt hydratcacbon hoặc thừa đường (sản phẩm quang hợp) sẽ làm chậm sự rụng

Theo Heinicke (1919) [48], sự rụng lá của cây còn liên quan chặt chẽ

đến ngày ngắn, ánh sáng ngày dài sẽ làm chậm sự rụng lá, quả

Theo Molisch, H (1986) [68], hạn là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự rụng ở các nước nhiệt đới Khi bị hạn các bộ phận của cây lá, hoa, quả

có thể bị rụng vì hạn liên quan đến sự thoái hóa của lá nhưng nếu cây bị úng cũng thúc đẩy sự rụng

Theo Dương Tấn Lợi (2002) [12], đ3 cho biết rụng quả là do hạn hán, khi mưa đột ngột làm cho tốc độ lớn của ruột quả mạnh hơn so với vỏ quả do

đó làm quả bị nứt sau đó quả bị rụng đi

Theo Avery and L.Pottory (1945) [42], thành phần khí trong khí quyển cũng ảnh hưởng đến quá trình rụng Hàm lượng oxygen như là nhân tố thiết yếu liên quan đến sự rụng Nếu thiếu oxy sẽ kìm h3m sự rụng

Trang 22

Vai trò của etylen đến quá trình rụng đ3 được xác nhận Do không khí

bị ô nhiễm, hàm lượng etylen tăng làm sự rụng tăng mạnh Khí NH3 cũng

là nhân tố điển hình cảm ứng sự rụng của cây trên đồng ruộng [43], [46], [65], [78]

Theo Kendall (1918) [54], hàm lượng khí cacbonic (CO2) trong không khí cũng ảnh hưởng đến sự rụng Thông thường CO2 có tác động ngăn cản sự rụng nhưng trong một số thực nghiệm nó lại như một chất cảm ứng rụng

Theo Addicott (1965) [39], khi hàm lượng nitơ trong đất cao làm giảm mạnh sự rụng nhưng thiếu hụt N, Zn, Ca, S, Mg, Bo, Fe sẽ kích thích sự rụng

Đặc biệt khi quá dư thừa Zn, Fe, Cl, I nhất là khi phun lên lá sẽ làm quá trình rụng tăng mạnh (Addicot, 1957) [40], (Herrett, 1941)[52] Các loại đất kiềm,

đất mặn làm chậm sự rụng nhưng nếu mặn hoặc kiềm quá sẽ rụng nhiều hơn

Theo Addicott các yếu tố môi trường đ3 làm ảnh hưởng đến sự cân bằng C/N, ảnh hưởng đến các đường hướng sinh học phân tử qua đó thúc đẩy hoặc ngăn cản sự rụng Khi hàm lượng C, hydrogen cao sẽ kìm h3m sự rụng còn khi thấp sẽ thúc đẩy sự rụng

Theo Molich (1986) [67], hô hấp của cây trồng có ảnh hưởng rõ nét đến

sự rụng Người ta cho rằng, sự rụng là một quá trình oxy hóa Các nhân tố môi trường gây ra hiện tượng rụng phụ thuộc nhiều vào quá trình hô hấp

- Các yếu tố nội tại ảnh hưởng tới sự rụng

Quá trình quang hợp giúp cây tích lũy chất khô về các sản phẩm thu hoạch, quang hợp còn cung cấp nguyên liệu cho hô hấp và cấu tạo thành tế bào, làm cho thành tế bào vững chắc và ngăn cản sự rụng

Theo Theophrastus (1916) [64], các yếu tố nội tại đều được sản sinh ra nhờ tác động của yếu tố môi trường, ví dụ ảnh hưởng của nhiệt độ gây ra sự rụng là do ảnh hưởng đến quá trình hô hấp và các quá trình enzyme

Trang 23

Nhiều nghiên cứu cho rằng, hiệu quả của quang chu kỳ đến quá trình rụng có liên quan đến phytochrom, qua phytochrom tác động đến quá trình tổng hợp các hooc môn, dưới điều kiện ngày dài thì auxin và gibberellin được tổng hợp nhiều hơn axit abxixic, tổ hợp các chất này làm tăng sinh trưởng và chống lại sự rụng Trong điều kiện ngày ngắn thì cân bằng này theo hướng làm tăng sự rụng [44], [49], [55], [56], [57], [58]

Theo Miller (1938) [58], quá trình hấp thu chất khoáng giúp cho cây sinh trưởng và phát triển Khi bị ngập úng sẽ làm ức chế hấp thu chất khoáng, làm giảm tổng hợp hooc môn và trao đổi chất trong rễ cây

Sự trao đổi các hooc môn có liên quan đến sự rụng, người ta thấy rằng có sự thay đổi hàm lượng auxin IAA khi có nhiều O2 do enzyme IAA oxydaza tăng cường hoạt động làm giảm hàm lượng IAA và làm quá trình rụng tăng lên

Etylen kích thích sự rụng do nó thúc đẩy sự hình thành các enzyme gây rụng, do etylen tăng cường quá trình tổng hợp các mRNA m3 hóa enzyme này (Abeles, Holm, 1966) [37], (Holm, Abeles1967) [53]

Nhiều tác giả cho rằng các dạng nitơ hòa tan mà cây lấy được từ đất rất cần cho sự tổng hợp các hợp chất hữu cơ chứa nitơ của cây như các axit amin, các pyrin, các auxin và xytokinin Như vậy, các hợp chất như auxin và xytokinin sẽ được tăng cường khi bón nhiều nitơ, mà auxin và xytokinin ngăn cản quá trình rụng Vì vậy, khi bón phân đạm ở mức độ nào đấy sẽ ngăn cản

Trang 24

Kẽm (Zn) rất cần cho sự tổng hợp triptophan - tiền thân của auxin Khi thiếu Zn sẽ thiếu auxin và sẽ làm tăng sự rụng (Hambidge, 1941) [49], (Skoog, 1940) [62]

Theo Hambidge (1941) [50], lưu huỳnh (S) thiếu sẽ làm tăng sự rụng quả, lá vì làm giảm các axit amin chứa lưu huỳnh ở trong cây Tuy nhiên khi thừa Zn, Fe và các cation I+, Cl- sẽ gây độc cho cây và làm tăng quá trình rụng

Manggan (Mn) có thể thúc đẩy quá trình rụng do liên quan đến sự tăng cường oxy hóa các auxin (Stonier, Yoneda, 1968)[63]

Một số côn trùng, sâu bệnh cũng có thể gây rụng nhiều cho cây trồng

do chúng sản sinh ra lượng lớn IAA oxydase Thí dụ: Nấm Ophalia (Sequeira, Steleves,1954) [61] và một số nấm gây bệnh thối đen và nấm gây bệnh khác sản xuất ra nhiều etylen (Williamson, Dimock, 1953) [66] Một số côn trùng, nhện: Tetranychus atlanticus, Hercothrips fasciatus, Lygus oblineatus… sản sinh ra vật chất có tác động cảm ứng và tăng cường quá trình rụng (Addicot, 1957) [39]

2.4 Tình hình nghiên cứu cây cam trong và ngoài nước

2.4.1 Nghiên cứu về điều kiện ngoại cảnh

- Nhiệt độ

Theo Trần Thế Tục (1998) [28], và nhiều tác giả khác cho rằng cây cam, quýt, chanh, bưởi sinh trưởng được trong phạm vi nhiệt độ từ 12 - 39 oC, nhiệt độ thích hợp nhất từ 23-27oC, khi nhiệt độ xuống thấp 5-100C trong một thời gian, cây cam sẽ ngừng sinh trưởng nhưng khi mùa xuân đến, nhiệt độ tăng cao dần, nếu đủ nước nhờ mưa hoặc tưới, thì các lộc non sẽ xuất hiện, hoa ra tập trung, một năm chỉ ra một vụ quả và chín tập chung Tại nhiệt độ

Trang 25

Theo Hoàng Ngọc Thuận (2004) [21], ở nhiệt độ 40o C kéo dài trong nhiều ngày cây cam, quýt ngừng sinh trưởng, rụng lá, cành bị khô héo Tuy nhiên cũng có những giống chỉ bị hại khi nhiệt độ không khí lên tới 50 - 55o C

Theo Vũ Công Hậu (1990) [10], ở Việt Nam không có nhiệt độ thấp có thể làm chết cam, quýt và về nguyên tắc có thể trồng cam, quýt ở bất cứ nơi nào, miền Nam cũng như miền Bắc, ở đất thấp cũng như trên núi cao Tuy nhiên càng lên cao nhiệt độ càng thấp xuống và cam, quýt sinh trưởng chậm lại Thời gian từ khi ra hoa đến khi quả chín dài ra ước tính cứ tăng độ 100m thì thời gian từ khi ra hoa đến khi quả chín dài thêm 7 ngày

Tại các vùng đất tốt, có nhiệt độ mùa hè không nóng quá, mùa đông không lạnh quá, với nhiệt độ bình quân năm trên 15oC có tổng tích ôn 2.500 – 3.500oC đều có thể trồng cam quýt được Không nên trồng cam quýt ở độ cao

1700 - 1800m so với mực nước biển vì những vùng này thường có tuyết rơi và nhiệt độ xuống tới - 4, - 5 oC về mùa đông Về phương diện nhiệt độ, cây cam quýt có thể phát triển tốt ở khắp các miền sinh thái Việt Nam, nhưng lý tưởng nhất là khí hậu các tỉnh vùng núi cao phía bắc của Việt Nam [21], [29]

Theo Reuther và Rios-Castano quan sát trên cùng một giống cam ở vùng á nhiệt đới và vùng nhiệt đới cho rằng trong điều kiện nhiệt đới thì thấy sinh trưởng của quả cam và chất lượng thay đổi nhiều: quả cam ở vùng nhiệt đới chỉ cần 6 tháng 15 ngày từ khi đậu quả đến khi chín còn quả ở vùng á nhiệt đới cần từ 9-

14 tháng tính từ khi đậu quả đến khi chín [11]

Nhìn chung, nhiệt độ đất và không khí có ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt

động của cây cam quýt như phát lộc và sinh cành mới, sự hoạt động của bộ rễ,

sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm lớn làm quả phát triển mạnh đồng thời còn làm ảnh hưởng tới khả năng tích lũy, vận chuyển đường bột và axít trong cây và quả, tốc độ chín và mầu sắc vỏ

Trang 26

- ánh sáng

Theo Hoàng Ngọc Thuận (2004) [21] cùng nhiều tác giả khác cho rằng, cây cam quýt không ưa ánh sáng mạnh, thích ánh sáng tán xạ có cường độ 10.000 - 15.000 lux, tương ứng với 0,6 cal/cm2, ứng với ánh sáng lúc 8 giờ sáng

và 4 - 5 giờ chiều hoặc những ngày quang mây mùa hè Những ngày này, giữa trưa nắng cường độ ánh sáng lên tới 100.000 lux (xấp xỉ 127 cal/cm2)

Theo Phạm Văn Côn (2005) [6], cam quýt thích hợp ánh sáng tán xạ không có nghĩa là trồng dưới gốc cây to có bóng thì tốt Theo kinh nghiệm muốn

có ánh sáng tán xạ cần bố trí mật độ dầy hợp lý, và nương cam quýt nhất thiết nên bố trí nơi thoáng và trải nắng ở những nơi này cây sinh trưởng, phát triển tốt, ít bị sâu bệnh hại, đặc biệt là ở vùng đồng bằng sông Hồng, trung du và miền núi phía bắc Việt Nam

- Lượng mưa và độ ẩm

Theo Phạm Văn Côn [5], nhiệt độ thấp không phải là điều kiện chính để cam quýt ra hoa mà là nước Nên kỹ thuật tưới áp dụng đúng lúc người ta có thể cho cam, quýt ra hoa nhiều vụ trong một năm Thời tiết lý tưởng cho thụ phấn là: có nắng, nhiệt độ vừa phải, độ ẩm vừa phải, không có gió lớn-điều kiện để bao phấn dễ nở, nẩy mầm thuận lợi, côn trùng môi giới hoạt động tốt Nếu thời tiết xấu thì ngược lại

Cam, quýt yêu cầu độ ẩm không khí 75%, độ ẩm đất 60% Độ ẩm này không những đảm bảo sản lượng cao mà còn làm cho phẩm chất quả tốt-quả

to, vỏ mỏng và trơn-đẹp m3 nhiều nước và ngọt Độ ẩm thấp quả thường khô, vách múi dày, hương vị kém Người ta quan sát thấy rằng quả ở ngoài rìa tán, phía dưới thấp chất lượng thường không bằng quả ở lưng chừng tán cây do độ

ẩm không khí ở đấy ổn định hơn Nhưng nếu độ ẩm quá cao thì lại tạo điều kiện cho sâu, bệnh phát triển Vườn cam ở nơi khô ráo, đủ ánh sáng lại có đai

Trang 27

Theo Hoàng Ngọc Thuận (2000), Lý Gia Cầu (1993), lượng mưa thích hợp cho cam quýt sinh trưởng và phát triển trên dưới 2000 mm Trong nhóm cây có múi thì cam, chanh là loại cây cần ít nhất khoảng 1000-1500 mm và quýt cần nhiều nước hơn khoảng 1500-2000 mm là phù hợp cho cây phát triển

tự nhiên, khô hạn làm cho cây ngừng sinh trưởng [21], [23]

Theo Trần Thế Tục và các cộng sự (1998) [29], cam quýt là cây ưa ẩm

và ít chịu hạn, đa số các loài cam quýt yêu cầu nhiều nước ở các kỳ nảy mầm, phân hóa mầm hoa, thời kỳ kết quả và quả phát triển Đối với cam, thời kỳ khủng hoảng nước từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau, quýt Unhsiu từ tháng 9

đến tháng 3 năm sau Cây cam, quýt rất sợ úng, mùa mưa úng nước dễ thiếu oxy làm cho bộ rễ hoạt động rất kém có thể dẫn đến thối rễ, rụng lá, quả rụng hoặc nứt vỏ Vào thời kì nở hoa cần độ ẩm không khí thấp 70 -75% Thời kỳ quả phát triển cần ẩm độ cao vừa phải để phát triển nhanh, phẩm chất tốt, sản lượng cao và m3 quả đẹp Độ ẩm không khí quá cao, nắng to ở thời kỳ tháng 8

- 9 thường gây hiện tượng nứt, rụng quả

Theo Đường Hồng Dật (2003) [7], tạo ra độ ẩm đất phù hợp do mưa hay bằng kỹ thuật tưới nước cùng với các biện pháp khác áp dụng vào cho cam có thể điều khiển cho cây ra hai vụ quả trong năm, đồng thời để điều khiển cây chín vào dịp tết

- Đất đai

Cây cam quýt có thể trồng được trên đa số các loại đất trồng trọt ở nước ta: đất thịt nặng, đất phù sa châu thổ sông Hồng, đất đồi núi, đất phù sa cổ, đất thịt nhẹ, đất cát pha, đất bạc màu Tuy nhiên, ở các vùng đất xấu phải đầu tư nhiều, thâm canh cao, hiệu quả kinh tế sẽ tốt hơn [21]

Phạm Văn Côn (2005) [6] cho rằng cam, quýt yêu cầu tầng đất dầy 0,7m với mực nước ngầm thấp dưới 1m Độ pH=4-8, thích hợp nhất trong phạm vi 5,5-6,5 Điện thế oxy hoá khử Eh>300 mV Đất cần có độ thoáng cao, nồng độ oxy phải lớn hơn 4% cây mới sinh trưởng, phát triển bình thường, nếu nhỏ hơn

Trang 28

2% cây ngừng sinh trưởng Đánh giá các loại đất trồng cam quýt từ tốt đến xấu

là phù sa cổ, phù sa mới bồi hàng năm, bazan, dốc tụ, đất đá phiến sét

Theo Romell thì cần phải giữ cho khe hở chứa không khí trên 10%, nếu nhỏ hơn 7% thì cây sinh trưởng kém, dưới 1% cây ngừng sinh trưởng Trong

đất nếu lượng CO2quá nhiều (9-10%) và một lượng nhỏ H2S cũng gây hại cho cây Ngoài ra trong đất còn cần đầy đủ các yếu tố dinh dưỡng như mùn 1,5-2%, P2O5 0,05-0,1%, N tổng số 0,05-0,1%, K2O tổng số 0,1-0,15% và các nguyên tố vi lượng

Theo Trần Thế Tục (1995) [27], đất trồng cam quýt tốt là đất bằng phẳng, nhiều mùn, thoáng khí, giữ ẩm tốt, khi cần dễ tháo nước và có tầng đất dày hơn 1m càng tốt, mực nước ngầm tối thiểu phải sâu hơn 80 cm Phần lớn đất đai vùng

đồi núi phía bắc, phía tây Nghệ An, Hà Tĩnh, miền Đông Nam bộ đều thoả m3n các yêu cầu của cây cam quýt Đất phù sa ven sông Hồng, sông Thao, sông Lô,

đồng bằng sông Cửu Long là đất trồng cam quýt rất tốt, nhưng cần phải xây dựng các mương tiêu, thoát nước tốt Không nên trồng cam quýt trên đất sét nặng, hoặc có lớp đất mặn nông, đá ong và đá lồi đầu nhiều gần mặt đất, hoặc những nơi có mực nước ngầm cao mà không thể thoát nước được

Theo Lý Gia Cầu (1993) đất trồng cần có tầng canh tác dày trên 150

cm, độ phì nhiêu cao 2 - 3% mùn, độ ẩm 60 - 80%, pH = 6 - 6,5 Đất phải tơi xốp và thoát nước tốt, nhiệt độ đất trung bình 23 - 30oC

Theo Vũ Công Hậu (1999) [11], cây cam quýt có thể trồng trên đất có

pH = 4 - 8, nhưng thích hợp nhất là 5,5 - 6 Tại độ pH này các nguyên tố khoáng cần thiết cho cây cam quýt phần lớn ở dạng dễ tiêu Thông thường ở nơi đất chua pH < 5 người ta phải bón vôi để nâng cao độ pH của đất

Theo Vũ Công Hậu (1990) [10], đất phù sa, đất cát pha limông, có độ

pH từ 6-7, thoát nước là tốt nhất để trồng cam vì rễ ăn sâu, độ ẩm ổn định

Trang 29

2.4.2 Những nghiên cứu về dinh dưỡng cây cam

Phân bón là một trong những nhân tố rất quan trọng để tăng năng suất, phẩm chất, tăng khả năng sinh trưởng phát triển của cây cam

+ Nitơ là nguyên tố không thể thiếu được trong quá trình sinh trưởng

và có vai trò quyết định đến năng suất, phẩm chất của quả Nitơ xúc tiến sự phát triển cành lá, xúc tiến hình thành các đợt lộc mới trong năm Số lá tốt trên cành có liên quan trực tiếp đến trọng lượng quả và hình thành năng suất Nhiều nghiên cứu cho thấy một quả cam Washington Navel muốn phát triển bình thường cần có 45 lá, đối với khối lượng quả, một quả cam Washington Navel được nuôi dưỡng bởi 10 lá có khối lượng 70g [21]

Nhiều nitơ quá mức làm cho lá và lộc sinh trưởng quá tốt, quả lớn nhanh nhưng vỏ dày, quả bị nứt và phẩm chất quả kém, mầu sắc quả đậm hơn, hàm lượng vitamin C có chiều hướng giảm Thiếu nitơ lộc non không phát sinh đúng lúc hoặc ra ít, lá nhỏ, lá mất diệp lục, bị ngả vàng, cành quả nhỏ, mảnh và bị rụng lá, chết khô, quả nhỏ, vỏ mỏng, năng suất giảm [13]

Theo Trần Thế Tục (1997) [28], cây cam có nhu cầu nitơ trong suốt năm, nhưng cây hút nitơ mạnh nhất vào những tháng ấm trời, đồng thời cũng

là thời gian cây cam sinh trưởng dinh dưỡng đến khi thu hoạch, mặt khác sự hút nitơ của cam quýt liên quan đến độ pH của đất, nếu pH từ 4-4,5 cây hấp thu mạnh dạng nitơ NO3, pH từ 6-6,5 cây hấp thu mạnh dạng NH4+

+ Phospho rất cần thiết cho cây cam trong quá trình phát triển hệ thống

rễ và phân hoá mầm hoa, lân có ảnh hưởng rất rõ rệt đến phẩm chất quả như: làm giảm hàm lượng axít trong quả, cho tỷ lệ đường/axit cao, làm cho hương

vị quả ngon hơn Ngoài ra phospho còn làm cho vỏ quả mỏng, trơn, lõi quả chặt không rỗng, mầu sắc quả chuyển mầu lên m3 nhanh, chống hạn, chống rét cho cây, hạn chế tác hại của bón thừa nitơ ở thời kỳ kiến thiết cơ bản cây

Trang 30

cần nhiều lân để phát triển bộ rễ, thời kỳ kinh doanh nhu cầu phospho cao nhất vào thời kỳ phân hoá mầm hoa [8], [21]

Thiếu phospho, rễ không phát triển được, cành lá sinh trưởng kém, lá rụng nhiều, năng suất giảm, phẩm chất kém ở thời kỳ kiến thiết cơ bản cây cần nhiều phospho để phát triển bộ rễ, còn thời kỳ kinh doanh nhu cầu phospho của cam quýt cao nhất ở thời kỳ phân hoá mầm hoa [8] Khi dư thừa phospho vừa gây l3ng phí phân vừa làm cho cam lâu chín vàng [13]

Theo Hoàng Ngọc Thuận (2000) [20], kali rất cần cho cây cam quýt trong thời kỳ ra lộc non và thời kỳ quả phát triển mạnh Kali ảnh hưởng rõ rệt

đến cả hai mặt năng suất và phẩm chất quả Cây được bón đủ kali quả to, ngọt, chóng chín, chịu được cất giữ vận chuyển Ngược lại, nếu thừa nguyên tố kali cây sinh trưởng kém, đốt ngắn, cây không lớn được, quá nhiều kali cũng gây hiện tượng hấp thụ canxi, magiê kém, quả to nhưng xấu m3, vỏ dày, thịt quả thô, lâu chuyển mầu

Theo Nguyễn Như Hà (2006) [8], cam là cây lâu năm nên khi bón phân phải bón theo các thời kỳ sinh trưởng, phát triển của cây:

Thời kỳ kiến thiết cơ bản lượng phân cần bón cho mỗi cây: vôi 0,6kg, phân hữu cơ 10-30kg, N 70-500g, P2O5 50-500g, K2O 45-375g

0,5-Thời kỳ kinh doanh lượng phân cần bón cho mỗi cây: vôi 0,8-1kg, phân hữu cơ 25-30kg, N 140-950g, P2O5 100-700g, K2O 150-1000g

Mỗi năm thường bón thành 4 lần:

Lần 1, vào khoảng tháng 1-2 nhằm thúc lộc xuân

Lần 2, vào khoảng tháng 4-5 nhằm thúc lộc hè

Lần 3, vào khoảng tháng 8-9 nhằm thúc lộc thu và nuôi quả

Lần 4, vào khoảng tháng 11-1 nhằm giúp cây qua đông và phục hồi sau thu hoạch

Trang 31

Bên cạnh các nguyên tố dinh dưỡng đa lượng NPK, các nguyên tố trung lượng và vi lượng cũng có vai trò rất quan trọng đối với sinh trưởng, phát triển, năng suất và phẩm chất cam quýt

+ Nguyên tố canxi cần cho cam, quýt tương tự như N, P, K Canxi kết hợp với chất pectin trong tế bào tạo thành chất pectat canxi-thành phần chủ yếu tồn tại trong gian bào để giữ chặt các tế bào với nhau Trong dịch bào caxi

có khả năng trung hoà các axít hữu cơ do quá trình trao đổi chất sinh ra làm cho cây không bị ngộ độc ở Nhật Bản thường bón N, P, K, Ca theo tỷ lệ 10:2:5:10 [6]

Nếu đất thiếu canxi (đất chua) thì P2O5 và Moở trạng thái khó tiêu, B bị rửa trôi, Al và Fe di động nhiều dẫn tới rễ và cây bị độc hại Nếu bón canxi quá muộn vỏ quả lên m3 chậm, quả chín chậm nhưng có khả năng bảo quản

được lâu

Theo Vũ Hữu Yêm (1998) [36], nguyên tố Mg cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất và phẩm chất cam, vì Mg là thành phần chính của chất diệp lục Khi thiếu Mg lá bị loạn sắc tố, có mầu vàng, rụng lá nhiều, quả thường nhỏ, giảm độ ngọt trong quả, cây dễ bị nhiễm bệnh, tính chống chịu kém dẫn đến hiện tượng ra quả cách năm

ở Trạm nghiên cứu Cây nhiệt đới Tây Hiếu 1972, Đoàn Triệu Nhạn và

Lê Đình Sơn đ3 nghiên cứu hiện tượng cam xốp ở Phủ Quỳ bằng phương pháp phân tích dinh dưỡng lá đ3 đi đến kết luận một trong những nguyên nhân chủ yếu gây hiện tượng cam xốp là do sự mất cân đối dinh dưỡng N, P, K, Ca trong lá

Theo Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch (2000) [17], bên cạnh sử dụng phân bón vào đất thì sử rụng phân bón lá cho cây để bổ xung dinh dưỡng kịp thời cho cây và cung cấp đầy đủ các nguyên tố vi lượng cũng rất cần thiết Khi dùng một lượng nhỏ bón vào đất ít hiệu quả hơn so với phun lên lá vì

Trang 32

lượng phân được hấp thụ nhanh và tiết kiệm hơn Các nguyên tố vi lượng chỉ chiếm khoảng 0,05% chất sống của cây nhưng lại có vai trò sinh lý rất quan trọng Trong các nguyên tố vi lượng quan trọng nhất là Cu, B, Mn, Zn, Mo Chúng chứa trong cây chỉ bằng phần nghìn thậm trí phần triệu Các nguyên tố

vi lượng này có khả năng tạo thành các phức chất với các chất hữu cơ khác nhau Bởi vậy, có cơ sở để kết luận rằng các nguyên tố vi lượng ở trong tế bào thực vật chủ yếu nằm trong thành phần của các phức chất hữu cơ

Theo Dương Tấn Lợi (2002) [12], các nguyên tố vi lượng B, Fe, Cu,

Zn, Mn cũng có ảnh hưởng rõ rệt đến cam quýt Tuỳ từng loại đất và mức

độ thiếu hụt mà biểu hiện các ảnh hưởng này nhiều hay ít mà có biện pháp khắc phục khác nhau

Khi cây thiếu Cu quả dễ bị nứt, nhất là khi còn xanh Để khắc phục thì cần giữa ẩm cho đất, phun 0,2-0,5% CuSO4 lên lá kết hợp với phun boocdo càng tốt

Khi cây thiếu Fe làm cho lá chồi non bị vàng đi dẫn đến rụng quả khi còn xanh Để khắc phục thì cần cải tạo đất, bón phân hữu cơ, phun phân vi lượng 0,5% FeSO4.

Khi thiếu Mo làm cho lá lốm đốm vàng Để khắc phục phun dung dịch chứa 100-150g molybdate natri trong 1000l nước

Bore là nguyên tố dùng cho cây ăn quả khá tốt Nó có vai trò quan trọng trong việc hình thành màng sinh học Đặc biệt khi B kết hợp với Ca làm ổn

định thành tế bào Thiếu B ảnh hưởng lớn đến mô phân sinh và sự nảy mầm của hạt phấn Chính vì vậy, B có tác dụng hạn chế rụng quả trên nhiều đối tượng cây trồng trong đó có cây cam Khi thiếu B làm cho hàm lượng nước trong quả ít, hình dạng quả không bình thường Để khắc phục có thể phun dung dịch axit boric nồng độ 300g/100l nước [13], [26], [30]

Trang 33

2.4.3 Những nghiên cứu về sử dụng chất điều hoà sinh trưởng và nguyên

tố vi lượng cho cam

Các chất điều hoà sinh trưởng đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình điều khiển sinh trưởng, phát triển của cây Nó điều chỉnh toàn bộ cơ thể thực vật, ảnh hưởng lên các hoạt động sinh lý của cây, duy trì mối quan hệ thống nhất giữa các cơ quan trong toàn cơ thể Bằng việc sử lý ngoại sinh chất

điều hoà sinh trưởng cho cây trồng có thể nâng cao được năng suất và phẩm chất nông sản [14]

Do chức năng điều chỉnh sự hình thành cơ quan sinh sản và cơ quan dự trữ của hormon nên có tác dụng quyết định sự hình thành năng suất thu hoạch Bằng việc xử lý các chất điều tiết sinh trưởng ngoại sinh cho các đối tượng cây trồng khác nhau, con người có thể nâng cao năng suất và phẩm chất sản phẩm nông nghiệp [6]

Sau thụ phấn, thụ tinh là quá trình đậu quả, tuy nhiên sự đậu quả phụ thuộc nhiều vào yếu tố nội tại và ngoại cảnh Hàm lượng auxin và các chất kích thích sinh trưởng thấp là nguyên nhân dẫn đến sự rụng sau khi hoa nở

Để tăng cường quá trình đậu quả người ta bổ xung thêm auxin và gibberellin ngoại sinh cho hoa và quả non auxin và gibberellin là nguồn bổ xung thêm cho nguồn phytohocmon có trong phôi hạt vốn không đủ Chính vì vậy mà sự sinh trưởng của quả được kích thích và quả không rụng ngay được [4]

Theo Dương Tấn Lợi (2002) [12], phun chất kích thích sinh trưởng thực vật cho cam, quýt để nhằm:

- Nâng cao tỷ lệ đậu quả

- Làm quả to hơn

- Làm cho quả ít hạt hay không có hạt

Trang 34

- Làm rụng bớt hoa những năm cây ra quả nhiều, tránh hiện tượng ra quả cách năm

- Hạn chế rụng quả

Auxin có vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây đặc biệt là quá trình đậu quả và sự sinh trưởng của quả Nó được sử dụng khá rộng r3i trong sản xuất nhất là với ngành ăn quả [4]

Auxin chống lại sự rụng lá, hoa quả vì chúng ngăn cản sự hình thành tầng rời Sự cân bằng giữa auxin và chất ức chế sinh trưởng có ý nghĩa quyết

định trong sự điều chỉnh sự rụng lá, hoa, quả Sự rụng là do sự hình thành tầng rời ở cuống lá, hoa, quả Các chất ức chế sinh trưởng thì cảm ứng sự rụng còn auxin thì kìm h3m sự rụng Chính vì vậy xử lý auxin cho cây và quả non có thể làm quả bớt rụng [24]

Theo Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch (1993) [15], sự chín của quả được điều chỉnh bằng tỷ lệ auxin/ethylen Việc dung dịch auxin cho quả xanh hoặc quả sắp chín có thể kéo dài thời gian tồn tại của quả trên cây Với quả đ3 thu hoạch trong kho ta có thể phun dung dịch auxin cho chúng để kéo dài được thời gian bảo quản sau thu hoạch Hiện nay thường sử dụng α-NAA với nồng độ 10-20ppm

Nghiên cứu hàm lượng auxin liên quan đến sự hình thành tầng rời đ3 chỉ ra rằng, lá non có hàm lượng auxin cao hơn ở lá già, bản lá có hàm lượng auxin cao hơn ở cuống lá Khi hàm lượng auxin cao sẽ ngăn chặn sự hình thành tầng rời Vì vậy nếu xử lý auxin sẽ làm tăng hàm lượng auxin trong lá

có thể ngăn ngừa được sự rụng [16]

ở Hawai nhiều cánh đồng dứa được phun dung dịch muối natri của

α-NAA ở nồng độ 25ppm thì dứa ra hoa sớm hơn 2-3 tuần Auxin kích thích

Trang 35

trồng như cà chua, bầu, bí, cam, chanh nồng độ α-NAA 10-20ppm, 2,4D nồng độ 5-10ppm Auxin kìm h3m sự rụng của lá, hoa và quả Nồng độ sử dụng tuỳ thuộc vào từng loại quả [15], [25]

Theo Cameron và Appleman có thể dùng chất kích thích sinh trưởng với liều lượng cao để phun cho cam làm hoa rụng bớt đi để tránh hiện tượng ra quả cách năm Chẳng hạn như NAA nồng độ từ 100ppm, 200ppm 500ppm thấy kết quả như sau:

Nồng độ 500ppm: số hoa rụng đi 50%, nồng độ 250ppm: số hoa rụng đi 23%, nồng độ 200ppm: số hoa rụng đi 20%

Số lượng quả tuy giảm, nhưng do trọng lượng quả tăng lên cho nên sản lượng

α-đối chứng (Rawash và et al 1983)

Phun α-NAA riêng lẻ ở nồng độ 20ppm hay phun kết hợp với GA3 ở nồng độ 20ppm bước đầu làm hạn chế sự rụng của quả nh3n xuồng cơm vàng, duy trì được số quả trên chùm cao khi thu hoạch [32]

ở Trung Quốc phun 2,4D ở nồng độ 5-10ppm vào mùa hoa cam đang

nở rộ thấy tỷ lệ đậu quả tăng so với đối chứng, đường kính quả tăng 9%, sản lượng tăng 34,2% [12]

GA3 có vai trò đối với sự sinh trưởng của cây non, thúc đẩy các lộc cành phát triển, tăng tỷ lệ đậu quả, làm quả nhanh lớn, giúp cho quả chín muộn, ức

Trang 36

chế quá trình phân hoá mầm hoa Tuy nhiên cần khảo nghiệm đối với từng giống cụ thể, ở các địa phương khác nhau Ngoài ra cần nắm vững nồng độ, thời kỳ phun, liều lượng và kỹ thuật phun thích hợp, trong đó nồng độ và thời

kỳ phun có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng tỷ lệ đậu quả [4]

Theo Lê Văn Tri (2001) [25], thì đất Việt Nam luôn luôn thiếu vi lượng,

đặc biệt là các nguyên tố quan trọng Hàng năm chúng ta đ3 không bổ xung vi lượng vào cho đất như các nước tiên tiến thường làm, mà còn lấy đi khỏi đất một lượng vi lượng nhất định thông qua việc thu lượm nông sản trên đất trồng

Do vậy vi lượng trong đất đ3 nghèo lại càng nghèo thêm nên con đường duy nhất để giữ trạng thái cân bằng vi lượng cho đất trồng và đảm bảo năng suất cho các năm tiếp theo là bón vi lượng thường xuyên cho cây trồng Do vậy việc tạo ra chế phẩm có các hỗn hợp vi lượng khác nhau để phun lên cây, nhằm bổ sung sự thiếu hụt vi lượng cho cây, hạn chế sự tiêu hao vi lượng trong đất, dẫn đến tăng năng suất cây trồng cho từng vụ canh tác

Theo Trần Thế Tục, phun các nguyên tố vi lượng như sunfat kẽm, axit boric, molipdat amon cho cây để giữ hoa quả tốt Có thể dùng chất điều hoà sinh trưởng phun cho vải, nh3n, cam nhằm giảm tỷ lệ rụng quả Phun chất kích thích sinh trưởng không những thúc đẩy quá trình sinh trưởng, phát triển của cây mà còn làm giảm sự hình thành tầng rời, bảo đảm cho vận chuyển dinh dưỡng vào nuôi quả do đó giảm tỷ lệ rụng quả

Theo Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch (1993) [15], ethrel giúp cho cây tăng cường tổng hợp antoxyanin làm cho m3 quả đẹp hơn và tăng hàm lượng đường trong quả

B là nguyên tố dùng cho cây ăn quả khá tốt, nó có vai trò quan trọng trong việc hình thành màng sinh học Đặc biệt B kết hợp với Ca làm ổn định thành tế bào Thiếu Bo ảnh hưởng lớn đến mô phân sinh và sự nảy mầm của hạt phấn Chính vì vậy, B có tác dụng hạn chế rụng quả trên nhiều đối tượng

Trang 37

Bộ môn sinh lý thực vật-Trường đại học Nông nghiệp I đ3 nghiên cứu

và tạo được chế phẩm đậu hoa, đậu quả cho nhiều loại cây trồng và sử rụng có hiệu quả trong sản xuất Chế phẩm dạng bột gồm α-NAA dưới dạng hoà tan trong nước là nguồn auxin bổ xung cho nguồn nội sinh, một số nguyên tố vi lượng cần thiết như B, Cu và còn có thêm một lượng nhỏ nguyên tố đa lượng

N, P, K Phun chế phẩm này đ3 làm tăng quá trình đậu quả, hiệu quả này được tăng lên khi cung cấp đủ nước và các chất dinh dưỡng cho cây trồng [24]

Nguyễn Học Thuý (2001) [22], cho biết phân bón lá dạng phức hữu cơ Pomior là một loại phân tổng hợp có chứa các nguyên tố đa lượng, trung lượng, vi lượng với 20 axit amin cùng với một số chất điều hoà sinh trưởng Pomior đ3 được thử nghiệm thành công và đạt hiệu quả cao trên nhiều loại cây trồng Đặc biệt một số kết quả thử nghiệm những năm gần đây Pomior đ3 thể hiện tác dụng xúc tiến rõ rệt đến sinh trưởng, tăng cường ra hoa, cải thiện tỉ lệ

đậu quả và tăng trọng lượng phẩm chất quả trên cây có múi

Các loại phân bón lá như Komix FT, Komix Superzinc K, Thiên Nông, Fofer và Pomior, đ3 có tác dụng tốt trên một số loại cây trồng như rau, cà phê

và một số cây ăn quả Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Nhuận, Bùi Thị Mỹ Hồng, Nguyễn Trịnh Nhất Hằng, Huỳnh Văn Tần tại Tiền Giang 1995 - 1996 cho thấy chúng đều có tác dụng hạn chế rụng trái non, góp phần làm tăng năng suất và không ảnh hưởng đến chất lượng quả [35]

Trần Như Sơn (2004) [14], khi tiến hành phun Pomior nồng độ 0,4% cho cam Đường Canh trồng ở Gia Lâm có tác dụng thúc đẩy sinh trưởng cành mùa xuân, tăng tỷ lệ đậu quả và tỷ lệ đậu quả đạt 10,27% ở công thức phun 7 ngày 1 lần cao hơn so với đối chứng không phun 6%

Theo Embleton et al (1988) [45], việc tăng cường phân bón lá giúp cây trồng ngăn ngừa được các bệnh ngay khi cây đang ở giai đoạn sinh

Trang 38

trưởng Phân bón lá trong nhóm thuốc bảo vệ thực vật được áp dụng rộng r3i trong việc trồng cây ăn quả, đặc biệt là họ cam quýt Hiện nay, khi việc áp dụng ngày càng rộng r3i phương pháp phòng trừ sâu bệnh tổng hợp (IMP) thì việc bón các phân vi lượng cho cây cam quýt là rất cần thiết Việc bổ sung Mn cho cam Wasington Navel dưới dạng MnSO4 có tác dụng cải thiện màu sắc,

độ mọng nước, tỷ lệ đường/axit, hàm lượng vitamin C của quả mặc dù năng suất không tăng

Theo S.V Galan (1954) [48], sự rụng hoa quả thường do hạn, thiếu dinh dưỡng, đặc biệt thiếu N, P, K, Ca, đôi khi thiếu P Phun các hooc môn sinh trưởng như IAA 20mg/l trước khi ra hoa sẽ làm tăng tỷ lệ đậu quả

ở Israel người ta sử dụng một số hoá chất để kích thích sự ra hoa như paclobutrazol hoặc Mgic nồng độ 0,7% kết hợp với ureaphotphat nông độ 1,5% phun vào lúc mầm sinh trưởng đ3 thần thục Những hoá chất có khả năng làm chậm quá trình sinh trưởng của cây và làm cho cây có thể ra hoa từ lúc còn trẻ [19]

Trang 39

3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

3.1 Đối tượng và vật liệu

3.1.1 Đối tượng

Giống cam X3 Đoài đưa vào thí nghiệm có độ tuổi trung bình 5-6 năm

được trồng tại x3 Dân Tiến-Khoái Châu-Hưng Yên

3.1.2 Vật liệu

- Auxin: α-NAA (α-Naphtyl axetic axit) do viện hóa công nghiệp sản xuất

α -Naphtyl axetic axit (α-NAA)

- Gibberellin: GA3 (C13H22O6) là chất điều hoà sinh trưởng có nguồn gốc Trung Quốc, dạng bột mầu vàng Tỷ lệ hoạt chất chiếm 70%

Gibberellin axit (GA3)

- Axit boric (H3BO3): Có nguồn gốc Trung Quốc, dạng tinh thể, màu trắng, dễ tan trong nước Hàm lượng nguyên chất là 17,5%

- Chế phẩm Kivica do khoa công nghệ thực phẩm-Trường Đại học nông

Trang 40

nghiệp I sản xuất Thành phần gồm hỗn hợp chất điều tiết sinh trưởng và một

số nguyên tố vi lượng (Bo, Cu, Zn ) chuyên sử dụng cho cây ăn quả

3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

3.2.1 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 03 năm 2006 đến tháng 12 năm 2006

3.2.2 Địa điểm nghiên cứu

Các thí nghiệm được bố trí trên giống cam X3 Đoài trồng tại hộ gia

đình ông Hoàng Văn Thụ- Khoái Châu-Hưng Yên

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Điều tra tình hình trồng cam X( Đoài tại Khoái Châu-Hưng Yên

Các chỉ tiêu điều tra:

Diện tích Độ tuổi cây

Năng suất, sản lượng Kỹ thuật trồng, chăm sóc

Đất đai Sâu bệnh hại Thời tiết khí hậu Kinh tế x3 hội

3.3.2 ảnh hưởng của α-NAA đến động thái rụng quả, năng suất và phẩm

chất cam X( Đoài

Thí nghiệm gồm 5 công thức Nồng độ phun α-NAA là 20ppm

Phun vào các giai đoạn như sau:

- Lần 1: Vào tháng 3 - Trước khi rụng quả sinh lý đợt 1

- Lần 2: Vào tháng 5 - Trước khi rụng quả sinh lý đợt 2

Ngày đăng: 18/08/2013, 21:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Sản l−ợng cam của một số n−ớc trên thế giới - Nghiên cứu ảnh hưởng một số chất điều hoà sinh trưởng và nguyên tố vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất, phẩm chất cam xã đoài trồng tại khoái châu   hưng yên
Bảng 2.1. Sản l−ợng cam của một số n−ớc trên thế giới (Trang 16)
Bảng 2.2. Diện tích, năng suất và sản l−ợng cây có múi của cả n−ớc và  miền bắc từ 2000-2005 - Nghiên cứu ảnh hưởng một số chất điều hoà sinh trưởng và nguyên tố vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất, phẩm chất cam xã đoài trồng tại khoái châu   hưng yên
Bảng 2.2. Diện tích, năng suất và sản l−ợng cây có múi của cả n−ớc và miền bắc từ 2000-2005 (Trang 20)
Bảng 4.1. Diện tích, độ tuổi cam Xã Đoài trồng ở các xã - Nghiên cứu ảnh hưởng một số chất điều hoà sinh trưởng và nguyên tố vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất, phẩm chất cam xã đoài trồng tại khoái châu   hưng yên
Bảng 4.1. Diện tích, độ tuổi cam Xã Đoài trồng ở các xã (Trang 43)
Bảng 4.5. Thành phần sâu bệnh hại cam và biện pháp phòng trừ của  nhân dân Khoái Châu - Nghiên cứu ảnh hưởng một số chất điều hoà sinh trưởng và nguyên tố vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất, phẩm chất cam xã đoài trồng tại khoái châu   hưng yên
Bảng 4.5. Thành phần sâu bệnh hại cam và biện pháp phòng trừ của nhân dân Khoái Châu (Trang 50)
Bảng 4.7. ảnh hưởng cuả  α α α α-NAA  đến động thái rụng quả cam Xã Đoài - Nghiên cứu ảnh hưởng một số chất điều hoà sinh trưởng và nguyên tố vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất, phẩm chất cam xã đoài trồng tại khoái châu   hưng yên
Bảng 4.7. ảnh hưởng cuả α α α α-NAA đến động thái rụng quả cam Xã Đoài (Trang 54)
Hình 4.1. ảnh hưởng cuả  α α α α -NAA đến động thái rụng quả cam Xã Đoài  4.2.1.2.  ả nh hưởng cuả α-NAA đến thời gian chín và mẫu mL quả cam XL - Nghiên cứu ảnh hưởng một số chất điều hoà sinh trưởng và nguyên tố vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất, phẩm chất cam xã đoài trồng tại khoái châu   hưng yên
Hình 4.1. ảnh hưởng cuả α α α α -NAA đến động thái rụng quả cam Xã Đoài 4.2.1.2. ả nh hưởng cuả α-NAA đến thời gian chín và mẫu mL quả cam XL (Trang 55)
Bảng 4.9. ảnh hưởng của  α α α α -NAA đến các yếu tố cấu thành năng suất   cam Xã Đoài - Nghiên cứu ảnh hưởng một số chất điều hoà sinh trưởng và nguyên tố vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất, phẩm chất cam xã đoài trồng tại khoái châu   hưng yên
Bảng 4.9. ảnh hưởng của α α α α -NAA đến các yếu tố cấu thành năng suất cam Xã Đoài (Trang 58)
Hình 4.2. ảnh hưởng của phun  α α α α -NAA đến năng suất cam Xã Đoài  4.2.1.4.  ả nh h−ởng của  α -NAA đến thành phần cơ giới quả cam XL Đoài - Nghiên cứu ảnh hưởng một số chất điều hoà sinh trưởng và nguyên tố vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất, phẩm chất cam xã đoài trồng tại khoái châu   hưng yên
Hình 4.2. ảnh hưởng của phun α α α α -NAA đến năng suất cam Xã Đoài 4.2.1.4. ả nh h−ởng của α -NAA đến thành phần cơ giới quả cam XL Đoài (Trang 59)
Bảng 4.10. ảnh hưởng của  α α α α -NAA đến thành phần cơ giới quả - Nghiên cứu ảnh hưởng một số chất điều hoà sinh trưởng và nguyên tố vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất, phẩm chất cam xã đoài trồng tại khoái châu   hưng yên
Bảng 4.10. ảnh hưởng của α α α α -NAA đến thành phần cơ giới quả (Trang 60)
Bảng 4.11. ảnh hưởng của  α α α α -NAA đến phẩm chất quả cam Xã Đoài  Công thức  H.l−ợng - Nghiên cứu ảnh hưởng một số chất điều hoà sinh trưởng và nguyên tố vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất, phẩm chất cam xã đoài trồng tại khoái châu   hưng yên
Bảng 4.11. ảnh hưởng của α α α α -NAA đến phẩm chất quả cam Xã Đoài Công thức H.l−ợng (Trang 61)
Bảng 4.12. ảnh hưởng cuả GA 3  đến động thái rụng quả cam Xã Đoài - Nghiên cứu ảnh hưởng một số chất điều hoà sinh trưởng và nguyên tố vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất, phẩm chất cam xã đoài trồng tại khoái châu   hưng yên
Bảng 4.12. ảnh hưởng cuả GA 3 đến động thái rụng quả cam Xã Đoài (Trang 62)
Hình 4.3. ảnh hưởng cuả GA 3  đến động thái rụng quả cam Xã Đoài - Nghiên cứu ảnh hưởng một số chất điều hoà sinh trưởng và nguyên tố vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất, phẩm chất cam xã đoài trồng tại khoái châu   hưng yên
Hình 4.3. ảnh hưởng cuả GA 3 đến động thái rụng quả cam Xã Đoài (Trang 62)
Bảng 4.13. ảnh hưởng cuả GA 3  đến thời gian chín và mẫu mã quả - Nghiên cứu ảnh hưởng một số chất điều hoà sinh trưởng và nguyên tố vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất, phẩm chất cam xã đoài trồng tại khoái châu   hưng yên
Bảng 4.13. ảnh hưởng cuả GA 3 đến thời gian chín và mẫu mã quả (Trang 63)
Hình 4.4. ảnh hưởng của GA 3  đến năng suất cam - Nghiên cứu ảnh hưởng một số chất điều hoà sinh trưởng và nguyên tố vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất, phẩm chất cam xã đoài trồng tại khoái châu   hưng yên
Hình 4.4. ảnh hưởng của GA 3 đến năng suất cam (Trang 65)
Bảng 4.14.  ảnh hưởng của GA 3  đến các yếu tố cấu thành năng suất cam   Số quả TB  Khối l−ợng TB  N¨ng suÊt TB   Công thức  Sè - Nghiên cứu ảnh hưởng một số chất điều hoà sinh trưởng và nguyên tố vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất, phẩm chất cam xã đoài trồng tại khoái châu   hưng yên
Bảng 4.14. ảnh hưởng của GA 3 đến các yếu tố cấu thành năng suất cam Số quả TB Khối l−ợng TB N¨ng suÊt TB Công thức Sè (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm