1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của phân kali và mật độ cấy đến năng suất lúa lai ngắn ngày tại tỉnh hưng yên

104 744 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ảnh hưởng của phân kali và mật độ cấy đến năng suất lúa lai ngắn ngày tại tỉnh Hưng Yên
Tác giả Nguyễn Văn Tuấn
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Văn Hoan
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp I
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 7,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, thạc sĩ, tiến sĩ, khóa luận, cao học, đề tài

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

trường đại học nông nghiệp i

-

nguyễn văn tuấn

Nghiên cứu ảnh hưởng của phân kali

và mật độ cấy đến năng suất lúa lai

ngắn ngày tại tỉnh Hưng Yên

Trang 2

Lời cam đoan

- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thục và ch−a từng đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ3 đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đ3 đ−ợc chỉ

rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Tuấn

Trang 3

Lời cảm ơn Tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

- PGS.TS Nguyễn Văn Hoan, người hướng dẫn khoa học trực tiếp đ3

đóng góp nhiều ý kiến quan trọng từ những bước nghiên cứu ban đầu và cả trong quá trình thực hiện viết luận văn

- Tập thể các thầy cô giáo Khoa Nông học, đặc biệt các thầy cô trong

bộ môn Di truyền - Giống - Trường Đại học Nông nghiệp I – Hà Nội đ3 trực tiếp đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tác giả hoàn thành luận văn này

-UBND tỉnh Hưng Yên, Sở Nông nghiệp &PTNT, UBND huyện Kim

Động, X3 Vĩnh xá và gia đình bác Hưng đ3 tạo điều kiện và giúp đỡ trong quá trình học tập và thực hiện đề tài

- Cảm ơn các nhà Khoa học trong ngành, các đồng nghiệp, bạn bè và người thân đ3 động viên giúp đỡ tôi trong quá trình công tác và học tập

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Tuấn

Trang 4

Mục lục

2.3 Đặc điểm dinh d−ỡng kali và bón phân kali khoáng cho lúa lai 102.3.1 Vai trò của kali đối với việc nâng cao năng suất lúa 10

2.3.3 Bón phân khoáng kali cho lúa trên đất phù sa sông Hồng 13

Trang 5

2.4.2 Kỹ thuật thâm canh lúa lai 18

3 Đối tượng, địa điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu 29

3.2.1 Điều tra hiện trạng kỹ thuật canh tác lúa lai ở Hưng Yên 29

Trang 6

Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

CT : C«ng thøc

DT : DiÖn tÝch

KL : Khèi l−îng

NS : N¨ng suÊt NSLT : N¨ng suÊt lý thuyÕt NSTT : N¨ng suÊt thùc thu TGST : Thêi gian sinh tr−ëng PTNT : Ph¸t triÓn n«ng th«n VAC : V−ên - Ao - Chuång

Trang 7

Bảng 4.8: Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của giống VL24 ở các

Bảng 4.9: ảnh hưởng của phân bón đến màu sắc lá qua các giai đoạn

sinh trưởng phát triển, và chiều dài lá đòng 50Bảng 4.10: ảnh hưởng của phân bón và mật độ cấy đến các yếu tố cấu

Bảng 4.11: Năng suất của giống Việt lai 24 ở các nền phân và mật độ

Bảng4 12b: Hiệu quả kinh tế khi tăng số dảnh /m2 so với công thức cấy

Trang 8

Bảng 4.15 b Hiệu quả kinh tế của các công thức ở các mức phân bón

Bảng 4.16: Thể tích dinh dưỡng của các công thức 76Bảng 4.17: ảnh hưởng của phân bón và mật độ cấy đến khả năng chống

Trang 9

Danh mục các đồ thị

Đồ thị 1: Năng suất của các mật độ cấy ở nền phân K20 = 0kg/ha 56

Đồ thị 2: Năng suất của các mật độ cấy ở nền phân K20 = 40kg/ha 57

Đồ thị 3: Năng suất của các mật độ cấy ở nền phân K20 = 80kg/ha 58

Đồ thị 4: Năng suất của các mật độ cấy ở nền phân K20 =120kg/ha 59

Đồ thị 5: Tương quan giữa mật độ cấy và năng suất giống lúa Việt lai 24 60

Đồ thị 6: Năng suất của công thức 1 ở các nền phân kali khác nhau 63

Đồ thị 7: Năng suất của công thức 2 ở các nền phân kali khác nhau 64

Đồ thị 8: Năng suất của công thức 3 ở các nền phân kali khác nhau 65

Đồ thị 9: Năng suất của công thức 4 ở các nền phân kali khác nhau 66

Đồ thị 10: Năng suất của công thức 5 ở các nền phân kali khác nhau 66

Đồ thị 11: Năng suất của công thức 2 ở các nền phân kali khác nhau 67

Đồ thị 12: Tương quan giữa nền phân bón và năng suất lúa của giống

Trang 10

1 Mở đầu

1.1 Đặt vấn đề

Hưng Yên có diện tích tự nhiên 923 km2, ở độ cao 3- 4m so với mặt biển, là tỉnh đất chật người đông (mật độ dân số bình quân 1227 người/km2), thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng địa hình đất đai bằng phẳng, khí hậu nhiệt đới gió mùa rất thuận lợi cho việc phát triển cây lúa Cây lúa ở vùng

đồng bằng châu thổ sông Hồng ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của nông dân,

là cây trồng chính cung cấp lương thực cho hàng triệu dân trong khu vực này, năng suất lúa bình quân của khu vực đồng bằng sông Hồng luôn cao nhất trong cả nước Đồng bằng sông Hồng cũng là vùng trọng điểm kinh tế, động lực thúc đẩy kinh tế của miền Bắc cũng như cả nước, chính vì vậy trong mấy năm gần đây tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa đ3 diễn ra một cách nhanh chóng Do sự phát triển của các khu công nghiệp và mở rộng các khu đô thị

mà hàng ngàn ha đất nông nghiệp chủ yếu là đất cấy lúa được lấy ra để phục

vụ mục đích trên Đảm bảo an ninh lương thực của vùng trong điều kiện đất

đai càng ngày thu hẹp, thì con đường đề duy nhất là tăng năng suất và tăng vụ gieo trồng; lúa lai ngắn ngày là biện pháp hiệu quả giải quyết mâu thuẫn về giảm diện tích gieo cấy mà vẫn tăng được sản lượng lúa Tuy nhiên để khai thác tối đa ưu thế lai của lúa thì cần phải có quy trình thâm canh cụ thể đặc biệt đối với lúa lai ngắn ngày; đối với lúa thâm canh nói chung và lúa lai nói riêng cần đảm bảo đủ dinh dưỡng theo một tỷ lệ cân đối Trong đó kali là yếu

tố dinh dưỡng được cây lúa cao sản hút nhiều nhất để cho năng suất cao, phẩm chất tốt Việc đưa lúa lai ngắn ngày vào cơ cấu giống lúa tỉnh Hưng Yên nói riêng và đồng bằng sông Hồng nói chung không những khai thác triệt để ưu thế lai mà còn tạo điều kiện kéo dài vụ đông, biến vụ đông thành vụ sản xuất chính trong năm đem lại lợi ích kinh tế cho nông dân

Trang 11

Đ3 có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về phân bón cho vùng đồng bằng sông Hồng và đ3 có hàng trăm công trình được công bố Tuy nhiên những nghiên cứu về mật độ cấy và bón phân kali cho lúa lai ngắn ngày tại tỉnh Hưng Yên vẫn còn rất hạn chế Để góp phần hoàn thiện quy trình thâm canh lúa lai ngắn ngày, được sự phân công của khoa nông học, chúng tôi tiến hành đề tài:

“Nghiên cứu ảnh hưởng của phân kali và mật độ cấy đến năng suất lúa lai ngắn ngày tại tỉnh Hưng Yên”

Trong đề tài này chúng tôi mong muốn đưa ra một đóng góp nhỏ về việc xây dựng chế độ bón phân kali và mật độ cấy cho lúa lai ngắn ngày tại Hưng Yên trên nền đạm và lân theo mức nông dân đang áp dụng phổ biến

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích của đề tài

xác định được mật độ, số dảnh cấy cơ bản/m2 và lượng phân kali cần bón cho lúa lai ngắn ngày tại Hưng Yên

2.2.2 Yêu cầu của đề tài

Xây dựng các công thức cấy cải tiến, so sánh với công thức nông dân

địa phương thường cấy

So sánh đánh giá mức độ ảnh hưởng của việc bón phân ka li khác nhau

đến năng suất của lúa lai ngắn ngày trên nền phân đạm và lân phổ thông

Trang 12

2 Tổng quan tài liệu

2.1 Ưu thế lai của lúa

2.1.1 Sơ lược lịch sử lúa lai

Ưu thế lai là một thuật ngữ để chỉ tính hơn hẳn của con lai F1 so với bố

mẹ chúng về các tính trạng hình thái, khả năng sinh trưởng, sức sinh sản, khả năng chống chịu và thích nghi, năng suất, chất lượng và các đặc tính khác

Hiện tượng ưu thế lai được các nhà khoa học phát hiện khá sớm trên các giống cây trồng và vật nuôi (Beall, 1878; Shull, 1904) Người ta đ3 khai thác hiệu ứng ưu thế lai, tạo ra giống cây trồng cao sản như ngô lai, bắp cải, hành tây, cà chua Các giống vật nuôi lớn nhanh như lợn lai, gà công nghiệp Sử dụng ưu thế lai thương phẩm đ3 đem lại lợi ích kinh tế và tăng thu nhập cho sản xuất nông nghiệp [27], [32], [59]

J.w.Jones (1926) là người đầu tiên báo cáo về sự xuất hiện ưu thế lai ở lúa trên những tính trạng số lượng và năng suất Sau Jones có nhiều công trình nghiên cứu khác xác nhận sự xuất hiện ưu thế lai về năng suất, các yếu tố cấu thành năng suất (Anonymous, 1977; Li, 1977; Lin và Yuan, 1980.), về sự tích lũy chất khô (Rao,1965; Jenning, 1967; Kim,1985.) về sự phát triển của bộ rễ (Anonymous, 1974; Tian và cộng sự,1980.), về một số đặc tính sinh lý như cường độ quang hợp, cường độ hô hấp, diện tích lá (Lin vàYuan, 1980; Deng,

1980, MC Donal và cộng sự, 1971; Wu và cộng sự, 1980) [18], [32], [36], [50] 2.1.2 Đặc điểm hạt giống lúa lai

Theo Nguyễn Công Tạn [32] hạt giống lúa lai được thu trên cây mẹ nên kiểu hình hạt giống như dòng mẹ Sản xuất hạt lai sử dụng phương pháp giao phấn, nghĩa là tất cả các hạt lai thu được là nhờ quá trình thụ phấn ngoài do vậy hạt lúa lai có một số đặc trưng có thể phân biệt với lúa thuần được như hai mảnh vỏ trấu đóng không kín, có vết đầu nhụy ở mép giữa hai vỏ trấu Vì

Trang 13

thế khối lượng riêng của thóc lai nhẹ hơn thóc thuần đáng kể, khi đổ hạt giống vào nước đa số hạt bị nổi, hoặc nửa chìm nửa nổi Vì vậy hạt lai rất rất dễ chứa

đựng một số bào tử nấm gây bệnh, khi gặp mưa 1- 2 ngày vào thời kỳ lúa bắt

đầu chín vàng là có thể nảy mầm trên bông

Do vỏ trấu đóng không kín nên khi ngâm, hạt lúa lai hút nước rất nhanh Thời gian ngâm giống trong vụ Hè từ 10 – 18 giờ, vụ xuân từ 20 – 30 giờ là hạt lai đ3 no nước Trong khi ngâm do có nhiều hạt gạo bị tách khỏi vỏ nên dễ lên men gây chua nước, vì thế cứ 6 giờ phải thay nước một lần, lượng nước ngâm gấp 3 lần lượng hạt giống

2.1.3 Sự biểu hiện ưu thế lai ở lúa

Ưu thế lai thể hiện ngay từ khi hạt mới nảy mầm cho đến khi hoàn thành quá trình sinh trưởng phát triển của cây Sự biểu hiện của ưu thế lai ở các cơ quan sinh trưởng sinh dưỡng và cơ quan sinh trưởng sinh thực[18], [36] 2.1.3.1 Hệ rễ

Các kết quả nghiên cứu của Lin và Yuan (1980) đ3 xác nhận hạt lai F1

ra rễ sớm, số lượng nhiều, tốc độ nhanh hơn bố mẹ chúng Kết quả quan sát cho thấy khi bắt đầu nảy mầm, rễ mầm và thân cùng xuất hiện, khi lá thứ nhất xuất hiện thì có 3 rễ mới hình thành, khi lá thứ hai xuất hiện thì 7 rễ hình thành, sau đó số lượng rễ tăng nên rất nhanh Sự phát triển mạnh mẽ của bộ rễ không chỉ thể hiện qua sự phát triển sớm và dài mà còn thể hiện qua số lượng

rễ trên cây lúa và độ lớn của rễ, rễ lúa lai rất to, khoảng 2mm Chất lượng rễ

được đánh giá thông qua độ dầy của rễ, rễ lúa lai có thể ra từ 4 - 5 lần rễ nhánh, tạo ra một lớp rễ đan dày đặc trong tầng đất cày gần sát mặt đất khối lượng khô, số lượng rễ phụ, số lượng lông hút và hoạt động hút chất dinh dưỡng từ rễ lên cây, số lượng rễ lúa lai ở các thời kỳ đều nhiều hơn lúa thường Lông hút của rễ lúa lai nhiều và dài (0,1 - 0,25mm) hơn hẳn lúa thường (0,01 - 0,13mm) Rễ lúa lai dài, tỏa rộng và ăn sâu trong phạm vi 22 -

Trang 14

23 cm Vì số lượng nhiều nên diện tích tiếp súc lớn, làm cho khả năng hấp thu tăng cao gấp 2 -3 lần lúa thuần Nhờ bộ rễ khỏe, trên đất giầu dinh dưỡng, lúa lai có thể đáp ứng được 50 - 55% nhu cầu về đạm, 47 - 78% nhu cầu về kali từ

đất và phân chuồng Còn trên đất nghèo dinh dưỡng như đất bạc màu, khả năng huy động thấp hơn và chỉ đạt tương ứng 30 - 35% và 40 - 42% Hệ rễ lúa lai hoạt động mạnh nhất vào thời kỳ đẻ nhánh Chính vì thế mà lúa lai có tính thích ứng rộng với những điều kiện bất thuận như ngập úng, hạn, phèn mặn Bộ rễ lúa lai tuy phát triển mạnh nhưng sau khi thu hoạch lại nhanh mục nên dễ làm đất và đất xốp [1], [4], [5], [19], [32], [36]

2.1.3.2 Sự đẻ nhánh

Con lai F1 đẻ nhánh sớm, nếu có đầy đủ ánh sáng và dinh dưỡng thì khi

đạt 4 lá lúa lai đ3 bắt đầu đẻ nhánh, sức đẻ nhánh mạnh, tập trung và tỉ lệ hữu hiệu cao hơn lúa thường Quá trình đẻ nhánh của lúa lai tuân theo qui luật đẻ nhánh chung của cây lúa, khi quan sát thấy lá thứ 4 xuất hiện thì đồng thời nhánh đầu tiên vươn ra từ bẹ lá thứ nhất Các nhánh sau tiếp tục xuất hiện

đúng theo qui luật là khi lá thứ 5 xuất hiện thì nhánh con thứ hai xuất hiện từ

bẹ lá thứ 2…., các nhánh đẻ sớm thường to mập, có số lá nhiều hơn các nhánh

đẻ sau nên bông lúa to đều nhau xấp xỉ như bông chính Sức đẻ nhánh của lúa lai rất khỏe, bình thường cũng có thể đạt 12 -14 nhánh nhiều có thể đạt 20 nhánh Lúa lai có tỉ lệ nhánh thành bông cao hơn lúa thường; kết quả nghiên cứu của Trung Quốc cho thấy tỉ lệ thành bông của lúa lai đạt khoảng 80 -90% trong khi lúa thuần chỉ đạt 60 - 70% ở cùng điều kiện thí nghiệm Nhờ đặc

điểm này mà hệ số sử dụng phân bón của lúa lai rất cao [19],[32], [50], [44] 2.1.3.3 Chiều cao cây

Chiều cao cây của lúa lai cao hay thấp hoàn toàn phụ thuộc vào đặc

điểm của bố mẹ Tùy từng tổ hợp, chiều cao cây của F1 có lúc biểu hiện ưu thế lai dương, có lúc nằm trung gian giữa bố mẹ, có lúc xuất hiện ưu thế lai âm

Trang 15

vì chiều cao cây liên quan đến tính chống đổ trên đồng ruộng nên khi chọn bố

mẹ phải chú ý chọn các dạng nửa lùn để con lai có dạng nửa lùn Đường kính lóng lúa lai to và dầy hơn lúa thuần, số bó mạch nhiều hơn nên khả năng vận chuyển nước và dinh dưỡng tốt hơn lúa thuần[32], [36], [43], [56]

2.1.3.4 Thời gian sinh trưởng

Lúa lai có thời gian sinh trưởng từ ngắn đến trung bình, thường có từ 12

- 17 lá trên thân chính tương ứng thời gian sinh trưởng từ 95 – 135 ngày Đa

số con lai F1 có thời gian sinh trưởng khá dài và thường dài hơn bố mẹ sinh trưởng dài nhất (Deng, 1980; Linvà Yuan, 1980) Xu và Wang (1980) đ3 xác nhận thời gian sinh trưởng của con lai phụ thuộc vào thời gian sinh trưởng của dòng bố Một số kết quả nghiên cứu khác xác định thời gian sinh trưởng của con lai gần giống thời gian sinh trưởng của dòng bố hoặc mẹ có thời gian sinh trưởng dài nhất (Ponnuthurai, 1984) Theo Nguyễn Thị Trâm và cộng sự (1994) con lai F1 hệ ba dòng có thời gian sinh trưởng dài hơn cả bố mẹ ở cả 2

vụ trong năm Giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng và giai đoạn sinh trưởng sinh thực của đa số tổ hợp lai xấp xỉ nhau, sự cân đối về thời gian của các giai đoạn sinh trưởng tạo ra sự cân đối trong cấu trúc quần thể, là một trong những yếu

tố tạo nên năng suất cao [37], [50], [53], [60]

2.1.3.5 Ưu thế lai các đặc tính sinh lý

Nhiều công trình nghiên cứu, khẳng định lúa lai có lá dài và rộng hơn lá lúa thuần, lá đòng dài 35 - 45cm, rộng 1,5 - 2,0 cm, một số tổ hợp có lá lòng

mo và rộng hơn Một số kết quả nghiên cứu cho rằng phiến lá lòng mo có thể hứng ánh sáng cả hai mặt, như vậy năng lượng mặt trời được hấp thu nhiều hơn, hiệu suất quang hợp cao hơn Thịt phiến lá lúa lai có 10 - 11lớp tế bào, số lượng bó mạch nhiều (13 – 14 bó) hơn các giống bố mẹ Diện tích lá lớn hơn lúa thuần 1,2 - 1,5 lần trong suốt quá trình sinh trưởng Ba lá trên cùng đứng, bản lá có nhiều diệp lục nên có màu xanh đậm hơn, do vậy hoạt động quang

Trang 16

hợp diễn ra mạnh hơn Trái lại cường độ hô hấp của lúa lai thấp hơn lúa thuần,

do vậy hiệu suất quang hợp thuần càng cao, khả năng tích lũy chất khô cao hơn đáng kể Con lai F1 cường độ quang hợp cao hơn bố 35%, cường độ hô hấp thấp hơn lúa thuần đáng kể (từ 5 - 27%) ở các giai đoạn sinh trưởng phát triển, Những ruộng có năng suất cao từ 12 - 14 tấn/ha, chỉ số diện tích lá thường đạt 9 -10[32], [19]

Hiệu suất tích lũy chất khô của lúa lai hơn hẳn lúa thuần nhờ vậy mà tổng lượng chất khô trong một cây tăng, trong đó lượng vật chất tích lũy vào bông hạt tăng mạnh còn tích lũy vào các cơ quan sinh dưỡng như thân lá giảm mạnh [27], [32] [36], [47], [63]

2.1.3.6 Ưu thế lai về khả năng chống chịu

Lúa lai có khả năng thích ứng rộng với nhiều điều kiện đất đai, khí hậu khác nhau, có thể trồng được ở mọi chân đất lúa Biểu hiện cụ thể là: ở giai

đoạn mạ lúa lai chịu lạnh tốt hơn lúa thuần, ở thời kỳ lúa, lúa lai có khả năng chịu úng ngập, có khả năng phục hồi nhanh sau khi nước rút Lúa lai có thể gieo trồng trên nhiều loại đất có lý tính và hóa tính khác nhau, do bộ rễ lúa lai phát triển mạnh nên khi gặp hạn sẽ phát triển theo chiều sâu để hút nước và dinh dưỡng vì thế khả năng chịu hạn tốt hơn lúa thuần, ở những tổ hợp lai sử dụng dòng mẹ là các TGMS thì khả năng chịu rét còn biểu hiện ở giai đoạn trỗ bông: trong điều kiện 240C lúa lai kết hạt rất tốt, trong khi các giống lúa thuần

có tỷ lệ lép, lửng nhiều, hạt vào chắc kém Lúa lai có khả năng tái sinh chồi và khả năng chịu nước sâu cao Lúa lai có khả năng chống chịu với một số loại sâu bệnh như rầy nâu, đạo ôn, bạc lá và thích ứng nhiều vùng sinh thái ở Việt Nam, một số tác giả đ3 công bố các giống lúa lai có ưu thế về chống đổ, chịu rét, kháng đạo ôn, bạc lá và khả năng thích ứng rộng [19], [27], [32], [33], [49], [55]

Trang 17

2.1.3.7 Ưu thế lai trên các cơ quan sinh sản (ưu thế lai sinh sản)

Đánh giá ưu thế lai của nhiều tổ hợp lai khác nhau người ta đều thấy con lai năng suất cao hơn bố mẹ từ 20 - 70% khi gieo cấy trên diện rộng và hơn hẳn giống lúa lùn cải tiến tốt nhất từ 20 - 30% Năng suất bình quân của lúa lai trên diện rộng tăng so với lúa thuần khoảng 10 - 15 tạ/ha [39] Đa số các tổ hợp lai có ưu thế lai về số bông/khóm, khối lượng trung bình của bông,

tỷ lệ chắc, khối lượng 1000hạt Do lúa lai đẻ sớm các bông to đều, hạt nhiều

và nặng, trên mỗi bông có nhiều gié cấp 1 (13 -15 gié), trên gié cấp 1 có 3 -7 gié cấp 2, mỗi gié cấp 2 có từ 3 - 7 hạt do vậy khối lượng bông cao hơn lúa thuần từ 1,5 - 2,5 lần Đặc biệt ở đốt giáp cổ bông có 3 - 4 gié cấp 1 nên nhìn bông lúa lai như 1 chùm hạt, tổng số hạt trung bình trên bông cao 150 - 250 hạt, tỷ lệ hạt chắc > 90% nếu như giai đoạn trỗ bông gặp điều kiện ngoại cảnh thuận lợi lượng dinh dưỡng được cung cấp đầy đủ thì bông lúa lai càng nặng

ở Việt Nam, qua tổng kết của Bộ Nông nghiệp & PTNT cho thấy năng suất bình quân của lúa lai ở các tỉnh phía Bắc đạt mức 7- 8 tấn/ha, tăng hơn lúa thuần cùng thời gian sinh trưởng từ 2-3 tấn/ha/vụ [27], [34], [3], [59]

2.1.4 Vai trò của lúa ngắn ngày ở Hưng Yên

Hưng Yên là tỉnh đất chật người đông, thực tiễn hiện tại và trong giai

đoạn đến 2010, nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế của Hưng Yên, diện tích gieo cấy lúa kém hiệu quả khoảng 5000ha, được chuyển

đổi sang mô hình VAC và cây trồng khác vảo năm 2010, diện tích cấy lúa chỉ còn 83000 ha (năm 2001 là 89366ha), năng suất lúa đạt 13,5 tấn/ha/năm vì vậy phải đưa giống có tiềm năng năng suất cao vào sản xuất đồng thời mở rộng diện tích cây vụ đông lên 58% vào năm 2010[30], như vậy diện tích gieo cấy lúa ngắn ngày cần được mở rộng để thu hoạch sớm ở vụ mùa, có thể gieo muộn ở vụ xuân nhằm kéo dài vụ đông để trồng cây có giá trị kinh tế cao Giống là yếu tố đầu tư quan trọng và có giá trị kinh tế cao của ngành trồng trọt Trong những năm gần đây hàng loạt giống lúa mới ra đời, cả lúa lai

Trang 18

và lúa thuần đ3 đóng góp đáng kể vào việc nâng cao năng suất lúa [15], [21], [26] Giống được trồng ở đây vừa có khả năng thâm canh cao vừa có khả năng tăng vụ, để tăng thu nhập cho hệ thông canh tác [17] Các giống lúa ngắn ngày vừa có thời gian sinh trưởng (TGST) ngắn (100 – 130) ngày, vừa không mẫn cảm với độ dài ngày, có thể ra hoa và chín quanh năm, nếu đủ nước [14], [22], [39] Vì vậy sử dụng lúa ngắn ngày làm cho kế hoạch trồng lúa dễ linh hoạt và thích hợp với đặc điểm luân canh tăng vụ [22], [39] Nhiều công trình cho thấy TGST thích hợp cho năng suất cực đại ở mức đạm cao là 115 - 130 ngày [13], [29], [41]

2.2 Đặc điểm hấp thu dinh dưỡng của lúa lai

Mọi loại cây trồng đều có một qua trình hấp thu, vận chuyển các chất dinh dưỡng vô cơ, chuyển hóa thành chất hữu cơ, cấu tạo nên các cơ quan bộ phận trong cơ thể Phân tích thành phần dinh dưỡng trong qua trình sinh trưởng của cây lúa lai cho thấy quy luật hấp thu các chất dinh dưỡng diễn biến như sau:

2.2.1 Quá trình hấp thu đạm

Lúa lai hấp thu đạm sớm ngay từ thời kỳ mạ có 1,5 - 3 lá Tuy nhiên từ khi bắt đầu đến kết thúc đẻ nhánh, đặc biệt vào thời kỳ đẻ nhánh rộ lúa lai hấp thu đạm rất mạnh, sau đó mức độ giảm dần Theo tính toán của các nhà Khoa học Trung Quốc vào thời kỳ đẻ rộ đến bắt đầu phân hóa đòng lúa lai hấp thu 3520gam N/ha/ngày, chiếm 34,68% tổng lượng đạm hấp thu trong suốt quá trình sinh trưởng Giai đoạn từ bắt đầu đẻ nhánh đến đẻ nhánh rộ hấp thu 2337gam N/ha/ngày, chiếm 26,82% Như vậy quá trình hấp thu đạm của lúa lai rất tập trung, nên cần bón năng thời kỳ đầu (khoảng 50 -60% tổng lượng

đạm cần cung cấp) và bón thúc sớm hơn hẳn lúa thuần Vào giai đoạn cuối của quá trình sinh trưởng sự hấp thu đạm của lúa lai giảm hơn giai đoạn đầu, nên không cần cung cấp thêm nhiều đạm, cây lúa có thể sử dụng lượng đạm

dự trữ [19], [32]

Trang 19

2.2.2 Quá trình hấp thu lân

Thời kỳ đẻ rộ và thời kỳ chín, hàm lượng lân trong thân lá, hạt lúa lai cao hơn hẳn lúa thuần Thời kỳ đẻ rộ đến phân hóa đòng lúa lai hấp thu khoảng 84,27%tổng lượng lân cây hút Lân là yếu tố có trong thành phần cấu tạo nên tế bào, mặt khác nó còn cung cấp năng lượng cho các hoạt động của các enzym tạo thành các phân tử cao năng (ATP) trong quá trình trao đổi chất của cây Đối với loại cây trồng sinh trưởng manh như lúa lai cần cung lân sớm, đầy đủ giúp cho cây sinh trưởng manh cân đối, tất yếu cho năng suất cao [19], [32]

2.3 Đặc điểm dinh dưỡng kali và bón phân kali khoáng cho lúa lai

2.3.1 Vai trò của kali đối với việc nâng cao năng suất lúa

Để tăng năng suất cây trồng, tăng chất lượng nông sản, nhiều nghiên cứu về dinh dưỡng cây trồng được tiến hành theo hướng bón phân cân đối, quản lý dinh dưỡng tổng hợp Năng suất của cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng phụ thuộc vào yếu tố hạn chế vì vậy xác định được yếu tố hạn chế chính là có giải pháp khắc phục sẽ là bước đột phá trong việc gia tăng năng suất Điều này đ3 được minh chứng từ đầu những năm bảy mươi khi phát hiện lân là yếu tố hạn chế năng suất lúa khi mở rộng diện tích gieo trồng các giống lúa mới có nhu cầu lân cao gấp 2 - 3 lần giống lúa cổ truyền như IR5; IR8 Vấn đề bón lân đ3 được khuyến cáo và dần trở thành tập quán trong canh tác các giống lúa mới, lân trở thành đòn bẩy năng suất và cùng với giải pháp thủy lợi là những điều kiện tiên quyết trong mở rộng diện tích gieo trồng giống lúa mới, đặc biệt ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, góp phần đáng kể vào việc

đảm bảo an ninh lương thực quốc gia

Vào đầu những năm 1990 cùng với việc gia tăng các giống cây trồng có

ưu thế lai như lúa, ngô và nhiều giống cây trồng khác; nghiên cứu về dinh dưỡng cây trồng đ3 tiếp cận và triển khai hàng loạt vấn đề mang tính toàn diện

Trang 20

về liều lượng phân bón, cách bón, thời điểm bón, loại phân phù hợp, tỉ lệ phối hợp giữa các loại phân và nhu cầu phân bón của các loại cây trồng gắn với giống Từ những kết quả này đ3 phát hiện kali trở thành yếu tố hạn chế đối với cây trồng trên nhiều loại đất, đặc biệt đối với các giống lúa lai có nhu cầu kali cao hơn nhiều so với các giống lúa thuần Cũng cần phải nói thêm rằng hạn chế do thiếu kali trước đây chỉ được xác định trên các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ như đất bạc màu, đất cát biển, đất xám hoặc bạc màu trên đá cát Việc phát hiện kali cũng là yếu tố hạn chế năng suất cây trồng trên nhiều loại

đất khác nhau đ3 hình thành tiến bộ kỹ thuật bón cân đối N.P.K và quản lý dinh dưỡng cây trồng tổng hợp Tiến bộ kỹ thuật này được áp dụng rộng r3i trong cả nước, đặc biệt đối các vùng thâm canh, góp phần tăng năng suất lúa 0,6 - 1,2 tấn/ha [2]

Kali là một trong 3 yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất đối với cây lúa, lúa hút kali nhiều nhất sau đó mới đến đạm, để thu được 1tấn thóc cây lúa lấy

đi 22 - 26 kg kali nguyên chất, tương đương 36,74 - 43,42kg kcl (loại phân chứa 60% kcl), kali là nguyên tố điều khiển chất lượng, tham gia vào hầu hết các quá trình hình thành các hợp chất và vận chuyển các hợp chất đó, kali làm cho tế bào cứng cáp, tăng tỉ lệ đường, giúp vận chuyển chất dinh dưỡng nhanh chóng về hoa, tạo hạt tốt [8], [28], [35], [29], [54]

Thí nghiệm đồng ruộng của IRRI được tiến hành tại 3 điểm khác nhau trong 5 năm (1968 - 1972) cho thấy: Phân kali có ảnh hưởng rõ tới năng suất lúa ở cả 2 vụ trong năm Trong mùa khô trên nền 140N; 60P205, bón 60

K20/ha năng suất đạt 6,78 tấn/ha, cho bội thu năng suất do bón kali là 12,8kg thóc/kg K20 Trong mùa mưa trên nền 70N; 60P205, bón 60 K20/ha năng suất

đạt 4,96 tấn/ha cho bội thu năng suất do bón kali trung bình năm vụ đạt 440kg thóc, với hiệu suất phân bón là 6,1kg thóc/kg K20 Trên đất phù sa sông Hồng trong thâm canh lúa ngắn ngày, để đạt năng suất lúa trên 5 tấn/ha ở vụ mùa và trên 6 tấn/ha ở vụ xuân, nhất thiết phải bón phân kali Để đạt năng suất lúa

Trang 21

xuân 7 tấn/ha cần bón 102 - 135kg K20/ha/vụ (trên nền193kg N/ha,120

P2O5/ha) và năng suất lúa mùa 6 tấn cần bón 88 - 107 kg K2O/ha/vụ (trên nền 160N, 88 P2O5) Hiệu suất phân kali có thể đạt 6,2 - 7,2kg thóc/kg K2O[5], [16] Vai trò cân đối đạm - kali càng lớn khi lượng đạm sử dụng càng cao Không bón kali hệ số sử dụng đạm chỉ đạt 15 - 30%, trong khi bón kali hệ số này tăng lên đến 39 - 49% Như vậy, năng suất tăng không hẳn là do kali (Bởi bón kali riêng rẽ không tăng năng suất) mà là kali đ3 điều chỉnh dinh dưỡng đạm, làm cho cây hút được nhiều đạm và các chất dinh dưỡng khác hơn Trong vụ Đông Xuân ở miền bắc, nhiệt độ thấp, thời tiết thường âm u nên hiệu lực phân kali cao hơn, do đó cần bón kali nhiều hơn ở vụ này [8]

2.3.2 Đặc điểm dinh dưỡng kali của lúa

Giống lúa lai có yêu cầu về kali cao hơn đạm, hút kali mạnh nhất vào giai đoạn làm đòng đến trỗ bông hoàn toàn [24]

Thời gian lúa hút kali dài hơn hút đạm và lân Lúa hút kali tới tận cuối thời gian sinh trưởng [46] Nhu cầu kali của cây lúa rõ nhất ở hai thời kỳ: Đẻ nhánh và làm đòng Thiếu kali vào thời kỳ đẻ nhánh ảnh hưởng mạnh đến năng suất lúa Tuy nhiên lúa hút kali nhiều nhất ở thời kỳ làm đòng, từ cuối đẻ nhánh đến trỗ lúa lai hấp thu kali nhiêù hơn lúa thuần Sau khi trỗ bông lúa thuần hấp thu giảm hẳn trong khi lúa lai vẫn hấp thu kali mạnh (670gam/ha/ngày) chiếm 8,7% tổng lượng hấp thu Kali được sử dụng trong nguyên sinh chất tế bào như một tác nhân kích thích các hoạt động chuyển hóa vật chất vô cơ thành hữu cơ đồng thời thúc đẩy quá trình vận chuyển sản phẩm quang hợp từ lá vào hoa và hạt Sự có mặt của kali thời kỳ sau trỗ ở lúa lai là một ưu thế thúc đẩy quá trình vào mẩy của hạt giúp nâng cao năng suất Lúa lai có khả năng đồng hóa dinh dưỡng cao nhất là đạm và kali lượng hút

đạm thường từ 20 -22 kg N/tấn thóc, và lượng hút kali cũng tương tự , trong một số trường hợp còn cao hơn Để đạt năng suất cao cần thiết phải bón sớm nhất là trong vụ xuân Bón kali là yêu cầu bắt buộc với lúa lai ngay cả trên đất

Trang 22

giầu kali[4]

2.3.3 Bón phân khoáng kali cho lúa trên đất phù sa sông Hồng

Trên đất phù sa sông Hồng việc xác định lượng phân bón, đặc biệt là phân kali có hiệu quả là một vấn đề quan trọng, có rất nhiều ý kiến khác nhau

về vấn đề này

Giữa năng suất lúa và lượng kali lấy đi có mối quan hệ thuận [31], [40] Lượng kali cây lúa hút (kg K20) để tạo được một tấn thóc ở các vùng khác nhau trên thế giới giao động trong phạm vi 20 -40 kgK20 [39] ở vùng nhiệt đới lượng kali cây hút để tạo được một tấn thóc dao động từ 35 - 50 kg

K20, trung bình 44kg K20[29] ở Trung Quốc để đạt 15 tấn thóc/ha/năm, tổng lượng kali cây hút từ 405 - 521kgK20/ha/năm [49] Các kết quả nghiên cứu bước đầu ở Việt nam cho thấy, lượng kali cây hút để tạo được 1tấn thóc không giống các tài liệu của nước ngoài mà mỗi tác giả lại khác Theo nguyễn Vy, với 2 vụ lúa năng suất 9 - 10 tấn/ha/năm lượng kali cây hút trung bình 200 -

250 kgK20/ha Trên đất phù sa sông Hồng lượng kali cây lúa hút để tạo 1 tấn thóc là 14,2 - 21,8 kgK20 [31], 28,4 - 32,7 kgK20[20]

Dự trữ kali trong đất lớn hơn đạm và lân nhiều Đất phù sa sông Hồng

có hàm lượng kali cao [25] Trong đất luôn có sự chuyển hóa giữa các dạng kali theo một cân bằng động [41], [23] Trong hoàn cảnh nhiệt đới, phong hóa mạnh, có nhiều khả năng hàm lương kali tổng số nói lên khả năng cung cấp kali của đất [33] Trong điều kiện ngập nước bộ rễ lúa hút kali một cách dễ dàng [29] Tuy nhiên một số kết quả nghiên cứu trên đất phù sa sông Hồng gần đây cho thấy lượng kali đất có thể cung cấp cho cây lúa ngắn ngày không cao hơn lượng đạm[31], [6]

Đến nay đ3 cơ bản khắc phục được hiện tượng thiếu lân đối với các vùng trồng lúa, bón lân là việc làm quen thuộc của nông dân trồng lúa Vấn đề còn lại là khắc phục hiện tượng thiếu kali, đặc biệt là tỷ lệ N: K được đánh giá

là quan trọng trong việc xác định lượng phân kali bón cho lúa [55], nhưng về

Trang 23

giá trị tuyệt đối thì ý kiến còn khác nhau: Theo các tác giả nước ngoài, tỷ lệ này là 1:1 hay 1: 1,25, thay đổi tùy theo đất [46] Theo tác giả trong nước, tỷ

lệ N: K là 1: 0,3 hay 1: 0,5[35], có lẽ ứng với mức thâm canh trung bình Mức phân bón 120N, 90P205 và 120 K20 là mức bón có ý nghĩa nhất đối với lúa lai trên đất phù sa sông Hồng đồng thời cho năng suất cao hơn đối chứng là 26%

và hiệu suất kg thóc/kg K20 là 7,2 [9] như vậy tỉ lệ này cần đạt là 1,2: 0,9: 1,2 Trên đất phù sa sông Hồng, Vụ Xuân cần bón 8 - 10 tấn phân chuồng, bón

120 - 130kgN, 80 - 90kgP205 và 30 - 60kgK20/ha [8] Lúa lai có khả năng

đồng hóa cao nhất là đạm và kali, lương hút kali thường 20 - 22kgK20/tấn thóc, hiệu suất phân kali đạt 10 - 13kg thóc [4] Có thể dùng tỷ lệ N: K cây lúa hút của công thức không bón phân hoặc chỉ bón phân chuồng làm cơ sở để bón phân cân đói hợp lý [6]

Theo IPI, 1993 [46] Lúa sử dụng khối lượng nước rất lớn, vì vậy nước tưới có thể là nguồn kali chính cho lúa Hàm lượng kali trong nước tưới 25ppm tương đương bón 60kgK20/ha, khi hàm lượng kali trong nước tới đạt 40ppm có thể đáp ứng nhu cầu kali cho lúa ở mức 10 tấn/ha

Khuyến cáo bón kali cho lúa ở Viện kali quốc tế cũng chủ yếu dựa vào mức năng suất và khả năng cung cấp kali của đất Tùy theo đất lúa, mùa khô

để đạt năng suất lúa 4 - 8 tấn/ha cần bón 30 - 150kgK20/ha Mùa mưa để đạt năng suất 4 - 6 tấn/ha cần bón 30 - 100 kgK20/ha ở Trung Quốc thí nghiệm

đạt năng suất lúa cao 7 - 8 tấn/ha/vụ đ3 bón 135 - 150 kg K20/ha Người đạt năng suất lúa kỷ lục đ3 bón 280kgK20/ha [46] Mô hình thâm canh lúa lai cao sản tại Xuân Trường - Nam Định vụ Xuân 2005, để đạt 14 tấn/ha lượng kali sử dụng 283 kgK20/ha và lượng đạm cũng tương tự, tỷ lệ N: K là 1:1 (Báo cáo

“Mô hình trình diễn lúa cao sản My Sơn 2, My Sơn 4, D.ưu 527 bằng quy trình canh tác tiên tiến của Trung Quốc Nhằm xác định tiềm năng năng suất lúa vụ Xuân của Nam Định”)

Trên đất phù sa sông Hồng, khi năng suất dưới 2,5 tấn/ha hiệu lực kali

Trang 24

thường không rõ, năng suất 2,5 - 4,5 tấn/vụ, bón 20 - 30kgK20/ha hiệu lực rõ, năng suất lớn hơn 4,5 tấn/ha/vụ nhất thiết phải bón phân kali [23]

2.4 Kỹ thuật gieo cấy lúa lai

2.4.1 Kỹ thuật thâm canh mạ lúa lai

2.4.1.1 Thâm canh mạ lúa lai ở vụ xuân

Theo tổng kết của nhiều nhà khoa học cũng như theo kinh nghiệm của nông dân thì mạ tốt quyết định một phần quan trọng trong toàn bộ đời sống của cây lúa Đối với lúa lai vấn đề mạ còn quan trọng hơn nhiều bởi vì lúa lai sinh trưởng nhanh, từng giai đoạn sinh trưởng đều có ý nghĩa rất lớn đối với toàn bộ quá trình sống Mạ tốt phải đạt các tiêu chuẩn: to gan đanh dảnh, sạch sâu, bệnh và được cấy đúng tuổi Tuy nhiên các giống có thời gian sinh trởng khác nhau thì tiêu chuẩn mạ cũng khác nhau Tiêu chuẩn mạ tốt còn phụ thuộc vào phương thức làm mạ và mùa vụ gieo trồng

Mạ dược gieo thưa thì tiêu chuẩn mạ tốt là: Mạ đẻ nhánh sớm tại đốt

đầu tiên, đẻ liên tiếp 3 - 4 nhánh trước khi cấy Rễ mạ to trắng, khỏe, không bị tổn thương do nhổ mạ hoặc do những tác động khác Thân mập, lá xanh, cứng, không có vết bệnh

Mạ dầy, hoặc mạ non phải có tiêu chuẩn riêng mà không áp dụng tiêu chuẩn trên

Mạ xuân ở miền Bắc nước ta thường gặp rét ở thời kỳ đầu Vì vậy gieo mạ xuân cần có biện pháp chống rét để đảm bảo thời vụ và kế hoạch diện tích Lúa lai có thời gian sinh trưởng ngắn, thường được bố trí ở trà xuân muộn gieo

tè 25/1 đến 10/2, cấy trong tháng 2 Thời gian này nhiệt độ còn quá thấp có nhiều ngày nhiệt độ xuống dới 140C, gió mùa Đông Bắc cường độ mạnh, không có ánh nắng mặt trời, ẩm độ không khí cao, vì vậy gieo mạ lúc này phải

có phương án chống rét phù hợp Hạt F1 có giá thành cao cần tiết kiệm vì vậy phải chọn phương án an toàn nhất [19], [32]

Trang 25

a.2 Mạ ném (mạ khay nhựa mềm) ứng dụng công nghệ của Trung Quốc

Khay nhựa có kích thớc 60 cm x 35 cm có 561 lỗ hình nón cụt, mỗi lỗ sau khi gieo sẽ cho một cây mạ có bầu đất nên bộ rẽ được đảm bảo rất an toàn Khi mạ có 3,5- 4lá đưa ra ruộng, cầm lá mạ hoặc cầm cả bầu đát tung lên, do bầu đất nặng nên khi rơi xuống sẽ "ngồi" trên mặt bùn và bén rế, phát triển nhanh và rất an toàn Mạ ném tiết kiệm được công cấy, lúa tốt nhanh, đẻ nhánh sớm và cho năng suất cao Theo công nghệ của trung Quốc có 4 phương thức làm mạ ném là:

Gieo mạ khay trên đất bùn, chăm sóc ẩm (i)

Gieo mạ khay đất khô, chăm sóc ẩm (ii)

Gieo mạ khay trên đát khô, chăm sóc ướt (iii)

Gieo mạ khay trên đất bùn, chăm sóc ướt (iv)

Sự khác biệt giữa các phương thức trên là ở nền gieo, đất khô hay đất bùn và khâu chăm sóc ẩm hay là ướt

Mạ ném mọc khá nhanh, nếu làm vòm cẩn thận, đảm bảo ấm thì sau 3 -

4 ngày mạ mọc đều, dù trên nền khô hay ướt mạ mọc đều tốt Trên nền đất khô, khi chuẩn bị nền đ3 tưới ẩm, hơi nước bốc lên ngưng lại trên nilon rồi lại rơi xuống tưới ẩm cho mạ vì vậy chỉ khi nào đất quá khô mới cần mở ra để

Trang 26

tưới bổ sung Khi mạ ra 2,1 lá thì bón thúc như đ3 nói ở phần trên, khi mạ có

từ 3lá có thể đem ra ruộng cấy, thời tiết chưa ấm, chuẩn bị đất chưa xong thì

t-ưới thêm dinh dưỡng, chờ khi ấm mới đem mạ ra ruộng cấy, thậm chí để mạ 4-5 lá mới cấy cũng không có ảnh hưởng xấu

Phun MET: Mạ phủ trong nilon thường hay bị vống do thiếu ánh sáng, vì vậy nên phun MET để hạn chế phát triển chiều cao, tăng độ mập của gan mạ, làm cho lá ngắn lại, xanh đậm hơn, các mầm ngủ bật sớm hơn Dùng MET loại 15%, hòa 13 - 18 g trong 10 lít nước phun cho 200 m2 mạ, trước khi phun cần tưới đều cho nền đủ ẩm [19], [32] Đồng bằng bắc bộ gieo khô chăm sóc ướt là biện pháp dễ thực hiện hơn cả

b Thâm canh mạ dược

Làm mạ dược thâm canh khác với mạ thường là phải đẻ sớm, đẻ đều và

đẻ nhiều Vì vậy từ khâu làm đất đ3 phải hết sức chú ý Bón lót: phân chuồng

1 - 2kg +30g supe lân + 10g urê + 10g cloruakali/m2 Các loại phân trên đều bón trên mặt luống, sau đó cào đều, trang phẳng sao cho không còn nước đọng trên mặt luống

Mật độ gieo thưa 18 - 25 g hạt khô/m2 tương đương 25 - 30 g mầm/m2, gieo đều, khi mạ mọc 4 lá có thể đẻ nhánh

Chống rét cho mạ: Khi gieo mạ nếu nhiệt độ còn thấp thì phải chống rét cho mạ bằng phương pháp làm vòm che phủ nilon trong

Mạ thâm canh to khoẻ khi cấy sức chống chịu rét tốt hơn rất nhiều so với mạ non, mạ đ3 đẻ nhánh nên khi cấy cần ít dảnh cơ bản hơn nhưng tổng số dảnh thậm chí nhiều hơn Do nhánh được đẻ ngay trên ruộng mạ nên bông to tương

đương so với bông chính [19], [32]

2.4.1.2 Thâm canh mạ lúa lai vụ mùa

Mạ mùa ở miền bắc nước ta thường gieo vào tháng 6 -7 dương lịch, thời gian này nhiệt độ cao, hay có mưa rào làm cho mạ lúa lai mới gieo bị trôi dạt Tuy nhiên làm mạ vụ mùa đầu tư ít tốn kém hơn vụ xuân vì không phải chống

Trang 27

rét Mục tiêu của làm mạ mùa thâm canh là tạo điều kiện cho cây mạ lúa lai

đẻ nhánh sớm, đẻ đủ số nhánh có khả năng hình thành bông, khi cấy các nhánh đẻ trên ruộng mạ không bị chết

a Thâm canh mạ dược:

Làm mạ dược thâm canh ở vụ mùa tương tự như ở vụ xuân, chỉ khác là không cần phải chống rét Vụ mùa có nhiệt độ cao nên tuổi mạ ngắn, mạ đẻ nhánh khỏe hơn và nhanh hơn so với vụ xuân

Vụ mùa có nhiệt độ cao nên hạt giống lúa lai hút nước nhanh, thời gian ngâm 12 - 30 giờ, tùy giống Khi hạt giống hút no nước, vớt giống lên, đ3i thật sạch, rồi ủ trong bao tải gai, bao vải thưa hoặc để trong rá, giành, đậy kín giữ nhiệt và ẩm đầy đủ, sau 12 - 20 giờ hạt sẽ nẩy mầm, kiểm tra nếu thiếu nước cần bổ sung nước sạch, đảo đều, để ráo rồi ủ lại Khi mầm dài 1 - 3 mm thì

đem gieo ra ruộng

Gieo mạ: Lượng thóc giống gieo 20g/m2 mặt luống, nên chia mầm làm

2 lần cho đều, cần 50 - 60 m2 mạ cho 1 sào cấy

Chăm sóc mạ: Sau khi gieo 2-3 ngày phun thuốc trừ cỏ Khi mạ được 1- 1,5 lá cho nước vào láng đều mặt luống, bón thúc lần khi có 2,1 lá và 4,1 lá Cần giữ nớc cho bùn mềm sẽ dễ nhổ mạ Khi phát hiện mạ có sâu, bệnh hại cần phun trừ kịp thời, trước nhổ cấy 2 - 3 ngày

b Các loại mạ khác

Trong vụ mùa cũng có thể gieo mạ lúa lai trên nền đất cứng hoặc làm mạ ném như đ3 trình bày ở phần mạ xuân, nhưng tuổi mạ mùa ngắn hơn, chỉ khoảng 10 - 12 ngày là phải cấy [19], [32]

2.4.2 Kỹ thuật thâm canh lúa lai

Để đạt được một vụ lúa lai năng suất cao, người sản xuất phải biết điều khiển toàn bộ quá trình sinh trưởng phát triển của cây Các biện pháp kỹ thuật như thời vụ, tuổi mạ, mật độ, khoảng cách, số dảnh cấy, kỹ thuật làm đất, bón phân, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh, sử dụng phân bón qua lá, luân canh cây

Trang 28

trồng v.v đều phải tập trung giải quyết các mục tiêu chính là:

(1) Điều khiển cho ruộng lúa lai trỗ bông, nở hoa vào thời kỳ thích hợp nhất

(2) Tạo ra một cấu trúc quần thể tối ưu để đạt năng suất cao

(3) Điều khiển quần thể sao cho ít sâu bệnh, cứng cây, màu sắc phù hợp với từng giai đoạn sinh lý của cây

2.4.2.1 Điều khiển cho ruộng lúa trỗ bông, nở hoa vào thời kỳ thích hợp nhất

Miền Bắc nước ta có hai vụ lúa chính là lúa xuân và lúa mùa Mỗi vụ

có đặc trưng thời tiết khác nhau, trong thời gian đó có những thời điểm có

điều kiện thời tiết rất thuận lợi cho lúa phân hóa đòng, trỗ bông và nở hoa Khi tính toán thời vụ gieo cấy căn cứ vào số liệu thu thập được trong nhiều năm của các trạm khí tượng thủy văn lân cận và tham khảo kinh nghiệm của nông dân để bố trí sao cho lúa lai trỗ vào thời điểm thuận lợi nhất

a Điều kiện thuận lợi cho lúa lai trỗ bông ở vụ xuân

Các tổ hợp lúa lai sử dung hiện nay đều có thời gian sinh trưởng ngắn nên thích hợp gieo trong vụ xuân muộn Vụ này diễn ra trong khoảng từ 25/1 - 10/6, nhiệt độ tăng dần từ thấp đến cao Tháng 2, tháng 3 nhiệt độ còn thấp, trời nhiều mây, thiếu ánh nắng cây sinh trưởng chậm, sang tháng 4, có mưa rào nhẹ đầu mùa, có nắng, lúa lên nhanh, lúa bước vào thời kỳ phân hóa đòng, lúc này trời quang mây, nhiều ánh sáng, nhiệt độ tăng dần thuận lợi cho lúa phân hóa đòng Đến cuối tháng 4, đầu tháng 5 nhiệt độ trung bình ngày lên 25

- 30 0C, ánh nắng chan hòa, số giờ nắng trong ngày lên tới 8 - 10 giờ, cường

độ ánh sáng mạnh Độ ẩm không khí 80 - 90%, mưa rào nhẹ và nhanh với lượng mưa khoảng 70- 100mm/tuần Đó là điều kiện khá lý tưởng cho lúa trỗ bông, nở hoa Theo dõi số liệu khí tượng thủy văn phía bắc cho thấy thời gian

từ 5 - 15/5 hàng năm có điều kiện lý tưởng đó Cần bố trí lúa lai trỗ vào lúc này Nếu trỗ sớm hơn có thể có thể gặp các đợt gió mùa đông bắc cuối vụ gây

Trang 29

ra lép, lửng nhiều, nếu trỗ muộn hơn có thể gặp gió tây nam đầu vụ (gió lào) cả hai loại gió này đều gây ảnh hưởng xấu cho sự trỗ bông, nở hoa và kết hạt của lúa lai [19], [32]

b Điều kiện thuận lợi cho lúa lai trỗ bông ở vụ mùa

Vụ mùa là vụ có diện tích lớn nhất ở đồng bằng trung du bắc bộ Vụ mùa có nhiệt độ cao rất phù hợp cho cây lúa sinh trưởng phát triển song vụ mùa cũng có nhiều khó khăn như mưa to gây lũ lụt, b3o giông, ngập úng để tránh được các yếu tố bất lợi trên đồng thời lại thuận lợi cho lúa lai trỗ bông,

nở hoa thụ phấn thụ tinh là yêu cầu trước tiên quyết định thành công của vụ sản xuất Yêu cầu thời tiết thuận lợi cho lúa lai trỗ bông là: Nhiệt độ không khí ôn hòa từ 25 - 300C, biên độ nhiệt độ ngày đêm khoảng 6 – 10 độ; Độ ẩm tương đối không khí khoảng 75 - 80%; Trời quang mây, nắng nhiều, có mưa giông về đêm, mưa nhanh, có sấm chớp, lượng mưa vừa phải; Không gặp b3o, lụt, gió nóng, khô, chưa có gió mùa Đông Bắc lạnh Theo số liệu ghi chép của các trạm khí tượng phía Bắc thì khoảng thời gian từ ngày 5 - 20 tháng 9 hàng năm có điều kiện như trên, nên điều chỉnh các giống lúa lai trỗ vào thời kỳ đó

sẽ cho năng suất cao Muốn điều chỉnh được cần nắm vững thời gian sinh trưởng của từng giống, thực hiện tốt tất cả các khâu từ gieo mạ, chăm sóc mạ, tuổi mạ, thời vụ cấy, chăm sóc ruộng lúa, phòng trừ sâu bệnh gây hại v.v

Thời gian sinh trưởng của các giống lúa lai chủ yếu phụ thuộc vào thời gian từ gieo mạ đến trỗ và tuổi mạ khác nhau, thời gian từ trỗ đến chín 33 ngày Vì thế cần nắm vững cách tính thời gian từ cấy đến trỗ để chủ động điều chỉnh Nếu mạ được thâm canh cẩn thận và cấy đúng tuổi, nhổ mạ cấy đúng

kỹ thuật lúa sẽ bén rễ hồi xanh nhanh, thời gian sinh trởng của giống là tổng thời kỳ mạ, thời kỳ cấy đến trỗ và thời kỳ chín Do vậy thời gian từ cấy đến trỗ

= thời gian sinh trởng trừ đi(tuổi mạ + 33 ngày), từ đó lấy thời điểm trỗ thuận lợi lùi lại để gieo cấy cho thích hợp Theo nghiên cứu của Virmani và Sharma (2001), nếu tiến hành cấy mạ non thì thời gian sinh trưởng sẽ rút ngắn hơn so

Trang 30

với mạ cấy đúng tuổi, số ngày rút ngắn = 1/2 số ngày cấy sớm hơn bình thường, nếu cấy mạ già thì ngược lại

Tính toán chính xác thời gian từ gieo đến trỗ là hết sức cần thiết đảm bảo cho ruộng sản xuất lúa lai đạt năng suất cao Nắm chắc số ngày của từng giai đoạn sinh trưởng giúp cho việc bố trí hợp lý một giống nhất định trong hệ thống cây trồng của một chu kỳ sản xuất, nhằm thu được hiệu quả cao nhất cho từng cây trồng trong toàn hệ thống Những tính toán trên đây còn giúp ta chủ động hoàn toàn trong việc sử dụng lợi thế của thiên nhiên ở từng vùng, từng vụ để thu được kết quả cao trong sản xuất nông nghiệp [19], [32]

2.4.2.2 Tạo một cấu trúc quần thể tối ưu để đạt năng suất cao

Năng suất ruộng lúa do số bông/m2, số hạt/bông và độ nặng của hạt quyết định

Năng suất = số bông/m2 x số hạt/bông x khối lượng hạt

Muốn quần thể ruộng lúa có nhiều bông, trước hết mỗi cá thể phải đẻ nhiều nhánh, tỷ lệ nhánh thành bông cao Muốn có nhiều hạt chắc trước hết mỗi bông lúa phải có nhiều hoa quá trình thụ phấn thụ tinh bình thường, tỷ lệ mẩy cao Khối lượng hạt là chỉ tiêu ổn định do yếu tố di truyền quyết định

Số bông của ruộng lúa là yếu tố quan trọng nhất quyết định năng suất cũng là yếu tố tương đối dễ điều chỉnh hơn so với hai yếu tố còn lại Số hạt trên bông và khối lượng 1000hạt được kiểm soát chặt chẽ hơn bởi yếu tố di truyền, dù cho đầu tư kỹ thuật cao cũng không thể biến một giống bông nhỏ, hạt nhẹ thành giống bông to, hạt nặng được

Tác động kỹ thuật làm tăng số bông đến mức tối đa là vô cùng quan trọng trong thâm canh lúa lai Tuy nhiên số bông tối đa là bao nhiêu phải nằm trong một khuôn khổ nhất định Nếu cấy quá dày hoặc quá nhiều dảnh trên khóm thì bông lúa sẽ nhỏ đi đáng kể, hạt có thể nhỏ hơn và năng suất sẽ giảm Vì vậy điều khiển cho một ruộng lúa có số bông tối ưu mà vẫn không làm cho bông nhỏ đi, số hạt chắc và độ chắc hạt trên bông không thay đổi là một "nghệ

Trang 31

thuật" thâm canh điêu luyện

Số bông tối ưu của một giống lúa nhất định là số bông thu được nhiều nhất mà ruộng lúa có thể đạt được nhưng chưa làm giảm số hạt trên bông, chưa làm giảm khối lượng hạt vốn có của giống đó Như vậy các giống lúa khác nhau có khả năng cho số bông tối ưu trên đơn vị diện tích khác nhau, phụ thuộc khá nhiều vào đặc điểm hình thái của giống Muốn đạt được số bông tối ưu, trước tiên phải xác định số bông cần đạt trên một m2 Từ đó quyết

định mật độ cấy, khoảng cách cấy và số dảnh khi cấy [19], [32]

a Định số bông cần đạt cho ruộng lúa:

Căn cứ vào tiềm năng cho năng suất của giống, tiềm năng đất đai, tiềm lực thâm canh của người sản xuất và vụ gieo trồng để định ra số bông cần đạt một cách hợp lý và dự kiến số hạt trên bông Không thể dự kiến năng suất và phiến diện, điều đó sẽ dẫn đến khó khăn trong quá trình điều khiển ruộng lúa Cơ sở chính để xác định số bông tối ưu là:

Tiềm năng năng suất của giống tai một vùng nhất định: Thông qua lý lịch giống được giới thiệu trước, hoặc dựa vào kết quả thăm dò năng suất vụ trước Dựa vào tiềm năng năng suất, tiềm năng đất đai, khí hậu (đặc biệt chú ý

Đa số giống lúa lai đang dùng hiện nay có bông to vì vậy có thể xác

định số hạt mẩy cần đạt trên 1m2 để phấn đấu tăng năng suất Ruộng lúa lai

được chăm sóc đầy đủ mà vẫn chưa đạt số bông tối ưu thì cần phải tìm nguyên nhân hạn chế Những yếu tố quyết định số bông bao gồm mật độ cấy và số dảnh cấy/khóm [19], [32]

* Xác định mật độ cấy phù hợp cho lúa lai

Trang 32

Mật độ cấy là số khóm cấy/1 m2 Lúa cấy được tính bằng khóm, lúa gieo thẳng được tính bằng số hạt mọc

Về nguyên tắc thì mật độ gieo cấy càng cao thì số bông càng nhiều Trong một giới hạn nhất định, việc tăng số bông không làm giảm số hạt trên bông, nhưng nếu vượt quá giới hạn đó thì số hạt trên bông bắt đầu giảm đi do lượng dinh dưỡng phải chia sẽ cho nhiều bông Theo tính toán thống kê cho thấy tốc độ giảm số hạt/bông mạnh hơn tốc độ tăng của mật độ cấy, vì vậy cấy dầy đối với lúa lai gây giảm năng suất nhiều hơn so với lúa thuần Tuy nhiên nếu cấy quá thưa đối với giống có thời gian sinh trưởng ngắn thì khó đạt được

số bông tối ưu theo dự định Nhiều kết quả nghiên cứu xác định rằng nếu trên

đất giàu dinh dưỡng, mạ mọc tốt thì cần cấy thưa, nếu đất không tốt, mạ xấu cần cấy dầy Để xác định mật độ cấy hợp lý căn cứ vào hai thông số: số bông cần đạt/m2 và số bông hữu hiệu/khóm

Số bông/m2 Mật độ (khóm/m2) =

Số bông hữu hiệu/khóm

Lúa lai là loại hình đẻ khỏe, yêu cầu ánh sáng nhiều thì bông mới to vì thế khoảng cách giữa các hàng lúa cần bố trí rộng hơn lúa thuần Tuy nhiên với cách bố trí theo kiểu truyền thống tức là các hàng lúa đều đặn thì khoảng cách giữa các hàng với hàng chỉ có thể bố trí đến 30 cm, quá khoảng cách này thì không thể bảo đảm được mật độ cần thiết Khi quan sát các khóm lúa ven

bờ, đường công tác ta thấy: nhờ được hưởng nhiều ánh sáng, diện tích dinh dưỡng nhiều hơn nên các bông lúa đều to, nhiều hạt, số bông/khóm nhiều hơn hẳn các khóm lúa bên trong ruộng, tỷ lệ lép thấp Phỏng theo quan sát này đ3

bố trí phương pháp cấy lúa theo kiểu "hàng rộng - hàng hẹp" và có thể gi3n khoảng cách giữa hai hàng lúa kép ra thành 35 - 40 cm mà vẫn đảm bảo được mật độ cần thiết Qua tổng kết được áp dụng cho thấy: khoảng cách cấy trong

Trang 33

nội bộ hàng kép nên duy trì ổn định là 15 cm, cây cách cây giữ nguyên là 12

cm và chỉ thay đổi khoảng cách giữa hai hàng kép để đạt được mật độ cần thiết

Để chắc chắn đạt được số bông hữu hiệu theo yêu cầu nêu trên thì cần chú ý đến số dảnh cơ bản khi cấy [9], [13]

Nếu sử dụng mạ non để cấy (mạ chưa được 4 lá) thì sau cấy thường đẻ nhánh sớm và nhanh Để đạt 9 bông với mật độ 37 khóm, chỉ cần cáy 3 - 4 dảnh, mỗi dảnh đẻ 2 nhánh con là đủ, nếu cấy nhiều hơn số nhánh có thể nhiều hơn nhưng tỷ lệ hữu hiệu lại giảm Để đạt 6 bông/khóm với mật độ cấy

số dảnh cấy/khóm nhiều hơn so với mạ non Chẳng hạn muốn đạt 9 bông/khóm với mật độ 37khóm cần cấy 9 x 0,7 = 6,3 dảnh Theo cách này thì ruộng lúa lai vừa cấy xong trông như ruộng lúa thuần đang ở thời kỳ đẻ nhánh

b Điều khiển số nhánh hữu hiệu cao theo dự định

Để cho các nhánh đẻ của ruộng lúa có tỷ lệ thành bông cao thì kỹ thuật

Trang 34

thâm canh phải chính xác từ khâu làm mạ, cấy, bón phân và chăm sóc

* Điều khiển thông qua kỹ thuậtk làm mạ: Lúa cấy có những ưu điểm nổi bật là các khóm lúa được phân bổ đồng đều trên ruộng theo hàng, hướng nhất định, ánh sáng được phân bổ đồng đều cho mọi cá thể, các khóm lúa có

độ lớn tương đương nhau, có diện tích dinh dưỡng và không gian ngang nhau Khi cấy mạ đ3 lớn có khả năng chịu đựng tốt với điều kiện ngoại cảnh, lúa cấy rút ngắn thời gian chăm sóc trên diện rộng so với lúa gieo thẳng lên hệ thống luân canh linh hoạt hơn Vì vậy lúa cấy dễ điều khiển năng suất theo ý muốn hơn so với lúa gieo thẳng đặc biệt đối với vụ xuân ở các tỉnh phía Bắc Để khóm lúa cấy có nhiều nhánh hữu hiệu cao dùng kỹ thuật cho mạ đẻ nhánh và cấy nhiều nhánh trên khóm là thuận lợi nhất

* Điều khiển số nhánh thông qua kỹ thuật bón phân:

Bón phân cho lúa lai dựa theo nguyên tắc: " nặng đầu, nhẹ giữa, cuối bổ sung" Vì thời gian sinh trưởng ngắn đến trung bình nên lúa lai sử dụng phân rất tiết kiệm và hiệu quả Bón chính xác và cân đối thì lúa lai sinh trưởng phát triển tốt và cho hiệu quả kinh tế cao

* Điều khiển số hạt/bông, tăng tỷ lệ hạt chắc

Số lượng hạt/bông là đặc điểm di truyền của giống, có thể dùng kỹ thuật thâm canh nói chung và kỹ thuật bón phân nói riêng để điều khiển Khi đ3 có ruộng lúa tốt, đủ số nhánh có thể thành bông theo dự định thì khâu tiếp theo là bón phân để cho đòng phân hóa thuận lợi nhất, thể hiện cao độ tiềm năng của giống Theo Matsusima để giải quyết vấn đề này cần tác động phân bón vào thời điểm có chỉ số lá tuổi là 79 (ở lúa thuần), cách tính chỉ số tuổi lá như sau: Lấy tổng số lá trên thân chính chia cho 100 rồi nhân với chỉ số lá lúc cần bón

Trang 35

huy tác dụng đúng vào lúc đỉnh sinh trưởng chuyển từ phân hóa lá sang phân hóa trục bông, cung cấp dinh dưỡng lúc này sẽ giúp cho bông to, nhiều hạt và hạt mẩy sẽ nhiều

Các nhà nghiên cứu của Trung Quốc cho rằng thời kỳ chuyển hóa từ sinh trưởng sinh dưỡng sang sinh trưởng sinh thực cây lúa lai không cần cung cấp thêm dinh dưỡng nhưng sau đó lại cần lượng khá lớn vào 18 -15 ngày trước trỗ, tức là vào thời kỳ phân hóa hoa và phân hóa nhị đực, nhị cái Đây là thời kỳ quyết định số lượng hoa lúa hình thành trên bông Lượng dinh dưỡng ở thời kỳ này không chỉ cần nguyên tố đa lượng NPK mà cần các nguyên tố vi lượng bởi vậy lúc này có thể bón 10 - 15 % lượng đạm, 40 – 50% lượng kali,

bổ xung thêm phân vi lượng để tăng cường quá trình vận chuyển các chất dinh dưỡng vào đòng non Lượng lân không cần cung cấp thêm vào đất mà có thể phun qua lá để lúa hấp thu nhanh, thường dùng KH2PO4 phun cho lúa vào thời

kỳ này

Để tăng tỷ lệ hạt mẩy và tăng độ mẩy hạt, sau khi lúa phơi màu cần bón thêm hoặc phun phân qua lá giữ cho 3 lá cuối lâu tàn để nhằm tăng khả năng sinh sản hydrat cacbon chuyển trực tiếp về hạt

* Điều khiển cấu trúc quần thể bằng nước tưới

Nước là yếu tố vô cùng quan trọng, tục ngữ tổng kết rằng: " nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống" Trong sản xuất thiếu phân cây phát triển còi cọc, năng suất thấp nhưng thiếu nước cây chết Lúa là cây trồng cần nhiều nước, nước điều tiết qúa trình sinh trưởng phát triển của cây

Điều khiển quá trình đẻ nhánh bằng nước: Trên ruộng lúa chủ động tưới tiêu có thể giữ mức nước nông, sâu để điều khiển quá trình đẻ nhánh Trong khi cấy, trên ruộng cần có lớp nước mỏng để cho thao tác cấy thuận tiện, các khóm lúa ngay ngắn, không bị cấy quá sâu Ngay sau khi cấy cần nên giữ lớp nước trên mặt ruộng sâu 5cm, để cho lúa mới cấy không bị héo do gió mạnh hoặc nhiệt độ cao Ngày thứ ba sau cấy rút bớt nước chỉ còn khoảng 2 - 3cm

Trang 36

giúp cho lúa bén rễ nhanh và đẻ nhánh sớm Khi đẻ nhánh đạt số nhánh tối ưu cần rút cạn nước phơi ruộng nhằm hạn chế đẻ nhánh vô hiệu, tăng lượng ô xy xâm nhập vào đất, rễ lúa phát triển thêm nhiều rễ mới Sau khi rút nước, quan sát thấy mặt ruộng nẻ chân chim tiến hành đưa nước ngập sâu để các nhánh vươn cao nhanh và những mầm ngủ chưa bật ra thì không vươn ra được Nước lúc này đóng vai trò là kìm h3m sự đẻ nhánh lai rai Nhờ vậy các nhánh đẻ sớm được tập trung dinh dưỡng lớn nhanh và trở thành nhánh hữu hiệu cho bông to hơn Khi lúa bước vào phân hóa đòng cho nước vào ruộng sâu từ 5 -

10 cm để cho quá trình phân hóa được thuận lợi, giữ nước cho đến lúa thụ phấn xong, rút nước để cho lúa ra thêm đợt rễ mới giúp cho quá trình hút dinh dưỡng ở giai đoạn sau trỗ, thời gian rút nước chỉ tiến hành 2 -3 ngày rồi cho nước trở lại để cho lúa hút nước và dinh dưỡng tích lũy vào hạt Lúa lai có tốc

độ sinh trưởng mạnh nên điều chỉnh nước bằng việc tháo cạn và tới nông, sâu xen kẽ làm cho tiểu khí hậu ruộng lúa được điều hòa, lúa phát triển khỏe mạnh hơn, ít sâu bệnh và cho năng suất cao hơn [19], [32]

c Điều khiển ruộng lúa lai sạch sâu bệnh

Nền nông nghiệp thâm canh thường hay bị sâu bệnh gây hại nếu như không chú ý các biện pháp quản lý tốt Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng: Lúa lai sinh trưởng phát triển nhanh, mạnh, có khả năng chống chịu từ khá đến tốt một số loại bệnh như đạo ôn, đốm nâu mẫn cảm với rầy nâu, bọ trĩ, sâu đục thân Khi gieo trồng lúa lai, muốn phát huy hết tiềm năng của giống thì vấn đề quản lý sâu, bệnh hại phải đặt nên hàng đầu như một biện pháp kỹ thuật then chốt trong thâm canh Cũng như lúa thuần cần sử dụng sử dụng phương pháp quản lý sâu bệnh hại tổng hợp (IPM) để hạn chế tối đa thiệt hại do sâu bệnh gây ra [19], [32], [38]

Điểm qua một số nét về nghiên cứu dinh dưỡng cho cây lúa chúng ta thấy các nhà khoa học đ3 đạt được các kết quả rất đa dạng và góp phần đáng

kể vào việc tăng năng suất đặc biệt là sử dụng hợp lý phân kali Tuy nhiên với

Trang 37

nhóm lúa lai cực ngắn ngày đ−ợc gieo cấy ở đồng bằng Bắc Bộ thì mối quan

hệ giữa mật độ cấy (đ−ợc tính bằng số dảnh cấy/ m2) và l−ợng phân kali bón cho nhóm lúa này ra sao vẫn là câu hỏi ch−a có câu trả lời Các nghiên cứu của chúng tôi là nhằm góp phần làm sáng tỏ câu trả lời này

Trang 38

3 Đối tượng, địa điểm, nội dung

Vật liệu thí nghiệm chính thức là giống VL24, do PGS.TS Nguyễn Văn Hoan chon tạo, thời gian sinh trưởng ở vụ xuân muộn 115 – 120 ngày, vụ mùa

95 – 100 ngày, thuộc loại hình bông trung bình

3.1.2 Địa điểm

Tại x3 Vĩnh Xá, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên trên chân đất phù sa sông Hồng không được bồi đắp hàng năm, cấy hai vụ lúa

3.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Điều tra hiện trạng kỹ thuật canh tác lúa lai ở Hưng Yên

3.2.2 Bố trí thí nghiệm thăm dò

3.2.3 Nội dung nghiên cứu

+ Nghiên cứu mức phân bón hợp lý cho lúa lai ngắn ngày

+ Nghiên cứu mật độ cấy và số dảnh cấy ban đầu/khóm cho phù hợp với lúa lai ngắn ngày

Trang 39

- Bón thúc; Khi lúa ra thêm lá mới 40% N + 40% K20

- Bón nuôi đòng khi phân hóa đòng bước 2 và bước 3 toàn bộ số phân còn lại

Thí nghiệm bố trí với 6 công thức trong đó 3 công thức đối trứng theo kết quả điều tra:

- Công thức1 (CT1) (Đ/C); cấy 60 dảnh/m2 hay 60 khóm/m2, 1dảnh/khóm

- Công thức 2 (CT2); cấy 120 dảnh/m2 hay 60 khóm/m2, 2dảnh/khóm

- Công thức 3 (CT3); cấy 45 khóm/m2, 2 dảnh/khóm hay 90 dảnh/m2 Công thức cấy hàng rộng, hàng hẹp (hàng rộng 35cm, hàng hẹp 15cm) cấy cây cách cây 12cm:

Ngày đăng: 18/08/2013, 21:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ thí nghiệm 13,85 13,85 13,85  3  P1 4 1 6 2 5 2  P2 1 4 3 5 6 5 P3 3 2 6 1 4  Mương tưới: 0,4m 1  P3 6 4 5 3 2 6  P1 3 5 2 1 4 3 P6 4 2 5 1  2  P5 3 1 6 4 3  P3 2 1 6 4 5 4 P2 1 5 3 6 2  Mương tưới: 0,4m 4  P2 3 6 2 5 1 5  P4 6 1 3 2 1 P1 4 6 5 2 3 - Nghiên cứu ảnh hưởng của phân kali và mật độ cấy đến năng suất lúa lai ngắn ngày tại tỉnh hưng yên
Sơ đồ th í nghiệm 13,85 13,85 13,85 3 P1 4 1 6 2 5 2 P2 1 4 3 5 6 5 P3 3 2 6 1 4 Mương tưới: 0,4m 1 P3 6 4 5 3 2 6 P1 3 5 2 1 4 3 P6 4 2 5 1 2 P5 3 1 6 4 3 P3 2 1 6 4 5 4 P2 1 5 3 6 2 Mương tưới: 0,4m 4 P2 3 6 2 5 1 5 P4 6 1 3 2 1 P1 4 6 5 2 3 (Trang 40)
Bảng 4.1: Diện tích gieo cấy và năng suất lúa lai gieo cấy ở H−ng Yên - Nghiên cứu ảnh hưởng của phân kali và mật độ cấy đến năng suất lúa lai ngắn ngày tại tỉnh hưng yên
Bảng 4.1 Diện tích gieo cấy và năng suất lúa lai gieo cấy ở H−ng Yên (Trang 43)
Bảng 4.2: Một số chỉ tiêu nông sinh học và các yếu tố cấu thành năng suất - Nghiên cứu ảnh hưởng của phân kali và mật độ cấy đến năng suất lúa lai ngắn ngày tại tỉnh hưng yên
Bảng 4.2 Một số chỉ tiêu nông sinh học và các yếu tố cấu thành năng suất (Trang 46)
Bảng 4.3: Phản ứng sâu bệnh ở các công thức cấy - Nghiên cứu ảnh hưởng của phân kali và mật độ cấy đến năng suất lúa lai ngắn ngày tại tỉnh hưng yên
Bảng 4.3 Phản ứng sâu bệnh ở các công thức cấy (Trang 47)
Bảng 4.4: Một số đặc điểm sinh trưởng thời kỳ mạ của giống Việt lai 24 - Nghiên cứu ảnh hưởng của phân kali và mật độ cấy đến năng suất lúa lai ngắn ngày tại tỉnh hưng yên
Bảng 4.4 Một số đặc điểm sinh trưởng thời kỳ mạ của giống Việt lai 24 (Trang 49)
Bảng 4.5: Động thỏi đẻ nhỏnh của cỏc cụng thức qua cỏc lần theo dừi - Nghiên cứu ảnh hưởng của phân kali và mật độ cấy đến năng suất lúa lai ngắn ngày tại tỉnh hưng yên
Bảng 4.5 Động thỏi đẻ nhỏnh của cỏc cụng thức qua cỏc lần theo dừi (Trang 51)
Bảng 4.6: ảnh hưởng phân bón, mật độ đến đẻ nhánh và nhánh hữu hiệu. - Nghiên cứu ảnh hưởng của phân kali và mật độ cấy đến năng suất lúa lai ngắn ngày tại tỉnh hưng yên
Bảng 4.6 ảnh hưởng phân bón, mật độ đến đẻ nhánh và nhánh hữu hiệu (Trang 52)
Bảng 4.7: ảnh hưởng của mật độ cấy và phân bón đến tốc độ tăng trưởng  chiều cao và chiều cao cây của giống VL24 - Nghiên cứu ảnh hưởng của phân kali và mật độ cấy đến năng suất lúa lai ngắn ngày tại tỉnh hưng yên
Bảng 4.7 ảnh hưởng của mật độ cấy và phân bón đến tốc độ tăng trưởng chiều cao và chiều cao cây của giống VL24 (Trang 55)
Bảng 4.8: Thời gian qua các giai đoạn sinh tr−ởng của giống VL24   ở các mật độ và mức phân bón khác nhau (ngày) - Nghiên cứu ảnh hưởng của phân kali và mật độ cấy đến năng suất lúa lai ngắn ngày tại tỉnh hưng yên
Bảng 4.8 Thời gian qua các giai đoạn sinh tr−ởng của giống VL24 ở các mật độ và mức phân bón khác nhau (ngày) (Trang 57)
Bảng 4.9: ảnh hưởng của phân bón đến màu sắc lá qua các giai đoạn sinh  trưởng phát triển, và chiều dài lá đòng - Nghiên cứu ảnh hưởng của phân kali và mật độ cấy đến năng suất lúa lai ngắn ngày tại tỉnh hưng yên
Bảng 4.9 ảnh hưởng của phân bón đến màu sắc lá qua các giai đoạn sinh trưởng phát triển, và chiều dài lá đòng (Trang 59)
Bảng 4.11: Năng suất của giống Việt lai 24 ở các nền phân   và mật độ cấy khác nhau - Nghiên cứu ảnh hưởng của phân kali và mật độ cấy đến năng suất lúa lai ngắn ngày tại tỉnh hưng yên
Bảng 4.11 Năng suất của giống Việt lai 24 ở các nền phân và mật độ cấy khác nhau (Trang 62)
Đồ thị 4.1: Năng suất của các  mật độ cấy ở nền phân K 2 0 = 0kg/ha - Nghiên cứu ảnh hưởng của phân kali và mật độ cấy đến năng suất lúa lai ngắn ngày tại tỉnh hưng yên
th ị 4.1: Năng suất của các mật độ cấy ở nền phân K 2 0 = 0kg/ha (Trang 65)
Đồ thị 4.2: Năng suất của các mật độ cấy ở nền phân K 2 0 = 40kg/ha - Nghiên cứu ảnh hưởng của phân kali và mật độ cấy đến năng suất lúa lai ngắn ngày tại tỉnh hưng yên
th ị 4.2: Năng suất của các mật độ cấy ở nền phân K 2 0 = 40kg/ha (Trang 66)
Đồ thị 4.3: Năng suất của các mật độ cấy ở nền phân K 2 0 = 80kg/ha - Nghiên cứu ảnh hưởng của phân kali và mật độ cấy đến năng suất lúa lai ngắn ngày tại tỉnh hưng yên
th ị 4.3: Năng suất của các mật độ cấy ở nền phân K 2 0 = 80kg/ha (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm