1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng sinh trưởng sau ghép của giống cà phê chè TN2 tại ba vì hà tây

120 507 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng sinh trưởng sau ghép của giống cà phê chè TN2 tại Ba Vì - Hà Tây
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hải
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Đình Vinh
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp I
Chuyên ngành Trồng trọt
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, thạc sĩ, tiến sĩ, khóa luận, cao học, đề tài

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp I

-

Nguyễn thị thanh hải

nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố

đến khả năng sinh trưởng sau ghép của giống cà phê chè TN2 tại ba vì - Hà tây

Luận văn thạc sĩ nông nghiệp

Chuyên ngành: trồng trọt Mã số: 60.62.01

Người hướng dẫn khoa học: ts Nguyễn đình viNH

Hà Nội, 2007

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn đã đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Trang 3

Lời cảm ơn

Để hoàn thành bản luận văn này, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ về nhiều mặt của các cấp Lãnh đạo, các tập thể và cá nhân

Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng tới TS

Nguyễn Đình Vinh, người Thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi hoàn thành

luận văn này

Luận văn được thực hiện tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển cà phê chè Ba Vì - Hà Tây Tại đây tôi đã nhận được sự giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi của ThS Vũ Thị Trâm – Phó giám đốc Trung tâm và tập thể cán bộ Trung tâm trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu Tôi xin chân thành cảm

ơn những sự giúp đỡ quý báu đó

Tôi xin gửi lời cảm ơn Lãnh đạo Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, Ban chủ nhiệm khoa Nông học, khoa sau Đại học, các Thầy Cô giáo trong bộ môn Cây công nghiệp, bộ môn Thực vật khoa Nông học đã tạo mọi

điều kiện và giúp đỡ tôi về kiến thức và chuyên môn trong suốt 2 năm học tập

Nguyễn Thị Thanh Hải

Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………ii

Trang 4

Mục lục

1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

2.2 Đặc điểm thực vật học và đặc tính di truyền của cây cà phê chè 5

2.4 Tình hình nghiên cứu và sản xuất cà phê trên thế giới 102.4 Tình hình nghiên cứu và sản xuất cà phê ở Việt Nam 22

3 Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 40

Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………iii

Trang 5

4.1 ảnh hưởng của tuổi gốc ghép non đến khả năng sinh trưởng

sau ghép của giống cà phê chè TN2 464.2 ảnh hưởng của tuổi chồi ghép đến khả năng sinh trưởng sau

ghép của giống cà phê chè TN2 514.3 ảnh hưởng của thời gian bảo quản chồi đến khả năng sinh

trưởng sau ghép của giống cà phê chè TN2 584.4 ảnh hưởng của thời vụ ghép đến khả năng sinh trưởng sau

ghép của giống cà phê chè TN2 63

4.5 ảnh hưởng của gốc ghép thay thế đến khả năng sinh trưởng

sau ghép của giống cà phê chè TN2 684.6 ảnh hưởng của thời vụ ghép đến khả năng sinh trưởng sau

ghép của giống cà phê chè TN2 734.7 ảnh hưởng của thời gian bảo quản chồi đến khả năng sinh

trưởng sau ghép của giống cà phê chè TN2 774.8 ảnh hưởng của tuổi chồi ghép đến khả năng sinh trưởng sau

ghép của giống cà phê chè TN2 814.8 Khả năng chống chịu sâu, bệnh của chồi ghép TN2 85

89 Tài liệu tham khảo

Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………iv

Trang 6

Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………v

Trang 7

khẩu trong 15 năm từ 1991 - 2005 274.1 ảnh hưởng của tuổi gốc ghép non đến tỷ lệ sống, chiều cao và

đường kính chồi ghép của giống TN2 474.2 ảnh hưởng của tuổi gốc ghép non đến sự tăng trưởng lá, đốt và

cặp cành của chồi ghép của giống TN2 504.3 ảnh hưởng của tuổi chồi ghép đến tỷ lệ sống, chiều cao và đường

kính chồi ghép của giống TN2 544.4 ảnh hưởng của tuổi chồi ghép đến sự tăng trưởng lá, đốt và cặp

cành của chồi ghép giống TN2 564.5 ảnh hưởng của thời gian bảo quản chồi đến tỷ lệ sống, chiều cao

và đường kính chồi ghép giống TN2 604.6 ảnh hưởng của thời gian bảo quản chồi đến sự tăng trưởng lá, đốt

và cặp cành của chồi ghép giống TN2 624.7 ảnh hưởng của thời vụ ghép đến tỷ lệ sống, chiều cao và đường

kính chồi ghép của giống TN2 644.8 ảnh hưởng của thời vụ ghép đến sự tăng trưởng lá, đốt và cặp

cành của chồi ghép giống TN2 67

Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………vi

Trang 8

4.9 ảnh hưởng của tuổi chồi gốc ghép thay thế đến tỷ lệ sống, chiều

cao và đường kính chồi ghép của giống TN2 694.10 ảnh hưởng của tuổi chồi gốc ghép thay thế đến sự tăng trưởng lá,

đốt và cặp cành của chồi ghép của giống TN2 714.11 ảnh hưởng của thời vụ ghép đến tỷ lệ sống, chiều cao và đường

kính chồi ghép của giống TN2 744.12 ảnh hưởng của thời vụ ghép đến sự tăng trưởng lá, đốt và cặp

cành của chồi ghép giống TN2 754.13 ảnh hưởng của thời gian bảo quản chồi đến tỷ lệ sống, chiều cao

và đường kính chồi ghép giống TN2 784.14 ảnh hưởng của thời gian bảo quản chồi đến sự tăng trưởng lá, đốt

và cặp cành của chồi ghép của giống TN2 804.15 ảnh hưởng của tuổi chồi ghép đến tỷ lệ sống, chiều cao và đường

kính chồi ghép của giống TN2 824.16 ảnh hưởng của tuổi chồi ghép đến sự tăng trưởng lá, đốt và cặp

cành của chồi ghép giống TN2 844.17 Mức độ nhiễm sâu, bệnh của chồi ghép giống cà phê chè TN2 86

Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………vii

Trang 9

Danh mục đồ thị

2.1 Diễn biến bình quân của đơn giá xuất khẩu và kim ngạch xuất

khẩu trong 15 năm từ 1991 - 2005 242.2 Diễn biến bình quân của đơn giá xuất khẩu và kim ngạch xuất

khẩu trong 15 năm từ 1991 - 2005 28

4.1 Động thái tăng trưởng chiều cao chồi ghép của giống TN2 484.2 Cấu tạo giải phẫu thân của giống cà phê chè TN2 tại đốt thứ 1 534.3 Cấu tạo giải phẫu thân của giống cà phê chè TN2 tại đốt thứ 2 534.4 Cấu tạo giải phẫu thân của giống cà phê chè TN2 tại đốt thứ 3 534.5 Cấu tạo giải phẫu thân của giống cà phê Robusta tại đốt thứ 2 534.6 Động thái tăng trưởng số cặp lá và số đốt trên chồi ghép của

giống cà phê chè TN2 574.7 Động thái tăng trưởng đường kính chồi ghép của giống cà phê

chè TN2 614.8 Động thái tăng trưởng chiều cao chồi ghép của giống cà phê chè

TN2 654.9 Động thái tăng trưởng số lá và số đốt trên chồi của giống cà phê

chè TN2 724.10 Động thái tăng trưởng chiều cao chồi của giống cà phê chè TN2 83

Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………viii

Trang 10

Trong số trên 10 triệu ha cà phê hiện có trên thế giới thì sản phẩm cà

phê chè (Coffea arabica) chiếm 75% còn lại là cà phê vối (Coffea canephora)

Do cà phê chè có hương vị nước uống thơm ngon, được mọi người ưa chuộng vì vậy mà giá tiêu thụ bình quân thường cao gấp 1,5 – 1,7 lần cà phê vối

Hiện nay, ở Việt Nam cà phê chè Arabica chủ yếu được trồng ở phía Bắc và phổ biến là giống Catimor ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học có giá trị nhưng chủ yếu tập trung cho cà phê vối Robusta tại Tây Nguyên Những công trình nghiên cứu cho cà phê chè Arbica còn quá ít

và không đồng bộ ở các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc Các khâu kỹ thuật

từ chọn tạo giống tốt, chế độ bón phân hợp lý, kỹ thuật canh tác như mật độ, tạo hình, tỉa cành, hãm ngọn cần phải tiến hành một cách cụ thể

Bên cạnh sự phát triển nhanh chóng về diện tích, năng suất, sản lượng

và việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong thâm canh cà phê ở các khâu bón phân, tưới nước, thì khâu nghiên cứu đổi mới giống là khâu quan trọng, cần được quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, để cho thành quả của chọn tạo giống đưa vào trong sản xuất, người sử dụng cần phải am hiểu và chọn kỹ thuật nhân giống

có hiệu lực phù hợp với bản chất nguồn vật liệu giống, điều kiện canh tác và

Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………1

Trang 11

trình độ kỹ thuật của người dân địa phương Hầu hết các giống cà phê chè thương phẩm ở trạng thái đồng hợp tử cao nên được nhân giống chủ yếu bằng hạt Tuy nhiên, các giống lai có ưu thế lai hoặc mang tính kháng bệnh cao muốn sử dụng ngay thế hệ thứ nhất cũng cần phải nhân vô tính vì việc sản xuất hạt giống lai trên quy mô lớn chưa thể thực hiện được, giá thành hạt giống quá cao Dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Đình Vinh chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng sinh trưởng sau ghép của giống cà phê chè TN2 tại Ba Vì - Hà Tây”

1.2 Mục đích – Yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích

Bước đầu xác định được một số yếu tố nội và ngoại sinh ảnh hưởng lớn

đến sự sinh trưởng sau ghép đối với giống cà phê chè TN2 trong điều kiện địa phương ở Ba Vì - Hà Tây Ngoài ra các kết quả nghiên cứu còn được sử dụng làm cơ sở tham khảo cho công tác nhân giống cà phê chè ở Việt Nam, làm tài liệu giảng dạy và nghiên cứu khoa học

1.2.2 Yêu cầu

- Đánh giá ảnh hưởng của tuổi cây ghép, thời vụ ghép, tuổi chồi ghép và thời gian bảo quản chồi ghép đến tỷ lệ sống của chồi ghép sau 1 tháng, 2 tháng đối với giống cà phê chè TN2 trồng tại Ba Vì - Hà Tây

- Đánh giá ảnh hưởng của tuổi cây ghép, thời vụ ghép, tuổi chồi ghép và thời gian bảo quản chồi ghép đến khả năng sinh trưởng, phát triển của chồi ghép đối với giống cà phê chè TN2 trồng tại Ba Vì - Hà Tây

- Đánh giá ảnh hưởng của tuổi cây ghép, thời vụ ghép, tuổi chồi ghép và thời gian bảo quản chồi ghép đến khả năng kháng bệnh của chồi ghép đối với giống cà phê chè TN2 trồng tại Ba Vì - Hà Tây

Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………2

Trang 12

1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………3

Trang 13

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1 Nguồn gốc và phân loại cà phê

Chi Coffea thuộc họ Rubiacea, bộ Rubiales có khoảng 100 loài khác

nhau Phần lớn các loài cà phê thường trồng và có giá trị kinh tế thuộc nhóm

Eucoffea K.Schum, ngoài ra còn 3 nhóm khác: Paracoffea Mip, Mascarocoffea Chev và Agrocoffea Pierre (Auguste Chevalier) [23]

Trong 4 nhóm này thì chỉ có nhóm Eucoffea K.Schum là có thành phần

cafein trong hạt vì vậy hầu hết các loài cà phê thực sự có tầm quan trọng về kinh

tế và được trồng trọt đều thuộc nhóm này Nhóm Eucofea K.Schum lại được chia

nhỏ thành 5 nhóm phụ dựa trên một số chỉ tiêu như: màu sắc của quả

(Erytrocoffea), lá dày (Pachycoffthea), cây to cao (Nacocoffea), phân bố theo

điều kiện địa lý (Mozambicoffea) và Melanaocoffea Trong đó chỉ có hai nhóm phụ đầu là có hai loài cà phê quan trọng nhất Coffea arabica Line (cà phê chè) và Coffea canephora Piere (cà phê vối) đang được trồng phổ biến hiện nay

Cà phê vối (Coffea canephora) có nguồn gốc trong các vùng rừng thấp

nhiệt đới ở Châu Phi, được phát hiện vào cuối thế kỷ XIX và được đặt tên bởi nhà thực vật người Pháp, Piere, 1897

Dựa theo các đặc điểm hình thái học và nông học, trong trồng trọt

Berthaud [32] đã chia loài Coffea canephora làm hai giống:

- Coffea canephora var Kouillou: Thân mọc dạng bụi, cành cơ bản

phân nhiều cành thứ cấp và có xu hướng rũ xuống, lá dài và nhỏ, sớm ra hoa, quả, hạt nhỏ, chịu hạn khá được tìm thấy ở Bờ Biển Ngà và Congo (Petit Indiene) Giống này ít có giá trị kinh tế vì năng suất thấp, dễ nhiễm bệnh

- Coffea canephora var Robusta: thân to, mọc thẳng, cành cơ bản

khoẻ, ít phân cành thứ cấp, tán thưa, lá và quả to, chín muộn Giống này được

Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………4

Trang 14

tìm thấy ở Zaire và Bờ Biển Ngà (Robusta Ebobo) Coffea canephora var.robusta được ưa chuộng nhờ sinh trưởng khoẻ, năng suất cao và chống

chịu bệnh tốt

2.2 Đặc điểm thực vật học và đặc tính di truyền của cây cà phê chè

2.2.1 Đặc điểm thực vật học cây cà phê chè

* Bộ rễ của cây cà phê

Bộ rễ cây cà phê trưởng thành gồm có rễ cọc và các rễ phụ Rễ cọc thường là một rễ to khoẻ, mọc thẳng và ăn sâu xuống đất giúp cho cây được

đứng vững và hút được nước ở các tầng đất sâu Rễ cọc của cây cà phê chè thường dài từ 30cm đến trên 1m tuỳ theo độ tơi xốp và độ sâu của tầng đất trồng Các rễ trụ mọc từ rễ cọc và đâm thẳng xuống sâu làm nhiệm vụ chính là hút nước nuôi cây Các rễ ngang cũng mọc từ rễ trụ, đâm vào đất theo các hướng khác nhau, một số rễ ngang phát triển song song với mặt đất Các rễ ngang phát triển thành một hệ thống rễ phụ, phía đầu là các lông hút phát triển dày đặc làm nhiệm vụ hút các chất dinh dưỡng để nuôi cây Sự phát triển của

bộ rễ cà phê chủ yếu phụ thuộc vào độ dày tầng đất, độ xốp đất canh tác, giống cà phê, chế độ bón phân tưới nước và chế độ canh tác [21]

Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………5

Trang 15

hiện sau trồng 20 - 40 ngày Cây cà phê chè một năm tuổi có khoảng 6 - 10 cặp cành, cà phê vối có khoảng 10 - 12 cặp cành cơ bản

Cà phê chè thuộc dạng cây bụi, cao từ 3 - 4m Trong điều kiện tự nhiên thích hợp cây có thể cao tới 6 - 7m Thân cây bé, vỏ mỏng, ít chồi vượt, có nhiều vết rạn nứt dọc thân thuận tiện cho sâu đục thân đẻ trứng Cành cơ bản nhỏ, yếu và có nhiều cành thứ cấp tạo với cành cơ bản một mặt phẳng cắt ngang thân cây

- Lá cà phê chè có màu xanh sáng, mọc đối nhau, dạng hình bầu thuôn dài, cuống ngắn và mép lá hơi gợn sóng Cà phê chè có phiến lá nhỏ, chiều dài

từ 10 -15cm, rộng từ 4 - 6cm và trên mỗi lá có từ 9 -12 cặp gân lá

Cành và lá có tương quan chặt với năng suất cà phê Các nghiên cứu đã chứng tỏ rằng chính lá, cành và thân cà phê là nơi dự trữ các chất dinh dưỡng

để tạo hoa và nuôi dưỡng sự phát triển của quả Lượng tinh bột hình thành sẽ

được tích luỹ trong lá và hệ thống mô của cây Nếu lượng tinh bột dự trữ này suy giảm thì sẽ dẫn đến hiện tượng rụng hoa, rụng quả, và làm cho hạt nhỏ sẽ dẫn đến năng suất thấp Các thí nghiệm cắt bớt lá trong giai đoạn cây mang quả non thì năng suất có thể giảm tới 30% Trong quá trình quả hình thành và phát triển, tuỳ theo số lượng qủa mà lượng tinh bột trong lá giảm rõ rệt Tuy nhiên đến khi quả gần chín thì lượng tinh bột lại tăng lên Đây chính là một yếu tố cần quan tâm trong quá trình chăm sóc cây cà phê để đạt năng suất cao

* Hoa, quả và hạt cà phê

- Hoa cà phê: cây cà phê trồng bằng hạt sẽ bắt đầu ra hoa vào năm thứ 3 sau trồng, tuy nhiên nếu chăm sóc tốt thì năm thứ 2 đã cho thu hoạch, song chỉ nên khai thác từ năm thứ 3 trở đi khi cây đã thực sự trưởng thành Hoa cà phê chè mọc trên nách lá ở các cành ngang thành từng cụm từ 1 - 5 cụm, mỗi cụm từ 1 - 5 hoa Hoa thường có 5 cánh màu trắng, phía dưới dính với nhau tạo thành tràng hình ống Tràng hoa có màu trắng lúc nở có mùi thơm như hoa nhài Hoa cà phê chè thuộc loại

Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………6

Trang 16

thụ phấn ngậm, bầu nhuỵ thường được thụ phấn trước khi hoa nở từ 1 - 2 giờ Đối với cây cà phê chè thời gian từ lúc ra hoa cho đến khi quả chín kéo dài từ 6 - 8 tháng Số lượng và chất lượng hoa nở trên cây cà phê, ngoài yếu tố di truyền quy định còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố ngoại cảnh khác như thời gian và mức độ khô hạn trong quá trình phân hoá mầm hoa, lượng mưa và nước tưới kích thích nở hoa, sự thay đổi về nhiệt

độ trong thời gian hoa nở, tình trạng dinh dưỡng trong cây, kỹ thuật tạo hình, tỉa cành

- Quả cà phê thuộc loại quả hạch, thường có hai hạt Quả cà phê chè có dạng hình trứng, thuôn dài, khi chín có màu đỏ tươi hoặc màu vàng thường có

2 nhân Vỏ thịt dày, mọng nước và có nhiều đường vị rất ngọt Cuống quả ngắn và rất dễ gãy, vì vậy khi quả chín cần thu hoạch ngay tránh bị rụng Cà phê là cây trồng có tỷ lệ rụng quả khá cao, thời kỳ đầu trong quá trình phát triển của quả cà phê hiện tượng rụng quả non thường xảy ra do quá trình thụ phấn kém, sâu bệnh hoặc thời tiết khắc nghiệt, còn thời kỳ giữa và cuối hiện tượng rụng quả thường do sự thiếu hụt hoặc mất cân đối dinh dưỡng gây ra Các kết quả nghiên cứu cho thấy: Trong giai đoạn phát triển của quả, hàm lượng tinh bột và chất dinh dưỡng trong lá giảm mạnh Cây cà phê càng nhiều quả, dinh dưỡng trong lá càng giảm thấp và điều này thường kèm theo hiện tượng rụng quả do thiếu hụt dinh dưỡng Như vậy cần bón phân kịp thời và

đầy đủ, đặc biệt là trong giai đoạn hình thành và phát triển quả nhằm hạn chế

tỷ lệ rụng quả, tăng năng suất và chất lượng cà phê [21], [23]

- Hạt cà phê có một nội nhũ cứng được bao bọc bởi lớp da mỏng màu bạc gọi là vỏ luạ và phần còn lại của ngoại bì được hoá gỗ có màu vàng nhạt

là vỏ thóc Hạt cà phê thường được gọi là nhân có màu xanh xám hoặc xám xanh, xanh lục tuỳ theo giống và phương pháp chế biến, chính giữa là nội nhũ cứng mặt trong phẳng có rãnh hẹp ở giữa, mặt ngoài cong, chứa một phôi nhũ nằm ở phía dưới đáy có một rễ non hình chóp và 2 tử diệp cuộn tròn lại

Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………7

Trang 17

Kích thước, hình dạng và trọng lượng nhân thay đổi tuỳ theo giống, điều kiện khí hậu, đất đai và chế độ chăm sóc Trọng lượng trung bình 100 nhân biến

động từ 13 -18g Hàm lượng cafein trong nhân chiếm từ 1,8-2%

2.2.2 Đặc tính di truyền của cây cà phê chè

Số nhiễm sắc thể cơ bản của chi Coffea là x = 11 và đặc trưng cho tất cả các chi khác thuộc họ Rubiaceae Hầu hết các loài thuộc chi Coffea là những

loài nhị bội (2n = 22) và đều là những cây hoàn toàn không có khả năng tự thụ

phấn Duy nhất chỉ có loài cà phê chè (Coffea arabica) là loài tứ bội (2n = 4x

= 44) và cũng là loài duy nhất có khả năng tự hợp và là cây tự thụ phấn Vì vậy, gần như tất cả các giống cà phê chè hiện nay đang được trồng trọt cũng

đều là những cây tứ bội và là những cây tự thụ phấn (trừ giống Bulala là cây

đa bội có tới 66 hoặc 88 nhiễm sắc thể và giống Monosperma là cây đơn bội chỉ có 22 nhiễm sắc thể

Theo kết quả nghiên cứu của Demarly (1975), thể tứ bội ở loài cà phê chè lại không xuất phát từ một bộ gen duy nhất của một loài nhị bội mà lại là một thể đa bội tạp (allopolyploid) Cũng theo kết quả nghiên cứu này thì bộ gen của loài cà phê chè được hình thành từ 2 bộ gen của 2 loài nhị bội khác,

một bộ là của loài cà phê vối (C.canephora) còn bộ thứ hai đến nay vẫn chưa biết, nhưng có mối quan hệ với loài nhị bội khác được giả định là C.liberica hoặc C.congensis Ngược lại, Lobrau- Callen và Leroy (1980) quan sát thấy C.arabica sản sinh ra 2 loại hạt phấn khác nhau, một loại có quan hệ trực tiếp với C.canephora còn loại kia rất giống với C.rhamnifolia một loài có nguồn

gốc ở vùng ven biển thuộc Kenya và Somali [23]

2.3 yêu cầu sinh thái của cây cà phê chè

Cây cà phê là một cây công nghiệp nhiệt đới, lâu năm đòi hỏi những

điều kiện sinh thái tương đối khắt khe vì vậy cần nắm vững yêu cầu sinh thái của từng loại cà phê để phân vùng quy hoạch cho thích hợp nhằm khai thác tốt nhất điều kiện tự nhiên của mỗi vùng

Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………8

Trang 18

Trong các tố khí hậu, nhiệt độ là yếu tố mang tính giới hạn đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây cà phê Do tổ tiên của cây cà phê chè sống ở dưới các tán rừng có độ cao từ 1.300 - 1.800m so với mực nước biển nên ưa thích với điều kiện khí hậu mát mẻ, ẩm độ không khí trên 70% Nhìn chung, khoảng nhiệt độ mà cây có thể sinh trưởng, phát triển được là từ 5-30oC, nhưng thích hợp với nhiệt độ từ 15-24oC Nhiệt độ trên 25oC quá trình quang hợp sẽ giảm dần Cây cà phê chè cũng là cây có khả năng chịu rét tốt nhất trong số các loài cà phê, khi nhiệt độ xuống tới 5OC cây bắt đầu ngừng sinh trưởng Trong số các loài cà phê đang được trồng, chất lượng của cà phê chè phản ứng mạnh với sự thay đổi về nhiệt độ hơn so với các loài cà phê khác Những vùng có độ cao trên 800m so với mực nước biển sẽ có khí hậu mát mẻ, cường độ ánh sáng vừa phải và biên độ nhiệt độ giữa ngày và đêm cao nên khi trồng cà phê chè sẽ cho chất lượng cao

Sau nhiệt độ, lượng mưa là một trong những yếu tố khí hậu quyết định

đến khả năng sinh trưởng, năng suất và kích thước của hạt cà phê Cây cà phê chè ưa thích điều kiện khí hậu mát mẻ và thường được trồng ở vùng cao nên cần một lượng mưa trong năm vừa phải từ 1.200 - 1.500mm Cũng như cây cà phê vối, cây cà phê chè cũng cần có một khoảng thời gian khô hạn từ 2-3 tháng để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phân hoá mầm hoa Tuy nhiên,

so với cây cà phê vối thì cà phê chè có khả năng chịu hạn tốt hơn

Đất trồng cà phê đòi hỏi phải có tầng canh tác dày trên 0,7m, tơi xốp,

có khả năng thoát nước và giữ ẩm tốt, thành phần cơ giới từ trung bình đến hơi nặng Cây cà phê có thể trồng trên đất độ pH từ 4,5 - 6,5 song thích hợp nhất

là từ 4,5 - 5,0, hàm lượng mùn trên 3% Đất giàu mùn và giàu dinh dưỡng thì

cà phê sinh trưởng, phát triển thuận lợi Tuy nhiên đất có dinh dưỡng trung bình nhưng biết áp dụng các biện pháp thâm canh phù hợp thì cà phê vẫn có khả năng cho năng suất cao

Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………9

Trang 19

2.4 Tình hình nghiên cứu và sản xuất cà phê trên thế giới

2.4.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cà phê trên thế giới

Cà phê là mặt hàng thương mại quan trọng trên thế giới Cà phê được

trồng và xuất khẩu ở hơn 70 nước đang phát triển ở vành đai nhiệt đới và á nhiệt

đới Tuy nhiên, phần lớn sản phẩm cà phê được tiêu thụ ở các nước công nghiệp phát triển Trên thế giới hiện nay có 75 nước trồng cà phê, với diện tích trên 10 triệu ha và sản lượng hàng năm biến động trên dưới 6 triệu tấn Năng suất bình quân chưa vượt quá 6 tạ nhân/ha Trong đó, ở châu Phi có 28 nước năng suất bình quân không vượt quá 4 tạ nhân/ha Nam Mỹ đạt dưới 6 tạ nhân/ha Bốn nước có diện tích cà phê lớn nhất đó là: Brazin trên 3 triệu ha chiếm 25% sản lượng cà phê thế giới, Cote d'Ivoire (châu Phi), Indonesia (châu á) mỗi nước khoảng trên 1 triệu ha và Colombia có gần 1 triệu ha với sản lượng hàng năm

đạt trên dưới 700 ngàn tấn Do áp dụng một số tiến bộ kỹ thuật mới như giống mới và mật độ trồng dày nên đã có hàng chục nước đưa năng suất bình quân đạt trên 1 tấn/ha Điển hình là Costa Rica ở Trung Mỹ với diện tích cà phê chè là 85.000 ha nhưng đạt năng suất bình quân trên 1.400 kg/ha [13]

Sản lượng cà phê trên toàn thế giới niên vụ 1990-1991 là 5,58 triệu tấn,

trong đó cà phê Arabica chiếm 75,6%, còn cà phê Robusta chiếm 24,4%, tỷ lệ

này hầu như vẫn tương đối ổn định cho tới ngày nay Dạng sản phẩm cà phê xuất khẩu trên thị trường thế giới chủ yếu là nhân sống

Sản lượng cà phê thế giới niên vụ 2006/07 dự kiến vào khoảng 126,3 triệu bao, với khoảng dao động từ 118 đến 134 triệu bao Trong khi sản lượng của niên vụ 2007/2008 dự kiến giảm xuống mức 118 triệu bao [44]

Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………10

Trang 20

Bảng 2.1 Sản lượng cà phê của một số nước trên thế giới

Đơnvị: nghìn bao (1bao = 60kg)

Niên vụ Quốc gia

2001 2002 2003 2004 2005 2006

Brazil 30 837 48 617 28 787 39 272 32 944 42 512Vietnam 13 133 11 555 15 230 14 174 13 499 15 000Colombia 11 973 11 889 11 197 12 032 12 329 12 200

Arabica cho năng suất cao với chu kỳ 2 năm /lần vụ 2006/07 (trong đó Arabica

dự báo đạt 34 triệu bao và Robusta đạt 10,8 triệu bao) Tiếp đến là Việt Nam

với gần 14 triệu bao năm 2004 và 11 triệu bao năm 2005 Sản lượng cà phê của

Việt Nam vụ 2006/07 dự báo đạt 13,85 triệu bao chủ yếu là cà phê Robusta

Đứng thứ 3 thế giới là Colombia với hơn 11 triệu bao năm 2005 Indonesia là

Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………11

Trang 21

nước sản xuất cà phê lớn ở châu á, năm 2001 đạt 6,8 triệu bao niên vụ năm

2002, 2003 sản lượng có giảm nhẹ và đến năm 2006 đạt 7,0 triệu bao [45] Braxin là nước sản xuất cà phê lớn nhất thế giới, những thay đổi trong sản lượng của nước này sẽ ảnh hưởng đến tổng nguồn cung của thế giới Vụ 2006/07, tổng cung cà phê thế giới dự báo đạt 146,9 triệu bao, tăng gần 7% so với mức ước tính của vụ 2005/06 Với nguồn cung gia tăng xuất khẩu cà phê thế giới vụ 2006/07 dự báo sẽ phục hồi, có thể đạt 92,8 triệu bao, tăng 7,2 triệu bao so với vụ 2005/06, trong đó Braxin có thế chiếm 27,75 triệu bao tăng 3,7 triệu bao, xuất khẩu của Việt Nam dự báo tăng 1,3 triệu bao, Pêru 1,1 triệu bao và Mêxicô tăng 900.000 bao

Theo thông tin của Bộ nông nghiệp Mỹ (USDA), sản xuất cà phê thế giới niên vụ 2007/2008 sẽ ở mức 118,9 triệu bao (loại 60kg/bao), giảm 12,5 triệu bao so với mùa vụ trước Nguyên nhân chính của sự giảm sút này là do năng suất cà phê của Braxin thấp hơn mọi năm Sản lượng cà phê của Braxin giảm sút nên tổng khối lượng xuất khẩu cà phê toàn thế giới cũng sẽ chỉ ở mức 93,7 triệu bao, giảm so với 97,9 bao năm 2006/2007 Bên cạnh đó dự trữ cà phê của thế giới cũng sẽ tụt xuống mức 16,8 triệu bao, mức thấp nhất kể từ năm 1960/61 [44]

Cà phê là một trong những đồ uống phổ biến trên thế giới Trong những năm gần đây lượng tiêu thụ cà phê trên thế giới tăng bình quân 1% mỗi năm Những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiêu thụ cà phê ta có thể kể đến như:: giá cả, thu nhập của nền kinh tế quốc dân, dân số và các loại đồ uống thay thế Gần 75% lượng cà phê tiêu thụ ở các nước công nghiệp phát triển trong đó ở thị trường Châu Âu cà phê là đồ uống thông dụng, chiếm khoảng 20% trên thị trường đồ uống ở các nước đang phát triển lượng tiêu thụ cà phê cũng đang tăng lên do điều kiện kinh tế được cải thiện và sự tăng dân số ở châu lục này Tuy nhiên, các nước có thói quen uống trà như Nga và Trung Quốc không dễ gì trở thành nước tiêu thụ cà phê lớn

Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………12

Trang 22

ở một số nước đang phát triển cà phê là một ngành hàng quan trọng, giá trị kim ngạch xuất khẩu cà phê chiếm một tỷ lệ khá lớn trong tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu Năm 2005, xuất khẩu cà phê thế giới ước đạt 86,74 triệu bao, giảm 4,47% so với 90,75 triệu bao năm 2004 Mặc dù giảm về khối lượng nhưng kim ngạch xuất khẩu cà phê thế giới năm 2005 đạt 9,25 tỷ USD tăng mạnh so với mức 6,88 tỷ USD năm 2004 Năm 2006 dự đoán kim ngạch xuất khẩu cà phê thế giới sẽ tiếp tục tăng lên

Bảng 2.2 Một số nước nhập khẩu cà phê lớn nhất trong những tháng

Trang 23

Trong năm 2006 các nước nhập khẩu cà phê lớn nhất thế giới vẫn là Mỹ,

Đức, Nhật, Pháp, Italia, Tây ba nha Nhập khẩu cà phê vào các nước Châu âu hiện vẫn giữ ở mức ổn định, năm 2005 đạt 66,53 triệu bao, so với 65,55 triệu bao năm 2001 Trong khi đó nhập khẩu vào các nước khác tăng tới 29,84 triệu bao

so với 27,80 triệu bao năm 2001 Tuy nhiên tiêu thụ trung bình trên đầu người mỗi năm ở hầu hết các nước này đều giảm trong năm 2005 so với năm 2001 Phần Lan tiếp tục dẫn đầu thế giới về tiêu thụ cà phê trung bình trên đầu người mỗi năm Năm 2005 lượng tiêu thụ bình quân trên đầu người của Phần Lan là 12,02kg tăng 1,01kg so với năm 2001 Đứng thứ hai thế giới sau Phần Lan là Nauy (9,71kg/người/năm), Đan Mạch (9,04kg/người/năm), Thuỵ Sỹ (8,97kg/người/năm), Thuỵ Điển (7,76kg/người/năm) và áo (5,5kg/người/năm) Tiêu thụ trung bình trên đầu người mỗi năm tại Mỹ và Nhật Bản lần lượt là 4,22kg và 3,27kg Trong khi đó tại liên minh Châu âu là 5,01kg năm 2005 Mức tiêu thụ bình quân đầu người ở các nước đang sản xuất cà phê lại khá thấp chỉ khoảng 1kg/người/năm Ngay cả ở những nước có mức tiêu dùng nội

địa cao như Braxin, ấn độ hay Inđônêsia mức tiêu thụ cũng chỉ khoảng 3kg/người/năm [13]

Năm 2006/07, tiêu thụ cà phê thế giới ước tính ở mức 120,3 triệu bao, tăng so với 118 triệu bao năm 2005 và mức tiêu thụ sẽ tăng lên 122 triệu bao năm 2007/2008

2.4.2 Tình hình nghiên cứu về cây cà phê trên thế giới

Những công trình nghiên cứu về phân loại thực vật và di truyền học gần đây cho thấy các loài cà phê thuộc chi Coffea có một tiềm năng di truyền hết sức to lớn và phong phú Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về cải tiến giống lại

chỉ được giới hạn ở 2 loài Coffea arabica và Coffea canephora là hai loài thật sự

có tầm quan trọng kinh tế và được trồng phổ biến nhất trên thế giới

Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………14

Trang 24

2.4.2.1 Công tác cải tiến giống cà phê

Trong các kỹ thuật nông nghiệp thì việc chọn tạo giống có vai trò rất quan trọng Mục đích của công tác giống là chọn tạo các giống cây trồng phù hợp với điều kiện khí hậu, đất đai, kỹ thuật canh tác, khả năng chống chịu với các loại sâu bệnh hại chính của từng vùng Vì vậy, tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng nước, từng vùng và yêu cầu của người tiêu dùng để đề ra các chỉ tiêu cũng như thứ tự ưu tiên của từng chỉ tiêu trong quá trình chọn lọc Trong quá trình chọn tạo giống người ta thường chú ý tới các chỉ tiêu chọn lọc như: năng suất, tính ổn định của năng suất, đặc tính sinh trưởng và các yếu tố cấu thành năng suất, tỷ lệ tươi/nhân, chất lượng cà phê, khả năng kháng sâu bệnh Ngoài các chỉ tiêu chọn lọc trên, tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng nước, từng vùng mà người ta có thể đưa thêm một số chỉ tiêu chọn lọc khác như hàm lượng cafein, quả chín tập trung, kháng hạn, chịu ngập úng

Những thập kỷ gần đây nhất với các tiến bộ về mặt tế bào học, sinh lí, sinh hóa thực vật người ta đã đạt được một số kết quả xuất sắc về cải tiến giống cà phê Với các kết quả nghiên cứu của các Viện Campinas (Braxin), Viện INEAC (Congo), Viện IFCC (Pháp), Viện Turrialba (Cotsta Rica), Balehonnur (ấn

Độ) đã có kết quả nổi bật về công tác cải tiến giống cà phê Tại Viện Campinas bằng con đường chọn các cây đầu dòng từ vườn tập đoàn, các giống

cà phê chè Bourbon, Amarella cho năng suất cao, phẩm chất tốt đã được tạo

ra và được cung cấp cho các đồn điền một khối lượng lớn hạt giống [12]

Bằng con đường lai tạo trong cùng loài hoặc qua các đột biến tự nhiên và nhân tạo, những giống cà phê chè quý đã được tạo ra tại Viện Campinas:

- Giống cà phê chè Caturra thấp cây, sản lượng cao, được tuyển chọn từ

đột biến của giống cà phê chè Bourbon

- Giống cà phê chè Bourbon amarello có sản lượng cao, là sản phẩm lai tạo tự nhiên giữa cây cà phê Bourbon và cây cà phê chè amarello quả vàng Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………15

Trang 25

- Giống cà phê chè Mundonovo có những đặc tính quý như sinh trưởng khoẻ cho năng suất cao, là sản phẩm lai tự nhiên giữa cây cà phê chè Bourbon

và cây cà phê chè Sumatra nhập vào Braxin cuối thế kỷ trước

- Giống cà phê chè Catuai mang đặc tính lùn và cho sản lượng cao, là sản phẩm lai giữa giống cà phê lùn Caturra và giống cà phê Mundonovo có năng

suất đặc biệt

Để kết hợp được các đặc điểm thấp cây, tán bé, lóng đốt ngắn, thích hợp cho việc trồng dày của giống Cattura do cặp gen CtCt quy định với khả năng cho năng suất cao, sinh trưởng khoẻ của giống Mundo novo tại Braxil người ta tiến hành lai tạo giữa hai giống trên Từ việc lai tạo này đã chọn lọc ra được giống Catuai quả vàng và Catuai quả đỏ là những giống sinh trưởng khoẻ cho năng suất rất cao, đồng thời có bộ tán bé, cây thấp, lóng đốt ngắn rất thích hợp với mật độ trồng dày

Ngoài cặp gen CtCt của giống Caturra các cặp gen khác như: SbSb của giống Sao Bernardo, VIVI của giống Vilalobos, SrSr của giống San Ramon

cũng được dùng để khai thác tạo ra các giống lùn

Tương tự như vậy tại Colombia để kết hợp được tính kháng cao đối với bệnh gỉ sắt vốn có của cây lai Hibrido de Timor với đặc điểm thấp cây, tán bé

và có tiềm năng cho năng suất cao của giống Caturra người ta đã tiến hành cho lai tạo hai cây này với nhau Sau quá trình chọn lọc tới thế hệ F5 đã cố

định được cả hai đặc điểm này và cho sản xuất đại trà dưới tên giống là Colobiana

Tại Braxil để chuyển một số đặc điểm nông học có giá trị kinh tế của loài

cà phê vối như vỏ quả mỏng, khả năng kháng bệnh tuyến trùng cao Ngay từ năm 1974 người ta tạo ra được cây cà phê vối tứ bội, sau đó cho lai với giống

cà phê chè Bourbon quả đỏ thu được con lai F1, sau đó cho F1 lai lui lại nhiều

lần với các giống Mundonovo và Bourbon quả vàng đã tạo ta những quần thể Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………16

Trang 26

giống mới có rất nhiều triển vọng và được gọi dưới cái tên là Icatu quả vàng

và Icatu quả đỏ BC2 và BC3 là đời con được chọn từ quần thể Icatu được

đánh giá có khả năng cho năng suất cao hơn các giống Mundonovo, Catuai

ngoài ra còn kháng được bệnh gỉ sắt và bệnh hại rễ gây ra bởi tuyến trùng

Meloidogyne exigua, Meloidogyne incognita [24]

Bên cạnh việc chọn ra các giống có năng suất cao, chất lượng tốt thì việc tạo ra các giống cà phê chè có tính kháng sâu bệnh (đặc biệt bệnh gỉ sắt

do nấm Hemileia vastatrix Berk & Br là một trong những bệnh gây tác hại

nghiêm trọng đối với tất cả các nước trồng cà phê trên thế giới) là mục tiêu đối với nhiều nước trên thế giới Bệnh gỉ sắt được phát hiện đầu tiên vào năm 1861 tại ven hồ Victoria ở Kenya, năm 1868 đã gây thiệt hại nặng nề đối với ngành

cà phê ở Ceylan (Srilanca) làm cho nước này phải từ bỏ ngành cà phê để thay thế vào đó bằng cây chè Từ đây bệnh lan đến các nước trồng cà phê khác và

đến nay bệnh gỉ sắt đã có mặt tại tất cả các nước trồng cà phê trên thế giới Năm 1955 Trung tâm nghiên cứu bệnh gỉ sắt hại cà phê đặt tại Oeiras, Bồ

Đào Nha (viết tắt là CIFC) được thành lập Người ta đã xác định được các gen trội quy định kháng bệnh gỉ sắt ở cây cà phê ký hiệu là SH1, SH2, SHn, theo nguyên lý “gen đối gen” của Flor (1942) thì các gen này tương ứng với các gen V1, V2, Vn gây độc ở ký sinh Các gen này có thể được kết hợp theo nhiều tổ hợp khác nhau Trung tâm nghiên cứu bệnh gỉ sắt hại cà phê (CIFC)

đã sàng lọc được 40 nhóm sinh lí khác nhau trong đó có 24 nhóm được sàng lọc từ các thực liệu có sẵn trong tự nhiên và 16 nhóm do CIFC tạo ra thông qua con đường lai tạo Cũng như các gen kháng SH ở cây cà phê, các gen gây

độc V ở ký sinh cũng có thể kết hợp theo nhiều cách khác nhau và tạo ra 30 nòi sinh lý của bệnh gỉ sắt Việc phát hiện ra quần thể cà phê có tính kháng

cao với bệnh gỉ sắt mang tên Hibrido de Timor đã giúp CIFC thực hiện các chương trình lai tạo nhằm chuyển các gen kháng bệnh gỉ sắt từ Hibrido de Timor (HDT) sang các giống cà phê chè thường phẩm Trong đó có những Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………17

Trang 27

quần thể rất đáng lưu ý như: CIFC HW 26 (Caturra quả đỏ x HDT), CIFC H

361 (Villa Sarchi x HDT), từ những quần thể này đã chọn ra được những quần thể tương ứng là: Catimor, Cavimor, Sarchimor và Catindu

Thành công nhất là các con lai giữa giống Caturra với Hibrido de Timor,

đời con chọn lọc ở thế hệ F3, F4 là giống Catimor mang gen lùn Ct, sinh trưởng

chặt, đồng hợp tử về gen SH6 kháng hầu hết các nòi sinh lí của bệnh gỉ sắt [26]

Tại Kenya từ nguồn thực liệu mang tính kháng bệnh gỉ sắt và CBD được chọn lọc từ Catimor của Colombia và một số chọn lọc từ các tổ hợp lai do Trạm nghiên cứu cà phê Ruiru thực hiện giữa các giống cà phê chè SL28, SL34, N39, K7, Padang, Caturra, Bourbon, Rume Sudan và Hibrido Timor Thông qua tổ hợp lai này quần thể con lai F1 đã được đưa ra sản xuất với tên là

“Ruiru” có khả năng kháng được bệnh gỉ sắt và CBD và mang được rất nhiều

đặc điểm nông học mong muốn

Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………18

Trang 28

* Kỹ thuật nhân giống cà phê bằng phương pháp ghép:

Ghép đã được áp dụng từ khá lâu cho cây cà phê Ngay từ 1888 một nhà làm vườn ở Java tên là G.van Riesdijk đã áp dụng ghép chẻ hông thân để ghép chồi cà phê chè lên cà phê dâu da (liberica) với ý định làm tăng tính kháng bệnh gỉ sắt của cà phê chè, mặc dù kỹ thuật ghép được cải tiến dần cho tỷ lệ sống cao nhưng rõ ràng không thể làm tăng tính kháng bệnh gỉ sắt, sau đó

được áp dụng rải rác trên một số vườn kinh doanh để ghép chồi có năng suất cao lên gốc ghép có năng suất thấp [6] Tại Indonesia [33], Madagascar [36]

và ở ấn Độ [31] ghép được sử dụng để phục hồi các vườn cà phê giảm năng suất dưới ngưỡng kinh tế

Tại ấn Độ ghép cà phê cũng đã được quan tâm tại Lalbagh, Bangalore vào thời kỳ 1890 bằng cách dùng chồi cà phê chè ghép lên gốc cà phê mít, chồi cà phê mít ghép lên gốc cà phê chè và cà phê chè ghép trên cà phê chè [40]

Vào năm 1917 tại Uganda, Maitland đã ghép chồi cà phê chè, dâu da, mít lên gốc ghép cà phê vối nhưng cây ghép mọc không tốt nên không chú ý phát triển [40] Cho tới khi vào năm 1930 Snowden lại ứng dụng ghép chẻ cà phê chè vối lên các loại gốc ghép cà phê vối, dâu da và mít để trồng các vườn sản xuất hạt giống Snowden nhận thấy tất cả các loại gốc ghép đều phù hợp cao với cà phê vối nhưng cà phê chè thì thành công hơn trên gốc dâu da

Ghép đặc biệt có ý nghĩa trong chiến lược đối phó với các loại bệnh hại

rễ, nhất là do tuyến trùng thường xảy ra nghiêm trọng ở những vùng trồng cà phê lâu đời ở các nước trồng cà phê nổi tiếng thuộc châu Mỹ Latinh đều có những diện tích phải trồng cà phê chè ghép trên cà phê vối

Tại Indonesia, theo Cramer (1934) các nhà nghiên cứu người Hà Lan vào đầu thế kỷ XX tiếp tục kiên trì nghiên cứu một số phương pháp ghép để cổ

vũ cho việc phổ biến trồng cà phê chè lên gốc ghép liberica có khả năng

kháng tuyến trùng hoặc trồng các dòng cà phê vối chọn lọc

Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………19

Trang 29

Năm 1993, Ramachandran và cộng sự đã nghiên cứu ghép nối ngọn thành công đối với những chủng Cv.Cauvery trên gốc ghép cà phê vối

Năm 1999, Anvil Kumar và Srinivasan đã mô tả chi tiết phương pháp ghép nối ngọn để phục vụ cho việc ứng dụng trong thực tiễn sản xuất

Các kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của gốc ghép lên chồi ghép cho thấy: gốc ghép có ảnh hưởng đến đường kính gốc, chiều dài cành song không

có ảnh hưởng rõ ràng đến chất lượng cà phê tách

Theo kết quả nghiên cứu của trạm nghiên cứu cà phê Chikmagalur, Karnataka, ấn Độ đã chỉ ra rằng cây cà phê chè ghép trên gốc cà phê Robusta 60 tuổi sau 2 năm cho 5kg quả/cây Cà phê Arabusta ghép trên gốc cà phê Robusta

20 - 25 tuổi cho năng suất 10 - 15kg quả/cây sau 26 tháng ghép [40]

Gốc ghép có tính kháng rất được ưa chuộng ở những vùng trồng cà phê

có dịch bệnh hại rễ [35], nhất là bệnh tuyến trùng thường xảy ra nghiêm trọng

ở những vùng trồng cà phê lâu đời Những đồn điền ở Guatemala và những vùng khác ở Châu Mỹ Latin hầu như phát triển nhiều cà phê chè dựa trên gốc ghép cà phê vối để lợi dụng tính kháng bệnh rễ ở cà phê vối và chất lượng tốt

ở cà phê chè [34] ở Kona 80% diện tích cà phê bị tuyến trùng hại rễ đã làm

mất 60% năng suất Bằng việc sử dụng gốc ghép kháng bệnh như Coffea dewevrei (Serracin, 1999) đã sản xuất được hạng loạt cây giống kháng bệnh

trồng thay thế và mang lại hiệu quả kinh tế cao Trong quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây cà phê thì ghép là một kỹ thuật có giá trị để tạo những cây giống kháng bệnh như ở Kenya, Brazil, Colombia đã làm đối với cà phê chè

Trong nghiên cứu chọn tạo giống, ghép được dùng để rút ngắn chu kỳ chọn lọc và lưu giữ cây trong tập đoàn

Hầu hết các phương pháp ghép trong nghề trồng cây ăn quả đều được áp dụng thử trên cây cà phê và cho các kết quả khác nhau Tuy nhiên, ghép chẻ nối ngọn được coi là phương pháp phù hợp hơn cả, ghép mầm ít được sử dụng

Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………20

Trang 30

Các chỉ dẫn ghép chẻ nối ngọn trước đây thường làm trên gốc lớn 8-12 tháng tuổi, chồi ghép mang 2-3 cặp lá, tỷ lệ sống thường dưới 60%, thậm chí tại Madagascar ghép khác loài cà phê vối trên cà phê mít tỷ lệ sống đạt 15%

Ngoài kỹ thuật ghép cải tạo vườn cà phê bằng kỹ thuật ghép chẻ nối ngọn trong ghép cà phê còn kỹ thuật sử dụng gốc ghép còn non (giai đoạn đội mũ) Phương pháp này thường được sử dụng để ghép các giống cà phê chè trên gốc cà phê vối có khả năng kháng được tuyến trùng hại rễ nhằm tạo ra các giống cà phê có khả năng kháng được tuyến trùng Thực chất đây không phải

là phương pháp nhân vô tính mà là nhân hữu tính, vì chồi ghép được dùng là những cây cà phê chè được gieo ươm bằng hạt

* Kỹ thuật nhân giống cà phê bằng phương pháp giâm cành:

Kỹ thuật giâm cành cà phê vối đầu tiên được ra đời ở Bờ Biển Ngà năm

1935, sau đó ở Uganda năm 1940, sử dụng cành giâm lớn Phần lớn các quốc gia trồng cà phê vối đều có nghiên cứu ứng dụng và đưa ra quy trình phù hợp với điều kiện địa phương nhất là tại châu Phi Trong thập kỷ 60 và 70 Bờ Biển Ngà và Mandagasca đã công nghiệp hoá giâm cành tại các trung tâm có khả năng sản xuất 1 triệu cây/năm, tỷ lệ thành công khoảng 60% [36] Tuy nhiên,

kỹ thuật này chỉ áp dụng phổ biến tại châu Phi nơi trồng cà phê vối với chu kỳ ngắn còn các nước trồng cà phê vối với chu kỳ dài tại châu á ít coi trọng phương thức nhân giống này Theo Ferwerda (1969), sau thời gian trồng thử nghiệm cây giâm cành tại Indonesia, nhận thấy rằng cây trồng bằng cành giâm khá mẫm cảm với các điều kiện bất thuận của môi trường, nhất là khô hạn, do bộ rễ tơ có xu hướng phát triển nhiều trên tầng mặt

* Kỹ thuật nhân giống cà phê bằng phương pháp invitro:

Ngày nay với những tiến bộ về sinh học tế bào, sinh học phân tử các nhà nghiên cứu đã có thể cải thiện được những tính trạng đặc biệt với thời gian nhanh hơn các phương pháp truyền thống Cà phê là cây lâu năm nhưng có thể

Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………21

Trang 31

gây tạo phôi xôma từ lá, thân với tần số cao Do đó, cà phê là một mô hình lý tưởng để áp dụng cải thiện giống thông qua nuôi cấy mô cũng như chuyển nạp gen Ngay từ 1970 đã có công trình nghiên cứu đầu tiên của Starisky [40] tại

Hà Lan về sự hình thành thể phôi từ mô sẹo Những nghiên cứu về từ cành nhỏ hoặc ngọn chồi cho thấy rằng công việc dễ làm hơn nhưng tốc độ nhân chậm [37] Khả năng nhân invitro từ mảnh lá, từ mô phân sinh và mầm nách trong môi trường lỏng hoặc đặc đã tạo ra phôi vô tính với tốc độ nhân nhanh cho phép sản xuất theo lối công nghiệp Ngược lại, nuôi cấy tế bào trần chưa tỏ ra hữu ích với cây cà phê [38], việc tái sinh cây hoàn chỉnh cần tiếp tục được nghiên cứu Đối với cây cà phê, tạo cây đơn bội để phục vụ trong lai tạo nhờ

kỹ thuật nuôi cấy invitro bao phấn, tiểu bào tử hoặc noãn chưa thực sự thành công vì chưa thể tái sinh cây hoàn chỉnh có sức sống nhưng đây là hướng có triển vọng đang được tiếp tục nghiên cứu

2.4.Tình hình nghiên cứu và sản xuất cà phê ở Việt Nam

2.4.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cà phê ở Việt Nam

Sản xuất cà phê ở Việt Nam được bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ 20

đến nay đã được 100 năm nhưng ngành cà phê chỉ mới thực sự phát triển cả về diện tích và nâng cao năng suất, sản lượng trong vòng 25 năm lại đây Trong khoảng thời gian một phần tư thế kỷ, ngành cà phê Việt Nam đã đưa sản lượng

cà phê lên 100 lần và đứng vào hàng thứ hai trong các nước sản xuất cà phê [28]

Theo hiệp hội Cà phê - ca cao Việt Nam, Việt Nam hiện là quốc gia có diện tích, sản lượng cà phê vối xuất khẩu nhiều nhất thế giới với gần 500.000

ha và sản lượng hàng năm đạt từ 750.000 đến 800.000 tấn Hiện nay, hầu hết sản phẩm cà phê vối của Việt Nam đều nhằm mục tiêu xuất khẩu và chủ yếu

là cà phê nhân sống Do vậy, Việt Nam cần nhanh chóng mở rộng diện tích cà phê chè Tổng diện tích cà phê chè của cả nước khoảng 25.000 ha, sản lượng hàng năm đạt từ 150.000 đến 200.000 tấn, được trồng chủ yếu ở các tỉnh Sơn

La, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Trị, Lâm Đồng [29]

Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………22

Trang 32

Bảng 2.3 Diện tích, năng suất, sản l−ợng cà phê Việt Nam 1980 – 2006

Năm

Diện tích (1.000ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản l−ợng (1000 tấn)

8,4 8,8 14,9 18,0 21,8 20,3 24,1 19,9 14,7 19,2 17,8 15,8

(Nguồn: Niên giám tổng cục thống kê 2006)

Từ những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ XX ngành cà phê Việt Nam

đi vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ với tốc độ kỷ lục Trong 26 năm qua 2006) việc sản xuất cà phê ở Việt Nam tăng lên rất nhanh: diện tích gieo trồng

(1980-đã tăng 21 lần, năng suất tăng 1,9 lần và sản l−ợng tăng 110 lần Đặc biệt vào các năm 2000-2001 l−ợng cà phê xuất khẩu của Việt Nam đã v−ợt Colombia,

Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………23

Trang 33

đứng thứ 2 trên thế giới chỉ sau Brasil là nước đã có lịch sử 250 năm phát triển cây cà phê Trong vòng 3 năm từ 2001 -2003 khi có sự khủng hoảng cà phê trên thị trường thế giới, giá ở mức thấp nhất trong mấy chục năm qua và có thời điểm giá bán cà phê trong nước ở dưới giá thành nên diện tích cà phê đã giảm nhẹ Theo TS Lê Ngọc Báu, biện pháp tưới nước cho cây cà phê đã trở thành yếu tố quan trọng trong việc hình thành năng suất cà phê ở Việt Nam Với năng suất bình quân khoảng 1,7 tấn/ha, Việt Nam được xếp vào loại nước

có năng suất cà phê cao nhất thế giới (năng suất bình quân của các nước trồng

cà phê thấp hơn 0,7 tấn/ha) [29]

ở nước ta hiện chủ yếu trồng giống cà phê vối, bên cạnh đó có phần nhỏ

diện tích trồng cà phê Arabica Cà phê Robusta chiếm khoảng hơn 90% diện tích trồng chủ yếu ở các tỉnh Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, cà phê Arabica chiếm khoảng 5%, được trồng ở các tỉnh Trung Bộ và Tây Bắc Nếu Robusta mang lại lợi nhuận từ sản lượng cao và giá thấp, thì Arabica là loại cà phê chất

lượng cao, lợi nhuận có được từ chất lượng cao, ổn định và thị trường tiêu thụ

tốt Chính vì vậy ngoài diện tích Robusta hiện có, Chính phủ đã chủ trương

phát triển 100.000 ha cà phê chè [1]

0 100 200 300 400 500 600 700 800 900

Năm

Diện tíc h (1.000ha)

S ản lượng (1000 tấn)

Trang 34

Do đặc điểm thuận lợi về đất đai, khí hậu Tây Nguyên được xem là vựa sản xuất cà phê ở nước ta Diện tích cà phê hiện nay của các tỉnh Tây Nguyên là 436.000 ha, giảm khoảng 50.000 - 60.000 ha so với thời kỳ đạt đỉnh cao vào năm 2001 Với diện tích này, cà phê Tây Nguyên vẫn chiếm khoảng 90% diện tích cà phê cả nước Hiện nay toàn vùng Tây Nguyên có khoảng 14.000 ha cà phê chè và diện tích cà phê chè cả nước là 26.300 ha [4] Qua một số năm thăm

dò ở Việt Nam đã hình thành một số vùng sản xuất cà phê Arabica phát triển tốt, có nhiều triển vọng Đó là các vùng Tây Bắc chủ yếu trên hai tỉnh Điện Biên và Sơn La Dải đất miền Trung có thể kể đến các vùng trồng cà phê như Phủ Quỳ, Khe Sanh và A'Lưới của các tỉnh Nghệ An, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế ở phía Nam có thể kể đến các vùng Gia Lai, M'Drak, Đắk Nông và đặc biệt là tỉnh Lâm Đồng và thành phố Đà Lạt Trên cơ sở chủ trương giảm bớt những diện tích trồng cà phê Robusta kém hiệu quả và mở rộng diện tích cà phê Arabica ở những vùng có điều kiện sinh thái thích hợp là một chủ trương đúng

đắn và cần thiết Phát triển cây cà phê Arabica sẽ giải quyết lao động đáng kể, góp phần xoá đói giảm nghèo Tuy nhiên loại cà phê này đòi hỏi người sản xuất phải có nhiều vốn, có hiểu biết về kỹ thuật và có lao động giỏi [29]

Các nét đặc trưng trong sản xuất cà phê ở Tây Nguyên là:

- Thâm canh cao độ thể hiện ở tình trạng độc canh, các vườn cà phê ít

có hay không có cây che bóng, không có cây trồng xen, được đầu tư cao về phân bón, nước tưới, công chăm sóc vườn cây

- Cà phê đạt được năng suất cao vào loại đứng đầu thế giới nhưng giá thành sản xuất cũng cao Do vậy, rủi ro của người trồng cà phê càng nặng nề khi giá cà phê trên thị trường thế giới xuống thấp

- Phần lớn diện tích trồng cà phê là cà phê vối nên sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường thế giới còn thấp Bên cạnh với nhiều hạn chế trong khâu thu hoạch, sơ chế cà phê nên chất lượng sản phẩm chưa cao

Như vậy, để nâng cao tính ổn định, bền vững của ngành sản xuất cà phê

ở Việt Nam nhằm hạn chế các thiệt hại, rủi ro cho người trồng cà phê ta cần

Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………25

Trang 35

sự ổn định năng suất qua các năm và chất lượng sản phẩm theo yêu cầu của thị trường quốc tế

- Khuyến khích phát triển sản xuất cà phê bền vững thông qua việc trồng cây che bóng Kết hợp cây che bóng với đa dạng hoá cây trồng, đa dạng hoá sản phẩm trong vườn cà phê

- Đặc biệt chú trọng đến khâu chế biến, nâng cao chất lượng cà phê và sản xuất cà phê có giá trị gia tăng

- Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường

- Quan tâm đến những vấn đề xã hội trong chương trình phát triển cà phê như tổ chức các hợp tác xã kiểu mới chuyên ngành cà phê nhằm giúp đỡ cho nông dân các dịch vụ đầu ra và đầu vào, phát triển mạng lưới khuyến nông nhằm đưa nhanh tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân trong các vấn đề về tín dụng, vay vốn

Trong các giải pháp trên thì giải pháp thứ hai, ba và bốn liên quan trực tiếp tới người sản xuất Do vậy, việc xây dựng các mô hình sản xuất cà phê hợp lý, kết hợp hài hoà giữa việc đạt được năng suất khá cao và ổn định, giá thành hạ đồng thời bảo vệ được nguồn nước tưới, giảm thiểu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật là điều hết sức cần thiết để thuyết phục người sản xuất chấp nhận áp dụng các tiến bộ kỹ thuật nhằm thúc đẩy việc phát triển sản xuất cà phê theo hướng bền vững

Cây cà phê có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp nước ta nói chung và đối với Tây Nguyên nói riêng Trong nhiều năm qua, cà phê là mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng đem về nhiều ngoại tệ cho đất nước Có

Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………26

Trang 36

nhiều năm trị giá cà phê xuất khẩu lên đến 600 triệu USD Các năm vừa qua tuy

có sự khủng hoảng giá thấp nhưng lượng ngoại tệ thu về từ cà phê thấp nhất vào

năm 2002 cũng đạt 331 triệu USD Năm 2004 khi giá cà phê tương đối ổn định

trở lại giá trị xuất khẩu của ngành cà phê đã đạt 576 triệu USD [14] Trong cuộc

khủng hoảng cà phê từ năm 2000 – 2004 theo số liệu thống kê của VICOFA, giá

xuất khẩu bình quân của cà phê trong 5 năm này chỉ được 554 USD/tấn trong khi

bình quân của 10 năm trước đó đạt 1.318 USD/tấn

Bảng 2.4 Diễn biến bình quân của đơn giá xuất khẩu và kim ngạch xuất

Trang 37

Hình 2.2 Diễn biến bình quân của đơn giá xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu trong 15 năm từ 1991 - 2005

Trang 38

Về giá trị xuất khẩu thì trong 12 năm qua (1990-2002), sản lượng cà phê

xuất khẩu đã tăng gấp 8 lần Do cà phê Việt Nam chủ yếu là cà phê Robusta,

nên khối lượng hàng hoá xuất khẩu cao song kim ngạch xuất khẩu không tăng Bên cạnh đó do tác động của cuộc khủng hoảng nên đơn giá xuất khẩu bình quân có thời kỳ xuống rất thấp dẫn đến kim ngạch xuất khẩu cũng thấp trong suốt các năm từ 2000 - 2005 [15]

Năm 2006 ngành cà phê Việt Nam có một bước tăng trưởng rất đáng kể

về kim ngạch xuất khẩu Theo số liệu của Tổng cục hải quan thì cả nước đã xuất khẩu 912.553 tấn với kim ngạch đạt 1,1 tỷ USD, giá bình quân đạt 1228,6 USD/tấn [15]

Thị trường cà phê của Việt Nam cũng ngày một mở rộng và đã hình thành một số thị trường lớn ổn định Những nước nhập khẩu cà phê với số lượng lớn có thể xếp theo thứ tự như sau: Germany, USA, Spain, Italy, Belgium, Poland, Korea, France, UK và Japan Các nước này đã nhập khẩu 73,31% tổng lượng xuất khẩu của Việt Nam Bên cạnh đó còn một số nước khác hàng năm cũng nhập khẩu một lượng cà phê tương đối lớn từ nước ta (trên 10.000 tấn) như: Netherlands, Australia, Philippin, Malaysia [15] Việt Nam là một trong những quốc gia sản xuất cà phê hàng đầu thế giới nhưng lâu nay Việt Nam vẫn chưa được xem là nước tiêu thụ cà phê Theo số liệu thống kê mới nhất thì mỗi năm Việt Nam sản xuất khoảng 750.000-800.000 tấn cà phê thì 90% trong số đó dành để xuất khẩu, chỉ còn khoảng 10% sản lượng (khoảng 30.000 tấn tương đương 0,5 triệu bao) là được tiêu thụ trong nước Trong khi lượng cà phê tiêu thụ nội địa ở Braxin ước tính lên đến 14,6 triệu bao vào năm 2006, nghĩa là lượng cà phê tiêu thụ nội địa của Braxin nhiều hơn hẳn so với sản lượng cà phê sản xuất của Việt Nam (khoảng 11 triệu bao mỗi năm) Với tỷ lệ cà phê dành cho xuất khẩu quá cao như vậy đã gây sức ép về thị trường xuất khẩu khá nặng nề cho cà phê Việt Nam, nhất là

Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………29

Trang 39

mỗi khi thị trường xuất khẩu có vấn đề thì ngành cà phê Việt Nam dễ rơi vào cuộc “khủng hoảng thừa” và sẽ gây bất lợi về giá rất lớn Do vậy, Việt Nam cần khuyến khích nhằm đẩy mạnh việc tiêu thụ cà phê trong nước, mức tiêu thụ dự kiến đến năm 2010 sẽ tăng lên gấp đôi hiện nay chiếm khoảng 20% sản lượng thì mới có khả năng giảm áp lực xuất khẩu cho mặt hàng cà phê [44]

2.5.2 Tình hình nghiên cứu cây cà phê ở Việt Nam

Cây cà phê được các nhà truyền đạo công giáo đưa vào trồng ở Việt Nam từ năm 1857 ở quanh nhà thờ Gio Linh (Quảng Trị) và Sen Bàng (Bố Trạch - Quảng Bình) [12]

Từ năm 1888 cà phê ở Việt Nam đã được trồng đại trà trên quy mô sản xuất ở các đồn điền, do người Pháp thiết lập ở vùng Trung du Bắc bộ (Hà Nam, Sơn Tây, Phú Thọ, Tuyên Quang ) rồi lan dần vào Trung Bộ mãi đến 1920-1925 người Pháp mới đầu tư phát triển cà phê ở vùng đất đỏ bazan nổi tiếng phì nhiêu trên đất các cao nguyên Nam Trung Bộ Tính đến nay cây

cà phê được trồng và phát triển ở nước ta gần tròn 150 năm (1857-2007) Những nghiên cứu về cây cà phê đã được tiến hành trên rất nhiều lĩnh vực: Chọn tạo giống mới, nhân giống, phân bón nhằm nâng cao năng suất và chất lượng của cà phê

2.5.2.1 Công tác cải tiến giống cà phê

Cà phê Arabica đã được trồng lâu đời ở Việt Nam là các giống Typica, Bourbon sau đó với việc hợp tác khoa học kỹ thuật với Cuba chúng ta đã nhập khẩu một số giống cà phê như: Bourbon, Caturra amrello Các giống Typica, Bourbon, Caturra, Catuai trước đây được trồng ở Lâm Đồng, Nghệ An, Sơn La nhưng do bị

bệnh gỉ sắt và sâu đục thân phá hoại huỷ diệt vườn cây, gây rụng lá, cây sinh trưởng kém, năng suất giảm từ 16,3% - 34,8% [16], nên diện tích giảm dần hiện chỉ còn rất ít ở Lâm Đồng và một vài nơi khác có độ cao trên 700 m

Bệnh gỉ sắt được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1888 tại Việt Nam Tại

Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………30

Trang 40

ĐắkLắk từ chỗ có hàng ngàn ha cà phê chè vào những năm 1940 nhưng do bệnh gỉ sắt gây hại nên đến năm 1945 chỉ còn khoảng 60 ha, và đến năm 1957 thì toàn bộ diện tích cà phê chè ở đây đã bị thay thế bằng cà phê vối [24]

Điều đó đặt ra cho công tác chọn tạo giống cà phê chè ở nước ta những nhiệm vụ bức bách để phù hợp với đòi hỏi của thực tế đặt ra Kết hợp giữa tăng diện tích cà phê chè với công tác cải tiến giống là những vấn đề then chốt

để nâng cao sản lượng và chất lượng cà phê ở nước ta

Công tác nghiên cứu chọn tạo giống cà phê chè kháng bệnh gỉ sắt ở Việt Nam thực sự chỉ mới bắt đầu vào năm 1978 sau khi thành lập trung tâm nghiên cứu cà phê ca cao, sau này đổi tên thành Viện nghiên cứu cà phê và hiện nay là Viện khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên

Trong giai đoạn từ 1978 - 1985 Viện chủ yếu tập trung vào việc đánh giá tính thích ứng và khả năng kháng bệnh gỉ sắt của một số giống cà phê chè, kết quả cho thấy các giống cà phê được nhập từ Cuba cũng như các giống cà phê thương phẩm đang được trồng rất mẫn cảm với bệnh gỉ sắt và sâu đục thân

(Xylotrechus quadripes), còn các giống cà phê có nguồn gốc từ Bồ Đào Nha

có biểu hiện tính kháng hoàn toàn và không hoàn toàn với các nòi sinh lí của bệnh gỉ sắt hiện có mặt tại Việt Nam Tuy vậy các giống này đều cho năng suất thấp, tỷ lệ quả một nhân và quả lép cao nên ít có triển vọng

Từ năm 1984 Viện tiếp nhận được một số hạt giống Catimor thế hệ F2, F3,

F4 từ Cuba, Bồ Đào Nha và 36 thực liệu giống cà phê chè có nguồn gốc từ Ethiopia Qua quá trình đánh giá chọn lọc và đánh giá khả năng kháng bệnh gỉ sắt, tính thích ứng cũng như các đặc điểm nông học tại một số vùng trồng cà

phê chủ yếu ở nước ta, tới năm 1996 giống Catimor F6 chính thức được đưa ra trồng phổ biến và đây là giống cà phê chè kháng bệnh gỉ sắt đầu tiên ở nước ta

Cây cà phê Catimor thấp lùn, tán bé, gọn, lóng đốt ngắn thích hợp với

mật độ trồng dày, chịu hạn tốt, thích ứng điều kiện khí hậu ở vùng có độ cao

Trường Đại học Nụng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nụng nghiệp ………31

Ngày đăng: 18/08/2013, 21:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Sản l−ợng cà phê của một số n−ớc trên thế giới - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng sinh trưởng sau ghép của giống cà phê chè TN2 tại ba vì   hà tây
Bảng 2.1. Sản l−ợng cà phê của một số n−ớc trên thế giới (Trang 20)
Bảng 2.2.  Một số n−ớc nhập khẩu cà phê lớn nhất trong những tháng  cuèi n¨m 2006 - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng sinh trưởng sau ghép của giống cà phê chè TN2 tại ba vì   hà tây
Bảng 2.2. Một số n−ớc nhập khẩu cà phê lớn nhất trong những tháng cuèi n¨m 2006 (Trang 22)
Bảng 2.3.  Diện tích, năng suất, sản l−ợng cà phê Việt Nam 1980 – 2006 - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng sinh trưởng sau ghép của giống cà phê chè TN2 tại ba vì   hà tây
Bảng 2.3. Diện tích, năng suất, sản l−ợng cà phê Việt Nam 1980 – 2006 (Trang 32)
Hình 2.1. Diễn biến bình quân của đơn giá xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu trong  15 năm từ 1991 - 2005 - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng sinh trưởng sau ghép của giống cà phê chè TN2 tại ba vì   hà tây
Hình 2.1. Diễn biến bình quân của đơn giá xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu trong 15 năm từ 1991 - 2005 (Trang 33)
Bảng 2.4. Diễn biến bình quân của đơn giá xuất khẩu và kim ngạch xuất  khẩu trong 15 năm từ 1991 - 2005 - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng sinh trưởng sau ghép của giống cà phê chè TN2 tại ba vì   hà tây
Bảng 2.4. Diễn biến bình quân của đơn giá xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu trong 15 năm từ 1991 - 2005 (Trang 36)
Hình 2.2. Diễn biến bình quân của đơn giá xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu trong 15 năm từ 1991 - 2005 - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng sinh trưởng sau ghép của giống cà phê chè TN2 tại ba vì   hà tây
Hình 2.2. Diễn biến bình quân của đơn giá xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu trong 15 năm từ 1991 - 2005 (Trang 37)
Hình 2.3. Kỹ thuật ghép đúng và ghép sai - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng sinh trưởng sau ghép của giống cà phê chè TN2 tại ba vì   hà tây
Hình 2.3. Kỹ thuật ghép đúng và ghép sai (Trang 48)
Bảng 4.1. ảnh hưởng của tuổi gốc ghép non đến tỷ lệ sống, chiều cao và - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng sinh trưởng sau ghép của giống cà phê chè TN2 tại ba vì   hà tây
Bảng 4.1. ảnh hưởng của tuổi gốc ghép non đến tỷ lệ sống, chiều cao và (Trang 56)
Hình 4.1. Động thái tăng tr−ởng chiều cao chồi ghép của giống TN2 - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng sinh trưởng sau ghép của giống cà phê chè TN2 tại ba vì   hà tây
Hình 4.1. Động thái tăng tr−ởng chiều cao chồi ghép của giống TN2 (Trang 57)
Hình 4.2. Cấu tạo giải phẫu thân của  giống cà phê chè TN2 tại đốt thứ 1 - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng sinh trưởng sau ghép của giống cà phê chè TN2 tại ba vì   hà tây
Hình 4.2. Cấu tạo giải phẫu thân của giống cà phê chè TN2 tại đốt thứ 1 (Trang 62)
Hình 4.4. Cấu tạo giải phẫu thân của  giống cà phê chè TN2 tại đốt thứ 3 - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng sinh trưởng sau ghép của giống cà phê chè TN2 tại ba vì   hà tây
Hình 4.4. Cấu tạo giải phẫu thân của giống cà phê chè TN2 tại đốt thứ 3 (Trang 62)
Hình 4.3. Cấu tạo giải phẫu thân  của giống cà phê chè TN2 tại đốt - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng sinh trưởng sau ghép của giống cà phê chè TN2 tại ba vì   hà tây
Hình 4.3. Cấu tạo giải phẫu thân của giống cà phê chè TN2 tại đốt (Trang 62)
Bảng 4.3. ảnh hưởng của tuổi chồi ghép đến tỷ lệ sống, chiều cao và - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng sinh trưởng sau ghép của giống cà phê chè TN2 tại ba vì   hà tây
Bảng 4.3. ảnh hưởng của tuổi chồi ghép đến tỷ lệ sống, chiều cao và (Trang 63)
Bảng 4.4. ảnh hưởng của tuổi chồi ghép đến sự tăng trưởng lá, đốt và cặp  cành của chồi ghép giống TN2 - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng sinh trưởng sau ghép của giống cà phê chè TN2 tại ba vì   hà tây
Bảng 4.4. ảnh hưởng của tuổi chồi ghép đến sự tăng trưởng lá, đốt và cặp cành của chồi ghép giống TN2 (Trang 65)
Hình 4.6. Động thái tăng trưởng số cặp lá và số đốt trên chồi ghép của giống cà  phê chè TN2 - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng sinh trưởng sau ghép của giống cà phê chè TN2 tại ba vì   hà tây
Hình 4.6. Động thái tăng trưởng số cặp lá và số đốt trên chồi ghép của giống cà phê chè TN2 (Trang 66)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w