1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và hiệu quả sản xuất của cây hoa cúc, giống vàng đài loan và cây hoa đồng tiền (gerbera jamesonii

120 1,4K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và hiệu quả sản xuất của cây hoa cúc, giống vàng Đài Loan và cây hoa đồng tiền (Gerbera jamesonii)
Tác giả Nguyễn Hải Tiến
Người hướng dẫn PGS. TS. Vũ Quang Sáng
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp I
Chuyên ngành Trồng trọt
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 7,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, thạc sĩ, tiến sĩ, khóa luận, cao học, đề tài

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp I

-

nguyễn hải tiến

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá

đến sinh trưởng, phát triển và hiệu quả sản xuất của cây hoa cúc

((((Chrysanthemum sp.), giống vàng Đài Loan ), giống vàng Đài Loan ), giống vàng Đài Loan

Trang 2

Lời cam đoan

- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn

là trung thực và ch−a từng đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ3 đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đ3 đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, tháng năm 2006 Tác giả luận văn

Nguyễn Hải Tiến

Trang 3

Lời cảm ơn

Tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

- PGS TS Vũ Quang Sáng đ3 hướng dẫn tận tình, chỉ bảo cặn kẽ tác giả trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này

- Tập thể các thầy giáo, cô giáo Khoa Nông học, Khoa Sau đại học, đặc biệt các thầy cô trong Bộ môn Sinh lý Thực vật, Trường Đại học Nông nghiệp

I, Hà Nội, đ3 trực tiếp đóng góp nhiều ý kiến quí báu về chuyên môn cho tác giả hoàn thành luận văn

- Các cán bộ, công nhân viên Phòng nghiên cứu Hoa cây cảnh, Viện nghiên cứu Rau Quả, Hà Nội, đ3 tạo điều kiện về cơ sở vật chất và trí tuệ cho tác giả triển khai luận văn

- Cảm ơn các nhà khoa học trong ngành, các đồng nghiệp, bạn bè và người thân đ3 động viên giúp đỡ tôi trong quá trình công tác và học tập

Hà Nội, tháng năm 2006 Tác giả luận văn

Nguyễn Hải Tiến

Trang 4

MụC LụC

1.3 ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

2.1 Giới thiệu chung về cây hoa cúc và hoa đồng tiền 42.2 Tình hình nghiên cứu sử dụng phân bón trên cây hoa 15

3 Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 25

4.1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá

đến sinh trưởng phát triển và hiệu quả sản xuất của cây cúc vàng

4.1.1 ảnh hưởng của một số loại phân bón lá tới động thái tăng trưởng

chiều cao và số lá trên cây của cúc vàng Đài Loan 374.1.2 ảnh hưởng của một số loại phân bón lá tới thời gian qua các giai

đoạn sinh trưởng của cây cúc vàng Đài Loan 40

Trang 5

4.1.3 ảnh hưởng của một số loại phân bón lá tới tốc độ nở hoa của cây

4.1.4 ảnh hưởng của một số loại phân bón lá tới chất lượng hoa của cây

4.1.5 ảnh hưởng của một số loại phân bón lá tới tỷ lệ sâu bệnh hại hoa

4.1.6 ảnh hưởng của một số loại phân bón lá tới tỷ lệ hoa thương phẩm

4.1.7 Hiệu quả kinh tế của việc bổ sung phân bón lá cho cây cúc vàng

4.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá tới

sinh trưởng, phát triển và hiệu quả sản xuất của cây hoa đồng tiền

4.2.3 ảnh hưởng của phân bón lá tới động thái tăng trưởng diện tích lá

và đường kính tán cây tại một số thời điểm sau trồng 594.2.4 ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái ra hoa của cây hoa đồng tiền 604.2.5 ảnh hưởng của phân bón lá tới tỷ lệ sâu bệnh hại trên cây hoa đồng

4.2.6 ảnh hưởng của phân bón lá tới năng suất, chất lượng hoa đồng tiền 644.2.7 ảnh hưởng của phân bón lá tới tỷ lệ thương phẩm của hoa đồng tiền 674.2.8 Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng phân bón lá cho cây hoa đồng tiền 69

Trang 6

Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

Thø tù Thµnh phè Hå ChÝ Minh

§¬n vÞ tiÒn tÖ Mü Ph©n bãn l¸

Spray - N - Grow

Sè l−îng Gibberellin A3

Tæ chøc N«ng L−¬ng thÕ giíi (Food and Agricultural Organization)

Trang 7

danh mục các bảng biểu

Bảng 4.1 ảnh hưởng của phân bón lá tới động thái tăng trưởng chiều cao

Bảng 4.2 ảnh hưởng của phân bón lá tới thời gian qua các giai đoạn sinh

trưởng của cây và kích thước cây khi có nụ 41Bảng 4.3 ảnh hưởng của phân bón lá tới tốc độ nở hoa của cây hoa cúc 43Bảng 4.4 ảnh hưởng của phân bón lá tới năng suất và chất lượng hoa cúc 45Bảng 4.5 ảnh hưởng của phân bón lá tới tỷ lệ sâu bệnh hại hoa cúc 48Bảng 4.6 ảnh hưởng của phân bón lá tới tỷ lệ hoa thương phẩm

Bảng 4.10 Động thái tăng trưởng diện tích lá và đường kính tán cây hoa

Bảng 4.11 ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái ra hoa của cây hoa

Trang 8

Danh mục các hình

Hình 4.1 ảnh hưởng của phân bón lá tới động thái tăng trưởng chiều cao

Hình 4.2 ảnh hưởng của phân bón lá tới động thái ra hoa của cây hoa cúc 44Hình 4.3 ảnh hưởng của phân bón lá tới độ bền hoa cắt 46Hình 4.4 ảnh hưởng của phân bón lá tới tỷ lệ hoa thương phẩm của cây cúc 50Hình 4.5 hiệu quả kinh tế của việc bổ sung phân bón lá cho cây hoa cúc 53Hình 4.6 ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái ra lá của cây hoa đồng tiền 56Hình 4.7 ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái đẻ nhánh của cây hoa

Trang 9

1 Đặt vấn đề

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Hoa là một loại sản phẩm vừa có giá trị hàng hóa vừa có giá trị tinh thần Chơi hoa và tặng hoa là nét đẹp truyền thống văn hóa, thú chơi tao nhs của dân tộc ta Xs hội càng phát triển nhu cầu hoa tươi cho cuộc sống hàng ngày càng đòi hỏi cao cả về chất và lượng ở nước ta nghề trồng hoa có từ lâu

đời Trước kia trồng hoa chủ yếu mang tính tự túc tự cấp Từ khi ĐCS Việt Nam khởi xướng sự nghiệp đổi mới, nền kinh tế đất nước chuyển sang cơ chế thị trường, nghề trồng hoa trở thành ngành sản xuất hàng hóa có giá trị cao, mang lại nguồn thu lớn cho nhiều nông hộ Nhiều vùng hoa chuyên canh, tập trung đs được hình thành ở các địa phương tỉnh thành trong cả nước: Đà Lạt (Lâm Đồng), Mê Linh (Vĩnh Phúc), Tây Tựu (Hà Nội), Đằng Hải (Hải Phòng)…tập trung sản xuất các loại hoa truyền thống có sức mua cao: Hồng, cúc, lay ơn, đồng tiền Trong đó hoa cúc và hoa đồng tiền luôn giữ vai trò quan trọng, diện tích hoa cúc thường xuyên chiếm từ 15 - 20%, hoa đồng tiền khoảng 8%, trong cơ cấu chủng loại hoa của Việt Nam Hoa cúc và hoa đồng tiền có ưu điểm dễ trồng, dễ nhân giống, hoa bền, màu sắc phong phú có thể trồng nhiều vụ trong năm, rất thuận tiện cho đầu tư khoa học công nghệ, sản xuất với quy mô lớn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu

Nước ta có lợi thế: đất đai có độ phì đa dạng, tài nguyên khí hậu phong phú, đặc biệt có một mùa đông lạnh, đa số cư dân sống bằng nghề nông nghiệp, nguồn lao động nhiều và rẻ, rất thuận lợi cho nghề trồng hoa phát triển Trên thực tế những năm qua hưởng ứng chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng của Nhà nước Ngoài các vùng hoa truyền thống, nhiều vùng hoa chuyên canh mới đs và đang được hình thành khắp đất nước Tuy nhiên do đầu tư khoa học kĩ thuật chưa đúng mức nên năng suất, chất lượng hoa còn thấp,

Trang 10

chưa thỏa msn nhu cầu tiêu dùng hoa cao cấp trong nước và xuất khẩu

Trong sản xuất nông nghiệp nói chung và nghề trồng hoa nói riêng, một trong những biện pháp hàng đầu để đẩy mạnh sản xuất là sử dụng phân bón Theo thông báo của FAO, phân bón làm tăng năng suất cây trồng nông nghiệp 35- 45%, phần còn lại do giống và các yếu tố khác, trong đó phân bón qua lá chiếm vị trí quan trọng trong nền nông nghiệp sạch và thâm canh tăng năng suất, chất lượng cây trồng nhất là trong lĩnh vực sản xuất Rau - Hoa - Quả Tuy nhiên, hiện nay đa số các vùng trồng hoa nước ta đều lạm dụng việc sử dụng phân hóa học, nhất là phân đa lượng N, P, K riêng rẽ, làm cho cây phát triển không cân đối, tỷ lệ hoa bại dục cao, độ bền hoa cắt thấp, hiệu quả sản xuất kinh doanh không cao, ngoài ra còn làm ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí, đặc biệt đất canh tác bị thoái hóa, tái chua, chai cứng Vì vậy bón phân qua lá là một giải pháp chiến lược an toàn dinh dưỡng cây trồng, có ý nghĩa lớn lao trong phát triển nông nghiệp bền vững Hiện nay thị trường phân bón lá nước ta rất phong phú, một số loại do các công ty, cơ sở trong nước sản xuất, còn lại phần lớn được nhập khẩu từ nước ngoài Việc khuyến cáo sử dụng loại phân bón lá nào? trên đối tượng cây trồng nào cho hiệu quả cao nhất, đang là vấn đề cấp thiết đặt ra cho các nhà khoa học và các cơ quan nghiên cứu Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu

đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và hiệu quả sản xuất của cây hoa cúc (Chrysanthemum sp.), giống vàng Đài Loan và cây hoa đồng tiền (Gerbera jamesonii Bol),

Trang 11

giống F125 đang trồng phổ biến ở Việt Nam, từ đó xác định được loại phân bón lá phù hợp cho cây sinh trưởng, phát triển tốt và mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần hoàn chỉnh qui trình thâm canh tăng năng suất, chất lượng hoa cúc và hoa đồng tiền

1.2.2 Yêu cầu

- Xác định được ảnh hưởng của mỗi loại phân bón lá đến từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các giống hoa nghiên cứu

- Tính hiệu quả kinh tế của việc sử dụng phân bón lá

- Đề xuất được loại phân bón lá tốt nhất từ kết quả nghiên cứu, khuyến cáo cho sản xuất đại trà, đảm bảo khả năng ứng dụng rộng rsi, hiệu quả thiết thực

1.3 ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1.3.1 ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo

về ảnh hưởng của phân bón lá tới cây trồng nói chung, hoa cây cảnh nói riêng còn là tài liệu tham khảo nghiên cứu, giảng dạy trong các trường Cao đẳng và

Đại học Nông nghiệp

1.3.2 ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nhiên cứu của đề tài góp phần hoàn chỉnh qui trình thâm canh cây hoa cúc và hoa đồng tiền đạt hiệu quả kinh tế cao hơn, tại Hưng Yên nói riêng, Việt Nam nói chung

Trang 12

2 Tổng quan tài liệu

2.1 Giới thiệu chung về cây hoa cúc và hoa đồng tiền 2.1.1 Giới thiệu chung về cây hoa cúc

Cây hoa cúc (Chrysanthemum sp), trong hệ thống phân loại thực vật,

Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến (1978) [1], đs xếp cây hoa cúc vào lớp hai lá mầm (Dicotyledonec), phân lớp cúc (Asterydae), bộ cúc (Asterales), họ cúc (Asteraceae), phân họ giống hoa cúc (Asteroidae), chi Chrysanthemum, là một trong những loại cây trồng làm cảnh lâu đời và quan trọng nhất trên thế giới, có nguồn gốc từ Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước châu Âu Theo Zenhua, Shouhe [46], hoa cúc được trồng ở Trung Quốc cách đây 3000 năm,

từ năm 1930 việc trồng hoa cúc ở đây được bảo hộ và đề cao, đến những năm

1980 diện tích trồng hoa cúc phát triển mạnh Năm 1982, Trung Quốc tổ chức triển lsm hoa cúc đầu tiên ở Thượng Hải, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc trồng hoa cúc tại quốc gia này ở Nhật Bản, khi hoa cúc di thực từ Trung Quốc sang, đs được đánh giá rất cao và được mệnh danh là " Hoàng thất quốc hoa" (Đặng Văn Đông, 2004 [10])

Tại châu Âu, hoa cúc bắt đầu trồng ở nước Anh từ năm 1843, nước Pháp năm 1789 ở Mỹ, hoa cúc được trồng nhiều từ đầu thế kỷ 19 nhưng phải đến

1860 hoa cúc mới trở thành hàng hóa và được trồng trong nhà lưới (Đặng Văn

Đông, 2004 [10])

ở Việt Nam, hoa cúc được trồng từ lâu đời, người Việt Nam coi hoa cúc

là biểu tượng của sự thanh cao, là một trong 4 loài thảo mộc xếp vào hàng tứ quý như "tùng, cúc, trúc, mai" hoặc "mai, lan, cúc, trúc" Hiện nay, việc trồng

và kinh doanh hoa cúc phát triển rất mạnh mẽ, đóng góp một nguồn thu không nhỏ cho các hộ nông dân trồng hoa, làm thay đổi bộ mặt nông thôn ở nước ta

Trang 13

2.1.2 Giới thiệu chung về cây hoa đồng tiền

Cây hoa đồng tiền có tên khoa học là Gerbera jamesonii Bol ex Adlam, thuộc họ Compositae, có nguồn gốc ở Nam Phi, được Robert Jamme son người Scotland tìm thấy năm 1880, và du nhập vào nước Anh năm 1886, lấy tên khoa học là Gerbera Jamesonii Trong hệ thống phân loại thực vật, cây hoa đồng tiền được phân loại: thuộc lớp hai lá mầm (Dicotyledonec), phân lớp cúc (Asteridae), bộ cúc (Asterales), họ cúc (Asteraceae), chi Gerbera (Hoàng Thị Sản, 1999 [23])

Đầu những năm 20 của thế kỷ XX hoa cúc Gerbera được sản xuất nhiều ở Bắc Mỹ, trong suốt những năm 1970 ở Mỹ, Califonia và Florida là những bang dẫn đầu trong việc sản xuất loại hoa này (Đặng Thị Thanh Hương,

2002 [16])

Hiện nay hoa đồng tiền đs được trồng ở hầu khắp các nước trên thế giới như: Hà Lan, Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Nam Phi

ở Việt Nam, hoa đồng tiền do người Pháp đưa vào từ đầu thể kỷ XX và

được phát triển cho đến ngày nay Tuy nhiên, chủ yếu vẫn là các giống hoa

đồng tiền đơn, hoa nhỏ Hoa đồng tiền kép Nam Phi mới chỉ du nhập vào Việt Nam vài năm gần đây

2.1.3 Giá trị kinh tế và giá trị sử dụng của cây hoa

Sản xuất hoa mang lại lợi nhuận to lớn cho nền kinh tế các nước trồng hoa Năm 1997, giá trị sản lượng hoa trên thế giới đạt 27 tỷ USD (Roger và Alan, 1998 [42]), đến năm 2001 tăng lên 33 tỷ USD Ba nước sản xuất hoa lớn (chiếm khoảng 50% giá trị sản lượng hoa của thế giới) là Nhật Bản: khoảng 4,65 tỷ USD, Hà Lan: khoảng 5,6 tỷ USD, Mỹ: ước 3,8 tỷ USD (Đặng Văn

Đông, 2004 [10]) Những năm gần đây nhu cầu hoa cắt trên thế giới tăng 9 - 10% năm Giá trị nhập khẩu hoa trên thế giới hàng năm liên tục tăng, năm

1982 khoảng 2,5 tỷ USD tăng lên 3,6 tỷ USD năm 1996 Trong đó, Hà Lan,

Trang 14

Kennya, Ecuado, Colombia, Israel là các quốc gia xuất khẩu lớn nhất, riêng

Hà Lan giá trị xuất khẩu hoa hàng năm lên đến 1,9 tỷ USD (Hoàng Ngọc Thuận, 2005 [31])

2.1.3.1 Giá trị kinh tế và giá trị sử dụng của cây hoa cúc

Woolman (1989) [43], nghiên cứu về thị trường hoa trên thế giới cho biết, cúc là một trong những loại hoa thời vụ phổ biến nhất và được sử dụng rất đa dạng (vừa là hoa trồng chậu, vừa trồng trong nhà kính vừa trồng ngoài vườn, dùng để trang trí, làm thực phẩm và là nguồn sản xuất dược liệu hoặc thuốc trừ sâu)

ở nhật cúc được coi là Quốc hoa dùng trong các buổi lễ quan trọng, người Nhật luôn coi cúc là người bạn tâm tình (Quách Trí Cương, Trương Vĩ,

để tinh chiết dầu thơm, pha chè, ngâm rượu, một số loài còn dùng để làm thuốc chữa bệnh như Kim cúc, Bạch cúc và làm thuốc trừ sâu như: Cúc trừ trùng (Đào Mạnh Khuyến, 1993 [17])

Không những phục vụ cho các nhu cầu giải trí của con người, hoa cúc còn là nguồn lợi kinh tế quan trọng Nguyễn Thị Kim Lý (2001) [20], cho

Trang 15

biết, việc sản xuất, kinh doanh hoa cúc cho phép người trồng hoa thu được nhiều lợi nhuận trên mỗi đồng vốn đầu tư Một sào đất trồng hoa cúc, mật độ

40 - 45 cây/m2, có thể cho thu nhập 3 - 4 triệu đồng với mức giá trung bình trên thị trường là 200 - 300 đồng/bông, kể cả chi phí cho làm đất, chăm sóc, vật tư ban đầu chỉ mất 1,5 - 2 triệu đồng tiền vốn Theo điều tra của Đặng Văn

Đông và Đinh Thế Lộc (2003) [11], một sào hoa cúc cho thu nhập 2,4 triệu

đồng, hoa hồng 1,8 triệu đồng, hoa đào 1,95 triệu đồng còn 2 vụ lúa chỉ thu

được 300 nghìn đồng

Với lợi ích kinh tế như vậy nên hiện nay, cùng với hoa hồng, hoa cúc

là loại hoa cắt chủ lực được trồng rộng rsi khắp nước ta

2.1.3.2 Giá trị sử dụng và giá trị kinh tế cây hoa đồng tiền

Bên cạnh cây hoa cúc, cây hoa đồng tiền cũng là một trong 10 loại hoa quan trọng nhất trên thế giới, sau hồng, cúc, lan, cẩm chướng, lay ơn (Đặng Văn Đông, 2004 [12])

Với đặc điểm màu sắc tươi sáng, đa dạng với đủ các loại màu từ đỏ, cam, vàng, trắng, phấn hồng trên một bông hoa có thể có một màu đơn hoặc nhiều màu xen kẽ, hoa to, cứng nên đồng tiền là loại hoa lý tưởng để làm hoa

bó, hoa lẵng và cắm nghệ thuật Ngoài ra, đồng tiền còn có thể trồng trong chậu để chơi hoa trong suốt một thời gian dài, đặt trong phòng làm việc, phòng khách rất phù hợp

Hiện nay ở Việt Nam, trong các loại hoa đs được chú ý phát triển, thì hoa đồng tiền kép, mới nhập nội còn gọi là đồng tiền Nam Phi, nổi lên như một cây cho hiệu quả kinh tế cao nhất Từ một sào hoa đồng tiền giống mới chăm sóc đúng kỹ thuật có thể cho thu nhập gần 50 triệu đồng/sào (Nguyễn Quang Thạch, 2004 [28])

Đồng tiền còn là loại hoa có thời gian thu hoạch dài, ở điều kiện thích hợp có thể ra hoa quanh năm tỷ lệ cành cắt và tỷ lệ hoa thương phẩm đều cao,

kỹ thuật trồng trọt chăm sóc đơn giản ít tốn công, đầu tư một lần cho thu hoạch 4 - 5 năm (Đặng Văn Đông, 2004) [12]

Trang 16

Trồng hoa đồng tiền cho giá trị thu nhập cao nhất trong các loại hoa thông dụng hiện nay, 1 sào đồng tiền, chăm sóc theo đúng yêu cầu kỹ thuật đề

ra, một năm cho thu 60.000 bông (mật độ 2.000 cây/sào), giá bán tại vườn 700

- 1.500 đồng/bông, trung bình 900 đồng/bông, tổng thu 54 triệu

đồng/sào/năm Như vậy, nếu thực hiện canh tác đúng kỹ thuật với mức giá bán khiêm tốn thì ngay năm đầu (sau trồng 4 tháng cho thu hoạch) đs thu hồi toàn

bộ số vốn bỏ ra là 29.700.000 đồng/sào, lsi xấp xỉ 24 triệu đồng/sào (Đặng Văn Đông, 2004) [12])

Chính vì vậy, diện tích trồng hoa đồng tiền ngày càng mở rộng, lượng tiêu thụ và giá cả ngày một tăng, rất dễ tiêu thụ ở thị trường trong nước và thế giới

2.1.4 Tình hình sản xuất, phát triển hoa trên thế giới và Việt Nam

Hiện nay ngành sản xuất hoa cắt trên thế giới đang phát triển mạnh mang tính thương mại cao ở châu Âu, Hà Lan được coi là xứ sở của nghề trồng hoa, nước này, sản xuất và kinh doanh hoa đs trở thành một ngành công nghiệp có sức cạnh tranh cao, do luôn tạo ra các giống mới, các kỹ thuật trồng, thu hái, bảo quản, vận chuyển đều sử dụng công nghệ cao (Hoàng Ngọc Thuận, 2005 [31])

Các quốc gia châu á có nghề trồng hoa từ lâu đời, nhưng trồng hoa thương mại mới chỉ có từ những năm 80 của thế kỷ 20 Thái Lan, Malaysia, Philippin là ba nước sản xuất chính trong vùng, Australia và New Zealand chiếm lĩnh thị trường hoa cao cấp ở châu á Theo Nguyễn Xuân Linh (1998) [18], châu á - Thái Bình Dương có diện tích trồng hoa khoảng 134.000 ha, chiếm 60% diện tích trồng hoa của thế giới Trong đó, Thái Lan có hơn 7.000

ha hoa cắt và là nước đứng đầu thế giới về sản xuất và xuất khẩu hoa phong lan cắt và phong lan trồng chậu, cho nguồn thu ngoại tệ là 800 triệu USD/năm Sau Thái Lan, Trung Quốc là nước đang có nhiều tiềm năng hứa hẹn trong lĩnh vực

Trang 17

này Hiện nay, Trung Quốc có hơn 60.000 ha trồng hoa, trong khoảng 3 năm, sản lượng hoa cắt tăng từ 100 lên tới 4.000 triệu cành, nhưng mới chỉ cung cấp cho thị trường nội địa là chủ yếu (Hoàng Ngọc Thuận, 2005 [31])

ở Việt Nam, nghề trồng hoa mới phát triển mạnh trong một số năm gần

đây (khoảng chưa đầy 20 năm kể từ sau ngày đất nước đổi mới) Những năm

1986 - 1990, Việt Nam đs xuất khẩu 40.000 cành hoa lay ơn/năm cho các nước Đông Âu và Liên Xô cũ (Hoàng Ngọc Thuận, 2005 [31]) Năm 1998 diện tích trồng hoa cả nước ước 1.500 ha, đến nay Việt Nam có khoảng 4.000

ha hoa (không tính diện tích cây cảnh cây bóng mát), tập trung sản xuất ở một

số vùng chính: Hà Nội, các tỉnh đồng bằng sông Hồng, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt (Lâm Đồng) Trong đó phát triển diện tích mạnh nhất là Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Phòng (3.000 ha), các chủng loại gồm: hồng, cúc, lay ơn, chất lượng trung bình, tiêu thụ nội địa là chính, một phần nhỏ xuất khẩu sang Trung Quốc qua con đường tiểu ngạch Đà Lạt (Lâm Đồng) với một vài liên doanh của Hà Lan và Đài Loan có sản lượng và chất lượng hoa khá tốt, sản xuất gần như quanh năm, tổng giá trị xuất khẩu khoảng 2 triệu USD/năm, riêng hoa của liên doanh Hasfarm Đà Lạt chiếm khoảng 10% thị phần Tokio (Nhật Bản) Hiện tại, sản lượng hoa cả nước khoảng 5 tỷ cành các loại, trong

đó, Đà Lạt (Lâm Đồng) 3 tỷ cành và các tỉnh phía Bắc gần 2 tỷ cành (Hoàng Ngọc Thuận, 2005 [31])

Theo đề án của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nước ta phấn

đấu đến 2010 có 8000 ha trồng hoa trong đó bao gồm cả hoa cắt và hoa chậu, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 60 triệu USD Để thực hiện mục tiêu đó, chúng ta phải tập trung nghiên cứu xây dựng một vùng sản xuất tập trung với diện tích từ 600 - 700 ha đầu tư công nghệ cao ở mức vừa (khoảng 300.000 USD/ha cả giống, phân bón và các trang thiết bị khác) Hiện nay các liên doanh nước ngoài đang có xu hướng mở rộng chủng loại hoa và vùng sản xuất, đây là cơ hội tốt để nông dân Việt Nam tiếp cận với các tiến bộ kỹ thuật

Trang 18

trong lĩnh vực này, nhưng cũng là nhân tố cạnh tranh khá quyết liệt đối với thị trường hoa trong và ngoài nước (Hoàng Ngọc Thuận, 2005 [31]) Vì vậy các nhà khoa học Việt Nam cần tích cực nghiên cứu áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến trong trồng trọt, chọn tạo và nhân giống hoa mới, đặc biệt là các loại hoa chủ đạo, có giá trị kinh tế cao như : hồng, cúc, đồng tiền

2.1.4.1 Tình hình sản xuất, phát triển hoa cúc trên thế giới và Việt Nam

* Tình hình sản xuất, phát triển hoa cúc trên thế giới

Theo Yahel và Tsukamoto (1985) [45], thế giới có 4 nước sản xuất cúc chính là, Hà Lan (800 triệu cành/năm), Colombia (600 triệu cành/năm), ý (500 triệu cành/năm) và Mỹ (300 triệu cành/năm) Hà Lan là quốc gia xuất khẩu cúc dẫn đầu thế giới, phục vụ cho thị trường tiêu thụ rộng lớn gồm 80 nước trên thế giới, diện tích trồng cúc chiếm 30% tổng diện tích trồng hoa, năng suất từ năm 1990 đến năm 1995 tăng trung bình từ 10 - 15%/ha Tuy nhiên, vào những tháng mùa đông, Hà Lan cũng phải nhập 13,2 - 19,4 triệu cành cúc từ Israel, Zimbabwe, Nam Mỹ Như vậy Hà Lan vừa là thị trường tiêu thụ vừa là nơi cung cấp hoa của thế giới

Sau Hà Lan, Colombia là nước đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu hoa cúc với tổng thu nhập 150 triệu USD vào năm 1990 tăng lên 200 triệu USD năm 1992 (Murray và Robyn, 1997 [41])

ở khu vực Tây Âu, Đức cũng là nước sản xuất hoa cúc lớn và hiệu quả cao Theo Kofraneka (1980) [39], 95% lượng cúc sản xuất là cúc chùm, nhưng hàng năm Đức vẫn phải nhập 317,0 - 376,3 triệu cành từ Hà Lan và Israel ở Pháp có khoảng 120 triệu cành cúc được sản xuất mỗi năm nhưng vẫn phải nhập của Hà Lan từ 13,8 triệu cành (năm 1991), lên 81 triệu cành (năm 1995)

ở Anh có khoảng 186 ha cúc được trồng vào năm 1996, hàng năm vẫn phải nhập từ 160 - 182,2 triệu cành cúc từ đảo Canary, Hà Lan, Irasel, Tây Ban Nha, Bỉ và ý

Trang 19

ở Mỹ, cúc được sử dụng ở 2 dạng: Cúc chùm và cúc đơn, có khoảng 93,7 triệu cành được sản xuất vào năm 1995 nhưng vẫn phải nhập trên 585 triệu cành mỗi năm, chủ yếu là từ Colombia và Ecuador (Blaabjerg, 1997 [38])

Trong các quốc gia châu á, Nhật Bản là nước sản xuất và sử dụng hoa cúc nhiều nhất Mỗi năm nước này sản xuất khoảng 200 triệu cành cúc phục

vụ cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu, doanh thu đạt 26 tỷ Yên, chiếm 27% giá trị sản lượng hoa ở Nhật Bản Nhưng hàng năm Nhật Bản vẫn phải nhập một lượng lớn hoa này từ Hà Lan (Nguyễn Thị Kim Lý, 2001 [20])

ở Trung Quốc, theo Yangxiaohan (1997) [44], cúc là một trong 10 loại hoa cắt quan trọng (chỉ sau hồng và cẩm chướng), chiếm khoảng 20% sản lượng hoa cắt trên thị trường buôn bán ở Côn Minh và Bắc Kinh Vùng sản xuất chính là Quảng Đông, Thượng Hải và Bắc Kinh Các giống sản xuất gồm các giống ra hoa vào mùa hè, mùa thu, mùa đông sớm và xuân muộn, chủ yếu sản xuất cúc đơn, màu vàng được ưa chuộng nhất kế đến là trắng và đỏ

ở Malaysia, theo Limhengjong (1997) [40], cúc chiếm 23% tổng số hoa cắt, các giống mới chủ yếu nhập từ Hà Lan Sản xuất hoa cúc có nhiều tiến bộ

kỹ thuật mới trong cải tiến chế độ dinh dưỡng, sử dụng quang chu kỳ, phòng trừ sâu bệnh và công nghệ sau thu hoạch để tăng chất lượng hoa cắt

Tóm lại, trên thế giới hoa cúc có nhu cầu tiêu dùng lớn, lượng cành cúc trao đổi trên thị trường cũng khá cao Các nước sản xuất và sử dụng nhiều cúc mặc dù có xuất khẩu với số lượng lớn nhưng hàng năm vẫn phải nhập khẩu do vào mùa đông lạnh có tuyết phủ, năng suất và chất lượng hoa giảm nhiều Đó

là một trong những lợi thế cho các nước có điều kiện khí hậu thuận lợi như vụ

đông như Việt Nam, để sản xuất cúc xuất khẩu

* Tình hình sản xuất và phát triển hoa cúc ở Việt Nam

ở Việt Nam, hoa cúc được trồng ở khắp mọi nơi nhưng chủ yếu tập trung ở Hà Nội, Hải Phòng, Sa pa, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Lạt

Trang 20

Đà Lạt có khí hậu mát mẻ, là nơi lý tưởng cho sinh trưởng, phát triển của hầu hết các loại hoa nói chung và hoa cúc nói riêng Diện tích hoa cắt cành của Đà Lạt năm 1996 chỉ có 17 ha, đến năm 2000 đs tăng lên 453 ha

và hiện nay có khoảng 530 ha Trong đó, hoa cúc chiếm khoảng 30%, sản lượng hàng năm ước khoảng 10 - 13 triệu cành (Đặng Văn Đông, 2004 [10]) Theo Nguyễn Thị Kim Lý (2001) [20], Đà Lạt là nơi cung cấp 60% sản lượng hoa cho Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Bắc (chủ yếu là

Hà Nội, Hải Phòng)

Thành phố Hồ Chí Minh là thị trường tiêu thụ hoa lớn của Việt Nam Nhu cầu hoa cắt hàng ngày cần 40.000 - 50.000 cành (Đặng Văn Đông, 2004 [10]), trong khi đó Sa Đéc và quận Gò Vấp, vùng chuyên canh hoa lớn của thành phố mới chỉ cung cấp được 10.000 - 15.000 cành/ngày, số còn lại phải nhập hoa cắt, trong đó có cúc chùm từ Hà Lan, Đài Loan, Singapor và cúc đơn (CN98, CN93, Vàng Đài Loan ) từ Hà Nội

Cùng với Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội là địa phương sản xuất và tiêu thụ hoa lớn nhất của Việt Nam Nhu cầu tiêu dùng hàng ngày 25 - 30 nghìn cành, trong đó hoa cúc chiếm 25 - 30% về số lượng và 17 - 20% về giá trị (Đặng Văn Đông, 2004 [10]) Vài năm trở lại đây, việc sản xuất hoa cúc ở

Hà Nội đs phát triển mạnh cả về diện tích lẫn sản lượng, cây hoa cúc vươn lên

đứng đầu trong cơ cấu trồng hoa của Thành phố với nhiều chủng loại phong phú Theo Đặng Văn Đông (2000) [8], năm 1998 diện tích trồng cúc của Hà Nội là 411,8 ha, năm 1999 lên 600,8 ha (chiếm 42,8%) vượt xa hoa hồng 315,7 ha (chiếm 29,4%) và các loại hoa khác 164,5 ha

Kết quả điều tra của Đặng Văn Đông (2000) [8], năm 1999, Hà Nội sản xuất được 129.500.000 cành cúc trong đó phục vụ nội tiêu thành phố 95.000.000 cành, cung cấp cho các tỉnh khác 30.000.000 cành và xuất khẩu sang Trung Quốc 4.500.000 cành Hà Nội không chỉ sản xuất cúc để phục vụ tiêu dùng nội thị mà còn cung cấp cho các tỉnh, thành khác trong nước và xuất

Trang 21

khẩu Trước năm 1992, việc sản xuất và tiêu thụ hoa cúc nước ta còn nhỏ lẻ, chủng loại đơn giản, từ năm 1993, sự xuất hiện của giống CN93 đs bổ sung vào cơ cấu giống hoa mùa hè vốn còn ít, làm phong phú thêm thị trường hoa trong nước Có thể nói cây hoa cúc khá phù hợp với điều kiện khí hậu, điều kiện sản xuất và thị hiếu người tiêu dùng Việt Nam Mặt khác, cúc dễ trồng,

dễ thâm canh, dễ nhân giống và hiệu quả kinh tế khá cao Theo Đặng Văn

Đông và Nguyễn Xuân Linh (2000) [9], thu nhập trên một đơn vị diện tích của cây hoa cúc so với cây lúa sản xuất 2 vụ gấp 7 - 8 lần

Như vậy, cây hoa cúc được sản xuất, tiêu thụ ngày càng nhiều và chiếm

vị trí khá quan trọng trong nghề trồng hoa ở nước ta

Tuy nhiên, nghề trồng cúc ở nước ta vẫn còn gặp phải một số khó khăn như chi phí cho việc trồng cúc tương đối cao, tùy theo mức độ thâm canh mà

có thể phải đầu tư từ, 1,6 - 2,2 triệu đồng/sào Bắc Bộ Do đó nhiều hộ nghèo muốn chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang trồng cúc gặp nhiều khó khăn Vì vậy

họ rất cần sự giúp đỡ về vốn, thị trường, các vật tư như giống, phân bón thuốc bảo vệ thực vật và kỹ thuật

2.1.4.2 Tình hình sản xuất và phát triển hoa đồng tiền trên thế giới và Việt Nam

* Tình hình sản xuất và phát triển hoa đồng tiền trên thế giới

Đồng tiền là một loại hoa có giá trị và cho sản lượng cao, trong điều kiện thích hợp có thể ra hoa quanh năm, trồng trọt, chăm sóc đơn giản, ít tốn công, đầu tư một năm cho hiệu quả nhiều năm Hình dáng hoa rất đặc biệt, giá trị thẩm mỹ cao, tươi lâu Vì vậy trên thế giới, diện tích trồng đồng tiền ngày càng mở rộng, lượng tiêu thụ và giá cả ngày một tăng

Hà Lan là quốc gia sản xuất và nghiên cứu về hoa đồng tiền lớn nhất thế giới Theo Hà Tiểu Đệ (2000) [7], Hà Lan có diện tích trồng hoa đồng tiền khoảng 8.000 ha, giá trị sản lượng 3.590 triệu USD Nghề trồng hoa đồng tiền của Hà Lan đs ở mức công nghiệp hóa, tự động hóa cao, trong đó trên 80%

Trang 22

diện tích hoa được trồng trong môi trường không cần đất Trình độ tạo giống của Hà Lan rất cao, phần lớn các giống đồng tiền mới, hoa to được trồng phổ biến trong sản xuất là do các nhà chọn giống Hà Lan lai tạo ra Forist (Hà Lan) là cơ sở dẫn đầu thế giới về nghiên cứu, sản xuất và buôn bán hoa đồng tiền họ có lực lượng rất mạnh về nghiên cứu khoa học, thiết bị sản xuất, việc

xử lý sau thu hoạch, bảo quản, đánh giá đều ở trình độ tiên tiến

ở Ba Lan, hoa đồng tiền là loại hoa cắt quan trọng nhất, nhưng thời vụ trồng chỉ kéo dài trong tháng 6 và tháng 7

ở Trung Quốc, Thượng Hải có diện tích trồng đồng tiền lớn nhất đạt 35

ha Sau Thượng Hải, Giang Tô cũng là nơi phát triển mạnh, năm 1995 mới có 6000m2 đến năm 1999 đs có 6 ha Ngoài ra Viện nghiên cứu Rau Quả, Viện nghiên cứu khoa học Nông nghiệp và Nông trường Liên Văn là những đơn vị

có diện tích lớn, kỹ thuật tương đối cao (Hà Tiểu Đệ, 2000 [7])

* Tình hình sản xuất và phát triển hoa đồng tiền ở Việt Nam

ở Việt Nam giống hoa đồng tiền đơn được nhập về trồng đầu tiên khoảng từ những năm 1940 Các giống này có đặc điểm, sinh trưởng khỏe, thích nghi tốt với điều kiên tự nhiên, nhưng nhược điểm là hoa nhỏ, cánh đơn, màu sắc đơn điệu nên hiện nay ít trồng Từ những năm 1990, một vài công ty

và các nhà trồng hoa Việt Nam bắt đầu nhập các giống đồng tiền lai (hoa kép)

từ Đài Loan, Trung Quốc về trồng Các giống này có ưu điểm, hoa to, cánh dày, gồm nhiều tầng hoa xếp lại với nhau, màu sắc phong phú, hình dáng hoa

đa dạng, rất đẹp, cho năng suất cao Vì vậy những giống này được tiếp nhận

và phát triển mạnh mẽ khắp các vùng tỉnh thành trong cả nước

Trồng đồng tiền mang lại thu nhập cao nên những năm qua, nhiều địa phương, hộ gia đình đs tự tìm hiểu để phát triển Điển hình những vùng trồng hoa đồng tiền tập trung qui mô lớn, từ vài ha đến vài chục ha như: Đà Lạt (Lâm Đồng), Vĩnh Tuy (Hà Nội), thị xs Bắc Ninh, thị xs Bắc Giang (Đặng Văn Đông, 2004 [12])

Trang 23

2.2 Tình hình nghiên cứu sử dụng phân bón trên cây hoa

2.2.1 Vai trò của các loại phân bón đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây hoa cúc và hoa đồng tiền

Năm 1938, Sachs và Knop đs tiến hành phương pháp trồng cây trong dung dịch dinh dưỡng để tìm ra các nguyên tố mà cây cần Các ông đs kết luận cây cần 10 nguyên tố để sinh trưởng phát triển bình thường, đó là: Các bon, Oxy, Hydro, Nitơ, Phospho, Kali, Canxi, Lưu huỳnh, Mangiê và Sắt Với

sự phát triển của các phương pháp nghiên cứu, ngày nay con người đs phát hiện ra một cách chính xác các nguyên tố thiết yếu của cây trồng bao gồm 16 nguyên tố: C, H, O, N, K, P, Ca, Mg, S, Cu, Fe, Mn, Mo, B, Zn, Cl Trong đó 7 nguyên tố sau cùng cây cần một lượng rất ít nên được gọi là các nguyên tố vi lượng, các nguyên tố còn lại gọi là các nguyên tố đa lượng (Hoàng Minh Tấn

và cs, 2000) [26])

2.2.1.1 Vai trò của phân hữu cơ

Phân hữu cơ bao gồm các loại phân bắc, phân chuồng, nước giải, xác bs các loại động vật, phân rác, phân xanh các phân này có chứa hầu hết các nguyên tố đa lượng và vi lượng, giúp cây sinh trưởng tốt, bền khỏe, hoa đẹp Tuy nhiên phân hữu cơ có nhược điểm tác dụng chậm, gây ô nhiễm môi trường vì vậy trong canh tác người ta thường ủ phân hữu cơ với phân vi sinh để bón lót hoặc bón thúc (Nguyễn Xuân Linh, Nguyễn Thị Kim Lý, 2005 [19]) 2.2.1.2 Vai trò của các loại phân vô cơ

* phân đạm (N)

Đạm có vai trò quan trọng bậc nhất, tham gia vào hàng loạt các chất quan trọng trong cơ thể thực vật như, Protein, Nucleic acid, cấu trúc của Chlorophyl, các Phytohormon, Phytocrom và Vitamin, đạm quyết định các

Trang 24

quá trình trao đổi chất, các biến đổi sinh lý, sinh hóa và quá trình sinh trưởng phát triển của cây (Hoàng Minh Tấn và cs, 2000) [26])

Theo Nguyễn Quang Thạch và Đặng văn Đông (2002) [12], [27], đối với cây hoa cúc và hoa đồng tiền, đạm đóng vai trò tạo lên nguyên sinh chất của tế bào, tham ra cấu tạo diệp lục lá, là thành phần chính cho sự quang hợp Thiếu đạm cây sinh trưởng kém, phát dục nhanh, lá bị vàng, ra hoa sớm, hoa

bé, xấu Thừa đạm cây sinh trưởng thân, lá mạnh, nhưng vống, mềm, yếu, dễ

đổ, ra hoa muộn hoặc không ra hoa, sâu bệnh phát sinh, phát triển nhiều

Đồng tiền và cúc cần đạm vào giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng (khi cây nhỏ

đến phân hóa mầm hoa)

* Phân lân (P2O5)

Lân, tham gia vào sự hình thành các nucleoproteit của nhân tế bào, lân

có mặt trong phosphatit, chất giữ vai trò quan trọng trong việc kiến tạo nên membran (Plasmalem, tonoplast và membran của tất cả các cơ quan trong tế bào), lân có tác dụng rất lớn trong việc tạo thành tính thấm của tế bào và hình thành áp suất thẩm thấu, hoạt động của enzyme phụ thuộc rất lớn vào sự có mặt của lân Cùng với vitamin, lân tham gia tạo thành một số enzyme quan trọng trong trao đổi chất (NAD, NADP, FAD ), trong các quá trình trao đổi chất lân giữ vai trò trung tâm vì nó tham gia vào xây dựng nên ATP là hợp chất giàu năng lượng (Hoàng Minh Tấn và cs, 2000) [26]) Do vậy các bộ phận thân, lá, rễ và hoa đều cần lân, lân giúp cho bộ rễ sinh trưởng mạnh, cây con khỏe, tỷ lệ sống cao, thân cứng, hoa bền, màu sắc đẹp Thiếu lân, đường trong lá tăng, lá già tăng, bộ rễ phát triển kém, cuống hoa ngắn, hoa ít, mau tàn, màu sắc nhợt nhạt trong quá trình sinh trưởng cúc và đồng tiền cần lân vào giai đoạn sinh trưởng sinh thực, thời kỳ hình thành nụ và hoa (Nguyễn Quang Thạch, Đặng văn Đông, 2002), [12], [27])

* Phân kali (K2O)

Kali có tác dụng điều chỉnh các đặc tính lý hóa học của keo nguyên

Trang 25

sinh chất, kali là nhân tố điều chỉnh sự đóng mở của khí khổng, nên có tác dụng điều chỉnh sự trao đổi nước trong cây, kali có ý nghĩa quan trọng trong

sự hình thành sức trương của tế bào, điều chỉnh dòng vận chuyển trong libe, kali hoạt hóa hàng loạt các enzyme trong tế bào chất như RuDP - Carboxylaza, nitratriductaza, ATPaza (Hoàng Minh Tấn và cs, 2000) [26])

Trong cây cúc và đồng tiền non có rất nhiều kali, trước lúc ra hoa kali giữ mối quan hệ về nồng độ giữa canxi và natri ở mức tương đối ổn định, kali thâm nhập vào tế bào làm tăng tính thấm của màng đối với nhiều chất, ảnh hưởng mạnh tới quá trình trao đổi Gluxit, đến trạng thái nguyên sinh chất của

tế bào từ đó giúp cho sự vận chuyển các chất đường bột trong cây Kali còn giúp cây hoa tăng cường tính chịu rét, chịu hạn, tăng khả năng quang hợp Trong quá trình sinh trưởng cúc và đồng tiền cần kali vào thời kỳ kết nụ, nở hoa Nếu thiếu kali ở cây đồng tiền đầu chóp lá già bắt đầu vàng chết khô,

đồng thời xuất hiện các đốm lá bị luộc, cuống và cánh hoa mềm, ở cây cúc màu sắc hoa nhợt nhạt, cánh hoa mềm, hoa mau tàn (Nguyễn Quang Thạch,

Đặng văn Đông, 2002) [12], [27])

* Canxi và Mangie

- Canxi (Ca), rất cần cho quá trình phân chia tế bào và sự sinh trưởng ở giai đoạn gisn Canxi cũng rất cần cho sự sinh trưởng của bộ rễ, vì nó tham gia vào sự hình thành các gian bào mà bản thân các chất này được tạo thành từ pectat canxi, (Hoàng Minh Tấn và cs, 2000) [26]) Theo Nguyễn Quang Thạch

và Đặng văn Đông (2002) [12], [27], nếu thiếu canxi bộ rễ cây cúc phát triển chậm, các lá non ở cây đồng tiền xuất hiện các đốm màu xanh nhạt, nghiêm trọng hơn lá non và đỉnh sinh trưởng bị chết khô, thiếu canxi ảnh hưởng đến

sự hình thành vách tế bào Canxi giúp cho cây hoa tăng tính chịu nhiệt, hạn chế tác dụng của axit hữu cơ, trên cây cúc thiếu canxi bộ rễ cây phát triển chậm, ảnh hưởng tới quá trình hút nước và dinh dưỡng

Trang 26

- Mangie (Mg), có vai trò quan trọng trong trao đổi chất và quang hợp của cây trồng Trong lá mangie chiếm tới 10% hàm lượng các chất Bên cạnh

đó mangie còn đóng vai trò hoạt hóa các enzyme trong các phản ứng trao đổi gluxit, liên quan đến quang hợp, hô hấp và trao đổi axit nucleic (Hoàng Minh Tấn và cs, 2000) [26]) Thiếu Mangie lá già bị đốm vàng lan rộng ra toàn bộ diện tích với các đốm đen trên mép lá, cây hoa thường nhỏ, giòn dễ gsy Theo Lya Kh V.M bón phân Mangie làm tăng năng suất, tăng số nhánh hoa, tăng tính chống chịu ở cây hoa cẩm chướng (dẫn theo Nguyễn Xuân Linh, Nguyễn Thị Kim Lý, 2005) [19]

* Các nguyên tố vi lượng

Các nguyên tố vi lượng chỉ chiếm 0,05% vật chất sống của cây, nhưng

nó lại đóng vai trò sinh lý đặc biệt quan trọng trong cây (Hoàng Đức Cự, 1995 [2]) Vi lượng, xét về mặt số lượng cây cần không nhiều, nhưng mỗi nguyên tố

đều có vai trò xác định và không thể thay thế trong đời sống cây trồng (Vũ Hữu Yêm, 1998 [37]) Các nguyên tố vi lượng cây hoa cần là: Cu, Zn, Fe, Mn, B

- Đồng (Cu), tham gia vào thành phần các loại enzym như polyphenol oxydaza, syperoxit dismutaza, xytocrom oxidaza, phenolaza, lacaza những enzyme này tham gia tích cực vào các phản ứng oxy hóa khử, đặc biệt là các phản ứng tối trong quá trình quang hợp, trao đổi chất và hydratcacbon (Vũ Hữu Yêm, 1998 [37])

Đồng có tác dụng bảo vệ diệp lục khỏi bị phá hủy, làm tăng quang hợp Bón sunfat đồng hay các phế vật của nhà máy luyện đồng có tác dụng làm tăng năng suất cây trồng Ngoài việc bón đồng vào đất có thể phun lên cây hoặc tẩm hạt đều có hiệu quả (Hoàng Minh Tấn và cs, 2000 [26])

Cây hoa thiếu đồng, lá và hoa dài, vàng, mềm, cây sinh trưởng chậm (Nguyễn Xuân Linh, Nguyễn Thị Kim Lý, 2005 [19])

Trang 27

- Bo (B), nguyên tố dinh dưỡng Bo ảnh hưởng đến hầu hết tất cả các quá trình trao đổi chất của cây, theo Hoàng Minh Tấn và cs (2000) [26], Bo ảnh hưởng đến sự hút các nguyên tố khác vào trong cây, ảnh hưởng tích cực đến sự nảy mầm của hạt phấn và sự phát triển của ống phấn như giảm bớt khả năng oxy hóa một số chất hữu cơ để giữ năng lượng, thúc đẩy quá trình hình thành ống phấn, rút ngắn thời gian sinh trưởng, tăng tỷ lệ đậu quả, tăng kích thước, khối lượng quả, tăng tính chống chịu

Khi thiếu Bo trước hết sinh trưởng của rễ bị ngừng lại, sau đó xuất hiện vết vàng ở điểm sinh trưởng tận cùng, nếu thiếu Bo nghiêm trọng đỉnh sinh trưởng sẽ bị chết Ngoài ra thiếu Bo còn ảnh hưởng đến sự phát triển các cơ quan sinh sản, cây có thể hoàn toàn không ra hoa hoặc hoa rất ít (Nguyễn Xuân Hiển, 1997 [15]) Biểu hiện của cây hoa thiếu Bo lá non bị xoăn, những lá khác bị vàng hoặc bị nâu cạnh mép lá (Nguyễn Xuân Linh, Nguyễn Thị Kim Lý, 2005 [19])

- Mangan (Mn), đóng vai trò rất quan trọng trong cây như của nhiều cofacto của các enzyme malatdehydrogenaza, oxalatsuxinat decacboxylaza, mangan hoạt hóa đặc biệt cho nhiều enzyme của chu trình Krebs và quá trình khử nitrat, quá trình này mangan hoạt hóa cho các enzyme nitrit reductaza và hydro xylamin reductaza (Hoàng Minh Tấn và cs, 2000) [26]) Thiếu Mangan, lá cây nhỏ, đỉnh sinh trưởng bị vàng, cây yếu, sinh trưởng và năng suất hoa bị giảm (Nguyễn Xuân Linh, Nguyễn Thị Kim Lý, 2005 [19])

- Sắt (Fe), có vai trò đặc biệt trong đời sống cây trồng, sắt có mặt trong các hợp chất porphyril khác nhau như các xytocrom và các nhóm hoạt động của nhiều enzyme như, catalaza, peroxydaza và trong các leghemoglobin Ngoài ra sắt còn có mặt trong các hợp chất không có cấu trúc Hem khác như, trong ferredoxin Sắt không tham gia vào thành phần diệp lục, nhưng lại rất cần cho sự tổng hợp diệp lục Triệu chứng khi cây thiếu sắt là cây bị mất màu xanh, lá chuyển màu vàng trắng Trên cây lá non mẫn cảm với thiếu sắt hơn lá

Trang 28

già, bởi vì sắt kém di động trong cây, lá non không thể lấy sắt từ lá già (Hoàng Minh Tấn và cs, 2000) [26])

- Kẽm (Zn): kẽm tham gia vào thành phần của hơn 70 enzyme như alcolholdehydrogenaza, cacbonatanhydraza, supreroxitdismutaza Kẽm còn tham gia vào cofacto của nhiều enzyme Đặc biệt Kẽm tham gia vào sự hoạt hóa enzyme sinh tổng hợp tryptophan chất tiền thân của auxin (Indolaxetic axit) Kẽm còn đóng vai trò quan trọng trong sự sinh tổng hợp nhiều protein, đối với cây, bón kẽm giúp tăng cường sự hút K, Si, Mn, Mo, tăng tính chống chịu với bệnh phytopthora của cây Thiếu Kẽm sẽ gây rối loạn về sự trao đổi phytohormon dẫn đến lá cây nhỏ và xoắn, đốt cây ngắn, biến dạng, nói chung khi thiếu kẽm cây sinh trưởng rất chậm để khắc phục tình trạng trên người ta có thể phun các dung dịch muối kẽm lên lá cây (Hoàng Minh Tấn và cs, 2000) [26]) Ngày nay

có nhiều loại chế phẩm bón qua lá chuyên dụng cho cây rất hiệu quả

- Coban (Co), có tác dụng làm tăng tính giữ nước trong hoa, làm cho hoa bền lâu hơn

2.2.2 Tình hình nghiên cứu sử dụng phân bón lá trên cây trồng và cây hoa

2.2.2.1 Cơ sở khoa học của việc sử dụng phân bón qua lá

Từ lâu các nhà khoa học đs chứng minh được rằng cây xanh hút các chất dinh dưỡng ở dạng khí như, CO2, O2, SO2, NH3 và NO2, từ khí quyển qua

lỗ khí khổng (Nguyễn Hạc Thúy, 2001 [33]) Bằng phương pháp đồng vị phóng xạ các nhà khoa học đs phát hiện ra, ngoài bộ phận lá các bộ phận khác như: thân, cành, hoa, quả đều có khả năng hấp thu dinh dưỡng

Bằng nhiều thực nghiệm khác nhau các nhà khoa học đs cho thấy: Việc phun các chất dinh dưỡng dạng hòa tan vào lá, chúng được thâm nhập vào cơ thể cây xanh qua lỗ khí khổng cả ngày lẫn đêm (dẫn theo Trần Đại Dũng

2004, [5])

Trang 29

Cơ chế đóng mở của khí khổng có liên quan đến kích thước dài rộng của lỗ, liên quan đến ánh sáng, độ ẩm không khí, nhiệt độ, độ ẩm đất, các chất dinh dưỡng và sức sống của cây, còn liên quan chặt chẽ giữa axit abxixic (ABA), pH dịch bào và ion kali Lỗ khí khổng có kích thước dài 7 - 40àm, rộng

2 - 12àm với số lượng khá lớn, nếu bón phân qua lá vào thời điểm khí khổng

mở rộng hoàn toàn thì đạt hiệu quả cao nhất (Nguyễn Văn Uyển, 1995 [34]) 2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu, sử dụng phân bón lá trên thế giới và Việt Nam

Theo Nguyễn Văn Uyển (1995) [34], PBL trên thị trường trong nước và thế giới rất phong phú, thường sản xuất dưới dạng các chế phẩm bón qua lá, có thể chia thành 3 nhóm:

- Nhóm chỉ có các yếu tố dinh dưỡng đa lượng và vi lượng phối hợp hoặc riêng rẽ

- Nhóm có thêm các chất kích thích sinh trưởng, nhằm thúc đẩy sinh trưởng hoặc thúc đẩy ra hoa kết trái, giảm tỷ lệ rụng quả, thúc đẩy quá trình chín hoặc làm mau ra rễ

- Nhóm có các loại thuốc hóa học phòng trừ sâu bệnh được phối trộn với tỷ lệ thích hợp

* Tình hình nghiên cứu và sử dụng chế phẩm bón qua lá trên thế giới

- Việc phát hiện ra các chất kích thích sinh trưởng như Auxin (1880 - Darwin, 1928 - Went, 1934 - Kogl), Gibberellin (1926 - Kurosawa, 1938 - Yabuta), Xytokinin (1955 - Miller, Skoog), các chất ức chế sinh trưởng như axit abxixic (1961 - liu, Carn, 1963 - Ohkuma, Eddicott), Ethylen, các hợp chất phenol và sử dụng các chất này làm phương tiện hóa học để điều chỉnh quá trình sinh trưởng, phát triển của cây trồng, được coi như bước đầu tiên sử dụng chế phẩm bón qua lá cho cây trồng (dẫn theo Cao Kỳ Sơn, Nguyễn Văn Bộ, Bùi

Trang 30

Đình Dinh, 1998 [24]) Trong những năm gần đây nhiều nước trên thế giới như:

Mỹ, Nhật, Anh, Đức, Thái Lan, Trung Quốc đs sản xuất và sử dụng nhiều chế phẩm phân bón qua lá có tác dụng làm tăng năng suất, phẩm chất nông sản, không làm ô nhiễm môi trường như : YoGen, Atonik (Nhật Bản), Organic, Cheer (Thái Lan), Bloom Plus, Solu Spray, Spray - N - Grow (Hoa Kỳ), Đặc

đa thu, Đặc phong thu, Diệp lục tố (Trung Quốc) nhiều chế phẩm đs được khảo nghiệm và cho phép sử dụng trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam (Cao

Kỳ Sơn, Nguyễn Văn Bộ, Bùi Đình Dinh, 1998 [24])

* Tình hình nghiên cứu sử dụng phân bón lá ở Việt Nam

Tác giả Đường Hồng Dật (2003) [4], cho thấy bón qua lá phân phát huy hiệu lực nhanh, tỷ lệ cây sử dụng chất dinh dưỡng thường đạt ở mức cao, 90 - 95%, trong khi bón qua đất cây chỉ sử dụng 40 - 50%

Tổng diện tích bề mặt lá tiếp xúc với phân bón thường cao hơn 8 - 10 lần diện tích tán cây che phủ, các chất dinh dưỡng được vận chuyển tự do theo chiều từ trên xuống dưới với vận tốc 30cm/h, do đó năng lực hấp thu dinh dưỡng từ lá cũng cao gấp 8 - 10 lần so với khả năng hấp thu từ rễ (dẫn theo Trần Đại Dũng, 2004 [5])

Các tác giả Cao Kỳ Sơn, Nguyễn Văn Bộ, Bùi Đình Dinh (1998) [24], cho biết, chế phẩm phân bón qua lá đs làm tăng chất lượng nông sản: giảm hàm lượng NO3 trong dưa chuột 28 - 35%, trong cải xanh 20 - 35%, trong bắp cải 25 - 70% Phun phân bón lá TP - 108 cho cà chua làm tăng: tỷ lệ tinh bột lên 29%, hàm lượng muối khoáng lên 17,6%, vitamin C lên 11,1%, hàm lượng

đường lên 23% Phun HVP cho trái Thanh long làm thời gian lưu giữ trái kéo dài thêm 10 - 12 ngày so với đối chứng Sử dụng chế phẩm bón lá HVP 401 -

N làm tăng độ Bric của trái quýt Tiểu 3,7%

Đối với hoa cây cảnh, kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của PBL trên các đối tượng này còn chưa nhiều Tuy nhiên, khi khảo nghiệm PBL Agriconik trên cây hoa hồng và hoa thược dược ở Hà Nội cho kết quả: số lượng và đường

Trang 31

kính hoa đều tăng so với đối chứng phun nước sạch, còn phun PBL Komix -

FL cho hoa cây cảnh làm tăng số hoa, đường kính hoa, giữ cho hoa lâu tàn (Vũ Cao Thái, 2000 [30])

Xử lý phân bón lá SNG, Atonik cho cây hoa cúc đs tác động mạnh đến giai đoạn sinh trưởng sinh thực của cây, làm tăng tỷ lệ hoa hữu hiệu (11% so với đối chứng không phun), tăng năng suất, chất lượng, kéo dài tuổi thọ của hoa, còn xử lý SNG và BPF, nồng độ 10ml/lít cho cây hoa cúc lúc bắt đầu ra

nụ, đs làm tăng đường kính hoa lên đáng kể, màu sắc hoa tươi hơn, thân lá xanh đậm, cuống hoa to hơn (Nguyễn Quang Thạch, 2002 [27])

Theo Nguyễn Thị Kim Lý (2001) [20], xử lý PBL "Thiên Nông", GA3 " Thiên Nông", KPTHT "Thiên Nông" cho cây hoa cúc CN97 trong 2 vụ đông xuân 1999 và 2000 (tại Hà Nội), trong đó PBL GA3 phun liên tục 7 ngày/lần,

từ sau trồng 15 ngày đến khi cây chớm phân hóa mầm hoa, KPTHT xử lý khi cây bắt đầu phân hóa mầm hoa đến khi nụ nứt cánh Kết quả: các loại chế phẩm trên đều ảnh hưởng tốt đến sinh trưởng, phát triển của cây, cho hiệu quả kinh tế gấp 12,3 lần so với đối chứng, tác giả kết luận: GA3 tác dụng mạnh ở giai đoạn cây sinh trưởng sinh dưỡng, KPTHT có hiệu quả cao ở giai đoạn sinh trưởng sinh thực, PBL tác dụng điều hòa cả 2 quá trình này

Nghiên cứu ảnh hưởng của PBL phức hữu cơ Pomior trên các cây hoa cúc, hoa đồng tiền và hoa hồng, Hoàng Ngọc Thuận (2005) [33], cho thấy:

- Khi sử dụng PBL Pomior 0,3% cho cây hoa cúc trong vườn ươm nhân giống bằng nuôi cấy mô tế bào, tỷ lệ sống khi ra ngôi cây con trong ống nghiệm tăng 35%, so với đối chứng phun nước sạch, cây con mập, sau 10 ngày ra ngôi, tốc độ tăng trưởng chiều cao nhanh gấp 1,45 lần

- Thí nghiệm sử dụng PBL Pomior 0,4% cho cây cúc vàng hè Đà Lạt, kết quả năng suất, chất lượng, độ bền hoa cắt, khả năng chống chịu sâu bệnh

đều cao hơn đối chứng Đặc biệt có thể sử dụng PBL Pomior để bón thúc cho cây hoa cúc mà không phải bón thêm loại phân khoáng nào khác

Trang 32

- Trên cây cúc đồng tiền kép, thí nghiệm bón thúc bằng PBL Pomior ở các nồng độ: 0,2%, 0,3%, 0,4% và 0,5% đều cho khả năng sinh trưởng và năng suất cao hơn, tuy nhiên ở nồng độ Pomior 0,4% cho hiệu quả cao nhất,

đường kính hoa tăng 1,14 lần, chiều cao cành, tăng 1,15 lần, năng suất hoa tăng 1,22 lần, số hoa loại I tăng 1,44 lần so với đối chứng

- Trên cây hoa hồng Đỏ nhung (Pháp) khi phun PBL Pomior 0,3% cho cây 5 ngày/lần kết quả, năng suất chất lượng hoa đều cao hơn, hiệu quả kinh tế tăng gấp 1,27 lần, so với đối chứng bón thúc bằng phân khoáng qua rễ (cùng nền bón lót) Các thí nghiệm trên cây hoa hồng Đỏ san (Hà Lan), và các cây trồng khác: lúa, rau, cây ăn quả đều cho kết quả tương tự

Theo Trịnh An Vĩnh (1995) [36], nếu xét về khía cạnh lành mạnh môi trường thì phân bón lá, phân vi sinh, và các phân tương tự khác được khuyến khích nghiên cứu và đưa vào sản xuất nông nghiệp có ý nghĩa lớn trong sự phát triển nông nghiệp bền vững, trong vấn đề an toàn dinh dưỡng cây trồng

Rõ ràng phân bón qua lá không thể thay thế các loại phân bón qua rễ, nhưng vai trò của nó là không thể phủ nhận Vũ Cao Thái (1996) [29], cho rằng: bón phân qua lá là một giải pháp chiến lược của ngành nông nghiệp, khi

sử dụng hiệu quả phân bón qua lá thì sản lượng trung bình tăng 20 - 30% với cây lấy lá, 10 - 20% với cây lấy quả, 5 - 10% với cây lúa, 10 - 30% với cây công nghiệp ngắn ngày Điều này hoàn toàn có cơ sở khoa học, vì lá là cơ quan tổng hợp trực tiếp chất hữu cơ, cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng qua các quá trình sinh lý, sinh hóa và quang hợp, khi bón qua lá, khắc phục

được các hạn chế của bón phân qua đất bị rửa trôi, bốc hơi hoặc giữ chặt trong

đất Đây là cơ sở pháp lý để đưa các nguyên tố vi lượng quý hiếm vào các chế phẩm PBL, giúp cây trồng trong những điều kiện bất lợi: hạn hán lũ lụt, thời

kỳ khủng hoảng dinh dưỡng của cây giúp cho cây nhanh chóng phục hồi

Trang 33

3 Vật liệu, nội dung

3.2 Vật liệu nghiên cứu

* Giống hoa: cúc vàng Đài Loan (Chrysanthemum maximum Rysalry)

và đồng tiền F125 (Gerbera jamesonii Bellezza)

Cây hoa cúc vàng Đài Loan, nguồn gốc giống: Đài Loan Loại hình cây: Cao, thân mập thẳng lá: Xanh đậm, xẻ thùy sâu thưa, kiểu hình lá xiên gọn Hoa: 1 bông, màu vàng nghệ, cánh dày đều, xếp chặt Là giống phản ứng chặt với ánh sáng ngày ngắn, thời vụ trồng ngoài tự nhiên tốt nhất từ 1/8 - 1/9 Cây giống trong thí nghiệm là cây giâm cành từ cây mẹ nuôi cấy mô tế bào,

do Phòng nghiên cứu Hoa cây cảnh (Viện nghiên cứu Rau Quả) cung ứng

Cây hoa đồng tiền F125, nguồn gốc giống: Hà Lan Hoa kép, to, màu

đỏ nhung tươi, nhị màu nâu Cây khỏe Lá: nhỏ, nhọn, xẻ thùy nông, mỏng, màu xanh đậm Trồng được các thời vụ trong năm, nhưng cần trồng trong nhà

có mái che Giống đưa vào thí nghiệm là cây nuôi cấy mô nhập khẩu trực tiếp

từ Trung Quốc

* Các loại phân bón lá:

Trang 34

+ Phân bón lá hữu cơ sinh học, P.M-6 (Plant Medicine Hexane), do Trung tâm Công nghệ Môi trường, thuộc Công ty Công trình đô thị Ninh Thuận, nghiên cứu và sản xuất, có các thành phần dinh dưỡng như sau:

Mn: 163mg/l B: 84mg/l Ni: 78,4mg/l Mo: 3mg/l

20 a xít amin kết hợp với các kim loại ở dạng phức cùng một số chất

điều hòa sinh trưởng

+ Phân bón lá YoGen No2, do Liên doanh phân bón Việt - Nhật sản xuất tại Việt Nam Có tỷ lệ thành phần dinh dưỡng :

Trang 35

N - P2O5 - K2O = 30 - 10 - 10 Các dưỡng chất khác:

Mn: 0,1; Mg: 0,1; B: 0,05; Fe: 100; Cu:100; Zn: 50; Mo: 10

+ Phân bón lá Đầu trâu 702, do Công ty phân bón Bình Điền (Việt Nam) nghiên cứu và sản xuất Có tỷ lệ thành phần dinh dưỡng :

N : P : K = 12 : 30 : 17, vi lượng và các chất điều hòa sinh trưởng như sau: Ca: 0,05

Mg: 0,03

Zn: 0,05

Cu: 0,05

Fe: 0,01 Mn: 0,01 Mo: 0,01 B: 0,05

Penac P: 0,02

GA3αNAA βNOA

* Lấy mẫu đất phân tích: mẫu đất được lấy trực tiếp tại khu ruộng làm thí nghiệm (thôn Như Quỳnh, thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên), theo 5 điểm chéo góc, ở độ sâu 0 - 20cm, phơi khô, nghiền nhỏ, trộn

đều, lấy 1 mẫu 500g [35] gửi phân tích tại Phòng phân tích đất, Khoa Đất & Môi trường, Trường ĐHNNI Hà Nội

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và hiệu quả sản xuất của cây cúc vàng Đài Loan

- ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây

- ảnh hưởng đến động thái ra hoa của cây

- ảnh hưởng đến chất lượng hoa và hiệu quả kinh tế

Trang 36

3.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và hiệu quả sản xuất của giống hoa đồng tiền F125

- ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây

- ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng hoa

- ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế

3.4 Phương pháp bố trí thí nghiệm

3.4.1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá

đến sinh trưởng, phát triển và hiệu quả sản xuất trên cây cúc vàng Đài Loan

* Công thức thí nghiệm:

CT1 Sử dụng phân Pomior

CT2 Sử dụng phân PSB

CT3 Sử dụng phân YoGen No2

CT4 Sử dụng phân Đầu trâu 702

CT5 Sử dụng phân P.M-6

CT6 (đ/c) xử lý nước sạch

Diện tích ô thí nghiệm: 100 m2

Kiểu bố trí thí nghiệm : khối ngẫu nhiên (RCB)

Số lần nhắc lại: 3 lần, đo đếm 10 cây/1 lần nhắc

Giống thí nghiệm: cúc vàng Đài Loan (Chrysanthemum maximum Risalry) Thời gian tiến hành: ngày 01/9/2005

* Các chỉ tiêu theo dõi:

Trang 37

+ Chỉ tiêu về sinh trưởng

Các thời kỳ sinh trưởng, phát triển được tính từ khi cây bén rễ hồi xanh

đến khi cây ra lá, ra nụ, ra hoa 10% và 90%

- Chiều cao cây (cm): đo bằng thước mét đặt sát mặt đất (từ gốc) đến

đỉnh sinh trưởng

- Số lá/cây (lá): đánh dấu số lá trên cùng sau mỗi lần đếm, số lá của mỗi

kỳ theo dõi bằng số lá của lần đếm trước + số lá mới ra thêm

- Đường kính thân (cm): đo bằng thước palme ở vị trí to nhất của thân + Theo dõi thời kỳ ra hoa

- Số nụ xuất hiện trong ngày theo dõi (ngày)

- Số nụ nở thành hoa trong ngày theo dõi (ngày)

- Ngày hoa bắt đầu nở (10% hoa nở)

- Ngày hoa nở rộ (50% hoa nở)

- Ngày hoa nở hết (90% hoa nở)

+ Chỉ tiêu về năng suất:

- Số cây trồng/đơn vị diện tích (cây/m2)

- Số hoa nở/đơn vị diện tích (hoa/m2)

- Số hoa hữu hiệu (hoa/m2)

- Số hoa thực thu sử dụng được (hoa/m2)

+ Chỉ tiêu về chất lượng

- Chiều dài cành hoa (cm): đo sát đất đến bông hoa

- Đường kính hoa (cm): đo bằng thước palme ở vị trí to nhất của hoa

Trang 38

- Chiều cao bông hoa (cm): đo từ sát cuống hoa đến cánh hoa cao nhất

- Đường kính cuống hoa (cm): đo bằng thước palme ở vị trí sát cuống hoa

- Tỷ lệ hoa hữu hiệu (%): tỷ lệ % số hoa nở trên tổng số cây trồng

- Số cánh hoa/bông (cánh): đếm toàn bộ số cánh hoa trên bông ở tất cả các cây theo dõi

- Hiệu quả của việc sử dụng PBL so với không sử dụng PBL

3.4.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và hiệu quả sản xuất trên cây hoa đồng tiền F125

* Công thức thí nghiệm:

CT1 Sử dụng phân Pomior CT2 Sử dụng phân PSB CT3 Sử dụng phân YoGen No2 CT4 Sử dụng phân Đầu trâu 702 CT5 Sử dụng phân P.M-6

Trang 39

CT6 (đ/c) Xử lý nước sạch

Diện tích ô thí nghiệm: 100 m2

Kiểu bố trí thí nghiệm : khối ngẫu nhiên (RCB)

Số lần nhắc lại: 3 lần, đo đếm 10 cây/1 lần nhắc

Giống thí nghiệm: hoa đồng tiền F125 (Gerbera jamesonii Bellezza) Thời gian tiến hành: ngày 27 / 7 / 2005

* Các chỉ tiêu theo dõi:

+ Chỉ tiêu về sinh trưởng

Các thời kỳ sinh trưởng, phát triển được tính từ khi cây bén rễ hồi xanh

đến khi cây ra lá, ra hoa và đẻ nhánh

- Số lá/cây (lá): đánh dấu số lá trên cùng sau mỗi lần đếm, số lá của mỗi

kỳ theo dõi bằng số lá của lần đếm trước + số lá mới ra thêm

- Đường kính tán cây: đánh dấu cây theo dõi và đo ở vị trí các lá cây xòe ra rộng nhất

- Ngày hoa nở đầu tiên

- Số hoa nở trong ngày theo dõi, đánh dấu số hoa nở sau mỗi lần đếm, số

Trang 40

hoa của mỗi kỳ theo dõi, bằng số hoa của lần đếm trước + số hoa mới nở thêm

+ Chỉ tiêu về năng suất

- Số cây trồng/đơn vị diên tích (cây/m2)

- Số hoa hữu hiệu (hoa/m2)

- Số hoa thực thu sử dụng được (hoa/m2)

+ Chỉ tiêu về chất lượng

- Chiều dài cành hoa (cm): đo từ đáy cuống hoa đến bông hoa

- Đường kính hoa (cm): đo bằng thước palme ở vị trí to nhất của hoa khi hoa đs nở hoàn toàn

- Đường kính cành hoa (cm): đo bằng thước palme ở vị trí to nhất của cành

- Tỷ lệ hoa hữu hiệu (%): tỷ lệ % số hoa nở trên tổng số cây trồng

- Số cánh hoa/bông (cánh): đếm toàn bộ số cánh hoa trên bông ở tất cả các cây theo dõi

Ngày đăng: 18/08/2013, 21:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4.1. ảnh hưởng của phân bón lá tới động thái tăng trưởng - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và hiệu quả sản xuất của cây hoa cúc, giống vàng đài loan và cây hoa đồng tiền (gerbera jamesonii
Hình 4.1. ảnh hưởng của phân bón lá tới động thái tăng trưởng (Trang 47)
Hình 4.2. ảnh hưởng của phân bón lá tới động thái ra hoa - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và hiệu quả sản xuất của cây hoa cúc, giống vàng đài loan và cây hoa đồng tiền (gerbera jamesonii
Hình 4.2. ảnh hưởng của phân bón lá tới động thái ra hoa (Trang 52)
Bảng 4.4. ảnh h−ởng của phân bón lá tới   năng suất và chất l−ợng hoa cúc   Chỉ tiêu - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và hiệu quả sản xuất của cây hoa cúc, giống vàng đài loan và cây hoa đồng tiền (gerbera jamesonii
Bảng 4.4. ảnh h−ởng của phân bón lá tới năng suất và chất l−ợng hoa cúc Chỉ tiêu (Trang 53)
Hình 4.3. ảnh hưởng của phân bón lá tới độ bền hoa cắt - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và hiệu quả sản xuất của cây hoa cúc, giống vàng đài loan và cây hoa đồng tiền (gerbera jamesonii
Hình 4.3. ảnh hưởng của phân bón lá tới độ bền hoa cắt (Trang 54)
Bảng 4.6. ảnh h−ởng của phân bón lá - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và hiệu quả sản xuất của cây hoa cúc, giống vàng đài loan và cây hoa đồng tiền (gerbera jamesonii
Bảng 4.6. ảnh h−ởng của phân bón lá (Trang 57)
Hình 4.4. ảnh h−ởng của phân bón lá - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và hiệu quả sản xuất của cây hoa cúc, giống vàng đài loan và cây hoa đồng tiền (gerbera jamesonii
Hình 4.4. ảnh h−ởng của phân bón lá (Trang 58)
Hình 4.5. hiệu quả kinh tế của việc bổ sung phân bón lá - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và hiệu quả sản xuất của cây hoa cúc, giống vàng đài loan và cây hoa đồng tiền (gerbera jamesonii
Hình 4.5. hiệu quả kinh tế của việc bổ sung phân bón lá (Trang 61)
Hình 4.6. ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái ra lá - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và hiệu quả sản xuất của cây hoa cúc, giống vàng đài loan và cây hoa đồng tiền (gerbera jamesonii
Hình 4.6. ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái ra lá (Trang 64)
Bảng 4.9. ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái đẻ nhánh - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và hiệu quả sản xuất của cây hoa cúc, giống vàng đài loan và cây hoa đồng tiền (gerbera jamesonii
Bảng 4.9. ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái đẻ nhánh (Trang 65)
Hình 4.7. ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái đẻ nhánh - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và hiệu quả sản xuất của cây hoa cúc, giống vàng đài loan và cây hoa đồng tiền (gerbera jamesonii
Hình 4.7. ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái đẻ nhánh (Trang 66)
Bảng 4.11. ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái ra hoa - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và hiệu quả sản xuất của cây hoa cúc, giống vàng đài loan và cây hoa đồng tiền (gerbera jamesonii
Bảng 4.11. ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái ra hoa (Trang 69)
Hình 4.8. ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái ra hoa - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và hiệu quả sản xuất của cây hoa cúc, giống vàng đài loan và cây hoa đồng tiền (gerbera jamesonii
Hình 4.8. ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái ra hoa (Trang 70)
Bảng 4.14. ảnh h−ởng của phân bón lá tới tỷ lệ th−ơng phẩm - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và hiệu quả sản xuất của cây hoa cúc, giống vàng đài loan và cây hoa đồng tiền (gerbera jamesonii
Bảng 4.14. ảnh h−ởng của phân bón lá tới tỷ lệ th−ơng phẩm (Trang 76)
Hình 4.9. ảnh h−ởng của phân bón lá tới tỷ lệ th−ơng phẩm - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và hiệu quả sản xuất của cây hoa cúc, giống vàng đài loan và cây hoa đồng tiền (gerbera jamesonii
Hình 4.9. ảnh h−ởng của phân bón lá tới tỷ lệ th−ơng phẩm (Trang 77)
Hình 4.10. Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng phân bón lá - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và hiệu quả sản xuất của cây hoa cúc, giống vàng đài loan và cây hoa đồng tiền (gerbera jamesonii
Hình 4.10. Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng phân bón lá (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w