Đây là nội dung hết sức cần thiết và bổ ích cho cán bộ, công chức trong việc thực thi nhiệm vụ tại địa phương, đơn vị đang công tác. Sau khi học xong chương trình Quản lý nhà nước đã giúp em nhận thức được nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý hành chính nhà nước, đồng thời cũng nhận thức được rằng, muốn đạt hiệu quả cao trong công tác quản lý hành chính, cần phải nhạy bén, nắm chắc được các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản dưới luật, vận dụng sáng tạo, kết hợp linh hoạt với thực tiễn cuộc sống để giải quyết các vấn đề liên quan đến nhiệm vụ được giao.
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN IV: ĐỀ XUẤT VÀ LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN GIẢI
QUYẾT
13
LỜI MỞ ĐẦU
Khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai là một hiện tượng xảy ra phổ biến trong
xã hội; đặc biệt khi nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước thực hiện cơ chế quản lý mới bằng việc trả lại đất đai những giá trị vốn có thì tranh chấp đất đai phát sinh có xu hướng ngày càng tăng cả về số lượng cũng như tính chất phức
Trang 2tạp về mặt nội dung Tuy nhiên, tranh chấp đất đai kéo dài với số lượng ngày càng đông người dân tham gia thì lại là vấn đề rất đáng quan tâm tìm hiểu nguyên nhân nảy sinh để đề ra các biện pháp giải quyết phù hợp nhằm “tháo ngòi nổ” xung đột không để phát sinh trở thành “điểm nóng” gây mất ổn định chính trị, tình hình trật tự
an toàn xã hội Tính phức tạp của tranh chấp đất đai, khiếu kiện kéo dài không chỉ bắt nguồn từ những xung đột gay gắt về lợi ích kinh tế, từ hệ quả của sự quản lý thiếu hiệu quả của cơ quan công quyền, sự bất hợp lý và thiếu đồng bộ của hệ thống chính sách, pháp luật đất đai…mà còn do những nguyên nhân có tính lịch sử trong quản lý
và sử dụng đất đai qua các thời kỳ Việc nghiên cứu, tìm hiểu tranh chấp đất đai và khiếu kiện kéo dài dưới khía cạnh những nguyên nhân có tính lịch sử là rất cần thiết không những giúp Nhà nước trong nỗ lực xác lập cơ chế giải quyết tranh chấp đất đai một cách có hiệu quả mà còn góp phần vào việc bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay
Đây là nội dung hết sức cần thiết và bổ ích cho cán bộ, công chức trong việc thực thi nhiệm vụ tại địa phương, đơn vị đang công tác Sau khi học xong chương trình Quản lý nhà nước đã giúp em nhận thức được nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý hành chính nhà nước, đồng thời cũng nhận thức được rằng, muốn đạt hiệu quả cao trong công tác quản lý hành chính, cần phải nhạy bén, nắm chắc được các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản dưới luật, vận dụng sáng tạo, kết hợp linh hoạt với thực tiễn cuộc sống để giải quyết các vấn đề liên quan đến nhiệm vụ được giao
Qua những nội dung kiến thức đã được lĩnh hội, em xin mạnh dạn nghiên cứu
chọn đề tài “Việc giải quyết khiếu nại đòi bồi thường đất của công dân vi phạm hành lang giao thông đường bộ, công trình thuỷ lợi”
Đây là tình huống có thật và khi thực hiện viết tiểu luận này, các cơ quan chức năng đã tiến hành giải quyết xong vụ việc Nhưng thiết nghĩ việc giải quyết khiếu nại, tố cáo là hoạt động quan trọng của Nhà nước, có ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế, chính trị và xã hội Vì vậy, để đảm bảo giải quyết khiếu nại, tố cáo đúng pháp luật và
có hiệu quả thì nhất thiết phải có sự quản lý thống nhất của nhà nước Với quá trình giải quyết các khiếu nại, tố cáo của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền Với kinh nghiệm trong công tác quản lý chưa có, nguồn tài liệu tham khảo có hạn Vì
Trang 3vậy, kính mong nhận được sự động viên, giúp đỡ và những ý kiến tham gia góp ý bổ sung của các thầy, cô Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, cùng các bạn giúp cho tôi được hiểu biết thêm và có thêm kinh nghiệm trong công tác quản lý hành chính nhà nước Bài viết tiểu luận tình huống quản lý nhà nước của tôi chắc chắn còn những hạn chế nhất định, một lần nữa rất mong được các thầy, cô tham gia để bài viết được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, các giảng viên đã trang bị cho chúng tôi những kiến thức thực tế rất bổ ích trong thời gian tham gia khóa học này
Xin chân thành cảm ơn
Phần I - GIỚI THIỆU TÌNH HUỐNG
Năm 1982, bà Nguyễn Thị X - giáo viên Trường cấp 3 Phú Bình sau khi xây dựng gia đình riêng, vì chỗ ở tập thể chật hẹp, có đề nghị (bằng miệng) với Ban giám hiệu nhà trường cho gia đình mượn một phần diện tích đất của nhà trường (phần đất giáp đường QL 37) để làm nhà ở Được sự đồng ý của Ban giám hiệu, bà X đã làm nhà và ở trên phần đất
Trang 4mượn trên (phần đất này của nhà trường nằm trong hành lang an toàn giao thông đường bộ
và công trình thuỷ lợi)
Ngày 12/11/1988, bà Nguyễn Thị X được điều chuyển công tác sang đơn vị khác, đã bán nhà và hoa mầu trên phần đất mượn của nhà trường cho bà Dương Thị
B - là nhân viên kế toán của nhà trường Khi bán, hai bên có giấy mua bán viết tay, không có ý kiến xác nhận của nhà trường, nhưng lại được ông Lê Văn H - Thường trực Văn phòng UBND Thị trấn Hương Sơn ký xác nhận (khi ký, ông Lê Văn H không ghi chức danh)
Ngày 01/11/1990, bà Dương Thị B bán lại nhà và hoa mầu cho bà Nguyễn Thị Y -cán bộ giữ trẻ của Trường cấp 3 Phú Bình, việc mua bán có giấy viết tay giữa hai bên, không có ý kiến của nhà trường, không có xác nhận của chính quyền địa phương Bà Nguyễn Thị Y sử dụng nhà cửa, hoa mầu kể từ ngày 01/11/1990
* Về hiện trạng sử dụng đất:
Theo bản đồ địa chính - Tờ bản đồ số 2 Thị trấn Hương Sơn vẽ năm 1993, bà Nguyễn Thị Y đang ở trên hai thửa đất số 472, diện tích 257m2, đất ở đô thị và thửa
477, diện tích 165m2, đất nuôi trồng thuỷ sản Hai thửa đất trên có chiều sâu là 11,3
m (tính từ cách bờ sông Đào 8m vào đến giáp hàng rào Trường THPT Phú Bình, chiều dài theo đường Quốc lộ 37 là 25m, trên diện tích đất có một nhà cấp 4, mái lợp Prôxi măng vừa làm nhà ở, vừa làm quán bán hàng Bà Nguyễn Thị Y chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chỉ có giấy bán nhà và hoa mầu của bà Nguyễn Thị X bán cho bà Dương Thị B và giấy bán nhà và hoa mầu của bà Dương Thị B bán cho bà Nguyễn Thị Y
* Nguồn gốc, quá trình sử dụng thửa đất 472 và thửa 477.
Theo bản đồ giải thửa (số 299), tờ số 16 Thị trấn Hương Sơn, hai thửa đất này
là một phần đất trong thửa 731, diện tích 30.864m2 do Trường cấp 3 Phú Bình quản
lý Thửa đất 731 có cạnh phía Bắc tiếp giáp với mép mặt đường Quốc lộ 37, có hàng rào tre làm ranh giới với đường
Tại khoản 1, Điều 7- Điều lệ bảo vệ đường bộ ban hành kèm theo Nghị định số 203-HĐBT, ngày 21/12/1982 của Hội đồng Bộ trưởng quy định về hành lang bảo vệ
các công trình giao thông đường bộ như sau: “Tính từ mép chân mái đường đắp và từ
Trang 5mép đỉnh mái đường đào hoặc từ mép ngoài rãnh dọc hay rãnh đỉnh của đường trở
ra hai bên cụ thể:
- Hệ thống đường quốc lộ là 20m.
- Hệ thống đường tỉnh là 10m”.
Theo thiết kế lưu lượng kênh chính (là kênh đào) của hệ thống công trình thủy lợi sông Đào đi qua địa phận huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên là 25m3/s Tại Điều
27, khoản 4, điểm a của Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi ngày 31/8/1994, có quy định về phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi theo tiêu chuẩn Việt
Nam số 5060-90, ngày 01/7/1990, được quy định như sau: “kênh tưới có lưu lượng
từ 2m3/s đến 10m3/s, phạm vi bảo vệ từ chân mái ngoài của kênh trở ra là 5m; lưu lượng lớn hơn 10m3/s, phạm vi bảo vệ từ chân mái ngoài của kênh trở ra là 10m”.
Như vậy, diện tích đất của Trường cấp 3 Phú Bình mà bà Nguyễn Thị X mượn
để làm nhà ở, nay bà Nguyễn Thị Y đang sử dụng, thuộc phạm vi hành lang bảo vệ đường quốc lộ 37 và thuộc phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi sông Đào
Xây dựng cơ sở hạ tầng là điều tất yếu để thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước nói chung và ở mỗi địa phương nói riêng Để thực hiện chính sách phát triển kinh tế, xã hội đất nước, Nhà nước đã tiến hành thu hồi đất, giải phóng mặt bằng phục vụ cho các dự án phát triển Đối với huyện Phú Bình, việc phát triển hạ tầng giao thông là một trong những lĩnh vực được các cấp uỷ Đảng, chính quyền từ huyện đến cơ sở xác định là có tính chất đột phá, góp phần thúc đẩy KT-XH của Phú Bình phát triển nhanh và bền vững Trong các dự án lớn của huyện, có dự án cải tạo, nâng cấp đường quốc lộ 37 - Đây là một dự án lớn được đầu tư nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước (ngân sách trung ương), có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên nói chung và của nhân dân huyện Phú Bình nói riêng, đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hóa phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của nhân dân địa phương Chính bởi vậy, việc dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 37 được giải quyết, sẽ góp phần quan trọng đưa huyện nhà phát triển nhanh
về kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống của nhân dân địa phương, đặc biệt là những khu vực dân cư được hưởng lợi trực tiếp từ dự án
Thực hiện dự án nâng cấp, cải tạo Quốc lộ 37 giai đoạn năm 1998-2001 Ngày
Trang 614/12/1998, UBND tỉnh Thái Nguyên ban hành Quyết định số 3556/QĐ-UB về việc phê duyệt dự toán đền bù, giải phóng mặt bằng dự án nâng cấp, cải tạo Quốc lộ 37 qua huyện Phú Bình Hộ của bà Nguyễn Thị Y, nằm trên đoạn đường này thuộc diện phải giải toả Theo quy định của pháp luật hiện hành, thì hộ của bà Y không được đền
bù về đất, do đất không hợp pháp (như đã nêu ở trên) mà chỉ được đền bù về cây cối, hoa mầu và hỗ trợ về chính sách Khi dự án được thực hiện, Ban bồi thường giải phóng mặt bằng của dự án, chính quyền, các đoàn thể đã tuyên truyền, giải thích đầy
đủ nghĩa vụ, quyền lợi trong vấn đề GPMB, chính sách đền bù hỗ trợ đối với đối tượng phải di dời để thực hiện dự án Bà Nguyễn Thị Y đã nhận đầy đủ số tiền đền
bù, hỗ trợ theo quy định, nhưng không giải phóng, bàn giao mặt bằng, không di chuyển chỗ ở đến nơi quy định và đề nghị được giải quyết đền bù về đất (Bà Y là cán
bộ đang hưởng chế độ hưu trí, là vợ của liệt sĩ) UBND huyện, UBND thị trấn Hương Sơn đã nhiều lần thông báo bằng văn bản, yêu cầu bà Y di dời đến nơi ở mới (do huyện cấp đất), bà Y không chấp hành, chính quyền địa phương đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính một vài lần, nhưng bà Y cũng không chấp hành việc
di dời để bàn giao mặt bằng, thậm chí còn cơi nới xây dựng thêm, gửi đơn khiếu nại
ở cấp huyện, cấp tỉnh
Dự án nâng cấp, cải tạo Quốc lộ 37 giai đoạn năm 2006-2009 (lần 2), Hội đồng bồi thường, giải phóng mặt bằng Quốc lộ 37, tiếp tục không nhất trí bồi thường đối với hộ bà Nguyễn thị Y Vì dự án nâng cấp, cải tạo Quốc lộ 37 giai đoạn năm 1998-2001, theo Nghị định số 22/1998/NĐ-CP, bà Nguyễn Thị Y không được đền bù
về đất, mà chỉ được đền bù về cây cối hoa mầu và tiền hỗ trợ; Bà Y đã nhận đầy đủ các khoản đền bù, hỗ trợ được hưởng theo quy định của pháp luật UBND huyện yêu cầu bà Y phải giải phóng, bàn giao mặt bằng và di chuyển về nơi ở mới của huyện
Bà Nguyễn Thị Y không nhất trí, với lý do đất của bà đang ở là hợp pháp và bà Y làm đơn khiếu nại ngày 22/11/2008
Phần II - PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG
1 Cơ sở lý luận.
Trang 7Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi, bổ
sung năm 2013) quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nnhân dân, vì Nhân dân Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam do nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp,
tư pháp”(Điều 2), và cũng tại Điều 6 quy định: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”.
Nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực đời sống xã hội bằng pháp luật, lấy pháp luật làm công cụ chủ yếu và quan trọng nhất để điều chỉnh hành vi và mọi hoạt động xã hội Nhà nước và pháp luật có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau, cùng tồn tại song song trong lịch sử phát triển của mỗi quốc gia Nhà nước đặt ra yêu cầu quản lý xã hội phục vụ cho ý chí của nhà nước Song pháp luật lại là công cụ để xây dựng nhà nước, là phương tiện phục vụ nhà nước và nhà nước hoạt động trong khuôn khổ pháp luật
Thực hiện quan điểm của Đảng ta là: Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, Nhà nước của dân, do dân, vì dân Nhà nước ta đã xây dựng một hệ thống pháp luật ngày càng hoàn chỉnh, để điều chỉnh các mối quan hệ trên mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội Năm 1998, Luật khiếu nại, tố cáo ra đời và được sửa đổi bổ sung năm 2004
và năm 2005, đã thực sự phát huy tác dụng, góp phần to lớn trong công tác giải quyết
xử lý các khiếu nại, tố cáo là những vấn đề phức tạp trong đời sống xã hội, đặc biệt là trong công tác đền bù giải phóng mặt bằng, để thực hiện các dự án của nhà nước nhằm phát triển kinh tế - xã hội Từ nhận thức và yêu cầu của công tác quản lý nhà nước hiện nay, đòi hỏi cần phải có những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan hành chính nhà nước, đó là một yêu cầu tất yếu trong giai đoạn hiện nay, nhằm ổn định tình hình góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
2 Phân tích tình huống.
Phần diện tích đất, nhà - quán bán hàng bà Y đang ở, là phần đất có nguồn gốc không hợp pháp (là đất mượn của Trường cấp 3 Phú Bình, thuộc phạm vi hành lang
Trang 8bảo vệ đường quốc lộ 37 hiện nay và thuộc phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi sông Đào, không được cấp sổ đỏ) Do đó, khi lấy đất để thực hiện dự án, bà Y không được đền bù về đất mà chỉ được đền bù về cây cối, hoa mầu, hỗ trợ là có cơ sở
Tại khoản 2, Điều 49 Luật Đất đai (1988) quy định: Người sử dụng đất được hưởng
thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất được giao, được quyền chuyển, nhượng, bán nhà ở, vật kiến trúc khác, cây lâu năm mà người sử dụng đất có được một cách hợp pháp trên đất được giao (Trường hợp này đất không hợp pháp).
Tại Điều 10 của Nghị định số 30 - HĐBT ngày 23/3/1989 của Hội đồng Bộ trưởng hướng dẫn về việc thi hành Luật đất đai (1988) quy định: Khi sử dụng đất chuyển, nhượng, bán nhà ở, vật kiến trúc khác, cây lâu năm mà người sử dụng đất có được một cách hợp pháp theo quy định tại khoản 2, Điều 49 Luật Đất đai thì UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xét để quyết định việc giao đất cho người được nhận nhà ở, vật kiến trúc khác, cây lâu năm đó, nếu việc sử dụng đất đó thực tế
là hợp pháp và hợp lý
Tại Điều 7 - Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng,
an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, có ghi: “Người bị thu hồi đất không có
một trong các điều kiện theo quy định tại Điều 6 của Nghị định này hoặc tại thời điểm sử dụng đất vi phạm quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt và đã công
bố hoặc vi phạm hành lang bảo vệ công trình, người chiếm dụng đất trái phép, thì khi Nhà nước thu hồi đất không được đền bù thiệt hại về đất Trong trường hợp xét thấy cần hỗ trợ thì UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xem xét quyết định đối với từng trường hợp cụ thể”.
Căn cứ các quy định của Nghị định này, UBND tỉnh Thái Nguyên có Quyết định số 3556/QĐ-UB ngày 14/12/1998 phê duyệt dự toán đền bù, giải phóng mặt bằng dự án nâng cấp, cải tạo Quốc lộ 37 qua huyện Phú Bình Khi thực hiện dự án, Ban bồi thường giải phóng mặt bằng của huyện đối chiếu các quy định hiện hành của Nhà nước, đã thực hiện đền bù và hỗ trợ cho bà Nguyễn Thị Y là 6.743.182 đồng, gồm: đền bù cây cối, hoa màu: 303.182 đồng, hỗ trợ gia đình chính sách (gia đình liệt sỹ): 3.000.000 đồng, hỗ trợ di chuyển tài sản: 3.000.000 đồng, hỗ trợ đời sống cho hai khẩu (bà Nguyễn Thị Y và con gái): 440.000 đồng (3 tháng lương thực/người) Bà Nguyễn Thị Y đã nhận đầy đủ số tiền trên từ tháng 4 năm 1999 Việc
Trang 9đền bù, hỗ trợ như trên là thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với gia đình bà Nguyễn thị Y Bên cạnh đó, xét thấy bà Nguyễn thị Y do phải di chuyển chỗ ở, không có nơi ở khác Huyện ủy, HĐND, UBND huyện quan tâm cấp cho 01 lô đất nhưng bà không chịu nhận, không chịu tháo dỡ nhà, quán bán hàng di chuyển về nơi ở tạm của huyện, mà nhiều lần xây thêm nhà ở trái phép, buộc UBND thị trấn Hương Sơn, UBND huyện phải thực hiện các biện pháp nhắc nhở, ngăn chặn, xử phạt vi phạm hành chính, thậm chí cả việc thực hiện cưỡng chế tháo dỡ công trình xây dựng trái phép cơi nới thêm
Từ khi thực hiện dự án nâng cấp, cải tạo quốc lộ 37 giai đoạn 2006-2009 (lần 2), lãnh đạo UBND thị trấn Hương Sơn, UBND huyện Phú Bình có nhiều buổi tiếp
bà Nguyễn Thị Y để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của bà Các tổ chức đoàn thể của thị trấn, của huyện luôn gặp gỡ, động viên bà Nguyễn Thị Y tháo dỡ nhà quán, giải phóng mặt bằng để huyện bàn giao cho nhà thầu thi công Xét điều kiện bà Nguyễn Thị Y không có đất và nơi ở mới, UBND huyện tiếp tục cấp đất ở (đất UBND huyện cấp lần trước, bà Nguyễn Thị Y không nhận, nên UBND huyện sử dụng vào việc khác) và cùng các tổ chức đoàn thể, vận động xây dựng nhà tình nghĩa cho bà Nguyễn Thị Y Ngôi nhà tình nghĩa mới xây, khang trang hơn hẳn ngôi nhà - quán bán hàng bà Nguyễn Thị Y đang ở Đồng thời, UBND huyện có nhiều văn bản thông báo, đề nghị, yêu cầu bà Nguyễn Thị Y thực hiện giải phóng mặt bằng về nơi ở mới, nhưng bà Y cố tình không thực hiện Việc làm này của bà Y là cố tình không chấp hành chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước
2.1 Nguyên nhân.
Qua tìm hiểu đơn và trực tiếp tìm hiểu hồ sơ vụ việc thì thấy rằng: Việc khiếu nại về đền bù đất đai nêu trên chủ yếu là do các nguyên nhân cơ bản sau:
- Nguyên nhân khách quan:
Do nhận thức của người dân về sở hữu đất đai không đồng nhất với quy định của pháp luật; một số người dân quan niệm rằng đất đai là của Nhà nước, nhưng khi Nhà nước đã giao cho sử dụng ổn định lâu dài thì là của họ Chính vì nhận thức không đúng này nên trong điều kiện kinh tế thị trường, mà đất đai ngày càng trở nên
có giá, thì tình trạng đòi lại đất cũng như đòi đền bù về đất (kể cả đất mượn, đất không hợp pháp) vẫn xảy ra
Luật Đất đai, Bộ Luật Tố tụng dân sự, Luật Khiếu nại tố cáo, Pháp lệnh về thủ
Trang 10tục giải quyết các vụ án hành chính còn chồng chéo, mâu thuẫn, không thống nhất Chính sách, pháp luật về đất đai chưa theo kịp cơ chế kinh tế thị trường, đặc biệt là chính sách tài chính đất đai, chưa điều tiết hoặc đã điều tiết, phân phối nhưng chưa hợp lý phần giá trị tăng thêm mang lại từ đất, khi sử dụng đất cho các dự án đầu tư như trong công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người có đất bị thu hồi
Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai ở địa phương nhìn chung hiệu quả chưa cao, thiếu kịp thời, chưa dứt điểm Việc tuyên truyền pháp luật ở cơ sở chưa tốt, dẫn đến người dân chưa hiểu hết trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của mình Bên cạnh đó, công tác vận động, tuyên truyền của các ban ngành, đoàn thể địa phương đối với công tác bồi thường giải phóng mặt bằng còn hạn chế, chưa vào cuộc thực sự, chỉ coi đó là công việc của Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng của UBND xã và UBND huyện
Bộ máy chính quyền cơ sở, nhất là một số cán bộ chủ chốt có trách nhiệm còn nhiều hạn chế trong việc nghiên cứu văn bản, dẫn đến việc xử lý thiếu trách nhiệm, hậu quả là vụ việc bị kéo dài, khiếu nại vượt cấp
- Nguyên nhân chủ quan:
Có sự bàn bạc, xúi giục của một số người bất mãn, tiêu cực, lợi dụng hoàn cảnh gia đình chính sách, sự nhẹ dạ và lợi ích của người khiếu nại để kích động liên tiếp gửi đơn đến các cơ quan chức năng từ huyện đến tỉnh, nhằm hạ uy tín của chính quyền với nhân dân, gây khó khăn cho việc thực hiện dự án
Người khiếu nại do hiểu biết về pháp luật chưa đúng, nên đã khiếu nại không đúng, nhưng không được giải thích đầy đủ ngay từ cơ sở Cán bộ quản lý hành chính
cơ sở không nắm chắc các quy định của pháp luật, nên đã tự tiện ký văn bản không thuộc thẩm quyền của mình, xác nhận không đúng quy định, gây nhiều khó khăn cho quá trình giải thích và giải quyết vụ việc
Khi đã được giải thích về các chế độ chính sách theo quy định của pháp luật về đất đai, về các văn bản pháp lý có liên quan đến dự án, đối tượng được đền bù, các khoản được đền bù, không được đền bù, giải quyết thoả đáng các yêu cầu người khiếu nại; công dân đã hiểu vấn đề và nhận tiền đền bù, nhưng lại thiếu tinh thần