Luận văn, thạc sĩ, tiến sĩ, khóa luận, cao học, đề tài
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo trường đạI học nông nghiệp I
chu mạnh tuấn
Nghiên cứu ảnh hưởng của dồn điền đổi thửa
đến hiệu quả sử dụng đất của hộ nông dân
ở huyện ứng Hoà, Tỉnh Hà Tây
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và ch−a từng đ−ợc ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ2
đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Chu Mạnh Tuấn
Trang 3Lời cám ơn
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đ2 nhận được sự giúp đỡ, những ý kiến đóng góp, chỉ bảo quý báu của các thầy giáo, cô giáo Khoa Sau Đại học, Khoa Đất và Môi trường -Trường Đại học Nông nghiệp I
Hà Nội
Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn chu đáo, tận tình của TS Nguyễn Khắc Thời là người hướng dẫn trực tiếp tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài và viết luận văn
Trong thời gian nghiên cứu đề tài, tôi đ2 nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ địa chính các x2 Vạn Thái, Liên Bạt, Phương Tú
Tôi cũng nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của UBND huyện ứng Hoà, Phòng Nông nghiệp, Phòng Thống kê, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện ứng Hoà, các phòng ban và nhân dân các x2 của huyện, các anh chị em
và bạn bè đồng nghiệp, sự động viên, tạo mọi điều kiện về vật chất, tinh thần của gia đình và người thân
Với tấm lòng biết ơn, tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu
Tác giả luận văn
Chu Mạnh Tuấn
Trang 4Mục lục
4.3 Tình hình thực hiện chính sách dồn điền đổi thửa trên địa bàn
Trang 54.3.1 Cơ sở pháp lý của việc dồn điền đổi thửa 50
4.4 Những tác động cơ bản sau dồn điền đổi thửa tại địa bàn
4.4.2 Tác động của chính sách dồn điền đổi thửa đến cơ cấu thu
4.4.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất trước và sau dồn điền
4.5 Đề xuất một số giải pháp thực tế nhằm khuyến khích dồn đổi
Trang 6Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
Trang 7danh mục bảng
4.6 Thực trạng manh mún ruộng đất tại các x2 nghiên cứu trước khi
4.8 Đất công ích trước và sau dồn điền đổi thửa của các x2 thuộc địa
4.10 Bình quân diện tích đất nông nghiệp/ khẩu trước và sau dồn điền
4.11 Diện tích đất giao thông, thuỷ lợi trước và sau dồn điền đổi thửa 62
4.14 Tổng hợp tình hình thực hiện chuyển đổi mô hình canh tác tính
4.15 So sánh hiệu quả kinh tế sử dụng đất/ha đất nông nghiệp ở các x2
Trang 84.16 Mức chi phí bình quân cho 1 sào lúa/năm trước và sau dồn điền
4.17 Hiệu quả kinh tế bình quân của mô hình Lúa - cá - thuỷ cầm tại 3
4.19 So sánh hiệu quả sử dụng đất của các mô hình trước và sau dồn
4.21 Mức tăng thu nhập bình quân của các loại hộ trước và sau dồn
Trang 9danh mục biểu đồ
4.2 So sánh giá thầu đất công ích bình quân trước và sau dồn điền
4.3 So sánh sự thay đổi cơ cấu thu nhập của nông hộ trước và sau
4.5 So sánh thu nhập giữa các loại hộ trước và sau dồn điền đổi thửa 81
Trang 101 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình chuyển quyền sử dụng ruộng đất tập thể từ các hợp tác x2 sang các hộ nông dân cá thể với thời hạn sử dụng lâu dài đ2 tạo điều kiện cơ bản để tái thiết lập một nền nông nghiệp dựa vào hộ nông dân hiệu quả hơn Luật Đất đai năm 1993 đ2 thực hiện phương châm công bằng x2 hội chủ yếu bằng cách chia đều ruộng đất tính trên một khẩu cho các gia đình, ruộng xa cũng như ruộng gần Việc thay đổi cơ chế quản lý và sử dụng ruộng đất này
đ2 có tác dụng lớn trong việc khai thác nguồn lực lao động sẵn có ở nông thôn, khuyến khích nông dân sản xuất tăng cường an ninh lương thực đặc biệt
đối với những vùng có bình quân ruộng đất trên đầu người thấp như vùng
đồng bằng Sông Hồng
Tuy nhiên, sự phân chia ruộng đất cho hộ nông dân như trên cũng cho thấy một số hạn chế, điển hình là tình trạng manh mún ruộng đất ở nông thôn Khái niệm manh mún ruộng đất trong nông nghiệp được hiểu trên hai khía cạnh: Một là sự manh mún về ô thửa đối với một đơn vị sản xuất (thường là nông hộ), một hộ có nhiều thửa ruộng với kích thước một thửa thường tương
đối nhỏ Hai là sự manh mún thể hiện về quy mô đất đai trên một đơn vị sản xuất, diện tích ruộng đất quá nhỏ không tương thích với số lượng lao động và các yếu tố sản xuất khác Cả hai kiểu manh mún này đều dẫn đến tình trạng chung là hiệu quả sản xuất thấp, hạn chế khả năng đổi mới và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, ứng dụng các quy trình tiến bộ kỹ thuật đồng nhất của một loại hình canh tác nào đó trong sản xuất Ngoài ra tình trạng manh mún ruộng đất còn gây nên những khó khăn trong quy hoạch, quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất
ở Việt Nam, tình trạng manh mún ruộng đất diễn ra khá phổ biến, đặc
Trang 11biệt là ở đồng bằng Sông Hồng, nơi mật độ dân số rất cao trên 1.100 người/ 1km2 Vì vậy, cần phải tìm giải pháp để giải quyết cả hai kiểu manh mún đ2
đề cập trên Tuy nhiên, việc khắc phục tình trạng manh mún đất thông qua tăng quy mô đất đai cho một đơn vị sản xuất (hộ nông dân) tương đối phức tạp, liên quan đến nhiều vấn đề như khả năng rút lao động ra khỏi nông nghiệp, chiến lược phát triển nông nghiệp ở mỗi vùng, vấn đề thể chế ruộng
đất… Vì vậy, có thể khắc phục tình trạng manh mún về ô thửa bằng cách dồn
điền đổi thửa mà một số địa phương đ2 và đang làm
Trên thực tế, khái niệm dồn điền đổi thửa xuất hiện ngay từ khi chia ruộng đất cho nông dân theo tinh thần Nghị định 64-CP của Chính phủ ngày
27 tháng 9 năm 1993 Huyện Hải Hậu (Nam Định) là một trong những huyện
ý thức được nhược điểm của sự manh mún ô thửa nên đ2 thực hiện đánh giá ruộng đất, quy gọn các vùng trước khi chia cho nông hộ, nên mỗi hộ trung bình chỉ có từ 3 đến 5 thửa ở một số nơi khác như Chương Mỹ (Hà Tây), Văn Giang (Hưng Yên) từ năm 1997, 1998 nông dân đ2 tự bàn bạc để quy vùng
đổi ruộng cho nhau nhằm làm tăng kích thước các ô thửa (trồng một số cây trồng hàng hóa như cây ăn quả, rau…) [9], gần đây phong trào dồn điền đổi thửa phát triển rộng r2i ở đồng bằng Sông Hồng Một số tỉnh đ2 triển khai làm thử, thậm chí đ2 đưa ra các chính sách riêng để triển khai dồn điền đổi thửa giữa các hộ x2 viên
Việc dồn điền đổi thửa đ2 thành công ở nhiều nơi, nhiều chỗ nhưng cũng có nhiều địa phương không thành công Ngay trong một huyện cũng có những x2 thành công và không thành công, thậm chí trong cùng một x2 có thôn làm được, thôn khác không làm được Mặt khác, mức độ thành công ở các địa phương cũng khác nhau Một số nơi tình trạng manh mún về ô thửa cơ bản đ2 được giải quyết Số thửa ruộng trung bình trên hộ đ2 giảm từ 10 thửa xuống còn 2 đến 3 thửa diện tích 1 thửa tăng gấp đôi, gấp ba, nhưng có những
Trang 12nơi số thửa trên hộ hầu như không thay đổi đáng kể sau khi đ2 thực hiện dồn
điền đổi thửa Có nơi công việc thực hiện chỉ diễn ra nhanh chóng trong một vài tháng thậm chí vài tuần, nhưng có nơi kéo dài cả năm gây tốn kém Vì vậy tại sao lại có hiện tượng trên?
Sự bất cập trên có thể do nhiều nguyên nhân, chủ yếu là:
- Việc dồn điền đổi thửa đ2 không tính đến nhu cầu thực tế của nông dân, nhiều nơi còn chủ quan nặng về hình thức Không phải bất cứ sản xuất cây trồng nào cũng dồn ruộng giống nhau, quy mô thửa ruộng chuyển sang trồng vải khác với chuyển sang trồng rau… tóm lại chúng ta còn thiếu nghiên cứu thực tiễn
- Vấn đề ruộng đất là vấn đề phức tạp không đơn giản, không chỉ làm thế nào để tăng hiệu quả kinh tế trên 1 đơn vị diện tích Các mối quan hệ ruộng đất không đơn giản chỉ là mối quan hệ giữa con người với ruộng đất mà của con người với con người thông qua vấn đề ruộng đất Vì thế chính sách ruộng đất luôn phải tính đến vấn đề x2 hội và mối quan hệ giữa các tác nhân khác nhau trong nông thôn
- Chưa chuẩn bị sẵn sàng về con người và phương tiện hỗ trợ Thực tế cho thấy có thể chỉ vì thiếu công khai dân chủ sẽ dẫn đến những hiểu lầm
đáng tiếc làm cản trở công việc Dân chủ trong bàn bạc thảo luận của người dân cần được tôn trọng Cần phát huy tối đa sáng kiến người dân, cần phê phán cách suy nghĩ phiến diện rằng chỉ cần một mô hình, một cách làm duy nhất có thể thực hiện được công tác dồn điền đổi thửa Cần phải có những nghiên cứu nhằm đánh giá và tổng kết lại các kinh nghiệm, những vấn đề tồn tại của các địa phương đ2 thực hiện việc dồn điền đổi thửa Điều này cho phép chúng ta đưa ra những khuyến nghị hữu ích cho các địa phương khác thực hiện Với tất cả những lý do trên, tôi tiến hành đề tài nghiên cứu:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất
của hộ nông dân ở huyện ứng Hoà - tỉnh Hà Tây”
Trang 131.2 Mục đích của đề tài
- Nghiên cứu chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong việc khuyến khích dồn đổi ruộng đất tạo các “thửa lớn” tránh tình trạng manh mún đất đai
và quá trình thực hiện ở huyện ứng Hoà - Tỉnh Hà Tây
- Đánh giá chính sách dồn đổi ruộng đất đến quá trình quản lý đất đai trên địa bàn nghiên cứu
- Đánh giá chính sách dồn đổi ruộng đất đến hiệu quả sử dụng đất của các loại hộ nông dân trên địa bàn nghiên cứu
- Đề xuất các giải pháp thực tế nhằm khuyến khích dồn đổi ruộng đất
để nâng cao hiệu quả sử dụng đất
Trang 142 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
2.1 Tổng quan về chính sách quản lý và sử dụng đất nông nghiệp
2.1.1 Chính sách đất đai ở Việt Nam: Bối cảnh lịch sử phát triển và những thay đổi gần đây
2.1.1.1 Giai đoạn 1945-1981
Lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc và lịch sử phát triển kinh tế của Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ với các vấn đề về sử dụng đất đai Những mâu thuẫn trong chính sách đất đai (vấn đề tiếp cận đất đai, sở hữu và sử dụng
đất đai) đ2 diễn ra trong suốt thời kỳ thuộc địa của thực dân Pháp
Trước ngày khai sinh nước Việt Nam độc lập (năm 1945), đất nông nghiệp được phân chia thành 2 loại chính: Đất sở hữu cộng đồng và đất tư hữu Khu vực nông thôn được phân chia làm 2 tầng lớp dựa trên tính chất sở hữu của đất đai: Địa chủ và tá điền Tầng lớp địa chủ chiếm khoảng 2% tổng dân số nhưng chiếm hữu trên 50% tổng diện tích đất, trong khi đó 59% hộ nông dân là tá điền không có đất và đi làm thuê cho tầng lớp địa chủ Sau năm
1945, Chính phủ đ2 thực hiện phân chia lại ruộng đất và giảm bớt thuế cho nông dân nghèo và tá điền Sau khi kết thúc chiến tranh với thực dân Pháp (năm 1954), miền Bắc thực hiện chương trình cải cách ruộng đất cơ bản Mục
đích là để công hữu hoá ruộng đất của địa chủ người Việt và người Pháp và tiến hành phân chia lại cho hộ nông dân ít đất hoặc không có đất với khẩu hiệu “người cày có ruộng” Giai đoạn tiếp theo của chính sách cải cách ruộng
đất đó là miền Bắc bước sang giai đoạn sở hữu tập thể đất nông nghiệp dưới hình thức hợp tác x2 từng khâu (bậc thấp) và hợp tác x2 toàn phần (bậc cao)
Đến năm 1960, khoảng 86% hộ nông dân và 68% tổng diện tích đất nông nghiệp đ2 vào hợp tác x2 bậc thấp Trong hợp tác x2 này người nông dân vẫn
Trang 15sở hữu đất đai và tư liệu sản xuất ở hình thức hợp tác x2 bậc cao, nông dân góp chung đất đai và các tư liệu sản xuất khác (trâu, bò, gia súc và các công
cụ khác) vào hợp tác x2 dưới sự quản lý chung Từ năm 1961 đến năm 1975
có khoảng 20.000 hợp tác x2 bậc cao ra đời với sự tham gia của khoảng 80%
hộ nông dân ở miền Nam, Chính phủ của chính quyền Sài Gòn cũ thực hiện Chương trình cải cách điền địa dưới một hình thức khác, thông qua việc quản
lý thuê đất: Quy định về mức hạn điền (năm 1956) và Chương trình phân chia lại đất đai (năm 1970) Kết quả là khoảng 1,3 triệu hecta đất nông nghiệp
được phân chia lại cho hơn 1 triệu hộ nông dân vào năm 1970, và quá trình này được biết đến với khẩu hiệu “ruộng đất về tay người cày” và hoàn thành vào cuối năm 1974 Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, Chính phủ Việt Nam tiếp tục phát triển xa hơn nữa theo hướng tập thể hoá ở miền Bắc các hợp tác x2 (HTX) nông nghiệp mở rộng quy mô từ HTX toàn thôn đến HTX toàn x2 ở miền Nam, nông dân vẫn được phép hoạt động dưới hình thức thị trường tự do đến tận năm 1977 – 1978, sau đó cũng từng bước đi theo hướng tập thể hoá Kết quả thực hiện mô hình kinh tế tập thế khác nhau ở các vùng,
cụ thể ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long, chỉ có không đến 6% số hộ nông dân tham gia HTX nông nghiệp Khác với miền Bắc, ở miền Nam hộ nông dân vẫn là đơn vị sản xuất cơ bản mặc dù họ tham gia HTX nông nghiệp Họ sử dụng chung lao động và các nguồn lực sản xuất nhưng họ tự quyết định trong vấn đề sử dụng các đầu vào sản xuất và áp dụng công nghệ Sau năm 1975, nền kinh tế Việt Nam nói chung và nông nghiệp nói riêng phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh để lại, những hậu quả từ những chính sách trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung và thời kỳ kinh tế tập thể trong nông nghiệp Trong thời kỳ sở hữu tập thể trong nông nghiệp, sản xuất giảm do người nông dân thiếu động cơ làm việc, sản lượng nông nghiệp tăng hàng năm ở mức rất thấp 2% Cùng thời điểm này dân số tăng rất nhanh
Trang 16(2,2-2,35%/ năm) đ2 dẫn đến việc phải nhập khẩu bình quân hơn một triệu tấn lương thực mỗi năm trong suốt thời kỳ sau chiến tranh Điều đó đ2 dẫn đến một bộ phận lớn dân số sống trong tình trạng nghèo và đói [13]
2.1.1.2 Giai đoạn 1981-1988
Sự thay đổi cơ chế quản lý và sử dụng đất trong lĩnh vực nông nghiệp bắt đầu bằng Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng hay còn gọi là Khoán 100 Dưới chính sách Khoán 100, các HTX giao đất nông nghiệp đến nhóm và người lao động Những người này có trách nhiệm trong ba khâu của quá trình sản xuất Sản xuất vẫn dưới sự quản lý của HTX, cuối vụ hộ nông dân được trả thu nhập bằng thóc dựa trên sản lượng sản xuất ra và ngày công
đóng góp trong 3 khâu của quá trình sản xuất Đất đai vẫn thuộc sở hữu của Nhà nước và dưới sự quản lý của HTX Mặc dù còn đơn giản nhưng Khoán
100 đ2 trở thành bước đột phá trong quá trình hướng tới nền kinh tế thị trường
Sự ra đời của Khoán 100 đ2 có những ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt đối với sản xuất lúa gạo, tăng 6,3%/ năm trong suốt giai đoạn 1981-1985 Tuy nhiên, sau năm 1985, tăng trưởng trong sản xuất nông nghiệp bắt đầu giảm, cụ thể tốc độ tăng trưởng của tổng sản lượng nông nghiệp trong giai đoạn 1986-88 chỉ là 2,2%/ năm Đầu năm 1988, sản xuất lương thực không đáp ứng được cầu dẫn đến sự thiếu ăn ở 21 tỉnh, thành trên miền Bắc ở miền Nam một loạt các mâu thuẫn cũng gia tăng trong khu vực nông thôn, đặc biệt là mối quan hệ đất đai bởi sự “cào bằng” về phân chia và điều chỉnh đất
đai Điều này hiển nhiên đặt ra yêu cầu một cuộc cải cách mới trong chính sách đất đai Để giải quyết các vấn đề trên, chính sách đổi mới trong nông nghiệp đ2 được thực hiện theo tinh thần của Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị vào tháng 4 năm 1988 Với sự ra đời của Nghị quyết 10 thường được biết đến với tên Khoán 10, người nông dân được giao đất nông nghiệp sử dụng từ 10-
15 năm và lần đầu tiên hộ nông dân được thừa nhận như một đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp Bắt đầu từ thời kỳ này, các tư liệu sản xuất (máy móc,
Trang 17trâu, bò, gia súc và công cụ khác) được sở hữu dưới hình thức cá thể Một khía cạnh khác của chính sách này đó là người nông dân ở miền Nam được giao lại
đất họ đ2 sở hữu trước năm 1975 [13]
Tuy nhiên, cùng với Khoán 10 chưa có luật tương ứng dẫn đến một số quyền sử dụng đất như cho hoặc thừa kế chưa được luật pháp hóa và thừa nhận Một loạt các vấn đề khác nảy sinh liên quan đến sản xuất chẳng hạn như trạm điện, hệ thống giao thông nông thôn, thị trường… mà trước đây thuộc trách nhiệm quản lý của các HTX nông nghiệp Để giải quyết các vấn đề này Luật Đất đai đ2 ra đời năm 1993
2.1.1.3 Sự phát triển của quản lý ruộng đất sau đổi mới
Trong suốt thời kỳ đổi mới, một loạt các chính sách và văn bản luật trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt liên quan đến sử dụng đất
đai đ2 ra đời Những chính sách quan trọng nhất là Luật Đất đai năm 1993, sau đó là Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung năm 1998 và 2001; Luật Đất đai mới năm 2003; Nghị định 64/CP năm 1993 và Nghị định 02/CP năm 1994 về quy
định trong phân bố đất rừng và đất nông nghiệp Bên cạnh đó cũng có một loạt các chính sách liên quan trực tiếp hoặc hỗ trợ gián tiếp đến vấn đề về đất đai Theo Luật Đất đai 1993, hộ nông dân được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài với 5 quyền - quyền chuyển nhượng, quyền chuyển đổi, quyền cho thuê, quyền thừa kế và quyền thế chấp Người có nhu cầu sử dụng được giao đất trong thời hạn 20 năm đối với cây hàng năm, 50 năm đối với cây lâu năm Việc giao đất sẽ được tiến hành lại tại thời điểm cuối chu kỳ giao đất nếu như người sử dụng đất vẫn có nhu cầu sử dụng Luật Đất đai cũng quy định mức hạn điền đối với hộ nông dân, cụ thể đối với cây hàng năm là 2 ha ở miền Bắc
và các tỉnh miền Trung; 3ha đối với các tỉnh phía Nam; đối với cây lâu năm quy định tối đa là 10ha đối với các x2 vùng đồng bằng và 30ha đối với vùng trung du và miền núi [5] Cùng với việc giao đất cho các hộ nông dân thì giấy
Trang 18chứng nhận quyền sử dụng đất cũng được các cơ quan chức năng xem xét và cấp cho các nông hộ Đến năm 1998, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đ2
được cấp cho 71% hộ nông dân, cuối năm 2000 con số này là trên 90% [4]
Đối với đất rừng ở khu vực trung du và miền núi nơi có rất nhiều phong tục tập quán thì việc giao đất phức tạp hơn, quá trình cấp giấy chứng nhận diễn ra chậm hơn và quá trình này vẫn đang được tiếp tục Vào năm 1998, người nông dân được giao thêm 2 quyền sử dụng nữa đó là quyền cho thuê lại và quyền
được góp vốn đầu tư kinh doanh bằng đất đai [6] Năm 2001, những sửa đổi bổ sung Luật Đất đai năm 1993 cho phép người sử dụng được tặng đất đai cho họ hàng, bạn bè của họ và được đền bù nếu bị thu hồi Sự bổ sung này cũng đưa ra một loạt các thay đổi liên quan đến đất đai và thay đổi trong thủ tục đăng ký đất
đai Luật Đất đai mới ra đời thay thế cho Luật Đất đai năm 1993 và các sửa đổi
bổ sung của Luật đất đai được ban hành vào tháng 12 năm 2003 và có hiệu lực
từ tháng 7 năm 2004 Đối với đất nông nghiệp không có sự thay đổi về thời hạn
sử dụng và diện tích hạn điền so với Luật Đất đai năm 1993 Tuy nhiên, lần đầu tiên đất đai được chính thức xem như là “hàng hoá đặc biệt’ có giá trị và chính vì thế có thế chuyển nhượng (thương mại) Luật Đất đai mới vẫn khẳng định
“đất đai là tài sản của Nhà nước” và cũng cho rằng cần có sự khuyến khích đối với thị trường bất động sản bao gồm thị trường các quyền sử dụng đất đối với khu vực thành thị Cá nhân (người nông dân) và các tổ chức kinh tế được quyền tham gia vào thị trường này Những thay đổi trong chính sách đất đai của Việt Nam từ năm 1981 đến nay đ2 góp phần đáng kể trong việc tăng nhanh sản lượng nông nghiệp và phát triển khu vực nông thôn Tổng sản lượng nông nghiệp tăng 6,7%/ năm trong suốt giai đoạn 1994 - 1999 và khoảng 4,6% trong giai đoạn 2000-2003 An toàn lương thực quốc gia không còn là vấn đề nghiêm trọng nữa và nghèo đói đang từng bước được đẩy lùi [2]
2.1.1.4 Quyền sử dụng đất đai ở Việt Nam từ Luật Đất đai năm 1993 đến
2003
Trang 19Các chính sách đất đai liên quan đến việc giao đất và các quyền của người sử dụng đất cho phép sự phát triển của thị trường đất đai Điều đó đ2 mang lại hiệu quả trong việc phân bổ nguồn lực trong điều kiện hiện nay Theo luật pháp của Nhà nước Việt Nam, đất đai là tài sản của toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý với tư cách người đại diện Luật Đất đai mới năm
2003 thừa nhận rằng Chính phủ là “đại diện cho sở hữu toàn dân” Chính vì
đất đai thuộc sở hữu toàn dân nên không thể chuyển quyền sở hữu cho từng cá nhân (hay tổ chức) mặc dù cá nhân hay tổ chức đó (có thể là người nước ngoài – Việt Kiều) có thể sở hữu hoặc chuyển nhượng tài sản trên đất, ví dụ như nhà cửa được xây dựng trên thửa đất đó Các cá nhân (trừ người nước ngoài), hộ nông dân và các tổ chức có thể sử dụng hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng
đất Những chính sách đổi mới trong quản lý đất đai vào năm 1993 với mục
đích giúp người nông dân có được sự đảm bảo trong việc sử dụng đất thông qua việc giao đất nông nghiệp sử dụng ổn định, lâu dài và cung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tuy nhiên, thời hạn giao đất vẫn còn ngắn và vẫn chưa được thay đổi trong Luật Đất đai mới năm 2003 Điều này có thể khiến người dân chưa yên tâm trong việc đầu tư dài hạn trong nông nghiệp Thêm vào đó, tính linh hoạt trong sử dụng đất vẫn bị ràng buộc, cá biệt là sự chuyển đổi sang các loại cây trồng khác trên diện tích đất lúa truyền thống Bằng việc tăng tính đảm bảo chắc chắn cho người sử dụng đất; tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận với các nguồn tín dụng thông qua việc cho phép
họ có quyền thế chấp quyền sử dụng đất và các quyền sử dụng đất được xem xét như những mặt hàng có thể đem ra kinh doanh
2.2 Chính sách dồn điền đổi thửa
2.2.1 Những khái niệm về ruộng đất manh mún
Manh mún đất đai, nghĩa là một hộ nông dân có nhiều thửa ruộng, là một trong những đặc điểm quan trọng của nông nghiệp của nhiều nước, nhất
Trang 20là các nước đang phát triển ở Việt Nam, manh mún đất đai rất phổ biến, đặc biệt ở miền Bắc Theo con số ước tính, toàn quốc có khoảng 75 triệu thửa, trung bình một hộ nông dân có khoảng 7-8 thửa Manh mún đất đai được coi
là một trong những rào cản của phát triển sản xuất hàng hoá trong lĩnh vực nông nghiệp nhất là trồng trọt, cho nên rất nhiều nước đ2 và đang thực hiện chính sách khuyến khích tập trung đất đai, ví dụ như Kenya, Tanzania, Rwanda, Albania, Bulgaria Việt Nam cũng đang thực hiện chính sách này trong mấy năm gần đây Dưới quan điểm kinh tế nếu manh mún đất đai làm cho lao động và các nguồn lực khác phải chi phí nhiều hơn thì việc giảm mức
độ manh mún đất đai sẽ tạo điều kiện để các nguồn lực này được sử dụng ở các ngành khác hiệu quả hơn Như vậy, trên tổng thể nền kinh tế sẽ đạt được lợi ích khi ta giảm mức độ manh mún đất đai
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Tình trạng manh mún ruộng đất xảy ra ở nhiều nơi, ở châu á nói chung
và vùng Đông Nam á nói riêng trong đó có Việt Nam ở Đài Loan sau năm
1949 dân số tăng đột ngột do sự di dân từ lục địa ra Lúc đầu chính quyền Tưởng Giới Thạch thực hiện cải cách ruộng đất theo nguyên tắc phân phối
đồng đều ruộng đất cho nông dân ruộng đất đ2 được trưng thu, tịch thu, mua lại của các địa chủ rồi bán chịu, bán trả dần cho nông dân, tạo điều kiện ra đời các trang trại gia đình quy mô nhỏ Năm 1953, hòn đảo này đ2 có đến 679.000 trang trại với quy mô là 1,29 ha/trang trại Đến năm 1991 số trang trại đ2 lên đến 823.256 với quy mô chỉ còn 1,08 ha/trang trại Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn sau này đòi hỏi phải mở rộng quy mô của các trang trại gia đình nhằm ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm… nhưng do người Đài Loan coi ruộng đất là tiêu chí đánh giá vị trí của họ trong x2 hội nên mặc dù có thị trường nhưng ruộng đất vẫn không được tích tụ (có nhiều người tuy là chủ đất
Trang 21nhưng đ2 chuyển sang làm những nghề phi nông nghiệp) Để giải quyết tình trạng này, năm 1983 Đài Loan công bố Luật Phát triển nông nghiệp trong đó công nhận phương thức sản xuất uỷ thác của các hộ nông dân, có nghĩa là nhà nước công nhận chuyển quyền sở hữu ước tính đ2 có trên 75% số trạng trại
áp dụng phương thức này để mở rộng quy mô ruộng đất sản xuất Ngoài ra để
mở rộng quy mô, các trang trại trong cùng thôn xóm còn tiến hành các hoạt
động hợp tác như làm đất, mua bán chung một số vật tư, sản phẩm nông nghiệp, nhưng không chấp nhận phương thức tập trung ruộng đất, lao động để sản xuất
Đồng bằng Java của Inđônêxia cũng bị manh mún ruộng đất Mật độ dân số ở đây thậm chí còn cao hơn đồng bằng Sông Hồng của Việt Nam Năm
1963, số trang trại có diện tích đất nhỏ hơn 0,5 ha chiếm trên 52% trong tổng
số 7,9 triệu nông hộ, trang trại có từ 0,5 đến 1,0 ha chiếm 27%, chỉ có 0,4% loại trang trại có 4 đến 5 ha Trong khi đó, 40% số trang trại do người làm công quản lý chứ không do chủ đất quản lý Tình trạng này đ2 ảnh hưởng nhiều đến việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật của cuộc cách mạng xanh thời đó
ở Inđônêsia nói riêng và Đông Nam á nói chung có sự gia tăng áp lực dân số trên ruộng đất, nhưng ít xảy ra phân cực giữa các loại nông hộ, các trang trại quy mô lớn đến hàng chục hecta chỉ là cá biệt, mặc dù số nông dân không có ruộng đất vẫn tăng lên Như vậy ruộng đất vẫn không tập trung được vào một
số trang trại lớn mà chỉ được trao đổi giữa các chủ nhỏ Thậm chí, quy mô ruộng đi thuê ở tất cả các nhóm hộ đều giảm xuống Giá ruộng đất (địa tô) vẫn tăng lên, nhưng l2i từ việc đấu tư thêm lao động giảm xuống, làm thay đổi một loạt các thể chế nông thôn, chủ yếu là gia tăng số hộ cho thuê đất Như vậy thị trường ruộng đất đ2 không vận hành hoàn toàn theo nguyên lý kinh tế
Đồng bằng ChaoPhraya của Thái Lan có sức ép về dân số thấp hơn Về
lý thuyết, công nghiệp sẽ rút bớt lao động nông thôn ra thành thị làm cho quy
Trang 22mô ruộng đất nông nghiệp tăng lên Tuy nhiên ở ChaoPhraya cách đây khoảng
120 năm, dân cư vẫn còn thưa thớt, chỉ có khoảng 300 ngàn người trên 2 triệu hecta đất Nhưng sự xuất hiện hàng loạt đô thị khổng lồ ở Băngkok vài chục năm gần đây đ2 làm cho dân số vùng tăng nhanh (bình quân 3% năm) Kể từ năm 1970, đất nông nghiệp giảm trung bình 1% năm Các trang trại bị chia nhỏ khiến quy mô ruộng đất giảm dần, từ 4,8ha/hộ năm 1950 xuống 4,5 ha/hộ năm 1963, 4,1 ha/hộ năm 1978 và 3,5 ha/hộ năm 1993 Quy mô ruộng đất trung bình ở Thái Lan giảm còn do ruộng đất được chia đều cho con cái thừa
kế và công nghệ sản xuất chậm tiến bộ Từ năm 1955 đến 1975, giá nông sản (lúa) giảm khá thấp, công nghệ sản xuất “b2o hoà” không khuyến kích tập trung ruộng đất Trên thực tế, giá nông sản thấp và sự bần cùng hoá của nông dân luôn đi đôi với sự chia nhỏ quy mô sản xuất bởi vì lợi ích đầu tư ruộng đất không cao (thậm chí người dân còn chia nhỏ ruộng đất để đa dạng hoá tránh rủi ro) và người dân cũng không có đủ vốn để đầu tư mua đất
Ngoài ra có một số nghiên cứu khác trong các nước phát triển về quá trình tập trung hay phân hoá quy mô nông hộ trong đó có quy mô ruộng đất Kinh tế quy mô trong nông nghiệp thể hiện ở 2 khía cạnh:
- Sự phù hợp giữa quy mô các nguồn lực (đất đai, đàn gia súc, vốn, lao
động và công nghệ) và khả năng quản lý sử dụng các nguồn lực trong nông
hộ Theo khái niệm này, quy mô kinh tế được mở rộng nhằm hạ giá thành, tăng sức cạnh tranh của nông sản Các chi phí có thể giảm được nhờ tăng quy mô bao gồm: chi phí quản lý nông trại, chi phí áp dụng tiến bộ kỹ thuật, chi phí tư vấn đào tạo… ở châu Âu và các nước phát triển khác, kể từ ngày sau cách mạng nông nghiệp lần thứ 2 cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, một loạt các trang trại nhỏ, manh mún năng suất thấp đ2 bị loại thải, thay vào đó là các trang trại quy mô vừa, năng suất lao động cao Ví dụ ở Pháp năm 1955 có xấp
xỉ 2,3 triệu nông hộ quy mô đất 14 ha/hộ, đến năm 1993 chỉ còn 800 ngàn hộ
Trang 23với quy mô 35 ha/hộ ở Mỹ năm 1950 cả nước có 5,65 triệu hộ với quy mô bình quân 86 ha/hộ đến năm 1992 chỉ còn 1,92 triệu, quy mô 198,9 ha/hộ Tiến trình tích tụ ruộng đất và vốn nhanh chóng của các hộ nông hộ ở Châu
Âu chủ yếu là nhờ thành tựu khoa học công nghệ phát triển trong quá trình cơ giới hoá nông nghiệp của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2
- Sự phù hợp giữa quy mô các thửa thửa (trong trồng trọt) và các đàn gia súc trong quá chăn nuôi với khả năng đầu tư thâm canh và áp dụng hiệu quả tiến bộ khoa học kỹ thuật Phương thức tăng quy mô ô thửa có thể hỗ trợ quá trình đầu tư, thâm canh, cơ giới hoá, qua đó có thể làm tăng hiệu quả sản xuất/đơn vị diện tích Nhưng nhiều ý kiến cho rằng quá trình tập trung thâm canh trên đây chỉ phát huy tác dụng khi sản xuất hàng hoá phát triển Nói cách khác, quy mô của các ô thửa, đàn gia súc… phụ thuộc vào quy mô sản xuất, trình độ sản xuất và khả năng đầu tư nông hộ Trong trường hợp lao động dư thừa nhiều và sản xuất còn nhiều rủi do, người nông dân nhỏ thường cho giải pháp đầu tư vào lao động hơn là vào các nguồn lực khác vì thế họ ít quan tâm
đến DĐĐT Quy mô sản xuất phụ thuộc vào đặc điểm của mỗi loại hình nông
hộ (hộ chăn nuôi hay trồng trọt, hộ trồng nho hay trồng lúa mỳ) và khả năng
áp dụng khoa học công nghệ trong sản xuất … Ví dụ quy mô sản xuất có hiệu quả hiện nay ở Pháp là từ 50 ha đến 100 ha nhưng ở Mỹ (do khả năng cơ giới hoá cao hơn) quy mô nông hộ từ 200 ha đến 300 ha
Ngoài ra cũng cần nhấn mạnh rằng trong điều kiện sản xuất của các nông hộ nhỏ, sự manh mún không phải lúc nào cũng gây khó khăn Trên thực
tế manh mún ruộng đất cũng có ưu điểm nhất định đối với sản xuất nhỏ như: cho phép đa dạng hoá cây trồng, giảm rủi ro sản xuất, khắc phục dư thừa lao
động thời vụ và khắc phục tính phi hiệu quả của thị trường lao động và thị trường đất đai
Tỉnh Sơn Đông của Trung Quốc cũng đ2 thực hiện chương trình DĐĐT
Trang 24từ năm 1988, quy định quy mô tối đa là 2 thửa/hộ, giúp giảm số thửa từ 7,6 thửa/hộ xuống 3,4 thửa/hộ Khả năng áp dụng tiến bộ kỹ thuật tăng từ 6,7 đến 15% so với trước DĐĐT Tuy nhiên, đến năm 1998, đa số nông dân chống đối phong trào này vì DĐĐT không phù hợp với điều kiện và chiến lược phát triển nông hộ Qua kinh nghiệp này, DĐĐT nên dựa vào sự tự nguyện của nông dân
và quá trình điều chỉnh thông qua phi tập trung hoá sẽ có hiệu quả hơn là can thiệp hành chính của nhà nước
Không chỉ Trung Quốc, nhiều nước khác cũng nóng vội, muốn can thiệp hành chính một lần để giảm chi phí giao dịch vì họ cho rằng nếu để hộ
tự làm thông qua thị trường điều chỉnh thì chi phí sẽ rất cao và mất nhiều thời gian Tuy nhiên, việc can thiệp hành chính này không bảo đảm được rằng ruộng đất sẽ không bị chia nhỏ lại sau DĐĐT (bán một phần, chia thừa kế cho con cái…) với việc xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, nhưng chính phủ lại thường thiếu vốn và tốn nhiều thời gian
Theo Macheal Lipton, 2002, nền nông nghiệp các nước đang phát triển châu á được đặc trưng bởi: (1) tỷ lệ lao động nông nghiệp và nông thôn khá lớn và dư thừa, (2) nền nông nghiệp thâm canh sản xuất lương thực đặc biệt là lúa nước dựa chủ yếu vào đầu tư lao động của nông hộ quy mô nhỏ và (3) sự tăng trưởng của khu vực nông nghiệp có tính chất quyết định đến tăng trưởng kinh tế Để xoá đói giảm nghèo cần tạo thêm công ăn việc làm cho lực lượng lao động nông thôn Thành quả của những cuộc đổi mới quản lý ruộng đất thời gian qua đ2 mang lại công ăn việc làm và tạo điều kiện cho các nông hộ nhỏ phát triển kinh tế những nước nghèo Chính về thế, việc tập trung ruộng
đất, phát triển trang trại quy mô lớn và tăng cường cơ giới hoá không hợp lý
có nguy cơ làm tăng thất nghiệp nông thôn, khiến cho thu nhập nông hộ nhỏ tăng chậm Một bộ phận lao động nông nghiệp dư thừa đ2 chuyển vào thành phố nhưng khó phát triển và trở thành người nghèo đô thị, như vậy hiện tượng nghèo chỉ chuyển từ khu vực này sang khu vực khác
Trang 252.2.3 Thực trạng manh mún ruộng đất ở đồng bằng sông hồng
2.2.3.1 Manh mún ruộng đất ở Đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH)
a/ Tình trạng manh mún ruộng đất ở cấp nông hộ
Muốn có được những giải pháp triệt để khắc phục tình trạng manh mún
ở ĐBSH trước hết phải nghiên cứu những đặc điểm của manh mún ruộng đất
và những nguyên nhân gây lên tình trạng này Manh mún ruộng đất ở ĐBSH
là một hiện tượng mang tính lịch sử Tình trạng manh mún thể hiện trên cả 2 góc độ manh mún về ô thửa và bình quân quy mô ruộng đất/hộ gia đình nông dân Vào những năm 30 của thế kỷ trước, ĐBSH đ2 có đến 16,0 triệu thửa ruộng to nhỏ khác nhau Diện tích trung bình mỗi thửa ở tỉnh Bắc Ninh lúc bấy giờ là 680 m2 Nếu tính riêng diện tích phải giành ra làm bờ vùng, bờ thửa thì ĐBSH đ2 mất đi trên 3% diện tích đất canh tác Đến năm 1997, tình trạng manh mún ruộng đất ở ĐBSH vẫn đứng ở vị trí thứ 2 trong 7 vùng sinh thái cả nước, chỉ sau miền núi phía Bắc
ở đồng bằng sông Hồng hiện nay sự manh mún ruộng đất cấp nông hộ thể hiện ở các đặc điểm sau:
- Diện tích canh tác bình quân trên hộ hay trên lao động rất thấp (chỉ khoảng 0,25 ha/hộ)
- Số lượng các hộ có diện tích từ 1ha trở lên không đáng kể (chưa đầy 15%) đa số có diện tích nhỏ hơn 0,50 ha
- Bình quân diện tích canh tác trên hộ và trên khẩu có xu thế giảm do mất đất nông nghiệp và sự gia tăng của dân số nông thôn
Trang 26Bảng 2.1 Thay đổi quy mô đất nông nghiệp ở nông hộ (%)
2001/1994
(Nguồn: Tổng cục Thống kê) [10]
b Tình trạng manh mún về số ô thửa
Như đ2 nêu ở phần đặt vấn đề, tại thời điểm chia ruộng năm 1993 để
đảm bảo công bằng, các hộ nông dân được chia ruộng cao-thấp, xa-gần, xấu khiến ruộng bị phân chia thành rất nhiều loại, hạng đất khác nhau và manh mún rất cao Tình trạng mang mún ở ĐBSH cũng như các vùng kinh tế khác trong cả nước tập trung chủ yếu trên các loại đất trồng cây hàng năm và mức độ manh mún thể hiện ở 2 mặt
tốt-Diện tích/thửa: Với cây lúa, diện tích/thửa có thể diễn biến từ 200 đến
400 m2, cây màu nhỏ hơn 100-200 m2 đặc biệt, cây rau thì rất nhỏ chỉ từ 20 –
50 m2, tỷ lệ thửa có diện tích < 100 m2 chiếm đến 5 - 10% tổng số thửa
Số thửa/hộ: Số hộ có từ 7 đến 10 thửa là phổ biến, thậm chí có nơi lên tới 25 thửa, cá biệt có hộ có 47 thửa (Vĩnh Phúc) Về số thửa/hộ giữa các vùng cũng có sự khác nhau Ví dụ: Nam Định là 5,7 thửa, Hà Nam là 8,3 thửa trong
đó Hải Dương là 11 thửa
Trang 27Bảng 2.2 Mức độ manh mún ruộng đất ở các vùng trong cả nước
(Nguồn: Vụ Đăng ký Đất đai) [14]
Kết quả điều tra của Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp cũng phản
ánh rõ mức độ manh mún đất nông nghiệp ở 7 tỉnh thuộc vùng ĐBSH
Bảng 2.3 Mức độ manh mún ruộng đất ở một số tỉnh vùng ĐBSH
nhất
Trung bình
Nhỏ
Trung bình
Trang 28Kết quả ở bảng 2.3 cho thấy mức độ manh mún ruộng đất thuộc 1 số tình Đồng Bằng sông Hồng rất khác nhau, các tỉnh đông dân, diện tích đất nông nghiệp ít thì mức độ manh mún càng cao và đây cũng là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng các loại cây trồng
2.2.3.2 Các đặc điểm manh mún ruộng đất ở ĐBSH
Hàng thế kỷ trước đây, tình trạng manh mún ruộng đất ở ĐBSH đ2 được miêu tả khá cụ thể, với những đặc điểm như sau:
độ dân số Nói cách khác, không phải ở đâu đông dân thì ở đó ruộng đất manh mún
Thứ hai: Sự manh mún ruộng đất thể hiện sự khác biệt giữa các vùng Dường như ở thượng đồng bằng, đất đai bị xé nhỏ hơn so với các cùng hạ
đồng bằng, hoặc càng ra gần biển, các ô thửa của ruộng càng lớn hơn
Thứ ba: Ngay trong vùng, hiện tượng manh mún cũng không giống nhau; đất trũng ngập nước thường xuyên hay các ruộng ngoài đê, ô thửa ít bị xét nhỏ hơn là ruộng đất cao được đê che chắn Cuối cùng, sự manh mún ruộng đất còn phụ thuộc vào đối tượng quản lý ruộng đất Những nơi tỷ lệ diện tích đất công điền thấp thì mức độ manh mún càng cao Nói cách khác, là
đất đai càng bị tư hữu triệt để thì tình trạng manh mún ô thửa càng lớn
Hiện nay, sự manh mún ruộng đất ở đồng bằng sông Hồng không khác biệt nhiều theo quy mô thu nhập của hộ Số thửa/hộ của các loại hộ trung bình chỉ cao hơn đôi chút so với hộ nghèo và giàu (Bảng 2.4) Sự khác biệt không nhiều một phần là do chính sách chia đều ruộng đất/ khẩu khi chia ruộng năm
1993, phần khác là do thị trường trao đổi mua bán ruộng đất nông nghiệp hoạt
động còn hạn chế
Trang 29Bảng 2.4 Đặc điểm manh mún ruộng đất của các kiểu hộ
đến phương pháp chia ruộng bình quân theo nguyên tắc xuất có tốt có xấu khi thực hiện Nghị định 64CP năm 1994 Việc chia nhỏ các thửa ruộng để có sự công bằng giữa các hộ đ2 góp phần không nhỏ làm tăng tình trạng manh mún ruộng đất ở ĐBSH Quan điểm muốn bảo vệ sự công bằng cho những người dân được chia ruộng và nhiều lý do sau đây khiến đa số các địa phương chia nhỏ ruộng cho nông dân, đó là:
+ Tất cả các hộ đều phải có ruộng gần, tốt, xấu, cao, thấp Có như vậy mới thể hiện tính công bằng
+ Độ phì tự nhiên của đất của các khu khác nhau phải chia đều cho các hộ
Trang 30+ Do hiệu quả kinh tế của các loại sử dụng đất khác nhau nên phải chia
đều đất cho các hộ
+ Các chân đất thường không an toàn do các vấn đề như úng, hạn, chua do đó việc chia đều rủi ro cho các hộ là chỉ tiêu quan trọng trong khi chia ruộng
+ Ngoài ra, giá đất luôn biến động, tăng cao đặc biệt là các khu đất gần các trục đường chính hoặc trong tương lai sẽ nằm trong quy hoạch khu đô thị, khu công nghiệp vì thế đất ở đó phải được chia đều cho các hộ để mọi người
đều có thể hưởng "thành quả" đền bù đất hay cùng chịu "rủi ro"nếu đất đai bị chuyển mục đích sử dụng
2.2.3.4 Những hạn chế của tình trạng manh mún ruộng đất đối với sản
xuất nông nghiệp và quản lý đất ở địa phương
* Hạn chế khả năng áp dụng cơ giới hoá nông nghiệp, không giảm được chi phí lao động đầu vào
* Thửa ruộng quá nhỏ khiến nông dân ít khi nghĩ đến việc đầu tư tiến
bộ kỹ thuật (TBKT) để tăng năng suất Theo họ, đầu tư TBKT có thể giúp tăng năng suất nhưng trên diện tích quá nhỏ thì sản lượng tăng không đáng kể
* Thửa ruộng đ2 nhỏ, nhiều thửa lại phân tán làm tăng rất nhiều công thăm đồng, vận chuyển phân bón và thu hoạch, mặt khác nông dân không muốn trồng cây hàng hoá do phải tăng công bảo vệ
* Quy mô ruộng đất nhỏ làm giảm lợi thế cạnh tranh của một số sản phẩm nông nghiệp trong bối cảnh giá nông sản luôn có xu thế giảm
* Nhiều thửa ruộng dẫn tới l2ng phí đất canh tác do phải làm nhiều bờ ngăn, tính trung bình vùng ĐBSH mất khoảng 2,4% - 4% đất canh tác dùng để
đắp bờ vùng, bờ thửa
* Nhà nước cũng tiết kiệm được một khoản tiền khá lớn cho quá trình lập hồ sơ ruộng đất (ruộng đất manh mún như trước đây chi tăng 30 - 50%)
* Khó khăn trong quản lý đất và không phù hợp với sản xuất hàng hoá
Trang 312.2.4 Cơ sở thực tiễn của việc dồn điền đổi thửa
Việt Nam bắt đầu con đường đổi mới kinh tế của mình bằng vào năm
1986 Mục tiêu của chính sách đổi mới là chuyển nền kinh tế Việt Nam từ mô hình kế hoạch hoá, tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng X2 hội chủ nghĩa Trong lĩnh vực nông nghiệp, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị năm 1988 là bước ngoặt cơ bản Nội dung chính của chính sách này là công nhận hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ, tự do hoá thị trường đầu vào và
đầu ra của sản xuất cũng như các tư liệu sản xuất khác (ngoại trừ đất đai) và giao đất sử dụng ổn định, lâu dài cho người dân Chính sách mới này đ2 dẫn
đến xoá bỏ hợp tác hoá trong nông nghiệp Cũng theo chính sách này, nông dân được giao đất nông nghiệp trong 15 năm và ký hợp đồng sử dụng các đầu vào, sử dụng lao động và sản phẩm mà họ sản xuất ra Các chỉ tiêu trong hợp
đồng được ổn định trong 5 năm Hơn nữa, hầu hết các tư liệu sản xuất (máy móc, trâu bò và các công cụ khác) được coi là sở hữu tư nhân Từ đó, nông nghiệp Việt Nam bước vào một giai đoạn mới tương đối ổn định Tuy nhiên, thời gian giao đất còn quá ngắn và một số quyền sử dụng đất khác chưa được luật pháp hoá Điều này dẫn đến nông dân có thể ít có động cơ đầu tư dài hạn trên đất Luật Đất đai năm 1993 ra đời đ2 giải quyết được những vấn đề nêu trên Theo luật này nông dân được giao đất ổn định và lâu dài Họ được giao 5 quyền sử dụng đất bao gồm: Quyền chuyển nhượng, trao đổi, cho thuê, thừa
kế và thế chấp Nguyên tắc quan trọng nhất trong việc giao đất là duy trì sự công bằng Thông thường ở nhiều nơi trên miền Bắc, đất đai được chia bình quân theo định suất (hoặc bình quân theo nhân khẩu) Những tiêu chuẩn khác cũng được xem xét khi giao đất là các chính sách x2 hội, chất lượng đất, tình hình thuỷ lợi, khoảng cách đến thửa ruộng và khả năng luân canh cây trồng
Đất cây hàng năm ở Việt Nam được chia thành 6 hạng Do đó, để duy trì nguyên tắc công bằng mỗi hộ thường được giao nhiều thửa với nhiều hạng đất khác nhau, ở các cánh đồng khác nhau với chất lượng đất khác nhau Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản tạo ra tình trạng manh mún đất đai ở
Trang 32Việt Nam Nguyên nhân của manh mún đất đai do giao đất nông nghiệp công bằng đ2 được nhiều cơ quan và các nhà nghiên cứu thảo luận và phân tích những năm gần đây Manh mún có nhiều mức độ khác nhau, ở một số vùng tình trạng manh mún có thể nghiêm trọng hơn ở những nơi hoặc vùng khác Theo số liệu của Tổng cục Địa chính năm 1998, bình quân 1 hộ vùng đồng bằng sông Hồng có khoảng 7 thửa trong khi ở vùng núi phía Bắc con số này còn cao hơn từ 10 – 20 thửa Số liệu điều tra từ 42.167 nông hộ ở tỉnh Hưng Yên cho thấy sau khi giao đất năm 1993, trung bình một hộ có 7,6 thửa Vào năm 1998, Chính phủ đ2 đề ra chính sách khuyến khích nông dân đổi ruộng cho nhau để tạo thành những thửa có diện tích lớn hơn Từ đó, các tỉnh trên miền Bắc, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Hồng đ2 thành lập các hội đồng thực hiện thí điểm công tác dồn điền, đổi thửa Theo báo cáo trên toàn quốc khoảng 700 x2 ở 20 tỉnh đ2 và đang thực hiện dồn điền, đổi thửa, tuy nhiên tiến trình vẫn còn rất chậm Trên thực tế ở những vùng này đất đai được chia lại cho các hộ nông dân với mục tiêu là giảm số thửa ruộng Ví dụ: ở tỉnh Thanh Hoá số thửa ruộng đ2 giảm 51% trong 3 năm thực hiện chính sách này (1998 – 2001) Trung bình số thửa ruộng của một hộ đ2 giảm từ 7,8 thửa xuống còn 3,8 thửa Trong các báo cáo gửi Chính phủ và UBND tỉnh, khi rút kinh nghiệm công tác dồn điền, đổi thửa, các địa phương đều đưa ra kết luận công tác dồn điền, đổi thửa nên áp dụng ở những vùng mà manh mún đất đai
đang là vấn đề lớn và không có mâu thuẫn về đất đai Điều đó có nghĩa dồn
điền, đổi thửa không nên dẫn đến những mâu thuẫn mới liên quan đến đất đai Nguyên tắc quan trọng nhất trong dồn điền, đổi thửa là các hộ nông dân tự nguyện đổi đất cho nhau để tạo thành những thửa lớn hơn Tuy nhiên, ở rất nhiều tỉnh quá trình giao lại đất đ2 xảy ra, trong đó các hộ nông dân được tham gia rất ít vào quá trình này, ngoại trừ việc đánh giá chất lượng đất và xác
định hệ số trao đổi giữa các hạng đất Bởi đất đai ở Việt Nam là sở hữu toàn dân, do đó các hộ nông dân cho rằng họ không có quyền tham gia vào quá trình giao lại đất hoặc thảo luận về kế hoạch hoá sử dụng đất [3]
Trang 333 Phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.1 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu vào quá trình dồn điền đổi thửa của
đất sản xuất nông nghiệp trong nhóm đất nông nghiệp của huyện ứng Hoà - Tỉnh Hà Tây
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong việc dồn điền
đổi thửa tạo nên các “thửa lớn” nhằm tạo điều kiện sản xuất tốt nhất cho người
sử dụng đất phát huy hiệu quả đầu tư, chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất
- Nghiên cứu thực trạng công tác dồn điền đổi thửa và những biến đổi trong việc quản lý, sử dụng đất sau khi dồn điền đổi thửa trên địa bàn nghiên cứu bao gồm:
+ Thực trạng manh mún đất đai trước khi dồn đổi ruộng đất
+ Các phương án dồn đổi ruộng đất
+ Qúa trình tổ chức thực hiện dồn đổi ruộng đất
+ Kết quả của việc thực hiện chính sách dồn đổi ruộng đất trên địa bàn
- Nghiên cứu các ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất của các hộ nông dân trên địa bàn nghiên cứu, bao gồm:
+ Sự thay đổi cơ cấu sử dụng đất của hộ nông dân
+ Khả năng phát huy cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất
+ Khả năng tăng diện tích sử dụng của các hộ nông dân sau khi tạo nên các thửa đất lớn
Trang 34- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sau khi thực hiện quá trình dồn đổi ruộng đất của các hộ nông dân trên cơ sở các chỉ tiêu về hiệu quả của các loại hình sử dụng đất đặc trưng trên địa bàn nghiên cứu
- Đề xuất các giải pháp nhằm khuyến khích dồn điền đổi thửa để nâng cao hiệu quả sử dụng đất của hộ nông dân
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Chọn điểm nghiên cứu
Chọn điểm nghiên cứu là vấn đề hết sức quan trọng, nó ảnh hưởng đến tính chính xác, khách quan và tính thực tiễn của kết quả nghiên cứu Việc chọn điểm nghiên cứu bao gồm chọn vùng, chọn x2 và chọn hộ nghiên cứu a/ Chọn vùng nghiên cứu: Theo kết quả phân vùng sinh thái và kinh tế của một huyện, kết hợp với việc nghiên cứu tài liệu liên quan của tỉnh Hà Tây và huyện ứng Hoà, địa bàn nghiên cứu được chia làm 03 vùng sinh thái, vùng ven sông Đáy, vùng cao và vùng trũng (khái niệm cao và trũng chỉ mang tính tương đối của vùng nghiên cứu)
* Vùng ven sông Đáy gồm 12 x2: Viên An, Viên Nội, Cao Thành, Sơn Công,
Đồng Tiến, Vạn Thái, Hoà Xá, Hoà Phú, Hoà Nam, Phù Lưu, Lưu Hoàng, Hồng Quang là các x2 nằm dọc bên bờ sông Đáy, vùng này chủ yếu là thâm canh rau màu (ngô sớm, đậu tương), cây ăn quả và cây lúa
* Vùng cao gồm 6 x2: Quảng Phú Cầu, Trường Thịnh, Hoa Sơn, Liên Bạt, Thị trấn Vân Đình, Tảo Dương Văn là các x2 nằm ở phía Bắc của huyện ứng Hoà, thuộc dải đất cao kéo dài từ huyện Thanh Oai xuống Có địa hình tương đối cao so với các x2 khác trong huyện, vùng này chủ yếu thâm canh lúa
* Vùng trũng gồm 11 x2: Phương Tú, Đội Bình, Trung Tú, Đồng Tân, Minh
Đức, Kim Đường, Đại Hùng, Đại Cường, Đông Lỗ, Hoà Lâm, Trầm Lộng,
đây là vùng được coi là “rốn” nước của tỉnh Hà Tây, có độ cao thấp hơn mực
Trang 35nước biển 0,5m, thường xuyên bị ngập lụt trong mùa mưa b2o Do điều kiện
địa hình vàn thấp và trũng, không được phù sa bồi đắp hàng năm nên đất đai
có độ chua cao, trồng trọt thường là 2 vụ lúa và 1 vụ đông
Ba vùng sinh thái này có sự khác biệt tương đối rõ rệt về điều kiện đất
đai, cơ cấu cây trồng, vật nuôi do vậy để đảm bảo cho nhu cầu nghiên cứu,
điểm được chọn phải bao gồm đại diện các vùng sinh thái kinh tế trong huyện b- Chọn x nghiên cứu: Việc chọn x2 nghiên cứu phải đảm bảo theo yêu cầu như trên đ2 phân tích và đủ các tiêu chuẩn như sau:
+ Đại diện và theo tỷ trọng các x2 trong vùng sinh thái, kinh tế của huyện
+ Quỹ đất nông nghiệp ở mức trung bình khá so với các x2 trong vùng + Có điều kiện sản xuất, mức độ kinh tế, trình độ dân trí ở mức trung bình
Kết quả là 3 x2 đại diện theo các vùng sinh thái và kinh tế trong huyện
được chọn cụ thể như sau: Vùng ven sông đáy là x2 Vạn Thái, vùng cao là Liên Bạt, vùng trũng là Phương Tú
c- Chọn hộ nghiên cứu:
Đây là bước cuối cùng trong quá trình chọn điểm nghiên cứu, hộ nghiên cứu phải nằm trong các x2 được chọn, mang tính đại diện cho các hộ trong vùng
Quá trình chọn các hộ điều tra được dựa vào điều kiện kinh tế (khá, trung bình, nghèo), điều kiện đất đai và quy mô sản xuất của nông hộ (nhiều, trung bình và ít) Sau đó các hộ được chọn một cách ngẫu nhiên theo tỷ lệ các loại hộ và danh sách hộ trong từng x2 Mỗi x2 thường chọn từ 2-3 thôn tương
đối đại diện để lựa chọn các hộ điều tra, tìm hiểu tình hình sử dụng đất nông nghiệp
Trang 363.3.2 Phương pháp thu thập thông tin
- Thu thập thông tin số liệu thứ cấp:
Thông tin số liệu thứ cấp: Đó là những thông tin số liệu có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình nghiên cứu của đề tài đ2 được công bố chính thức ở các cấp, ngành Thông tin số liệu chủ yếu bao gồm: Các kết quả nghiên cứu có liên quan đ2 tiến hành trước đó, thông tin số liệu liên quan đến tình hình sử dụng đất nông nghiệp, các chính sách đầu tư khuyến khích phát triển sản xuất, kết quả sản xuất nông nghiệp và các thông tin số liệu khác
- Thu thập thông tin sơ cấp:
Thông tin số liệu sơ cấp là: Thông tin số liệu chưa được công bố chính thức trong từng nông hộ, nó phản ánh một cách toàn diện đời sống kinh tế văn hoá x2 hội, đặc biệt là vấn đề sử dụng đất đai và các vấn đề khác có liên quan
Thông tin số liệu sơ cấp được thu thập từ các nguồn chủ yếu sau:
+ Các hộ nông dân trong và ngoài vùng nghiên cứu
+ Các cá nhân có kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lĩnh vực sử dụng đất
+ Thị trường nông thôn từ các tổ chức dịch vụ và cung ứng vật tư sản phẩm có liên quan cùng các cá nhân và tổ chức khác
Để thu thập được thông tin số liệu sơ cấp: Đề tài sử dụng các phương pháp khác nhau trong quá trình thực hiện, cụ thể như:
+ Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA): Thông qua việc đi thực địa để quan sát thực tế, phỏng vấn các cán bộ nông dân cơ sở tại địa phương để thu thập những thông tin số liệu liên quan đến tình hình đời sống
và sản xuất nông nghiệp
+ Phương pháp điều tra phỏng vấn hộ nông dân: Công việc này được
Trang 37tiến hành sau khi đ2 lựa chọn được các hộ nông dân trong mỗi thôn, x2
Mục đích của điều tra phỏng vấn hộ nông dân là nhằm thu thập các thông tin số liệu về tình hình đời sống, sản xuất cũng như các vấn đề liên quan như chính sách, đất đai, lao động việc làm, khó khăn trong sản xuất, mô hình phương hướng sử dụng đất trong hiện tại và tương lai của từng hộ nông dân ở
điểm nghiên cứu
Điều tra phỏng vấn trực tiếp các hộ nông dân với bộ câu hỏi đ2 được chuẩn bị trước
Thông tin số liệu sơ cấp được sử dụng chủ yếu đánh giá thực trạng sử dụng đất trong từng nhóm hộ, từng loại đất, loại cây trồng
3.3.3 Phương pháp xử lý, tổng hợp thông tin, số liệu
Các thông tin, số liệu thứ cấp: Sau khi được thu thập, toàn bộ các thông tin số liệu được kiểm tra ở 3 khía cạnh đầy đủ, chính xác, kịp thời và khẳng
định độ tin cậy Sau đó xử lý tính toán phản ánh thông qua các bảng thống kê,
đồ thị để so sánh, đánh giá và rút ra kết luận cần thiết
Các thông tin, số liệu sơ cấp: Toàn bộ thông tin số liệu đều được xử lý
và dùng chương trình phần mềm EXCEL là công cụ chủ yếu để tính toán, xử
lý, tổng hợp và phân tích thông tin số liệu dựa vào những chỉ tiêu cụ thể nhằm
đạt được mục đích nghiên cứu đề ra Trong quá trình xử lý số liệu, phương pháp phân tổ thống kê được coi là phương pháp chủ đạo để đánh giá phân tích,
so sánh và rút ra những kết luận cần thiết trong quá trình nghiên cứu
3.3.4 Phương pháp minh hoạ bằng bản đồ
Sử dụng phần mềm Microstation để xây dùng bản đồ, sơ đồ vị trí khu vực nghiên cứu
Trang 384 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
4.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện ứng Hoà nằm ở phía Nam của tỉnh Hà Tây, có toạ độ địa lý;
20038’ đến 20043’ vĩ độ Bắc và từ 1050 54’ đến 1050 49’ kinh độ Đông Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện năm 2006 là 18.371,33 ha, có đường ranh giới giáp với các địa phương:
- Phía Bắc giáp huyện Chương Mỹ và Thanh Oai
- Phía Đông giáp huyện Phú Xuyên
- Phía Nam giáp huyện Kim Bảng (Tỉnh Hà Nam)
- Phía Tây giáp huyện Mỹ Đức
Toàn huyện có 28 x2 và 01 thị trấn Vân Đình ứng Hoà có vị trí thuận lợi là nằm trên đường 21B, cách thị x2 Hà Đông 30 km về phía Bắc và cách khu du lịch Chùa Hương 12 km về phía Nam Huyện có tỉnh lộ 428, tỉnh lộ 78
đi qua và các đường liên huyện, liên x2 tạo cơ hội để giao lưu với thị trường bên ngoài tiếp cận với tiến bô khoa học kỹ thuật Có hai con sông chảy qua huyện: sông Đáy ở phía Tây Nam và sông Nhuệ ở phía Đông Nam cùng với sông đào Vân Đình là nguồn cung cấp nước chủ yếu để phát triển một nền nông nghiệp đa dạng, hiệu quả và bền vững
4.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Địa hình thuộc dạng địa hình đồng bằng, có độ dốc từ phía Bắc xuống phía Nam, từ phía Tây sang phía Đông Độ cao so với mực nước biển trung
Trang 39bình đạt ữ 1,6m, nơi cao nhất +4m, nơi thấp nhất +0,6m Theo đặc điểm địa hình, l2nh thổ Huyện ứng Hoà có thể được chia thành 3 vùng:
- Vùng ven sông Đáy gồm 12 x2: Viên An, Viên Nội, Cao Thành, Sơn Công, Đồng Tiến, Vạn Thái, Hoà Xá, Hoà Phú, Hoà Nam, Phù Lưu, Lưu Hoàng, Hồng Quang là các x2 nằm dọc bên bờ sông Đáy, vùng này chủ yếu là thâm canh rau màu (ngô sớm, đậu tương) và cây ăn quả và cây lúa
- Vùng cao gồm 6 x2: Quảng Phú Cầu, Trường Thịnh, Hoa Sơn, Liên Bạt, Thị trấn Vân Đình, Tảo Dương Văn là các x2 nằm ở phía Bắc của huyện ứng Hoà, thuộc dải đất cao kéo dài từ huyện Thanh Oai xuống Có địa hình tương
đối cao so với các x2 khác trong huyện, vùng này chủ yếu thâm canh lúa
- Vùng trũng gồm 11 x2: Phương Tú, Đội Bình, Trung Tú, Đồng Tân, Minh Đức, Kim Đường, Đại Hùng, Đại Cường, Đông Lỗ, Hoà Lâm, Trầm Lộng, đây là vùng được coi là “rốn” nước của tỉnh Hà Tây, có độ cao thấp hơn mực nước biển 0,5m, thường xuyên bị ngập lụt trong mùa mưa b2o Do điều kiện địa hình vàn thấp và trũng, không được phù sa bồi đắp hàng năm nên đất
đai có độ chua cao, trồng trọt thường là 2 vụ lúa và 1 vụ đông
4.1.1.3 Khí hậu
Huyện ứng Hoà chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa nên hình thành 4 mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu, đông Mùa xuân, hè thì ẩm ướt, nắng nóng
và mưa nhiều, thu đông khí hậu khô hanh, rét lạnh và ít mưa
- Chế độ nhiệt: Nhiệt trung bình tháng trong năm dao động từ 16,0 đến 29,00C (trạm Ba Thá) Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, thời tiết lạnh và khô Tháng lạnh nhất là tháng 1 và tháng 2 Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình tháng thường trên 230C, tháng nóng nhất là tháng 7
- Chế độ ẩm: Độ ẩm tương đối trung bình từ 83% - 86% Tháng có đô
Trang 40ẩm trung bình cao nhất là tháng 3 và tháng 4 độ ẩm lên tới 88%, các tháng có
độ ẩm trung bình thấp nhất là tháng 11, tháng 12 (80 – 81%)
- Chế độ gió: Gió theo mùa, mùa đông thường là gió Đông Bắc Mùa hè thường là Đông Nam B2o úng thường xảy ra vào tháng 5 đến tháng 9 trong năm
- Chế độ bức xạ: Nằm trong vùng mang tính chất chung của vùng đồng bằng Bắc Bộ, hàng năm có từ 120 – 140 ngày nắng Số giờ nắng trong năm từ 1.163 giờ đến 1.867 giờ Số giờ nắng thường xuất hiện nhiều đợt không có nắng kéo dài 2 – 5 ngày Tháng 2, 4 có số giờ nắng thấp nhất, độ ẩm cao sẽ làm phát sinh nhiều dịch bệnh cho cây trồng, vật nuôi
- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình năm 1.900mm, cá biệt năm mưa nhiều nhất đạt 2.200mm (1997) năm ít mưa nhất 1.124mm (1998) Tuy nhiên lượng mưa phân bố không đồng đều theo không gian và thời gian Do hoạt
đông của gió mùa đ2 phân hoá chế độ mưa thành 2 mùa:
+ Mùa mưa: từ tháng 5 đến tháng 10 với lượng mưa trung bình 1.200mm, chiếm 70 - 80% tổng lượng mưa năm Mưa lớn thường tập trung vào các tháng 6,7,8 với lượng mưa xấp xỉ 300mm/tháng
+ Mùa khô: từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa mùa này khoảng 300 - 50mm, chiếm 20 - 30% lương mưa năm Các tháng có lượng mưa ít nhất thường là tháng 12, 1 và 2
4.1.1.4 Các nguồn tài nguyên
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 18.371,33 ha
Trong đó:
+ Đất nông nghiệp: 12.832,89 ha chiếm 69,85%
+ Đất chuyên dùng: 3.193,62 ha chiếm 58,16%