1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của đh1, & NAA, PIX đến một số chỉ tiêu sinh lý và năng suất của giống lạc l14 trên đất bạc màu việt yên bắc giang

86 754 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ảnh hưởng của đh1, & NAA, PIX đến một số chỉ tiêu sinh lý và năng suất của giống lạc L14 trên đất bạc màu Việt Yên Bắc Giang
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Bắc Giang
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Thành phố Bắc Giang
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 909,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, thạc sĩ, tiến sĩ, khóa luận, cao học, đề tài

Trang 1

1 Mở Đầu 1.1 Đặt vấn đề

Cây lạc là một cây thực phẩm có giá trị kinh tế cao ở nước ta và nhiều nước trên thế giới Sản phẩm của cây lạc được nhân dân ta rất ưa chuộng, dễ

sử dụng, có thể dùng trực tiếp ở dạng hạt thô, ép thành dầu làm bánh kẹo đáp ứng nhu cầu tăng thêm chất béo và chất đạm trong bữa ăn hàng ngày Sản phẩm của cây lạc còn là mặt hàng xuất khẩu đem lại ngoại tệ về cho đất nước Cây lạc còn có tác dụng cải tạo đất làm tăng năng suất của các cây trồng khác [2], [14], [39]

Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã có các chủ trương đúng đắn trong việc nghiên cứu và phát triển cây lạc Có rất nhiều tiến bộ mới về phát triển cây lạc của thế giới cũng như của nước ta bước đầu đã được áp dụng có kết quả trên đồng ruộng của nông dân

Mục tiêu phấn đấu của nuớc ta tới năm 2005 đưa diện tích lạc của Việt Nam lên tới 400.000 ha, năng suất 1,5 - 2 tấn/ha; đến năm 2010 diện tích 555.600 ha với sản lượng là 500.000 đến 900.000 tấn Để đạt được mục tiêu

đó, trước hết chúng ta cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu và ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật một cách rộng rãi trong sản xuất

Trong 25 nước trồng lạc ở Châu á, Việt Nam đứng vào hàng thứ 5 về sản lượng nhưng năng suất vẫn ở mức thấp Năng suất lạc bình quân của Việt Nam năm 2002 chỉ bằng 49,32% so với năng suất lạc bình quân của Trung Quốc, nơi có điều kiện tự nhiên cho cây lạc sinh trưởng và phát triển không thuận lợi bằng nước ta[29]

Việt Yên là một huyện trung du của tỉnh Bắc Giang Nhân dân ở đây

có truyền thống lâu đời về sản xuất lạc Nhờ áp dụng những tiến bộ kĩ thuật

về giống lạc mới, che phủ nilon đã góp phần nâng cao năng suất và sản

Trang 2

lượng lạc của Việt Yên Tuy nhiên, ở đây lạc được trồng chủ yếu trên đất bạc mầu nghèo dinh dưỡng cộng với việc nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về sản xuất lạc còn hạn chế, vì thế năng xuất lạc còn thấp Năng suất bình quân của toàn huyện năm 2003 mới chỉ đạt 16,5 tạ/ha, vụ xuân 2004 là 18.1 tạ/ha[29] Trong khi đó năng suất lạc bình quân của cả tỉnh năm 2003

là 16.1 tạ/ha, vụ xuân 2004 là 18,9 tạ/ha[29] Năng suất này chỉ đạt mức năng suất bình quân chung của cả nước niên vụ 2003 (phụ lục 2) Để góp phần làm tăng năng xuất lạc của Việt Yên nói riêng, của Bắc Giang nói chung cần phải đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ

kỹ thuật một cách đồng bộ, trong đó việc nghiên cứu và sử dụng các chế phẩm nông nghiệp vào thâm canh tăng năng suất lạc là rất cần thiết Chính vì vậy mà chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu ảnh hưởng

của ĐH1, α - NAA và PIX đến một số chỉ tiêu sinh lí và năng suất của giống lạc L14 trên đất bạc mầu Việt Yên - Bắc Giang.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu ảnh hưởng của một số chế phẩm đến sinh trưởng, phát triển, đến một số chỉ tiêu sinh lý và năng suất của lạc để lựa chọn công thức ứng dụng làm tăng năng suất, tăng hiệu quả trồng lạc trên đất bạc mầu

Việt Yên – Bắc Giang

1 3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.3.1 ý nghĩa khoa học

Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp dẫn liệu khoa học về một số đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số chỉ tiêu sinh lý của giống lạc L14 khi xử lí các chế phẩm ở các thời điểm khác nhau trên đất bạc màu Việt Yên- Bắc Giang

Trang 3

Dựa trên các kết quả thu được, đánh giá tương quan giữa các chỉ tiêu sinh lý với năng suất, các yếu tố cấu thành năng suất lạc sẽ góp phần đề xuất cơ sở sinh lý của ruộng lạc năng suất cao

1.3.2 ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần xây dựng quy trình sản suất lạc xuân năng suất cao cho vùng đất bạc màu Việt Yên - Bắc Giang Đồng thời có thể tiếp tục nghiên cứu để mở rộng cho các vùng trồng lạc khác

1.4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu trên giống lạc L14, được nhập từ Trung Quốc và tuyển chọn bởi VKHKTNNVN, là giống lạc đang có triển vọng rất tốt ở các vùng trồng lạc của tỉnh Bắc Giang

Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu tại vùng đất bạc màu huyện Việt Yên, nơi có điều kiện thâm canh cao, chủ động tưới tiêu nước, nông dân có truyền thống lâu đời về thâm canh cây lạc

Trang 4

2 Tổng quan tài liệu

2.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và trong nước

2.1.1 Tình hình sản xuất lạc của thế giới [8] [9] [7]

Hiện nay trên thế giới có khoảng trên 100 nước trồng lạc trong đó đứng

đầu là các nước châu á về cả diện tích lẫn sản lượng, tiếp theo là châu Phi, châu Mỹ

Theo thống kê của FAO, trong 50 năm từ 1932 đến 1984, diện tích trồng lạc của thế giới tăng từ 5.073.000 lên 18.478.000ha, tổng sản lượng tăng

từ 4.653.000 tấn lên 19.328.000 tấn Như vậy sản lượng tăng lên 4,15 lần chủ yếu do diện tích trồng lạc tăng lên 3,64 lần vì năng suất tăng rất chậm từ 917 kg/ha lên 1046 kg/ha (13%)

Trong hai thập kỷ cuối thế kỷ 20, sản xuất lạc của nhiều nước trên thế giới đạt được những thành tựu to lớn Cũng theo thống kê của FAO năm 1995/1996 đến 1999/2000, diện tích trồng lạc thế giới đạt 1,36 tấn/ha với tổng sản lượng đạt 28,50 triệu tấn Trong niên vụ 2001 - 2002, diện tích trồng lạc của toàn thế giới đã đạt 22,56 triệu ha, năng suất bình quân đạt 1,49 tấn/ha (tăng 1,3 tạ so với trung bình 5 năm 1995 - 1999) và sản lượng đạt 33,61 triệu tấn Mỹ là nước đứng đầu về năng suất (2,97tấn/ha), Trung Quốc cũng có năng suất tương

Trang 5

tấn/ha, cao hơn 9 tấn so với bình quân của thế giới Trên diện tích 145 ha, năng suất đạt 9,8 tấn/ha trên quy mô hàng trăm ha

Gần đây, tại Viện Quốc tế nghiên cứu cây trồng vùng nhiệt đới bán khô hạn (ICRISAT) ấn Độ đã thông báo sự khác biệt giữa năng suất lạc trên các trạm, trại nghiên cứu và năng suất lạc trên đồng ruộng của nông dân là từ

4 đến 5 tấn/ ha Trong khi năng suất của một số cây ngũ cốc như lúa mì và lúa nước đã gần đạt tới kịch trần và có xu hướng giảm dần ở nhiều vùng trên thế giới thì năng suất lạc còn khác rất xa so với tiềm năng Thực tế này gợi mở khả năng nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất lạc trên cơ sở áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất để khai thác tiềm năng Chiến lược này đã áp dụng thành công ở nhiều nước và trở thành bài học kinh nghiệm trong phát triển sản xuất lạc của thế giới

ấn Độ là nước có diện tích trồng lạc lớn nhất thế giới nhưng năng suất lại thấp nhất (chỉ đạt 0,96 tấn /ha) Diện tích trồng lạc của ấn Độ là 8,2 triệu ha, sản lượng đạt 7,8 triệu tấn, đã thực hiện chương trình phát triển và chuyển giao tiến

bộ kỹ thuật trồng lạc nhằm giải quyết tự túc dầu ăn cho đất nước từ những năm

1980

Trung Quốc là nước đứng thứ hai sau ấn Độ về diện tích trồng lạc (4,9 triệu ha), năng suất bình quân là 2,96 tạ/ha, sản lượng lạc lớn nhất thế giới (14,5 triệu tấn) Trung Quốc là nước đạt được nhiều thành tựu nhất trong phát triển sản xuất lạc, đặc biệt trong thập kỷ 90 vừa qua Vào những năm 1960, năng suất lạc của Trung Quốc chỉ đạt 1,14 tấn/ ha, năm 1970 là 1,21 tấn/ha năm 1980 là 1,78 tấn/ha Còn vào những năm 1990 năng suất trung bình đạt 2,5 tấn/ha, năm 1994

đạt 2,69 tấn/ha, năm 2001 đạt 2,69 tấn/ha Tỉnh Sơn Đông là nơi có diện tích trồng lạc lớn nhất Trung Quốc, chiếm 23% diện tích và 33,3% tổng sản lượng lạc toàn quốc Năng suất trung bình lạc ở Sơn Đông cao hơn năng suất lạc của cả nước là 34% Các nhà khoa học của Trung Quốc và thế giới đã khẳng định rằng

Trang 6

thành tựu nói trên đạt được là nhờ chiến lược đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trồng lạc nhằm phát huy tiềm năng to lớn của cây trồng này trong sản xuất

Trung Quốc là nước đặc biệt quan tâm đến công tác nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong nhiều năm qua Có tới 60 Viện, Trường, Trung tâm nghiên cứu của Trung Quốc triển khai các hướng nghiên cứu trên cây lạc Trong giai đoạn từ 1982- 1995 đã có tới 82 giống mới có nhiều ưu điểm được chọn tạo và đưa vào sản xuất đại trà Cũng thời gian này, nhiều biện pháp kỹ thuật đó là cày sâu, bón phân cân đối, mật độ gieo hợp lý, phòng trừ sâu bệnh;

Đặc biệt là biện pháp che phủ nilon nhằm hạn chế bốc hơi nước, chống hạn, giảm tưới, chống cỏ dại và một số sâu bệnh hại được coi là cuộc "cách mạng trắng" góp phần tăng năng suất, sản lượng lạc của Trung Quốc Trong những năm tới, chiến lược phát triển sản xuất lạc của Trung Quốc là ổn định diện tích 4,2 triệu ha/năm, phấn đấu đưa năng suất đạt trên 3 tấn/ha, sản lượng 13 triệu tấn/năm trên cơ sở tiếp tục nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ mới

Achentina cũng là một nước có nhiều thành công trong nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật để phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất lạc

Từ năm 1982 nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất được tăng cường Đến năm 1991, năng suất bình quân của Achentina đã đạt 2,0 tấn/ha, cao gấp hai lần so với năm 1980 Achentina đã trở thành quốc gia xuất khẩu lạc đứng hàng thứ 3 thế giới sau Mỹ và Trung Quốc, mặc dù diện tích trồng lạc của nước này không lớn, chỉ khoảng 180.000 ha/năm

Hàn Quốc là nước khá nổi tiếng ở châu á có đầu tư cao trong nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật cho cây lạc Nhờ kết hợp giống mới và biện pháp kỹ thuật canh tác, đặc biệt kỹ thuật che phủ nilon, đến đầu năm 1990 năng suất lạc của Hàn Quốc đã tăng gấp 4 lần so với năm 1960 Hiện nay trên

Trang 7

những nông trại lớn của Hàn Quốc có sử dụng giống mới và kỹ thuật tiến bộ, năng suất lạc đạt trên 6 tấn/ha

Tóm lại, tất cả các nước đã thành công trong việc phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lạc đều rất trú trọng đầu tư cho công tác nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất Tiềm năng

to lớn của sản xuất cây lạc chỉ có thể phát huy thông qua việc áp dụng rộng rãi tiến bộ kỹ thuật trên đồng ruộng

2.1.2 Tình hình sản xuất lạc của Việt Nam và Bắc Giang [4][5][8]

[26] [40]

Việt Nam đứng hàng thứ 5 trong số 25 nước trồng lạc ở Châu á và lạc

là một trong 10 mặt hàng suất khẩu quan trọng thu ngoại tệ của nước ta[8] Cho tới nay, lạc được trồng khá phổ biến ở mọi nơi trong nước Diện tích trồng lạc chiếm gần 40% tổng diện tích gieo trồng các cây công nghiệp ngắn ngày Tốc độ tăng trưởng diện tích, năng suất và sản lượng ở các giai đoạn như sau:

+ Giai đoạn từ năm 1975 đến 1989 là giai đoạn mở rộng diện tích Trong năm 1975, diện tích lạc là 68 ngàn ha, năng suất là 950 kg/ha, sản lượng là 64,6 ngàn tấn Đầu những năm 1980, diện tích lạc đã là 106,1 ngàn

ha Đến cuối thập niên 80 của thế kỷ XX diện tích lạc đã lên tới 201,4 ngàn

ha Trong giai đoạn này, sản lượng đã tăng 8,62%/ năm, chủ yếu là do tăng diện tích 8,33%/ năm, năng suất tăng chậm chỉ đạt xấp xỉ 0,22%/ năm

+ Giai đoạn 1990 - 1998 có tốc độ tăng năng suất đạt 3,8 %/ năm, cao hơn tốc độ tăng diện tích 3,7%, sản lượng tăng 7,7% năm Năm 1990 là năm

đầu tiên năng suất lạc Việt Nam vượt ngưỡng 1,0 tấn/ha [6] Năng suất lạc tăng là do trong những năm 1990 đến nay công tác nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trồng lạc của chúng ta đã được quan tâm hơn trước Thông

Trang 8

qua chương trình hợp tác với ICRISAT và mạng lưới đậu đỗ, cây cốc Châu á (CLAN), Việt Nam đã tiếp cận và học hỏi được nhiều kinh nghiệm quý báu về nghiên cứu, phát triển sản xuất lạc của thế giới và trong khu vực Các yếu tố hạn chế chính đối với sản xuất lạc ở nước ta đã được xác định, từ đó có các hướng nghiên cứu để khắc phục Thí dụ, để khắc phục tình trạng thiếu tro dừa bón cho lạc ở vùng Đông Nam Bộ,Viện cây có dầu đã nghiên cứu đề xuất chế phẩm thay thế tro dừa (ACA) vừa tiện lợi cho sử dụng, giá thành sản xuất hạ 6%, lại vừa tăng năng suất và phẩm chất lạc Một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc đã được áp dụng như bón NPK cân đối, mật độ gieo thích hợp, che phủ nilon Đặc biệt đã chọn lọc ra giống lạc kháng bệnh héo xanh vi khuẩn là MD7, các giống lạc thích hợp cho vùng thâm canh cao như L02, LVT, L14, L15 Nhiều mô hình thâm canh lạc đạt năng suất cao trên 3 tấn/ha đã được trình diễn trên đồng ruộng của nông dân ở nhiều địa phương

+ Đến năm 2002, diện tích lạc cả nước đạt 247,6 ngàn ha với năng suất

đạt được 16,1 tạ/ha và sản lượng đạt tới 397 ngàn tấn, cao nhất từ trước tới nay

2.1.3 Một số đặc điểm sinh lý và sinh thái của cây lạc

2.1.3.1 Yêu cầu đối với điều kiện ngoại cảnh

Nhiệt độ: Nhiệt độ là yếu tố ngoại cảnh chủ yếu có tương quan đến

thời gian sinh trưởng của cây lạc [8] [25] [39] Là cây trồng nhiệt đới, lạc thích ứng với khí hậu nóng Nhiệt độ trung bình thích hợp cho suốt chu kỳ sống cây lạc khoảng 25 - 300C, thay đổi tùy theo giai đoạn sinh trưởng của cây Tích ôn hữu hiệu của lạc 2600 - 48000C thay đổi tùy theo giống Nhiệt độ

là một trong hai yếu tố chính ảnh hưởng đến sự nảy mầm, mọc và tốc độ sinh trưởng ban đầu của cây con [2]

Trang 9

Thời kỳ nảy mầm cần tích ôn 250 - 3200C, nhiệt độ trung bình thích hợp 25 - 300C Tốc độ nảy mầm nhanh nhất ở nhiệt độ 32 - 340C Nhiệt độ đất dưới 180C làm cho cây con mọc chậm [53] Hạt có thể chết ở 50C mặc dù trong thời gian rất ngắn Hạt mất sức nảy mầm ở nhiệt độ đất 540C Tuy nhiên lạc có khả năng thích ứng với nhiều vùng địa lý vì chu kỳ sinh trưởng ngắn và các giống khác nhau có phản ứng với nhiệt độ khác nhau

Thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng, yêu cầu tổng tích ôn 700 - 10000C

Nhiệt độ trung bình 20 -300C Nhiệt độ tối thích trung bình trong thời kỳ này

là 250C ở nhiệt độ này, các quá trình sinh trưởng dinh dưỡng tiến hành thuận lợi, nhất là sự phân cành và phát triển bộ rễ Thời gian trước ra hoa của lạc

được kéo dài thích hợp khoảng 30 - 35 ngày ở nhiệt độ trung bình 25 - 280C

ở điều kiện này khả năng tích lũy chất khô ở các bộ phận dinh dưỡng được thuận lợi, tạo tiền đề cho sự hình thành và phát triển các cơ quan sinh sản ở giai đoạn sau Nhiệt độ tối thích cho sinh trưởng dinh dưỡng của lạc khoảng

27 - 300C tùy thuộc vào giống [45] Nhiệt độ không khí quá cao (30 - 350C) rút ngắn thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng làm giảm chất khô tích lũy và giảm

số hoa trên cây, do đó làm giảm số quả và trọng lượng hạt

Thời kỳ sinh trưởng sinh thực, yêu cầu độ nhiệt tương đối cao Thời gian ra hoa, tổng số hoa, tỷ lệ thụ tinh phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ của thời

kỳ này Theo Gllier (1968) độ nhiệt thuận lợi cho sự ra hoa của lạc là 24

-330C và hệ số hoa có ích cao nhất (21%) đạt được ở độ nhiệt ban ngày 290C, ban đêm 230C [6].Thời kỳ ra hoa kết quả, cây lạc yêu cầu độ nhiệt cao nhất Thời kỳ này chỉ chiếm 1/3 chu kỳ sống của cây lạc nhưng đòi hỏi tích ôn bằng 2/3 tổng tích ôn của cả đời sống cây lạc Nhiệt độ tối thấp sinh học cho sự hình thành các cơ quan sinh thực của cây lạc là 15 - 200C

Quá trình chín cần độ nhiệt thấp hơn các thời kỳ trước Độ nhiệt trung bình thích hợp cho thời kỳ này là 25 - 280C Biên độ nhiệt độ ngày đêm thích

Trang 10

hợp nhất cho thời kỳ này là 9 - 100C (ban đêm 190C và ban ngày 280C) Chênh lệch nhiệt độ ban ngày và ban đêm lớn rất có lợi cho sự vận chuyển và tích lũy các chất vào hạt [2] [35]

Độ nhiệt thấp trong quá trình chín (dưới 200C) làm cản trở quá trình vận chuyển các chất vào hạt, nếu thấp dưới 15 - 160C thì quá trình này bị đình chỉ, hạt không chín được Biểu hiện của hiện tượng này là bộ lá xanh kéo dài nhưng hạt không phát triển được, hàm lượng nước trong lá cao, vỏ quả mềm

và gân không nổi rõ Lạc thu trồng muộn và lạc đông dễ xảy ra hiện tượng này làm thời gian sinh trưởng của lạc kéo dài ở thời kỳ sinh trưởng cuối

ánh sáng: Lạc là cây C3 , ánh sáng ảnh hưởng đến cả quang hợp và hô hấp Cây lạc phản ứng mạnh với ánh sáng toàn phần [55] Theo Ono và Ozaki (1971), Pallmas và Samish (1974) cho rằng 60% bức xạ mặt trời trong 60 ngày sau khi mọc là cần thiết cho cây lạc [54] Cường độ ánh sáng thấp vào giai

đoạn ra hoa làm cho sinh trưởng dinh dưỡng chậm lại [49] Cường độ ánh sáng thấp trong giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng làm tăng nhanh chiều cao cây nhưng giảm số hoa và khối lượng lá [48] Theo Hudgens và McCloud (1974) thì sự ra hoa rất nhạy cảm khi cường độ ánh sáng giảm và nếu cường

độ ánh sáng thấp trước thời kỳ ra hoa sẽ gây nên rụng hoa Các tác giả này cũng cho rằng, nếu cường độ ánh sáng thấp ở thời kỳ ra tia, hình thành quả thì làm cho số lượng tia, quả giảm đi một cách có ý nghĩa, đồng thời khối lượng quả cũng giảm theo

Nước: Nước là yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất

lạc Tuy rằng lạc được coi là cây trồng chịu hạn, nhưng trong thực tế, lạc chỉ

có khả năng tương đối chịu hạn ở một số thời kỳ sinh trưởng nhất định Thiếu nước ở một số thời kỳ cần thiết đều ảnh hưởng xấu đến năng suất

Hiện nay trên thế giới có khoảng 90% tổng diện tích trồng lạc không chủ động nước Vì vậy tổng lượng mưa phân bố trong chu kỳ sống của cây lạc

Trang 11

là một trong những yếu tố khí hậu có ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất lạc Năng suất của lạc có thể đạt cao ở khu vực có lượng mưa từ 500

- 1200mm phân phối đều trong cả vụ

Theo John [50], lượng mưa lý tưởng để trồng lạc đạt kết quả tốt là trong khoảng 80-120mm trước khi gieo để dễ dàng làm đất, khoảng 100 -120mm khi gieo để cho lạc mọc mầm tốt và đảm bảo mật độ Lạc chịu hạn nhất vào thời kỳ trước ra hoa, vì vậy nếu có một thời gian khô hạn kéo dài 15 -

30 ngày kích thích cho lạc ra hoa nhiều [57] Lạc mẫn cảm nhất với hạn ở thời

kỳ ra hoa rộ, vì thế lượng mưa cần cho lạc ở thời kỳ từ bắt đầu ra hoa đến khi tia quả đâm xuống đất vào khoảng 200mm và vào khoảng 200mm từ khi quả bắt đầu phát triển đến chín Mưa vào thời kỳ thu hoạch làm cho lạc nảy mầm ngay tại đồng ruộng đối với những giống lạc không có thời gian ngủ nghỉ (Spanish và Vlencia) dẫn đến giảm năng suất và chất lượng hạt

ở nước ta, khí hậu nhìn chung phù hợp với yêu cầu sinh trưởng và phát triển của cây lạc ở các tỉnh phía Bắc, thời vụ trồng lạc chủ yếu từ tháng 2 đến tháng 6, thời vụ sớm có thể gieo vào tháng 1, thời vụ muộn có thể thu hoạch vào tháng 7 Nhìn chung các vùng trồng lạc ở các tỉnh phía Bắc trong vụ xuân

đầu vụ thường hay bị hạn, cuối vụ lại hay gặp mưa lớn kết hợp với nhiệt độ cao (trên, dưới 300C) của tháng 5, 6 nên dễ làm cho thân lá phát triển mạnh vào thời kỳ cuối vụ, gây ảnh hưởng đến năng suất và khó khăn cho thu hoạch

Vụ lạc thu do trồng vào tháng 7, lúc mà nhiệt độ và ẩm độ cao, lượng mưa nhiều do đó việc làm đất gặp nhiều khó khăn Do điều kiện thời tiết vụ thu không thuận lợi, thời gian sinh trưởng giai đoạn đầu bị rút ngắn, ra hoa kết quả gặp mưa, ảnh hưởng đến quá trình hình thành quả nên năng suất thấp (7 -

8 tạ/ ha), hạt nhỏ Hiện nay vụ lạc thu đông đang được phát triển ở một số địa phương có kết quả tốt Gieo hạt cuối tháng 8 đầu tháng 9 thời tiết thuận lợi Giai đoạn gieo đến ra hoa nhiệt độ không cao quá (26 - 270C), độ ẩm lúc này

Trang 12

rất thuận lợi cho cây lạc sinh trưởng sinh dưỡng Giai đoạn ra hoa đâm tia lượng mưa đầy đủ (120 - 160 mm), nhiệt độ thích hợp (23 - 240C) nên thuận lợi cho quá trình hình thành và phát triển của quả Thời kỳ phát triển quả vào tháng 11 chưa phải là lúc hạn gay gắt nhất (lượng mưa trung bình/ tháng 70 -

80 mm), nhiệt độ 22 - 230C Tháng 12, thời kỳ chín nhiệt độ xuống thấp (19

-200C) nên ít ảnh hưởng đến năng suất lạc Tháng 12 cũng là mùa khô nên thu hoạch lạc rất thuận lợi và bảo quản giống dễ dàng [2]

2.1.3.2 Yêu cầu đối với đất

Cây lạc yêu cầu chặt chẽ về điều kiện lý tính đất Theo Yor và Codwell (1952) thì đất trồng lạc lý tưởng phải là đất thoát nước nhanh, có màu sáng, tơi xốp, phù sa pha cát, có đầy đủ canxi và một lượng chất hữu cơ vừa phải Đất tơi xốp, dễ thoát nước là điều kiện thuận lợi cho lạc nảy mầm, để nhanh chóng

đưa hai lá mầm lên khỏi mặt đất và sinh trưởng kết quả tốt Đất bí, quả lạc hô hấp kém làm cho khối lượng quả bị giảm Đất úng nước làm cho bộ rễ sống trong tình trạng yếm khí không cung cấp đủ năng lượng cho quá trình hút nước và hút các chất dinh dưỡng của cây, làm cho sinh trưởng của toàn cây bị chậm lại úng nước chỉ trong vài ngày đủ làm cho lá trở nên vàng do thiếu oxy thích hợp ở vùng rễ, vi khuẩn cố định đạm mất hiệu lực không cung cấp

đạm cố định cho cây Đất nhỏ, tơi xốp còn thuận lợi cho lạc đâm tia, phình quả tốt và thu hoạch dễ dàng, ít bị sót lại trong đất, giảm thiệt hại năng suất

Đất đủ canxi làm cho hạt lạc chín đều

Cây lạc ưa đất hơi chua và trung tính pH = 5,5 - 7,0 (woodroof, 1966)

Đất kiềm không tốt, khi pH = 7,5 - 8,5 lá trở nên vàng và vết đen xuất hiện trên vỏ quả [58] Lạc có thể chịu được pH từ 4,5 - 8 Nhưng theo Reid và Cox [56] không có thông tin nào cho biết lạc đạt năng suất cao trên đất có độ pH<

5 [27]

Trang 13

Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy lạc rất mẫn cảm với đất mặn [59] đã nghiên cứu khả năng chịu mặn của lạc trong điều kiện gây mặn nhân tạo cho thấy: ảnh hưởng của độ mặn đến năng suất là do giảm khối lượng quả và số quả trên cây

Trên thế giới lạc được trồng trên nhiều loại đất khác nhau, điều đó chứng

tỏ khả năng thích ứng rộng của cây lạc đối với các điều kiện về đất đai Nhiều nước như ấn Độ và các nước đang phát triển ở Châu Phi đã trồng lạc trên những vùng đất xấu, đất nhiệt đới khô cằn và bán khô cằn, không được tưới nước do đó đã hạn chế nhiều khả năng năng suất của lạc Tuy nhiên trên những loại đất này lạc là cây cho hiệu quả kinh tế cao hơn các cây trồng khác

Đồng thời lạc còn là cây tiên phong trên đất mới khai phá, đất khô cằn Điều này càng khẳng định khả năng thích ứng rộng của cây lạc với điều kiện

đất đai

Về đất, ở một số vùng trồng lạc truyền thống của miền Bắc là phù hợp Suy xét về một số đặc điểm nổi bật của một số loại đất chính của các vùng chuyên canh lạc như đất cát ven biển Thanh Hóa, Nghệ An, đất bạc màu ở vùng Trung du Bắc Bộ cho thấy đất có thành phần cơ giới nhẹ, giữ nước kém,

ở hầu hết các chân đất này có thể sử dụng nhiều cơ cấu cây trồng khác nhau

và chỉ có những cây trồng có thể tồn tại khi gặp thời kỳ khô hạn [9]

2.1.3.3 Yêu cầu về dinh dưỡng [2] [27] [39]

Cây lạc cũng như các cây trồng khác cần rất nhiều nguyên tố dinh dưỡng, trong đó các nguyên tố đa lượng như N, P và K chiếm hàm lượng lớn Các nguyên tố trung lượng như magiê, lưu huỳnh và các nguyên tố vi lượng

như molipđen, bo, sắt, đồng, kẽm

Vai trò và sự hấp thu của một số nguyên tố dinh dưỡng đối với lạc như sau:

Trang 14

Vai trò và sự hấp thu nitơ (N) là chất cây lạc cần để sinh trưởng và phát dục, là thành phần của axít amin để cấu tạo nên protein, axit nucleic, diệp lục

tố, các loại men và các loại sinh tố Không có nitơ thì không thể hình thành các chất protein và không có protein thì không có sự sống [10] [20] [31] [32] Trong một thời gian khá dài, nhiều tác giả cho rằng lạc phản ứng chậm và không chặt với phân bón nhất là với phân N do sự có mặt của vi sinh vật cộng sinh cố định N Hơn nữa, bộ rễ lạc lại không có lông hút mà nhu mô vỏ trực tiếp hút nước và các nguyên tố dinh dưỡng khoáng, do đó có khả năng hấp thu dinh dưỡng khoáng trong môi trường nghèo.Theo Cornejo (1961) ở Tây Ban Nha nên trồng lạc sau khoai tây và tập trung phân bón cho khoai tây (phân chuồng 60 tấn, supelân 600 kg, kaliclorua 200 - 300 kg) Như vậy vẫn có thể

đạt năng suất lạc (trồng sau khoai tây) là 2,5 - 3,5 tấn/ha ở Mỹ, nhiều vùng trồng lạc cũng cho thấy bón P, K cho bông là cây trồng trước của lạc có hiệu quả hơn bón trực tiếp cho lạc Tuy nhiên trong những năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu phân bón cho lạc đã chỉ ra rằng: Việc bón phân trực tiếp cho lạc là yếu tố kỹ thuật quan trọng để đạt năng suất lạc cao và có hiệu quả kinh tế cao Nhiều tác giả đã thống nhất nhận định:

Trên thế giới, lạc được trồng trên đất nhẹ, có thành phần cơ giới thô, phần lớn các loại đất này thường là đất nghèo dinh dưỡng, hàm lượng mùn thấp Đặc điểm này càng nghiêm trọng đối với các nước nhiệt đới nghèo Những nước này thường trồng lạc trên đất bạc màu, đất nhiệt đới bán khô cằn hàm lượng mùn và dinh dưỡng rất thấp, vì vậy việc bổ sung nguồn dinh dưỡng trực tiếp cho lạc là rất cần thiết

Lạc có vi sinh vật nốt sần cộng sinh cố định N đã cung cấp một số lượng N đáng kể cho cây Tuy nhiên, để đạt năng suất cao, lượng N cố định chỉ cung cấp được 50 - 70% nhu cầu N của lạc Số còn lại lạc phải hấp thu qua

rễ và qua lá thông qua con đường phân bón Không có nguồn N này, lạc

Trang 15

không thể cho năng suất vừa phải Lượng N lạc hấp thu rất lớn, để đạt 1 tấn lạc quả khô, cần sử dụng 50-70 kg N Thời kỳ lạc hấp thu N nhiều nhất là thời

kỳ ra hoa - làm quả và hạt Thời kỳ này chỉ chiếm 1/4 thời gian sinh trưởng của cây nhưng hấp thu tới 40 - 45% nhu cầu N của cả chu kỳ sinh trưởng

Khó khăn lớn nhất đối với vấn đề bón phân, đặc biệt là bón N đối với lạc là quan hệ giữa lượng N cộng sinh và lượng N hấp thu do rễ Giải quyết vấn đề này chỉ có thể là xác định thời kỳ bón, lượng N bón và dạng N sử dụng cùng sự bón cân đối dinh dưỡng để tạo điều kiện tốt nhất cho cây lạc hấp thu dinh dưỡng N [2] [39]

Trong kỹ thuật bón phân cho lạc, lượng và cách sử dụng các loại phân bón có chứa N được tiêu chuẩn hoá như sau:

- Phân hữu cơ: bao gồm các loại phân chuồng và phân xanh được ủ mục Lượng bón được đề nghị khoảng 8 - 12 tấn/ha, phân hữu cơ được sử dụng toàn bộ để bón lót

- Phân đạm vô cơ: Dạng đạm vô cơ sử dụng bón cho lạc tốt nhất là dạng amon hoặc urê với lượng bón 15 - 20 kg/ N/ha Phân đạm vô cơ có thể được sử dụng để bón lót hoặc bón thúc Có hai thời điểm bón thúc cho lạc: Lần 1, bón cho lạc khi có 2 - 3 lá kép (sau gieo 15 ngày) Lần 2, bón khi lạc ra hoa nhằm

bổ sung lượng N trong thời kỳ lạc ra hoa kết quả Việc bón N cho lạc phải rất thận trọng, nếu bón không đúng thời điểm, không đúng kỹ thuật sẽ dẫn đến làm giảm năng suất do gây nên hiện tượng lốp đổ

Chỉ sử dụng N vô cơ trong các trường hợp sau:

Lượng phân hữu cơ bón lót không đủ, đất xấu - khả năng thiếu N trong đất

Trang 16

Cây sinh trưởng kém, biểu hiện thiếu N Khả năng tạo nốt sần kém, nên không đủ N cố định sinh học cung cấp cho hoạt động bình thường của cây

Cần bổ sung N để đạt năng suất cao

Bón đạm vô cơ trên cơ sở lượng P, K, Ca đầy đủ tạo mối quan hệ cân

đối giữa các yếu tố dinh dưỡng

Lượng đạm vô cơ tối đa có thể sử dụng là 40 kg/ N/ha

Vai trò và sự hấp thu lân (P): P là nguyên tố cấu tạo nên axit nucleic, protein, axit amin, ATP và các chất hóa học khác Thiếu P bộ rễ kém phát triển, hoạt động cố định đạm giảm, vì thiéu APT cung cấp cho hoạt động cố

định đạm của vi sinh vật nốt sần [32] [42] [43]

Ngoài những vai trò sinh lý bình thường đối với lạc, P còn đóng vai trò quan trọng đối với sự cố định N và sự tổng hợp lipit ở hạt trong thời kỳ chín [21] [44] Ngoài ra, bón P còn kéo dài thời kỳ ra hoa và tăng tỷ lệ hoa có ích

Lạc hấp thu P nhiều nhất ở thời kỳ ra hoa - hình thành quả Trong thời gian này, lạc hấp thu tới 45% lượng hấp thu P của cả chu kỳ sinh trưởng

Tuy nhiên, lượng P cây hấp thu không lớn Để cho 1 tấn quả khô, lạc chỉ sử dụng 2 - 4 kg P2O5

Bón phân lân là một biện pháp kỹ thuật quan trọng đối với tất cả các vùng trồng lạc ở nước ta

Lượng P2O5 bón cho lạc có thể tới 40 - 80 kg/ha, thông thường bón 40

- 60 kg Tất cả các dạng lân đều có hiệu quả với lạc Nói chung chỉ nên dùng supelân để bón trực tiếp cho lạc, còn các dạng phân lân khác khó tiêu thì trước khi bón nên ủ với phân chuồng để chuyển hóa thành dạng dễ tiêu rồi mới đem bón và chỉ dùng để bón lót

Trang 17

Vai trò và sự hấp thu kali (K): Kali không trực tiếp đóng vai trò là thành phần cấu tạo của cây, nhưng tham gia vào hoạt động của các enzim,

đóng vai trò là chất điều chỉnh và chất xúc tác Vì vậy K tham gia chủ yếu vào các hoạt động chuyển hóa chất ở cây Vai trò quan trọng nhất của K là xúc tiến quang hợp và sự phát triển của quả Ngoài ra K còn làm tăng cường mô cơ giới, tăng cường tính chống đổ của cây Trong cây K tập trung chủ yếu ở các bộ phận non, đặc biệt tập trung ở lá (khoảng 80 - 90%) [32] [43]

Cây hấp thu K tương đối sớm, khoảng 60% nhu cầu K được cây hấp thu trong thời kỳ ra hoa - làm quả Thời kỳ chín, nhu cầu K không đáng kể Để tạo

ra 1 tấn quả khô lạc cần sử dụng khoảng 15 kg K2O

Kali có hiệu quả cao trên đất bạc màu, các loại đất nghèo dinh dưỡng và

có hiệu quả kém hơn trên đất phù sa, đất thịt pha hoặc đất cát pha

Dạng kali K2SO4 hoặc KCl đều có hiệu quả như nhau đối với lạc Cách

sử dụng tốt nhất là bón lót với lượng 40 - 60 kg K2O/ha Tuy nhiên phân này

dễ gây chết sót cho cây con khi nảy mầm Vì vậy nên ủ với phân chuồng trước khi sử dụng để bón lót Có thể thay thế một phần phân kali bằng cách bón tro bếp, tro dừa cũng rất tốt [41]

Hiệu quả của kali đối với lạc thường thấp hơn lân ở hầu hết các loại đất trồng lạc Tuy nhiên để đạt năng suất cao, việc bón kali là rất cần thiết [13] Vai trò và sự hấp thu canxi (Ca): Vai trò của Ca được đánh giá cao trong sản xuất lạc Thể hiện ở các mặt sau: Ca ngăn ngừa sự tích lũy Al và các cation gây độc khác; Thuận lợi cho vi khuẩn nốt sần hoạt động do cải thiện độ pH đất; Làm tăng lượng N hấp thu qua rễ và nguồn N cố định Đặc biệt Ca tăng cường sự chuyển hóa N trong hạt

Trong cây, Ca tập trung chủ yếu ở lá, Ca tạo thành pectat canxi cần thiết đối với sự phân chia tế bào Ca có mặt trong thành phần một số men hoạt

Trang 18

hóa, đặc biệt Ca cần cho sự chuyển hóa N trong hạt để tạo thành protein

dự trữ

Bón vôi cho lạc nhằm nâng cao độ pH của đất và cung cấp dinh dưỡng canxi cho lạc ở nước ta , bón vôi đem lại hiệu quả tăng năng suất trên tất cả các loại đất Vôi được bón trực tiếp cho lạc với lượng bón 500 - 800 kg/ha Có thể bón vôi làm hai lần, bón lót 50% và lượng còn lại bón thúc khi ra hoa vào vùng quả phát triển Phân Ca tốt nhất cho lạc là CaSO4, bón 60 kg thì tương

đương với bón 1000 kg vôi bột/ha

Vai trò và sự hấp thu magie, lưu huỳnh [20] [22] [31]

Magiê (Mg): Vai trò của Mg trong sinh lý cây trồng rất quan trọng Nó tham gia vào nhiều hoạt động sống, đặc biệt là cấu tạo nên chất diệp lục của cây, ngoài ra còn có mặt trong các enzime xúc tác cho các quá trình trao đổi chất của cây lạc Đất cát ven biển và đất bạc màu thường hay thiếu Mg Chính việc bón các loại phân lân như lân Văn Điển sẽ là nguồn bổ sung Mg cho cây Ngoài ra trong phân hữu cơ và một số loại phân khác cũng có một lượng Mg nhất định, nên trong thực tế không bón Mg cho cây vẫn được

Lưu huỳnh (S): Lưu huỳnh là một trong những nguyên tố quan trọng của phần lớn các prôtit Nó có tác dụng lớn đến vịêc trao đổi đạm và lân của cây lạc Đủ S cây ra nhiều hoa, đậu nhiều quả Nếu thiếu S cây sẽ sinh trưởng kém, số lá bị giảm, lá có màu xanh nhạt hơn bình thường Nguồn cung cấp S cho cây chủ yếu ở dạng sulphát như sulphát đạm, sulphát kali hoặc superlân

Các nguyên tố vi lượng [15] [28] [32]: Các nguyên tố vi lượng đóng vai trò là chất xúc tác, hoặc là nhóm ngoại của enzim hoặc chất hoạt hóa của hệ enzim cho các quá trình sống của cây Trong đó, vai trò quyết định nhất của các nguyên tố vi lượng đối với cây là hoạt hoá hệ thống enzim Nguyên tố vi lượng còn làm thay đổi đặc tính lý hoá của nguyên sinh chất, ảnh hưởng đến tốc độ và chiều hướng của các phản ứng hoá sinh

Trang 19

Nguyên tố vi lượng quan trọng cần bón cho lạc Mo, Bo, Cu, Fe Trong

kỹ thuật hiện nay người ta không sản xuất và sử dụng các loại phân vi lượng riêng rẽ mà thường dùng tổng hợp các loại nguyên tố vi lượng để chúng có thể

bổ sung tác dụng lẫn nhau đối với hiệu quả tăng năng suất lạc

Phân vi lượng được sử dụng dưới dạng phun lên lá để tăng cường hiệu lực của phân Thời kỳ sử dụng phân vi lượng là 5 - 6 lá thật, thời kỳ hoa rộ và thời kỳ phát triển quả

Phân vi sinh vật: Phân vi sinh vật (Nitragin) được sản xuất bằng phương pháp sử dụng nòi vi khuẩn cố định N (Rhi.vigna) có hoạt tính cố định đạm cao Người ta nhân và cố định chúng trong than bùn để sử dụng làm phân bón cho lạc

Phương pháp sử dụng thường là tẩm vào hạt trước khi gieo Có thể tẩm khô hoặc ướt để trong điều kiện tối 1 - 2 ngày rồi đem gieo ngay sau đó

2.2 Tình hình nghiên cứu về cây lạc trong và ngoài nước

Nhìn chung, các nhà khoa học thế giới đã và đang tập trung nghiên cứu

4 vấn đề lớn về cây lạc:

Nghiên cứu điều kiện sinh thái của cây lạc;

Nghiên cứu chọn tạo giống lạc;

Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng suất lạc;

Tìm hiểu những vấn đề khó khăn trọng tâm mà người trồng lạc gặp phải

để tháo gỡ cho họ một cách kịp thời và đưa nhanh những tiến bộ kỹ thuật mới vào đồng ruộng

Kết quả nghiên cứu của ấn Độ cho thấy: Nếu chỉ sử dụng giống mới mà vẫn áp dụng kỹ thuật canh tác cũ thì năng suất lạc chỉ tăng 26 - 30 % Nếu áp dụng kỹ thuật canh tác tiến bộ mà vẫn sử dụng giống cũ thì năng suất chỉ tăng

Trang 20

20 - 43% Nhưng nếu kết hợp sử dụng giống mới cùng với kỹ thuật canh tác mới thì năng suất tăng 50 - 63% trên ruộng của nông dân

Trung Quốc là nước đặc biệt quan tâm tới công tác nghiên cứu và chuyển giao công nghệ trồng lạc Các nhà khoa học Trung Quốc đã chọn lọc

được rất nhiều giống lạc mới có tiềm năng năng suất cao, khả năng chống chịu bệnh tốt Cùng với những kết quả nghiên cứu về chế độ làm đất, bón phân tăng năng suất lạc của quốc gia này tương đương với Mỹ [8]

Việt Nam trong những năm qua đã rất quan tâm tới công tác nghiên cứu phát triển sản xuất lạc Chúng ta đã biết tiếp thu một cách sáng tạo những thành tựu và kinh nghiệm của thế giới Các nhà khoa học Việt Nam đã xác

định được những yếu tố hạn chế chính đối với sản xuất lạc, từ đó có các hướng nghiên cứu chính để khắc phục Chúng ta đã chọn lọc, nhập nội được một tập

đoàn giống lạc với năng suất cao, khả năng chống chịu bệnh tốt Những kết quả nghiên cứu về biện pháp canh tác kỹ thuật như: Bón NPK cân đối, mật độ gieo trồng thích hợp, phủ Nilon, quản lý dịch hại tổng hợp đã được áp dụng

Về giống lạc: Hiện nay chúng ta đã chọn được bộ giống lạc tốt cho vùng

thâm canh, vùng nước trời, cho xuất khẩu và cho mục đích ép dầu tại chỗ Những giống lạc mới này đã góp phần tăng năng suất và sản lượng lạc một cách nhanh chóng

Những giống lạc có tiềm năng năng suất cao 30 - 40 tạ/ha đã được các vùng sản xuất lạc tiếp nhận nhanh chóng như: LO2, LVT, BG78, LO5 ởcác tỉnh vùng Đông Bắc, đồng bằng Sông Hồng và Khu Bốn cũ [1] [8]; Giống LO2,BG78, 1660, V79, Sen lai cho vùng khu Bốn (cũ) và duyên hải Nam Trung Bộ; GiốngVD1, LH25, Lỳ chọn lọc cho các tỉnh miền Đông Nam Bộ, đồng bằng Sông Cửu Long và Tây Nguyên; Gần đây VKHKTNNVN đã chọn tạo và đưa

ra sản xuất 2 giống lạc mới (MG7 và L14) năng suất cao, phẩm chất tốt Hai giống lạc này đang được trồng phổ biến ở các tỉnh miền Bắc và Khu Bốn (cũ)

Trang 21

Về kỹ thuật canh tác:

Bón phân cho lạc: Kết quả nghiên cứu của Viện Nông hóa - Thổ

nhưỡng cho biết, trên một số đất trồng lạc ở các vùng lạc chuyên canh của ta thì độ ẩm và các chất dinh dưỡng là một trong những yếu tố hạn chế năng suất lạc Các loại đất khác nhau thì áp dụng mức phân bón khác nhau Nhưng nói chung, các loại đất trồng lạc điển hình là đất bạc màu, đất cát ven biển, đất xám trung du thì mỗi ha thường sử dụng như sau:

Phân hữu cơ 8 - 10 tấn; N 15 - 20 kg; P2O5 40 - 60 kg; K2O 30 - 40 kg, Vôi bột 300 - 500 kg (nếu đất chua thì cần bón nhiều hơn), bón cho 1ha

Theo kết quả nghiên cứu của VKHKTNNVN, trên mô hình thâm canh tăng năng suất lạc ở Diễn Châu - Nghệ An đạt 40 tấn/ha cần bón lượng phân bón cho 1ha như sau: Phân chuồng 10 tấn, N 30 kg, P2O5 90 kg và K2O 60 kg

điều kiện thiếu molipden, số lượng và chất lượng vi khuẩn này giảm Phần lớn các đất trồng lạc ở Việt Nam đều thiếu molipden Nếu bổ sung molipden bằng cách xử lí hạt trước khi gieo trồng với dung dịch molipdat amon 0,1 - 0,2 % trong khoảng 5 - 6 giờ hoặc phun dung dịch này với nồng độ 0.3% lên lá lạc khi bắt đầu ra hoa sẽ có tác dụng làm tăng năng suất đáng kể [23] [35]

Trang 22

Bo làm tăng quá trình thụ phấn thụ tinh của lạc Thiếu Bo tỷ lệ hoa

có ích giảm rõ rệt, số lượng hoa cũng giảm dẫn đến giảm số quả trên cây,

đồng thời cũng làm tăng hạt lép và sức sống của hạt bị giảm [34] [38] Chúng

ta có thể cung cấp Bo cho cây bằng cách phun axít boric 0,03% cho cây lạc lúc ra hoa hoặc bón muối borat 10kg/ha cho lạc đều có tác dụng tăng năng suất [38]

Đồng (Cu) hoạt hoá nhiều enzim oxy hoá khử và có trong thành phần của plastocyamin, một thành viên của chuỗi chuyển vận electron trong quang hợp Các enzim mà Cu hoạt hoá liên quan rất nhiều đến các quá trình sinh lý

và hoá sinh trong cây như tổng hợp protein, axitnucleic, dinh dưỡng nitơ, hoạt

động quang hợp [34] Đất trồng lạc phần lớn cũng thiếu Cu Theo kết quả nghiên cứu của viện nghiên cứu khoa học Việt Nam (1977 - 1998) thì việc phun dung dịch CuSO4 (0,1 – 0,2%) cho lạc lúc ra hoa đã làm tăng năng suất lạc từ 23 - 43% Phun boocđô 1 - 2 lần cho lạc đã làm tăng năng suất lạc 20 - 40% [38]

Kẽm (Zn) tham gia hoạt hoá khoảng 70 enzim liên quan đến nhiều quá trình biến đổi chất và hoạt động sinh lý như quá trình dinh dưỡng photpho, tống hợp protein, tổng hợp auxin, tăng cường hút các cation khác nên ảnh hưởng nhiều đến quá trình sinh trưởng của cây Đa số đất trồng lạc cũng hay thiếu kẽm, phun thuốc trừ bệnh (Boócđô hay Zinep) hoặc phun dung dịch kẽm sunphát lên lá để cung cấp trực tiếp Cu và Zn cho lạc là có hiệu quả làm tăng năng suất[34] [38]

Vai trò quan trọng nhất của Fe là hoạt hoá các enzim Nó có mặt trong nhóm hoạt động của một số enzim oxy hoá khử như catalaza, peroxidaza; trong xytocrom, feredoxin trong chuỗi chuyển vận electron của quang hợp và hô hấp [34] Cây lạc cũng rất cần sắt (Fe) để phát triển bình thường và tổng

Trang 23

hợp chất diệp lục Khi bị thiếu Fe cây sẽ yếu, lá non bị úa vàng, các lá già hơn

có thể bị chết, cây sẽ có ít nốt sần và quả cũng có ít hơn [38]

Dùng chế phẩm Nitrazin tẩm hạt giống trước khi gieo hoặc tưới vào hốc

(với lượng gấp hai lần tẩm hạt) có thể làm tăng năng suất 50 - 80 kg lạc vỏ/ha

Nếu dùng phân vi sinh vật đúng cách, đất thoáng lại được bón đủ lân, vôi và

một chút phân đạm thì sẽ làm giảm được 50% nhu cầu phân đạm cần bón [38]

Các nhà chuyên môn khuyến cáo rằng: Nếu phun chế phẩm vi lượng

cho lạc lúc có 5 - 6 lá thật hoặc lúc bắt đầu tắt hoa sẽ làm tăng số hoa và tăng

tỉ lệ đậu quả Trong trường hợp ruộng lạc sinh trưởng quá mạnh, muốn hạn

chế lốp đổ thì sau khi vun gốc 1 tuần, có thể phun dung dịch axit xuxinic

0,02% hay dùng chất kìm hãm sinh trưởng lên lá lạc để hạn chế sự bốc thân

lá, dồn chất dinh dưỡng vào cho quả để làm cho quả chắc hơn, hạt mẩy hơn [38]

Theo kết quả nghiên cứu của Trung quốc, việc sử dụng chế phẩm

Triadimefon là chất diệt nấm và tăng khả năng chịu hạn cho lạc Nếu phun lên

lá lạc với nồng độ 300ppm vào 20 - 25 ngày sau hoa nở lần đầu có tác dụng ức

chế sinh trưởng dinh dưỡng, ở điều kiện thâm canh cao và khô hạn sẽ làm tăng

năng suất tới 10% Dùng chế phẩm Fulvic axit phun lên lá lạc giai đoạn nở

hoa đến đâm tia có tác dụng làm tăng năng suất từ 8,54 - 10,07 % Nếu xử lí

kết hợp Fulvic axit cùng với Carbendazol thì cho kết quả tốt hơn [11]

Những kết quả nghiên cứu về ĐH1:

ĐH1 là tên gọi của chế phẩm phân bón lá - Đất Hiếm 1 do Viện Công

Nghệ Xạ Hiếm sản xuất

Trong thời gian qua, một số cơ sở nghiên cứu trong nước như: Viện

Công Nghệ Xạ Hiếm, Liên hiệp đất hiếm Việt Nam, Viện khoa học vật liệu

thuộc Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia, đã tiến hành một

Trang 24

số nghiên cứu thử nghiệm, ứng dụng các nguyên tố đất hiếm trong việc thâm canh một số cây trồng như: lúa, ngô, đậu tương, lạc, bắp cải, chè, nhãn, vải,

và đã thu được một số kết quả đáng khích lệ Kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng vi lượng các nguyên tố đất hiếm có khả năng tăng năng suất bắp cải là 11,2 %, tăng số nốt sần hấp thụ đạm của cây đậu tương và tăng năng suất từ 5,1 - 7,5 %, tăng sinh khối cây ngô từ 20,5 - 33,2% và năng suất bắp ngô từ 4 - 15,1% Kết quả thử nghiệm của Viện Khoa học Vật liệu thuộc Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia trên cây lúa trong nhiều năm, trên diện tích lớn cho thấy năng suất lúa tăng 8,7 - 18,5% và khả năng kháng bệnh của lúa cũng tăng Đáng lưu ý là phí cho việc sử dụng phân

đất hiếm chỉ bằng 1/10 giá trị kinh tế do việc tăng năng suất mang lại Khi sử dụng đất hiếm cho cây lạc, không những năng suất tăng từ 8- 13% mà hàm lượng lipit và protit của lạc cũng tăng [12] [16] Năm 2001 - 2002 Viện công nghệ Xạ Hiếm đã tiến hành nghiên cứu áp dụng một số chế phẩm đất hiếm trên cây chè cho thấy: Phân bón vi lượng đất hiếm có khả năng tăng cường quá trình quang hợp, tăng năng suất búp chè từ 20 - 40%, tỷ lệ chè khô/búp tươi tăng 16%, đồng thời làm tăng khả năng chịu hạn, tăng khả năng đề kháng của cây chè, làm sâu bệnh giảm rõ rệt, nên hạn chế đáng kể việc sử dụng các loại thuốc trừ sâu

Những kết quả nghiên cứu sử dụng đất hiếm ở nước ngoài:

Trong những năm gần đây, đất hiếm được sử dụng vào thức ăn gia súc Những nghiên cứu sơ khởi gần nhất cho thấy rằng: đất hiếm làm tăng sản lượng cỏ và các cây thảo mộc họ đậu từ 7 - 21% làm cho chúng mọc thành từng cụm Thức ăn được bổ sung đất hiếm cho gà đẻ làm cho gà đẻ trứng sớm hơn một tuần, tăng tỉ lệ sống của gà con mới nở từ 3 - 4 %; làm tăng trọng lượng của lợn thịt mỗi ngày lên 6%, giảm thời gian nuôi dưỡng Đất hiếm dùng cho cây dâu tằm làm tăng sản lượng lá tươi lên 12% Cừu lấy lông được cho ăn cỏ

khô có tẩm đất hiếm sẽ tăng sản lượng và chất lượng của lông cừu [36]

Trang 25

Những nghiên cứu về PIX và một số chất điều hòa sinh trưởng khác:

Nghiên cứu về PIX: Chất đièu hòa sinh trưởng Mepiquat Chloride danh

pháp quốc tế là 1,1- dimethylpiperidinium chloride, tên thương mại là PIX, là chất điều hòa sinh trưởng ngoại sinh có tác dụng ức chế quá trình sinh trưởng dinh dưỡng của thực vật

PIX là chất điều hòa sinh trưởng nội hấp, được thực vật có màu xanh hấp thu ở một bộ phận rồi chuyển vận tới toàn cây, tăng cường sự phát dục và hoạt động của bộ rễ, điều tiết giữa sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực, làm cho lóng ngắn lại và phiến lá dày lên, diện tích lá bé đi [3] Sau khi xử

lí PIX, màu lá sẫm hơn [19] [46] [60] Phiến lá không phát triển về chiều rộng

mà dày thêm [19] [46], hàm lượng diệp lục tăng lên, lá chậm già hơn, tăng cường hoạt động quang hợp, có tác dụng cải thiện kết cấu quần thể trên ruộng Phun PIX làm khống chế sự sinh trưởng của thân chính và cành quả, không cho cây bông bốc lá, tăng năng suất bông xơ 12,5% [19]

Theo Constable G (1994), Phun PIX với liều lượng 600 ml/ha vào giai đoạn có hoa đầu tiên có tác dụng làm giảm sinh trưởng lá, cành và chiều cao cây, tuy nhiên năng suất bông hạt cao hơn so với công thức đối chứng không phun (4,414kg/ha so với 4,187 kg/ha)

Phun PIX với lượng 1lít/ha vào các giai đoạn 55, 70, 85 ngày sau gieo cho giống Niab -78 có tác dụng làm tăng tỉ lệ xơ nhưng không gây ảnh hưởng

đến khối lượng quả, năng suất bông hạt và chất lượng bông xơ [51]

Xử lí PIX với nồng độ và thời gian hợp lý có tác dụng cải thiện tán lá bông [51]

Tại Việt Nam, trong điều kiện mưa nhiều, cây sinh trưởng rậm rạp, phun PIX cho cây bông với lượng 1,2 lít/ha và nồng độ 50 mg/lít vào giai

đoạn 65 ngày tuổi đã làm giảm chiều cao cây, chiều dài cành quả và cho bội thu năng suất 4,6 tạ/ha, tương ứng với 30,26% [24]

Trang 26

Phun PIX cho giống bông lai Việt Nam 20 với liều lượng 50 và 70 ml/ha vào hai thời kì 50 và 70 ngày sau gieo có tác dụng điều tiết sinh trưởng phát triển cây bông, tăng khối lượng quả, khối lượng hạt, năng suất bông và không ảnh hưởng đến chất lượng bông xơ [18]

Theo Nguyễn Văn Tạm [30], Phun PIX cho cây bông đã làm giảm chiều cao cây chiều dài cành quả và cành đực

Tóm lại, những kết quả nghiên cứu xử lí PIX cho cây bông đều khẳng

định: PIX không gây ảnh hưởng xấu đến năng suất và chất lượng sản phẩm PIX có tác dụng kìm hãm sinh trưởng quá mức của cây bông, làm giảm chiều cao cây, chiều dài cành quả, cành đực

Đối với cây lạc chưa thấy công bố những kết quả nghiên cứu về xử lí PIX

Nghiên cứu về α- NAA:

α - NAA là chất điều hoà sinh trưởng thuộc nhóm auxin có tác dụng kích thích sự giãn nở của tế bào, làm tế bào phình to ra dẫn đến sự tăng kích thước của của các cơ quan như: Tăng diện tích của lá, phình to củ quả, tăng

đường kính và chiều dài của cành, của thân, của rễ Auxin điều chỉnh tính hướng của cây, như tính hướng quang và tính hướng địa Auxin điều chỉnh hiện tượng ưu thế ngọn Hiện tượng ưu thế ngọn là đặc tính vốn có của sự vật Hiện tượng ưu thế ngọn này được điều chỉnh bởi auxin vốn được sản sinh trong đỉnh ngọn hoặc đỉnh rễ Auxin kích thích sự hình thành rễ, đặc biệt là rễ bất định trên cành giâm và trên mô nuôi cấy, nồng độ xử lí thích hợp thường

từ 20-200ppm tuỳ thuộc loài và mức độ khó ra rễ của cành giâm ở Hawai nhiều cánh đồng dứa được phun dung dịch muối natri của NAA ở nồng độ 25 ppm làm cho dứa ra hoa sớm hơn 2 - 3 tuần Auxin kích thích sự hình thành quả, sự lớn lên của quả và tạo nên quả không có hạt Auxin kìm hãm sự rụng

Trang 27

của lá, hoa quả Nồng độ sử dụng tuỳ theo từng loại quả Ví dụ như đối với lê nồng độ α-NAA là 10ppm, với táo nồng độ là 20ppm [41] [33] [37]

Nghiên cứu về một số chất điều hòa sinh trưởng khác:

Bộ môn Sinh lý - Hóa sinh Trường Đại học Nông Nghiệp I Hà Nội đã nghiên cứu và tạo nên chế phẩm đậu hoa, đậu quả cho nhiều loại cây trồng sử dụng có hiệu quả trong sản xuất Chế phẩm dạng bột α-NAA dưới dạng hòa tan được trong nước là nguồn auxin bổ sung cho nguồn nội sinh, một số nguyên tố vi lượng cần thiết như B và Cu, ngoài ra có thêm một lượng nhỏ các

nguyên tố đa lượng (N, P, K) Phun chế phẩm này đã làm cho quá trình đậu quả

tăng lên rất mạnh, hiệu quả này còn được nhân lên khi cung cấp đủ nước và các chất dinh dưỡng cho cây trồng [37]

Chlor Cholin chlorid (CCC) là chất đối kháng với gibberellin vì nó kìm hãm sự tổng hợp gibberellin trong cây Ngoài các tác dụng như làm lùn cây, chống lốp đổ nó còn làm tăng sự hình thành diệp lục, xúc tiến sự ra hoa [33] Hiện nay, CCC đang được sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, với mục

đích làm thấp cây, cứng cây, chống lốp đổ và tăng năng suất cho các loại cây ngũ cốc và tạo hình cho cây cảnh [34]

Etylen là một "hooc môn hóa già", do đó xử lí ethrel có thể làm cho lá cây già nhanh hơn Bằng cách phun ethrel nồng độ 0,01- 0,05% lên lá non của cây trồng (quất cảnh, vải, nhãn ) có thể làm cho các cây trồng này ra hoa được

dễ dàng Các thực nghiệm của trường ĐHNN I đã chỉ ra rằng: Có thể dùng ethrel (0,1 - 0,2%) để làm rụng lá đào, hồng Sử dụng ethrel với nồng độ thích hợp đã làm rụng lá cây đậu tương mà không làm rụng quả, quả lại chín đồng đều hơn Kết quả trên đây nếu được áp dụng trong sản xuất sẽ đem lại hiệu quả kinh tế rất

to lớn

Trang 28

Chế phẩm tăng năng suất lạc: Chế phẩm Fivilac của xí nghiệp liên doanh Fitôhoocmôn, bao gồm các nguyên tố vi lượng cùng với chất điều hòa sinh trưởng gibberellin, auxin (α- Naptylaxetic axit và β- Naptoxylaxetic axit) có

bổ sung thêm chất phụ gia, bám dính

Do cung cấp cho cây lạc một lượng chất điều hòa sinh trưởng và vi lượng nhất định, cho nên đã kích thích ra hoa tập trung, tạo tia quả, kích thích vận chuyển dinh dưỡng vào hạt, quả Tăng cường và kéo dài khả năng quang hợp, cố

định đạm của cây Tăng tỷ lệ đậu quả chắc, tăng năng suất từ 10 - 15% và tăng phẩm chất Nếu được chăm sóc tốt có thể tăng tới 20 - 25% Ruộng được phun chế phẩm, tỷ lệ bệnh thối đen giảm xuống

Chế phẩm được sử dụng ở nhiều tỉnh, đặc biệt ở những vùng trọng điểm trồng lạc như Nghệ An, Thanh Hóa Chế phẩm đã được Nhà nước công nhận và cấp bằng độc quyền sáng chế số 148

Chế phẩm tăng năng suất lạc (FIVILAC) phun lên lá vào thời kỳ ra hoa

rộ vừa nâng cao năng suất, phẩm chất lại vừa đem lại hiệu quả cao cho người sản xuất [37]

Trang 29

3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 3.1 Đối tượng và vật liệu

3.1.1 Cây lạc (Arachis hypogaea L.)

Giống lạc tham gia thí nghiệm là L14 Đây là giống lạc do viện KHKTNNVN nhập nội từ Trung Quốc và tuyển chọn

Đặc điểm hình thái: vỏ quả màu vàng sáng, thắt eo nông; dạng hạt hình trụ, vỏ hạt màu hồng; chiều cao của cây 40 - 45 cm ; số cành cấp I là 4,7 – 5,3 cành; số cành cấp II là 3,7

Thời gian sinh trưởng 120 - 130 ngày; khả năng chống chịu sâu bệnh khá

Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất: Năng suất trung bình đạt 36,07tạ/ha, có thể đạt trên 40 tạ/ha (Hà nội – 43,03 tạ/ha, Vĩnh Phú – 41,43 tạ/ha) Số quả/cây – 13,6; số quả chắc/cây –11,6; trọng lượng 100 quả - 155,4 gam; trọng lượng 100 hạt - 59,6 gam; tỷ lệ nhân/quả - 72,5 % [17] [38]

3.1.2 Chế phẩm ĐH1 - chế phẩm phân bón lá Đất Hiếm 1 do Viện Công Nghệ Xạ Hiếm sản xuất Bao gồm một số nguyên tố hiếm và phức hữu cơ (cofector )

3.1.3 Chất kích thích sinh trưởng là auxin dưới dạng -NAA (

Naphtyl Axetic Acid) do Viện Hoá Công nghiệp sản xuất

α-Naphtyl axetic axit ((α-NAA)

CH2- COOH

Trang 30

3.1.4 Chất kìm hãm sinh trưởng Mepiquat - chloride nguồn gốc

từ Trung Quốc

Mepiquat - chloride có tên quốc tế là 1,1 dimethyl - piperidinium chloride, công thức phân tử C7H16ClN, tên thương mại là PIX, chứa 400gam a.i/lit, có màu xanh nhạt, tan tốt trong nước, được nhập nội từ Trung Quốc

3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

3.2.1 Thời gian nghiên cứu

Đề tài được tiến hành nghiên cứu trong vụ đông xuân 2003 - 2004

3.2.2 Địa điểm nghiên cứu

Các thí nghiệm được tiến hành tại Trường Cao đẳng Nông - Lâm và xã Hồng Thái - huyện Việt Yên - Bắc Giang

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 ảnh hưởng của xử lí ĐH1 đến một số đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lạc L14;

3.3.2 ảnh hưởng của xử lí -NAA (Auxin) đến sự sinh trưởng phát triển và năng suất của giống lạc L14;

3.3.3 ảnh hưởng của xử lí PIX đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lạc L14;

3.3.4 Thực nghiệm trên ruộng sản xuất tại trường Cao Đẳng Nông Lâm và xã Hồng Thái huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang: Phối hợp xử lí ĐH1 với PIX

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Bố trí thí nghiệm

Trang 31

Ph ương pháp bố trí thí nghiệm: Tất cả các thí nghiệm được tiến hành trên đồng ruộng, bố trí theo phương pháp ngẫu nhiên

Quy mô thí nghiệm: Mỗi thí nghiệm lặp lại 3 lần, diện tích 1 ô là 12

m2 (4m x 3m), diện tích của tất cả các ô thí nghiệm là 144m2, diện tích dải bảo

vệ thí nghiệm là 81m2, diện tích toàn thí nghiệm là 225m2 Mỗi công thức thực nghiệm tiến hành trên diện tích 360 m2

- Thí nghiệm 1: Về chế phẩm vi lượng ĐH1 gồm 4 công thức (CT):

+ CT1 - Đối chứng (phun nước lã);

+ CT2 - Phun chế phẩm ĐH1 giai đoạn cây 3 - 4 lá thật;

+ CT3 - Phun chế phẩm ĐH1 giai đoạn cây 5 - 6 lá thật (sau lần một khoảng 10 ngày);

+ CT4 - Phun chế phẩm ĐH1 giai đoạn cây 7 - 8 lá thật (sau lần 2 khoảng

+ CT4 - Phun -NAA 20ppm giai đoạn 7 - 8 lá thật (sau lần 2 khoảng 10 ngày)

- Thí nghiệm 3: Về chất ức chế sinh trưởng ( PIX) gồm 4 công thức:

+ CT1 - Đối chứng (phun nước lã);

+ CT2 - Phun chế phẩm PIX sau khi đâm tia, vun gốc 7 ngày;

Trang 32

+ CT3 - Phun PIX sau khi phun lần 1 là 10 ngày;

+ CT4 - Phun PIX sau khi phun lần 2 là 10 ngày

- 4 Thực nghiệm: Phun ĐH1 khi cây có 3 - 4 lá thật và PIX gồm 4 công

thức:

+ CT1 - Phun ĐH1 khi cây có 3 - 4 lá thật ;

+ CT2 - Phun ĐH1 khi cây có 3 - 4 lá thật và PIX sau khi vun gốc 7 ngày; + CT3 - Phun ĐH1 khi cây có 3 - 4 lá thật và PIX 17 ngày;

+ CT2 - Phun ĐH1 khi cây có 3 - 4 lá thật và PIX sau khi vun gốc 27 ngày

3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp xác định

3.4.2.1 Các chỉ tiêu theo dõi:

- Thời tiết khí hậu của vùng

- Các chỉ tiêu về thời gian và các giai đoạn sinh truởng:

+ Thời gian từ khi gieo đến 50% số cây có hoa đầu tiên nở

+ Thời gian từ 50% số cây có hoa đầu tiên nở đến 50% số cây đâm tia + Thời gian từ 50% số cây đâm tia đến lúc chín (75-80% số quả chắc)

- Các chỉ tiêu về phát triển thân, cành, lá :

+ Tốc độ tăng trưởng chiều cao của cây (cm/tuần)

+ Số cành cấp I cấp II

+ Diễn biến diện tích lá (LAI)

- Hàm lượng diệp lục trong lá

- Số lượng nốt sần/cây

- Tốc độ tích luỹ chất khô (g/m2đất/ngày)

Trang 33

- Diễn biến hiệu suất quang hợp (g/m2 lá/ngày đêm)

- Số quả trên cây (quả)

- Tỷ lệ quả chắc (%)

- Số quả 1,2,3 hạt trên cây (quả)

- Khối lượng 100 quả (gam)

- Khối lượng 100 hạt (gam)

- Năng suất sinh vật học (tạ/ha)

- Năng suất lí thuyết (tạ/ha)

- Năng suất thực thu (tạ/ha)

- Hiệu quả kinh tế (ngàn đồng/ha)

+ Các chỉ tiêu chiều cao cây, tốc độ tăng trưởng chiều cao cây, tốc độ

ra lá, số cành cấp I, số cành cấp II, theo dõi 10 cây trong số 20 cây cố định nêu trên

+ Số quả/cây,tỷ lệ quả chắc, số quả 1,2,3 hạt theo dõi 30 cây/ô lúc thu hoạch

Diễn biến diện tích lá (LAI) xác định theo phương pháp cân trực tiếp Theo dõi ở 3 thời kỳ: Hoa rộ, đâm tia và thời kỳ hình thành hạt Mỗi ô lấy 10 cây liên tục Dùng cân xác định khối lượng lá cắt rời của từng cây và xác định

Trang 34

khối lượng của 1dm2 lá trung bình của 10 cây đó Từ đó tính ra diện tích lá của từng cây, của ô và chỉ số LAI của công thức thí nghiệm

Chỉ số LAI (Leaf Area Index) = số m2 lá/ 1 m2 đất

Hàm lượng diệp lục trong lá: Mỗi công thức phân tích 3 mẫu/ kỳ, hoa

rộ, đâm tia và hình thành hạt Mỗi mẫu lấy 20 lá ở vị trí thứ 3 - 5 từ trên xuống, cân 2 gam mẫu lá cắt nhỏ cho vào bình định mức 25ml có nút nhám để tránh bay hơi dung môi chiết suất Cho vào bình đủ 25 ml axeton, đậy nút lại,

để nơi tối, mát Ngâm khoảng 3 ngày đêm, cho đến khi nhìn thấy lá trở nên trong suốt Lấy dịch chiết cho vào cuvet (loại có bề dày 1cm), đưa vào máy so màu quang phổ kế Spectronic Trung Quốc rồi so màu ở bước sóng 662nm và 644nm Hàm lượng diệp lục được tính theo công thức của Komar - Cigein [14]

[22]

Diệp lục tổng số (DLts) = 7,12 ì WL662 + 16,8 ì WL644

Diệp lục a (DLa) = 9,93 ì WL662 - 0,777 ì WL6444

Diệp lục b (DLb) = 17,6 ìWL644 - WL662

Trong đó: WL662 là kết quả đo trên máy ở bước sóng 662

WL644 là kết quả đo trên máy ở bước sóng 644

Số lượng và chất lượng nốt sần: Theo dõi ở 3 thời kỳ hoa rộ, đâm tia và hình thành hạt Lấy mẫu liên tiếp 10 cây/ô Trước khi lấy mẫu, tưới nước đậm quanh gốc, dùng dằm đào nhẹ nhàng và bứng cả bầu đất ôm bộ rễ, đưa vào chậu nước, ngâm cho đất rời ra, gạn nước và đất rồi đếm số lượng nốt sần có trong chậu nước cũng như có trên cây, được số nốt sần tổng số (TS) Phân ra hai loại nốt sần vô hiệu (VH) và nốt sần hữu hiệu (HH)

- Hiệu suất quang hợp: Được xác định theo công thức của Kidda, Vest

và Briggs [14]

Trang 35

HSQH = (P2 - P1)/0,5 * (L1+ L2)*T

Trong đó:

+ HSQH là hiệu suất quang hợp (khối lượng chất khô bằng gam do 1 m2

lá tạo nên trong 1 ngày đêm)

+ P2 - P1 là sự tăng chất khô (gam/cây) giữa hai thời kỳ lấy mẫu liên tiếp sau T ngày

+ 0,5*(L2 + L1) là diện tích lá trung bình/ 1m2 giữa hai thời kỳ

X

1

1

+ T là số ngày giữa hai lần lấy mẫu

- Diễn biến tích lũy chất khô: Theo dõi 10 cây liên tiếp trên/ô ở một số thời kỳ cùng với xác định nốt sần và xác định năng suất sinh vật học Lấy toàn

bộ cây đưa vào sấy ở nhiệt độ 700c đến khi trọng lượng không đổi tiến hành xác định khối lượng khô của cây

- Năng suất sinh vật học (NSSVH): là tổng lượng chất khô cây tích lũy

được ở các bộ phận của cây Mỗi ô theo dõi 30 cây liên tiếp lúc thu hoạch

- Hệ số kinh tế (HSKT) được tính theo công thức:

HSKT = Năng suất quả khô/NSSVH

3.4.3 Phương pháp canh tác trong các thí nghiệm

áp dụng quy trình tiên tiến nhất hiện nay của Trung tâm khuyến Nông tỉnh Bắc Giang (không tủ nilon)

Trang 36

S X

Phạm vi biến động mẫu:

Hệ số biến động:

Độ lệch chuẩn:

Giới hạn sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa:

Độ lệch chuẩn của hiệu số giữa hai số:

Hệ số tương quan (r):

100

*(%)

(

* ) / (

(

* ) (

)

2

n n

n y x xy

r

y y

x x

Trong đó: x và y là hai dãy biến độc lập

n là số lượng biến Kiểm tra sự tồn tại thực sự của hệ số tương quan (r) bằng tiêu chuẩn t

Số liệu thí nghiệm thu thập được tính toán và xử lý thống kê trên máy tính với phần mềm chuyên dụng MSTATC của trường Đại học Michigan [52]

Đồ thị được vẽ theo phần mềm Microsoft Excel 7.0 trên máy vi tính

Trang 37

4 Kết quả và thảo luận

4.1 ảnh hưởng của xử lí ĐH1 đến một số chỉ tiêu sinh lí và năng suất của

giống lạc L14

4.1.1 ảnh hưởng của xử lí ĐH1 đến sự sinh trưởng chiều cao cây

Điều khiển mối quan hệ giữa sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực là một nội dung rất quan trọng trong kĩ thuật thâm canh tăng năng suất lạc Về ảnh hưởng của xử lí chế phẩm ĐH1 đến sự sinh trưởng chiều cao thân chính của cây lạc, chúng tôi thu được kết quả thể hiện qua bảng 4.1 và Biểu đồ hình 1 như sau:

Bảng 4.1: ảnh hưởng của xử lí ĐH1 đến sinh trưởng chiều cao cây

(cm) Thời gian sau gieo (ngày) Công

Trang 38

Hình 1 Biểu đồ ảnh hưởng của xử lí ĐH1 đến sinh trưởng chiều cao cây

Kết quả theo dõi 10 lần, mỗi lần cách nhau 7 ngày (từ 30 - 93 ngày sau gieo) cho thấy:

Trong giai đoạn đầu từ 30 - 37 ngày sau gieo, các công thức có chiều cao thân chính xấp xỉ như nhau

Hiệu quả xử lí chế phẩm thể hiện rõ ở những giai đoạn sau Xử lí chế phẩm đã có tác dụng làm giảm chiều cao thân chính của lạc một cách rõ rệt ở giai đoạn 44 - 93 ngày Hiệu quả rất rõ, cả 3 công thức xử lí đều cho kết quả làm giảm chiều cao của cây so với đối chứng không phun ở mức có ý nghĩa

So sánh giữa các công thức xử lí thì phun chế phẩm ở giai đoạn 3 - 4 lá thật (30 ngày sau gieo) làm giảm chiều cao nhiều nhất Các công thức xử lí ở những giai đoạn sau kém hiệu quả hơn

Trang 39

Kết quả cũng cho thấy xử lí chế phẩm không ảnh hưởng nhiều đến sự phân cành cấp II, sự giảm số cành cấp II ở các công thức xử lí không có ý nghĩa so sánh

4.1.3 ảnh hưởng của xử lí ĐH1 đến chỉ số diện tích lá (LAI)

Trong một phạm vi nhất định, giữa mật độ gieo trồng, chỉ số diện tích lá với năng suất cây trồng có quan hệ thuận Vượt quá giới hạn đó năng suất cây trồng sẽ giảm Việc nghiên cứu ảnh hưởng của xử lí chế phẩm đến chỉ số diện tích lá là cơ sở để nâng cao năng suất của cây lạc Kết quả của thí nghiệm được thể hiện ở bảng 4.3 và biểu đồ hình 2

Trang 40

Bảng 4.3 : ảnh hưởng của xử lí ĐH1 đến chỉ số diện tích lá (LAI) của cây

Hình 2 Biểu đồ ảnh hưởng của xử lí ĐH1 đến chỉ số diện tích lá (LAI)

Qua bảng 4.3 vài biểu đồ hình 2 cho thấy chỉ số LAI của tất cả các công

thức tham gia thí nghiệm tăng dần từ giai đoạn 50 đến 95 ngày sau đó giảm

cho tới khi thu hoạch Chỉ số LAI tối đa đạt từ 5,44 đến 6,12

Việc xử lí chế phẩm có xu hướng làm giảm chỉ số LAI ở tất cả các giai

đoạn so với công thức đối chứng Nhưng tốc độ giảm ở giai đoạn sau thì chậm

hơn so với công thức đối chứng Điều này có lợi cho sự tích luỹ chất khô ở

giai đoạn quả chắc

Ngày đăng: 18/08/2013, 21:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Ân (2003), Đánh giá hiện trạng sản xuất và sử dụng lạc ở vùng đất cát biển Thanh Hoá, Tóm tắt luận án Tiến sỹ Nông nghiệp, Viện KHKTNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiện trạng sản xuất và sử dụng lạc ở vùng "đất cát biển Thanh Hoá
Tác giả: Trần Thị Ân
Năm: 2003
2. Nguyễn Văn Bình,Vũ Đình Chính, Nguyễn Thế Côn, Lê Song Dự, Đoàn Thị Thanh Nhàn, Bùi Xuân Sửu (1996), Giáo trình cây công nghiệp Tr−ờngĐHNNI Hà Nội. Nhà xuất bản NN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây công nghiệp Tr−ờng "ĐHNNI Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Văn Bình,Vũ Đình Chính, Nguyễn Thế Côn, Lê Song Dự, Đoàn Thị Thanh Nhàn, Bùi Xuân Sửu
Nhà XB: Nhà xuất bản NN
Năm: 1996
4. Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn (2003), Niên giám thống kê Việt Nam, NXB Thống kê, 1996-2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Việt Nam
Tác giả: Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2003
5. Nguyễn Thị Chinh, Trần Văn Lài, Nguyễn Văn Thắng, Hoàng Minh Tâm, Trần Đình Long (2002), Kết quả khu vực hoá giống lạc L05, Kết quả nghiên cứu khoa học năm 2001, VKHKTNN, NXBNN - HN. Trang 131-136 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả khu vực hoá giống lạc L05, Kết quả nghiên cứu khoa học năm 2001
Tác giả: Nguyễn Thị Chinh, Trần Văn Lài, Nguyễn Văn Thắng, Hoàng Minh Tâm, Trần Đình Long
Nhà XB: NXBNN - HN. Trang 131-136
Năm: 2002
7. Cục thống kê (2003), Sở Nông nghiệp Phát triển Nông thôn, Niên giám thống kê Tỉnh Bắc Giang, 1997-2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Tỉnh Bắc Giang
Tác giả: Cục thống kê
Năm: 2003
8. Ngô thế Dân, Nguyễn Xuân Hồng, Đỗ Thị Dung, Nguyễn Thị Chinh, Vũ Thị Đào, Phạm Văn Toán, Trần Đình Long, C.L.L. Gowda (2000), Kỹ thuậtđạt năng suất cao ở Việt Nam, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật "đạt năng suất cao ở Việt Nam
Tác giả: Ngô thế Dân, Nguyễn Xuân Hồng, Đỗ Thị Dung, Nguyễn Thị Chinh, Vũ Thị Đào, Phạm Văn Toán, Trần Đình Long, C.L.L. Gowda
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2000
9. Nguyễn Thị Dần, Thái Phiên và CTV (1991), Sử dụng phân bón hợp lý cho lạc trên một số loại đất nhẹ, Tiến bộ kĩ thuật về trồng lạc và đậu đỗ ở Việt Nam, NXBNN - HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng phân bón hợp lý cho lạc trên một số loại đất nhẹ
Tác giả: Nguyễn Thị Dần, Thái Phiên và CTV
Nhà XB: NXBNN - HN
Năm: 1991
10. Dương Xuân Diêu (2003), Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và chất điều hoà sinh trưởng PIX đến một số chỉ tiêu sinh lí và năng suất của giống bông lai VN01 - 2 tại Duyên hải nam Trung Bộ, Luận văn thạc sỹ nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và chất điều hoà sinh tr−ởng PIX đến một số chỉ tiêu sinh lí và năng suất của giống bông lai VN01 - 2 tại Duyên hải nam Trung Bộ
Tác giả: Dương Xuân Diêu
Năm: 2003
11. Duan Shufen, Ng−ời dịch: Ngô Thế Dân và Phạm Thị V−ợng (1999), Cây lạc ở Trung Quốc, Những bí quyết thành công.. NXB NN - HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây lạc ở Trung Quốc, Những bí quyết thành công
Tác giả: Duan Shufen, Ng−ời dịch: Ngô Thế Dân và Phạm Thị V−ợng
Nhà XB: NXB NN - HN
Năm: 1999
12. Lưu Minh Đại, Đặng Vũ Minh (2000); Chế phẩm dinh dưỡng phun lá ĐH93; Kỷ yếu hội nghị khoa học công nghệ và môi trường các tỉnh đồng bằng sông Hồng lần thứ t−; Hải D−ơng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế phẩm dinh dưỡng phun lá "ĐH93
13. Ngô Thị Đào, Vũ Văn Hiển (1997), Giáo Trình trồng trọt, tập 3B (cây chuyên khoa), NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo Trình trồng trọt, tập 3B
Tác giả: Ngô Thị Đào, Vũ Văn Hiển
Nhà XB: NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 1997
14. Grodzinxki A.M., Grodzinxki Đ. M. (1981), Sách tra cứu tóm tắt về sinh lý thực vật. NXB. "Mir" Maxcơva, NXB. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội (ng−ời dịch: Nguyễn Ngọc Tân, Nguyễn Đình Huyên) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mir
Tác giả: Grodzinxki A.M., Grodzinxki Đ. M
Nhà XB: NXB. "Mir" Maxcơva
Năm: 1981
15. Nguyễn Xuân Hiển, Nguyễn Văn Uyển, Nguyễn Thị Xuân, Vũ Hữu Yêm (những ng−ời dịch) (1977), Nguyên tố vi l−ợng trong trồng trọt tập 1, NXBKH và KT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tố vi l−ợng trong trồng trọt tập 1
Tác giả: Nguyễn Xuân Hiển, Nguyễn Văn Uyển, Nguyễn Thị Xuân, Vũ Hữu Yêm (những ng−ời dịch)
Nhà XB: NXBKH và KT Hà Nội
Năm: 1977
16. Trần Đức Hiệp (2001), Kết quả thăm dò ảnh hưởng của các nguyên tố đất hiếm trên cây lạc, Liên hiệp đất hiếm Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả thăm dò ảnh h−ởng của các nguyên tố đất hiếm trên cây lạc
Tác giả: Trần Đức Hiệp
Năm: 2001
17. Võ Minh Hoàn (2003), So sánh một số chỉ tiêu sinh lí, hoá sinh liên quan đến tính chịu khô nóng của một số giống lạc dưới ảnh hưởng của đất bazan Quảng Trị và của KCL, Luận văn thạc sĩ khoa học sinh học, Tr−ờng Đại học S− Phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh một số chỉ tiêu sinh lí, hoá sinh liên quan "đến tính chịu khô nóng của một số giống lạc d−ới ảnh h−ởng của đất bazan Quảng Trị và của KCL
Tác giả: Võ Minh Hoàn
Năm: 2003
18. Trần Thanh Hùng, Lê Thị Thanh Ph−ơng (2001), "Kết quả nghiên cứu sử dụng chất điều tiết sinh tr−ởng PIX trên cây bông", Kết quả nghiên cứu khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu sử dụng chất điều tiết sinh tr−ởng PIX trên cây bông
Tác giả: Trần Thanh Hùng, Lê Thị Thanh Ph−ơng
Năm: 2001
20. Nguyễn Nh− Khanh (1996), Sinh lý học sinh tr−ởng và phát triển, NXB GD - HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học sinh tr−ởng và phát triển
Tác giả: Nguyễn Nh− Khanh
Nhà XB: NXB GD - HN
Năm: 1996
21. Nguyễn Nh− Khanh (1994), Dinh d−ỡng Nitơ và khoáng thực vật, Tài liệu bồi d−ỡng th−ờng xuyên chu kì 1992-1996, Sách bồi d−ỡng giáo viên trung học cơ sở bộ giáo dục và đào tạo vụ giao viên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh d−ỡng Nitơ và khoáng thực vật
Tác giả: Nguyễn Nh− Khanh
Năm: 1994
22. TrÇn §¨ng KÕ, NguyÔn Nh− Khanh (2000), Sinh lý thùc vËt tËp 1 ,NXBGD - HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý thùc vËt tËp 1
Tác giả: TrÇn §¨ng KÕ, NguyÔn Nh− Khanh
Nhà XB: NXBGD - HN
Năm: 2000
23. Nguyễn Tấn Lê (1993), ả nh h−ởng của các nguyên tố vi l−ợng Mo, B và các chất ức chế hô hấp ánh sáng Na 2 SO 3 đến các chỉ tiêu sinh học của cây lạc, Tóm tắt luận án phó tiến sĩ đại học s− phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ảnh h−ởng của các nguyên tố vi l−ợng Mo, B và các chất ức chế hô hấp ánh sáng Na"2"SO"3" đến các chỉ tiêu sinh học của cây lạc
Tác giả: Nguyễn Tấn Lê
Năm: 1993

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1: ảnh hưởng của xử lí ĐH1 đến sinh trưởng chiều cao cây   (cm) - Nghiên cứu ảnh hưởng của đh1, & NAA, PIX đến một số chỉ tiêu sinh lý và năng suất của giống lạc l14 trên đất bạc màu việt yên bắc giang
Bảng 4.1 ảnh hưởng của xử lí ĐH1 đến sinh trưởng chiều cao cây (cm) (Trang 37)
Hình 1 .Biểu đồ ảnh hưởng của xử lí  ĐH1 đến sinh trưởng chiều cao cây - Nghiên cứu ảnh hưởng của đh1, & NAA, PIX đến một số chỉ tiêu sinh lý và năng suất của giống lạc l14 trên đất bạc màu việt yên bắc giang
Hình 1 Biểu đồ ảnh hưởng của xử lí ĐH1 đến sinh trưởng chiều cao cây (Trang 38)
Bảng 4.2: ảnh hưởng của xử lí ĐH1 đến số cành cấp I, cấp II (cành/cây) Công - Nghiên cứu ảnh hưởng của đh1, & NAA, PIX đến một số chỉ tiêu sinh lý và năng suất của giống lạc l14 trên đất bạc màu việt yên bắc giang
Bảng 4.2 ảnh hưởng của xử lí ĐH1 đến số cành cấp I, cấp II (cành/cây) Công (Trang 39)
Bảng 4.3: ảnh hưởng của xử lí ĐH1 đến chỉ số diện tích lá (LAI) của cây  lạc (m 2  lá /1m 2  đất) - Nghiên cứu ảnh hưởng của đh1, & NAA, PIX đến một số chỉ tiêu sinh lý và năng suất của giống lạc l14 trên đất bạc màu việt yên bắc giang
Bảng 4.3 ảnh hưởng của xử lí ĐH1 đến chỉ số diện tích lá (LAI) của cây lạc (m 2 lá /1m 2 đất) (Trang 40)
Bảng 4.4: ảnh h−ởng của xử lí chế phẩm ĐH1 tới hàm l−ợng diệp  lục trong lá lạc (mg/100gam lá t−ơi) - Nghiên cứu ảnh hưởng của đh1, & NAA, PIX đến một số chỉ tiêu sinh lý và năng suất của giống lạc l14 trên đất bạc màu việt yên bắc giang
Bảng 4.4 ảnh h−ởng của xử lí chế phẩm ĐH1 tới hàm l−ợng diệp lục trong lá lạc (mg/100gam lá t−ơi) (Trang 41)
Bảng 4.5: ảnh hưởng của xử lí chế phẩm ĐH1 đến số lượng nốt - Nghiên cứu ảnh hưởng của đh1, & NAA, PIX đến một số chỉ tiêu sinh lý và năng suất của giống lạc l14 trên đất bạc màu việt yên bắc giang
Bảng 4.5 ảnh hưởng của xử lí chế phẩm ĐH1 đến số lượng nốt (Trang 42)
Bảng 4.7: ảnh hưởng của chế phẩm ĐH1 đến các yếu tố cấu thành  n¨ng suÊt - Nghiên cứu ảnh hưởng của đh1, & NAA, PIX đến một số chỉ tiêu sinh lý và năng suất của giống lạc l14 trên đất bạc màu việt yên bắc giang
Bảng 4.7 ảnh hưởng của chế phẩm ĐH1 đến các yếu tố cấu thành n¨ng suÊt (Trang 44)
Bảng 4.8: ảnh hưởng của xử lí chế phẩm ĐH1 đến năng suất (tạ/ha)  và hệ số kinh tế - Nghiên cứu ảnh hưởng của đh1, & NAA, PIX đến một số chỉ tiêu sinh lý và năng suất của giống lạc l14 trên đất bạc màu việt yên bắc giang
Bảng 4.8 ảnh hưởng của xử lí chế phẩm ĐH1 đến năng suất (tạ/ha) và hệ số kinh tế (Trang 45)
Hình 3: Biểu đồ ảnh hưởng của xử lí chế phẩm ĐH1 đến NSSVH và  NSTT - Nghiên cứu ảnh hưởng của đh1, & NAA, PIX đến một số chỉ tiêu sinh lý và năng suất của giống lạc l14 trên đất bạc màu việt yên bắc giang
Hình 3 Biểu đồ ảnh hưởng của xử lí chế phẩm ĐH1 đến NSSVH và NSTT (Trang 46)
Hình 4:  Quan hệ giữa LAI tối đa với NSSVH và NSTT khi xử lí ĐH1 - Nghiên cứu ảnh hưởng của đh1, & NAA, PIX đến một số chỉ tiêu sinh lý và năng suất của giống lạc l14 trên đất bạc màu việt yên bắc giang
Hình 4 Quan hệ giữa LAI tối đa với NSSVH và NSTT khi xử lí ĐH1 (Trang 47)
Bảng 4.9: Sơ bộ hạch toán kinh tế việc xử lí ĐH1 trên giống lạc L14  Thu (1000®)  Chi (1000®)  Lãi (1000đ) Công - Nghiên cứu ảnh hưởng của đh1, & NAA, PIX đến một số chỉ tiêu sinh lý và năng suất của giống lạc l14 trên đất bạc màu việt yên bắc giang
Bảng 4.9 Sơ bộ hạch toán kinh tế việc xử lí ĐH1 trên giống lạc L14 Thu (1000®) Chi (1000®) Lãi (1000đ) Công (Trang 47)
Bảng 4.10: ảnh hưởng của xử lí  g -NAA đến sự tăng trưởng chiều  cao c©y (cm) - Nghiên cứu ảnh hưởng của đh1, & NAA, PIX đến một số chỉ tiêu sinh lý và năng suất của giống lạc l14 trên đất bạc màu việt yên bắc giang
Bảng 4.10 ảnh hưởng của xử lí g -NAA đến sự tăng trưởng chiều cao c©y (cm) (Trang 49)
Bảng 4.11: ảnh hưởng của xử lí  g -NAA đến số cành cấp I. cấp II - Nghiên cứu ảnh hưởng của đh1, & NAA, PIX đến một số chỉ tiêu sinh lý và năng suất của giống lạc l14 trên đất bạc màu việt yên bắc giang
Bảng 4.11 ảnh hưởng của xử lí g -NAA đến số cành cấp I. cấp II (Trang 50)
Bảng 4.12: ảnh hưởng của xử lí  g -NAA đến chỉ số diện tích lá - Nghiên cứu ảnh hưởng của đh1, & NAA, PIX đến một số chỉ tiêu sinh lý và năng suất của giống lạc l14 trên đất bạc màu việt yên bắc giang
Bảng 4.12 ảnh hưởng của xử lí g -NAA đến chỉ số diện tích lá (Trang 50)
Hình 5: Biểu đồ ảnh hưởng của xử lí  g -NAA đến chỉ số diện tích lá - Nghiên cứu ảnh hưởng của đh1, & NAA, PIX đến một số chỉ tiêu sinh lý và năng suất của giống lạc l14 trên đất bạc màu việt yên bắc giang
Hình 5 Biểu đồ ảnh hưởng của xử lí g -NAA đến chỉ số diện tích lá (Trang 51)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w