Chọn một doanh nghiệp Việt Nam hoặc nước ngoài và phân tích quá trình quốc tế hóakinh doanh quốc tế của doanh nghiệp đó. Rút ra bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp Việt Nam. Thập kỷ cuối của thế kỷ XX đã chứng kiến nhiều thay đổi lớn về mọi mặt trong đời sống chính trị và kinh tế, đặc biệt là những thành tựu khoa học, công nghệ. Hoà bình hợp tác vì sự phát triển ngày càng trở thành một đòi hỏi bức xúc của nhiều quốc gia và các dân tộc trên thế giới nhằm tập trung mọi nỗ lực và ưu tiên cho phát triển kinh tế. Trong bối cảnh đó,quốc tế hóa đã và đang trở thành yêu cầu bức thiết đối với mỗi quốc gia. Xu hướng này đã thể hiện rõ qua sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ, vốn và công nghệ giữa các nước trên thế giới. Là một trong những nước nghèo và liên tiếp bị chiến tranh tàn phá, Việt Nam bắt đầu bước vào thời kỳ thực hiện chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường, từng bước hòa nhập và thay đổi.Để nền kinh tế ngày càng phát triển và đuổi kịp các nước trong khu vực cũng như trên thế giới thì kinh doanh quốc tế được xem là một trong những ngành kinh tế chiến lược. Con đường để Việt Nam thoát khỏi nghèo nàn đó là công nghiệp hóa, ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ của thế giới bằng cách tham gia vào quá trình quốc tế hóa kinh doanh quốc tế. Quá trình này giúp cho các nước có thể tiếp cận được nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ bên ngoài, tiếp cận với thị trường thế giới, tham gia vào phân công và hợp tác quốc tế, từ đó các nước kém phát triển có thể tạo bước phát triển nhảy vọt, rút ngắn khoảng cách, đuổi kịp các nước có nền kinh tế phát triển. Quốc tế hóakinh doanh quốc tế góp phần đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế, tạo dựng môi trường thuận lợi để phát triển, đạt được sự ổn định và phát triển khá cao. Bên cạnh quốc tế hóakinh doanh quốc tế cũng gây ra không ít khó khăn và thách thức. Đó là khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, phải đương đầu với những đối thủ cạnh tranh rất mạnh trên thị trường thế giới Vì vậy cần phải có những giải pháp thích hợp để có thể giải quyết những khó khăn đó và phát triển kinh tế có hiệu quả nhất. Đến những năm đầu thế kỷ XXI, các doanh nghiệp đến từ các nước đang phát triển đã và đang tích cực tham gia vào thị trường toàn cầu đầy sôi động này. Việt Nam cũng gia nhập và phát triển những bước quan trọng trong quá trình hội nhập toàn cầu với mức độ gia tăng doanh số bán hàng quốc tế. Tổng kim ngạch xuất khẩu trong năm 2012 đã đạt được một con số ấn tượng của 114,6 tỷ USD nhờ vào sự phát triển bền vững của các ngành công nghiệp sản xuất chi phí thấp, sử dụng nhiều lao động và sự trỗi dậy mạnh mẽ của ngành công nghiệp sản xuất công nghệ cao.Mặc dù vậy, hầu hết các doanh nghiệp mới hội nhập vẫn đang trong giai đoạn đầu của quá trình, nên phải đối mặt với sự bất ổn của thị trường và phát sinh một nhu cầu cấp thiết trong việc nâng cao kiến thức thị trường. I. QUÁ TRÌNH QUỐC TẾ HÓA KINH DOANH QUỐC TẾ 1. Khái niệm Quốc tế hóa là một quá trình gồm nhiều giai đoạn mà các doanh nghiệp thực hiện các nỗ lực không ngừng để tăng cường sự tham gia và chia sẻ thị trường quốc tế, đồng thời dần dần cải thiện nhận thức và cam kết của người tiêu dùng nước ngoài đối với sản phẩm của họ thông qua hai hoạt động: xuất khẩu để đưa sản phẩm nội địa thâm nhập thị trường quốc tế và ở mức độ cao hơn là bắt đầu mở rộng hoạt động sản xuất ra nước ngoài dưới hình thức của FDI. Trong đó hoạt động xuất khẩu là trọng tâm chính của hầu hết các doanh nghiệp đến từ các nước đang phát triển để giải quyết vấn đề mở rộng thị trường tiêu thụ. Bằng cách này, xuất khẩu là lựa chọn tốt và ít tốn kém nhất để đa dạng hóa và mở rộng kích cỡ thị trường. Ngoài ra các doanh nghiệp có xu hướng bắt đầu quá trình quốc tế của họ bằng cách xuất khẩu sang các thị trường tương tự. Điều này có thể bắt nguồn từ thực tế là doanh nghiệp toàn cầu có thể tự tin và chủ động hơn trong việc thực hiện các chiến lược quốc tế hóa thích hợp trong các môi trường kinh doanh tương đồng. Kinh doanh quốc tế là một lĩnh vực năng động và mang tính toàn cầu thuộc nhóm ngành kinh doanh, cung cấp những kiến thức chung về quản trị kinh doanh, về chiến thuật, chiến lược kinh doanh xuyên quốc gia.Nói một cách dễ hiểu, kinh doanh quốc tế là toàn bộ các hoạt động giao dịch, kinh doanh được thực hiện giữa các quốc gia, nhằm thoả mãn các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp, cá nhân và các tổ chức kinh tế. Hoạt động kinh doanh quốc tế được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như thông qua các lĩnh vực xuất khẩu hàng hoá, các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh quốc tế tăng thu ngoại tệ để tăng nguồn vốn dự trữ, đẩy mạnh việc thu hút đầu tư trong nước; bằng hình thức hợp tác đầu tư, thu hút vốn đầu tư nước ngoài để đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế; thông qua các hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ như du lịch, kiều hối để tăng thêm nguồn thu bằng ngoại tệ thông qua lượng khách du lịch vào thăm quan; thông qua các nguồn vốn vay từ các nước, các tổ chức tín dụng, ngân hàng trên thế giới để bổ sung nguồn vốn đầu tư trong nước trong khi nguồn vốn tích lũy từ nội bộ của chúng ta còn thấp; tăng thêm nguồn vốn bằng ngoại tệ bằng cách xuất khẩu lao động và chuyên gia cho các nước thiếu lao động, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, tạo thêm việc làm, tăng thêm nguồn thu ngoại tệ cho nền kinh tế. 2. Vai trò Quốc tế hóa được xem là một quá trình chiến lược thiết yếu giúp doanh nghiệp tăng trưởng bền vững và tăng cường lợi thế cạnh tranh. Trong môi trường quốc tế hóa, các doanh nghiệp có thể mở rộng quy mô thị trường của họ mà không cần quá tốn kém, đạt được quy mô kinh tế thông qua việc giảm bớt chi phí sản xuất và đồng thời dễ dàng áp dụng chiến lược phân biệt giá và tiếp cận với các nguồn tài nguyên rẻ. Mặt khác, quá trình quốc tế hóa gây nên nhiều bất lợi mà các doanh nghiệp tham gia thị trường quốc tế phải đối mặt như sự cạnh tranh khốc liệt trên quy mô toàn cầu, những phát sinh trong chi phí giao dịch và quản lí, sự biến động thị trường và sự đa dạng về văn hóa và sở thích. Tính đến thời điểm này, cũng phải thừa nhận rằng mặc dù quy mô thị trường của doanh nghiệp toàn cầu có thể tăng gấp đôi, gấp ba hoặc thậm chí tăng trưởng theo cấp số nhân, tuy nhiên, số lượng ngày càng tăng của đối thủ cạnh tranh cũng như một loạt các tiêu chuẩn và quy định có thể gây ra một gánh nặng thực sự chứ không phải là một cơ hội tốt cho các doanh nghiệp tham gia trong ngắn hạn. Kinh doanh quốc tế giúp cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế thỏa mãn nhu cầu và lợi ích của họ về trao đổi sản phẩm, về vốn đầu tư, về công nghệ tiên tiến; giúp các quốc gia tham gia sâu rộng vào quá trình liên kết kinh tế, phân công lao động xã hội, hội nhập vào thị trường toàn cầu. Thị trường thế giới có vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển các quốc gia. Hoạt động kinh doanh quốc tế tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia chủ động và tích cực vào sự phân công lao động quốc tế và sự trao đổi mậu dịch quốc tế làm cho nền kinh tế quốc gia trở thành một hệ thống mở, tạo cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới, biến nền kinh tế thế giới thành nơi cung cấp các yếu tố đầu vào và tiêu thụ các yếu tố đầu ra cho nền kinh tế quốc gia trong hệ thống kinh tế quốc tế. Đồng thời, tham gia vào thị trường thế giới còn giúp cho các doanh nghiệp khai thác triệt để các lợi thế so sánh của mỗi quốc gia, đạt quy mô tối ưu cho mỗi ngành sản xuất, tạo điều kiện xây dựng các ngành kinh tế mũi nhọn, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và hạ giá thành, thúc đẩy việc khai thác các nhân tố tăng trưởng theo chiều sâu, trao đổi và ứng dụng nhanh chóng các công nghệ mới, thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài, nâng cao tốc độ tăng trưởng và hiệu quả của nền kinh tế quốc dân. Có thể thấy, kinh doanh quốc tế là môt bộ phận quan trọng tạo động lực phát triển cho nền kinh tế đất nước, góp phần phát triển kinh tế, thu về lượng ngoại tệ nhằm công nghiệp hóa, hiện đại hóa đát nước, góp phần giải quyết công ăn việc làm, nâng cao đời sống cho người lao động, đưa đất nước ngày một giàu mạnh. 3. Cơ sở a. Mở rộng phạm vi thị trường kinh doanh Việc vươn ra thị trường nước ngoài, mở rộng phạm vi tiêu thụ hàng hoá có tác dụng giúp cho các doanh nghiệp mở rộng khối lượng cung ứng hoặc tiêu thụ, từ đó sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp thu được lợi nhuận cao hơn. Vì vậy, chính việc mở rộng cung ứng hoặc tiêu thụ là một động cơ chủ yếu đối với một doanh nghiệp khi tham gia thực hiện hoạt động kinh doanh quốc tế. Mặt khác, khi phải đứng trước một thị trường nội địa đã bão hoà, các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế bắt đầu tìm kiếm các thị trường nước ngoài. Tuy nhiên, khi mở ra những thị trường mới, các tổ chức kinh doanh quốc tế lại chịu áp lực phải tăng doanh số bán và lợi nhuận cho tổ chức của mình. Họ thấy rằng sự gia tăng thu nhập quốc dân đầu người và sự tăng trưởng dân số của các quốc gia đã tạo ra những thị trường đầy hứa hẹn cho hoạt động của họ. Bên cạnh đó, khi tham gia kinh doanh quốc tế, các doanh nghiệp cũng tận dụng được công suất sản xuất dư thừa. Vì đôi khi các doanh nghiệp sản xuất nhiều hàng hóa dịch vụ hơn mức thị trường có thể tiêu thụ. Nhưng nếu các doanh nghiệp khám phá được nhu cầu tiêu thụ quốc tế mới thì chi phí sản xuất được giảm bớt cho mỗi sản phẩm và tăng được lợi nhuận. b. Tìm kiếm các nguồn lực nước ngoài Đối với mỗi quốc gia, các nguồn tiềm năng sẵn có không phải là vô hạn mà chỉ có giới hạn. Do vậy, để có thêm nguồn lực mới, buộc các doanh nghiệp phải vươn tới các nguồn lực ở bên ngoài. Các nguồn lực ở nước ngoài như: nhân công dồi dào và giá rẻ, thị trường tiêu thụ rộng lớn và đa dạng, nguyên vật liệu phong phú,... Đây là những nguồn lợi lớn mà các doanh nghiệp đang hướng tới nhằm giảm chi phí, tăng lợi nhuận, ngày nay nhiều nhà sản xuất, nhà phân phối cố gắng tiến hành sản xuất hay lắp ráp sản phẩm ngay ở nước ngoài và tiêu thụ ngay tại đó, tức là áp dụng rộng rãi hình thức xuất khẩu tại chỗ. c. Mở rộng và đa dạng hoá hoạt động kinh doanh Các doanh nghiệp thường mong muốn làm thế nào tránh được sự biến động thất thường của doanh số mua, bán và lợi nhuận. Cho nên, họ đã nhận thấy rằng thị trường nước ngoài và việc mua bán hàng hoá ở đó như là một biện pháp quan trọng giúp họ tránh được những đột biến xấu trong kinh doanh. Chính việc đa dạng hoá hình thức và phạm vi kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp khắc phục được tình trạng khan hiếm nguồn nhân lực trong khuôn khổ một quốc gia. Đa dạng hoá các hoạt động thương mại và đầu tư nước ngoài cho phép doanh nghiệp khắc phục những rủi ro trong kinh doanh (phân tán rủi ro), cho phép doanh nghiệp khai thác hiệu quả các lợi thế so sánh của mỗi quốc gia trong hoạt động kinh doanh nhằm tối đa hoá lợi nhuận. 4. Đặc trưng Hoạt động kinh doanh quốc tế diễn ra giữa hai hay nhiều quốc gia và được thực hiện trong môi trường kinh doanh mới và xa lạ. Vì vậy, các doanh nghiệp kinh doanh không thể lấy kinh nghiệm kinh doanh nội địa để áp đặt hoàn toàn cho kinh doanh với nước ngoài. Các doanh nghiệp muốn kinh doanh ở môi trường nước ngoài một cách hiệu quả, trước hết phải nghiên cứu, đánh giá môi trường kinh doanh nơi mà doanh nghiệp muốn thâm nhập hoạt động. Sự khác nhau giữa kinh doanh quốc tế và kinh doanh nội địa thể hiện ở một số điểm sau: Kinh doanh quốc tế là hoạt động kinh doanh diễn ra giữa các nước, còn kinh doanh trong nước là hoạt động kinh doanh chỉ diễn ra trong nội bộ quốc gia và giữa các tế bào kinh tế của quốc gia đó. Kinh doanh quốc tế được thực hiện ở nước ngoài, vì vậy các doanh nghiệp hoạt động trong môi trường này thường gặp phải nhiều rủi ro hơn là kinh doanh nội địa. Kinh doanh quốc tế buộc phải diễn ra trong môi trường kinh doanh mới và xa lạ, do đó các doanh nghiệp phải thích ứng để hoạt động có hiệu quả. Kinh doanh quốc tế tạo điều kiện cho doanh nghiệp gia tăng lợi nhuận bằng cách mở rộng phạm vi thị trường. Điều này khó có thể đạt được nếu doanh nghiệp chỉ thực hiện
Trang 1Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
BÀI TẬP NHÓM MÔN KINH DOANH QUỐC TẾ
Hà Nội – 2017
Trang 2Đề tài:
Chọn một doanh nghiệp Việt Nam hoặc nước ngoài và phân tích quá trình quốc tế hóa/kinh doanh quốc tế của doanh nghiệp
đó Rút ra bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp Việt Nam.
Thành viên nhóm:
1 Lê Thị Lan Anh - 11150137
2 Trương Thị Hải Yến - 11155337
3 Nguyễn Thị Nga - 11153070
4 Phạm Thị Nhật Ánh - 11150478
5 Lê Thị Thao - 11153984
6 Phạm Thanh Hằng - 11151371
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 5
I QUÁ TRÌNH QUỐC TẾ HÓA / KINH DOANH QUỐC TẾ 6
1 KHÁI NIỆM 6
2 VAI TRÒ 7
3 CƠ SỞ 8
A MỞ RỘNG PHẠM VI THỊ TRƯỜNG KINH DOANH 8
B. TÌM KIẾM CÁC NGUỒN LỰC NƯỚC NGOÀI 8
C. MỞ RỘNG VÀ ĐA DẠNG HOÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 8
4 ĐẶC TRƯNG 9
5 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG 9
A ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ 10
B SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 10
C ĐIỀU KIỆN CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI VÀ QUÂN SỰ 10
D YẾU TỐ VĂN HÓA 10
E SỰ HÌNH THÀNH CÁC LIÊN MINH KINH TẾ 11
II CÀ PHÊ TRUNG NGUYÊN 11
1 GIỚI THIỆU CHUNG 12
2 CÁC SẢN PHẨM CỦA TRUNG NGUYÊN 14
Trang 53 CHIẾN LƯỢC KINH DOANH QUỐC TẾ CỦA TRUNG NGUYÊN 16
A CHIẾN LƯỢC QUỐC TẾ: 18
A.1 SỰ KHÁC BIỆT ĐẾN TỪ SẢN PHẨM: 18
A.2 SỰ KHÁC BIỆT ĐẾN TỪ KHÔNG GIAN CỦA CÁC QUÁN NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG HIỆU TRUNG NGUYÊN: 19
B CÁC HÌNH THỨC THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ CỦA CÔNG TY TRUNG NGUYÊN 20
B.1 THÂM NHẬP THÔNG QUA XUẤT KHẨU THÔNG THƯỜNG 20
B.2 THÂM NHẬP THÔNG QUA HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN 21
B.2.1 KHÁI NIỆM NHƯỢNG QUYỀN 21
B.2.2 GIỚI THIỆU VỀ HỆ THỐNG NHƯỢNG QUYỀN TRUNG NGUYÊN 21
B.2.3 KHÓ KHĂN CỦA TRUNG NGUYÊN KHI NHƯỢNG QUYỀN QUỐC TẾ 22
4 THÀNH CÔNG 24
5 BÀI HỌC 25
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Thập kỷ cuối của thế kỷ XX đã chứng kiến nhiều thay đổi lớn về mọi mặt trong đờisống chính trị và kinh tế, đặc biệt là những thành tựu khoa học, công nghệ Hoà bình hợptác vì sự phát triển ngày càng trở thành một đòi hỏi bức xúc của nhiều quốc gia và cácdân tộc trên thế giới nhằm tập trung mọi nỗ lực và ưu tiên cho phát triển kinh tế Trongbối cảnh đó,quốc tế hóa đã và đang trở thành yêu cầu bức thiết đối với mỗi quốc gia Xuhướng này đã thể hiện rõ qua sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ, vốn và công nghệ giữa cácnước trên thế giới Là một trong những nước nghèo và liên tiếp bị chiến tranh tàn phá,Việt Nam bắt đầu bước vào thời kỳ thực hiện chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạchhoá tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường, từng bước hòa nhập và thay đổi.Để nền kinh
tế ngày càng phát triển và đuổi kịp các nước trong khu vực cũng như trên thế giới thì kinhdoanh quốc tế được xem là một trong những ngành kinh tế chiến lược Con đường đểViệt Nam thoát khỏi nghèo nàn đó là công nghiệp hóa, ứng dụng những thành tựu khoahọc- công nghệ của thế giới bằng cách tham gia vào quá trình quốc tế hóa/ kinh doanhquốc tế Quá trình này giúp cho các nước có thể tiếp cận được nguồn vốn, công nghệ vàkinh nghiệm quản lý từ bên ngoài, tiếp cận với thị trường thế giới, tham gia vào phâncông và hợp tác quốc tế, từ đó các nước kém phát triển có thể tạo bước phát triển nhảyvọt, rút ngắn khoảng cách, đuổi kịp các nước có nền kinh tế phát triển Quốc tế hóa/kinhdoanh quốc tế góp phần đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế, tạo dựng môi trường thuậnlợi để phát triển, đạt được sự ổn định và phát triển khá cao Bên cạnh quốc tế hóa/kinhdoanh quốc tế cũng gây ra không ít khó khăn và thách thức Đó là khoảng cách giàunghèo ngày càng lớn, phải đương đầu với những đối thủ cạnh tranh rất mạnh trên thịtrường thế giới Vì vậy cần phải có những giải pháp thích hợp để có thể giải quyết nhữngkhó khăn đó và phát triển kinh tế có hiệu quả nhất
Đến những năm đầu thế kỷ XXI, các doanh nghiệp đến từ các nước đang phát triển
đã và đang tích cực tham gia vào thị trường toàn cầu đầy sôi động này Việt Nam cũnggia nhập và phát triển những bước quan trọng trong quá trình hội nhập toàn cầu với mức
độ gia tăng doanh số bán hàng quốc tế Tổng kim ngạch xuất khẩu trong năm 2012 đã đạtđược một con số ấn tượng của 114,6 tỷ USD nhờ vào sự phát triển bền vững của cácngành công nghiệp sản xuất chi phí thấp, sử dụng nhiều lao động và sự trỗi dậy mạnh mẽcủa ngành công nghiệp sản xuất công nghệ cao.Mặc dù vậy, hầu hết các doanh nghiệpmới hội nhập vẫn đang trong giai đoạn đầu của quá trình, nên phải đối mặt với sự bất ổn
Trang 7của thị trường và phát sinh một nhu cầu cấp thiết trong việc nâng cao kiến thức thịtrường
I QUÁ TRÌNH QUỐC TẾ HÓA / KINH DOANH QUỐC TẾ
1 Khái niệm
Quốc tế hóa là một quá trình gồm nhiều giai đoạn mà các doanh nghiệp thực hiệncác nỗ lực không ngừng để tăng cường sự tham gia và chia sẻ thị trường quốc tế, đồngthời dần dần cải thiện nhận thức và cam kết của người tiêu dùng nước ngoài đối với sảnphẩm của họ thông qua hai hoạt động: xuất khẩu để đưa sản phẩm nội địa thâm nhập thịtrường quốc tế và ở mức độ cao hơn là bắt đầu mở rộng hoạt động sản xuất ra nước ngoàidưới hình thức của FDI Trong đó hoạt động xuất khẩu là trọng tâm chính của hầu hết cácdoanh nghiệp đến từ các nước đang phát triển để giải quyết vấn đề mở rộng thị trườngtiêu thụ Bằng cách này, xuất khẩu là lựa chọn tốt và ít tốn kém nhất để đa dạng hóa và
mở rộng kích cỡ thị trường Ngoài ra các doanh nghiệp có xu hướng bắt đầu quá trìnhquốc tế của họ bằng cách xuất khẩu sang các thị trường tương tự Điều này có thể bắtnguồn từ thực tế là doanh nghiệp toàn cầu có thể tự tin và chủ động hơn trong việc thựchiện các chiến lược quốc tế hóa thích hợp trong các môi trường kinh doanh tương đồng
Kinh doanh quốc tế là một lĩnh vực năng động và mang tính toàn cầu thuộc nhómngành kinh doanh, cung cấp những kiến thức chung về quản trị kinh doanh, về chiếnthuật, chiến lược kinh doanh xuyên quốc gia.Nói một cách dễ hiểu, kinh doanh quốc tế làtoàn bộ các hoạt động giao dịch, kinh doanh được thực hiện giữa các quốc gia, nhằm thoảmãn các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp, cá nhân và các tổ chức kinh tế Hoạtđộng kinh doanh quốc tế được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như thông quacác lĩnh vực xuất khẩu hàng hoá, các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh quốc tế tăngthu ngoại tệ để tăng nguồn vốn dự trữ, đẩy mạnh việc thu hút đầu tư trong nước; bằnghình thức hợp tác đầu tư, thu hút vốn đầu tư nước ngoài để đầu tư, xây dựng cơ sở vậtchất kỹ thuật cho nền kinh tế; thông qua các hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ như du lịch,kiều hối để tăng thêm nguồn thu bằng ngoại tệ thông qua lượng khách du lịch vào thămquan; thông qua các nguồn vốn vay từ các nước, các tổ chức tín dụng, ngân hàng trên thếgiới để bổ sung nguồn vốn đầu tư trong nước trong khi nguồn vốn tích lũy từ nội bộ củachúng ta còn thấp; tăng thêm nguồn vốn bằng ngoại tệ bằng cách xuất khẩu lao động vàchuyên gia cho các nước thiếu lao động, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, tạo thêmviệc làm, tăng thêm nguồn thu ngoại tệ cho nền kinh tế
Trang 82 Vai trò
Quốc tế hóa được xem là một quá trình chiến lược thiết yếu giúp doanh nghiệp tăngtrưởng bền vững và tăng cường lợi thế cạnh tranh Trong môi trường quốc tế hóa, cácdoanh nghiệp có thể mở rộng quy mô thị trường của họ mà không cần quá tốn kém, đạtđược quy mô kinh tế thông qua việc giảm bớt chi phí sản xuất và đồng thời dễ dàng ápdụng chiến lược phân biệt giá và tiếp cận với các nguồn tài nguyên rẻ Mặt khác, quátrình quốc tế hóa gây nên nhiều bất lợi mà các doanh nghiệp tham gia thị trường quốc tếphải đối mặt như sự cạnh tranh khốc liệt trên quy mô toàn cầu, những phát sinh trong chiphí giao dịch và quản lí, sự biến động thị trường và sự đa dạng về văn hóa và sở thích.Tính đến thời điểm này, cũng phải thừa nhận rằng mặc dù quy mô thị trường của doanhnghiệp toàn cầu có thể tăng gấp đôi, gấp ba hoặc thậm chí tăng trưởng theo cấp số nhân,tuy nhiên, số lượng ngày càng tăng của đối thủ cạnh tranh cũng như một loạt các tiêuchuẩn và quy định có thể gây ra một gánh nặng thực sự chứ không phải là một cơ hội tốtcho các doanh nghiệp tham gia trong ngắn hạn
Kinh doanh quốc tế giúp cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế thỏa mãn nhu cầu
và lợi ích của họ về trao đổi sản phẩm, về vốn đầu tư, về công nghệ tiên tiến; giúp cácquốc gia tham gia sâu rộng vào quá trình liên kết kinh tế, phân công lao động xã hội, hộinhập vào thị trường toàn cầu Thị trường thế giới có vai trò ngày càng quan trọng đối với
sự phát triển các quốc gia Hoạt động kinh doanh quốc tế tạo điều kiện cho các doanhnghiệp tham gia chủ động và tích cực vào sự phân công lao động quốc tế và sự trao đổimậu dịch quốc tế làm cho nền kinh tế quốc gia trở thành một hệ thống mở, tạo cầu nốigiữa nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới, biến nền kinh tế thế giới thành nơicung cấp các yếu tố đầu vào và tiêu thụ các yếu tố đầu ra cho nền kinh tế quốc gia trong
hệ thống kinh tế quốc tế Đồng thời, tham gia vào thị trường thế giới còn giúp cho cácdoanh nghiệp khai thác triệt để các lợi thế so sánh của mỗi quốc gia, đạt quy mô tối ưucho mỗi ngành sản xuất, tạo điều kiện xây dựng các ngành kinh tế mũi nhọn, nâng caonăng suất lao động, chất lượng sản phẩm và hạ giá thành, thúc đẩy việc khai thác cácnhân tố tăng trưởng theo chiều sâu, trao đổi và ứng dụng nhanh chóng các công nghệmới, thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài, nâng cao tốc độ tăng trưởng và hiệu quả của nềnkinh tế quốc dân Có thể thấy, kinh doanh quốc tế là môt bộ phận quan trọng tạo động lực
Trang 9phát triển cho nền kinh tế đất nước, góp phần phát triển kinh tế, thu về lượng ngoại tệnhằm công nghiệp hóa, hiện đại hóa đát nước, góp phần giải quyết công ăn việc làm,nâng cao đời sống cho người lao động, đưa đất nước ngày một giàu mạnh.
3 Cơ sở
a Mở rộng phạm vi thị trường kinh doanh
Việc vươn ra thị trường nước ngoài, mở rộng phạm vi tiêu thụ hàng hoá có tácdụng giúp cho các doanh nghiệp mở rộng khối lượng cung ứng hoặc tiêu thụ, từ đó sẽ tạođiều kiện cho doanh nghiệp thu được lợi nhuận cao hơn Vì vậy, chính việc mở rộng cungứng hoặc tiêu thụ là một động cơ chủ yếu đối với một doanh nghiệp khi tham gia thựchiện hoạt động kinh doanh quốc tế Mặt khác, khi phải đứng trước một thị trường nội địa
đã bão hoà, các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế bắt đầu tìm kiếm các thị trường nướcngoài Tuy nhiên, khi mở ra những thị trường mới, các tổ chức kinh doanh quốc tế lạichịu áp lực phải tăng doanh số bán và lợi nhuận cho tổ chức của mình Họ thấy rằng sựgia tăng thu nhập quốc dân đầu người và sự tăng trưởng dân số của các quốc gia đã tạo ranhững thị trường đầy hứa hẹn cho hoạt động của họ
Bên cạnh đó, khi tham gia kinh doanh quốc tế, các doanh nghiệp cũng tận dụng được công suất sản xuất dư thừa Vì đôi khi các doanh nghiệp sản xuất nhiều hàng hóa dịch vụ hơn mức thị trường có thể tiêu thụ Nhưng nếu các doanh nghiệp khám phá được nhu cầu tiêu thụ quốc tế mới thì chi phí sản xuất được giảm bớt cho mỗi sản phẩm và tăng được lợi nhuận
b Tìm kiếm các nguồn lực nước ngoài
Đối với mỗi quốc gia, các nguồn tiềm năng sẵn có không phải là vô hạn mà chỉ cógiới hạn Do vậy, để có thêm nguồn lực mới, buộc các doanh nghiệp phải vươn tới cácnguồn lực ở bên ngoài Các nguồn lực ở nước ngoài như: nhân công dồi dào và giá rẻ, thịtrường tiêu thụ rộng lớn và đa dạng, nguyên vật liệu phong phú, Đây là những nguồnlợi lớn mà các doanh nghiệp đang hướng tới nhằm giảm chi phí, tăng lợi nhuận, ngày naynhiều nhà sản xuất, nhà phân phối cố gắng tiến hành sản xuất hay lắp ráp sản phẩm ngay
ở nước ngoài và tiêu thụ ngay tại đó, tức là áp dụng rộng rãi hình thức xuất khẩu tại chỗ
c Mở rộng và đa dạng hoá hoạt động kinh doanh
Trang 10Các doanh nghiệp thường mong muốn làm thế nào tránh được sự biến động thấtthường của doanh số mua, bán và lợi nhuận Cho nên, họ đã nhận thấy rằng thị trườngnước ngoài và việc mua bán hàng hoá ở đó như là một biện pháp quan trọng giúp họtránh được những đột biến xấu trong kinh doanh Chính việc đa dạng hoá hình thức vàphạm vi kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp khắc phục được tình trạng khan hiếm nguồnnhân lực trong khuôn khổ một quốc gia Đa dạng hoá các hoạt động thương mại và đầu tưnước ngoài cho phép doanh nghiệp khắc phục những rủi ro trong kinh doanh (phân tánrủi ro), cho phép doanh nghiệp khai thác hiệu quả các lợi thế so sánh của mỗi quốc giatrong hoạt động kinh doanh nhằm tối đa hoá lợi nhuận
4 Đặc trưng
Hoạt động kinh doanh quốc tế diễn ra giữa hai hay nhiều quốc gia và được thực hiệntrong môi trường kinh doanh mới và xa lạ Vì vậy, các doanh nghiệp kinh doanh khôngthể lấy kinh nghiệm kinh doanh nội địa để áp đặt hoàn toàn cho kinh doanh với nướcngoài
Các doanh nghiệp muốn kinh doanh ở môi trường nước ngoài một cách hiệu quả, trước hết phải nghiên cứu, đánh giá môi trường kinh doanh nơi mà doanh nghiệp muốn thâm nhập hoạt động Sự khác nhau giữa kinh doanh quốc tế và kinh doanh nội địa thể hiện ở một số điểm sau:
-Kinh doanh quốc tế là hoạt động kinh doanh diễn ra giữa các nước, còn kinh doanhtrong nước là hoạt động kinh doanh chỉ diễn ra trong nội bộ quốc gia và giữa các tế bàokinh tế của quốc gia đó
-Kinh doanh quốc tế được thực hiện ở nước ngoài, vì vậy các doanh nghiệp hoạtđộng trong môi trường này thường gặp phải nhiều rủi ro hơn là kinh doanh nội địa
-Kinh doanh quốc tế buộc phải diễn ra trong môi trường kinh doanh mới và xa lạ, do
đó các doanh nghiệp phải thích ứng để hoạt động có hiệu quả
-Kinh doanh quốc tế tạo điều kiện cho doanh nghiệp gia tăng lợi nhuận bằng cách mởrộng phạm vi thị trường Điều này khó có thể đạt được nếu doanh nghiệp chỉ thực hiệnkinh doanh trong nước
5 Nhân tố ảnh hưởng
Trang 11a Điều kiện phát triển kinh tế
Sự tăng trưởng các hoạt động kinh doanh nói chung và kinh doanh quốc tế nói riêngphụ thuộc rất nhiều vào tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia trong nền kinh tế toàn cầu
Khi thu nhập của dân cư này càng tăng lên, điều kiện sinh hoạt ngày càng được cảithiện do nền kinh tế có sự tăng trưởng mạnh nhu cầu cho sản xuất cũng như cho tiêudùng đòi hỏi phải được đáp ứng Trong khi đó sự chật hẹp của thị trường nội địa khó cóthể đáp ứng được nhu cầu đó, chỉ có mở rộng hoạt động kinh doanh ra phạm vi quốc tế
mớ có thể giải quyết được vấn đề nói trên Những điều kiện kinh tế có tác động rất mạnhđến khối lượng buôn bán và đầu tư… hàng năm Song sự gia tăng buôn bán và đầu tưluôn có xu hướng biến đổi nhanh hơn sự biến đổi của nền kinh tế Tỷ lệ mậu dịch quốc tếđang có xu hương tăng nhanh hơn tỷ lệ tổng sản phẩm quốc tế trong dài hạn…
b Sự phát triển của khoa học và công nghệ
Sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay đang thúcđẩy mạnh tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế ở từng quốc gia, làm cho nhiều quốcgia có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Chính sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ đã làm xuất hiện sản phẩm mới thaythế những sản phẩm cũ và thay đổi vị trí của từng quốc gia, từng doanh nghiệp trong hoạtđộng kinh doanh quốc tế Tình hình này đang là 1 sức ép lớn đối với các quốc gia nghèo
và các doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh kém hơn
c Điều kiện chính trị - xã hội và quân sự
Sự ổn định hay bất lợi về chính trị, xã hội cũng là những nhân tố ảnh hưởng lớn đếnhoạt động kinh doanh quốc tế và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Hệ thống chínhtrị và các quan điểm về chính trị xã hội xét đến cùng tác động trực tiếp đến phạm vi, lĩnhvực, mặt hàng,… đối tác kinh doanh Các cuộc xung đột lớn hay nhỏ về quân sự trongnội bộ quốc gia và giữa các quốc gia đã dẫn đến sự thay đổi lớn về các mặt hàng sản xuất.Chính việc chuyển từ sản phẩm tiêu dùng sang sản xuất sản phẩm phục vụ mục đích quân
sự đã làm cho kinh doanh thay đổi, đầu tư bị gián đoạn, quan hệ giữa các quốc gia bị xấu
đi và dần tạo lập nên những hàng rào vô hình ngăn cản hoạt động kinh doanh quốc tế
d Yếu tố văn hóa
Hiểu biết văn hóa sẽ tác động đến khả năng tiếp cận thị trường địa phương, duy trìcác mối quan hệ kinh doanh, đàm phán giao dịch thành công, tiến hành bán hàng, thực
Trang 12hiện các chiến dịch tiếp thị và quảng cáo, tiến hành các hoạt động sản xuất và phânphối…của doanh nghiệp Bỏ qua các yếu tố văn hóa sẽ đưa doanh nghiệp vào thế bất lợi,hiểu biết văn hóa sẽ giúp doanh nghiệp tạo lập được lợi thế trong kinh doanh Vì vậy,trong các hoạt động kinh doanh quốc tế, giống như việc phân tích kỹ thuật hay thị trường,doanh nghiệp cũng nên tiến hành phân tích văn hóa
e Sự hình thành các liên minh kinh tế
Việc hình thành các khối liên kết về kinh tế, chính trị, quân sự đã góp phần làm tănghoạt động kinh doanh, buôn bán và đầu tư giữa các quốc gia thành viên (trong khối), làmgiảm tỷ lệ mậu dịch với các nước không thành viên Để khắc phục hạn chế này, các quốcgia thành viên trong khối thường tiến hành ký kết với các quốc gia ngoài khối những hiệpđịnh, thỏa ước để từng bước nới lỏng hàng rào vô hình tạo điều kiện cho hoạt động kinhdoanh quốc tế phát triển
Bên cạnh các hiệp định song phương, đa phương giữa các quốc gia đã và đang được
ký kết, các tổ chức kinh tế quốc tế, đặc biệt là Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Pháttriển châu Á (ADB) có vai trò cực kỳ quan trọng đối với kinh doanh quốc tế Chínhnhững tổ chức này đã cung cấp vốn cho những chương trình xã hội và phát triển cơ sở hạtâng như đường giao thông, cầu cảnh, nhà ở… Việc cho vay của những tổ chức này đãkích thích mậu dịch và đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Thông qua đó, các quốcgia, các doanh nghiệp kinh doanh có thể mua được những máy móc thiết bị cần thiết từnước ngoài, xây dựng mới hoặc nâng cấp cơ sở hạ tầng và do đó thúc đẩy hoạt động kinhdoanh quốc tế có hiệu quả Việc hình thành và phát triển của Liên minh châu Âu (EU)với 25 quốc gia thành viên, với đỉnh cao là đưa đồng tiên chung EURO vào lưu hànhchính thức (01/01/2002), làm cho vị thế của EURO được nâng cao đồng thời thúc đẩykinh doanh quốc tế phát triển mạnh hơn
II CÀ PHÊ TRUNG NGUYÊN
Mức độ quốc tế hóa của nền kinh tế Việt Nam đã tăng mạnh từ khi thực hiện cải cáchkinh tế vào cuối thập niên 80 Quá trình này đã tăng tốc kể từ giữa thập niên 90 với việcbình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ (từđó dẫn đến việc ký kết hiệp định thương mại
Trang 13song phương vào năm 2001), gia nhập ASEAN, tiếp nhận vốn FDI với lượng lớn, giatăng nhanh chóng thương mại quốc tế và gia nhập WTO Các doanh nghiệp tại Việt Namcũng đã đưa ra và thực hiện các chiến lược để hòa nhập và xu hướng chung của nền kinh
tế thế giới Cà phê Trung Nguyên cũng đã đưa ra những chiến lược và đạt được nhữngthành công nhất định trên thị trường quốc tế
1 Giới thiệu chung
Tập đoàn trung Nguyên là một doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực: sản xuất,chế biến, kinh doanh cà phê, nhượng quyền thương hiệu, dịch vụ phân phối, bán lẻ hiệnđại và du lịch Cà phê Trung Nguyên là thương hiệu nổi tiếng hàng đầu Việt Nam, vàđang có mặt tại hơn 60 quốc gia trên thế giới
Lịch sử hình thành
-1996: Trung Nguyên được thành lập tại thành phố Buôn Ma Thuột
-1998: Cửa hàng đầu tiên khai trương tại TP HCM
-2000: Trung Nguyên có mặt tại Hà Nội, triển khai mô hình Nhượng quyền
-2001: Nhượng quyền thành công tại Nhật bản
-2003: Nhãn hiệu cà phê hòa tan G7 của Trung Nguyên ra đời
-2008: thành lập văn phòng tại Singapore
-2012: Trung Nguyên trở thành thương hiệu cà phê được người tiêu dùng Việt Nam yêu nhất
-2014: Trung Nguyên ra mắt Đại siêu thị cafe-cafe.net.vn
Nguồn nhân lực
Hiện nay, tập đoàn Trung Nguyên có khoảng gần 2000 nhân viên làm việc cho công
ty cổ phần Trung Nguyên, công ty cổ phần TM&DV G7 tại 3 văn phòng, 2 nhà máy và 5chi nhánh trên toàn quốc cùng với ccong ty liên doanh VGG hoạt động tại Singapore.Ngoài ra, Trung Nguyên còn giasn tiếp tạo ra việc làm cho hơn 15.000 lao động qua hệthống 1000 quán cà phê nhượng quyền trên cả nước
Đội ngũ quản lý của tập đoàn Trung Nguyên hầu hết là những người trẻ, được đàotạo bài bản, cùng với các chuyên gia tư vấn có kinh nghiệm làm việc trong các tập đoànnước ngoài
Với chiến lược trở thành một tập đoàn kinh tế bao gồm 10 công ty thành viên hoạtđộng trên nhiều lĩnh vực: trồng, chế biến, xuất khẩu, chăn nuôi, bất động sản Tập đoàn
Trang 14Trung Nguyên luôn cần bổ sung một đọi ngũ nhân lực trẻ, năng động, tâm huyết và sángtạo, sẵn sàng cùng công ty xây dựng Trung Nguyên thành một tập đoàn kinh tế hùngmạnh của Việt Nam.
Đội ngũ nhân viên của tập đoàn Trung Nguyên luôn được tạo những điều kiện làm việc tốt nhất để có thể học hỏi, phát huy khả năng và cống hiến vớ tinh thần” Cam kết- Trách nhiệm- Danh dự”
Tầm nhìn và sứ mạng:
- Tầm nhìn: Trở thành một tập đoàn thúc đẩy sự trỗi dậy của nền kinh tế Việt Nam, giữ vững sự tự chủ về kinh tế quốc gua và khơi dậy, chứng minh cho một khát vọng Đại Việt khám phá và chinh phục
- Sứ mạng: Tạo dựng thương hiệu hàng đầu qua vvieejc mang lại cho người thưởng thức cà phê nguồn cảm hứng sáng tạo và niềm tự hào trong phong cách Trung Nguyên đậm đà văn hóa việt
Giá trị cốt lõi:
1 Khơi nguồn sáng tạo
2 Phát triển và bảo vệ thương hiệu
3 Lấy người tiêu dùng làm tâm
4 Gây dựng thành công cùng đối tác
5 Phát triển nguồn nhân lực mạnh
6 Lấy hiệu quả làm nền tảng
7 Góp phần xây dựng cộng đồng
Định hướng phát triển
Trung Nguyên sẽ trở thành một tập đoàn gồm 10 công ty thành viên hoạt động trong các lĩnh vực trồng, chế biến, xuất khẩu cà phê, kinh doanh bất động sản, chăn nuôi và truyền thông trong năm 2017
Hệ thống nhượng quyền đầu tiên của Việt Nam