Tăng huyết áp còn gây các biến chứng như suy tim, bệnh mạch máu ngoại vi, suy thận, xuất huyết võng mạc và tổn thương thị giác… Ở Việt Nam, tăng huyết áp là một yếu tố nguy cơ chính d
Trang 21
Lời mở đầu
Hiện nay, tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ chủ yếu của bệnh mạch vành và tai biến mạch máu não Đây là các biến chứng hay gặp và có tỷ lệ tử vong cao hoặc để lại di chứng nặng nề như mất ý thức, liệt nửa người… làm mất khả năng lao động, thậm chí cần được chăm sóc và phục vụ lâu dài
Tăng huyết áp còn gây các biến chứng như suy tim, bệnh mạch máu ngoại vi, suy thận, xuất huyết võng mạc và tổn thương thị giác…
Ở Việt Nam, tăng huyết áp là một yếu tố nguy cơ chính dẫn đến các biến cố tim mạch nặng nề như đột quỵ, nhồi máu cơ tim, suy tim, suy thận và mù lòa…Trong một nghiên cứu của Nguyễn Văn Đăng và cộng sự năm 1996 cho thấy tăng huyết áp là nguyên nhân chính (chiếm 59,3% các nguyên nhân) gây ra tai biến mạch máu não Ước tính có khoảng 15.990 người bị liệt, tàn phế, mất sức lao động do tai biến mạch máu não hàng năm Điều tra dịch tễ học suy tim và một số nguyên nhân chính tại các tỉnh phía bắc Việt Nam năm 2003 do Viện Tim mạch phối hợp với Tổ chức Y tế thế giới thực hiện cho thấy nguyên nhân hàng đầu gây suy tim tại cộng đồng là do tăng huyết áp (chiếm 10,2%), sau đó là do bệnh van tim
do thấp (0,8%)
Trong năm 2012, gánh nặng bệnh tật (DALYs) do các bệnh tim mạch chiếm tỷ lệ lớn nhất (13,4%) trong tổng gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam Đột quỵ, nhồi máu cơ tim và bệnh tim do tăng huyết áp là 3 trong số 20 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu Theo kết quả nghiên cứu từ giám sát tử vong dựa trên chọn mẫu điểm toàn quốc năm 2009, tử vong do các bệnh mạch máu não chiếm hàng đầu (ở nam và nữ tương đương là 16,6% và 18% tổng số tử vong do mọi nguyên nhân); tử vong do thiếu máu cơ tim ở nam và nữ tương ứng là 3,7% và 3,5% trong tổng số tử vong Năm 2011 có 112.600 ca tử vong do tai biến mạch máu não, chiếm tới 21,7% tổng số tử vong Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới năm 2014, các bệnh tim mạch chiếm tỷ lệ tử vong lớn nhất (33%) trong tổng số tử vong do các nguyên nhân Điều này
có nghĩa là cứ 10 trường hợp tử vong thì có 3 trường hợp do nguyên nhân bệnh tim mạch Các bệnh động mạch vành tim và tai biến mạch máu não là các bệnh tim mạch phổ biến và nguy hiểm, có tỷ lệ tử vong cao hoặc để lại di chứng nặng nề như mất ý thức, liệt nửa người… cần phải điều trị và chăm sóc lâu dài Chi phí điều trị cho các bệnh nói trên là rất lớn do phải điều trị dài ngày (hầu như suốt quãng đời còn lại), thuốc và phương tiện kỹ thuật đắt tiền, ngoài ra còn phải kể đến chi phí gián tiếp do người nhà phải chăm nuôi… Nhìn chung, bên cạnh việc ảnh hưởng tới sức khỏe và giảm chất lượng cuộc sống thì thiệt hại về kinh tế do bệnh không lây nhiễm nói chung và các bệnh tim mạch nói riêng là rất lớn cho cả bản thân người bệnh, gia đình và xã hội
Như vậy cả trên thế giới và ở Việt Nam, tăng huyết áp và các bệnh tim mạch có liên quan đang gia tăng nhanh chóng và là nguyên nhân gây ra gánh nặng bệnh tật và tử vong lớn nhất so với các nguyên nhân khác nên cần phải có các giải pháp can thiệp phù hợp và kịp thời
Do sự nguy hiểm và tầm quan trọng của căn bệnh cao huyết áp nên chúng em muốn tìm hiểu và cũng chính là đề tài tiểu luận của chúng em
Trang 32
A BỆNH CAO HUYẾT ÁP VÀ THỪA CÂN DẪN ĐẾN CAO HUYẾT ÁP
I Giới thiệu về huyết áp
Huyết áp là lực của máu tác động lên một đơn vị diện tích thành động
mạch Máu chảy được trong động mạch là kết quả của hai lực đối lập, lực đẩy máu của tim và lực cản của thành động mạch, trong đó lực đẩy máu của tim mạnh hơn nên máu chảy được trong động mạch với một tốc độ và
áp suất nhất định Đơn vị đo huyết áp là mmHg hoặc KPa (1KPa = 7.5 mmHg)
Huyết áp tâm thu hay còn gọi là huyết áp tối đa, là giới hạn cao nhất của những dao động có chu kỳ của huyết áp trong mạch, thể hiện sức bơm máu của tim
Huyết áp tâm trương, hay còn gọi là huyết áp tối thiểu, là giới hạn thấp nhất của những dao động có chu kỳ của huyết áp trong mạch, thể hiện sức cản của thành mạch
Nhịp tim là số nhịp tim đập/ phút
II Cao huyết áp
1 Cao huyết áp là gì?
Cao huyết áp (CHA) là nguyên nhân gây suy tim thường gặp nhất; nó cũng
là yếu tố nguy cơ chính dẫn đến bệnh xơ vữa động mạch và xuất huyết não Cao huyết áp được định nghĩa là tình trạng huyết áp 160/95 mmHg
2 Phân loại
Dựa theo nguyên nhân, phân biệt 2 loại cao huyết áp:
CHA nguyên phát, còn gọi là cao huyết áp vô căn vì không tìm thấy nguyên nhân rõ rệt, chiếm 90% các trường hợp CHA, thường xảy ra sau 40 tuổi
CHA thứ phát, chiếm 10% các trường hợp CHA, có nguyên nhân rõ rệt như bệnh lý thận (suy thận mãn, viêm cầu thận cấp, hẹp động mạch thận), thắt hẹp động mạch chủ, u tuyến thượng thận CHA thứ phát có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi
Dựa theo diễn biến lâm sàng, CHA ( nguyên phát hay thứ phát ) được phân thành 2 loại:
CHA lành tính: huyết áp tăng từ từ trong nhiều năm mà không có triệu chứng lâm sàng, bệnh được phát hiện tình cờ khi đo huyết áp
CHA ác tính: huyết áp tăng nhanh trong thời gian ngắn ( huyết áp tâm trương > 120 mmHg); gây ra các triệu chứng thần kinh, tim
Trang 43
mạch,… Bệnh nhân tử vong trong vòng 1-2 năm nếu không được điều trị
3 Cơ chế bệnh sinh của bệnh cao huyết áp
Cao huyết áp nguyên phát
Trị số huyết áp được quyết định bởi 2 thông số huyết động học là cung lượng tim và kháng lực mạch ngoại vi: này huyết áp tăng khi 2 thông số này tang cao T uy nhiên chưa hoàn toàn hiểu rõ, các yếu tố sau đây được cho là có vai trò trong cơ chế sinh bệnh của cao huyết áp nguyên phát:
Ứ đọng natri: có sự suy giảm bài tiết Natri tại thận, gây ứ natri trong cơ thể, kết quả là thể tích máu và cung lượng tim tăng Cung lượng tim sẽ làm tăng huyết áp
Tăng lượng catecholamine: đồng thời có sự rối loạn vận chuyển natri và calci ngang qua màng tế bào, làm tăng nồng độ calci nội bào Kết quả là cơ trơn thành mạch co lai, làm tăng kháng lực ngoại vi
Tăng lượng renin giải phóng từ bộ máy cận cẩu thận, renin xúc tác phản ứng biến angiotensinogen( là một globulin huyết tương) trong máu thành angiotensin I, angiotensin I được chuyển thành angiotensin II tại phổi nhờ tác động của enzyme chuyển angiotensin ACE( angiotensin converting enzyme) Angiotensin II tác động trực tiếp lên tế bào cơ trơn thành mạch, gây co mạch mạnh: đồng thời lại tác động lên vỏ thượng thận, kích thích sự chế tiết aldosterone, làm tăng tái hấp thụ natri và nước ở ống thận xa Kết quả là kháng lực mạch ngoại vi và thể tích tuần hoàn đều tăng lên
Cao huyết áp thứ phát:
Tuổi tác
Giới tính
Ăn mặn
Trang 5Hậu quả của cao huyết áp rất đa dạng nhưng đáng chú ý nhất là ở 4 loại mô
cơ quan sau:
Tim: tâm thất trái phì đại để thích nghi với tình trạng tăng huyết áp Nếu huyết áp tiếp tục tăng vượt quá khả năng thích nghi của tim, tâm thất trái sẽ bị phình giãn đưa đến suy tim Cao huyết áp làm tổn thương xơ vữa nặng hơn, làm giảm tuần hoàn mạch và vành tim, gây
ra bệnh thiếu máu cơ tim hoặc nhồi máu cơ tim
Não: bệnh nhân cao huyết áp dễ bị xuất huyết não do thành mạch dòn, dễ vỡ
Thận: cả 3 loại xơ cứng tiểu động mạch trong bệnh cao huyết áp có thể gây ra thiếu máu cục bộ ở thận, làm các cầu thận và ống thậnbị teo đét dần, dẫn đến suy thận mãn tính
Động mạch chủ cao huyết áp thuận lợi cho sự hình thành các mảng
Trang 65
Đột quỵ- Nhồi máu cơ tim
III Thừa cân – một trong những nguyên nhân dân đến cao huyết áp
Thừa cân là do nạp quá nhiều kcal vào cơ thể trong một ngày
Nhu cầu năng lượng cho mỗi người trong 1 ngày
1 Calories là gì?
Calorie là một đơn vị năng lượng Khi áp dụng vào thức ăn, năng lượng được giải phóng, nạp vào cơ thể khi ăn một thứ gì đó được đo bằng
Calo(calories) Calo chính là yếu tố quan trọng cho mọi hoạt động sống từ
tế bào đến cơ thể (bao gồm các hoạt động cơ bắp, các vận động nội tạng, các chuyển hóa trong cơ thể, các hoạt động trí não, quá trình sinh nhiệt) Phương pháp tính Calorie cho chúng ta biết năng lượng chứa trong thực phẩm mà ta định, đang và đã nạp vào cơ thể
VD: 1g protein /4 Calorie, 1g Carbohydrate/4 Calories, 1g chất béo/9 Calories, 1g chất cồn/7 Calories
2 Cách tính lượng calories cần thiết cho mỗi ngày:
Lượng calo cần thiết hàng ngày cho cơ thể phụ thuộc vào lượng calo nền (cần thiết cho cơ thể ở trạng thái nghỉ) và chế độ vận động, tập luyện của bạn Lượng calo nền thể hiện qua tỷ lệ BMR (Basal Metabolic Rate), đề
Trang 7Trong đó: N là cân nặng (kg)
Bảng calo cần thiết cho nữ giới
Trang 8Từ bảng tính kcal cho mỗi loại thức ăn hằng ngày, mỗi người có thể tự thiết
kế các bửa ăn trong ngày sao cho phù hợp với nhu cầu của cơ thể nhằm tránh trường hợp thừa kcal
Trang 98
STT Tên TP Năng
lượng (kcal)
Nước (g)
Đạm (g)
Béo (g)
Bột (g)
Xơ (g)
Cháo, phở, miến, mì ăn liền
Trang 1154 Cùi dừa già 368.0 46.8 4.8 36.0 6.2 4.2
55 Cùi dừa non 40.0 88.6 3.5 1.7 2.6 3.5
Trang 14132 Rau Khoai lang 22.0 91.8 2.6 0.0 2.8 1.4
133 Rau mồng tơi 14.0 92.9 2.0 0.0 1.4 2.5
Trang 19Mặt khác, tim của người béo phì phải làm việc nhiều hơn để bơm máu đi nuôi cơ thể, lâu dài gây quá tải cho tim Do đó, người béo phì dễ mắc các bệnh về tim mạch Hiện tại, bệnh tim mạch đang đứng đầu trong các nguyên nhân gây tử vong, rất nhiều ca là biến chứng của bệnh béo phì
số BMI cần yêu cầu chỉ số chiều cao và cân nặng Sử dụng chỉ số BMI cho phép người ta so sánh tình trạng cân nặng của họ với quần thể nói chung
Trang 2025 BMI < 30: Thừa cân
30 BMI < 35: Béo phì độ 1
35 BMI < 40: Béo phì độ 2 BMI > 40: Béo phì độ 3
Lưu ý: Chỉ số BMI sẽ không chính xác nếu là vận động viên hoặc người tập thể hình bởi các múi cơ luôn nặng hơn mỡ, khi đó chỉ số BMI sẽ nằm trong mức béo hoặc rất béo BMI cũng không chính xác với các bà bầu,
bà mẹ cho con bú hay những người vừa ốm dậy
c Các biện pháp để giảm thiểu bệnh béo phì
1 Điều chỉnh bữa ăn
2 Tăng cường tập thể dục thường xuyên
B CHẾ ĐỘ TẬP LUYỆN ĐỂ ỔN ĐỊNH HUYẾT ÁP VÀ NÂNG CAO SỨC CHỊU ĐỰNG CỦA CƠ THỂ
I Mục đích của việc tập thể dục:
Hoạt động thể chất thường xuyên giúp tim khỏe mạnh hơn, bơm máu nhiều hơn và chịu ít kháng trở hơn Khi đó, áp lực lên thành mạch giảm, từ đó dẫn đến việc giảm huyết áp
Tăng cường vận động có thể giúp hạ huyết áp tâm thu (huyết áp tối đa) trung bình từ 4 đến 9 mmHg Hiệu quả này tương đương với một số thuốc điều trị tăng huyết áp Đối với một số người, việc tập luyện có thể giúp họ giảm liều, hoặc thậm chí không cần sử dụng thuốc
Nếu huyết áp của đã nằm trong giới hạn bình thường, việc tập thể dục có thể giúp ngăn ngừa tăng huyết áp ở quãng thời gian sau đó Tập thể dục thường xuyên cũng giúp duy trì cân nặng hợp lý, một tiêu chí quan trọng trong kiểm soát huyết áp
Nhưng để có thể hạ huyết áp hay giữ nó ở giới hạn bình thường, việc tập luyện cần được duy trì thường xuyên Phải mất từ một đến ba tháng thì quá trình này mới có tác động đến huyết áp Và để duy trì hiệu quả này, đương nhiên phải tiếp tục duy trì việc luyện tập
Trang 21_ Đặt 2 tay lên sàn, bàn tay ngay phía dưới vai
_ 2 chân duỗi thẳng, nâng hông lên sao cho từ gót chân đến vai tạo thành một đường thẳng, hông không quá cao cũng không quá thấp
_ Siết cơ mông và cơ bụng lại, mặt nhìn thẳng
_ Bắt đầu hạ thấp người xuống
_ Từ từ mở rộng khuỷu tay, cơ thể sẽ từ từ hạ xuống, cứ tiếp tục như vậy cho đến khi ngực gần chạm sàn , 2 cánh tay lúc này không choãi ra ngoài quá nhiều và sẽ ép sát gần vào cơ thể, khi xuống tới vị trí thấp nhất thì ép xương bả vai lại
_ Theo nguyên tắc chung thì bạn sẽ dừng xuống khi cẳng tay và cánh tay tạo thành góc 900
Thời gian tập: 16h30 hằng ngày
Nơi tập: ngoài hành lang
Nhiệt độ: 270 C
c Qui trình lấy mẫu:
Đối tượng đo ở trạng thái thư giãn - Đo huyết áp trước lúc tập
Tập gắng sức một lần và đo huyết áp ngay sau khi tập xong
Thực hiện trong 10 ngày ( mỗi ngày tập 1 lần)
d Qúa trình thực hành
Thời gian: 5/12/2018 – 14/12/2018
Trang 22Đo huyết áp trước khi tập ( số liệu đo ngày tập thứ 7)
Đo huyết áp sau khi tập ( số liệu đo ngày tập thứ 7)
Trang 23Ngày 1 Ngày 2 Ngày 3 Ngày 4 Ngày 5 Ngày 6 Ngày 7 Ngày 8 Ngày 9 Ngày 10
Figure 3 : Biểu đồ huyết áp sau khi tập
0 20
Ngày 1 Ngày 2 Ngày 3 Ngày 4 Ngày 5 Ngày 6 Ngày 7 Ngày 8 Ngày 9 Ngày 10
Figure 2 : Biều đồ huyết áp trước khi tập
Trang 2423
Từ ngày 7 tới ngày 10: đã có sự thay đổi huyết áp và nhịp tim: thấp hơn so với các ngày trước, mặc dù sự thay đổi chưa quá rõ ràng vì trong thời gian ngắn nên chưa cải thiện được huyết áp như mong muốn
Điều đó chứng tỏ cơ thể đã có sự thích nghi và quen dần với việc tập luyện
có nghĩa là với cường độ tập luyện như vậy cơ thể đã không còn cảm giác mệt mỏi như lần tập đầu tiên
Sau những ngày tập luyện có thể nâng dần cường độ lên để nâng cao sức chịu đựng của cơ thể
Thể dục thể thao thường xuyên tốt cho hệ thống tim mạch và làm giảm hàm lượng cholesterol trong máu giúp tim hoạt động tốt hơn, nâng cao chức năng hoạt động của tim, đồng thời giúp máu lưu thông dễ dàng hơn tránh được các bệnh liên quan đến cao huyết áp
Trang 26
25
Mục lục
A Bệnh cao huyết áp và thừa cân dẫn đến bệnh cao huyết áp 2
Thừa cân – một trong những nguyên nhân dẫn đến cao huyết áp 5
B Chế độ luyện tập để ổn định huyết áp và nâng cao sức chịu