Luận văn, thạc sĩ, tiến sĩ, khóa luận, cao học, đề tài
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp I
-
nguyễn thị hồng lam
Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển, năng suất và
chất lượng một số dòng chè Shan mới
góp phần chọn tạo, nhân giống cho các vùng
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a đ−ợc bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn dã
đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Nguyễn Thị Hồng Lam Thị Hồng Lam Thị Hồng Lam
Trang 3Lời cảm ơn Lời cảm ơn
Để hoàn thành báo luận văn, trong quá trình thực tập tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình và điều kiện thuận lợi của trường Đại Học Nông Nghiệp I - Hà Nội, Khoa Nông Học, Bộ môn Cây công nghiệp
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo TS Nguyễn
Đình Vinh, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập và hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới toàn thể các thầy giáo, cô giáo, các cán
bộ công nhân viên chức trong Bộ môn Cây công nghiệp- Khoa Nông Học - Trường Đại Học Nông Nghiệp I Hà Nộ, Bộ môn Chọn tạo và nhân giống chè, Ban lãnh đạo trung tâm nghiên cứu và phát triển chè, Viện khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc, Dự án PHE Trường ĐHNNI
Nhân dịp này, tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn tới những người thân trong gia đình, bạn bè đã giúp đỡ động viên và khuyến khích tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Lam Nguyễn Thị Hồng Lam
Trang 4Mục lục
3.1 Vật liêu, địa điểm và phương pháp nghiên cứu 40
4.1 Điều kiện thời tiết khí hậu các vùng thu thập cây chè đầu dòng và nơi
4.2.Nghiên cứu đặc điểm hình thái của các dòng chè Shan 49
Trang 54.2.1 Nghiªn cøu vÒ h×nh th¸i th©n cµnh cña c¸c dßng chÌ Shan 50
4.3 Nghiªn cøu kh¶ n¨ng sinh tr−ëng cña c¸c dßng chÌ Shan chän läc
3.4 Nghiªn cøu chÊt l−îng chÌ nguyªn liÖu vµ chÌ thµnh phÈm cña dßng
4.5 Nghiªn cøu sù ph¸t triÓn ra hoa, kÕt qu¶ cña c¸c dßng chÌ Shan 814.6 Nghiªn cøu kh¶ n¨ng nh©n gièng v« tÝnh c©y chÌ Shan chän läc b»ng
4.6.1 Kh¶ n¨ng h×nh thµnh m« sÑo cña c¸c dßng chÌ shan 85
Trang 6Danh mục các chữ viết tắt
CTV : Cộng tác viên FAO : Food Agriculture Oganization KHKT : Khoa học kỹ thuật
KTCB : Kiến thiết cơ bản NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn NXB : Nhà xuất bản
PTS : Phó tiến sĩ TCN : Trước công nguyên TCNN : Tiêu chuẩn nông nghiệp ThS : Thạc sĩ
V% : Độ biến động
Trang 7Danh mục các bảng
Bảng 2.1 Thống kê giống chè mới và diên tích đk áp dụng trong sản xuất 30Bảng 4.1 Một số yếu tố khí hậu tại các vùng tuyển chọn cây đầu dòng 47Bảng 4.2 Đặc điểm hình thái thân cành của 13 dòng chè Shan 51
Bảng 4.4 Một số tính trạng đặc trưng mang bản chất di truyền của lá chè 55Bảng 3.6 Một số chỉ tiêu sinh trưởng của các dòng chè Shan (có đốn) 59Bảng 4.7 Một số chỉ tiêu sinh trưởng cành của các dòng chè Shan 60Bảng 4.8 Thời gian phát sinh và sinh trưởng búp của các dòng chè Shan 61Bảng 4.9 Tăng trưởng chiều dài búp của các dòng chè Shan trong vụ xuân 63Bảng 4.10 Tốc độ sinh trưởng dài búp của các dòng chè Shan trong vụ xuân 64Bảng 4.11 Tăng trưởng chiều dài búp của các dòng chè Shan trong vụ hè 66Bảng 4.12 Tốc độ sinh trưởng chiều dài búp của các dòng chè Shan
Bảng 4.13 Thời gian hình thành lá của các dòng chè Shan 70Bảng 4.14 Đặc điểm búp và năng suất thực thu của các dòng chè Shan 71Bảng 4.15 Những yếu tố cấuthành năng suất của các dòng chè Shan 73Bảng 4.16 một số loại sâu bệnh gây hại chính trên các dòng chè Shan 74Bảng 3.17 Thành phần cơ giới búp chè của các dòng chè Shan 76Bảng 4.18 Kết quả phân tích thành phần sinh hoá của các dòng chè Shan 78Bảng 4.20 Một số chỉ tiêu sinh trưởng sinh thực của một số dòng chè Shan
Trang 8B¶ng 4.24 Tû lÖ n¶y mÇm cña c¸c dßng chÌ Shan sau khi c¾m hom 89B¶ng 4.25 Tû lÖ sèng cña c¸c dßng chÌ Shan sau khi c¾m hom (%) 91B¶ng 4.26 ChÊt l−îng cña c©y chÌ Shan trong giai ®o¹n v−ên −¬m 94
Trang 9Danh mục biểu đồ
Hình 4.1: Tăng trưởng búp của các dòng chè Shan ở vụ xuân 65 Hình 4.2: Tốc độ sinh trưởng búp của các dòng chè Shan ở vụ xuân 65 Hình 4.3: Tăng trưởng chiều dài búp của các dòng chè ở vụ hè 68 Hình 4.4: Tốc độ sinh trưởng búp chè Shan ở vụ hè 68 Hình 4.4 Động thái ra mô sẹo của các dòng chè Shan 88 Hình 4.5 Động thái ra rễ của các dòng chè Shan 88 Hình 4.7 Động thái nảy mầm của các dòng chè Shan 90 Hình 4.8 Tiêu chuẩn và tỷ lệ cây xuất vườn của các dòng chè Shan 92
Trang 101 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây chè (Camellia sinensis (L) O.Kuntze) vốn là cây hoang dại đk được người Trung Quốc phát hiện vào năm 2738 TCN Trong tự nhiên chè có dạng cây bụi hoặc cây gỗ, khi trồng trọt nó được khống chế chiều cao bằng việc
đốn tỉa cành để hái búp và lá non Tuỳ thuộc vào công nghệ lên men nguyên liệu thu hái mà ta có các sản phẩm khác nhau như chè xanh, chè đen, chè vàng, chè phổ nhĩ, chè ngân kim, chè ô long v.v Buổi ban đầu con người sử dụng các sản phẩm chè như một thứ dược liệu, sau được dùng làm nước uống
Chè là cây công nghiệp có vai trò quan trọng trong cơ cấu cây trồng vùng Trung du Miền núi của Việt Nam Phát triển cây chè ở vùng này có ý nghĩa cả về mặt kinh tế, xk hội và môi trường Cây chè có khả năng sinh trưởng, phát triển trong điều kiện đặc thù của vùng đất dốc, đem lại nguồn thu nhập đáng kể góp phần xoá đói giảm nghèo và dần tiến tới làm giàu cho nhân dân trong vùng Phát triển cây chè đk tạo công ăn việc làm cho hàng triệu lao
động, góp phần điều hoà sự phân bố dân cư miền núi, ổn định định canh định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số Đồng thời, cây chè còn có vai trò to lớn trong việc che phủ đất trống đồi núi trọc và bảo vệ môi trường sinh thái, một trong những vấn đề đang được Đảng và Nhà nước rất quan tâm
Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX đk xác định vị trí và định hướng phát triển cây chè vùng Trung du, Miền núi Bắc Bộ Bộ và Chính phủ đk có nhiều chính sách cho phát triển cây chè Một số tỉnh vùng Trung du Miền núi phía bắc đk coi cây chè là cây kinh tế mũi nhọn Năm 2004, diện tích trồng chè cả nước đạt 11,6582 vạn ha, năng suất 5,288 tấn búp tươi/ha tương đương năng suất bình quân chè thế giới Tổng sản lượng đạt 9.715,6 tấn; xuất khẩu khoảng 95.000 tấn, kim nghạch xuất khẩu đạt 93 triệu USD, diện tích giống
Trang 11chè Shan chiếm 25% diện tích chè trong cả nước [55], [86]
Nghiên cứu cây chè shan Miền Bắc Việt Nam, tác giả Djemurkhatze (1976) [10] nhận thấy rằng cây chè Shan Việt Nam có các catechin đơn giản nhiều hơn cả chè Shan của Vân Nam, Trung Quốc Qua đây đủ thấy đặc tính chất lượng, đặc tính quý của cây chè shan Việt Nam
Để cải thiện nâng cao chất lượng chè ở Việt Nam, đa dạng hoá sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường chè thế giới Trong những năm gần
đây, Viện nghiên cứu chè đk tiến hành đồng bộ các phương pháp chọn tạo và nhân giống Từ công tác nhập nội giống chất lượng cao, chọn lọc cá thể, lai tạo, gây đột biến và thu thập bảo quản nguồn gen từ các giống chè Shan địa phương chất lượng tốt làm vật liệu khởi đầu cho công tác chọn tạo giống chè Phát huy thế mạnh về sinh trưởng mạnh, năng suất cao, chất lượng tốt của giống chè shan bản địa, xuất phát tình hình thực tế trên, Bộ NN & PTNT cho phép Viện nghiên cứu chè tiến hành đề tài “nghiên cứu và chọn tạo giống chè chất lượng cao năm 2000 – 2005” Trong đó đk thu thập được 68 cây chè Shan
đầu dòng tại các vùng chè Shan núi cao như (Suối Giàng, Vị Xuyên, Lũng Phìn, Lạng Sơn, Tủa Chùa) và vùng chè công nghiệp tập trung (Tam Đường, Than Uyên, Mộc Châu) Năm 2004 qua theo dõi đánh giá chọn lọc đk được
Bộ NN & PTNT công nhận 13 cây chè Shan là cây đầu dòng trồng bảo quản tại Phú Hộ Tháng 1 năm 2006 Bộ NN & PTNT giao nhiệm vụ nghiên cứu khoa học với đề tài “Nghiên cứu nguồn gen cây chè shan vùng núi cao” Xuất phát từ mục tiêu đó chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng một số dòng chè Shan mới góp phần chọn tạo, nhân giống cho các vùng trồng chè Shan”
1.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu về các đặc điểm hình thái, đặc tính di truyền, khả
Trang 12năng sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng và tính thích ứng của một
số dòng chè shan trồng bảo quản tại Phú Hộ, để từ đó tuyển chọn ra các dòng
có triển vọng nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, khả năng nhân giống mở rộng diện tích cho các vùng trồng chè Shan đặc sản
1.2.2 Yêu cầu
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái của các dòng chè Shan được trồng thí nghiệm
-Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển, tiềm năng cho năng suất
và chất lượng của cây các dòng chè Shan
-Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng sinh thực của các dòng chè Shan phục vụ cho công tác lai hữu tính
-Đánh giá khả năng nhân giống vô tính của các dòng chè Shan trong vươm ươm
-Sơ bộ đánh giá khả năng chống chịu sâu bệnh hại chính của các dòng chè Shan
1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1 ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu sẽ thu thập được các tài liệu cần thiết làm cơ sở cho công tác nghiên cứu, lưu giữ nguồn gen cây chè Shan, xây dựng qui trình kỹ thuật cho cây chè Shan, tạo tiền đề để mở rộng diện tích vùng chè Shan đặc sản ở Việt Nam
1.3.2 ý nghĩa thực tiễn
Thông qua nghiên cứu mối quan hệ giữa cây trồng với môi trường được thể hiện qua các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển, năng suất, chất lượng chống chịu của một số dòng chè shan trong điều kiện Phú Hộ để chọn ra được dòng chè shan vừa giữ được đặc tính quý như: sinh trưởng mạnh, năng suất cao,
Trang 13chất l−ợng tốt đồng thời thích nghi với điều kiện sinh thái vùng thấp và sản xuất quy mô công nghiệp tập trung
Đề tài sẽ góp phần giải quyết những vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn về di thực giống chè Shan từ vùng cao xuống vùng thấp hiện nay
Trên cơ sở nghiên cứu những dòng chè có triển vọng đ−ợc chọn ra và đề xuất những biện pháp kỹ thuật thích hợp nh− nhân giống vô tính cây chè Shan
để phát huy tốt nhất −u thế của cây chè Shan về năng suất và chất l−ợng, giúp cho sản xuất chè ổn định và có hiệu quả
Trang 142 Tổng quan tàI liệu
2.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
- Cơ sở di truyền học: Chè là loại cây trồng giao phấn nếu trồng bằng hạt có tới 95% cây con không giống cây mẹ Điều đó có ý nghĩa lớn về tính đa dạng sinh học và có ý nghĩa lớn là vật liệu khởi đầu cho chọn giống Chè shan (Camellia Sinensis var Shan) hiện là 1 trong 4 thứ chè thuộc loài Camellia sinensis ( Cohen Stuart) Đặc điểm thứ chè Shan có thân gỗ lớn, sinh trưởng mạnh, lá to dạng thuôn dài, chót lá nhọn, thịt lá mềm, mặt lá gồ ghề gợn sóng, mép lá có răng cưa nhọn, búp to và mập (trọng lượng búp trên 1 gam) có nhiều lông tuyết trắng Thứ chè Shan có tính thích ứng khá rộng, thường được phân bố vùng cao Tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, miền Bắc và Trung của Việt nam, miền Bắc Miến Điện Đặc tính thích ứng rộng đó là cơ sở thực tiễn để lựa chọn và di thực cây chè Shan Trong điều kiện tự nhiên cây chè Shan có thể cao tới trên 15 mét, đường kính đạt trên 1 mét, phân cành mạnh, đường kính tán lớn, sức sống rất khoẻ, tuổi thọ cao có thể đạt tới 2700 tuổi (Vân Nam, Trung Quốc) Tiềm năng sản lượng chè Shan rất cao, một cây chè cổ thụ
có đốn hái và thu hoạch búp hàng năm có thể thu được trên 10 kg búp/1 lứa hái (Suối Giàng, Yên Bái) Trong điều kiện trồng tập trung thâm canh khả năng cho năng suất lớn hơn 15 – 18 tấn/ha (Công ty chè Mộc Châu, Sơn La)
- Cơ sở sinh lý học: Chè là cây lâu năm có 2 chu kỳ phát triển là: chu kỳ phát triển lớn và chu kỳ phát triển nhỏ
+Chu kỳ phát triển lớn bao gồm suốt cả đời sống cây chè, tính từ khi tế bào trứng thụ tinh bắt đầu phân chia đến khi cây chè già cỗi, chết Theo tác giả Trang Vkn Phương (1960) [50], Nguyễn Ngọc Kính (1979) [23] đk chia chu kỳ phát triển lớn của cây chè làm 5 giai đoạn: Giai đoạn phôi thai, giai
đoạn cây con, giai đoạn cây non, giai đoạn chè lớn, giai đoạn chè già cỗi
Trang 15+Chu kỳ phát triển nhỏ (hàng năm) là chu kỳ gồm 2 giai đoạn sinh trưởng và tạm ngừng sinh trưởng
ở Phú Hộ tập đoàn giống chè được thu thập bắt đầu từ 1918, trong đó các dòng chè shan như: Chất Tiền, Gia Vài, Nậm Ngặt, Thanh Thuỷ, Cù Dề Phùng, Tham Vè, Lao Chải, Cóc Tía, Bản Cang, Nậm Ty (Hà Giang, Việt Nam); Shan Ba Vì (Hà Tây, Việt Nam); Shan Bắc Hà, (Lào Cai, Việt Nam); Shan Suối Giàng (Yên Bái); Shan Tân Chi (Lạng Sơn); Shan Pou Sang già, Pou Sang non, Ypăng, Macomen (Lào), Nguyễn Hữu La, Đỗ Văn Ngọc [1], [26], [28], [31]
Những đặc điểm sinh trưởng phát triển của cây chè là kết quả phản ánh tổng hợp giữa các đặc điểm của giống với những điều kiện ngoại cảnh Nghiên cứu chúng trong một môi trường nhất định và khảo nghiệm chúng ở một số vùng nhằm đánh giá tốt hơn khả năng sinh trưởng phát triển của chúng góp phần khai thác và sử dụng chúng tốt hơn trong sản xuất [30], [57]
2.2 Giá trị dinh dưỡng của chè
Có thể nói trên thế giới, chè là thức uống có nhiều giá trị nhất, nhiều hiệu quả nhất và tác dụng lâu dài nhất, theo Nguyễn Hanh Khôi (1983) [21] Khi tìm hiểu uống chè có tác dụng tốt đến sức khoẻ, một số tác giả người Trung Quốc: Vương Khâu Phi, Bộc Tể Nhật, Dương Hiền Cường - Đại học Nông nghiệp Triết Giang chỉ ra rằng chỉ một phiến lá chè nhỏ đk có trên 500 thành phần hoá học, Bao gồm 6 nhóm vật chất có công hiệu bảo vệ sức khoẻ như các loại vitamin, chất purin loại kiềm, các chất phenol, các tinh dầu thơm, các axitamin và chất polysacazoza Thống kê 92 loại cây cổ thụ, trong cuốn Trung Quốc Trà Kinh tổng kết nội dung bảo vệ sức khoẻ của trà thành 24 hiệu quả gồm: an thần, mắt sáng, thanh đầu mắt, giải khát sinh nước bọt, thanh giải nhiệt, tiêu cảm, giải độc, khỏi nhức đầu, chống say nắng, dễ tiêu hoá, làm chắc răng lợi… Nước chè còn chữa thêm được những bệnh hiện đại như tổn thương do phóng xạ, ung thư, bệnh tim mạch; như vậy đủ biết lợi ích của chè
Trang 162.3 Nguồn gốc và phân loại cây chè
2.3.1 Nguồn gốc
Theo công bố của hai nhà thực vật học Condolk Vag Vavilov trên thế giới
có 7 trung tâm chính phát sinh và phát triển cây trồng, trong đó có 3 trung tâm ở châu á, châu Mỹ có 2 trung tâm và châu Phi có 1 trung tâm Riêng về cây trồng làm chất kích thích như cà phê có nguồn gốc từ Châu Phi, cây ca cao có nguồn gốc từ châu Mỹ, còn cây chè có nguồn gốc từ Châu á [24], [36], [85]
Đến nay việc xác định nguồn gốc của cây chè vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau dựa trên những cơ sở lịch sử hay khảo cổ học, thực vật học Nhưng nhìn chung những quan điểm được nhiều người công nhận đó là:
Quan điểm cho rằng cây chè có nguồn gốc từ Vân Nam Trung Quốc.Theo Darasegia các nhà khoa học Trung Quốc như Su- Chen- Pen, Jao- Dinh đk giải thích sự phân bố của cây chè như sau:
Tỉnh Vân Nam là nơi bắt đầu hàng loạt con sông lớn chảy qua Việt Nam, Lào, Campuchia và Miến Điện, do đó đầu tiên cây chè được mọc từ Vân
Trang 17Nam sau đó hạt được di chuyển theo các con sông đến các nước khác và từ đó lan ra cả vùng rộng lớn
Một quan điểm nữa là dựa trên cơ sở khoa học “Trung tâm khởi nguyên cây trồng” thì cây chè có nguồn gốc từ Trung Quốc, nó được phân bố ở các khu vực phía Đông và phía Nam Phía Đông – Nam theo cao nguyên Tây Tạng
- Quan điểm cho rằng cây chè có nguồn gốc từ Assam ấn Độ
Năm 1823 Robert Bruce đk phát hiện được những cây chè hoang dại, lá
to hoàn toàn khác với cây chè Trung quốc và ở tất cả những nơi theo các tuyến
đường giữa Trung Quốc và ấn độ Từ đó Ông cho rằng ấn Độ là nơi nguyên sản của cây chè (Theo Nguyễn Ngọc Kính năm 1979) [23]
-Quan điểm cho rằng cây chè có nguồn gốc Việt Nam
Djemukhatze 1982 [10] đk đưa ra quan điểm nguồn gốc cây chè ở Việt Nam Từ năm 1961 đến năm 1976 Ông đk tiến hành điều tra cây chè dại tại
Hà Giang, Nghĩa Lộ, Lao cai, Tam Đảo và tiến hành phân tích thành phần sính hoá để so sánh với loại chè thường được trồng trọt, từ đó tìm ra sự tiến hoá của cây chè làm cơ sở xác định nguồn gốc Ông thấy rằng những cây chè hoang dại tổng hợp chủ yếu tổng hợp catechin đơn giản, cây chè tiến hoá tổng hợp catechin phức tạp Cây chè ở Việt Nam chủ yếu tổng hợp (-) epicathechin
và (-) epigalocathechin galat ( chiếm 70% tổng số các loại cathechin), trong khi đó chè ở Tứ Xuyên và Quý Châu Trung Quốc chỉ chiếm 18 – 20% Từ đó
Ông cho rằng nguồn gốc cây chè chính là Việt Nam
Thực tế hiện nay, phần đông các nhà khoa học cho rằng nguyên sản của cây chè là cả một vùng từ Assam ấn Độ sang Miến Điện, Vân Nam – Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan Từ đó chia ra làm hai nhánh, một đi xuống phía Nam, và một đi lên phía Bắc, trung tâm là vùng Vân Nam – Trung Quốc Điều kiện khí hậu ở đây rất lý tưởng cho cây chè sinh trưởng quanh năm [10], [23] [25], [26], [33], [68]
Trang 18Chi: Chè (Camellia) (Thea)
Loài: Camellia hoặc Thea sinensis
Năm 1752 nhà thực vật học nổi tiếng Line đặt tên cho cây chè là Sinensis Việc đặt tên cho cây chè là một vấn đề được nhiều nhà khoa học tranh luận, có tới 20 cách đặt tên cây chè nhưng cách phân loại của Cohen Stuart (1919) được nhiều người chấp nhận, theo Nguyễn Ngọc Kính 1979 [23]
Tác giả chia Camellia Sinensis ra làm 4 thứ (Varietas)
-Chè Trung Quốc lá to (Camellia Sinensis var Macrophylla)
-Chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia Sinensis var Bohea)
-Chè Shan (Camellia Sinensis Var Shan)
-Chè ấn Độ (Camellia Sinensis Var Assamica)
*Chè Trung Quốc lá to: cây thân bụi hoặc gỗ nhỏ cao 5- 7 m Phân cành trung bình, lá hơi tròn, có diện tích khoảng 30 cm2, có 8- 9 đôi gân lá, lá mầu xanh nhạt, búp có khối lượng 0,5- 0,6g
*Chè Trung Quốc lá nhỏ: Cây bụi phân cành nhiều, lá nhỏ (10- 15cm), phiến lá dày, giòn, mầu xanh thẫm, 6-7 đôi gân (không rõ) Búp nhỏ, hoa nhiều, chịu rét tốt
*Chè Shan: Cây thân gỗ cao 6-10m Diện tích lá lớn hơn 50cm2, lá hình thuyền, răng cưa sâu, có khoảng 10 đôi gân lá Búp to nhiều tuyết, khối lượng búp khoảng 1- 1,2g
*Chè ấn Độ: Thân gỗ cao trên 10m Phân cành thưa, lá hơi tròn, mặt lá
Trang 19gợn sóng gồ ghề, diện tích lá khoảng 40cm2, có 12- 15 đôi gân lá Búp lớn có khối lượng 0,9- 1g, búp giòn, chống chịu rét kém và thích đất tốt
2.3.3.Sự phân bố của cây chè
Điều kiện tự nhiên là yếu tố quan trọng quyết định sự phân bố của cây chè Các công trình nghiên cứu trước đây đk kết luận: Vùng khí hậu nhiệt đới vá á nhiệt đới đều thích hợp cho sự phát triển của cây chè
Hiện nay cây chè phân bố chủ yếu ở các nước châu á như Trung Quốc
ấn Độ, Srilanca, Inđonexia và Việt Nam, đây là những nước có điều kiện khí hậu nóng ẩm Tuy nhiên, do sự phát triển của khoa học kỹ thuật, với hàng loạt các biện pháp kỹ thuật mới được áp dụng, vì vậy hiện nay cây chè hầu như đk
được trồng khắp các châu lục trên thế giới từ 42 độ vĩ Bắc (Xochi – Liên Xô cũ) đến 27 vĩ độ Nam (Autralia), [21], [48]
2.4 Nghiên cứu trong và ngoài nước
2.4.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
Các công trình nghiên cứu phân loại về loài (species) ở ấn Độ (G.Watt 1898), ở Inđônêxia (Cohen Stuart 1916) và Việt Nam (Du- Pasquier 1924) đi
đến thống nhất điểm chung là công nhận loài ( giống) địa phương Trong đó chè Shan là một thứ, phân bố chủ yếu ở Đông Dương và Vân Nam – Trung Quốc (Nguyễn Hữu La, Đỗ Văn Ngọc (2002) [31]
Nghiên cứu về sinh trưởng phát triển của cây chè, tác giả A.Alidatde (1964) cho thấy sự hình thành các đợt sinh trưởng là: Khi trên búp chè có 5 lá thì ở nách các lá thứ nhất, thứ hai đk có những mầm nách, khi lá thứ 6 xuất hiện thì trên búp chè có mầm nách thứ 3, khi lá thứ 7 xuất hiện thì trên búp chè có mầm nách lá thứ tư Ông cũng cho rằng: khi mầm chè qua đông có 2 lá
đầu tiên bao bọc mầm chè là lá vảy ốc, tiếp theo là lá cá Những mầm nách của những lá vảy ốc, lá cá là các mầm ngủ, các mầm nách của lá thứ 4 thứ 5 của đợt sinh trưởng thứ nhất sẽ phát triển thành búp của đợt sinh trưởng thứ 2
Trang 20Nghiên cứu về sự sinh trưởng của búp chè các tác giả K.E Bakhơtatde (1948) cho thấy: Sự sinh trưởng của búp chè phụ thuộc vào điều kiện khí hậu,
ở những nước có mùa đông rõ rệt búp chè sẽ ngừng sinh trưởng vào mùa đông
và nó sẽ tiếp tục sinh trưởng ở thời kỳ ấm lên của mùa xuân Ngược lại ở những nước nhiệt đới (quần đảo Gia-va, Srilanka hay nam ấn độ) búp chè sinh trưởng liên tục, thời vụ thu hoạch búp kéo dài quanh năm Carr 1972 cũng đk kết luận mùa hè thường có ngày ấm áp, giờ chiếu nắng dài, ẩm độ cao và mưa rào thường xuyên, thậm chí mưa rào cả vào đêm nên chè sinh trưởng rất tốt
Cũng theo Carr [67], [69], [70], thí nghiệm đk đi đến kết luận: nhiệt độ không khí tối thiểu cho sinh trưởng chè là 13 -140C và tối thích là 180 – 300
C, những ngày có nhiệt độ tối đa vượt quá 300 C và tối thiểu thấp hơn 140 C thì làm giảm sinh trưởng của cây chè Nhiệt độ đất (tầng 0 – 30cm) thích hợp cho sinh trưởng của cây chè là 20 – 25 0C Cũng theo ông thì số giờ chiếu sáng càng dài thì càng tốt, sự ngủ nghỉ sẽ xuất hiện khi độ dài ngày giảm xuống dưới 11 giờ 15 phút/ngày Hầu hết các vùng chè có lượng mưa 150mm/tháng thì sẽ sinh trưởng liên tục, tổng lượng mưa thích hợp là 1800mm và chè không thể sinh trưởng được ở vùng có lượng mưa dưới 1150mm mà không có tuới hợp lý
Nghiên cứu thời gian hoàn thành một đợt sinh trưởng búp, các tác giả Carr (1992), Squire (1979), Tan ton (1982) [69], [84] đk đưa ra giá trị trung bình là 47,5 ngày Việc tính toán cho 4 vùng khác nhau về kinh độ, độ cao so mặt biển, nhiệt độ không khí bình quân cho thấy số ngày cho 1 đợt sinh trưởng biến động từ 30 – 42 ngày vào mùa hè và 70 – 160 ngày vào mùa đông
Nghiên cứu sự sinh trưởng của búp chè trong điều kiện có đốn và không
đốn K.M Djemukhatze (1976) chỉ ra rằng: Trong điều kiện để giống hoặc không đốn thì mầm chè được phân hoá ở vụ thu và vụ đông sẽ hình thành búp trong vụ xuân Trong khi đó nương chè có đốn thì sự phân hoá của mầm chè chủ yếu được hình thành trong vụ xuân và thời gian hình thành búp muộn hơn
Trang 21một số ngày so với nương chè không đốn hái
Nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng suất và mối liên hệ giữa một số chỉ tiêu hình thái sinh trưởng đến năng suất, chất lượng các tác giả nước ngoài cho thấy: Chỉ tiêu kích thước bụi và tổng số búp có ý nghĩa đến sản lượng Giữa diện tích tán và tổng số búp đk được xác định nhiều vùng ở Malawi (Nyirenda và Ripath 1984), Srilanka (Visser 1969), Đông phi (Magambo và Waithaka 1985), Assam (Barua và Dutta 1971)
Nghiên cứu mối quan hệ giữa các chỉ tiêu hình thái đến chất lượng chè các tác giả Wight và Barua (1954) cho thấy độ lồi lõm của lá và lông tuyết của lá có liên quan chất lượng chè, đặc biệt là lông tuyết có tương quan chặt chẽ
đến chất lượng chè (Wight và Gilchris 1959)
Nghiên cứu về mật độ trồng chè, tác giả LayCock H.H (1961) phát hiện tương quan tuyến tính đơn giản giữa sản lượng chè búp và mật độ trong phạm
vi mật độ từ 0,4 vạn cây – 2 vạn cây/mẫu Trung Quốc với các giống chè Trung Quốc Nếu tiếp tục tăng nữa thì sản lượng chè lại giảm đi
Nghiên cứu môi trường cắm hom các nhà khoa học Liên Xô (cũ), ấn
Độ, Srilanca, Đông Phi đều cho rằng: Cắm hom vào túi PE không ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom chè Việc giâm cành vào túi PE giá thành lại cao do tăng chi phí túi bầu và công đóng bầu, nên để giảm giá thành sản xuất cây con giống mà vẫn đảm bảo cây giống tốt các nhà khoa học Nhật Bản, Trung Quốc
đk nghiên cứu giâm cành trực tiếp trên nền đất hoặc giá thể dinh dưỡng
Nghiên cứu về chất lượng chè trên thế giới: các tác giả Liên Xô (cũ) và của Trung Quốc nhận thâý chất lượng chè nguyên liệu phụ thuộc chủ yếu vào
2 yếu tố: Đặc tính bên ngoài là thành phần cơ giới và hình thái của nguyên liệu; và đặc tính bên trong là nội chất được phản ánh bằng các chỉ tiêu thành phần hoá học chủ yếu của đọt chè như tanin, catechin, đường, axitamin và các chất khác Trong đó quan trọng nhất là tanin và và các catechin thành phần, sự biến đổi của chúng trong quá trình chế biến dẫn đến sự tạo thành màu nước,
Trang 22hương vị đặc trưng cho từng loại sản phẩm chè (Baxunốp – 1972) [65], [73], [74], [75], [77]
2.4.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
- Nghiên cứu chè shan
Các công trình nghiên cứu về chè shan Việt Nam do các tác giả người nước ngoài đk công bố: Năm 1924, Du- Pasquier đk tiến hành điều tra cây chè
ở Việt Nam đk công bố cây chè rừng phía Nam trung bộ (Việt Nam) là một biến chủng riêng biệt của loài Thea Năm 1976, Djemurkhatze khi nghiên cứu
về thành phần hoá học trong búp chè vùng núi cao thuộc miền Bắc Việt nam,
ông nhận thấy hàm lượng các cathesin thành phần đơn giản rất cao Mà theo quy luật tiến hoá về hoá học của thực vật luôn luôn tiến hoá từ các hợp chất
đơn giản đến phức tạp, ông đi đến kết luận Miền Bắc Việt nam chính là một trong những cái nôi nguồn gốc cây chè trên thế giới [10]
Theo Đỗ Văn Ngọc (1998) [38] Năm 1918 ngời Pháp đk tiến hành điều tra chè ở một số tỉnh thuộc miền Bắc Việt Nam đk mô tả: những cây chè cổ thụ phân bố chủ yếu ở vùng cao vùng núi phía Bắc Việt Nam, thân cây cao lớn, đường kính có cây tới 2-3 người ôm Lá dài và rộng, mép lá có răng cưa sắc nhọn, búp non có nhiều lông tuyết màu trắng Phân bố rải rác dọc theo các con suối chảy ra 2 tuyến sông Lô và sông Đà Vùng có nhiều cây chè cổ thụ là
Hà Giang và các tỉnh lân cận như Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu và Sơn La Chè Shan là thứ chè có sức sinh trưởng khoẻ, năng suất chất lượng cao, có thể chế biến chè chất lượng cao an toàn thu giá trị lớn
Hà Giang có tập đoàn giống chè Shan rất phong phú và lâu đời Các nhà nghiên cứu người Pháp rất chú ý đến các cây chè shan cổ thụ tại Cao Bồ, Thanh Thuỷ (Vị xuyên) các bản Gia Vài, Chất Tiền, Nậm Ngặt, Tham Vè, Cù
Dề Phùng… và sản phẩm chè mạn chè Vàng Có thể thấy sức hấp dẫn và tiềm năng cây chè shan Hà Giang dới con mắt các nhà nghiên cứu phương tây Các cây chè shan cổ thụ tại Gia Vài , Chất Tiền , Nậm Ngật, Tham Vè, Cù Dề
Trang 23Phùng… đk được thu thập bảo quản và nghiên cứu tại Trại nghiên cứu chè Phú
Hộ từ năm 1918 (nay là Trung tâm nghiên cứu và phát triển chè thuộc Viện khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Miền núi phía Bắc), [26], [28], [30]
Những năm tiếp theo 1994-1996, Viện nghiên cứu chè phối hợp cùng
Sở khoa học công nghệ và sở NN&PTNT các tỉnh Phú Thọ, Hà Giang, Sơn La
đk tiến hành công tác điều tra tuyển chọn các cây chè shan đầu dòng Tại Hà Giang lần thứ nhất, Kết quả cho thấy các vùng chè shan Hà Giang đều phân
bố ở độ cao trên 700 - 800m có vùng cao trên 1000m, luợng mưa lớn trên 2000mm/ năm, biên độ nhiệt ngày đêm và theo mùa lớn Về nội chất nguyên liệu búp chè Hà Giang có hàm lượng đường khử lớn do đó sản phẩm chè shan
Hà Giang có vị rất đặc trưng (vị ngậy) Hà Giang hình thành các vùng chè nổi tiếng là Phìn Hồ, Tham Vè, Bó Đướt, Lũng Phìn đk có các sản phẩm chè xanh, chè vàng nổi tiếng trên thị trường trong và ngoài nước
Chè Shan vừa là cây trồng nông nghiệp vừa là cây rừng, sản phẩm chè Shan là sản phẩm chè sạch, sản xuất chè shan theo kiểu chè rừng rất phù hợp với nền Nông nghiệp bền vững- phù hợp với điều kiện dân trí, kinh tế, xk hội, tập quán canh tác của đồng bào các dân tộc miền núi [3], [40]
Đất đai các vùng chè shan có hàm lượng mùn khá cao: lớp mặt từ 2,33 – 4,47%, pHkcl từ 3,8-5,6 và các nguyên tố NPK tổng số, dễ tiêu từ nghèo đến trung bình Có 2 kiểu canh tác: thứ nhất là là trồng hỗn giao với cây rừng mật
độ thấp 1500 – 4000 cây/ha Xác xuất tập trung nhiều ở mật độ 2500-3000 cây/ha Cây chè Shan dạng trên được khống chế ở độ cao 2,5 – 3,5m, tán rộng tuỳ theo sức sinh trưởng và tuổi của cây từ 2 đến trên 10m Thường vào vụ
đông người dân đốn trụi toàn bộ cành có lá trên cây, chỉ giữ lại bộ khung tán chính, gồm khoảng 3 -5 cấp cành: Thân chính → thân phụ → cành cấp 1 – cành cấp 2 – cành cấp 3 Với cách đốn này làm cho cây chè ít có khả năng mở rộng tán, sản lượng chè không tăng Nhiều vùng chè do đốn quá đau, tạo ưu thế sinh trưởng đỉnh mạnh làm trọng lượng búp chè lớn ảnh hưởng nhiều đến
Trang 24chất lượng chè chế biến Thông thường hái chè Shan vùng cao thường có 4 vụ trong năm: Vụ 1 vào cuối tháng 3- 4, thường chế biến chè có chất lượng cao nhất; vụ 2 tháng 5 – 6,vụ chè có năng suất cao nhất trong năm; vụ 3 tháng 8 -9; vụ 4 tháng 10 -11
Kiểu canh tác thứ 2 là chè shan công nghiệp tập trung chủ yếu được trồng bằng hạt lấy từ Suối Giàng, Hà Giang Mật độ từ 12000 – 13000 cây/ha, khoảng cách trồng 0,5 x 1,5m hoặc 0,5 x 1,75 m Đốn theo quy trình chè kinh doanh công nghiệp, đốn tạo hình tuổi 3, định hình vào tuổi 4 -5, độ cao của mặt tán từ 65 - 75 cm, hàng năm đốn sửa bằng vào tháng 11 – 12 Bắt đầu hái
vụ xuân vào tháng 3, hái chừa vụ xuân 2 lá, chừa vụ hè 1 lá, mỗi năm hái
25-30 lứa Kết thúc hái vào trung tuần tháng 11 hàng năm
*Những vùng trồng chè Shan ở nước ta
1 Vùng chè tự nhiên: Cây chè Shan có từ lâu trong rừng ở các vùng núi cao như Hà Giang, Yên Bái, Sơn La…, cây to đường kính thân cây đến 70 –
80 cm, một năm thu hoạch được trên 100kg búp tươi/cây
2 Vùng chè trồng theo kỹ thuật cũ: Các vùng cao chủ yếu là người Dao, H’Mông người ta trồng chè ở quanh nhà để tiện cho sử dụng Khi cây chè được 2 – 3 tuổi người ta khống chế độ cao khoảng 1,5 – 2m
3 Vùng chè công nghiệp tập trung: ở các nông trường Mộc Châu, Nghĩa Lộ, Tam Đường, Than Uyên, Bảo Lộc… chè được trồng theo hàng thẳng khoảng cách 0,5 x 1,5m (1,7m) Khí hậu vùng cao thích hợp nên cây chè phát triển tốt, sinh trưởng khoẻ, tán to
4 Chè Shan thuần hoá ở vùng trung du (Phú Hộ): Qua nhiều năm nghiên cứu chọn lọc từ năm 1918 đến nay đk có nhiều giống cho năng suất búp cao, phát triển khoẻ có khả năng thích ứng với điều kiện khí hậu vùng trung du như chè Shan Tham Vè, Nậm Ngặt, Gia Vài, Chất tiền, Cù Dề Phùng (Nguyễn Hữu La, 1997)
*Những công trình điều tra chè Shan đã công bố
Trang 25Theo Đỗ Văn Ngọc, Nguyễn Hữu La [26], [38], [40]
Vào năm 1885 các nhà khoa học Pháp đk có chuyến điều tra đầu tiên xác định cây chè Shan ở bản Xang (Hà Giang)
Đến năm 1907, Eberhard đk phát hiện tại độ cao 900m của dky núi Tam
Đảo trên rừng tre nứa có một số cây chè lớn cao 8- 10m, đường kính 40cm, có hai loài chè: Shan lá to và Shan lá nhỏ
Theo Du Pasquier vào năm 1924 đk điều tra quần thể cây chè tại Trấn Ninh (Lào), các cây chè tìm thấy ở độ cao 1200m (Mường Thanh), 2000m (ở
Pu Sang) cây chè mọc ở rừng thưa
Năm 1993, Jib.Deuss chuyên gia về nghiên cứu chè Hà Lan đi khảo sát chè ở Tham Vè xk Cao Bồ (Vị xuyên – Hà Giang)
Năm 1976 Viện sĩ hàn lâm thông tấn Liên Xô Djemukhatze nghiên cứu cây chè shan cổ tại suối giàng, Yên Bái, Lạng sơn và ông có học thuyết về nguồn gốc cây chè bắt nguồn từ cây chè shan ở Việt Nam và đưa ra sơ đồ tiến hoá cây chè
Guinard (Pháp) đk triển khai một trương trình chọn lọc dòng, lấy vật liệu khởi đầu là thứ chè shan (tuyết) nhân giống giâm cành, tại trung tâm nghiên cứu Bảo Lộc, Lâm Đồng (1950-1954) [48]
*Phương pháp chọn giống chè shan của Guinard có 3 đặc điểm:
- Lấy chè shan làm vật liệu khởi đầu
- Chọn lọc cá thể để tìm ra cây ưu tú làm đầu dòng
- Nhân giống cây đầu dòng bằng giâm cành để đưa ra sản xuất đại trà Với 3 mục tiêu chọn giống chè shan là:
- Nâng cao năng suất bằng tăng sản lượng và sức chống chịu của cây chè
- Tăng hiệu suất lao động bằng nâng cao độ đồng đều về hình thái để dễ chăm sóc, đốn hái
- Nâng cao chất lượng sản phẩm chè chế biến
Trang 26Năm 2001- 2005, Viện nghiên cứu chè được Bộ NN & PTNT cho phép tiến hành đề tài 09- CG Viện nghiên cứu Chè tiến hành điều tra tuyển chọn cây chè Shan vùng cao như Thượng Sơn, Lũng Phìn – Hà Giang, Tủa Chùa – Sơn La, Suối Giàng – Yên Bái, Mẫu Sơn, Tân Chi – Lạng Sơn và cây chè Shan vùng trồng tập trung như Tam Đường – Lai Châu, Than Uyên – Lào Cai, Mộc Châu – Sơn La Kết quả thu được gần 100 mẫu giống chè Shan đk được công nhận tạm thời 13 cây đầu dòng có năng suất cao, chất lượng tốt
Năm 2006 - 2008, Viện KHTK Nông Lâm nghiệp miền Núi phía Bắc tiến hành điều tra tuyển chọn cây chè Shan đầu dòng đợt 2 tại Bắc Mê- Hà Giang và Bắc Yên – Sơn La, nhằm thu thập những cây chè Shan đầu dòng có nhiều tính trạng quí phục vụ cho công tác lai tạo và nhân giống
*Nghiên cứu tính trạng sinh trưởng sinh dưỡng
-Nghiên cứu về đợt sinh trưởng của chè, tác giả Nguyễn Ngọc Kính (1979) cho thấy: Trong năm chè để sinh trưởng tự nhiên có 3-5 đợt sinh trưởng, khi đốn hái thì có 6-7 đợt sinh trưởng, điều kiện thâm canh cao có thể
có từ 8-9 đợt sinh trưởng
Nghiên cứu thời gian sinh trưởng 1 đợt búp trên giống chè Trung du tại Phú Hộ, tác giả Nguyễn Phong Thái kết luận: Thời gian sinh trưởng đợt búp dài hay ngắn phụ thuộc rất lớn vào mùa vụ, vụ xuân búp chè có thời gian sinh trưởng dài nhất và ngắn nhất là vụ hè
Nghiên cứu sinh trưởng búp chè và sản lượng tác giả Nguyễn Văn Toàn (1994) [57] cho rằng tổng số búp trên cây có tương quan thuận chặt với sản lượng
Nghiên cứu về hệ số diện tích lá tác giả Đỗ Văn Ngọc (1991) cho rằng:
Hệ số diện tích lá có quan hệ thuận với mật độ búp từ tháng 5- 12 Tác giả Nguyễn Văn Toàn (1994) cũng có kết luận tương tự và hệ số diện tích lá thích hợp từ 4-6
*Nghiên cứu tính trạng hình thái lá, búp được thông qua quan hệ hình
Trang 27thái lá và lông tuyết đến chất lượng tác giả Nguyễn Văn Niệm [41] có nhận xét: Dạng lá lồi lõm, màu xanh vàng (nhạt) cho chất lượng tốt hơn dạng xanh
đậm, nhẵn bóng, các giống chè Shan có nhiều lông tuyết kể cả ở vùng thấp và chất lượng cũng rất cao, kết quả ngiên cứu của Đoàn Hùng Tiến và Đỗ Trọng Biểu cũng có kết luận tương tự [5], [61]
*Nghiên cứu những tính trạng về chất lượng, sắc tố trong lá chè, tác giả Trịnh Văn Loan [59] cho thấy Hàm lượng Chlorophin a, b cao trên 30% ảnh hưởng xấu đến chất lượng chè, hàm lượng carotenoit cao trên 70% ảnh hưởng tốt đến chất lượng chè
Nghiên cứu đặc tính nguyên liệu búp: thành phần cơ giới và thành phần sinh hoá chủ yếu như hàm lượng nước, tanin, chất hoà tan, hàm lượng Catechin, đạm, axitamin, Cafein, hàm lượng sắc tố, hoạt tính của enzim của một số giống chè mới PH1, TRI777 và 1A đk kết luận các giống chè 1A và TRI777 có thể làm được cả chè xanh và chè đen tốt, giống PH1 chế biến chè xanh kém và chế biến chè đen có chất lượng trung bình khá [5], [6], [8], [55]
* Nghiên cứu về kỹ thuật canh tác
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dạng đốn đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng cây chè Trung du tuổi lớn ở Phú Hộ tác giả Đỗ Văn Ngọc đk kết luận: Các dạng đốn khác nhau làm ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng sinh dưỡng và sinh thực của cây, và đến chất lượng nguyên liệu búp
Đốn phớt xanh và sửa bằng ảnh hưởng tốt đến cây chè, [14]
Nghiên cứu về giâm cành [6], [11], [24], [39], [42], [52] Các tác giả
Đỗ Ngọc Quĩ, Nguyễn Văn Niệm (1963) đk đưa ra qui trình kỹ thuật giâm cành chè được Bộ nông nghiệp ban hành Đến năm 1972 khi giống chè mới PH1 được chọn lọc dòng thì biện pháp giâm cành mới sử dụng phổ biến trong sản xuất
Nghiên cứu tuổi hom, thời vụ giâm cành của giống chè 1A, tác giả
Đặng Văn Thư cho thấy hom xanh có tỷ lệ ra rễ tốt hơn hom bánh tẻ và hom 2
Trang 28Trung Quốc là nước có lịch sử trồng chè, chế biến và tiêu thụ chè lâu nhất thế giới Ngay từ thời nhà Minh đk có những loại chè thương phẩm nổi tiếng về chất lượng như Bạch Kê Quan, Đại Hồng Bào, Ngự trà, Thiết Quan
Âm, Long Tỉnh Hiện nay giống chè của Trung Quốc rất đa dạng và phong phú có nhiều giống nổi tiếng như Chính Hoà, Đại Bạch Trà, Thiết Bảo Trà, Hoa Nhật Kim, Hùng đỉnh Bạch, PT95 Năm 1989 Trung Quốc đk đăng ký 52 giống nhà Nước [22]
Theo Đỗ Ngọc Quỹ, Nguyễn Kim Phong (năm 1997) Năm 1970 công
ty Đông ấn Độ nhập một ít hạt chè Trung Quốc từ Quảng Châu để trồng thử nhưng kết quả cho thấp, William Bentick tổ chức ra hiệp hội chè ấn Độ và chuyển sang trồng giống chè Assam hiện nay chiến 80% Năm 1990 có 110 giống chè chọn lọc được đưa vào sản xuất, năng suất trung bình đk đạt 1705kg chè khô/ha (thuộc loại cao nhất thế giới)
Srilanca năm 1824 nhập hạt chè Trung Quốc gieo trồng tại vườn Bách thảo Hoàng Gia Peradeniya (Kandy), năm 1839, lại nhập hạt chè Assam từ ấn
Độ trồng tại vườn bách thảo trên Năm 1966, 12 vạn ha cà phê bị bệnh gỉ sắt phá huỷ hoàn toàn họ đk chuyển sang trồng chè sau những thí nghiệm thành công của JamesTaylor Năm 1967 trồng được 24 vạn ha chè, sản lượng 22 van tấn chè xuất khẩu 21 vạn tấn Năm 1958 trồng chè giâm cành bằng cây đầu dòng chọn lọc sêri 2020 (phổ biến là các giống:2023, 2025, 2026, 2043…) có năng suất cao, chất lượng tốt Sau đó là sêri 3013 đến 3020, ngoài ra còn sử dụng chè hạt lai giữa 2023 X 2026, [33], [34], [58], [66], [78], [88]
Indonexia bắt đầu trồng chè từ năm 1684 nhưng không thành công, đến
Trang 29năm 1872 mới thành công trên giống Asam nhập từ Srilanca Đến Nay Indonexia là một trong năm nước có diện tích chè lớn trên thế giới, 20 năm gần đây họ đk tích cực chọn tạo giống mới cao sản và năm 1988 đk có các dòng chè vô tính GMB-1, GMB- 2, GMB-3, GMB- 4, GMB-5, có sản lượng cao , theo Nguyễn Văn Toàn [58]
Liên Xô (cũ) là một nước sản xuất và tiêu thụ chè lớn trên thế giới Giống chè chủ yếu là hạt chè nhập từ Kỳ Môn – Trung Quốc Ngoài ra họ còn nhập giống của ấn Độ và SriLanca Năm 1927 – 1928 đk trồng được các giống chè chọn lọc lai tạo như giống Quốc gia số 1 và số 2 cho năng suất cao hơn đại trà 25- 40 %, phẩm chất tốt Năm 1970 – 1971 họ bắt đầu trồng giống chè Kônkhitđa-1 dòng vô tính giâm cành, có phẩm chất tốt và có năng suát cao hơn đại trà 50-60%
Nhật Bản là một quốc gia hải đảo, cả nước có 44 tỉnh, huyện trồng chè tập trung ở 14 tỉnh Từ năm 1990 năng suất chè bình quân của cả nước là 1725kg chè khô/ha Năng suất chè cao là do nhà nước coi trọng đầu tư vào nông nghiệp ở khâu giống tốt và các biện pháp quản lý, chăm sóc vườn cây.Năm 1953, Nhà nước ban hành chế độ khen thưởng và đăng ký giống chè, nên đk thông qua 51 giống chè mới Năm 1968, giống mới chiếm 22,4% và ngày nay, giống mới đk chiếm trên 65,2% diện tích chè, trong đó giống Yabukita chiếm 55,4%
*Các kết quả về nghiên cứu giống chè ở Việt Nam
- Hiện trạng tập đoàn giống chè ở Việt Nam
Trang 31Cho đến nay chúng ta đk có tập đoàn 151 giống chè có nguồn gốc cả trong và ngoài nước tập hợp tại vườn tiêu bản của viện nghiên cứu chè (Bảng 1) Trong đó, phân theo nguồn gốc có: 50 mẫu địa phương; 101 mẫu giống nhập nội Phân theo thứ chè có: thứ Trung quốc lá nhỏ 62 mẫu; thứ Trung quốc lá to 28 mẫu; Assam 35 mẫu; Chè shan 26 mẫu, theo Nguyễn Hữu La [28]
So với trước năm 2000, tập đoàn giống chè được thu thập bảo quản để khai thác cũng tăng 57 giống, tăng 37,7% so tổng số giống bảo quản Là nguồn vật liệu để chọn tạo và đưa ra sản suất 14 giống mới Trong đó có 3 giống Quốc gia PH1, TRI777, LDP1; và 11 giống khu vực hoá là: 1A, TH3, LDP2, Bát Tiên, Thuý Ngọc, Kim Huyên, Phúc Vân Tiên, Keo Am Tích, Hùng Đỉnh Bạch, PT95
+ Cơ cấu giống chè trong sản xuất:
Cơ cấu giống chè hiện nay đk thay đổi với 35,15% diện tích giống chè mới chọn lọc và trồng bằng cành giâm (Bảng 2.1)
Chỉ trong vòng 5 năm (2000 -2005) mà tỉ lệ diện tích trồng giống mới chọn lọc đk tăng khoảng 22% so trước 2000, năng suất chè cũng đạt 5,288 tấn/ha (tăng 43,69% so trước 2000)
*Các phương pháp chọn tạo giống chè
Cây chè cũng như các cây trồng khác, bằng nhiều phương pháp khác nhau để tạo ra giống mới phục vụ cho sản xuất [16], [32], [34], [44]
2.5.1 Điều tra thu thập và nhập nội giống
Thời kỳ năm 1918- 1935, Người pháp tiến hành thu thập các giống chè của ấn Độ, Trung Quốc, Miến Điện, Lào và một số vùng trong nước như Hà Giang, Lào Cai, Ba Vì, Phú Thọ… Đến năm 1989 đưa vào hệ thống vườn tập
đoàn gồm 23 giống, trong đó giống địa phương 13 giống và giống nhập nội là
10 giống Giai đoạn năm 1959- 1990 là thời kỳ chủ yếu chỉnh lí và lai tạo
Trang 32giống, trao đổi giống với nước ngoài Tổng số thu thập gồm 37 giống, trong
đó nguồn gốc địa phương 4 giống, nguồn nhập nội gồm 37 giống và nguồn chọn tạo được 17 giống, các giống chè mới chọn lọc như PH1, 1A, TRI777, TH3, LDP1, LDP2 Giai đoạn năm 1994- 1997, xúc tiến mạnh công tác thu thập, kết quả đk bổ sung được 34 giống Trong đó giống địa phương 4 giống, chọn lọc 5 giống, nhập nội 25 giống Sử dụng các giống Kim Huyên, Thuý Ngọc, O Long Thanh Tân phục vụ cho công tác lai tạo chọn giống Giai đoạn năm 2000- 2005 công tác điều tra thu thập các giống địa phương và nhập nội giống được đẩy mạnh, nhằm tìm ra những nguồn gen quí trong nước, nhập nội giống nhằm cải thiện chất lượng chè Việt Nam [3], [29], [86]
2.5.2 Chọn lọc cá thể
Bằng phương pháp chọn lọc cá thể, năm 1972 Viện nnghiên cứu chè đk chọn được giống PH1 có năng suất cao phổ biến ra sản xuất Giống 1A ra đời với xu hướng chọn giống quan tâm đến chất lượng, ưu điểm của giống là chất lượng nguyên liệu chế biến chè xanh tốt Hai giống PH1 và 1A đều là giống chè ấn Độ Để có giống chè chọn lọc nguồn gốc địa phương, năm 1970- 1976
đk chọn được cây chè TH3 thuộc thứ chè Trung Quốc lá to nguồn gốc Lạng Sơn, năm 1978 được giâm cành và trồng giám định giống TH3 là giống có năng suất cao chịu thâm canh [33] Tại Trung tâm thực nghiệm chè Lâm
Đồng, trong 17 cây chè Shan Trấn Ninh năm 1962 đk chọn được ra hai giống TB11, Tb14 có năng suất cao, chất lượng tốt [48], [49] Năm 1997, Trung tâm NCTN chè Lâm Đồng đk chọn và phổ biến ra sản xuất giống chè LĐ97 có năng suất cao, chất lượng tốt, kháng sâu bệnh, ít kén đất, chịu thâm canh [59] 2.5.3 Phương pháp lai hữu tính
Năm 1980, Viện nghiên cứu chè đk tiến hành 7 tổ hợp lai mà bố mẹ đk
được xác định, sau khi gieo hạt và tuyển chọn được 35 cá thể có nhiều triển vọng Đến năm 1988 đk chọn lọc được 4 cá thể nổi bật đó là LDP1, LDP2,
Trang 33CDP và CLT Sau 10 năm giám định, so sánh giống đk thu được kết quả tốt Hai dòng lDP1, LDP2 là 2 dòng lai sinh trưởng khoẻ, năng suất cao, chất lượng tốt được Bộ NN & PTNT công nhân giống tạm thời năm 1994 cho phép
mở rộng ra sản xuất và giống LDP1 được công nhận là giống quốc gia năm
2003 [34], [53], [60]
2.5.4 Chọn giống bằng phương pháp gây đột biến
Năm 1989- 1990 Viện nghiên cứu chè đk tiến hành chọn giống chè băng xử lý consixin hạt và mầm chè và xử lý tia garma với liều lượng khác nhau lên hạt chè đk thu được một số kết quả bước đầu Năm 1994, Lê Mệnh
và cộng sự đk thông báo kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của bức xạ ga ma lên hạt chè giống PH1 và TRI 777, tác giả thu được nhiều đột biến mới lạ, đặc biệt dòng 5.0 từ xử lý bức xạ trên hạt giống 777 có năng suất cao, chất lượng thơm ngon có nhiều triển vọng [36], [58]
Ưu điểm của phương pháp
- Là một phương pháp đơn giản, dễ làm, ít phải đầu tư lao động cũng như vật liệu sản xuất, tốc độ nhân giống nhanh và hệ số nhân giống cao
- Cây con trồng bằng hạt thường có bộ rễ phát triển mạnh, ăn sâu, cây sinh trưởng khoẻ, có khả năng chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh bất lợi
Trang 34như hạn, sâu bệnh, đất xấu…, tuổi thọ của cây trồng bằng hạt cao
- Hạt thường có vỏ dầy, kết hợp với số lượng lớn có thể dễ mang đi xa
- Phương pháp này còn hạn chế một số bệnh không truyền qua hạt Nhược điểm của phương pháp là
- Cây trồng nhân giống bằng hạt thường khó giữ được độ thuần chủng, nhất là đối với nhóm cây thụ phấn chéo Do sự lai tạp tự nhiên, đời con phân li mạnh nên năng suất, phẩm chất không ổn định
- Vườn cây không đồng đều nên khó khăn cho quá trình chăm sóc, thu hoạch, bảo quản và chế biến
Vì vậy đối với nhiều loại cây trồng như: cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày, phương pháp này bị hạn chế và chỉ trồng cây con bằng hạt trong các trường hợp dưới đây:
- Đối với một số loại cây khi nhân giống vô tính khó thành công hoặc không thể áp dụng được phương pháp nào tốt hơn
- áp dụng đối với một số loại hạt đa phôi vì phôi vô tính thường khoẻ, lấn át phôi hữu tính
- Sử dụng trong công tác chọn lọc và lai giống
- Gieo hạt để làm gốc ghép
*Các phương pháp sử dụng trong lai hữu tính
- Lai đơn giản: (A x B) (giống chè viết trước được qui định làm mẹ)
- Lai thuận nghịch: (A x B), (B x A)
- Lai dialen (Luân giao): Đem các dòng định thử lai luân phiên trực tiếp với nhau: (A xB) (C xB) (D x B)
- Lai chu kỳ: (A xA) (A x B) (A x C)
Kỹ thuật chọn cây bố mẹ: Khi chọn cây bố mẹ cần lưu ý những yếu tố sau:
- Thường chọn cây bố mẹ khác biến chủng vì mỗi thứ thường khác nhau
về yếu tố sinh thái, chè Shan thích hợp với vùng cao, chè trung du thích hợp
Trang 35với vùng thấp, chè ấn Độ ưa nóng ẩm… sẽ tạo ra con lai có khả năng thích ứng cao với môi trường mới
Khi chọn cây bố mẹ cần lưu ý tới các yếu tố cấu thành năng suất, chất lượng và tính chống chịu để bổ sung cho nhau những đặc tính trội
Nhân giống chè bằng hạt
Nhân giống chè bằng hạt đk được con người áp dụng từ xa xưa Nó có
ưu điểm là đơn giản, dễ làm, không tốn nhiều công cũng như vật tư thiết bị, giá thành cây con thấp, cây con có khả năng thích ứng tốt với môi trường, tuổi thọ cao Nhược điểm của nhân giống bằng hạt là vườn chè không đồng đều, việc chăm sóc, thu hái, chế biến gặp nhiều khó khăn
Liên Xô (cũ) là một trong những nước trồng chè lớn của thế giới trước
đây Họ chủ yếu sử dụng hạt chè nhập từ Trung quốc và ấn Độ Năm 1927 –
1928 họ sử dụng hạt của các giống chè lai tạo, chọn lọc như Gruzia 1, Gruzia
2, các giống này cho năng suất cao hơn Đại Bạch Trà 25 – 40% [58]
Bangladesh sử dụng hạt chè lai hai dòng; Malawi trồng vườn hạt giống gồm có 4 giống: Srilanca dùng hạt chè lai giữa hai giống 2023 với 2026 [67]
Trồng chè bằng hạt rất phổ biến ở nước ta (từ những năm 80 về trước), người dân thường gieo hạt tại chỗ hoặc trồng cây con không lựa chọn Mặc dù nước ta là quê hương của cây chè nhưng việc trồng chè chưa được quan tâm
đúng mức, trồng chè theo lối quảng canh, năng suất chất lượng không cao
Sử dụng phương pháp nhân giống bằng hạt trong lai tạo đk thu được nhiều kết quả Khi dùng cây mẹ là Đại Bạch Trà, cây bố là PH1, Viện nghiên cứu chè đk lai tạo thành công hai giống chè LDP1 và LDP2 có năng suất, chất lượng cao, được hội đồng khoa học Bộ NN & PTNT thông qua và cho phép khu vực hóa năm 1994, giống LDP1 được công nhận giống quốc gia năm
2002
Người Pháp sau khi vào nước ta đk rất quan tâm tới việc phát triển cây chè, họ đk triển khai nghiên cứu so sánh kỹ thuật gieo hạt chè Kết quả đk
Trang 36được Cresvot và Lemarier đánh giá tốt Thời kỳ 1920 – 1923 R Du Pasquier
đk nghiên cứu nhân giống hữu tính và vô tính và đk chọn gieo hạt là phương pháp chính Năm 1928 ông đk biên soạn và phổ biến quy trình trồng vườn sản xuất hạt giống chè chọn lọc và ông đk xác định với vùng chè Trung du miền Bắc (1921 – 1940) có hai cách trồng chè bằng hạt được áp dụng gieo thẳng ra ruộng sản suất và gieo qua vườn ươm rồi bứng bầu ra trồng ngoài ruộng sản xuất [34]
Theo tác giả Đỗ Ngọc Quỹ (1980) Qui trình trồng chè hạt của Bộ Nông nghiệp qyi định cho khoảng cách trồng chè 1,50x 0,40m mỗi hốc gieo 5-6 hạt, độ sâu 3-5 cm, gieo dự trữ 5-10%
Tiêu chuẩn hạt chè tốt là hạt chín, tươi, chắc, nặng, to Đường kính trong 1kg hạt đối với giống Trung Du là 500 hạt, giống Shan là 400 hạt Hàm lượng nước trong hạt 25-30%, sức nảy mầm trên 75% [22], [48]
2.6.2 Các phương pháp nhân giống vô tính
Nhân giống vô tính cây trồng có thể chia ra làm hai dạng là nhân giống vô tính tự nhiên và nhân giống vô tính nhân tạo Đây là những phương pháp rất phổ biến được áp dụng cho hầu hết các loại cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm như chè, cà phê, cao su, tiêu, điều
+ Phương pháp nuôi cấy mô (In vitro)
Phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật in vitro được pháp triển mạnh
và hoàn thiện từ những năm 60 của thế kỷ 20, sau khi đk có môi trường nuôi cấy chuẩn, đặc biệt là sử dụng các chất kích thích sinh trưởng thực vật vào môi trường nuôi cấy, sử dụng các tế bào trần để nuôi cấy huyền phù… Ngày nay người ta có thể nuôi cấy tế bào thực vật của bất kỳ loại cây nào và nhân bản vô tính cây in vitro để vi nhân giống và tạo ra giống mới, [15], [61], [79]
Ưu điểm của phương pháp
- Tạo được giống cây khoẻ, sạch bệnh mang lại giá trị kinh tế cao
- Hệ số nhân giống cao, ít nhất cao hơn 1000 lần so với các kỹ thuật
Trang 37nhân giống cổ điển, đảm bảo được tính đồng nhất
- Tạo được những dạng cây con non dùng làm nguồn vật liệu bổ sung cho công tác chọn giống
- Cho phép duy trì nòi giống của những vật quí mà bản thân chúng khó có thể nhân giống bằng các phương pháp khác hoặc nhân giống không thành công
- Đòi hỏi trang thiết bị tốn kém và chỉ có thể thực hiện ở những nơi có
đầy đủ trang thiết bị hiện đại với cán bộ có trình độ chuyên môn sâu
Nhân giống chè bằng nuôi cấy mô
áp dụng phương pháp nuôi cấy mô tế bào các nhà khoa học Nhật Bản
là Nacomura và Oici (1985) đk tạo ra được cây chè con Theo tác giả nhờ phương pháp này mà nguồn gen được tạo ra phục vụ cho công tác nghiên cứu giống Tuy nhiên phương pháp này khó áp dụng vào sản xuất đại trà và giá thành cây con cao do tỷ lệ chết khi chuyển cây con từ ống nghiệm ra vườn
ươm rất cao
+ Giâm cành
Cơ sở khoa học của biện pháp giâm cành
Khi mô tế bào thực vật bậc cao bị tổn thương thì vách tế bào sẽ bị hoá bần làm cho tế bào sống và tế bào chết tách rời nhau Các tế bào sống còn lại phân chia nhiều lần song song với mặt cắt để hàn kín vết thương Loại mô đó gọi là mô sẹo (callus) Sự hình thành mô sẹo ở cành non mạnh hơn cành già Mô sẹo lúc đầu là một khối tế bào nhu mô sau đó phân hoá thành mô dẫn, tượng tầng và hính thành điểm sinh trưởng, từ điểm sinh trưởng phát sinh ra rễ bất định [6], [24], [39], [42], [45], [52]
Trang 38Mô sẹo là nơi hình thành rễ, do vậy đại đa số rễ mọc ra từ phía gốc cành giâm, còn cành mới lại mọc ra ở phía ngọn cành, vì vậy muốn giâm cành thành công nhất thiết phải có một mầm ngủ
Ưu điểm
- Cây con giữ được các tính trạng di truyền của cây mẹ, vườn cây đồng
đều, thuận lợi cho việc quản lý, chăm sóc, thu hoạch, chế biến
- Thời gian nhân giống tương đối nhanh, hệ số nhân giống cao
- Chu kỳ kinh tế ngắn nhưng hiệu quả kinh tế cao
> Nhược điểm
- Tuổi thọ vườn cây thấp, chu kỳ kinh doanh ngắn
- Đòi hỏi nhiều vật tư, trang thiết bị, người sản xuất cần phải có một trình độ kỹ thuật nhất định, tốn nhiều công chăm sóc
- Khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất lợi kém ở thời kỳ cây còn nhỏ ( thời kỳ KTCB)
+ Kỹ thuật nhân giống chè bằng giâm cành
Phương pháp giâm cành là một tiến bộ trong sản xuất giống chè Giâm cành được tiến hành nghiên cứu ở Trung Quốc từ năm 1900, ở ấn Độ năm
1911, Gruzia năm 1928, Srilanka năm 1938 đến nay được phổ biến rộng rki trên thế giới ở Nhật Bản giống Yabukita trồng bằng cành giâm chiếm 55,4% diện tích, Bangladesh trồng chè giâm cành từ những năm 1970; Indonexia bắt
đầu phổ biến từ năm 1988, [34], [58].ở Việt Nam, nghiên cứu về giâm cành các tác giả Đỗ Ngọc Quĩ, Nguyễn Văn Niệm (1963) đưa ra qui trình kỹ thuật giâm cành chè và được Bộ nông nghiệp ban hành Đến năm 1972 khi giống chè mới PH1 được chọn lọc dòng thì biện pháp giâm cành mới sử dụng phổ biến trong sản xuất [45]
Năm 1997, Nguyễn Văn Niệm và cộng sự, nghiên cứu hoàn thiện kỹ thuật nhân giống chè 1A Với nội dung là ảnh hưởng của thời vụ và phân bón tới giâm cành, kết quả cho thấy khi bón đầy đủ N+P+K+ hữu cơ thì cây con
Trang 39khoẻ, tỷ lệ xuất vườn cao Với thời vụ giâm cành khi xuất vườn cây con 14 tháng tuổi thì giâm cành vụ thu tỷ lệ cây sống cao hơn vụ xuân [42]
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất kích thích sinh trưởng, tuổi hom và thời vụ đến sự pháp triển của cành chè 1A giâm ở Phú Hộ, cho thấy rằng: Hom xanh, giâm cành chè 1A vụ thu cho tỉ lệ xuất vườn cao nhất [6], [42]
Nghiên cứu tuổi hom, thời vụ giâm canh giống chè 1A, tác giả Đặng Văn Thư cho thấy hom xanh có tỷ lệ ra rễ tốt hơn hom bánh tẻ và hom 2 lá và thời vụ hè thu tỷ lệ ra rễ tốt hơn vụ xuân
Nghiên cứu ảnh hưởng của phương thức nhân giống đến phân bố bộ rễ của cây chè của Nguyễn Đình Vinh (2002) cho kết quả là: Trong những năm
đầu, cây chè trồng bằng hạt có bộ rễ sinh trưởng phát triển tốt hơn cây chè trồng bằng cành giâm ở các tuổi lớn bộ rễ của cây chè trồng bằng cành phát triển tốt hơn cây chè trồng bằng hạt [63]
Theo Đỗ Văn Ngọc và cộng sự (2004), nghiên cứu kỹ thuật giâm cành chè trên nền đất, ở mật độ 250- 300hom/m2 cây sinh trưởng tốt tương đương với giâm trong bầu, ở tất cả các chỉ tiêu sinh trưởng, giống chè Shan chất tiền
và giống LDP1 đều tốt hơn cả Biện pháp nhân giống chè theo phương pháp giâm trên nền đất (rễ trần) rất có hiệu quả, giảm được chi phí sản xuất cây giống, từ đó sẽ hạ giá thành cây giống khi xuất vườn [39]
Năm 2004, Nguyễn Văn Tạo và cộng sự đk thực hiện dự án (Hoàn thiện qui trình công nghệ nhân giống vô tính giống chè LDP1 & LDP2 bằng giâm hom để chuyển giao cho sản xuất) Kết quả đk xác định được thời vụ để hom thích hợp nhất vào lứa hái chính tháng 8 hàng năm, cắm hom vào tháng 11-12, tiêu chuẩn chất lượng hom chè giống quy định có thể sử dụng hom có thân mầu xanh đậm; hom nửa xanh nửa nâu; hom có mầu nâu sáng để giâm vô tính Đến hết năm 2004 diện tích hai giống chè lai LDP1 & LDP2 đk trồng
được trên 14 ngàn ha, chiếm khoảng 12% diện tích chè cả nước [52]
Trang 403 Vật liệu, Nội dung
và Phương Pháp nghiên cứu
3.1 Vật liêu, địa điểm và phương pháp nghiên cứu
3.1.1 Vật liệu nghiên cứu
Bao gồm 13 cây chè Shan có triển vọng về năng suất, chất lượng được tuyển chọn từ các vùng chè Shan của Miền bắc Việt Nam được Hội đồng khoa học Bộ NN& PTNT công nhận năm 2004 như sau:
1 HG3 (Hà Giang 3): Thuộc thứ chè Shan được thu thập từ vùng cao Vị Xuyên - Hà Giang Lá chè lồi lõm, dài 18,3cm, rộng 5,4cm, răng cưa sâu Búp chè màu xanh vàng, nhiều lông tuyết, khối lượng búp 0,87g Thích ứng các vùng chè miền núi phía Bắc có độ cao so với mặt nước biển trên 800m
2 HG4 (Hà Giang 4): Thuộc thứ chè Shan được thu thập từ vùng Shan rừng Vị Xuyên - Hà Giang Lá chè lồi lõm, dài 15,7cm, rộng 5,2cm, răng cưa sâu Búp màu xanh vàng, nhiều lông tuyết, khối lượng búp 0,94g Thích ứng các vùng chè miền núi phía Bắc có độ cao so với mặt nước biển trên 800m
3 LS1 (Lạng Sơn 1): Thuộc thứ chè Shan được thu thập từ vùng Shan rừng Lộc Bình- Lạng Sơn Lá chè ít lồi lõm, dài 17,3cm, rộng 6,6cm, răng cưa sâu Búp chè màu xanh, nhiều lông tuyết, khối lượng búp 0,61g Thích ứng các vùng chè miền núi phía Bắc có độ cao so với mặt nước biển trên 800m
4 LS32 (Lạng Sơn 32): Thuộc thứ chè Shan được thu thập từ vùng Shan rừng Bắc Sơn- Lạng Sơn Lá chè ít lồi lõm, dài 15,1cm, rộng 6,2cm, răng cưa sâu Búp chè màu xanh, nhiều lông tuyết, khối lượng búp 1,01g Thích ứng các vùng chè miền núi phía Bắc có độ cao so với mặt nước biển trên 800m
5 MC2 (Mộc Châu 2): Thuộc thứ chè Shan được thu thập từ vùng chè Shan tập trung (chè công nghiệp) Mộc Châu – Sơn La Lá chè lồi lõm, dài 12,4cm, rộng 4,7cm, răng cưa sâu Búp chè màu xanh, nhiều lông tuyết, khối