1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu rủi ro và quản lý rủi ro của hộ nông dân huyện miền núi lương sơn tỉnh hoà bình

109 333 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu rủi ro và quản lý rủi ro của hộ nông dân huyện miền núi Lương Sơn tỉnh Hòa Bình
Tác giả Bùi Thị Minh Nguyệt
Người hướng dẫn GS.TS Phạm Thị Mỹ Dung
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế và Phát triển nông thôn
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2004
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, thạc sĩ, tiến sĩ, khóa luận, cao học, đề tài

Trang 1

Lời cam đoan

- Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn

này đã đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đ−ợc chỉ rõ

Trang 2

Lời cảm ơn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo Khoa Kinh tế

và Phát triển nông thôn, Khoa đào tạo Sau đại học, Bộ môn Kế toán trường

Đại học Nông nghiệp I Hà Nội đã tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành bản luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn UBND huyện Lương Sơn, cán bộ và nhân dân 2 xã Lâm Sơn và Trường Sơn đã cung cấp tư liệu, tạo mọi điều kiện giúp

đỡ và đóng góp những ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi hoàn thành khoá học

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến cô giáo GS.TS Phạm Thị Mỹ Dung đã hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này

Hà Nội, ngày 20 tháng 09 năm 2004

Tác giả

Bùi thị Minh Nguyệt

Trang 3

Mục lục

Lời cam đoan

Lời cám ơn

Mục lục

Danh mục các bảng, danh mục các hình

Danh mục từ viết tắt

i

ii iii

vi vii

1.1

1.2

Tính cấp thiết của đề tài

Mục tiêu nghiên cứu

2

2

2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về rủi ro và quản lý rủi ro 3 2.1

Phân biệt giữa rủi ro và không chắc chắn

Nguyên nhân và đặc điểm rủi ro của nông dân

Nguyên nhân gây ra rủi ro của nông dân

Những đặc điểm rủi ro của nông dân

Phân loại rủi ro trong các hộ nông dân

Các chiến lược quản lý rủi ro

Nội dung quản lý rủi ro

Nhận dạng, phân tích, đo lường rủi ro

Kiểm soát và phòng ngừa rủi ro

Trang 4

Biện pháp quản lý rủi ro do thiên nhiên gây ra

Đa dạng hoá sản xuất

Bảo hiểm nông nghiệp

Biện pháp quản lý rủi ro thị trường

Các biện pháp phi thị trường

Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Điều kiện tự nhiên

Điều kiện kinh tế xã hội

Nhận xét chung

Phương pháp nghiên cứu

Xác định đIểm nghiên cứu

Xác định đối tượng đIều tra

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Năng lực sản xuất của các nhóm hộ điều tra

Trang 5

Các biện pháp quản lý rủi ro đã đ−ợc hộ nông dân sử dụng

Các biện pháp thích ứng với rủi ro của các hộ nông dân

Đa dạng hoá sản xuất

Tự bảo hiểm

Lựa chọn biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp với điều kiện kinh tế của hộ

Các biện pháp đối phó với rủi ro

Khai thác nguồn tài nguyên rừng

Cắt giảm các nhu cầu đến mức tối thiểu

Khó khăn, thuận lợi trong quản lý rủi ro

Trang 6

Danh mục các bảng

Bảng 2.2 Tình hình bảo hiểm nông nghiệp trên thế giới 25 Bảng 2.3 Phí thu bảo hiểm và mức bồi thường rủi ro của bảo hiểm

Bảng 2.4 Cách tính phí bảo hiểm và mức bồi thường bảo hiểm mùa

Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Lương Sơn 37 Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động của huyện Lương Sơn 38 Bảng 3.3 Cơ cấu kinh tế của huyện Lương Sơn – Năm 2003 39 Bảng 3.4 Tình hình cơ sở hạ tầng của huyện Lương Sơn 42 Bảng 3.5 Cơ cấu đất đai của 2 xã Lâm Sơn và Trường Sơn 44 Bảng 4.1 Tình hình đất đai của các nhóm hộ điều tra 50 Bảng 4.2 Tình hình nhân khẩu và lao động của các nhóm hộ điều

tra

53

Bảng 4.3 Tài sản sản xuất cuả các nhóm hộ điều tra 56 Bảng 4.4 Diễn biến giá bán sản phẩm trong 3 năm gần đây 59 Bảng 4.5 Mức độ xuất hiện rủi ro trong các hộ điều tra 62 Bảng 4.6 Tác động của các loại rủi ro đến các hộ điều tra 66 Bảng 4.7 Những tổn thất về vật chất do rủi ro gây ra cho các hộ 67 Bảng 4.8 Mức độ ảnh hưởng của rủi ro đến thu nhập của các hộ

điều tra

69

Bảng 4.9 Các nguồn thu và cơ cấu các nguồn thu nhập của các

nhóm hộ điều tra tại xã Trường Sơn 73 Bảng 4.10 Các nguồn thu và cơ cấu các nguồn thu nhập của các

Bảng 4.12 Chỉ số đa dạng hoá thu nhập của các hộ nông dân 81 Bảng 4.13 Số hộ vay vốn từ các nguồn khác nhau 83 Bảng 4.14 Một số trường hợp có thu nhập từ khai thác rừng tự do 84

Trang 8

Danh môc c¸c tõ viÕt t¾t

Trang 9

1 Mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Người nông thôn nói chung và nông dân nói riêng là tầng lớp có mức thu nhập thấp hơn so các tầng lớp khác trong xã hội Nhà nước luôn quan tâm tới việc ổn định cuộc sống cho nông dân vì như vậy sẽ góp phần phát triển nông thôn bền vững Những nước đang phát triển với tỷ lệ nông dân cao như nước ta thì vấn đề nông nghiệp, nông thôn luôn được đặt lên hàng đầu Nghiên cứu ổn định cuộc sống cho nông dân có thể tiến hành theo nhiều hướng với những tình huống thuận lợi và khó khăn, với những điều kiện chắc chắn và rủi ro

Trên thực tế, rủi ro là điều có thể đến với mọi gia đình, nhưng với nông dân là những người mà cuộc sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp thì rủi ro càng nghiêm trọng và thường xuyên hơn Có nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro như là rủi ro do thiên nhiên, rủi ro do môi trường xã hội, rủi ro thị trường Nhưng bất kể do nguyên nhân gì, khi rủi ro xẩy ra thường gây cho các hộ nông dân những khó khăn trong cuộc sống như mất hoặc giảm thu nhập, phá hoại nhiều tài sản, làm ngưng trệ sản xuất và ảnh hưởng đến đời sống kinh tế xã hội nói chung Chính vì cuộc sống của người nông dân luôn bị đe doạ nên họ phải có những cách thức để quản lý rủi ro Trong đó có những cách tích cực nhưng cũng có những cách tiêu cực làm ảnh hưởng đến phát triển kinh tế xã hội và môi trường Nước càng nghèo, vùng càng nghèo, càng khó khăn thì nông dân càng hay gặp rủi ro

Lương Sơn là huyện miền núi với một số dân tộc sinh sống, tuy điều kiện có thuận lợi hơn các huyện miền núi khác nhưng cũng không nằm ngoài quy luật chung bởi vì các hộ nông dân ở đây có cuộc sống chủ yếu vẫn là nông lâm nghiệp Khi gặp rủi ro cần đảm bảo kế sinh nhai cho gia đình thì họ phải tìm các cách để tồn tại trong đó có cả việc khai thác không hiệu quả nguồn lực tự nhiên là đất và rừng Những dạng rủi ro mà nông dân ở đây gặp

Trang 10

phải và cách thức quản lý ra sao cho đến nay chỉ có rất ít các nghiên cứu và các nghiên cứu cũng chưa cụ thể, vì vậy mà có những chủ trương, những tiến

bộ kỹ thuật chưa được tiếp nhận Các chính sách của Nhà nước nhiều khi bị tác động của rủi ro mà bị kém hiệu lực

Vì những lý do như đã nêu ở trên tôi đã chọn vấn đề “Nghiên cứu rủi

ro và quản lý rủi ro của hộ nông dân huyện miền núi Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình” làm luận văn nghiên cứu của mình

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu chung

Qua khảo sát thực trạng rủi ro mà nông dân phải chịu cũng như cách thức quản lý rủi ro của nông dân nhằm bảo đảm cuộc sống cho gia đình sẽ đưa

ra một số đề xuất bước đầu giúp nông dân quản lý rủi ro

- Mục tiêu cụ thể

- Làm rõ một số lý luận về rủi ro và quản lý rủi ro với nông dân

- Khảo sát và phân loại các kiểu rủi ro mà nông dân Lương Sơn thường gặp và những cách thức quản lý rủi ro nhằm đảm bảo cuộc sống và sản xuất của gia đình

- Bước đầu đề xuất một số vấn đề nhằm giúp nông dân quản lý rủi ro để nâng cao mức sống, góp phần phát triển kinh tế xã hội miền núi

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu

Rủi ro và những cách thức quản lý rủi ro của hộ nông dân

- Phạm vi nghiên cứu

Về không gian nghiên cứu: Nghiên cứu rủi ro và quản lý rủi ro ở mức

hộ nông dân tại huyện Lương Sơn - tỉnh Hoà Bình

Về thời gian đặt trọng tâm nghiên cứu rủi ro trong những năm gần đây,

đặc biệt là trong năm 2003

Trang 11

2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về rủi ro

2.1.1.1 Không chắc chắn (Uncertainty)

Trong môi trường tự nhiên, kinh tế và xã hội của người nông dân có rất nhiều điều không chắc chắn xảy ra gây bất lợi đối với mỗi nông dân như thiên tai, giảm giá nông sản, tăng giá đầu vào, bệnh tật Các sự kiện đó xảy ra với những xác suất mà không thể biết trước được

Vì vậy ta có thể hiểu sự không chắc chắn là các tình trạng không thể gắn xác suất với việc xảy ra các sự kiện Sự không chắc chắn đề cập theo ý nghĩa mô tả đặc điểm môi trường kinh tế mà các nông hộ phải đương đầu [3]

Các dạng không chắc chắn đều được thể hiện bằng sự nghèo nàn tuyệt

đối của nhiều hộ nông dân, hậu quả của các sự không chắc chắn thường tạo ra

sự khác biệt giữa giàu có và đói nghèo Sự không chắc chắn chỉ được xem như

là một vấn đề đối với sản xuất nông nghiệp hơn là các ngành khác và được thể hiện trên các dạng chủ yếu sau:

+ Sự không chắc chắn về sản lượng

Nguyên nhân gây ra sự không chắc chắn này là do gặp phải thiên tai

Thiên tai là những tác động có hại đối với sản xuất nông nghiệp mà khó có thể

Trang 12

dự đoán được như sâu bệnh, lũ lụt, nắng hạn Thiên tai cũng có thể được mô tả như là sự không chắc chắn về năng suất và sản lượng cây trồng Khả năng chống lại thiên tai phụ thuộc nhiều vào khả năng tiền mặt, vật tư của hộ nông dân, vì vậy khả năng này giữa các hộ nông dân sẽ khác nhau [23]

+ Sự không chắc chắn về giá cả

Do chu kỳ của sản xuất nông nghiệp kéo dài nên khi lựa chọn một loại cây trồng hoặc chăn nuôi gia súc, tại thời điểm ra quyết định người ta khó xác

định được giá thị trường vào lúc có sản phẩm để bán là bao nhiêu Điều này

đặc biệt khó khăn đối với cây trồng lâu năm vì phải mất vài năm kiến thiết cơ bản mới cho thu hoạch sản phẩm Vấn đề càng trầm trọng hơn đối với các nước nông nghiệp chậm phát triển nơi có thị trường không hoàn thiện và thiếu thông tin Sự dao động của thị trường cũng có thể được miêu tả như là sự không chắc chắn của giá cả Đây là điều phổ biến đối với nền nông nghiệp ở mọi nơi và là nguyên nhân chính cho sự can thiệp của Nhà nước đối với thị trường nông nghiệp ở nhiều nước trên thế giới [23]

+ Sự không chắc chắn về xã hội

Sự không chắc chắn về xã hội liên quan đến việc kiểm soát các nguồn lực sản xuất và sự lệ thuộc của một số nông dân vào những người khác Điều này xảy ra khi không có sự công bằng trong quyền sở hữu đất đai

và các nguồn lực khác Sự không chắc chắn về xã hội do tính chất của xã hội quyết định nên nó có mức độ khác nhau giữa các vùng hoặc các nước khác nhau [2]

+ Sự không chắc chắn về con người (ốm đau, bệnh tật, qua đời )

Không ai có thể biết trước được sức khoẻ của mình cũng như các thành viên trong gia đình trong tương lai Vì vậy, điều này cũng được coi là sự không chắc chắn về con người [23]

Những sự không chắc chắn như trên dẫn đến người nông dân không tình nguyện chấp nhận sự đổi mới kỹ thuật, ngại đầu tư cho sản xuất hoặc tiếp

Trang 13

nhận một cách chậm chạp để tăng sự thích nghi với những điều không chắc chắn Điều đó cũng làm tăng thêm sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội nông thôn

2.1.1.2 Rủi ro (Risk)

Trong các tình trạng không chắc chắn trên, các biến cố có thể xảy ra với một xác suất ước đoán chủ quan được gọi là sự rủi ro Trong cuộc sống sinh hoạt cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh mặc dù đã luôn chú ý ngăn ngừa và đề phòng nhưng vẫn có thể gặp rất nhiều những rủi ro bất ngờ xảy ra Rủi ro có thể xuất hiện mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực

Việc ra quyết định trong các hoạt động kinh tế đều gặp phải rủi ro bởi vì việc ra quyết định được tiến hành trước khi biết được kết quả của quyết định

đó Mức độ rủi ro phụ thuộc vào sự tác động của các yếu tố và khả năng kiểm soát các yếu tố trong giai đoạn từ quyết định đến kết quả Trong khi đó, từ quyết định đến kết quả là một quá trình bị tác động bởi nhiều yếu tố, trong đó rất nhiều yếu tố nằm ngoài dự đoán và khả năng kiểm soát của người ra quyết

định nên mức độ rủi ro là rất lớn [22]

Vậy rủi ro là gì ?

Cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về rủi ro, những trường phái khác nhau, tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau Những định nghĩa này rất đa dạng, phong phú, nhưng có thể chia làm 2 trường phái lớn:

+ Theo trường phái truyền thống

Thuộc trường phái này, ta có thể thấy các định nghĩa:

- Rủi ro là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy đến [15]

- Rủi ro là sự không may [16]

- Rủi ro là sự bất trắc, gây ra mất mát, hư hại [18]

- Rủi ro là yếu tố liên quan đến nguy hiểm, sự khó khăn hoặc điều

không chắc chắn [18]

- Rủi ro là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến [18]

Trang 14

- Trong lĩnh vực hoạt động tài chính nông thôn thì coi việc nông dân đầu tư từ các khoản tiền vay cho chăn nuôi mà gia súc chết cũng là rủi ro [19]

Theo cách định nghĩa truyền thống, rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn, hoặc

điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người [18]

Xã hội loài người càng phát triển, hoạt động của con người ngày càng

đa dạng, phong phú và phức tạp, thì rủi ro ngày càng nhiều và đa dạng, mỗi ngày lại xuất hiện những rủi ro mới, những rủi ro chưa từng có trong quá khứ Con người cũng quan tâm đến việc nghiên cứu rủi ro và quá trình nghiên cứu

đó nhận thức về rủi ro cũng thay đổi, trở nên trung hoà hơn

+ Theo trường phái trung hoà

Theo trường phái này, có các quan điểm như sau về rủi ro:

- Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được [18]

- Rủi ro là sự bất trắc có thể liên quan đến việc xuất hiện những biến cố

không mong đợi [18]

- Rủi ro là một tổng hợp những ngẫu nhiên có thể đo lường bằng xác suất [20]

- Rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả Rủi ro có thể xuất hiện trong hầu hết mọi hoạt động của con người Khi có rủi ro, người ta không thể

dự đoán được chính xác kết quả Sự hiện diện của rủi ro gây nên sự bất định Nguy cơ rủi ro phát sinh bất cứ khi nào một hành động dẫn đến khả năng được hoặc mất không thể đoán trước [18]

Như vậy, theo trường phái trung hoà, rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được [18]

Rủi ro xảy ra do nhiều nguyên nhân nhưng bất kể do nguyên nhân gì, khi rủi ro xảy ra thường gây cho con người những khó khăn trong cuộc sống như mất hoặc giảm thu nhập, phá hoại nhiều tài sản, làm ngừng trệ sản xuất và

ảnh hưởng đến đời sống kinh tế xã hội nói chung

Trong nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu là nhìn nhận rủi ro theo trường phái truyền thống bởi vì với hộ nông dân thì họ quan niệm rủi ro tức là

Trang 15

sự không may, ảnh hưởng đến sinh kế Hơn nữa với nông dân cũng không có những ghi chép liên tục về các sự kiện đã xẩy ra nên khó có thể tính ra xác suất chính xác Tuy nhiên, ở trường phái trung hoà chúng tôi sử dụng ảnh hưởng của rủi ro đến việc ra quyết định vì việc quan trọng nhất của quản lý rủi

ro là ra được các chiến lược quản lý rủi ro nhằm đảm bảo sinh kế (livelihoods) cho gia đình

2.1.1.3 Phân biệt giữa rủi ro và sự không chắc chắn

Từ các khái niệm trên ta nhận thấy rằng, rủi ro là khách quan và nếu

có đầy đủ thông tin thì có thể tính được xác suất của các sự kiện xảy ra Còn không chắc chắn đề cập đến các tình trạng mất mát không thể gắn xác suất với việc xảy ra các sự kiện, nó không còn là khách quan như ý nghĩa ban đầu mà gắn với chủ quan của người ra quyết định Có nghĩa là con người có thể tác

động để giảm bớt sự thua thiệt cho người sản xuất Đó cũng là nguyên tắc cho việc ra quyết định trong quản lý rủi ro phải dựa vào suy nghĩ chủ quan của từng người

Rủi ro đề cập đến nhiều kết quả, mỗi kết quả có thể xảy ra với các khả năng khác nhau Khả năng của một kết quả nào đó hiểu theo nghĩa là tần suất trung bình xảy ra kết quả đó Trong khi đó, không chắc chắn đề cập đến tình trạng có nhiều kết qủa có thể xảy ra trong một quyết định nhưng chưa biết khả năng sẽ xảy ra của từng kết quả Như vậy, rủi ro và không chắc chắn chỉ khác nhau ở việc có đánh giá được hay không khả năng (hay còn gọi là xác suất) xảy ra các kết quả khác nhau

Rủi ro vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực Rủi ro có thể mang đến những tổn thất, mất mát, nguy hiểm cho con người, nhưng cũng

có thể mang đến những cơ hội Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, nhận dạng, đo lường rủi ro, người ta có thể tìm ra được các biện pháp phòng ngừa, hạn chế những

rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang kết quả tốt đẹp cho tương lai [20]

Trang 16

2.1.2 Nguyên nhân và đặc điểm rủi ro của nông dân

2.1.2.1 Nguyên nhân gây ra rủi ro của nông dân

+ Rủi ro do thiên nhiên

Các nguyên nhân có nguồn gốc thiên nhiên, bao gồm:

- Các yếu tố liên quan đến điều kiện thời tiết như hạn hán, lũ lụt

- Các loại dịch bệnh

- Sâu bệnh

Nhóm nguyên nhân này do tự nhiên tạo ra là chủ yếu Do sự tác

động của điều kiện tự nhiên đã gây ra sự biến động về sản lượng của các hộ nông dân Sự biến động về sản lượng là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự không ổn định trong thu nhập của người nông dân [1]

+ Rủi ro do thị trường tiêu thụ sản phẩm

Nguyên nhân của tình trạng rủi ro này chủ yếu là do sự biến động của giá cả Sản xuất nông nghiệp có đặc thù là tính thời vụ nên giá cả thường có nhiều biến động Giá nông sản vào vụ thu hoạch rộ thường giảm làm cho thu nhập của người sản xuất giảm theo hay những năm được mùa thì giá lại thấp

đi hoặc có một dạng khác là sản xuất quá nhiều làm cho cung vượt quá cầu Giá cả thay đổi cũng mang đến cho người nông dân rất nhiều rủi ro [1]

+ Rủi ro do chính sách của Nhà nước qua việc thay đổi quy hoạch xây

dựng, qua việc ngăn đập, phân lũ nên nhiều vùng dân phải thu non sản phẩm hoặc có khi không được thu hoạch [1]

+ Rủi ro do chiến tranh, xung đột sắc tộc hoặc sự tranh chấp địa giới

giữa các địa phương, giữa các hộ nông dân [1]

+ Rủi ro về con người do ốm đau, bệnh tật, qua đời, ly hôn, mắc phải

các tệ nạn xã hội [20]

Ngoài những rủi ro chung của tất cả các hộ nông dân trên thế giới, hộ nông dân Việt Nam còn gặp phải một số rủi ro sau [1]:

Trang 17

- Rủi ro do không có thị trường chắc chắn để tiêu thụ sản phẩm Một số

nông sản có hợp đồng tiêu thụ sản phẩm nhưng việc thực hiện và xử lý hợp

đồng không nghiêm minh làm cho người nông dân bị thua thiệt Một số nông sản hàng hoá đã được các nhà máy hứa hẹn giá từ đầu vụ nhưng khi có sản phẩm thì họ không mua hoặc mua với giá rẻ

- Rủi ro do thiếu hiểu biết kỹ thuật và thiếu thông tin Trong nông

nghiệp làm sai mùa vụ, sai giống, sai kỹ thuật cũng dễ bị mất trắng

- Tuyên truyền, quảng cáo sai hoặc sự lừa đảo của một số cá nhân nên

nông dân mua phải hàng giả và cả “dịch vụ” giả

Rủi ro có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sản xuất của người nông dân Tình trạng có nhiều rủi ro làm cho người nông dân không muốn đầu tư vào lĩnh vực sản xuất đòi hỏi đầu tư cao hoặc áp dụng các giải pháp công nghệ tiên tiến Vì thế, việc nghiên cứu và tìm ra các biện pháp phòng tránh và giảm bớt các tác hại của rủi ro sẽ có ảnh hưởng tích cực đến sản xuất và vấn đề nghèo đói ở nông thôn

2.1.2.2 Những đặc điểm rủi ro của nông dân

Nông dân gắn với khu vực nông thôn và sản xuất nông nghiệp, đặc biệt

là nông dân vùng núi, vùng kém phát triển cho nên đặc điểm của nông nghiệp

và nông thôn quyết định nhiều đến đặc điểm của rủi ro của nông dân

Sản xuất nông nghiệp có nhiều điểm khác hẳn so với một số ngành kinh

tế khác Sự khác nhau ở đây xuất phát từ những đặc điểm riêng có của sản xuất nông nghiệp và nông dân Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất quan trọng, cung cấp lương thực và thực phẩm cho con người, nguyên liệu cho ngành công nghiệp và là hàng hoá để xuất khẩu Nông nghiệp cũng là ngành thu hút nhiều lao động xã hội, góp phần giải quyết công ăn việc làm và đồng thời còn là một ngành đóng góp không nhỏ vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Một trong những khó khăn thách thức lớn nhất đối với sản xuất nông nghiệp là vấn đề rủi ro Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp nên đã làm cho mức độ rủi ro trong nông nghiệp thường cao hơn so với các hoạt động trong các lĩnh vực khác Bao gồm những đặc điểm sau [5]:

Trang 18

+ Sản xuất nông nghiệp thường trải trên một phạm vi rộng lớn và hầu hết lại được tiến hành ở ngoài trời, vì thế nó chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện tự nhiên Mặc dù trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng tiên tiến và hiện

đại, con người ngày càng chế ngự được nhiều những ảnh hưởng xấu của tự nhiên nhưng mâu thuẫn giữa con người với lực lượng tự nhiên vẫn tồn tại trong sản xuất nông nghiệp Hàng năm điều kiện tự nhiên vẫn luôn đe doạ và gây tổn thất lớn cho quá trình sản xuất nông nghiệp

+ Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những cơ thể sống như cây trồng, vật nuôi Chúng không chỉ chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, mà còn chịu sự tác động của các quy luật sinh học Đó là các quy luật: đồng hoá,

dị hoá, biến di, di truyền; quy luật về thời gian sinh trưởng và cho sản phẩm Vì vậy, xác suất rủi ro trong nông nghiệp đã lớn lại càng lớn hơn so với nhiều ngành sản xuất khác

+ Chu kỳ sản xuất trong nông nghiệp thường kéo dài, thời gian lao

động và thời gian sản xuất lại không trùng nhau, do đó đánh giá, kiểm soát việc phòng ngừa và quản lý rủi ro là rất khó thực hiện

+ Trong nông nghiệp có rất nhiều loại cây trồng, vật nuôi khác nhau, mỗi loại lại thường gặp những rủi ro khác nhau Thậm chí, có những loại rủi

ro mà hậu quả của chúng mang tính chất thảm hoạ Từ đó đã ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý người sản xuất Mặc dù có lao động, có đất đai nhưng muốn

mở rộng quy mô sản xuất, muốn đầu tư thâm canh, muốn sản xuất hàng hoá với quy mô lớn, họ cũng không dám mạnh dạn vay vốn để đầu tư Bởi vì tài sản thế chấp vốn vay không có, mà rủi ro lại luôn rình rập

Trong điều kiện rủi ro cao, người nông dân thường giảm quy mô sản xuất và do đó thu nhập của họ sẽ giảm Lý do rất đơn giản là rủi ro cao sẽ đòi hỏi sản xuất phải có lãi cao hơn trong trường hợp sản xuất không có rủi ro Trong trường hợp hiệu quả giảm dần theo quy mô như ngành nông nghiệp,

điều này dẫn đến người nông dân phải giảm sản xuất để tăng sản phẩm cận biên sao cho bằng với chi phí cận biên mà chi phí này cao hơn do rủi ro làm tăng chi phí cơ hội của các nguồn lực (vốn, lao động) [7]

Trang 19

Đối với nông dân ngoài rủi ro gặp trong sản xuất họ còn có thể gặp rất nhiều rủi ro trong cuộc sống do điều kiện sinh hoạt khó khăn hơn các tầng lớp khác trong xã hội, cơ sở hạ tầng kém phát triển, môi trường sống không vệ sinh Những rủi ro về con người đã làm cho nông dân càng nhiều khó khăn hơn và phát sinh thêm nhiều rủi ro khác Mỗi loại rủi ro có những tác động rất khác nhau đến kết quả, hiệu quả sản xuất và cuộc sống của hộ

2.1.3 Phân loại rủi ro trong các hộ nông dân

- Phân theo lĩnh vực rủi ro[19]:

+ Rủi ro trong quá trình sản xuất: là những rủi ro liên quan trực tiếp

đến quá trình sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân

+ Rủi ro ngoài sản xuất: là những rủi ro liên quan đến cuộc sống của

người nông dân Trong cuộc sống hàng ngày cũng có rất nhiều rủi ro đến với các hộ nông dân như ốm đau, bệnh tật, sự mất mát tài sản Những rủi ro trên

ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và thu nhập của các hộ nông dân

- Phân theo nguồn gốc rủi ro [20]:

+ Rủi ro tự nhiên

Đây là nhóm rủi ro do các hiện tượng thiên nhiên như: lũ lụt, mưa đá, hạn hán, đất lở, sương muối, dịch bệnh, sâu bệnh gây ra Những rủi ro này thường dẫn đến những thiệt hại to lớn về người và của Nó có thể tác động đến năng suất mùa màng (rủi ro trong sản xuất) và cả sản phẩm cất trữ trong kho (rủi ro trong bảo quản)

+ Rủi ro xã hội

Sự thay đổi các chuẩn mực giá trị, hành vi của con người, cấu trúc xã hội, các định chế là một nguồn rủi ro quan trọng Nếu không nắm được điều này sẽ có thể phải gánh chịu những thiệt hại nặng nề

+ Rủi ro kinh tế

Là những rủi ro do môi trường kinh tế gây ra như: tốc độ phát triển kinh

tế, khủng hoảng, suy thoái kinh tế, lạm phát

Trang 20

- Phân theo mức độ rủi ro [19]:

+ Rủi ro cá nhân: rủi ro chỉ ảnh hưởng đến một cá nhân nào đó

+ Rủi ro cộng đồng: rủi ro ảnh hưởng đến cả cộng đồng

- Phân theo mức độ xuất hiện của rủi ro [19]:

+ Rủi ro riêng rẽ: chỉ xuất hiện một loại rủi ro

+ Rủi ro dây chuyền: rủi ro này xuất hiện lại kéo theo những rủi ro khác + Rủi ro kết hợp: kết hợp nhiều loại rủi ro với nhau

Chống rủi ro là những biện pháp, những ứng xử nhằm tránh rủi ro ứng

xử của nông dân với rủi ro biểu hiện ở 3 trạng thái:

- Chấp nhận rủi ro để có thể thu được thu nhập cao nhất, mặc dù họ biết rằng cơ hội cho khả năng này chỉ có một xác suất nhất định

- Chống hoặc không chấp nhận rủi ro để bảo đảm an toàn các hoạt động của mình trong trường hợp khả năng xấu có thể xảy ra, mặc dù khả năng xảy

Trang 21

dựa trên cơ sở lý thuyết phân chia rủi ro, được chia làm hai loại [7]:

- ổn định chi tiêu tạm thời bằng nguồn tiết kiệm: vay, cho vay hay tích trữ hàng phục vụ cho tiêu dùng trong tương lai

- ổn định chi tiêu thông qua việc phân chia rủi ro: thoả thuận chuyển nhượng giữa hàng xóm với nhau

Muốn quản lý rủi ro phải có những thể chế và thông tin cho nông dân Với mức rủi ro nhỏ thì cơ chế tương hỗ giữa hộ và cộng đồng sẽ là một công

cụ đắc lực cho quản lý rủi ro bên cạnh thể chế và chính sách của Nhà nước

Vì vậy, quản lý rủi ro chính là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro [20]

2.2.2 Các chiến lược quản lý rủi ro

Chiến lược quản lý rủi ro bao gồm: chiến lược đối phó với rủi ro và chiến lược thích ứng với rủi ro [19]

Chiến lược đối phó với rủi ro là chiến lược tức thời, cấp bách không thật tích cực, nhiều khi vì nhu cầu trước mắt sẽ ảnh hưởng lợi ích lâu dài Ví dụ mất mùa thì vào rừng chặt cây để nuôi sống gia đình, từ đó gây mất rừng và lại mất mùa

Chiến lược thích ứng với rủi ro là chiến lược dự phòng lâu dài, uyển chuyển nhằm ổn định thu nhập vừa giải quyết được rủi ro vừa tạo cơ hội cho phát triển Ví dụ mua bảo hiểm thì sẽ được đền bù khi mùa màng thất bát nên không phải vay nợ lãi cao

2.2.3 Nội dung quản lý rủi ro

Quản lý rủi ro bao gồm các nội dung:

+ Nhận dạng, phân tích, đo lường rủi ro

+ Kiểm soát, phòng ngừa rủi ro

+ Tài trợ rủi ro khi nó đã xuất hiện

Trang 22

2.2.3.1 Nhận dạng, phân tích, đo lường rủi ro

- Nhận dạng rủi ro

Để quản lý rủi ro trước hết phải nhận dạng rủi ro Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh Hoạt động nhận dạng rủi ro nhằm phát triển các thông tin về nguồn gốc rủi ro, các yếu tố mạo hiểm, hiểm hoạ, đối tượng rủi ro và các loại tổn thất Nhận dạng rủi ro bao gồm các công việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và toàn bộ mọi hoạt động nhằm thống kê được tất cả các rủi ro, không chỉ những rủi ro đã và đang xảy ra, mà còn dự báo được những dạng rủi ro mới có thể xuất hiện, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp kiểm soát và tài trợ rủi ro thích hợp [18]

Phương pháp nhận dạng rủi ro: Để nhận dạng rủi ro phải lập được bảng

liệt kê tất cả các dạng rủi ro đã, đang và sẽ có thể xuất hiện, có thể sử dụng các phương pháp sau:

+ Lập bảng câu hỏi nghiên cứu về rủi ro và tiến hành điều tra Các câu hỏi có thể được sắp xếp theo nguồn gốc rủi ro, hoặc môi trường tác động Các câu hỏi thường xoay quanh những vấn đề như:

Các hộ đã gặp những loại rủi ro nào ?

Tổn thất là bao nhiêu ?

Số lần xuất hiện các loại rủi ro đó trong một khoảng thời gian nhất

định (thường là 1 năm) ?

Những biện pháp phòng ngừa, biện pháp tài trợ rủi ro được sử dụng? Kết quả đạt được ?

Những rủi ro chưa xảy ra nhưng có thể xuất hiện ? Lý do ?

Những ý kiến đánh giá và đề xuất về công tác quản lý rủi ro

+ Thanh tra hiện trường: Để quản lý rủi ro đòi hỏi phải thường xuyên thanh tra hiện trường Nhờ quan sát, theo dõi trực tiếp hiện trường sẽ tiến hành phân tích, đánh giá, nhận dạng rủi ro

- Phân tích rủi ro

Nhận dạng được các rủi ro và lập bảng liệt kê tất cả các rủi ro có thể

Trang 23

đến tuy là công việc quan trọng, không thể thiếu, nhưng mới chỉ là bước khởi

đầu của công tác quản lý rủi ro Bước tiếp theo là phải tiến hành phân tích rủi

ro, phải xác định được các nguyên nhân gây ra rủi ro, trên cơ sở đó mới có thể

tìm ra các biện pháp phòng ngừa Đây là một công việc rất phức tạp bởi vì mỗi

loại rủi ro thường do nhiều nguyên nhân, trong đó có cả nguyên nhân trực tiếp

và nguyên nhân gián tiếp, nguyên nhân gần và nguyên nhân xa [18], [20]

- Đo lường rủi ro

Là công việc xác định tần suất xuất hiện rủi ro trong 1 khoảng thời gian

nhất định và xác định mức độ nghiêm trọng của rủi ro Trên cơ sở đó có thể

lập được ma trận đo lường rủi ro [18]

Bảng 2.1: Ma trận đo lường rủi ro

Tần suất xuất hiện Mức độ nghiêm trọng

Cao Thấp

+ Ô I tập trung những rủi ro có mức độ nghiêm trọng cao và tần suất

xuất hiện cũng cao

+ Ô II tập trung những rủi ro có mức độ nghiêm trọng cao, nhưng tần

suất xuất hiện thấp

+ Ô III gồm những rủi ro có mức độ nghiêm trọng thấp, nhưng tần suất

xuất hiện cao

+ Ô IV bao gồm những rủi ro có mức độ nghiêm trọng thấp và tần suất

xuất hiện cũng thấp

Để đánh giá mức độ quan trọng của rủi ro người ta sử dụng cả 2 tiêu

chí: mức độ tổn thất nghiêm trọng và tần suất xuất hiện, trong đó mức độ tổn

thất nghiêm trọng đóng vai trò quyết định Vì vậy, sau khi đo lường, phân loại

các rủi ro sẽ tập trung quản lý trước hết những rủi ro thuộc nhóm I, sau đó

theo thứ tự mới đến nhóm II và III và sau cùng là nhóm IV

Trang 24

Có 2 cách tiếp cận chính về việc đo lường mức độ rủi ro:

- Cách tiếp cận phương sai - thu nhập và phòng tránh thảm hoạ hay còn gọi là cách tiếp cận an toàn trước tiên Cách tiếp cận thứ nhất dùng độ phân tán của các kết quả, chẳng hạn như phương sai hay hệ số sai lệch làm thước đo rủi ro Hệ số sai lệch càng cao thì rủi ro càng cao và ngược lại

- Cách tiếp cận thứ hai, rủi ro được đo bằng xác suất để các kết quả của một hành động nào đó có giá trị nhỏ hơn một giá trị định trước, hay nói cách khác là xác suất để một hành động tạo ra kết quả nhỏ hơn một giá trị lựa chọn nào đó

Trong việc nghiên cứu hành vi ra quyết định, mô hình thông dụng và

được công nhận nhất hiện nay là mô hình được xây dựng theo Giả thuyết về

độ thoả dụng mong đợi Nội dung cơ bản của mô hình này là các cá nhân sẽ ra quyết định lựa chọn các phương án khác nhau sao cho có thể tối đa được độ thoả dụng mong đợi Việc ra quyết định dựa trên các tiêu thức kỳ vọng và phương sai tỏ ra phù hợp với giả thuyết về độ thoả dụng mong đợi, do vậy cách tiếp cận phương sai – thu nhập thường được sử dụng Điều này có nghĩa

là mức độ rủi ro thường được thể hiện bằng hệ số biến động [7]

2.2.3.2 Kiểm soát và phòng ngừa rủi ro

- Kiểm soát rủi ro

Công việc trọng tâm của quản lý rủi ro là kiểm soát rủi ro Kiểm soát rủi ro là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt động để ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi có thể đến [19]

Kiểm soát rủi ro đòi hỏi phải sáng tạo, linh hoạt, mềm dẻo, bao gồm các biện pháp sau [18]:

+ Các biện pháp né tránh rủi ro: là các biện pháp né tránh những hoạt

động hoặc những nguyên nhân làm phát sinh tổn thất, mất mát có thể có Đây

là biện pháp được sử dụng thường xuyên trong cuộc sống Mỗi người, mỗi đơn

vị sản xuất kinh doanh đều lựa chọn những biện pháp thích hợp để né tránh rủi

ro có thể xảy ra, tức loại trừ cơ hội dẫn đến tổn thất Né tránh rủi ro chỉ với

Trang 25

những rủi ro có thể né tránh được Nhưng trong cuộc sống có rất nhiều rủi ro bất ngờ không thế tránh né được

+ Các biện pháp ngăn ngừa tổn thất: Là sử dụng các biện pháp giảm

thiểu số lần xuất hiện các rủi ro hoặc giảm mức độ thiệt hại do rủi ro mang lại

+ Các biện pháp giảm thiểu tổn thất: là những biện pháp cứu vớt những

tài sản còn lại, xây dựng và thực hiện các kế hoạch phòng ngừa rủi ro, lập quỹ

dự phòng, phân tán rủi ro

+ Các biện pháp chuyển giao rủi ro: Là những biện pháp chuyển rủi ro

đến cho người khác, tổ chức khác thông qua các con đường ký hợp đồng

+ Các biện pháp đa dạng rủi ro: Gần giống với kỹ thuật phân tán rủi ro,

bao gồm đa dạng hoá mặt hàng, đa dạng hoá khách hàng, đa dạng hoá thị trường để phòng chống rủi ro

- Phòng ngừa rủi ro: Là những biện pháp dự phòng để giảm rủi ro có

thể xảy ra

2.2.3.3 Tài trợ rủi ro

Rủi ro có rất nhiều loại, rủi ro có thể xuất hiện mọi lúc, mọi nơi, rủi ro

có thể đến với bất cứ ai, bất cứ tổ chức nào Do đó, dù phòng bị kỹ đến đâu, dù kiểm soát rủi ro chặt chẽ cách nào thì cũng không thể né tránh, ngăn chặt

được tất cả mọi tổn thất Vì vậy khi tổn thất xảy ra phải có các biện pháp để tài trợ rủi ro thích hợp Nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro bao gồm các biện pháp chấp nhận rủi ro và bảo hiểm [5]:

- Chấp nhận rủi ro

Đây là hình thức mà người gặp phải tổn thất tự chấp nhận khoản tổn thất đó hay tự khắc phục rủi ro đã xảy ra Một trường hợp điển hình của chấp nhận rủi ro là tự bảo hiểm Có rất nhiều cách thức khác nhau trong biện pháp chấp nhận rủi ro, tuy nhiên có thể chia làm hai nhóm: Chấp nhận rủi ro thụ

động và chấp nhận rủi ro chủ động Trong chấp nhận rủi ro thụ động, người ta gặp tổn thất không có sự chuẩn bị trước và có thể vay mượn để khắc phục hậu quả tổn thất Đối với chấp nhận rủi ro chủ động, người ta lập ra quỹ dự trữ dự

Trang 26

phòng và quỹ này chỉ được sử dụng để bù đắp tổn thất do rủi ro gây ra Tuy nhiên, việc này dẫn đến việc nguồn vốn không được sử dụng một cách tối ưu hoặc nếu đi vay sẽ bị động và còn gặp phải các vấn đề gia tăng về lãi suất

- Bảo hiểm

Trong cuộc sống, dù muốn hay không, nhiều loại rủi ro đã xuất hiện, vẫn tồn tại và sẽ còn chi phối đến cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình và toàn xã hội Có thể nói, chính sự tồn tại của các loại rủi ro là nguồn gốc phát sinh hoạt động dự trữ, bảo hiểm [12] Bảo hiểm là một phần quan trọng trong các chương trình quản lý rủi ro của các tổ chức cũng như cá nhân

Do nhu cầu của con người, hoạt động bảo hiểm ngày càng phát triển và không thể thiếu đối với mỗi cá nhân, mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh Bảo hiểm đã mang lại lợi ích kinh tế xã hội thiết thực cho mọi thành viên, mọi đơn

vị có tham gia bảo hiểm

Bảo hiểm có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Đứng trên quan điểm cộng đồng, bảo hiểm có thể được hiểu là phương thức xử lý rủi ro thông qua việc dự trữ đề phòng rủi ro, chuyển giao, phân tán rủi ro nhằm đảm bảo an toàn cho quá trình tái sản xuất và đời sống của con người trong xã hội [12] Theo quan điểm của các nhà quản lý rủi ro, bảo hiểm là sự chuyển giao rủi ro trên cơ sở hợp đồng Theo quan điểm xã hội, bảo hiểm không chỉ là chuyển giao rủi ro mà còn là sự giảm rủi ro do việc tập trung một số lớn các rủi ro cho phép có thể tiên đoán về tổn thất khi chúng xảy ra [5]

Thực chất của hoạt động bảo hiểm là quá trình phân phối lại tổng sản phẩm giữa những người tham gia nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính phát sinh khi rủi ro bất ngờ xảy ra gây tổn thất đối với người tham gia bảo hiểm Phân phối trong bảo hiểm là phân phối không đều, không bằng nhau, nghĩa là không phải ai tham gia cũng được phân phối và phân phối với số tiền như nhau Phân phối trong bảo hiểm là phân phối cho số ít người tham gia bảo hiểm không may gặp rủi ro bất ngờ gây thiệt hại đến sản xuất và đời sống trên cơ sở mức thiệt hại thực tế và điều kiện bảo hiểm Điều đó cũng có nghĩa,

Trang 27

phân phối trong bảo hiểm không mang tính chất bồi hoàn, tức là dù có tham gia đóng góp vào quỹ bảo hiểm nhưng không tổn thất thì không được phân phối

Hoạt động bảo hiểm dựa trên nguyên tắc "Số đông bù số ít" Nguyên tắc này được quán triệt trong quá trình lập quỹ dự trù bảo hiểm cũng như quá trình phân phối bồi thường, quá trình phân tán rủi ro

Bảo hiểm có rất nhiều tác dụng đối với người tham gia bảo hiểm và tác dụng quan trọng nhất là bảo hiểm góp phần ổn định tài chính cho người tham gia trước tổn thất do rủi ro gây ra Rủi ro xẩy ra đều gây thiệt hại về kinh tế,

ảnh hưởng đến thu nhập, đời sống, sản xuất kinh doanh của mọi cá nhân, của mọi đơn vị sản xuất kinh doanh Tổn thất đó sẽ được bảo hiểm trợ cấp hoặc bồi thường về tài chính để người tham gia nhanh chóng khắc phục hậu quả, ổn

định đời sống, ổn định sản xuất kinh doanh Từ đó, họ khôi phục và phát triển sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác một cách bình thường Tác động này phù hợp với mục tiêu kinh tế nên thu hút được số đông người tham gia Bảo hiểm là công cụ đối phó với hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra có hiệu quả nhất [5]

Để đánh giá hiệu quả của hoạt động bảo hiểm, thường đánh giá trên 2 khía cạnh: số lượng người tham gia bảo hiểm và hiệu quả tài chính Việc xem xét hiệu quả tài chính được dựa trên các chỉ tiêu: hệ số tổn thất (tiền đền bù/phí thu được), hệ số IPS (tiền đền bù/ tổng giá trị bảo hiểm), hệ số trợ cấp (trợ cấp của chính phủ/tổng chi phí) [7]

2.3 các biện pháp quản lý rủi ro của nông dân trên thế giới và ở Việt nam đang áp dụng

2.3.1 Biện pháp quản lý rủi ro do thiên nhiên gây ra

2.3.1.1 Đa dạng hoá sản xuất

Để giải quyết rủi ro trong nông nghiệp, người nông dân đã áp dụng một

số biện pháp quản lý rủi ro Các biện pháp phổ biến nhất là đa dạng hoá sản xuất Đa dạng hoá có thể được hiểu là sự gia tăng về số lượng nguồn thu nhấp

Trang 28

và sự cân đối giữa những nguồn khác nhau Vì thế, đối với người nông dân họ

có thể hiểu là hộ nào có hai nguồn thu nhập được coi là đa dạng hoá hơn so với hộ chỉ có 1 nguồn thu nhập và một hộ với hai nguồn thu nhập, mỗi nguồn chiếm 50% sẽ đa dạng hoá hơn so với một hộ mà một nguồn chiếm tới 90%

tổng thu nhập [10]

Delgado và Siamwalla (1997) khi nghiên cứu về các hộ nông dân ở Châu Phi đã nhận thấy các hộ nông dân đã thực hiện đa dạng hoá bằng cách chuyển từ việc sản xuất lương thực tự cấp tự túc sang nền nông nghiệp thương mại hoá [10] Vì vậy khi thực hiện đa dạng hoá không nhất thiết người nông dân phải tăng về số lượng hay cân đối nguồn thu nhập mà có thể thực hiện đa dạng hoá bằng cách chuyển từ trồng nhiều loại sản phẩm để tiêu dùng trong gia đình sang chuyên trồng một hoặc một vài loại sản phẩm hàng hoá để đem bán ra trên thị trường

Hay người nông dân thực hiện đa dạng hoá bằng cách chuyển dịch từ trồng cây có giá trị thấp sang cây có giá trị cao hơn, sang chăn nuôi và ngành nghề phi nông nghiệp [10] Chuyển sang cây có giá trị cao sẽ làm cho lợi ích kinh tế trên một đơn vị ruộng đất hay lao động cao hơn nên nguồn thu nhập sẽ

đạt cao hơn và đây cũng là một phương tiện để giúp nông dân giảm nghèo

Đối với các hộ nông dân việc thực hiện đa dạng hoá là một chiến lược làm giảm rủi ro Khi đa dạng hoá được thúc đẩy để nhằm quản lý rủi ro thì nhìn chung hộ phải hy sinh về giác độ thu nhập bình quân Cho nên đa dạng hoá thường xuất hiện ở các hộ khi nguồn thu nhập biến động mạnh và đặc biệt khi hộ không thích rủi ro Điều này phù hợp với nghiên cứu thử nghiệm cho các hộ nông dân nghèo làm nông nghiệp dựa hoàn toàn vào tự nhiên ở những vùng có tiềm năng thấp hộ có xu hướng có nhiều nguồn thu nhập hơn những

hộ ở những vùng có tiềm năng kinh tế cao hơn

Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra các hộ nông dân ở nhiều nước

đều đã thực hiện việc đa dạng hoá sản xuất, việc làm này không chỉ được thực hiện ở những hộ nghèo mà cả các hộ giàu cũng luôn quan tâm đến vấn đề đa

Trang 29

dạng hoá Joshi và các cộng sự (2002) xem xét xu hướng đa dạng hoá ở các nước Nam á đã chỉ ra rằng đa dạng hoá cây trồng đã tăng lên trong vòng hai thập kỷ qua ở hầu hết các nước Nam á Tại ấn Độ, vùng phía Nam và Tây

đang đa dạng hoá theo hướng chuyển từ trồng ngũ cốc sang trồng các loại đậu

đỗ, hạt có dầu, cây ăn quả và rau ở vùng miền Bắc nông dân đang chuyển từ sản xuất hạt thô sang sản xuất lúa, hạt mỳ và nhiều cây không hạt thương phẩm Vùng phía Đông nghèo hơn, kém phát triển hơn chủ yếu sản xuất độc canh cây lúa cũng bắt đầu thực hiện trồng nhiều cây lương thực khác Việc đa dạng hoá sẽ làm cho kinh tế của các hộ nông dân ở đây ổn định hơn [10]

Trong một nghiên cứu về hộ gia đình nông thôn ở Ethiopia, Block và Webb (2001) cho rằng một trong những động cơ để đa dạng hoá từ trồng trọt sang chăn nuôi là đảm bảo khỏi bị hạn Người nông dân ở đây cho rằng ngành chăn nuôi gia súc ít bị tổn thương vì hạn hán hơn là ngành trồng trọt [10]

Delgado và Siamwalla (1997) nghiên cứu cơ cấu đa dạng hoá thu nhập

ở Châu á và Châu Phi Họ lưu ý rằng nông dân Châu Phi thường áp dụng mức

độ đa dạng hoá hỗn hợp cây trồng cao như một chiến lược giảm rủi ro liên quan đến thời tiết bất lợi ở nhiều nước Châu á đa dạng hoá cây trồng gắn liền với giảm tầm quan trọng của cây lúa và chuyển sang cây ăn quả, rau, chăn nuôi Loại hình đa dạng hoá này giúp nông dân tăng thu nhập nhưng lại làm cho nông dân phải đối mặt với rủi ro của thị trường, đặc biệt với những hàng hoá mau hỏng

Một trong những trở ngại cho các hộ nông dân thực hiện đa dạng hoá đó

là trở ngại về vốn (khả năng thanh toán bằng tiền mặt), đặc biệt là đối với những hộ đa dạng hoá các hoạt động sản xuất phải trả công cao hơn ở Cote d'voire (Bờ biển Ngà) việc phá giá tiền tệ năm 1994 đã khuyến khích trồng ca cao, bông và các cây xuất khẩu khác nhưng chỉ những hộ giàu, hộ nhiều vốn mới tận dụng được cơ hội này Theo kết quả nghiên cứu của Barrett và những cộng sự (2001) ở Kenya chương trình việc làm lấy lương thực đã làm tăng khả năng thanh toán bằng tiền mặt của người nông dân nghèo, cho phép họ đa

Trang 30

dạng các hoạt động phi trồng trọt và tránh phải bán gia súc trong những năm hạn hán [10]

Một số nghiên cứu khác đã thực hiện việc so sánh đa dạng hoá ở Rwanda, Kenya và Bờ biển Ngà Đa dạng hoá từ trồng trọt sang các hoạt động khác diễn ra mạnh nhất ở những nơi có lượng mưa thấp và đất xấu Mặc dù thu nhập của lao động không có tay nghề thường gắn liền với những hộ nghèo nhưng hầu hết các dạng thu nhập phi nông nghiệp khác có tương quan dương với thu nhập [10]

Pederson và Annou (1999) đã sử dụng số liệu điều tra mức sống dân cư 1992-1993 để nghiên cứu các hình thức đa dạng hoá ở Việt Nam Họ thấy rằng đa dạng hoá nông nghiệp gắn liền với các trang trại nhỏ, diện tích tưới tiêu ít và trình độ học vấn cao hơn Ngoài ra họ cho thấy rằng những hộ tương

đối chuyên canh lúa có xu hướng đa dạng hoá thu nhập phi nông nghiệp nhiều hơn Điều này ám chỉ rằng hộ nông dân thích một vài dạng đa dạng hoá hoặc trong các hoạt động phi lúa gạo, hoặc phi nông nghiệp [10]

Henin (2002) mô tả mô hình đa dạng hoá ở vùng núi và trung du Bắc

Bộ, tập trung vào tỉnh Lạng Sơn Ông cho rằng chính sách đổi mới đã tăng thu nhập và kích thích đa dạng hoá thu nhập Người nông dân đã áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất để đạt được năng suất cao nhưng họ vẫn có xu hướng thực hiện đa dạng hoá [10] Việc đa dạng hoá được người nông dân chấp nhận để quản lý rủi ro, tận dụng lợi thế của những yếu tố bên ngoài, thích ứng với việc thiếu thị trường, đối phó với kỹ năng không

đồng nhất trong hộ hoặc thoả mãn nhu cầu tiêu dùng đa dạng Đa dạng hoá hoạt động có giá trị cao thường bị hạn chế bởi những rào cản gia nhập Những rào cản này bao gồm việc thiếu khả năng thanh toán bằng tiền mặt cho đầu tư, thiếu thông tin về sản xuất và marketing, thiếu trình độ học vấn hay thiếu cơ

sở hạ tầng

Mặc dù đa dạng hoá thu nhập và đa dạng hoá cây trồng thường được xem là xu hướng tích cực nhưng các nghiên cứu thực tế cho thấy các biện

Trang 31

pháp quản lý rủi ro truyền thống này đã gặp phải vấn đề công bằng và tính bền vững Việc đa dạng hoá sẽ làm giảm tính hiệu quả của sản xuất, làm giảm thu nhập trung bình Việc đa dạng hoá cây trồng cũng sẽ làm hạn chế hiệu quả của lợi ích nhờ quy mô Di chuyển lao động theo mùa của những người nông dân nhỏ có thể gây ra hiệu ứng (do các tác động làm giảm cân đối cung cầu về lao động) chuyển rủi ro sang người lao động làm thuê Việc thâm canh xen kẽ cũng cho thấy có ít tác dụng trong việc ổn định sản lượng [7]

Sự không hiệu quả của các phương pháp quản lý rủi ro truyền thống đã

đòi hỏi phải có các hình thức thay thế bổ sung Biện pháp được áp dụng phổ

biến hiện nay ở các nước phát triển và đang phát triển là bảo hiểm nông nghiệp

2.3.1.2 Bảo hiểm nông nghiệp

Nhiều nước trên thế giới đã tiến hành bảo hiểm nông nghiệp theo hướng bảo hiểm mọi rủi ro hoặc một số loại rủi ro Bảo hiểm nông nghiệp đã và đang

được áp dụng ở cả các nước phát triển và đang phát triển

Có nhiều hình thức của bảo hiểm nông nghiệp, bao gồm bảo hiểm cây trồng, bảo hiểm gia súc, bảo hiểm nuôi trồng thuỷ sản, bảo hiểm mùa vụ và các hoạt động liên quan Phạm vi của bảo hiểm nông nghiệp cũng bao gồm cả bảo hiểm sau thu hoạch, quá trình chế biến và vận chuyển sản phẩm

Năm 1898 đánh dấu sự ra đời của bảo hiểm nông nghiệp Nước Phổ đã tiến hành bảo hiểm mọi rủi ro cho cây trồng thông qua hoạt động của các công ty bảo hiểm tương hỗ nhỏ Nhưng các công ty này không tồn tại và phát triển được trước các thảm hoạ lớn [5]

ở Mỹ, vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, một số công ty bảo hiểm tư nhân tiến hành bảo hiểm mọi rủi ro cây trồng nhưng đều thất bại vì thiếu thông tin, phí bảo hiểm quá thấp, địa bàn hẹp nên việc phân tán rủi ro

bị hạn chế [5]

Năm 1933, cả Nhật Bản và Mỹ đều thực hiện chương trình bảo hiểm mọi rủi ro cho cây trồng Chương trình này có 2 đặc trưng cơ bản là Chính phủ tài trợ và do các công ty Nhà nước đảm trách Nhờ đó, hoạt động bảo hiểm có

Trang 32

nhiều thuận lợi Nhưng do ảnh hưởng của chiến tranh Thế giới lần thứ II đã

ảnh hưởng đến chương trình này [5]

Bảo hiểm nông nghiệp có nhiều nội dung, trên thực tế hình thức bảo hiểm sau thu hoạch, chế biến và vận chuyển sản phẩm ít được áp dụng Loại bảo hiểm nông nghiệp hay được sử dụng là bảo hiểm cây trồng và bảo hiểm mùa vụ [7]

Bảo hiểm cây trồng có thể thực hiện cho một loại rủi ro cụ thể hoặc có thể thực hiện cho tất cả các loại rủi ro Bảo hiểm cây trồng cho một loại rủi ro

cụ thể chỉ chi trả cho những mất mát do một loại hiểm hoạ cụ thể gây ra như cháy, lũ lụt, mua đá, sương muối hoặc hạn hán Bảo hiểm cho những mất mát

do mưa đá gây ra là một trong những loại bảo hiểm cụ thể đại diện cho cách bảo hiểm một rủi ro cụ thể Loại bảo hiểm này đã được sử dụng thành công cho nhiều nước trên thế giới Bảo hiểm này thường do các công ty tư nhân

đảm nhiệm Bảo hiểm cho tất cả các loại rủi ro thường bồi thường cho những thiệt hại do thiên nhiên gây ra Ngày nay, chương trình này đã được thực hiện ở nhiều nước như Mỹ, Canađa, Nhật Bản, ấn Độ, Philippines Chương trình này thường do các cơ quan Chính phủ thực hiện [13]

Hoạt động bảo hiểm mùa vụ cũng là nhằm giải quyết vấn đề rủi ro trong nông nghiệp, cụ thể là nhằm ổn định thu nhập của người nông dân Cơ chế tính phí và đền bù được căn cứ vào sự biến động của sản lượng, có nghĩa là bảo hiểm mùa vụ hạn chế rủi ro nông nghiệp thông qua việc giải quyết vấn đề rủi ro sản lượng Vì thế hoạt động bảo hiểm rủi ro mùa vụ chỉ phát huy tác dụng trong trường hợp sự biến động thu nhập của nông dân chủ yếu là do sự biến động về sản lượng gây ra [7]

Cũng như tất cả các hoạt động bảo hiểm khác, bảo hiểm mùa vụ hoạt

động theo nguyên tắc người tham gia mua phí bảo hiểm và được đền bù trong trường hợp có rủi ro Tuy nhiên, bảo hiểm mùa vụ có tính đặc thù so với các hoạt động bảo hiểm khác ở cơ sở đánh giá rủi ro xảy ra và mức phí

Có hai cách tiếp cận đối với việc xác định rủi ro trong bảo hiểm mùa vụ:

Trang 33

cách tiếp cận theo cá thể và cách tiếp cận theo vùng Trong cách tiếp cận theo cá thể, mức phí và áp dụng đền bù được dựa trên việc đánh giá tình hình cụ thể của từng thành viên tham gia bảo hiểm Ngược lại, đối với cách tiếp cận theo vùng, mức phí và đền bù được xác định trên cơ sở một nhóm người, chẳng hạn dựa vào năng suất bình quân của một vùng nào đó Vùng được chọn làm cơ sở đánh giá gọi là vùng đơn vị

Hình thức bảo hiểm bao gồm: Tự nguyện hoặc bắt buộc do công ty tư nhân hoặc công ty nhà nước tiến hành Tình hình bảo hiểm nông nghiệp ở một

Rủi ro bảo hiểm

Loại cây

được bảo hiểm

Cơ quan tiến hành

Nguồn hình thành quỹ BH

Hình thức

1 Jamaica 1946 Bão Cây chuối Chính phủ Bắt buộc

2 Canada 1917 Mưa đá Mọi cây trồng

Chính phủ

Tư nhân

Phí BH do

ND đóng góp và hỗ trợ của CP

Hội BH tương

hỗ có sự giúp

đỡ của Chính quyền

Phí BH do

ND đóng góp và hỗ trợ của CP

Bắt buộc với chủ nông lớn,

tự nguyện với chủ nông nhỏ

5 Srilanca 1958 Mọi rủi ro Cây lúa Chính phủ Phí BH do

ND đóng góp và hỗ trợ của CP

Bắt buộc với cây lúa, tự nguyện với cây khác

6 Philippin 1978 Mọi rủi ro Ngô, lúa, lạc,

đậu tương, bông

Công ty BH

NN

Phí BH do

ND đóng góp

Bắt buộc với người vay tiền

Tuy nhiên, các nghiên cứu thực tế cho thấy, hầu hết các chương trình

Trang 34

bảo hiểm này đều trong tình trạng lỗ và phải được sự trợ cấp của Chính phủ Chẳng hạn, ở Canada và Nhật Bản nhà nước phải trợ cấp 50% mức phí bảo hiểm

Chương trình bảo hiểm CCIS đã có quá trình nghiên cứu về tình hình bảo hiểm nông nghiệp cho thấy: số lượng người tham gia bảo hiểm thay đổi theo mức độ rủi ro, những nơi có mức độ rủi ro thấp hoặc quá cao thì tỷ lệ tham gia thấp Hoạt động bảo hiểm nhìn chung là lỗ Hệ số tổn thất phần lớn

có giá trị lớn hơn 100% [7]

Có 4 nguyên nhân của tình trạng lỗ được nêu ra là điều kiện thời tiết không thuận lợi trong nhiều năm liên tục, mức phí bảo hiểm được xác định quá thấp, ảnh hưởng của việc lựa chọn gây hại, và do người nông dân chuyển sang lựa chọn các loại cây trồng có mức độ rủi ro cao hơn

Hoạt động bảo hiểm nếu chỉ thực hiện ở một phạm vi hẹp sẽ mất tác dụng đặc biệt là bảo hiểm mùa vụ khi thực hiện tính phí bảo hiểm dựa trên sự biến động về sản lượng của từng hộ nông dân Do đặc tính của hoạt động nông nghiệp, sản lượng của từng hộ nông dân trong một vùng lại có mối liên hệ với nhau và ảnh hưởng của rủi ro do thiên tai gây ra thường có phạm vi ảnh hưởng trong toàn vùng Sự liên hệ này làm cho lý thuyết số đông không được đảm bảo, và do vậy, mục đích hạn chế rủi ro của bảo hiểm sẽ mất tác dụng Tuy nhiên, điều này có thể khắc phục nếu phạm vi bảo hiểm được mở rộng, chẳng hạn ở phạm vi quốc gia

Một vấn đề nữa là tình trạng thông tin sai lệch, điều này gây ra các vấn

đề gọi là rủi ro đạo đức (moral hazard) và sự lựa chọn gây hại (adverse

selection) Nguy cơ đạo đức xảy ra bởi hai nguyên nhân: khách hàng có thể có lợi bằng cách làm tăng khả năng xảy ra tình trạng rủi ro trong khi người bảo hiểm không kiểm soát được các hành động của khách hàng và lượng tiền đền

bù vào phụ thuộc vào các hành vi của bản thân cá nhân người mua bảo hiểm Vấn đề lựa chọn gây hại có thể xảy ra khi khách hàng mua bảo hiểm biết rõ tình trạng rủi ro trong khi người bảo hiểm không thể đánh giá được, do đó dẫn

đến việc áp dụng mức phí bảo hiểm cao hơn so với mức đáng ra phải áp dụng

Trang 35

đối với những trường hợp có mức rủi ro thấp

Những vấn đề trên dường như là rất nghiêm trọng trong điều kiện sản xuất nông nghiệp Việc thu thập thông tin ở mức độ hộ nông dân là rất tốn kém về tài chính và thời gian Sự phân bố rộng khắp giữa các vùng khí hậu khác nhau có thể gây ra tình trạng lựa chọn gây hại

Có hai phương pháp tiếp cận đối với các vấn đề xác định phí và đền bù trong bảo hiểm là phương pháp tiếp cận theo vùng và phương pháp tiếp cận theo cá thể Phương pháp tiếp cận theo vùng dựa vào tình trạng một nhóm khách hàng nên có khả năng hạn chế được vấn đề về nguy cơ đạo đức và sự lựa chọn gây hại Nghiên cứu thực tế cho thấy, người nông dân thích tham gia mô hình bảo hiểm theo cách tiếp cận cá thể trong trường hợp hoạt động canh tác có mức độ rủi ro cao về sản lượng; ngược lại những người nông dân trồng những loại cây có mức độ rủi ro về sản lượng thấp thì thích hình thức bảo hiểm dựa trên phương pháp tiếp cận theo vùng [7]

Do tính chất ổn định trong sản xuất nông nghiệp thấp, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp ở nước ta Theo số liệu thống kê, bình quân mỗi năm các hiện tượng thiên tai đã làm thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp nước ta từ 15-20% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp Hàng năm, ngân sách Nhà nước và quỹ lương thực dự trữ quốc gia phải dành ra những khoản lương thực và những khoản tiền rất lớn để hỗ trợ nông dân gặp thiên tai, miễn giảm thuế nông nghiệp cho những nơi bị mất mùa Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, mặc

dù các biện pháp trên là cần thiết, nhưng tỏ ra bị động và kém hiệu quả Vì vậy, để chủ động đối phó và có quỹ dự trữ, dự phòng bồi thường kịp thời những tổn thất do thiên tai gây ra, biện pháp tốt nhất và hữu hiệu nhất là phải tiến hành bảo hiểm nông nghiệp

Đối với Việt Nam, bảo hiểm nông nghiệp được thực hiện chậm hơn so với các nước trên thế giới Năm 1981, Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam mới tiến hành thí điểm bảo hiểm mùa màng ở 2 huyện là Vụ Bản và Nam Ninh, tỉnh Hà Nam Ninh (cũ) Tổng công ty tiến hành bảo hiểm cây lúa với mọi rủi

Trang 36

ro do thiên tai gây ra Năng suất chuẩn để bảo hiểm là năng suất thu hoạch bình quân 5 năm ở từng Hợp tác xã, từng vụ (gọi là năng suất bảo hiểm) Mức

độ đảm bảo của bảo hiểm là những thiệt hại dưới 15% so với năng suất bảo hiểm thì không bồi thường Thiệt hại trên 15% Bảo Việt mới xét bảo hiểm cho phần vượt quá 15% trên Phí bảo hiểm tính trên cơ sở xác suất rủi ro và tổn thất của từng huyện để quy định như Nam Ninh 2%, Vụ Bản 3% năng suất bảo hiểm, hình thức bảo hiểm là tự nguyện [9]

Năm 1981 huyện Nam Ninh có 46/51 hợp tác xã, huyện Vụ Bản có 28/32 hợp tác xã tham gia với kết quả như sau [9]:

Bảng 2.3: Phí thu bảo hiểm và mức bồi thường rủi ro

của bảo hiểm mùa vụ Năm Phí thu (đồng) Bồi thường (đồng) Tỷ lệ bồi thường/ thu (%)

1981

1982

Cộng

556.700 790.000 1.346.700

464.083 300.000 764.083

83,2

38 56,8

Để tiếp tục rút kinh nghiệm và thử nghiệm mô hình bảo hiểm mùa màng tới từng hộ nông dân Năm 1993 Tổng công ty Bảo hiểm đã kết hợp chặt chẽ với chính quyền tỉnh Hà Tĩnh làm thí điểm đối với cây lúa với hầu hết các tổn thất do thiên nhiên gây ra Phí bảo hiểm và mức bồi thường được tính toán cụ thể theo từng hạng đất với tỷ lệ phí thống nhất 5% năng suất bảo hiểm, cụ thể [9]:

bảng 2.4: Cách tính phí bảo hiểm và mức bồi thường

bảo hiểm mùa vụ đối với cây lúa

Định suất phí (kg thóc/1000m 2 /vụ)

Trách nhiệm bảo hiểm (kg thóc/1000m 2 /vụ) Hạng đất

Đông xuân Hè thu Mùa Đông xuân Hè thu Mùa

Hạng 1

Hạng 3

Hạng 5

14,5 9,5 7,5

10

7 5,5

10

7 5,5

Trang 37

Đến năm 1994, Bảo việt mở rộng triển khai ra các tỉnh như Hải Hưng, Nam Hà, Đồng Tháp, An Giang, Sóc Trăng, Bình Thuận nhưng nói chung các hộ nông dân vẫn còn rụt rè khi tham gia bảo hiểm nông nghiệp

Như vậy, bảo hiểm nông nghiệp là cần thiết, nhưng trong quá trình triển khai, các công ty bảo hiểm phải tính đến tất cả những đặc điểm của ngành này Ngoài tác dụng của bảo hiểm nói chúng, bảo hiểm nông nghiệp góp phần bảo vệ an toàn các loại tài sản và quá trình sản xuất nông nghiệp, góp phần ổn

định cuộc sống cho hàng triệu người dân cùng một lúc, ổn định giá cả trên thị trường tự do, đặc biệt là giá cả những mặt hàng thiết yếu nhất như lương thực, thực phẩm Nếu bảo hiểm nông nghiệp được triển khai trên diện rộng nó còn góp phần giảm nhẹ và ổn định ngân sách, ổn định đời sống xã hội và giữ vững

an ninh lương thực cho quốc gia Hơn nữa, sản xuất nông nghiệp là một thị trường rất lớn cho các công ty bảo hiểm, mặc dù triển khai bảo hiểm gặp nhiều khó khăn, song với đối tượng là nhiều loại cây trồng, vật nuôi khác nhau

sẽ giúp cho các công ty bảo hiểm dễ dàng khai thác, hạn chế được sức ép của cạnh tranh Đồng thời phát huy được tối đa quy luật "số đông bù số ít" trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm [5]

2.3.2 Biện pháp quản lý rủi ro thị trường

ở đây chủ yếu tập trung xem xét về sự biến động của giá cả Để giảm rủi ro do giá cả mang lại có thể sử dụng các công cụ sau: (i) các biện pháp truyền thống đối với các nước đang phát triển Các biện pháp này thường mang tính phi thị trường và (ii) các biện pháp mới đối với các nước đang phát triển và các biện pháp này thường là dựa vào thị trường, đặc biệt là các thị trường về bảo hiểm và tài chính [7]

2.3.2.1 Các biện pháp phi thị trường

Các biện pháp này đã được sử dụng phổ biến, không chỉ đối với hàng hoá nông nghiệp mà cả với các loại hàng hoá khác Có 2 hình thức chính của các biện pháp phi thị trường: bình ổn giá cả và quỹ tài chính dự phòng phát sinh [7]

Trang 38

- Bình ổn giá cả: có nhiều biện pháp để bình ổn giá cả như các điều chỉnh

mang tính vĩ mô, sử dụng dự trữ ngoại tệ, ngân sách Chính phủ hoặc kho đệm

Các biện pháp bình ổn thường hướng tới thực hiện các mục tiêu:

(i) Làm cho giá cả dao động ít hơn

(ii) Với cùng một mức độ dao động của giá cả, làm cho giá cả và thu nhập dễ dự đoán hơn

Việc điều chỉnh vĩ mô (tài khoá, tiền tệ ) chủ yếu nhằm khắc phục những cú sốc giá cả có ảnh hưởng lớn đến toàn bộ nền kinh tế Tuy nhiên, việc

điều chỉnh này thường không thích hợp và gây ảnh hưởng xấu đến toàn bộ nền kinh tế, trong khi sự thay đổi giá cả chỉ tác động đến một bộ phận nhỏ Vì thế, các chính sách vĩ mô thường không phải là giải pháp hiệu quả để giải quyết vấn đề rủi ro do giá cả gây ra

Việc lựa chọn các hình thức ổn định giá cả phụ thuộc vào loại hàng hoá cần ổn định giá Các hình thức đã và đang áp dụng là kho đệm, quỹ dự phòng, trợ giá, quy định hành lang giá, kiểm soát về số lượng và các hành

động can thiệp trực tiếp

Tuy nhiên, đối với phần lớn các cơ chế ổn định giá cả này, mục đích thực sự không chỉ giới hạn ở phạm vi hạn chế sự biến động giá cả mà thường bao gồm cả mục tiêu tái phân phối thu nhập và quản lý nhu cầu

- Quỹ tài chính dự phòng phát sinh: quỹ này được hình thành trong

thời gian thuận lợi về giá cả hàng hoá và được sử dụng để bù đắp khi giá cả xuống thấp Tuy nhiên hình thức này cũng gặp một số vấn đề khó khăn như chi phí cơ hội cao, hạn chế trong việc bù đắp và rất khó để có thiết kế được một cơ chế hiệu quả [7]

Qua nghiên cứu thực tế, các biện pháp phi thị trường tỏ ra có nhiều nhược điểm: không có cơ sở bền vững về mặt dài hạn, gây ra sự méo mó trong phân phối nguồn lực do vậy làm cho việc sử dụng nguồn lực không hiệu quả Nhiều nước đã phải dời bỏ quỹ bình ổn giá và các công cụ truyền thống khác sau nhiều năm áp dụng chúng như Nigeria đã thôi không sử dụng các công cụ

Trang 39

này đối với ca cao vào năm 1986 Madagascar, Burundi và Uganda thôi không

áp dụng đối với cà phê tương ứng vào các năm 1989, 1990 và 1992 Cameroon

đã thôi áp dụng đối với cà phê và ca cao vào năm 1994 [7]

Nguyên nhân thất bại của những công cụ truyền thống của các nước

đang phát triển có thể lý giải bởi 2 nguyên nhân: (i) quỹ bình ổn giá được sử dụng không chỉ cho mục tiêu giữ giá ổn định mà cho nhiều mục tiêu xã hội khác, khó khăn về phương tiện thanh toán, xảy ra tham nhũng và nhiều sai phạm trong quản lý; và (ii) nguyên nhân quan trọng hơn là sau khi giá cả xảy

ra đột biến, giá của nhiều loại nông sản trên thị trường phải mất một thời gian dài mới quay trở lại giá trị trung bình Như vậy quỹ bình ổn giá phải rất lớn và

điều này rất tốn kém Do đó mà khó có thể duy trì việc sử dụng các công cụ bình ổn giá truyền thống trong một thời gian dài hạn

2.3.2.2.Các biện pháp thị trường

Thực chất là các biện pháp được sử dụng trong thị trường tài chính để khắc phục rủi do về tỷ giá và lãi suất Các biện pháp quản lý rủi ro trên thị trường tài chính nhằm mục đích trao đổi rủi ro

Các biện pháp quản lý rủi ro thị trường rất đa dạng, bao gồm các loại sau [7]:

- Hợp đồng kỳ hạn: là một thoả thuận mua hoặc bán một sản phẩm vào

một thời điểm trong tương lai với một mức giá được xác định trước Khi đến hạn hợp đồng, nếu giá cả tại thời điểm đó cao hơn mức giá theo hợp đồng thì người mua hàng được hưởng lợi và ngược lại Do giá cả được xác định từ trước nên hợp đồng kỳ hạn có thể hạn chế sự biến động về giá cả Tuy nhiên, do nhiều điều kiện đã được xác định trước nên hợp đồng kỳ hạn tương đối cứng nhắc và không thể mua bán lại Vì thế, trong trường hợp tình hình cung cầu và giá cả thực tế có nhiều thay đổi, các bên tham gia vẫn có động lực để phá bỏ hợp đồng

- Hợp đồng tương lai: tương tự như hợp đồng kỳ hạn nhưng nó có một

số khác biệt là các điều khoản hợp đồng đã được chuẩn hoá, lợi nhuận và chi phí được tính theo ngày và các hợp đồng tương lai đòi hỏi phải có đặt cọc

Trang 40

+ Quyền chọn: là quyền mua hoặc bán một loại sản phẩm nào đó vào

một thời điểm trong tương lai với một mức giá định trước Nó có một số khác biệt với 2 loại hợp đồng trên là: (i) các hợp đồng quyền chọn hạn chế tối đa các khoản thiệt hại, nhưng lại mở ra một cơ hội để tận dụng tối đa điều kiện thuận lợi về giá cả; (ii) người mua quyền chọn phải trả một khoản phí ngay tại thời điểm mua; (iii) mặc dù người mua quyền chọn gặp phải vấn đề rủi ro nên phá vỡ hợp đồng, người bán quyền chọn không phải chịu rủi ro này

+ Hợp đồng SWAP: là việc kết hợp một loạt các hợp đồng kỳ hạn Các

hợp đồng SWAT có thể hạn chế được rủi ro giá cả một cách hữu hiệu thông qua việc xác định giá cố định Tuy nhiên, việc áp dụng hợp đồng SWAT đối với sản phẩm nông nghiệp rất hạn chế

Các công cụ trên tuy có sự khác biệt nhưng chúng có điểm chung là tác dụng loại bỏ các tác động bất lợi của những biến động về giá cả trong ngắn hạn thông qua thoả thuận trước về mức giá cho sản phẩm sẽ được giao cho tương lai Có 4 ưu điểm chính của các công cụ này là:

(i) Giảm bớt sự bất định của thu nhập hay chi tiêu trong tương lai

(ii) Các công cụ này dựa vào giá thị trường chứ không phải giá được đặt

ra bằng các biện pháp hành chính phi thị trường

(iii) Các công cụ này có thể chuyển rủi ro từ trong nước ra quốc tế

(iv) Giúp giảm chi phí tài trợ cho việc sản xuất và tiêu thụ hàng hoá xuất khẩu vì giúp làm giảm rủi ro và tăng uy tín của các bên tham gia hợp đồng

Hiện nay, các nhà kinh doanh và xuất khẩu thuộc khu vực tư nhân

ở một số nước có nhiều mặt hàng có độ rủi ro cao như Brazil, Colombia,

El Salvador, Inđônêxia và Malaysia đã sử dụng công cụ này để bảo hiểm chống lại rủi ro giá cả Do những công cụ này chỉ áp dụng cho các giao dịch

có khối lượng lớn cũng như vốn cần cho giao dịch nhiều nên những người nông dân không sử dụng được các công cụ này một cách trực tiếp Tuy nhiên,

họ có thể sử dụng một cách gián tiếp thông qua các tổ chức trung gian mà vẫn nhận được đầy đủ lợi ích của công cụ này Nông dân ở nhiều nước đã thường

Ngày đăng: 18/08/2013, 21:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Thị Mỹ Dung (1994), “Rủi ro trong nông nghiệp và một số biện pháp khắc phục”, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 04, trang 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rủi ro trong nông nghiệp và một số biện pháp khắc phục”, "Tạp chí Lao động và Xã hội
Tác giả: Phạm Thị Mỹ Dung
Năm: 1994
2. Phạm Thị Mỹ Dung (1996), Phân tích kinh tế nông nghiệp, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích kinh tế nông nghiệp
Tác giả: Phạm Thị Mỹ Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
4. Trần Đình Đằng, Đinh Văn Đán (1996), Kinh tế hộ nông dân, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế hộ nông dân
Tác giả: Trần Đình Đằng, Đinh Văn Đán
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
5. Nguyễn Văn Định (2004), Giáo trình Bảo hiểm, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Bảo hiểm
Tác giả: Nguyễn Văn Định
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2004
7. Chử Văn Lâm (2001), Xây dựng cơ chế liên kết đa thành phần kinh tế trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu nông sản vùng Ô Môn- Thốt Nốt tỉnh Cần Thơ: Tr−ờng hợp nghiên cứu nông tr−ờng Sông Hậu, Đề tài thuộc ch−ơng trình nghiên cứu Việt Nam – Hà Lan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng cơ chế liên kết đa thành phần kinh tế trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu nông sản vùng Ô Môn- Thốt Nốt tỉnh Cần Thơ: Tr−ờng hợp nghiên cứu nông tr−ờng Sông Hậu
Tác giả: Chử Văn Lâm
Năm: 2001
8. Luật bảo hiểm Việt Nam (2002), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật bảo hiểm Việt Nam
Tác giả: Luật bảo hiểm Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
9. Từ Tiến Mỹ (1994), “Bảo hiểm mùa màng - một số biện pháp tích cực góp phần xoá đói giảm nghèo ở nông thôn”, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 04, trang 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm mùa màng - một số biện pháp tích cực góp phần xoá đói giảm nghèo ở nông thôn”, "Tạp chí Lao động và Xã hội
Tác giả: Từ Tiến Mỹ
Năm: 1994
10. Nicholas Minot (2002), Đa dạng hoá và đói nghèo ở vùng núi và trung du Bắc bộ Việt Nam, Báo cáo đề tài nghiên cứu của Viện nghiên cứu chính sách l−ơng thực quốc tế, Washington, D.C. USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đề tài nghiên cứu của Viện nghiên cứu chính sách l−ơng thực quốc tế
Tác giả: Nicholas Minot
Năm: 2002
11. L−ơng Hồng Quang (2001), Văn hoá của nhóm nghèo ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp, Nxb Văn hoá - thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá của nhóm nghèo ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp
Tác giả: L−ơng Hồng Quang
Nhà XB: Nxb Văn hoá - thông tin
Năm: 2001
12. Tr−ờng Đại học Tài chính Kế toán (1997), Lý thuyết tài chính, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết tài chính
Tác giả: Tr−ờng Đại học Tài chính Kế toán
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 1997
14. Đào Thế Tuấn (1997), Kinh tế hộ nông dân, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế hộ nông dân
Tác giả: Đào Thế Tuấn
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
16. Từ điển từ và ngữ Việt Nam (1998), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển từ và ngữ Việt Nam
Tác giả: Từ điển từ và ngữ Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
18. Đoàn Thị Hồng Vân (2002): Quản trị rủi ro và khủng hoảng, Nxb Thống kê, Hà Nội.II. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro và khủng hoảng
Tác giả: Đoàn Thị Hồng Vân
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2002
20. Hardaker, J.B., Huirne, R.B.M., Anderson, J.R., (1997), Coping with Risk Agriculture, CAB international, New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Coping with Risk Agriculture
Tác giả: Hardaker, J.B., Huirne, R.B.M., Anderson, J.R
Năm: 1997
22. Jock R. Anderson, Jonh L. Dillon (1992), Risk analysis in dryland farming systems, Food and Agriculture Organization of the United Nations, Rome Sách, tạp chí
Tiêu đề: Risk analysis in dryland farming systems
Tác giả: Jock R. Anderson, Jonh L. Dillon
Năm: 1992
3. Phạm Thị Mỹ Dung (2002), Tổng quan bảo hiểm và bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam, Báo cáo nội bộ của tiểu dự án F2 thuộc Uplands Program Khác
6. Ian Macandrew, John Nash (1999), T− vấn hoạt động và trợ giúp thiết kế cho ch−ơng trình bảo hiểm nông nghiệp ở n−ớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tổ chức L−ơng thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) và Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam Khác
13. Tr−ờng Đại học Nông nghiệp I (1998), Nghiên cứu thực trạng rủi ro và xây dựng đề án bảo hiểm cho Vải thiều huyện Lục Ngạn – Bắc Giang,Đề tài hợp tác giữa Tổ chức trao đổi nguồn lực quốc tế với Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn Khác
17. UBND huyện L−ơng Sơn (2003), Báo cáo tình hình kinh tế xã hội của huyện L−ơng Sơn - Hoà Bình Khác
19. Gertrud Buchenrieder, Frank Heihues, Pham Thi My Dung, Vulnerable livelihoods and coping with Risks in Farm Households in Northern Vietnam, F2.2. Subproject, Upland Programs (7/2003 –6/2006) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Ma trận đo l−ờng rủi ro  Tần suất xuất hiện - Nghiên cứu rủi ro và quản lý rủi ro của hộ nông dân huyện miền núi lương sơn tỉnh hoà bình
Bảng 2.1 Ma trận đo l−ờng rủi ro Tần suất xuất hiện (Trang 23)
Bảng 2.2: tình hình Bảo hiểm nông nghiệp trên thế giới - Nghiên cứu rủi ro và quản lý rủi ro của hộ nông dân huyện miền núi lương sơn tỉnh hoà bình
Bảng 2.2 tình hình Bảo hiểm nông nghiệp trên thế giới (Trang 33)
Bảng 2.3: Phí thu bảo hiểm và mức bồi th−ờng rủi ro   của bảo hiểm mùa vụ - Nghiên cứu rủi ro và quản lý rủi ro của hộ nông dân huyện miền núi lương sơn tỉnh hoà bình
Bảng 2.3 Phí thu bảo hiểm và mức bồi th−ờng rủi ro của bảo hiểm mùa vụ (Trang 36)
Bảng 3.1  :  hiện trạng sử dụng Đất huyện L−ơng Sơn - Nghiên cứu rủi ro và quản lý rủi ro của hộ nông dân huyện miền núi lương sơn tỉnh hoà bình
Bảng 3.1 : hiện trạng sử dụng Đất huyện L−ơng Sơn (Trang 45)
Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao động huyện Lương Sơn - Nghiên cứu rủi ro và quản lý rủi ro của hộ nông dân huyện miền núi lương sơn tỉnh hoà bình
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động huyện Lương Sơn (Trang 46)
Bảng 3.4: Tình hình cơ sở hạ tầng huyện L−ơng Sơn - Nghiên cứu rủi ro và quản lý rủi ro của hộ nông dân huyện miền núi lương sơn tỉnh hoà bình
Bảng 3.4 Tình hình cơ sở hạ tầng huyện L−ơng Sơn (Trang 50)
Bảng 3.5: Cơ cấu đất đai của 2 xã lâm Sơn và trường Sơn  Xã Lâm Sơn  Xã Tr−ờng Sơn  TT Chỉ  tiêu  Diện tích - Nghiên cứu rủi ro và quản lý rủi ro của hộ nông dân huyện miền núi lương sơn tỉnh hoà bình
Bảng 3.5 Cơ cấu đất đai của 2 xã lâm Sơn và trường Sơn Xã Lâm Sơn Xã Tr−ờng Sơn TT Chỉ tiêu Diện tích (Trang 52)
Hình 4.1: Cơ cấu đất đai giữa các nhóm hộ  ở xã Lâm Sơn và Tr−ờng Sơn - Nghiên cứu rủi ro và quản lý rủi ro của hộ nông dân huyện miền núi lương sơn tỉnh hoà bình
Hình 4.1 Cơ cấu đất đai giữa các nhóm hộ ở xã Lâm Sơn và Tr−ờng Sơn (Trang 59)
Hình 4.2: Các loại rủi ro của nông dân L−ơng Sơn  + Rủi ro do thiên nhiên - Nghiên cứu rủi ro và quản lý rủi ro của hộ nông dân huyện miền núi lương sơn tỉnh hoà bình
Hình 4.2 Các loại rủi ro của nông dân L−ơng Sơn + Rủi ro do thiên nhiên (Trang 65)
Bảng 4.4: Diễn biến giá bán sản phẩm trong những năm gần đây - Nghiên cứu rủi ro và quản lý rủi ro của hộ nông dân huyện miền núi lương sơn tỉnh hoà bình
Bảng 4.4 Diễn biến giá bán sản phẩm trong những năm gần đây (Trang 66)
Bảng 4.6:  tác động của các loại rủi ro đến nông hộ điều tra - Nghiên cứu rủi ro và quản lý rủi ro của hộ nông dân huyện miền núi lương sơn tỉnh hoà bình
Bảng 4.6 tác động của các loại rủi ro đến nông hộ điều tra (Trang 73)
Hình 4.3: Cơ cấu nguồn thu nhập của các nhóm hộ điều tra - Nghiên cứu rủi ro và quản lý rủi ro của hộ nông dân huyện miền núi lương sơn tỉnh hoà bình
Hình 4.3 Cơ cấu nguồn thu nhập của các nhóm hộ điều tra (Trang 84)
Bảng 4.11: Hệ số biến động thu nhập - Nghiên cứu rủi ro và quản lý rủi ro của hộ nông dân huyện miền núi lương sơn tỉnh hoà bình
Bảng 4.11 Hệ số biến động thu nhập (Trang 85)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w