Trước năm 1975, thơ ông được in lác đác trên các tạp chí Trình bày, Đứng dậy, Đối diện, Tuyển tập văn chương viết về lao tù,… với các bài thơ như Bến chờ, Chuyện vùng bất an, Đếm xác hồi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết sơn sâu sắc đến thầy giáo, PGS.TS Nguyễn
Bá Thành, người đã hướng dẫn tôi tận tình, chu đáo trong quá trình thực hiện luận văn Sự chỉ bảo tận tâm của thầy đã mang lại cho tôi các kiến thức cũng như kỹ năng hết sức quý báu để có thể hoàn thiện đề tài một cách tốt nhất
Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn nhà thơ Trần Vạn Giã đã tận tâm hướng dẫn tôi tìm hiểu các tài liệu quan trọng và cho tôi những lời góp ý chân thành nhất trong suốt quá trình nghiên cứu Tôi xin được gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu Nhà trường, quý thầy giáo, cô giáo ở Phòng Đào tạo Sau đại học và thầy giáo, cô giáo khoa Văn học, trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đặc biệt là các thầy cô giáo bộ môn Văn học Việt Nam, khoa Văn học – những người mà trong thời gian qua đã dạy dỗ, truyền thụ kiến thức khoa học, giúp tôi từng bước trưởng thành
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn những người thân, gia đình và bạn bè – những người đã hỗ trợ, tạo điều kiện để tôi có thể học tập đạt kết quả tốt và thực hiện thành công luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 19 tháng 10 năm 2017
Học viên
Lê Thị Oanh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn do tôi thực hiện Những kết quả từ những tác giả trước mà tôi sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng, cụ thể Không có bất kỳ sự không trung thực nào trong các kết quả nghiên cứu
Nếu có gì sai trái, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 19 tháng 10 năm 2017
Học viên
Lê Thị Oanh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
2.1 Lịch sử nghiên cứu về tư duy thơ 3
2.2 Nghiên cứu về thơ Trần Vạn Giã 4
3 Nhiệm vụ - Mục đích – Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 8
3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
3.2 Mục đích nghiên cứu 9
3.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 9
4 Phương pháp nghiên cứu 10
5 Cấu trúc luận văn 11
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN TƯ DUY THƠ VÀ TƯ DUY THƠ CỦA TRẦN VẠN GIÃ 12
1.1 Tư duy thơ 12
1.1.1 Tư duy thơ là một phương thức tư duy nghệ thuật 12
1.1.2 Khái quát về tư duy thơ Trần Vạn Giã 14
1.2 Quá trình sáng tác và quan niệm thơ của Trần Vạn Giã 16
1.2.1 Tiểu sử nhà thơ Trần Vạn Giã 16
1.2.2 Quá trình sáng tác 17
1.2.3 Quan niệm về thơ 17
1.2.3.1 Trước năm 1975: Thơ nhuốm màu khói lửa, đau khổ, lưu ly 18
1.2.3.2 Sau năm 1975: Thơ gần gũi với tha nhân, với cuộc đời, giãi bày những uẩn khúc bên trong của con người 19
Trang 6Chương 2: CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO VÀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ
TRẦN VẠN GIÃ 22
2.1 Cảm hứng chủ đạo 22
2.1.1 Cảm hứng về quê hương, đất nước 22
2.1.1.1 Thơ không rời xa số phận con người và quê hương 22
2.1.1.2 Thơ cùng quê hương trên con đường xây dựng hạnh phúc 26
2.1.1.3 Thơ phê phán hiện thực 30
2.1.2 Cảm hứng về tình yêu và thân phận con người 33
2.2 Cái tôi trữ tình trong thơ Trần Vạn Giã 39
2.2.1 Khái niệm cái tôi trữ tình 39
2.2.2 Các dạng biểu hiện của cái tôi trữ tình trong thơ Trần Vạn Giã 40
2.2.2.1 Trước 1975: Cái tôi thường trực với nỗi đau trên quê hương 40
2.2.2.2 Sau 1975: Cái tôi của thế sự đời tư - nâng đỡ, chia sẻ với tha nhân, cuộc đời 42
2.2.2.3 Cái tôi đằm thắm, chân thành trong tình yêu 44
2.2.2.4 Cái tôi một lòng hướng về tinh thần dân tộc 47
2.2.2.5 Cái tôi giản dị, mộc mạc, chân thành 49
Chương 3: BIỂU TƯỢNG VÀ NGÔN NGỮ TRONG THƠ TRẦN VẠN GIÃ54 3.1 Biểu tượng 54
3.1.1 Khái niệm biểu tượng 54
3.1.2 “Tư duy thơ là quá trình sáng tạo nên các biểu tượng trực quan” 54
3.1.3 Biểu tượng trong thơ Trần Vạn Giã 55
3.1.3.1 Biểu tượng “gió” 55
3.1.3.2 Biểu tượng “cát” 57
3.1.3.3 Biểu tượng “khói” 59
3.1.3.4 Biểu tượng “lửa” 61
3.1.3.5 Biểu tượng “rơm rạ” 62
3.2 Ngôn ngữ 64
3.2.1 Ngôn ngữ trong tư duy thơ 64
Trang 73.2.2 Ngôn ngữ thơ mộc mạc, chân thành 64
3.2.3 Ngôn ngữ thơ giàu sự chiêm nghiệm – triết lý 66
KẾT LUẬN 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngay từ khi xuất hiện, thơ ca đã giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong việc thể hiện tư tưởng, tình cảm của con người trước những sự đổi thay của cuộc sống xã hội và biến cố của thời đại Thơ thuộc phương thức trữ tình nên trước hết thơ là sự bộc lộ thế giới nội cảm của nhà thơ trước cuộc đời; tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến nhận thức, suy nghĩ của người đọc Thơ luôn tự vận động và làm mới chính mình để phù hợp với những yêu cầu của lịch sử xã hội Ở mỗi giai đoạn lịch
sử khác nhau, thơ cũng phát triển và ứng biến để mang những đặc điểm phù hợp với tiến trình phát triển của văn học
Tư duy thơ là một phương ểu hiệ a tư duy nghệ thuật, mộ
luận được rất nhiều người quan tâm và đặt vấn đề để nghiên cứu Tư duy thơ phản ánh được những tình cảm cộng đồng và tư duy thời đại, nó có khả
nhữ ửa ới nghệ thuật phong phú và bí ẩn Suy cho cùng, việc nghiên cứu, tìm hiểu tư duy thơ chính là quá trình phát hiện ra sự vận động của hình tượng thơ; cũng là quá trình khám phá gốc tích, cội nguồn của tâm lý học sáng tạo Nghiên cứu thơ từ góc độ tư duy nghệ thuật đòi hỏi một sự khám phá toàn diện từ hình thức, biểu tượng, ngôn ngữ cho đến nội dung, quan niệm và cái tôi trữ tình của nhà thơ Qua đây, ta tìm hiểu phong cách nghệ thuật của nhà thơ từ nhiều góc độ khác nhau, mở ra những hướng tiếp cận mới cho nghiên cứu văn học
Hình ảnh quê hương, Tổ quốc trong thơ miền Nam dưới chế độ Sài Gòn những năm 1955 – 1975 là một xử sở đầy thương đau, một vùng quê chỉ toàn những tàn tro và xác chết Con người phải chứng kiến những cảnh ngộ tang thương và bao trùm lên đó là một màu sắc trầm buồn Con người cảm thấy buồn đau khi chia li cứ nối dài chia li Họ mang trong mình nỗi mặc cảm về thân phận, cuộc đời trở nên cô đơn, bế tắc Bất lực vì không làm chủ được vận mệnh, đành phó mặc cho trời đất và tạo hóa Để hiểu rõ nội dung này, tác giả Nguyễn Bá Thành trong tác phẩm “Toàn
cảnh thơ Việt Nam 1945 – 1975” đã viết: “Cái cô đơn trong thơ miền Nam dưới chế
độ Sài Gòn 1955 – 1975 không chỉ là cái cô đơn của một Con Người Mà đó là cái
Trang 9cô đơn của cả một Thế Hệ… một thế hệ tự cảm thấy mất hết cả niềm tin, cả chỗ dựa, mất cả những chân trời… Đây là cái cô đơn của một thời đại, do một hoàn cảnh tạo nên Cái xã hội mà họ sống đã bị chặt đứt khỏi quá khứ” [33, tr.317]
Trần Vạn Giã là một nhà thơ sống và làm thơ ở cả hai thời kỳ trước và sau
1975 Thơ ông giàu lòng trắc ẩn, đi qua nhiều biến động dữ dội của thời đại Trước năm 1975, đó là một thực tại độc đoán, áp bức, bất công, nghèo đói giữa một cuộc chiến tranh bạo tàn do đế quốc Mỹ gây nên Thơ ông hằn sâu nỗi đau của tuổi trẻ, bày tỏ những ẩn ức của con người trên quê hương của một thời đại một đi không trở lại Từ trong bi lụy, u sầu ấy, thơ Trần Vạn Giã đã tự giải thoát và hòa nhập với thơ
ca dân tộc sau 1975 Nhà thơ với tinh thần nhập thế, cũng như nhiều nhà thơ cùng thời khác như Trần Quang Long, Võ Quê, Đông Trình, Hoài Hương, Phan Duy Nhân, Đỗ Hồng Ngọc, Từ Huy, Trần Ngọc Hưởng,… Tất cả họ đã từ bỏ những triết
lý bi quan của cá nhân, “thức tỉnh” chính mình để hòa điệu cùng tinh thần dân tộc Đỉnh cao của thơ Trần Vạn Giã được kết tinh và khẳng trong phần thơ lục bát Với những tập thơ này, nhà thơ khẳng định được sự hội nhập, bắt kịp cùng dòng chảy thơ ca dân tộc, nhà thơ thật sự tìm ra cho mình một hướng đi mới, một lẽ sống mới Thơ Trần Vạn Giã có sự tự vận động và tiếp thu những quan niệm thời đại Theo sát hành trình nghệ thuật của ông, chúng ta thấy thành công quan trọng nhất trong sự nghiệp thơ ca của nhà thơ đó là tinh thần giác ngộ và hòa mình vào dòng chảy thơ ca Việt Nam hiện đại Tìm hiểu về tư duy thơ Trần Vạn Giã giúp chúng ta
có cái nhìn sâu sắc về thơ ca hiện đại Đồng thời, thấy được những trăn trở của nhà thơ khi sống giữa hai thời kỳ trước và sau năm 1975
Tư duy thơ là một phương thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật, nó mang trong mình khả năng biểu hiện đa dạng nhờ vào khả năng biểu hiện của ngôn ngữ thơ luôn luôn phong phú Tư duy thơ là một vấn đề lí luận mới và hấp dẫn Nghiên cứu thơ từ góc độ tư duy sẽ là một hướng tiếp cận mới mẻ, có thêm những đóng góp mới trong lĩnh vực nghiên cứu văn học Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi mong muốn vận dụng những lí luận của tư duy thơ để nghiên cứu, đi sâu vào phân tích
Trang 10từng giai đoạn phát triển trong hồn thơ Trần Vạn Giã, từ đó tìm ra những điểm riêng biệt tạo nên phong cách thơ của tác giả này
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu về tư duy thơ
Theo chiều dài lịch sử và sự phát triển của ngành lý luận và phê bình văn học Việt Nam, chúng ta có thể thấy số lượng các nghiên cứu về tư duy nghệ thuật, tư
duy thơ là không có nhiều Công trình “Tư duy thơ và tư duy thơ hiện đại Việt Nam” (1996), NXB Văn học HN; bản in sau “Tư duy thơ hiện đại Việt Nam” (2012), NXB
Đại học Quốc gia Hà Nội của tác giả Nguyễn Bá Thành được xem là công trình đầu tiên đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề về này Trong đó, tác giả nhận định tư duy nghệ thuật chính là sự khôi phục và sáng tạo các biểu tượng trực quan, là việc hình tượng hóa hiện thực khách quan theo những nhận thức chủ quan Tư duy nghệ thuật chịu sự chi phối mạnh mẽ của thế giới quan và nhân sinh quan của người sáng tạo Đặc điểm chính trong tư duy nghệ thuật cũng như sự khác biệt của nó với tư duy
khoa học là ở chỗ “tư tưởng tình cảm không chỉ là năng lượng của tư duy mà còn là đối tượng nhận thức của tư duy”.[32, tr.55] Tác giả Nguyễn Bá Thành cũng phát
hiện ra bản chất của tư duy thơ chính là phương thức nhận thức và biểu lộ tình cảm của con người bằng hình tượng ngôn ngữ Do chịu sự chi phối của quan niệm thơ và phương pháp tư duy của từng thời đại mà vị trí của cái tôi trữ tình có những sự thay đổi nhất định Tư duy thơ nói cách khác là sự phản ánh những tình cảm cộng đồng
và tư duy thời đại Để làm rõ những điều này, tác giả công trình nghiên cứu đã đưa
ra những quan điểm lý luận về tư duy thơ rất cụ thể và đầy đủ Dựa trên cơ sở lý luận quan trọng này, chúng tôi vận dụng để lý giải hành trình thơ Trần Vạn Giã qua các giai đoạn trước và sau năm 1975
“Từ điển thuật ngữ văn học” năm 2006 của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần
Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đã nhắc đến khái niệm tư duy nghệ thuật Trong đó, tư duy nghệ thuật là một phương thức hoạt động nghệ thuật nhằm khái quát hóa hiện thực và giải quyết nhiệm vụ thẩm mĩ Tư duy nghệ thuật đòi hỏi một ngôn ngữ nghệ thuật làm hiện thực trực tiếp của nó, bao gồm hệ thống các kí hiệu nghệ thuật, các
Trang 11hình tượng, các phương diện tạo hình và biểu hiện Trên cơ sở tư duy nghệ thuật, người ta tạo ra các tư tưởng và quan điểm nghệ thuật, lựa chọn các phương tiện và biện pháp nghệ thuật
Trong công trình “Toàn cảnh thơ Việt Nam 1945 – 1975” (2015), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội của tác giả Nguyễn Bá Thành khẳng định lại “Tư duy thơ là một phương thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật Thơ trữ tình là sự biểu hiện trực tiếp của một cái tôi đang tư duy Bởi vậy, về bản chất, thơ chữ tình là bản “tốc
kí nội tâm”, là nhật ký tâm trạng của chủ thể trữ tình Tư duy thơ do đó là một kiểu tư duy biểu hiện, là tư duy tự nhận thức bản thân Khi tư duy sáng tạo của nhà thơ nhằm vào phía trong, phía chủ thể như vậy, ta nói, tư duy thơ hướng nội” [33, 313]
2.2 Nghiên cứu về thơ Trần Vạn Giã
Nghiên cứu mảng văn học dưới chế độ cũ ở miền Nam những năm 1955 –
1975 đang được các nhà phê bình, lý luận đẩy mạnh trong nhà trường và thực tiễn nghiên cứu văn học Trước đây, văn học miền Nam chưa được nghiên cứu nhiều, phải đến sau năm 1986 mảng văn học này mới thực sự được chú đến và có những
nghiên cứu thực sự về nó Với công trình “Toàn cảnh thơ Việt Nam 1945 – 1975”
(2015), tác giả Nguyễn Bá Thành đã đặt mảng văn học này dưới một cái nhìn toàn cảnh, dưới cái nhìn nhất thể hóa đối với văn học dân tộc, cần được nghiên cứu không tách rời với bức tranh toàn cảnh văn học dân tộc giai đoạn ấy
Hiện nay, chưa có những nghiên cứu chuyên sâu về tư duy thơ Trần Vạn Giã Phần lớn các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc khai thác các khía cạnh như giọng điệu, ngôn ngữ và nhắc đến thơ ông trong mối liên hệ với thơ của các tác giả văn học miền Nam thời kỳ 1945 – 1975
Trong bài viết “Thức tỉnh và hy vọng” (2010) của tác giả Huỳnh Như Phương
được đăng trên tạp chí “Kiến thức Ngày nay”, số Tất niên Canh Dần viết về sự
“thức tỉnh” của thế hệ nhà thơ miền Nam, được khám phá qua ba chặng: “Thức tỉnh
và phản kháng” đến “Bất bình và hy vọng” rồi “Giọng chung và giọng riêng” Tác
giả bài viết khẳng định những năm 1960, ở miền Nam, triết lý về cá nhân được phổ
Trang 12biến khá sâu rộng và có một chỗ đứng không gì sánh được Thơ ngợi ca cô đơn cũng là điều dễ hiểu vì khi cá nhân không thể lý giải và chấp nhận những áp bức, bất công thì tức khắc chìm đắm trong cơn mê lịch sử Trần Vạn Giã đã có một thời gian u sầu như thế Từ ý thức bị lưu đày, thơ ca đi đến tâm thức nhập cuộc, đứng ở tuyến đầu của ý thức cộng đồng Chính sự thay đổi trong tính cách này đã tạo thành
số phận của thơ ca Và như vậy, thơ tuổi trẻ miền Nam những năm tháng đó không chỉ bằng lòng với sự tái hiện bóng tối; thơ không để bóng tối lấp đầy khoảng trống của từ ngữ, nó tìm cách khắc phục hoài nghi và tuyệt vọng để biểu hiện một niềm
hy vọng
Trên phương diện giọng điệu, tác giả bài viết khẳng định thơ miền Nam 1955 -
1975 có nhiều cung bậc, giọng điệu, trong đó có những giọng điệu chưa thật định hình rõ nét Âm hưởng chung là hào hùng, khí phách Nhưng cũng có giọng điệu thâm trầm, suy niệm Đọc thơ Trần Vạn Giã ta thấy một sự băn khoăn, day dứt của những chuỗi ngày cô đơn, bế tắc Đó cũng là tâm trạng chung của những nhà thơ sống dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa Chiến tranh 1965 – 1975 là một nỗi đau, là tai ương ập xuống những con người nhỏ bé đáng thương Nhiều nhà thơ vẫn không gắn thơ với nhiệm vụ quân sự, không gắn tư duy chính trị với tư duy thơ Thơ chỉ để
tỏ nỗi buồn riêng tây của mình, những băn khoăn đau xót trước hiện thực khốc liệt Chỉ sau năm 1975, thơ Trần Vạn Giã cũng như bao hồn thơ khác đã hòa điệu với thơ ca dân tộc, đề tài trong thơ được khai thác rộng hơn, ngôn ngữ trở nên giản dị, mộc mạc, thi liệu phong phú và gần gũi
Một bài viết khác của Huỳnh Như Phương cho phần đầu tiên của tập thơ “Đi trong rừng biểu ngữ” đã nhận xét về giọng điệu, chỉ ra sự vận động trong tư duy
của nhà thơ Tác giả nhận xét thơ Trần Vạn Giã trong giai đoạn này thiên về giọng
tự sự, chất tạo hình rõ hơn chất biểu cảm, đúng hơn là cảm xúc nén lại, ẩn giấu sau bức tranh xã hội Đồng cảm với những kiếp người nghèo khổ, bầm dập trong cơn
lốc của bạo tàn oan nghiệt Nhân sinh là một tờ tạp chí ra đời năm 1971, với chủ đề
“Nam Việt Nam và mặt trận văn hóa của thực dân mới” So với những ấn phẩm
khác, cái khác của tờ Nhân sinh là nó xuất hiện ở một tỉnh lỵ xa xôi và những người
Trang 13thực hiện chính là những người trẻ, ngay khi mới bước vào con đường văn chương
đã gặp những khó khăn nhất định Trần Vạn Giã tham gia phong trào phản chiến, đòi hòa bình , chống “đôn quân bắt lính”, ông nhiều lần bị nhà cầm quyền giam giữ Trong tù hay những chặng đường đày ải, ông làm thơ nói lên nỗi thống khổ của
mình Có thể nói thơ Trần Vạn Giã là “tiếng gọi hòa bình thất thanh trong màn đêm dày đặc” [26, tr 15] Tiếng gọi của một người góp thành tiếng gọi của nhiều người,
của muôn người Cho nên thơ Trần Vạn Giã những năm tháng ấy không chỉ là những bức ký họa về những cảnh đời bi thảm trong chiến tranh mà còn là bản hợp xướng đầy hy vọng với những hình ảnh về ngày mai, gió mới, khát khao ngọn cờ độc lập
Bài viết “Văn học thời kỳ 1945 – 1975 ở Thành phố Hồ Chí Minh” của Vũ
Hạnh, Nguyễn Ngọc Phan khẳng định đặc trưng lớn nhất của văn học giai đoạn này
là tinh thần yêu nước Đó là sự sống chết cho quê hương này hưởng độc lập, tự do, hòa bình Trong đó có nhắc đến Trần Vạn Giã như một nhà thơ rất quyết liệt vì sống còn của quê hương
Bài viết của “Lục bát Trần Vạn Giã thả thơ theo ngon gió bay” của Võ Quê
khẳng định thơ lục bát Trần Vạn Giã là dòng tự sự, suy tư về nhân tình thế thái Những đắng cay, trong đục, những buồn vui, khổ đau, hạnh phúc, những sắc không của chính mình và của cõi đời đã được Trần Vạn Giã chắt lọc, rút tỉa, khái quát rất thật, rất thơ
Trước năm 1975, thơ ông được in lác đác trên các tạp chí Trình bày, Đứng dậy, Đối diện, Tuyển tập văn chương viết về lao tù,… với các bài thơ như Bến chờ, Chuyện vùng bất an, Đếm xác hồi hương, Lời tự tình của mẹ, Lòng vẫn thiết tha, Đang chờ, Nhịp ca dao hát giữ làng,… Sau năm 1975, nhiều bài thơ của Trần Vạn Giã được đăng trên Tạp chí Thơ Hội nhà văn Việt Nam; Tuyển tập thơ và văn xuôi (Việt Nam & Nước ngoài); tạp chí Nha Trang Hội Văn học nghệ thuật Khánh Hòa
Trên mặt trận chống Mỹ sôi nổi ấy, những cây bút phê bình văn học, tác giả những bài viết luôn hướng tới đội ngũ đông đảo lực lượng các nhà thơ với những
khuynh hướng sáng tác chung gắn với bối cảnh đặc biệt của thời đại Văn học Việt
Trang 14Nam chống Mỹ cứu nước (1979) của Phong Lê và nhóm tác giả đã khẳng định: Có
thể nói chưa bao giờ trong các thành thị miền Nam có một đội ngũ làm thơ đông đảo và sung sức như những năm cuối 60 đầu 70, và cũng chưa bao giờ những người làm thơ lại có ý thức sử dụng sáng tác của mình đi sâu vào quần chúng để phục vụ cho cuộc đấu tranh như vậy Tên tuổi của những Chánh Sử, Hữu Đạo, Đam San, Thiết Sử, Võ Quê, Thái Ngọc San, Tần Hoài Dạ, Đông Trình, Nguyễn Quốc Thái,
Nguyễn Kim Ngân, Tôn Thất Lập, Lê Ký Thương, Lê Gành, Trần Vạn Giã, Tú
Vẽ, Đôi Nạng Xứ Dừa, Lê Hồng Nguyên, Ngô Kha, Hoàng Thoại Châu, Phạm Thế Mỹ,… đã trở thành những cái tên quen thuộc với đồng bào thành thị Những sáng tác của họ đã có sức lay động tâm hồn người đọc, người nghe Đặc biệt đối với thanh niên, học sinh, nó đã gây được một ảnh hưởng rộng và sâu Chủ đề quê hương đất nước nổi lên như một chủ đề lớn và được thể hiện bằng những hình tượng giàu sức rung động, gợi cảm Đọc thơ họ, ta cũng bắt gặp không ít những nỗi quằn quại, ngột ngạt giữa một cuộc sống tù đọng, bế tắc
Trong một đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường năm 2006, Tinh thần dân tộc và ý thức cách tân của một số nhà thơ trẻ Sài Gòn trước năm 1975 của
các tác giả Nguyễn Thị Chi, Nguyễn Văn Tuấn đã đưa ra kết luận thơ Sài Gòn năm
1975 đúng là một cao trào và đỉnh cao của thơ văn chống Mỹ yêu nước nói chung, cách tân cả về nội dung và hình thức Bằng chứng là thơ có mặt ở khắp các tờ báo công khai, bán công khai, hợp pháp, có mặt tại các trường Trung học và Đại học Mặt khác, thơ nhận được sự ủng hộ nhiệt tình và in được dấu ấn sâu đậm trong lòng
các độc giả tiêu biểu đó là thơ của Trần Vạn Giã, Ngô Kha, Trần Quang Long…
Tất cả đã thổi lửa cho các phong trào đấu tranh tại các thành thị miền Nam Đó là những nỗ lực và ý thức cách tân về mặt nghệ thuật Thơ trẻ Sài Gòn trước 1975 đã
có nhiều sự thay đổi tích cực như thể loại thì phong phú hơn, ngôn ngữ và hình ảnh thơ cùng với giọng điệu thêm nhiều phần khởi sắc cho thơ ca dân tộc nói riêng và nền văn học dân tộc nói chung
Phác họa Chân dung một thế hệ của tác giả Tần Hoài Dạ Vũ – Nguyễn Đông Nhật nhắc đến một lực lượng trí thức tiến bộ, yêu nước hình thành, ngày càng nhiều
Trang 15trong các đô thị miền Nam, hoạt động trên nhiều lĩnh vực, mà rõ rệt nhất là trên mặt trận văn nghệ Một phần tư thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, nhà nghiên cứu văn học Trần Hữu Tá đã bày tỏ sự quý trọng “nhìn lại” đội ngũ những nhà văn yêu
nước ở miền Nam trước năm 1975 Trong đó tác giả Trần Vạn Giã cùng các tác
giả khác như Võ Quê, Thái Ngọc San, Hữu Đạo, Trần Quang Long được nhắc đến như một cậy bút trẻ có tài năng xuất hiện, khiến thơ tranh đấu khởi sắc, được nâng cấp cấp rõ rệt cả về chất và lượng
Mới đây nhất là bài bài viết Rơm rạ trong thơ Trần Vạn Giã (2017) của Hoàng Nhật Tuyên, in trong tạp chí Nha Trang (Hội Văn học nghệ thuật Khánh Hòa) Tác
giả bài viết đã làm rõ chất quê hương, dân dã, thân quen trong con người nhà thơ
Trần Vạn Giã: “Xưa nay nhiều người đều biết Trần Vạn Giã rất tâm huyết với đề tài nói về quê hương đất nước Ai đã từng đọc, quan tâm đến thơ Trần Vạn Giã đều dễ dàng nhận thấy rằng, thơ ông có nhiều bài hay, đặc biệt là những bài thơ, những tứ thơ viết về đề tài quê hương đất nước, cụ thể hơn là viết về quê nhà của mình Những điều mà nhà thơ Trần Vạn Giã gọi là rơm rạ, là chuyện nhà quê ấy, theo tôi,
đó chính là những mảnh hồn quê lấp lánh làm cho thơ anh gây được ấn tượng với người đọc”… [39, tr 70] Quê hương là đề tài rất đáng chú ý trong thơ Trần Vạn
Giã Dù là rơm rạ hay cỏ cây, khói bếp, thậm chí là tiếng mối kêu cọt kẹt trên cột nhà… đều góp phần làm cho thơ ông thêm chân thật khi hướng về quê hương, về
nguồn cội như ông tự tâm sự trong bài thơ Với cỏ bên đường
3 Nhiệm vụ - Mục đích – Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu Thơ Trần Vạn Giã từ góc nhìn tư duy nghệ thuật đặt ra những
Trang 16- Nghiên cứu một số một số biểu tượng thơ Trần Vạn Giã và một số hình thức nghệ thuật biểu đạt cái tôi trữ tình của nhà thơ
3.2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu Thơ Trần Vạn Giã từ góc nhìn tư duy nghệ thuật nhằm mục đích:
- Tìm hiểu về thơ Trần Vạn Giã cũng chính là tìm hiểu một loại hình tác giả của thơ ca hiện đại Để thấy được những bước chuyển và những nỗ lực hòa nhập với thơ ca dân tộc
- Nghiên cứu thơ Trần Vạn Giã đặt trong bối cảnh đô thị miền Nam, so sánh với các tác giả khác để thấy sự khác biệt trong tư duy thơ của ông - một người sống
và sáng tác hai thời kỳ trước và sau năm 1975
Qua đây, tìm ra được sự vận động của tư duy thơ Trần Vạn Giã từ góc nhìn từ góc nhìn tư duy nghệ thuật, cũng như hiểu về những đóng góp của ông đối với sự
nghiệp đổi mới và cách tân thơ ca dân tộc nói chung
3.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: sự vận động của tư duy thơ Trần Vạn Giã qua các tập thơ đã được xuất bản
6Để thực hiện luận văn, chúng tôi đã tiến hành khảo sát và nghiên cứu về tư duy thơ Trần Vạn Giã trên 11 tập thơ đó là:
Miên ca hòa bình (1971), tập thơ, NXB Nhân Sinh
Tình yêu đẹp như bài thơ (1996), tập thơ, NXB Hội nhà văn
Gió đưa khói bếp lên trời (2004), tập thơ, Hội Văn học Nghệ Thuật tỉnh
Khánh Hòa
Trầm tư với lá (2006), tập thơ, NXB Hội Nhà văn
Lục bát Trần Vạn Giã (2007), tập thơ, NXB Trẻ
Lục bát nhà quê (2008), tập thơ, NXB Văn Nghệ
Đi trong rừng biểu ngữ (2009), tập thơ, NXB Văn Nghệ
Mạch nguồn thơ vẫn chảy trong lòng xứ sở (2013), tập thơ, NXB Hội nhà văn Gió cuối ngày tháng chạp (2015), tập thơ, NXB Hội nhà văn
Hồn chữ (2016), tập thơ, NXB Hội nhà văn
Trang 17Dòng sông không chịu nỗi buồn (2017), tập thơ, NXB Hội nhà văn
Khi nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng nhiều tập thơ của Trần Vạn Giã sáng tác trước năm 1975 nhưng thời kỳ đó chưa được xuất bản Nhiều sáng tác thơ chưa
được sử dụng trên văn đàn vì bị cho là nội dung chưa phù hợp, như tập thơ Hồn chữ sáng tác năm 1963 nhưng mãi đến năm 2016 mới xuất bản; tương tự tập thơ Đi trong rừng biểu ngữ sáng tác năm 1974 nhưng đến năm 2009 mới được xuất bản Miên ca hòa bình sáng tác năm 1971 và Đi trong rừng biểu ngữ sáng tác năm1974,
hai tập này cũng được viết trong hoàn cảnh rất đặc biệt, tác giả viết trong chốn lao
tù, trên đường bị đày đi lao công đào binh Như vậy, khi nghiên cứu tìm hiểu thơ Trần Vạn Giã chúng ta cần đặc biệt chú ý đến hoàn cảnh sáng tác và đặt thơ vào đúng bối cảnh thời đại để hiểu rõ những tâm sự của tác giả gửi gắm vào trong thơ
4 Phương pháp nghiên cứu
Để việc tiến hành nghiên cứu đạt được kết quả như mong muốn, trong luận văn này chúng vận dụng các kiến thức về lý luận văn học, văn học sử và một số phương pháp chủ yếu sau:
Phương pháp thống kê, tổng hợp: Trên cơ sở những số liệu thống kê, chúng
tôi tiến hành khảo sát những biểu tượng trên 11 tập thơ của Trần Vạn Giã, chúng tôi
đã phân tích và khái quát để tìm ra những đặc điểm của tư duy thơ Trần Vạn Giã
Phương pháp so sánh: Để tìm ra những nét chung mang tính thời đại và
những nét đặc sắc, độc đáo cùng những biến đổi trong tư duy thơ Trần Vạn Giã; luận văn có vận dụng so sánh, đối chiếu thơ Trần Vạn Giã với thơ của các tác giả cùng thời để thấy được sự vận động và phong cách của mỗi nhà thơ
Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Chúng tôi đặt nhà thơ vào trong hoàn cảnh
lịch sử đương thời để nghiên cứu, tìm hiểu rõ hơn yếu tố thời đại trong thơ Trần Vạn Giã Trên cơ sở đó, chúng ta chỉ ra được sự vận động, chuyển đổi tư tưởng cũng như quan niệm và phương thức biểu hiện, từ đây tìm hiểu những đóng góp riêng của tư duy thơ Trần Vạn Giã đối với văn học dân tộc
Phương pháp loại hình: Căn cứ trên các vấn đề về thể loại để nghiên cứu tư
duy thơ Trần Vạn Giã
Trang 18Phương pháp phỏng vấn: Chúng tôi tiến hành phỏng vấn để hiểu rõ hơn về
quan niệm thơ của tác giả Đây là những phương pháp chủ yếu chúng tôi sẽ sử dụng nhằm tìm ra những
đặc điểm quan trọng, những quy luật cấu trúc nội tại về nội dung và hình thức nghệ
thuật, từ đó thấy được những giá trị thẩm mĩ độc đáo trong thơ Trần Vạn Giã Trong
quá trình nghiên cứu, chúng tôi có cơ hội được phỏng vấn nhà thơ nên luận văn có
thêm được nhiều thông tin hữu ích và chân thực Tất cả những phương pháp vừa
nêu ra nhằm hướng tới một cái nhìn tổng quan về tư duy nghệ thuật thơ Trần Vạn
Giã trong mạch tư duy của thời đại
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn của chúng tôi chia thành ba
chương gồm các nội dung sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận tư duy thơ và tư duy thơ của Trần Vạn Giã
Chương 2: Cảm hứng chủ đạo và cái tôi trữ tình trong thơ Trần Vạn Giã
Chương 3: Biểu tượng và ngôn ngữ thơ Trần Vạn Giã
Trang 19Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN TƯ DUY THƠ VÀ TƯ DUY THƠ
CỦA TRẦN VẠN GIÃ 1.1 Tư duy thơ
1.1.1 Tư duy thơ là một phương thức tư duy nghệ thuật
Công trình “Tư duy thơ và tư duy thơ hiện đại Việt Nam” (1996), NXB Văn học Hà Nội; bản in sau “Tư duy thơ hiện đại Việt Nam” (2012), NXB Đại học Quốc
gia Hà Nội của tác giả Nguyễn Bá Thành được xem là công trình đầu tiên đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề về này Tác giả Nguyễn Bá Thành khẳng định:
- Tư duy nghệ thuật chịu sự chi phối mạnh mẽ của thế giới quan và nhân sinh quan của người sáng tạo
- Tư duy thơ là phương thức nhận thức và biểu lộ tình cảm của con người bằng hình tượng ngôn ngữ; tư duy thơ là sự biểu hiện của cái tôi trữ tình, cái tôi cảm xúc,
cái tôi đang tư duy ,“Tư duy thơ chấp nhận một khả năng tưởng tượng dường như
vô tận của nhà thơ” [32, tr 66], Do chịu sự chi phối của quan niệm thơ và phương
pháp tư duy của từng thời đại mà vị trí của cái tôi trữ tình có những thay đổi nhất định Tư duy thơ chính là sự phản ánh những tình cảm cộng đồng và tư duy thời đại Tập hợp các sáng tác thơ theo nội dung tư tưởng và đối tượng phản ánh, ta thấy rằng thơ ca là sự phản ánh tinh vi của ý thức hệ có tính giai cấp và có tính lịch sử Cũng trong công trình nghiên cứu này, tác giả Nguyễn Bá Thành đã đưa ra những quan điểm lí luận về tư duy thơ tương đối đầy đủ, cụ thể
- Tư duy thơ có các khả năng; hướng nội, hướng ngoại và sự kết hợp hướng nội với hướng ngoại Hướng nội là tác giả nghĩ về mình, tự quan sát và biểu hiện cái tôi nội cảm của mình Hướng ngoại là nhằm vào đối tượng miêu tả, trình bày nó dưới ánh sáng của một quan niệm thẩm mỹ Tìm hiểu tư duy thơ là tìm hiểu sự vận động của cái tôi trữ tình, tìm hiểu sự vận động của hình tượng thơ
- Tư duy nghệ thuật là tư duy được thể hiện và thực hiện trong quá trình sáng tạo và thụ cảm nghệ thuật Sáng tạo và thụ cảm nghệ thuật là hình thái đặc trưng cao nhất của hoạt động thẩm mỹ; trong sáng tạo và thụ cảm bao hàm cả đánh giá giá trị Trong phạm trù tư duy nghệ thuật, bản chất các quy luật hiện thực cuộc sống không
Trang 20diễn ra dưới dạng trừu tượng của khái niệm mà biểu hiện qua hệ thống các hình ảnh, hình tượng cụ thể, sinh động Và sự phản ánh trong tư duy nghệ thuật không được phản ánh trực tiếp mà qua ngôn ngữ của thơ văn, đó là những phát ngôn, những thông điệp được thể hiện gián tiếp qua sự sáng tạo mang tính cá nhân, in đậm dấu
ấn của chủ thể Chính đi từ bản chất của tư duy nghệ thuật mà văn chương không chấp nhận sự sao chép, sự lặp lại; nó nhất định phải có tính khu biệt những cá tính độc đáo
“Từ điển thuật ngữ văn học” (2006), NXB Giáo dục của nhóm tác giả Lê Bá
Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi thì tư duy nghệ thuật gắn với năng lực nhìn thấy thế giới một cách toàn vẹn, nắm bắt nó qua những dấu hiệu phát sinh đồng thời, phát hiện các mối liên hệ mới chưa được nhận ra Tư duy nghệ thuật đòi hỏi một ngôn ngữ nghệ thuật làm “hiện thực trực tiếp” cho nó Ngôn ngữ đó là hệ thống các ký hiệu nghệ thuật, các hình tượng, các phương tiện tạo hình và biểu hiện Điểm xuất phát của tư duy nghệ thuật vẫn là lý tính, là trí tuệ có kinh nghiệm, biết nghiền ngẫm và hệ thống hóa các kết quả nhận thức
Thơ Trần Vạn Giã trước năm 1975 luôn chất chứa nhiều nỗi trăn trở cùng thời đại, ông sống và hòa cùng những nỗi đau Đó là những ngày tháng nhà thơ phải trải qua nhiều sự day dứt, tâm hồn nhà thơ nhạy cảm hơn bất cứ lúc nào, vì thế thơ khơi gợi về quê hương, tình cảm gia đình đó là những người chị, người mẹ, người anh
“trải qua bao lửa đạn vẫn còn trơ trơ”; thơ gợi về quãng thời gian quá khứ và hiện tại; thơ man mác buồn như ngọn cỏ may, gió cuối ngày tháng chạp, dòng sông không chịu nỗi buồn Đó còn là những hình ảnh đầy hy vọng, lóe lên một niềm tin trong nhà thơ khi xuất hiện những hình ảnh những hòn than rực lửa đêm đêm, khói bếp vẫn bay lên trời, mùi bắp nướng và những dòng sông thân yêu Đi lên từ những
sự nhận thức sâu sắc về thời đại, tư duy nghệ thuật thơ Trần Vạn Giã đạt đến tính dân tộc sâu sắc, những vần thơ lục bát hồn hậu, đó là những hình ảnh gần gũi, quen thuộc như cơm ăn, áo mặc và hơi thở con người Tư duy thơ là sự vận động đi từ chỗ bế tắc, đau thương để tìm về quê hương, gia đình để hòa điệu cùng thơ ca dân tộc
Trang 211.1.2 Khái quát về tư duy thơ Trần Vạn Giã
Trong những năm tháng đất nước bị chia cắt, khắp nơi ở miền Nam dấy lên phong trào đấu tranh vũ trang đòi Mỹ thi hành hiệp định Gionevo, đòi dân sinh, dân
chủ Cuối năm 1959 ngọn lửa “đồng khởi” bùng cháy đã đốt rụi “quốc sách ấp chiến lược” của Mỹ, nhiều nơi nhân dân nổi dậy cướp chính quyền Bất chấp mọi sự
đàn áp dã man của đội quân Mỹ - Ngụy trong thành thị miền Nam, các tầng lớp nhân dân đã đứng lên đòi quyền tự do, tự quyết, đòi giải quyết vấn đề hòa bình ở Việt Nam Những cuộc bãi công của công nhân, bãi thị của bà con tiểu thương, nhiều cuộc đấu tranh xuống đường ngày càng rầm rộ; đặc biệt có những hình thức đấu tranh quyết liệt tác động đến đông đảo quần chúng nhân dân như các cuộc tự thiêu của hòa thượng Thích Quảng Đức (11/06/1963) tại Sài Gòn, nữ sinh Đặng Thị Ngọc Huyền (23/06/1966) tại Đà Lạt, Nhất Chi Mai (15/05/1967) tại Sài Gòn Chính sự đấu tranh sôi nổi ấy đã thức tỉnh tinh thần dân tộc trong lớp trẻ ở Sài Gòn, trong đó có nhà thơ Trần Vạn Giã Ông là đại diện của lớp nhà thơ trẻ, theo con đường chung đó là sự thức tỉnh dân tộc, tuổi trẻ với giác quan nhạy bén đã sớm nhận diện chính xác kẻ thù và xác định được vai trò của mình trong cuộc chiến đấu chung của cả nước Từ đó mới có những vần thơ còn nóng hổi khí huyết của tuổi
thanh xuân được đăng trên các tạp chí Trình Bầy, Đối diện như Bến chờ, Đếm xác hồi hương, Lời tự tình của mẹ, Lòng vẫn thiết tha, Thưa mẹ con về
Những năm 1955 – 1975, thơ miền Nam mang màu sắc trầm buồn, thương đau Chính vì thế mà trong những giai đoạn đầu này nhà thơ Trần Vạn Giã đã viết
bài thơ “Hồn chữ” năm 1963 thể hiện sự bị quan, lạc lõng của một thế hệ không biết đi về đâu Tác giả tâm sự ở phần đầu của tập thơ này “Tuổi trẻ tôi bị chiến tranh bắt buộc phải từ bỏ học đường và không còn cách nào hơn, tôi đã ẩn trú một góc rừng bên ngôi chùa cô tịch, sống tạm bợ nơi đây trong nỗi khát khao hòa bình
và dằn vặt trong thơ” [17, tr5] Phần lớn những bài thơ trong giai đoạn này thể hiện
sự bi lụy, yếm thế, khinh bạc phù vinh,… Đâu đó trong một số bài thơ có thi vị Thiền của Phật Giáo và âm hưởng Kinh Thánh của Kito Giáo Sau đó, do chiến
tranh ngày càn ác liệt trên quê hương, thơ ông đã có sự bứt phá vượt bậc để “Đi
Trang 22trong rừng biểu ngữ” Đây chính là một chặng đường để lại nhiều dấu ấn trong
cuộc đời sáng tác của ông Đó là một sự chuyển biến mạnh mẽ và có ý thức về tư duy thơ Từ trong đau thương nhà thơ tìm ra được con đường cho mình, chỉ có đấu tranh, dùng ngòi bút chiến đấu mới khiến ông thôi day dứt và tránh rơi vào sự
bi lụy
Sự thống khổ của một cá nhân thời chinh chiến không chỉ bởi đương đầu với
sự sống chết, bất kỳ lúc nào mà còn do phải bị bắt bớ, tù đày, phải lẩn trốn, bị đày
đi lao công đào binh Thơ Trần Vạn Giã trước 1975 là cuốn nhật ký về thân phận,
về sự chìm nổi, về nỗi đau tinh thần của con người trong chiến tranh Chiến tranh không chỉ làm cho con người đau đớn mà còn làm bế tắc, cuồng dư Sự cuồng dư này có thể xem như một phản ứng, một chấn thương tâm lý Vì vậy, thơ không thể gạt bỏ những vấn đề ấy Ta thấy hình ảnh một nhà thơ trẻ bất cần đời, coi thường công danh, xem đời là hư huyền, muốn tìm về tịch liêu, Lão Trang, tôn giáo, thiền định để có phương tiện giải thoát Thơ do vậy, là ký ức, là suy niệm, là thân phận của người chứng kiến trong thời khói lửa, đau khổ, lưu ly
Đào Xuân Quý – nhà thơ, dịch giả đã viết ở phần đầu của tập thơ Trầm tư với
lá như sau “Trần Vạn Giã đi vào một con đường quá gay go, nguy hiểm đối với người làm thơ xưa nay Toàn bộ tập thơ đều là thơ lục bát mang nhiều hơi hướng dân gian, chỉ khai thác một đề tài duy nhất “Tình yêu”, “Gay go”, nguy hiểm vì rất
dễ sa vào chỗ đơn điệu, dễ biến thành vè, dễ làm người đọc chán”[10, tr 5] Trần
Vạn Giã đã gây được nhiều ấn tượng tốt nhờ có những câu thơ chân thật, có nghĩa,
có tình… Thơ sống với quê hương, dân làng, ruộng đồng và thấu lên tận trời cao
Có những vần thơ êm dịu như lời hẹn hò bên bến nước, sân đình, mở ra một không gian mênh mông mát thơm hương lúa ngọt lành Ngòi bút cứ trải hồn ra theo những con đường đến những khu rừng, xanh tốt, màu mỡ, những dòng sông nặng trĩu phù
xa Quê hương là chủ đề không thể thiếu trong thơ Trần Vạn Giã, có lẽ vì sự đồng cảm, sự thấu hiểu những nỗi niềm uẩn khuất nên mạch ngầm thơ ông giản dị mà thân quen đến lạ thường
Trang 23Sau năm 1975, thơ Trần Vạn Giã vẫn đồng hành cùng đất nước, quê hương trên con đường tìm kiếm hạnh phúc Tuy nhiên, thơ không được quên những chủ đề muôn thuở Đó có thể là sự kém may mắn, sự bất hạnh của con người, sự dối trá
Do vậy, thơ còn mang giá trị nhân đạo, mang tiếng nói yêu thương con người Thơ ông sau năm 1975 mở rộng các chủ đề như tình quê hương đất nước, thân phận con người và tình yêu Tình yêu của nhà thơ thường đau khổ, ly tan, gắn liền với tự sự
về cuộc đời riêng và thân phận quê hương
Thơ Trần Vạn Giã sau năm 1975, không còn những bước chân bơ vơ “Chẳng biết đi về đâu”, không còn tâm trạng “Đứng ngoài cuộc đời, mục dần thân cỏ úa”
mà người thanh niên ấy đã kề vai, sát cánh bên nhân dân Dường như với nhà thơ, quê hương giờ đây không còn là những gì trừu tượng nữa mà là quê hương đã trở thành máu thịt của những người đã chết, là mồ hôi nước mắt của người đang sống
và là tinh thần khối óc của tuổi trẻ, thế nên nhà thơ sẵn sàng lên tiếng dù nhận được nhiều sự công kích từ phía bên ngoài Đó là sự hy sinh để có được hai tiếng “tự do” theo đúng nghĩa của nó không thấm thía gì với nỗi đau của nô lệ, nỗi nhục mất nước
1.2 Quá trình sáng tác và quan niệm thơ của Trần Vạn Giã
1.2.1 Tiểu sử nhà thơ Trần Vạn Giã
Tên khai sinh là Trần Ngọc Ẩn Sinh ngày 2/2/1945 tại Vạn Giã, Tu Bông thuộc huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, nguyên quán là huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An (quê cha Nghệ An, quê mẹ Khánh Hòa) Sau này, khi bước chân vào con đường sáng tác nghệ thuật ông lấy tên theo vùng đất mình làm bút hiệu Trần Vạn Giã
Nhà thơ sinh ra trong gia đình nghèo ở nông thôn, lớn lên phiêu dạt nhiều nơi làm nhiều nghề để kiếm sống và đi học như công nhân bốc vác, bán báo dạo, dạy học, viết báo, làm thơ… ; tham gia phong trào yêu nước, chống chiến tranh Ông bắt đầu làm thơ từ năm 18 tuổi, nhưng trước năm 1975 thơ chỉ được
đăng lác đác trên các tạp chí Trình Bày, Đối Diện, Làm Dân, Tiếng Nói, Nhân Sinh,… Năm 1971 cùng bạn bè chủ biên tạp chí Nhân Sinh lên án “Chính sách
Trang 24văn hóa của thực dân mới ở miền Nam Việt Nam” Bị bắt ở tù và đày đi lao công đào binh nhiều lần
Sau 1975, Trần Vạn Giã là phóng viên báo Khánh Hòa và tham gia xây dựng vùng kinh tế mới Đất Sét (13 năm) 13 năm ở núi, cuốc đất và làm thơ, sau đó trở về thành phố công tác ở Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Khánh Hòa (5 nhiệm kỳ) Tiếp tục làm thơ đăng trên các báo, tạp chí văn nghệ từ sông Hương đến Cà Mau Kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam 2006, được tặng thưởng Kỷ niệm chương
vì sự nghiệp văn học nghệ thuật Việt Nam 2006
1.2.2 Quá trình sáng tác
Sự nghiệp sáng tác của Trần Vạn Giã gắn liền với hai giai đoạn trước và sau
năm 1975 Trước năm 1975, tập thơ đầu tiên được sáng tác đó là Hồn chữ viết năm
1963 nhưng sau năm 1975 mới được in thành tập Nhà thơ ghi nhiều dấu ấn ở hai
tập Miên ca hòa bình sáng tác và được in thành tập năm 1971, Đi trong rừng biểu ngữ sáng tác năm 1974 và được in thành tập sau năm 1975 Sau năm 1975, ông vẫn
sáng tác hăng say và tích cực, chủ đề được nhắc đến cũng phong phú hơn, những
tập thơ tiêu biểu như Tình yêu đẹp như bài thơ, Gió đưa khói bếp lên trời, Lục Bát Trần Vạn Giã, Lục bát nhà quê,…
Thơ Trần Vạn Giã được đăng trên các báo và tạp chí như Văn Nghệ, Diễn Đàn Văn Nghệ Việt Nam, Văn Nghệ trẻ, báo Thanh Niên, báo Tuổi trẻ,… Trần Vạn Giã cũng nhận được những giải thưởng thơ trong các cuộc thi của các Hội Văn Nghệ, giải thưởng văn học của Tỉnh và được kết nạp vào Hội Nhà Văn Việt Nam Những tập thơ đã được xuất bản:
1.2.3 Quan niệm về thơ
Trần Vạn Giã đã viết “Quan niệm thơ của tôi có khi gặp gỡ, có khi khác với quan niệm thơ của các thi sĩ tiền bối Giống nhau bởi cuộc đời tôi và họ có khi có những nét giống nhau còn khác nhau là bởi thời đại đã khác nhau” (Trần Vạn Giã trả lời phỏng vấn về Quan niệm thơ, ngày 7 tháng 12 năm 2016)
Trang 251.2.3.1 Trước năm 1975: Thơ nhuốm màu khói lửa, đau khổ, lưu ly
Trần Vạn Giã bắt đầu sáng tác và có thơ đăng ở các tạp chí từ trước năm 1975
Đó là thời chinh chiến, quê hương ly tan, sự chết chóc đã trở thành nỗi ám ảnh của mỗi con người Thơ thể hiện sự khổ đau, u hận của nhà thơ và tha nhân do bị đẩy vào cuộc chiến Sự tan hoang chết chóc trên quê hương khói lửa đã đi vào thơ Trần Vạn Giã Thơ ông không từ chối việc miêu tả, trình bày thực trạng trên quê hương Thơ phải nói lên tiếng nói về sự thương khổ của quê hương Số phận con người
không thể tách rời khỏi số phận của quê hương “Tôi đã viết về chính nỗi đau của mình bởi tôi có thể sẽ là nạn nhân của cuộc chiến” (Trần Vạn Giã trả lời phỏng vấn
về Quan niệm thơ, ngày 7 tháng 12 năm 2016)
Tuổi xuân giờ đã phai tàn Thương em nhớ mẹ cung đàn vỡ đôi Quê ơi đường cũ xa xôi Chắc tôi xương trắng trên đồi không tên (Ghi hồi bị đày đi lao công đào binh ở rừng tây nam Huế, 14, tr 30)
Sự thống khổ của một cá nhân thời chinh chiến chính là có thể bị bắt bớ, tù đày, phải lẩn trốn, bị đày đi lao công đào binh Thơ là nhật ký về thân phận, về sự chìm nổi, về nỗi đau tinh thần của con người trong chiến tranh Chiến tranh không chỉ làm cho con người đau đớn mà còn làm bế tắc, cuồng dư Sự cuồng dư này có thể xem như một phản ứng, một chấn thương tâm lý Hình ảnh một nhà thơ trẻ bất cần đời, coi thường công danh, xem đời là hư huyền, muốn tìm về tịch liêu:
Lạy trời tôi luộc cọng rau
Bu quanh đời sống chỗ ngồi mai sau Thì ra công tướng khanh hầu Thoảng như mây khói trên đồi tịch dương
(Thoảng như mây khói trên đồi tịch dương, 17, tr 11)
Thơ là ký ức, là suy niệm, là thân phận của người chứng kiến trong thời khói lửa, đau khổ, lưu ly Do đó trước năm 1975, thơ Trần Vạn Giã và những nhà thơ cùng chí hướng không nói đến sự ngọt ngào của tình yêu, vẻ đẹp của ánh trăng hiền
Trang 26hay sự rạng rỡ của ánh bình minh “Thơ chỉ còn và cần phải day dứt về số phận của quê hương, của nhân sinh và của cuộc đời đau khổ của chính mình Thơ không rời xa số phận quê hương và con người là thế” (41, tr 1)
1.2.3.2 Sau năm 1975: Thơ gần gũi với tha nhân, với cuộc đời, giãi bày
những uẩn khúc bên trong của con người
Sau năm 1975, thơ Trần Vạn Giã đồng hành cùng đất nước, quê hương trên con đường tìm kiếm hạnh phúc Tuy nhiên, thơ không được quên những chủ đề muôn thuở Đó có thể là sự kém may mắn, sự bất hạnh, dối trá của con người Do vậy, thơ cũng cần mang giá trị nhân đạo, mang tiếng nói yêu thương con người Đặc biệt, thơ ông sau năm 1975 đã nói đến một chủ đề bất tử khác của thi ca, đó là tình yêu Tình yêu của thơ Trần Vạn Giã thường đau khổ, ly tan, gắn liền với tự sự về cuộc đời riêng và thân phận quê hương:
Trăng nghiêng nghiêng xuống lời thề
Chiến tranh biết có ngày về hay không Bây giờ tìm lại nguồn sông :
Em - Câu hát cũ phiêu bồng nơi đâu Bây giờ tóc bạc mái đầu Theo dòng năm tháng dãi dầu biết bao Biết thương từ những ánh sao
Để dư hương cũ rơi vào trong thơ
(Dư hương ngày cũ, 9, tr 80)
Dẫu vậy, cuộc đời nhà thơ, suy tư của nhà thơ, những hoạn nạn trong đời ông, cái nghèo, sự phân biệt đối xử, những mặc cảm số phận của cá nhân nhà thơ vẫn luôn là những vấn đề luôn được đề cập Không phải chỉ có ca ngợi, tán tụng cao siêu mới là thơ hay về quê hương, đất nước Hình ảnh đất nước trong Trần Vạn Giã có khi chỉ là ngọn cỏ ven đường, là chiếc nón cời của mẹ, là hàng cau, nương đồi, là mùi bã mía Người ta yêu quý quê hương mình có thể chỉ bằng những điều dung dị như vậy Khác với hình ảnh và giọng điệu thơ về quê
Trang 27hương trong thơ Trần Vạn Giã trước 1975; hình ảnh, giọng điệu trong thơ ông sau 1975 tươi tắn, đẹp đẽ, có gam màu sáng hơn, dù không phải không có những tình tự u buồn
Cũng sau 1975, thơ Trần Vạn Giã đề cập đến mọi vấn đề trong cuộc sống
và cuộc đời con người Trong khổ đau đời mình và để tìm kiếm nguồn thi liệu mới, thơ ông tìm đến tôn giáo Kinh Thánh và tôn giáo giúp nhà thơ biết san sẻ, yêu thương tha nhân hơn Đặc biệt các chuyện kể, các điển tích trong Kinh Thánh đã làm cho thơ Trần Vạn Giã thêm hàm súc Thi ca gần gũi với tôn giáo
Đó là bởi chúng có chung tiếng nói thương yêu, mỹ hóa con người, giúp cho con người thêm thánh thiện Thi ca và tôn giáo là những ngôi đền thiêng của nhân loại
Trang 28Tiểu kết:
Tư duy thơ chính là phương thức nhận thức và biểu lộ tình cảm của con người
Nó là sự biểu hiện của cái tôi trữ tình, cái tôi cảm xúc, cái tôi đang tư duy Cái tôi trữ tình trong thơ Trần Vạn Giã chịu sự chi phối của bối cảnh lịch sử và phương pháp tư duy của thời đại Là một nhà thơ sống và sáng tác hai giai đoạn trước và sau năm 1975 nên ở mỗi chặng đường thơ Trần Vạn Giã để lại những dấu ấn khác nhau Trước năm 1975, nhà thơ sống những tháng ngày dằn vặt, chứng kiến sự chia li, tang tóc trên mảnh đất quê hương nên thơ ông giai đoạn này khó tránh khỏi sự bi lụy, yếm thế Sau năm 1975, thơ Trần Vạn Giã đồng hành cùng quê hương, đất nước trên con đường kiếm tìm hạnh phúc Ông không quên quan tâm đến những cảnh đời bất hạnh, kém may mắn hay sự dối trá của con người
Thơ Trần Vạn Giã là sự biểu hiện cái riêng tư, nội tâm, thân phận cá nhân Thơ chính là tiếng nói nâng đỡ, chia sẻ với tha nhân, cuộc đời Và nói gì thì nói, số phận của quê hương, đất nước không thể vắng mặt trong thơ Trần Vạn Giã Thơ ông cũng mang giá trị tư tưởng và nghệ thuật, trình bày những cảm xúc chân thật, thể hiện rung động của nhà thơ trước hiện thực, con người, tha nhân Vì vậy thơ thể hiện cảm xúc chân thực và nói được những rung cảm tinh tế của cõi lòng về quê hương, nhân sinh và đặc biệt là về thế giới bên trong đầy uẩn khúc của nhà thơ
Trang 29Chương 2: CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO VÀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH
TRONG THƠ TRẦN VẠN GIÃ
2.1 Cảm hứng chủ đạo
2.1.1 Cảm hứng về quê hương, đất nước
Quê hương là chủ đề xuyên suốt trong thơ Trần Vạn Giã Dù viết về quê
hương chìm trong khói lửa chiến tranh hay trong những khung cảnh yên ả thời bình,
thơ anh vẫn tràn đầy cảm xúc trữ tình yêu thương gắn bó, ân nghĩa thuỷ chung và
luôn day dứt bởi những kỷ niệm
2.1.1.1 Thơ không rời xa số phận con người và quê hương
Dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa, một thế hệ tự cảm thấy mất hết cả chỗ
dựa, niềm tin và mất cả những chân trời tự do Cái cô đơn của họ và cái cô đơn đại
diện cho cả thời đại, do hoàn cảnh tạo nên Những bài thơ được sáng tác thể hiện sự
bế tắc, mang đậm màu sắc bi quan, yếm thế Trần Vạn Giã cũng từng sống trong
hoàn cảnh như thế, dĩ nhiên thơ ông trong thời kỳ này khó tránh khỏi sự bi lụy
Toàn bộ tập thơ “Hồn chữ”(1963) đã thể hiện sự dằn vặt, trăn trở của một tuổi trẻ
khao khát hòa bình Trước nỗi đau quê hương đất nước bị giày xéo, nhà thơ thức
tỉnh chính mình, tìm về quê hương và những con người mình đã gắn bó để bứt phá
để tìm ra một con đường đấu tranh mới
Xuất hiện trên một trang thơ của tờ tạp chí Trình bầy, Xuân Nhâm Tý là bài thơ
bốn câu lục bát hiện lên cả một bức tranh buồn đến nao lòng Đó là hình ảnh chiếc xe
nhà binh Mỹ chở thi hài lính viễn chinh chết trận về nước khi chuyển sang giai đoạn Việt
Nam hóa chiến tranh Cảnh tượng đó diễn ra trước sự bình thản của một bà mẹ quê, nông
thôn đã trải qua biết bao lần vùi dập, và tâm thế của những người mẹ cũng không còn
như cũ Chứng kiến cảnh đó, tác giả bày tỏ sự cảm thông với những người lính Mỹ và
cảm nhận được nỗi đau chung của con người trong thời loạn:
Chiếc xe sao trắng qua đường
Mẹ ngồi bó rạ bên mương đầu làng Nhìn lên cờ rũ hai hàng Đếm ba xác chết mở màn hồi hương
(Đếm xác hồi hương, 14, tr 28)
Trang 30Thơ Trần Vạn Giã thời kỳ này gắn liền với sự đau thương, chết chóc, nhuốm màu sắc bi quan Cảnh xóm làng chạy loạn, bà bồng cháu chạy loạn trong những
cơn ho, nín thở vì những trái mìn nổ chậm Nhà thơ Lê Khánh Mai đã viết “Quê hương và thân phận con người là nỗi day dứt trong thơ Trần Vạn Giã” [9, tr
22] Quê hương gợi ra những nỗi đau với buổi trời chiều tang tóc của buổi tản cư,
đó là ám ảnh về những ngọn lửa bốc cháy quét sạch xóm làng và bao trùm lên tất cả
là sự căm phẫn khi chứng kiến từng dòng máu đổ của những người thân yêu dấu trên mảnh đất quê hương :
Bà bồng cháu khòm lưng ra đầu ngõ
Đạp trái mìn nổ chậm giữa cơn ho
Trưa thúc thủ nắng khơi dòng máu đổ
Lửa điêu tàn khu xóm cháy tàn tro
(Tản cư, 14, tr 26)
Thơ Trần Vạn Giã thường ngắn, đặc biệt ông có viết nhiều bài theo thể tứ tuyệt ngắn gọn nhưng súc tích, ngôn ngữ thơ hình ảnh thơ giản dị, đi vào lòng người Nhà thơ đã dồn nén những cảm xúc chân thành mình để bày tỏ sự day dứt về một quê hương bị chiến tranh tàn phá hủy diệt, về những con người đang sống cảnh đời bom rơi đạn lạc trong ranh giới mong manh giữa sống và chết… Đối diện với một hiện thực buốt nhói như vậy, nhà thơ thấu hiểu cảm giác của những người trong cuộc Trần Vạn Giã đã ngợi ca quê hương đất nước với biết bao điều tươi đẹp Từ những con đường, ao nương, bờ giậu, luống khoai, mái chùa,… tất cả đều là những hình ảnh giản dị nhưng đó chính là quê hương, là nét đẹp rung động lòng người :
Yêu làm sao con ao nương sắn Thương làm sao bờ giậu luống khoai Mái chùa xưa ươm hồi chuông tím mộ Tóc em về trải rộng chuyến đò ngang
(Đốt lửa, 15, tr 23)
Có thể nói thơ Trần Vạn Giã là “tiếng gọi hòa bình thất thanh trong màn đêm dày đặc” [26, tr 15] Tiếng gọi của một người góp thành tiếng gọi của nhiều người, của muôn người Đi trong rừng biểu ngữ là đi với anh em, bạn bè, đồng bào mình
Trang 31Nhịp điệu thơ đã len lỏi vào những đường phố, dậy lên phong trào đấu tranh và cả những cánh đồng không chịu khuất phục
Tôi mơ hồ dựng lên mùi hương cau ấp ủ niềm thương
Mơ hồ luống cày vỡ đất phù sa nơi cánh đồng nội địa
Làm sao tôi quên được giọng hò cố xứ
Với tiếng trống sang canh từ khắp lũy thành
Thôi thúc ngọn cờ và máu của những người anh em quyết tử
(Hợp xướng – tin mùa gió mới, 14, tr 48) Tập thơ Đi trong rừng biểu ngữ mang đậm âm hưởng và hơi thở của miền đất
Ninh Hòa, Vạn Giã, Tu Bông Phía đông là vạn chài với những ngư dân mang lưới giã cào ra biển, phía tây là đèo Cả với những triền núi cao dốc đứng Bên cạnh đó, Trần Vạn Giã cũng mang đến ta những bông hoa nở trên triền núi đó của quê hương, cũng là triền dốc trong cuộc đời nhà thơ:
Ta sẽ dìu nhau đi dưới ngọn cờ
Và này những con đường
Mang gió heo may từ triền núi cao đổ xuống
Ta thở chút hương nồng
Trong bầu trời xám
Cắm vào tim nhau những bông hoa đầu đời mới nở
(Bến chờ, 14, tr 45)
Những vần thơ của Trần Vạn Giã trong thời kỳ này đã phác họa chi tiết những cảnh đời bi thảm, đó là sự khốc liệt, sự sống còn, ông nhìn thẳng vào thực tế để thoát khỏi sự bi lụy, yếm thế Thơ ông còn đóng góp vào bản hợp xướng của hy vọng, sự thức tỉnh với những hình ảnh về ngày mai, gió mới, bến chờ, ngọn cờ, bếp lửa,…
Ngồi bên nhau đun lửa tình người
Về nhìn ngọn đông tàn trên từng xác lá căm căm
Bên rừng chông tre phòng thủ
Như hoài mong một ngày không xa
Hòa bình truyền đi dưới bóng ngọn cờ
Gọi nhau tin mừng họp mặt
(Đang chờ, 14, tr 55, 56)
Trang 32Trần Quang Long và Trần Vạn Giã là hai nhà thơ sáng tác cùng thời, cả hai đều có những cách cảm nhận riêng về quê hương, đất nước, Tuy nhiên, ở hai nhà thơ đều có những rung cảm tinh tế về thiên nhiên, con người Thơ của Trần Quang Long mở ra chúng ta một không gian rộng lớn, cái nhìn nghiêng nghiêng, đắm say trước vẻ đẹp thiên nhiên:
Ôi quê hương của ta Môi hồng thơm lúa chín Hồn cất cánh bay xa Trái tim em hò hẹn (Hát nữa đi em – Trần Quang Long)
Rừng đêm lá đổ, rừng ngày ve ran
Nắng nghiêng từng cuộn tơ vàng
(Rừng nhỏ - Trần Quang Long)
Thơ của Trần Vạn Giã bình dị với những hình ảnh quen thuộc của làng quê, gợi ra bao niềm thương mến:
Ruộng đồng bát ngát Ngô khoai tốt hạt Dòng sông tắm gội phù sa”
(Bài ca đất nước – Trần Vạn Giã)
Hay:
Con đường cát của tuổi thơ
Ba về gặp lại đâu ngờ con ơi Nội con và chiếc nón cời Chắt chiu với cát suốt đời ở đây …
Mải mê tiếng gió ngàn khơi
Vi vui sóng, cát – Dạo chơi suốt ngày (Những đời cát trắng – Trần Vạn Giã)
Trang 33Đọc lại câu thơ của Trần Vạn Giã, ta thấy ấm áp tình người, hình ảnh bếp lửa mang ý nghĩa biểu trưng, đó là ngọn lửa thắp lên bao niềm vui, thắp lên bao hy
vọng sau những tháng ngày chờ mong Huỳnh Như Phương đã viết “Đọc lại thơ Trần Vạn Giã những ngày tháng này lòng tôi vừa dịu lại vì những ước mơ hòa bình trong thơ ông tỏa vào trang giấy, lại vừa cảm thấy nóng bỏng với những vần thơ kêu gọi giữ làng, giữ nước Những bài thơ của một thời đã qua không lặp lại vẫn làm nhức nhối tim gan vì nó còn gợi trong ta một nỗi niềm, một ý thức nào đó Nó làm động lòng ta mỗi khi vang lên những tiếng vọng từ những dòng sông, những bãi bồi, những vịnh biển, những triền núi… Đó là tiếng vọng của hồn thiêng đất nước được truyền thông từ thế hệ này sang thế hệ khác, mà thơ ca là một kênh truyền dẫn không bao giờ đứt đoạn” [26, tr 18]
2.1.1.2 Thơ cùng quê hương trên con đường xây dựng hạnh phúc
Chủ đề về gia đình, quê hương, đất nước luôn là một nội dung xuyên suốt quá trình sáng tác của thơ Trần Vạn Giã Có thể là xuất phát sự đồng điệu, thấu hiểu sâu sắc con người và được chứng kiến từng sự thay đổi dù là nhỏ nhất quê hương mình sống, chất rơm rạ trong nhà thơ không cần lửa mà vẫn bùng cháy đến lạ Nhà thơ đã
từng nói vui với nhà phê bình văn nghệ Hoàng Nhật Tuyên: “Ông đọc cho vui, chứ thơ tôi toàn chuyện rơm rạ, chuyện nhà quê… không à!” Đọc thơ của Trần Vạn
Giã thấy ông dành nhiều tâm huyết với chủ đề quê hương, đất nước Những tứ thơ mộc mạc, chân quê, đó chính là những mảnh hồn quê lấp lánh làm cho thơ ông gây được nhiều ấn tượng với người đọc
Trần Vạn Giã sinh ra trong một vùng đất ven biển khô cằn, nơi đầy nắng gió (Tu Bông, Vạn Giã, Khánh Hòa) Người dân ở đây quanh năm lam lũ với mảnh vườn, cực khổ từng ngày để mưu sinh Ông đã trải qua bao nhiêu thăng trầm của cuộc đời Tận sâu trong con người nhà thơ luôn chất chứa bao tâm sự về con người
và cuộc sống xung quanh Với nhà thơ, quê hương chính là hơi thở, mang hơi ấm của tình người, tình đời Ấn tượng về quê hương, về con người được gửi vào những trang thơ của ông:
Trang 34Mẹ tôi như bóng cau gầy Nhớ con đứa ở nơi này nơi kia Đứng nhìn Đèo Cả, Đá Bia Rừng cao, biển rộng không chia cách làng Ngậm ngùi trong gió Tu Bông Khăn tang tiễn mẹ trắng đồng chiều nay
(Mẹ tôi như bóng cau gầy, 16, tr.18)
Sinh ra và lớn lên trong một vùng quê nghèo khó, Trần Vạn Giã chưa bao
giờ giấu giếm điều này Ở bài thơ “Nhà quê, tôi là nhà quê” ông viết: “Tôi là
đất của quê nhà/ Là than nướng những trái cà dái dê/ Dạ thưa cứ khen và chê/
Vẫn tôi: con của nhà quê suốt đời” [13, tr 32] Đọc những câu thơ mộc mạc,
gần gũi này ta thấy rõ chất chân quê của nhà thơ, ông đặt cả một tập thơ của
mình là “Lục bát nhà quê” Nỗi trăn trở về một vùng quê khó nhọc, lam lũ cứ
trở đi trở lại trong thơ ông Vì vậy, những việc như “đói phải ăn củ nầng”,
dùng “vỏ bầu đựng nước”, “mo cau gói nắm cơm”, “mót lượm từng bông lúa
rơi trong mùa gặt”,… tất cả những điều dù nhỏ nhặt nhặt nhất cũng được nhà
thơ nâng niu, trân trọng đưa vào thơ, giản dị mà lay động lòng người Trần
Vạn Giã luôn tìm thấy trong cảnh làng quê nghèo khó ấy bao tình nghĩa, bao
nét đẹp Từ những lời ăn tiếng nói, từ câu hát ru con sau bờ tre, tới cách ứng
xử hay phong tục, tập quán… đều được ông chọn lọc đưa vào thơ, tạo cho
người đọc có sự liên tưởng đa chiều khi tiếp cận Cũng có lúc Trần Vạn Giã
viết về tâm trạng buồn, nhưng đó là tâm trạng buồn gắn liền với cảnh sống rất
đáng yêu của người dân quê:
Đũa tre tôi gõ gáo dừa
Gõ vào cái đói cơm chưa kịp vần Cát ơi, tôi xóa dấu chân Cho buồn theo nắng ngoài sân vào thềm
(Tâm ca cái gáo dừa, 13, tr 50)
Trang 35Hoàng Nhật Tuyên đã khằng định chất “nhà quê” của nhà thơ Trần Vạn Giã
“Đúng vậy, từ câu nói của anh, tôi thử tìm và thấy thơ anh quả là có nhiều rơm rạ
thật” Đây là một vài câu trong số rất nhiều câu thơ của ông:
Khói rơm bay khắp đồng làng
Xa xa bóng núi vắt ngang trời chiều (Con về, 18, tr 46)
Đi qua bão tố sáng nay
Lửa rơm ai đốt khói bay lên rừng (Ru, 12, tr 68)
Học làm những ngọn khói rơm
Cứ bay lên tận những chòm mây cao
(Tôi và Đất Sét năm 1976, 13, tr 52)
Quê hương là đề tài rất đáng chú ý trong thơ Trần Vạn Giã Dù là rơm rạ hay
cỏ cây, khói bếp, thậm chí là tiếng mối kêu cọt kẹt trên cột nhà… đều góp phần làm
cho thơ ông thêm thơ khi hướng về quê hương, về nguồn cội như ông tự tâm sự
trong bài thơ Với cỏ bên đường:
Về ngồi dưới bóng dừa cao Ngồi nghe hồn của ca dao êm đềm
Ai ơi máu chảy về tim Thơ tôi dẫn dã đi tìm nguồn xưa
(Với cỏ bên đường, 13, tr 52)
Nói về đề tài quê hương đất nước, người đọc ấn tượng nhiều hơn cả đó chính
là những bài thơ ông viết về quê mình Cũng chính ở đó, nhà thơ Trần Vạn Giã một
lòng hướng về cội nguồn quê hương, về phía nhân dân trên con đường xây dựng
hạnh phúc Cũng có lúc thơ ca ngợi quê hương đất nước, con người, tình yêu:
Đây vùng oanh tạc tự do
Từ cao đổ xuống tàn tro xóm làng
Bà già tay xách nách mang Bước đi mấy bước gặp tràng đại liên
Trăm căn nhà cháy bên sông
Trang 36Đồng bào tay dắt tay bồng trốn bom Ruộng đồng thiếu hạt thóc thơm Đêm nghe tiếng khóc trên chòm sao thưa
(Chuyện vùng bất an, 9, tr.32)
Hùynh Như Phương đã nhận xét “Nhiều bài thơ khác của Trần Vạn Giã viết
trong giai đoạn này cũng thiên về giọng tự sự, chất tạo hình rõ hơn chất biểu cảm,
đúng hơn là cảm xúc nén lại, ẩn giấu sau bức tranh xã hội” [26, tr.12] Trần Vạn
Giã là một tác giả trẻ, ngay khi mới bước vào con đường văn chương, đã bị săn đuổi
gắt gao vì tinh thần phản kháng Ông tham gia phong trào phản chiến, đòi hòa bình,
chống “đôn quân bắt lính”, nhiều lần bị nhà cầm quyền giam giữ nhưng bản thân
ông nhận thức sâu sắc nỗi đau của một dân tộc chịu nhiều nỗi đau thương Dù trong
hoàn cảnh tù đày, con người ấy vẫn làm thơ để trải lòng và một tấm lòng luôn
hướng về quê hương, đó là nỗi thống khổ không từ nào kể xiết:
Những đòn roi điện bầm da Trẻ già còng hết chẳng tha người nào Mấy tăng tứ trụ lộn nhào Người tù chính trị đã trào máu tươi
(Trong tù, 14, tr 23)
Đó là cái tôi có một sự nhạy cảm với chiến tranh, từ gốc rạ rơm đồng quê, thơ
Trần Vạn Giã có lúc mang giọng phẫn uất, có lúc trầm buồn như một cơn gió
thoảng qua mà cũng khiến lòng man mác:
Rưng rưng mùa cau cũ Lưng đầy vai mang áo rách đồng chiêm
Mẹ xé vội khăn tang Trong cơn gió tháng tư se nhịp buồn góa phụ
Mà những trận mưa bom vẫn rơi…
Hình ảnh người góa phụ “xé vội chiếc khăn tang” trong bài thơ thể hiện sự
nhọc nhằn của kiếp người, nó hiện hiện lên sừng sững, không mang tầm vóc sử thi
mà thể hiện sự bản lĩnh, sức chịu đựng nỗi đau của con người Một người đàn bà vò
Trang 37võ nuôi con một mình, chôn chặt nỗi đau mất chồng để cứng cỏi gánh chịu những
tai ương, bất hạnh đang đè trên đầu mình
2.1.1.3 Thơ phê phán hiện thực
Trong công trình Toàn cảnh thơ Việt Nam 1945 - 1975, tác giả Nguyễn Bá
Thành đã khẳng định “Cảm hứng phê phán hiện thực như là một cảm hứng chủ đạo
trong thơ đô thị miền Nam” [33, tr.298] Xu hướng chủ yếu của thơ miền Nam dưới
chế độ Sài Gòn vẫn là phê phán thực trạng xã hội chiến tranh loạn ly, bế tắc và buồn
đau Hình ảnh quê hương đất nước như một “cõi nhiễu nhương”, thậm chí còn là xứ
địa ngục, vũng lầy của mọi sứ khổ đau và bất hạnh Trần Vạn Giã không phải là
một nhà thơ chống Cộng, ông cũng không thể hòa mình với cái chính thể mục
ruỗng, bù nhìn như vậy Như nhiều nhà thơ khác, thơ ông khó tránh khỏi sự quẩn
quanh, bế tắc và những day dứt thường trực Bao trùm lên làng xóm, là những
không khí ảm đảm và quạnh hiu:
Trưa há hốc tàn xiêu mền quạnh quẽ Con chó vàng bụng đói mắt buồn thiu Chị bồng em mòn tay vai áo rách Nhìn nồi khoai ngồi khóc buổi cơm chiều
( Trưa ở trại tập trung, 14, tr 27)
Đó là cảnh đói khổ của những gia đình nheo nhóc, đọc thơ mới thấy được sự
đồng cảm và thấu hiểu đến lạ kỳ của nhà thơ Cái đói, cái nghèo phủ kín những
trang thơ, con người khô cạn sức lực để nói chuyện ân tình Đôi khi họ cũng buông
xuôi, phó mặc số phận và tìm đến một sự giải thoát nhất định:
Trưa nghèo hết gạo nấu cơm Nhìn nhau không nói nuốt đờm mấy hôm Rong mình trong ngọn mưa thơm Chúng tôi ôm trọn một chòm mây bay
(Trưa nghèo, 14, tr 9)
Bữa trưa nghèo hiện lên thật đau xót, hoàn cảnh thiếu thốn, cái nghèo đói bao
trùm lên cả bốn câu thơ Nhà thơ dùng từ rất đời thực đó là “nuốt đờm”, đã tạo nên
hiệu quả nghệ thuật cao trong việc lột tả bức tranh hiện thực
Trang 38Qua những tháng năm, thăng trầm cùng cuộc sống quê hương, từ mốc năm
2000, Trần Vạn Giã lại lần lượt xuất bản những tập thơ hoàn toàn theo thể thơ lục
bát Năm 2006, trong lời tựa cho tập thơ lục bát Trầm tư với lá của ông, nhà thơ, dịch giả Đào Xuân Quý viết rằng: “Trần Vạn Giã đã đi vào một con đường quá gay
go, nguy hiểm đối với người làm thơ xưa nay…Gay go, nguy hiểm vì rất dễ sa vào chỗ đơn điệu, dễ biến thành vè, dễ làm người đọc chán” [10, tr 5] Nhưng Trần Vạn
Giã đã tránh được tất cả những điều đó và gây được ấn tượng tốt nhờ có những câu
thơ chân thật, có nghĩa, có tình Đọc Hồn Chữ được viết cách đây hơn 50 năm,
người đọc có thể bổ sung thêm rằng chính âm điệu “lục bát”, chất nhà quê đã làm giàu thêm hồn thơ Trần Vạn Giã
Võ Chân Cửu đã từng nhận xét trong bài viết về Lục bát Trần Vạn Giã (tháng
12 – 2016) “Với thơ, giờ đây “hình thức” xem ra không còn là cái quyết định như nhiều người lầm tưởng Cũng chính nhờ vậy, nên thơ Việt từ đó lại bắt đầu một giai đoạn phong phú mới Và thể thơ lục bát, qua cơ hội này cũng đã chứng tỏ sự kỳ diệu của những âm điệu, ngôn ngữ mới Vào năm 1963, chàng trai Trần Vạn Giã, lúc này vừa tròn 18 tuổi, từ nghiệp văn chương, đã có những vần thơ diễn tả những khổ nhọc từ việc “lang chạ” với vần điệu”:
Một ngày đốt những bài thơ
Đun trong khói ngọn đèn mờ vô vi
Mê rừng chán đoạn cổ thi
Bỏ quê trôi dạt ta đi lên ngàn
Đời này có hợp có tan
Nên thơ ta cháy dịu dàng trong mơ
(Đốt thơ, 17, tr 21)
Hai câu cuối trong bài thơ cho thấy sự nhận chân của tác giả về những giá trị cuộc đời Chưa phải là tuyệt tác, nhưng đây là một bài thơ tuyệt vời trong thời kỳ
ấy Ở một bài tiếp đó, ông đã cảm ơn “mây bạc”, một loại vật chất mà nhiều người
có thể cho là phù phiếm, nhưng người đang theo đuổi hồn thơ thì lại là những hình tượng…vô giá
Trang 39Tôi rơi vào cõi tuyệt cùng Nghe từ thiên cổ về chung mối sầu Hôm nay cho đến ngàn sau Biết còn sóng vỗ bên cầu đưa trăng Lạnh hồn lạnh cả chiếu chăn Ngờ đâu mặt đất có thằng người tôi Hôm nay vò gạo hết rồi
Dế đùn bếp đất cái nồi chèo queo Cám ơn mây bạc đang theo Dìu tôi lơ lửng cuối đèo nhân sinh
“Thấu thị” cõi nhân sinh (Cám ơn mây bạc, 17, tr 23)
Cùng phê phán hiện thực, cùng tìm về quê hương để khơi gợi tinh thần quật khởi đấu tranh, thơ của Trần Quang Long đi sâu vào chất trữ tình, khiến cho người đọc cảm nhận được sự đau đớn, quằn quại của đất nước
Làng thôn ta chắc đã tan tành cả Từng tấn bom tuôn cháy nát lòng (Tiếng hát người tù – Trần Quang Long)
Dòng Hương, không phải đây dòng máu Núi Ngự, xương người chất ngất phơi (Huế ơi – Trần Quang long)
Còn thơ cuả Trần Vạn Giã lại đi sâu vào hiện thực, một hiện thực trần trụi đến buốt nhói:
Sáng ngày lính trói dẫn ra Bịt bùng cô – nét giống ma hốt hồn Tôi nhìn ba xác chưa chôn
Kề bên roi điện mấy bồn xa bông (Sáng ngày, 14, tr 22)
Trang 40Vào thời điểm sau biến động 1963 ở Miền Nam, cuộc chiến ngày càng lan rộng, một số trí thức, giáo sư đại học từ phương Tây trở về đã ra sức truyền bá chủ nghĩa “Hiện sinh”, khiến tâm trí của người dân, nhất là tầng lớp thanh niên có học ngày càng bị nhiễu loạn Những từ ngữ Hán Việt mang tính triết học như “dấn thân”, “thân phận” đang trở nên thời thượng trong ngôn ngữ văn chương, Vậy mà câu thơ Trần Vạn Giả lại khá “nôm na” Những từ ngữ dân giã, như “vo gạo”, “chèo queo”…được ông dùng đúng chỗ, nên bài thơ vẫn có được sức sống riêng, truyền được những nguồn cảm hứng đặc biệt
2.1.2 Cảm hứng về tình yêu và thân phận con người
Trần Vạn Giã đến với thơ như một lẽ tự nhiên, như một cái duyên gắn chặt ông với cuộc đời và rất nhiều trái tim khác cần đồng cảm khác Trải qua những năm tháng đói no cùng người dân quê mình, Trần Vạn Giã hòa mình vào bức tranh hiện thực muôn màu Cùng người dân chiến đấu với mưa to, bão lũ; cùng chia sẻ niềm vui, hiểu từng nụ cười của đám con trẻ dưới mái nhà lá dừa xiêu vẹo mỗi khi tết đến, xuân về… Để rồi từ đó ông viết nên những trang thơ dạt dào cảm xúc, lay động lòng người, như một cách để nhà thơ trang trải những tâm sự thầm kín
Những bài thơ đầu viết theo thể lục bát được ông gom thành một tập mang tên
“Hồn Chữ” Nó được “nằm im” khá lâu, đến khoảng sau năm 1970 mới lác đác được đăng tải Lúc này, cái tên Trần Vạn Giả lại nổi bật như một nhà thơ của nhóm
“Nhân Sinh” hay “Trình Bày”, theo xu hướng “Đi trong rừng biểu ngữ” Mặc dù ít được đề cập đến, nhưng “Hồn chữ” đã không mất đi:
Đứng trên mặt đất bao la Một mình ta cuốc cái ta ngàn đời Gió chiều bay đỗ chơi vơi Đội trời và đội nón cời vun khoai
Có ai về dưới thôn Đoài Nhờ ơn nhắn cuộc tình hoài xa xăm
(Bài thương ca muộn làm trên rừng mùa ẩn tịch, 17, tr 10)