1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ 3d công tác bảo tồn di sản văn hóa

78 141 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 668,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đạt được mục tiêu trên, đề tài thực hiện những nhiệm vụ sau: - Phân tích cơ sở lý luận về chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ; - Phân tích một số chính sách ứng dụng công nghệ 3D h

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ THỊ THU HIỀN

CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ 3D TRONG CÔNG TÁC BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ

Hà Nội, 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ THỊ THU HIỀN

CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ 3D TRONG CÔNG TÁC BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ

Mã số: 60340412 Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Mạnh Dũng

Hà Nội, 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Mạnh Dũng, với tư cách là người hướng dẫn khoa học đã dành thời gian nghiên cứu và đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn

Tôi xin cảm ơn các thầy cô trong Khoa Khoa học quản lý, cá nhân thầy Trưởng khoa PGS.TS Đào Thanh Trường và các thầy cô trong Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành chương trình học cao học và luận văn này!

Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ tại Cục Di sản Văn hóa, Nhà Hát lớn Hà Nội, Viện Pháp Ngữ đã tạo điều kiện cho tôi trong việc thu thập

số liệu và những thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu luận văn này

Trong quá trình thực hiện luận văn do hạn chế về thời gian và năng lực của bản thân cho nên luận văn này chắc chắn còn nhiều khiếm khuyết Tôi mong nhận được sự thông cảm và chia sẻ

Tác giả luận văn

Lê Thị Thu Hiền

Trang 4

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Nhà hát Lớn Hà Nội

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do nghiên cứu 3

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4

3 Mục tiêu nghiên cứu 8

4 Phạm vi nghiên cứu 9

5 Mẫu khảo sát: 10

6 Câu hỏi nghiên cứu 10

7 Giả thuyết nghiên cứu 10

8 Phương pháp nghiên cứu 11

9 Kết cấu của luận văn 11

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ 3D TRONG CÔNG TÁC BẢO TỒN DI SẢN 13

1.1 Cơ sở lý luận về chính sách 13

1.1.1.Khái niệm chính sách 13

1.1.2 Chính sách khoa học và công nghệ 16

1.2 Công tác bảo tồn di sản 17

1.2.1 Khái niệm về công tác bảo tồn 17

1.2.2 Khái niệm về di sản văn hóa 20

1.3 Công nghệ và công nghệ 3D 23

1.3.1 Khái niệm công nghệ 23

1.3.2 Vai trò của công nghệ 26

1.3.3.Công nghệ 3D 27

1.4 Khái niệm “chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ 3D” 30

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ 3D TRONG CÔNG TÁC BẢO TỒN DI SẢN TẠI NHÀ HÁT LỚN 33

Trang 6

2.1 Tình hình ứng dụng công nghệ 3D trong công tác bảo tồn di sản văn

hóa 33

2.2 Hoạt động ứng dụng công nghệ 3D trong công tác bảo tồn di sản Nhà Hát lớn Hà Nội 40

2.2.1 Tổng quan về hệ thống Nhà hát lớn 40

2.2.2 Thực trạng chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ 3D trong công tác bảo tồn di sản tại Nhà hát Lớn Hà Nội 42

2.3 Đánh giá bất cập trong ứng dụng công nghệ 3D qua ý kiến chuyên gia 48

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 51

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ 3D TRONG CÔNG TÁC BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA 51

3.1.1 Thái Lan 52

3.1.2 Ý 53

3.1.3 Hàn Quốc: 54

3.2 Giải pháp chính sách nào để thúc đẩy ứng dụng công nghệ 3D trong công tác bảo tồn di sản văn hóa 55

3.2.1 Chính sách tuyên truyền về các định hướng bảo tồn di sản bằng công nghệ 3D 55

3.2.2 Xã hội hóa việc bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa, tranh thủ sự giúp đỡ, hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, các nước trong khu vực, trên thế giới 62

3.2.3 Chính sách thúc đẩy thành lập Hiệp hội ứng dụng công nghệ 3D trong công tác bảo tồn di sản 64

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 66

KẾT LUẬN 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

PHỤ LỤC 74

Trang 7

hư hỏng bởi sự tác động của con người, khí hậu và thời gian

Năm 2017, công trình tham quan ảo Nhà hát Lớn Hà Nội đã được Nhà

hát Lớn tiếp nhận từ Đại sứ quán Pháp, đơn vị thực hiện là Viện Quốc tế Pháp ngữ (Institut Francophone International - IFI) Công trình kéo dài khoảng 15 phút, được để ở chế độ tự động với các cảnh quay độc đáo mang đến cho du khách bữa tiệc văn hóa mãn nhãn Tham quan ảo Nhà hát Lớn Hà Nội hiện có

18 cảnh thực tại ảo, tương ứng với 18 điểm nhìn của người tham quan Ở dưới cửa số ảnh là dây icone thu nhỏ của các cảnh này Người xem có thể chọn và bấm chuột để xem một cảnh bất kỳ Không chỉ được thưởng thức vẻ đẹp kiến trúc của nhà hát, người xem còn được thưởng thức âm nhạc dịu êm qua những tác phẩm âm nhạc nổi tiếng của Pháp Lời thoại giới thiệu về từng điểm đến thăm quan được biên soạn công phu bằng 3 thứ tiếng Việt, Pháp, Anh

Chuyến thăm quan ảo này sẽ cung cấp cho khách tham quan kiến thức phong phú về quá trình xây dựng, những nét độc đáo của kiến trúc Nhà hát, tiến trình hiện đại hóa sân khấu và âm nhạc Việt Nam đầu thế ký XX; cuộc đời

và đóng góp của nhà viết kịch Vũ Đình Long - cha đẻ của ngành kịch nói Việt Nam và ông Claude Bourrin - Giám đốc đầu tiên của Nhà hát Lớn Hà Nội

Điều quan trọng nhất, “Tham quan ảo Nhà hát Lớn Hà Nội” là một sản phẩm ứng dụng công nghệ 3D Do đó, người sử dụng chỉ cần một thiết bị thông minh và một kết nối internet là có thể truy cập ứng dụng và thực hiện

Trang 8

một chuyến tham quan thú vị, khám phá, tìm hiểu Nhà hát Lớn Hà Nội, một công trình kiến trúc hơn 100 năm tuổi, một di sản kiến trúc và lịch sử đã được xếp hạng cấp quốc gia của Thủ đô”

Tuy nhiên khi nghiên cứu về các chính sách đối với việc thúc đẩy UDCN 3D trong công tác bảo tồn di sản văn hóa hiện nay vẫn còn nhiều bất cập, thiếu thống nhất Vì vậy, việc chọn nghiên cứu đề tài nghiên cứu chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ 3D trong công tác bảo tồn thực sự có ý nghĩa lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay và trong thời gian tới

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Việt Nam là một đất nước có hàng ngàn năm lịch sử, đã để lại nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trên các vùng miền tổ quốc Đã có rất nhiều công trình, sách nghiên cứu về di sản văn hóa, công tác bảo tồn và phát triển

đề xuất một số giải pháp và kiến nghị để xây dựng nền văn hóa Việt Nam đáp ứng yêu cầu của tình hình mới

Giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống, nội sinh của dân tộc, tạo cơ sở vững chắc để tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại là yêu cầu khách quan trong quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng Góp phần cùng:

Trang 9

“toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tận dụng thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ

xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ công cuộc đổi mới Từ đó, đưa ra những định hướng chiến lược cơ bản cho sự nghiệp xây dựng nền văn hóa “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, để trở thành nền tảng tinh thần xã hội trên con đường thực hiện mục tiêu: “Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

GS.TS Ngô Đức Thịnh trong bài “Gìn giữ văn hóa phi vật thể là bảo vệ

con người” [10] đã khẳng định: Văn hóa phi vật thể là một cách phân loại, chỉ

ra các dạng chính thức của văn hóa phi vật thể, các đặc trưng của văn hóa phi vật thể và việc sưu tầm bảo tồn chúng Qua đó, tác giả muốn gửi thông điệp rằng: Văn hóa phi vật thể là văn hóa trải dài trong cả không gian và thời gian, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong giai đoạn hiện nay với sự giao thoa, giao lưu văn hóa giữa các vùng miền, các quốc gia thì văn hóa phi vật thể mang tính mỏng manh, dễ bị thương tổn Do đó, Nhà nước cần thông qua các cấp chính quyền, các nhà khoa học, giữ vai trò định hướng trong nhiệm vụ bảo tồn và phát huy văn hóa phi vật thể của dân tộc

Chu Thái Thành trong bài “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân

tộc” [11] khẳng định từ xưa đến nay, bản sắc văn hóa dân tộc đã làm nên sức

sống mãnh liệt, giúp cộng đồng người Việt Nam vượt qua biết bao thử thách khắc nghiệt của lịch sử để không ngừng phát triển và lớn mạnh Nhận thức được tầm quan trọng đó, Đảng ta đã ra nhiều chỉ thị, nghị quyết nhằm động viên tối đa nguồn lực nội sinh và ngoại sinh để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con người trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 10

Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng ta xác định cùng với giáo dục đào tạo,

khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

Khoa học và công nghệ có tác động to lớn tới toàn bộ đời sống vật chất

và tinh thần của xã hội Phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ

là cơ sở để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng chiến lược con người, phát triển văn hoá của Đảng và Nhà nước ta

Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh: “Phát triển mạnh khoa học, công nghệ làm động lực đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế trí thức, góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu qủa, sức cạnh tranh của nền kinh tế Sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước” Như vậy, phát triển KH&CN phải là nền tảng và động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi

Hiện nay, cuộc cách mạng KH&CN trong thời kỳ toàn cầu hoá đã và đang diễn ra mạnh mẽ, tác động đến mọi quốc gia, dân tộc Tốc độ phát minh khoa học ngày càng gia tăng Khoảng cách từ phát minh đến ứng dụng rút ngắn Sự cạnh tranh về công nghệ cao diễn ra quyết liệt Truyền thông về KH&CN diễn ra sôi động Nhiều tri thức và công nghệ mới ra đời, đòi hỏi con người phải học tập thường xuyên, học tập suốt đời Quá trình giáo dục phải được tiến hành liên tục để người lao động có thể thích nghi được với những đổi mới của tiến bộ KH&CN Vừa qua, hoạt động nghiên cứu, ứng dụng KH&CN được đẩy mạnh, quản lý KH&CN có đổi mới, thị trường KH&CN được hình thành, đầu tư cho khoa học được nâng lên Cùng với giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là động lực phát triển kinh tế xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Khoa học và công nghệ là nhân tố chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và củng cố quốc

Trang 11

phòng an ninh Phát triển khoa học công nghệ để tạo tiền đề cơ sở ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật

Phát triển KH&CN có tác dụng thực hiện tốt hơn nhiệm vụ bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững “Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

(Bổ sung, phát triển 2011)” nhấn mạnh: “Giáo dục và đào tạo, khoa học và

công nghệ có sức mạnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển Sự phát triển của khoa học và công nghệ ngày càng có ý nghĩa quyết định trong việc làm thay đổi nền sản xuất vật chất của

xã hội”

Trong thời đại chuyển dịch mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kiểu cũ dựa vào bóc lột sức lao động và tàn phá môi trường tự nhiên là chính sau cuộc cách mạng khoa học kiểu mới hướng tới nâng cao năng suất lao động, bảo vệ môi trường sinh thái và nâng cao chất lượng cuộc sống con người, hàm lượng khoa học kết tinh trong các sản phẩm hàng hóa ngày càng tăng Bất cứ quốc gia nào muốn làm được điều đó thì đều cần phải phát triển khoa học và công nghệ

Hiện nay, sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội gắn liền với sản xuất hàng hóa và thị trường, gắn liền với phân công lao động và hợp tác quốc

tế, gắn liền với trình độ và năng lực sáng tạo, tiếp nhận và trao đổi công nghệ mới; Xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa trong lĩnh vực kinh tế - xã hội làm cho các quốc gia, kể cả các quốc gia phát triển và các quốc gia đang phát triển phải cấu trúc lại nền kinh tế theo hướng mở rộng liên kết để tối ưu hóa sự cạnh tranh và hợp tác toàn cầu

Trang 12

Trong lĩnh vực công nghiệp văn hoá, khoa học và công nghệ đóng vai trò to lớn trong việc hình thành nền “kinh tế tri thức” và “xã hội thông tin”, phát triển hàm lượng trí tuệ cao trong sản xuất, dịch vụ và quản lý ở tất cả các quốc gia Vì vậy, đầu tư cho khoa học và công nghệ là đầu tư cơ bản để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, đầu tư ngắn nhất và tiết kiệm nhất để hiện đại hóa nền sản xuất xã hội và hiện đại hóa dân tộc Cuộc chạy đua phát triển kinh tế - xã hội trên thế giới hiện nay thực chất là cuộc chạy đua về khoa học

và công nghệ, chạy đua nâng cao chất lượng và hiệu quả lao động trên cơ sở hiện đại hóa nguồn nhân lực Hiện nay khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu qủa, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế

Khoa học và công nghệ không chỉ có ý nghĩa lớn lao trong lĩnh vực sản xuất vật chất, mà còn là cơ sở để xây dựng nền văn hóa tinh thần của chế độ

xã hội chủ nghĩa Sự nghiệp CNH, HĐH đất nước không phải chỉ là quá trình đổi mới về khoa học công nghệ, hiện đại hóa, thị trường hóa nền sản xuất xã hội mà còn là quá trình chuyển đổi về tâm lý, phong tục tập quán, lối sống thích ứng với nhịp độ và tốc độ của xã hội công nghiệp và hội nhập kinh tế quốc tế

Phát triển mạnh khoa học và công nghệ sẽ có tác dụng động lực đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế tri thức, góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu qủa, sức cạnh tranh của nền kinh

tế, sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước, phát huy và sử dụng có hiệu qủa nguồn tri thức của con người Việt Nam và tri thức của nhân loại Xây dựng và triển khai lộ trình phát triển kinh tế tri thức đến năm 2020

3 Mục tiêu nghiên cứu

Đề xuất chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ 3D trong công tác bảo tồn các di sản văn hóa

Trang 13

Để đạt được mục tiêu trên, đề tài thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Phân tích cơ sở lý luận về chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ;

- Phân tích một số chính sách ứng dụng công nghệ 3D hiện hành có tác động đến việc ứng dụng công nghệ 3D trong công tác bảo tồn di sản văn hóa qua nghiên cứu trường hợp Nhà hát Lớn Hà Nội;

- Đưa ra giải pháp chính sách nhằm thúc đẩy ứng dụng công nghệ 3D trong công tác bảo tồn di sản văn hóa

- Phạm vi thời gian: từ năm 2012 – 2017

- Phạm vi không gian: Nhà hát Lớn Hà Nội

Nhà hát Lớn đã giữ vai trò một trong những trung tâm văn hóa quan trọng của thủ đô, nơi diễn ra thường xuyên các hoạt động văn hóa, biểu diễn nghệ thuật; nơi khai sinh và tôn vinh kịch nghệ cùng sân khấu Việt Nam, cũng như các loại hình nghệ thuật giao hưởng, hợp xướng, nhạc kịch, vũ kịch

Nhà Hát lớn là nơi Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập họp

và thông qua Hiến pháp năm 1946

Ngày nay, Nhà hát Lớn là một trong những địa điểm biểu diễn quan trọng bậc nhất ở Hà Nội, được những người làm nghệ thuật coi như một "ngôi đền" dành cho nghệ thuật cổ điển Cũng như nhiều công trình kiến trúc và cả những loại hình văn hóa phi vật thể khác, Nhà hát Lớn Hà Nội trở thành minh chứng cho một giai đoạn lịch sử của thành phố, thời kỳ giao thoa, tiếp biến văn hóa

Trang 14

Lý do chọn Nhà hát Lớn Hà Nội còn vì đây là một trong những di sản UDCN 3D thành công nhất vì hút được nhiều khách du lịch Trong các luồng khách du lịch đến Việt Nam, đối với khách phương Tây, triển vọng thu hút là

du khách người Pháp, đối với châu Á là du khách Nhật Bản Đấy là lượng khách đầy tiềm năng, nguồn lực

Hầu hết khách du lịch Pháp đến thăm NHLHN vì sự thuận tiện, mà còn đến vì sự tò mò muốn hiểu hết nét hay nét đẹp, những nét giống nhau, các dị biệt, các sáng tạo của các nghệ nhân Việt Nam trong quá trình xây dựng NHLHN Di sản NHLHN là biểu tượng giao lưu văn hóa Đông - Tây rất rõ của văn hóa Pháp Năm 2011, Nhà hát Lớn Hà Nội đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận di tích lịch sử và kiến trúc quốc gia

5 Mẫu khảo sát:

Khảo sát hệ thống UDCN 3D tại Nhà hát Lớn Hà Nội

6 Câu hỏi nghiên cứu

1) Câu hỏi chủ đạo của đề tài: Giải pháp chính sách nào để thúc đẩy ứng dụng công nghệ 3D trong công tác bảo tồn các di sản văn hóa?

7 Giả thuyết nghiên cứu

1) Giả thuyết chủ đạo:

- Chính sách tuyên truyền về các định hướng bảo tồn di sản bằng công nghệ 3D;

Trang 15

- Xã hội hóa việc bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa, tranh thủ

sự giúp đỡ, hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, các nước trong khu vực, trên thế giới;

- Chính sách thúc đẩy thành lập Hiệp hội ứng dụng công nghệ 3D trong công tác bảo tồn di sản

2) Các luận điểm cụ thể

- Việt Nam hiện mới có chính sách thúc đẩy các thành tựu khoa học trong công tác bảo tồn di sản văn hóa”, chưa có chính sách cụ thể về ứng dụng công nghệ 3D

- Nhà hát Lớn Hà Nội đã kêu gọi sự hỗ trợ từ tổ chức Đại sứ quán Pháp

và Viện Quốc tế Pháp ngữ trong việc thực hiện dự án “Tham quan ảo Nhà hát Lớn Hà Nội” bằng việc ứng dụng công nghệ 3D

8 Phương pháp nghiên cứu

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, học viên sử dụng các tài liệu sau

để phục vụ cho việc nghiên cứu:

- Luận văn tiếp cận dựa trên nguyên lý và phương pháp luận của tính hữu ích phần mềm CN 3D

- Chính sách UDCN 3D trên thế giới đã đạt được kết quả như thế nào

- Chính sách UDCN 3D hiện tại ở Việt Nam như thế nào

- Vận dụng và kết hợp các phương án nghiên cứu cụ thể: Khảo sát bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp, qua các mạng xã hội; trao đổi với các nhóm đối tượng: các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức, cá nhân trong nước; phương pháp tổng hợp và phân tích định lượng

9 Kết cấu của luận văn

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ 3D TRONG CÔNG TÁC BẢO TỒN DI SẢN

Trang 16

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ 3D TRONG CÔNG TÁC BẢO TỒN DI SẢN TẠI NHÀ HÁT LỚN

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ 3D TRONG CÔNG TÁC BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG CÔNG

NGHỆ 3D TRONG CÔNG TÁC BẢO TỒN DI SẢN

1.1 Cơ sở lý luận về chính sách

1.1.1.Khái niệm chính sách

Thuật ngữ "chính sách" được sử dụng rộng rãi trên sách báo, trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong đời sống xã hội Hiểu một cách giản đơn, chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản

lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình

Theo Từ điển tiếng Việt“chính sách” được hiểu là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra chính sách…”

Các chính sách có thể được đề ra và thực hiện ở những tầng nấc khác nhau: Chính sách của Liên hiệp quốc, chính sách của một đảng, chính sách của Chính phủ, chính sách của chính quyền địa phương, chính sách của một bộ, chính sách của một tổ chức, đoàn thể, hiệp hội, chính sách của một doanh nghiệp…

“Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”[11; 29]

Chính sách là quan điểm, phương hướng và cách thức chung để ra quyết định trong tổ chức Trong một tổ chức có thể có nhiều loại chính sách khác nhau cho những mảng hoạt động trọng yếu Với từng hoạt động và đối tượng chịu tác động của chính sách khác nhau thì nhà hoạch định chính sách cần đưa ra những chính sách phù hợp

Trang 18

Chính sách là phương thức hành động được một chủ thể hay tổ chức nhất định khẳng định và tổ chức thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề lặp đi lặp lại

Chính sách giúp các nhà quản lý xác định những chỉ dẫn chung cho quá trình ra quyết định Giúp họ thấy được phạm vi hay giới hạn cho phép của các quyết định, nhắc nhở các nhà quản lý những quyết định nào là có thể và những quyết định nào là không thể Từ đó chính sách sẽ hướng suy nghĩ và hành động của mọi thành viên trong tổ chức vào việc thực hiện mục tiêu chung của tổ chức

Thuật ngữ “Chính sách” được sử dụng phổ biến ở tầm vĩ mô như chính sách kinh tế, chính sách xã hội của nhà nước đến tầm vi mô như chính sách của các tổ chức, các doanh nghiệp Trong phạm vi này, chính sách thường

được sử dụng với nghĩa là chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ

Như vậy, nói về một quyết định chính sách, người quản lý có thể hiểu theo những khía cạnh như sau:

- Chính sách là một tập hợp biện pháp Đó có thể là một biện pháp kích

thích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chính hoặc một biện pháp ưu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội

- Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa dưới dạng các

đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị của Chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức (doanh nghiệp, trường học,…)

- Chính sách phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và

nhóm xã hội Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào đó Ví dụ, nhóm quân đội trong chính sách bảo vệ Tổ quốc, nhóm giáo viên trong chính sách giáo dục, nhóm khoa học gia trong chính sách khoa học, nhóm các nhà kinh doanh trong chính sách kinh tế, … Mỗi nhóm được đặc trưng bởi những thang bậc giá trị khác nhau về nhu cầu Đó là

Trang 19

cơ sở tâm lý học giúp chúng ta vận dụng các bậc thang nhu cầu trong việc tạo động cơ cho đối tượng chính sách

- Chính sách phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói trên vào một mục tiêu nào đó của hệ thống xã hội Chẳng hạn, mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp, mục tiêu đào tạo của nhà trường, mục tiêu phát triển của địa phương, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc của một quốc gia,…

Trong quá trình chuẩn bị một quyết định chính sách, người quản lý cần xác định rõ các đặc điểm sau:

- Cho ra đời một chính sách là tung ra một giải pháp ứng phó trong một cuộc chơi Giải pháp đó phải lựa chọn sao cho chủ thể quản lý luôn thắng trong cuộc chơi, nhưng với chú ý rằng luôn thắng trong điều kiện mà đối tác cảm thấy được chia sẽ lợi ích thỏa đáng (cân bằng Nash), không dồn đối tác vào đường cùng để đón lấy những mối họa tiềm ẩn trong các vòng chơi tiếp sau

- Cuối cùng, một chính sách đưa ra chính nhằm khắc phục một yếu tố bất đồng bộ nào đó trong hệ thống, nhưng đến lượt mình, chính sách lại làm xuất hiện những yếu tố bất đồng bộ mới Như vậy, quá trình làm chính sách thực chất là tạo ra những bước phát triển hệ thống, từ những bất đồng bộ này tới những bất động bộ khác Trong quá trình phát triển hệ thống, không bao giờ ảo tưởng sự đồng bộ ổn định tuyết đối ổn định, có nghĩa là không còn phát triển

- Kết quả cuối cùng cái mà chính sách phải đạt được là tạo ra những biến đổi xã hội phù hợp mục tiêu mà chủ thể chính sách vạch ra Khái niệm “ Mục tiêu biến đổi xã hội” ở đây được sử dụng với một nghĩa hoàn toàn trung lập,

có thể là một biến đổi “tốt đẹp” theo một nghĩa nào đó, nhưng lại là “tồi tệ”

Tất nhiên, khi nói tiếp cận tổng hợp để xem xét một chính sách, không nhất thiết xem đủ mọi hướng tiếp cận như trên, mà chỉ có thể một vài cách tiếp cận trong đó

Trang 20

Theo định nghĩa của tác giả Vũ Cao Đàm: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” Tác giả luận văn cũng theo các định nghĩa trên

Theo Tổ chức Văn hóa, Khoa học Công nghệ của Liên Hợp Quốc

(UNESCO): "Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp lập pháp và hành

pháp được thực hiện để nâng cao, tổ chức và sử dụng tiềm lực KH&CN với mục tiêu đạt được mục đích quốc gia" Như vậy, theo định nghĩa này thì

chính sách KH&CN trước hết là tập hợp các biện pháp thuộc lĩnh vực lập pháp và lĩnh vực hành pháp, có nghĩa là chính sách KH&CN không những chỉ thể hiện ở khâu hoạch định, ban hành các biện pháp về KH&CN, mà còn phải thể hiện ở khâu hành pháp: thực thi các biện pháp về KH&CN

Theo thông lệ chung chính sách KH&CN là những phương châm, điều

lệ, qui định Đó là những nguyên tắc và qui tắc do một Nhà nước, một ngành, một cơ sở trong một thời kỳ nhất định và với một mục tiêu chiến lược nhất định, đặt ra nhằm phát triển KH&CN

Định nghĩa của Luận văn:

Trên cơ sở chính sách mà tác giả Vũ Cao Đàm đã định nghĩa [5;31], Luận văn xin đưa ra định nghĩa về chính sách KH&CN như sau:

Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa thông qua vật mang chính sách là các văn bản quy phạm pháp luật, do cơ quan quyền lực nhà nước hoặc cơ quan hành chính nhà nước ban hành nhằm thực hiện mục tiêu về KH&CN trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

Như vậy, chính sách KH&CN được thể hiện theo những khía cạnh:

Trang 21

Chính sách KH&CN là một tập hợp biện pháp về KH&CN

- Chính sách KH&CN là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới

dạng các đạo luật, pháp lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị của chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định về hoạt động KH&CN

- Chính sách KH&CN phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá

nhân và nhóm xã hội trong lĩnh vực KH&CN

- Chính sách KH&CN phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm

xã hội nói trên vào mục tiêu phát triển KH&CN, trên cơ sở đó phát triển kinh

tế - xã hội nói chung

1.2 Công tác bảo tồn di sản

1.2.1 Khái niệm về công tác bảo tồn

Có nhiều khái niệm, định nghĩa về thuật ngữ “bảo tồn” và “phát huy” nhưng để làm rõ hơn khái niệm về bảo tồn ta có thể hiểu như sau: Bảo tồn di sản được hiểu như là các nỗ lực nhằm bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của di sản theo dạng thức vốn có của nó

Về quan điểm bảo tồn cũng có nhiều quan điểm khác nhau Nhưng trên thế giới vẫn tựu trung 2 quan điểm như sau: Bảo tồn nguyên vẹn và bảo tồn trên cơ sở kế thừa

Quan điểm bảo tồn nguyên vẹn, theo Gregory J.Ashworth, thì được phát triển đầu tiên từ những năm 50 của thế kỷ XIX Quan điểm bảo tồn nguyện vẹn này được khá nhiều học giả ủng hộ, đặc biệt các nhà bảo tồn, bảo

tàng trong lĩnh vực di sản văn hóa Những người theo quan điểm Bảo tồn

nguyên vẹn cho rằng, những sản phẩm của quá khứ, nên được bảo vệ một

cách nguyên vẹn, như nó vốn có, cố gắng phục hồi nguyên gốc các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể cũng như cố gắng cách ly di sản khỏi môi trường xã hội đương đại Họ cho rằng, mỗi di sản chứa đựng những giá trị văn hóa - xã

Trang 22

hội nhất định mà không phải lúc nào thế hệ hiện tại có hiểu biết một cách cụ thể để có thể phát huy những giá trị ấy một cách thích hợp Hơn nữa, những giá trị văn hóa ấy luôn biến đổi theo thời gian do những tác động của xã hội hiện tại và sẽ tạo nên những lớp văn hóa khác không trùng nghĩa với lớp văn hóa mà thế hệ trước chuyển giao cho thế hệ sau, vì thế, có thể làm cho các thế

hệ sau nữa không thể truy nguyên được những giá trị di sản đang tồn tại Chính vì như vậy, những người theo quan điểm này cho rằng, do chúng ta chưa có đủ thông tin, trình độ hiểu biết để có thể lý giải giá trị của các di sản văn hóa, chúng ta nên giữ nguyên trạng những di sản này để khi có điều kiện, các thế hệ tiếp nối có thể xử lý, giải thích và tìm cách kế thừa, phát huy di sản một cách tốt hơn

Với quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa thì được các học giả nước ngoài hiện nay quan tâm nhiều hơn và là một xu thế khá phổ biến khi bàn đến

di sản Có thể kể đến như Alfrey, Putnam, Ashworth và P.J Larkham xem di sản như một ngành công nghiệp và cần phải có cách thức quản lý di sản tương

tự với cách thức quản lý của một ngành công nghiệp văn hóa với những logic quản lý đặc biệt, phù hợp với tính đặc thù của các di sản Hoặc các nhà nghiên cứu Anh, Mỹ như Boniface, Fowler, Prentice,… thì cho rằng không thể không

đề cập đến phát triển du lịch trong vấn đề bảo tồn và phát huy di sản Cách tiếp cận của các nhà khoa học này sống động hơn, quan tâm di sản văn hóa để phát triển du lịch, để khẳng định tính đa dạng trong sáng tạo của con người Còn các tác giả như Corner và Harvey cũng cho rằng việc quản lý di sản cần đặt dưới một cách tiếp cận toàn cầu hóa Ngoài ra, các tác giả như Moore và Caulton cũng cho rằng cần quan tâm làm thế nào lưu giữ được các di sản văn hóa thông qua cách tiếp cận mới và phương tiện kỹ thuật mới Nhìn chung, quan điểm lý thuyết này dựa trên cơ sở mỗi di sản cần phải được thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình ở một thời gian và không gian cụ thể Khi di sản

Trang 23

ấy tồn tại ở thời gian và không gian hiện tại, di sản ấy cần phát huy giá trị văn hóa - xã hội phù hợp với xã hội hiện nay và phải loại bỏ đi những gì không phù hợp với xã hội ấy

Với quan điểm thứ nhất là đóng gói các sản phẩm văn hóa cần được bảo vệ trong môi trường khép kín để tránh mọi tác động bên ngoài làm phương hại đến chúng Khuynh hướng này mang lại một số kết quả rất đáng quan tâm Nhờ các hoạt động bảo tồn đó, trong nhiều năm qua, chúng ta đã lưu giữ được nhiều sắc thái văn hóa dân tộc Tuy nhiên, văn hóa nói chung trong đó có văn hóa phi vật thể luôn gắn bó với đời sống, con người, với môi trường xã hội Do đó, nó luôn biến đổi để phù hợp với mọi thay đổi của cuộc sống Bởi vậy, bảo tồn theo khuynh hướng này bộc lộ hạn chế là làm khô cứng các sản phẩm văn hóa

Với quan điểm thứ hai là quan điểm thả nổi Sản phẩm văn hóa nào có sức sống mãnh liệt, có giá trị, có nền tảng vững chắc do được chắt lọc, chưng cất, được thử thách qua nhiều bước thăng trầm của lịch sử sẽ có nhiều cơ hội

và lợi thế tự khẳng định mình nhiều hơn Điều đó phụ thuộc vào các tiêu chí

và hệ giá trị Bởi vậy, khi chúng ta sử dụng hệ giá trị hôm nay làm thước đo

sự thay đổi các sản phẩm văn hóa truyền thống, khuynh hướng thả nổi sẽ đẩy nhanh quá trình làm biến dạng các tiêu chí và chuẩn mực vốn đã được định hình từ lâu Những sản phẩm văn hóa truyền thống tuy mang đậm nét đặc thù nhưng khi đặt trong hệ quy chiếu mới nếu không được điều chỉnh sẽ khó có

cơ hội tồn tại lâu dài

Rõ ràng là cả hai quan điểm trên đều xuất phát từ cách hiểu máy móc, siêu hình, thiếu cái nhìn biện chứng về khái niệm bảo tồn Chỉ có thể hiểu một cách đầy đủ và đúng nghĩa khi đặt hoạt động bảo tồn trong mối quan hệ với phát huy Ngoài việc lưu giữ để không mất đi các giá trị văn hóa, bảo tồn còn phải biết lựa chọn trong các hiện tượng đang có nguy cơ bị mất đi, những yếu

Trang 24

tố, những khả năng tiềm ẩn để làm cho chúng tồn tại cùng với sự phát triển đi lên của cuộc sống Mục đích sâu xa của bảo tồn là đưa di sản văn hóa vào cuộc sống để phát huy giá trị của chúng Quan điểm trên cần phải được nhìn nhận một cách linh hoạt Nói tóm lại là bảo tồn di sản văn hóa cần phải đi kèm với khai thác, phát huy giá trị của nó trong đời sống Mặt khác, việc bảo tồn cần phải quan tâm đến những đặc điểm xã hội trong từng thời điểm cụ thể, tức là phải lựa chọn để bảo tồn những gì phù hợp với thời đại Chỉ có như vậy, hoạt động bảo tồn mới có ý nghĩa và có tính khả thi mà không trở thành lực cản đối với sự phát triển của xã hội

1.2.2 Khái niệm về di sản văn hóa

1.2.2.1 Di sản văn hóa

Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, có rất nhiều quan niệm

và định nghĩa về văn hóa và di sản văn hóa Theo tác giả Nguyễn Hữu Đang, Đặng Thai Mai và Nguyễn Hữu Đang (Tiên Phong, số 1, ngày 10-11-1945, trang 3-5 trích Sưu Tập Trọn Bộ Tiên Phong, NXB Hội Nhà Văn, 1996, trang

17-19) trong bài Định nghĩa về văn hóa “ Danh từ “ Văn hóa” chúng ta đã

mượn ở tiếng Tàu – Người Tầu lấy hai chữ này ở sách cổ_ bộ Kinh Dịch_ để phô diễn một khái niệm mới của Khoa học hiện đại Cho nên xét theo từ nguyên thì chữ Văn hóa không ngụ được cái ý nghĩa cơ bản là giồng giọt, cầy cấy trong chữ “cultus” của tiếng La- tinh (tiếng Pháp: culture, tiếng Anh: cultures, tiếng Đức: kultur) Vậy muốn có ý nghĩa xác đáng ta phải công nhận cho chữ “Văn hóa” hiện thời một nghĩa mới nguồn gốc tự Tây Phương” [1, tr

17-19] Đào Duy Anh trong cuốn Việt Nam văn hóa sử cương đã viết ngay ở bài Tựa của cuốn sách “Theo giới thuyết của Felix Sartiaux thì Văn hóa về

phương diện động là cuộc phát triển tiến bộ mà không ngừng của những tác dụng ấy tuy liên lạc mà vẫn riêng nhau Về phương diện tĩnh thì văn hóa là trạng thái tiến bộ của những tác dụng ấy ở một thời gian nhất định và tất cả

Trang 25

các tính chất mà những tác dụng ấy bầy ra ở xã hội loài người “ [1, tr10]

Tiếp đó trong Thiên Thứ Nhất, phần Tự luận, tác giả Đào Duy Anh đã đặt

ngay câu hỏi “Văn hóa là gì?” và ông kết luận: “ Văn hóa chẳng qua là chỉ

chung tất cả các phương tiện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: Văn hóa tức là sinh hoạt” [1, tr 13]

“ Văn hóa không phải là một lĩnh vực riêng biệt Văn hóa là tổng thể nói chung những giá tị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra Văn hóa là chìa khóa của sự phát triển” tác giả Trần Ngọc Thêm lại định nghĩa về

văn hóa nhƣ sau: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh

thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội “ Tác

giả Phan Ngọc: “ Không có cái vật gì gọi là văn hóa cả và ngược lại bất kì vật

gì cũng có cái mặt văn hóa Văn hóa là mối quan hệ Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với tộc người khác, cá nhân khác Nét khác biệt giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa khác nhau là độ khúc xạ Tất cả mọi cái mà tộc người tiếp thu hay sáng tạo đều có một độ khúc xạ riêng, có mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc người khác”

Nhƣ vậy, có thể đƣa ra định nghĩa cơ bản về Di sản văn hóa nhƣ sau:

Di sản văn hóa là những sản phẩm vật chất và tinh thần do con người tạo ra

và được sử dụng phục vụ cho đời sống của con người, từ đó hình thành,khẳng định các giá trị của chúng về lịch sử, văn hóa, khoa học… Dựa theo quan

điểm của UNESCO, Di sản văn hóa đƣợc phân thành hai loại: Di sản văn hóa Vật thể và di sản văn hóa phi vật thể

- Di sản văn hóa vật thể: bao gồm những vật thể (hữu hình - Tangible)

có giá trị đặc biệt về các mặt văn hóa, lịch sử và tự nhiên, do một cộng đồng

Trang 26

văn hóa – xã hội nào đó tạo ra Đó là những di vật, di tích như đền đài, cung điện, chùa chiền, lăng mộ, những hiện vật bảo tàng, thư tịch, tài liệu lưu trữ, mẫu vật tự nhiên, thắng cảnh thiên nhiên, và những hiện vật quý hiếm khác

- Di sản văn hóa phi vật thể

Trong luật Di sản Văn hóa được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 21/6/2001, di sản văn hóa phi vật thể đã được

nhìn nhận là: “Di sản văn hóa quy định tại luật này bao gồm di sản văn hóa

phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Điều 4, khoản 1 trong điều luật

này định nghĩa: “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị

lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân ca, lối sống, nếpsống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y dược học cổtruyền, về văn hóa ẩm thực,

về văn hóa truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác” [13]

Tính từ Công ước di sản thế giới (Paris, 1972) trở về trước, trong nhận thức về di sản văn hóa của nhân loại, UNESCO mới quan tâm đến các di sản khảo cổ, kiến trúc, địa danh văn hóa và tự nhiên trong danh mục Di sản thế giới Di sản văn hóa phi vật thể vẫn chưa được đề cập đến với tư cách như là những di sản của nhân loại Năm 1989, với một nhân thức hoàn toàn khác hẳn, đa diện hơn, nhiều chiều hơn, UNESCO đã xây dựng văn bản quốc tế bảo vệ di sản văn hóa truyền miệng và vô hình của nhân loại, bảo vệ văn hóa truyền thống và văn hóa dân gian Tuyên bố về kiệt tác di sản truyền miệng và

vô hình của nhân loại được thông qua tại Paris năm 1989 đã định nghĩa: “Di

sản văn hóa phi vật thể (Intangible Cultural Heritage) là toàn bộ những sáng

Trang 27

tạo dựa trên cơ sở truyền thống của một cộng đồng văn hóa, được thể hiện bởi một nhóm hoặc cá nhân và được công nhận là phản ánh những mong muốn của một cộng đồng tới mức mà chúng phản ánh được bản sắc văn hóa

và xã hội của cộng đồng đó; những tiêu chuẩn và giá trị của những sáng tạo này được truyền miệng bằng cách mô phỏng hay bằng các hình thức khác Trong số những hình thức sáng tạo, hình thức của dạng sáng tạo này bao gồm ngôn ngữ, văn học, âm nhạc, điệu múa, trò chơi, thần thoại, lễ nghi, phong tục, đồ thủ công, kiến trúc và các loại hình nghệ thuật khác Ngoài những hình thức này, người ta cũng tính đến thông tin liên lạc truyền thống

Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát: Văn hóa phi vật thể đó là một

dạng tồn tại (hay thể hiện) của văn hóa không phải chủ yếu dưới dạng vật thể

có hình khối tồn tại khách quan trong không gian và thời gian, mà nó thường tiềm ẩn trong trí nhớ, tập tính, hành vi, ứng xử của con người và thông qua các hoạt động sốngcủa con người trong sản xuất, giao tiếp xã hội trong hoạt động tư tưởng và văn hóa - nghệ thuật mà thể hiện ra, khiến người ta nhận biết được sự tồn tại của nó

Có thể kể ra đây những dạng thức chính của di sản văn hóa phi vật thể: Ngữ văn truyền miệng, như thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, ca dao, thành ngữ, tục ngữ, vè, ngụ ngôn Các hình thức diễn xướng và trình diễn bao gồm các hình thức ca múa, nhạc, sân khấu (nghệ thuật diễn xướng)

1.3 Công nghệ và công nghệ 3D

1.3.1 Khái niệm công nghệ

Trên thế giới hiện nay việc đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về công nghệ lại chưa có được sự thống nhất, các công nghệ hiện có trên toàn cầu nhiều đến mức không thể thống kê được Công nghệ lại hết sức đa dạng, khiến những người sử dụng một công nghệ cụ thể trong những điều kiện và hoàn cảnh không giống nhau sẽ dẫn đến sự khái quát của họ về công nghệ sẽ

Trang 28

khác nhau Bên cạnh đó, sự phát triển như mạnh vũ bão của KH&CN làm thay đổi nhiều quan niệm cũ tưởng như vĩnh cửu, cũng là nguyên nhân dẫn đến sự không thống nhất trên Tuy nhiên, xét trên góc độ khoa học quản lý, việc đưa ra được định nghĩa khái quát về công nghệ là một việc làm mang tính cần thiết, bởi vì không thể quản lý được công nghệ khi chưa biết rõ công nghệ là gì

Nawaz Sharif and K Ramanathan (1988) đã chỉ ra rằng: công nghệ có bốn thành phần là thiết bị, con người, thông tin và tổ chức

+ Thành phần thiết bị (Technoware): bao gồm các công cụ, các phương tiện sản xuất thực hiện các hoạt động sản xuất để tạo ra các sản phẩm mong muốn Thành phần thiết bị gồm hệ thống biến đổi nguyên vật liệu và hệ thống

(Technoware) bởi thành phần con người (Humanware) nó có thể được thể

hiện thông qua các thuật ngữ như nội quy công việc, tổ chức công việc, sự thuận tiện trong công việc, đánh giá công việc và giảm nhẹ công việc

+ Thành phần thông tin (Inforware): Biểu thị việc nhạy bén nắm bắt thông tin, tích lũy kiến thức bởi con người Dù có tổ chức tốt, “con người” cũng không thể sử dụng “máy móc” hiệu quả nếu không có cơ sở “thông tin, tài liệu”

Định nghĩa này đã được ESCAP mở rộng thêm: “bao gồm tất cả các kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất chế tạo, dịch

vụ, quản lý, thông tin”

Định nghĩa này không coi công nghệ phải gắn chặt với quá trình sản

Trang 29

xuất chế tạo ra các sản phẩm cụ thể, mà mở rộng khái niệm công nghệ ra các lĩnh vực dịch vụ và quản lý Và do vậy, nó được coi là một bước ngoặt trong lịch sử quan niệm về công nghệ

Ở Việt Nam, trước đây có quan niệm cho rằng: “Công nghệ là kiến

thức, kết quả của khoa học ứng dụng nhằm biến đổi các nguồn lực thành các mục tiêu sinh lợi” Tuy nhiên, cách hiểu phổ biến nhất hiện nay, phù hợp với

các quan điểm, chính sách phát triển và quản lý công nghệ

Tùy theo mục đích, người ta phân loại các công nghệ như sau:

- Theo tính chất: Công nghệ sản xuất, công nghệ biên tập, công nghệ

dịch vụ, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ đào tạo

- Theo ngành nghề: Công nghệ công nghiệp, công nghệ nông nghiệp;

công nghệ sản xuất hàng tiêu dùng, công nghệ vật liệu

- Theo đặc tính công nghệ: Công nghệ đơn chiếc, công nghệ hàng loạt,

công nghệ liên tục

- Theo sản phẩm: Phân theo sản phẩm mà công nghệ sản xuất ra; Ví dụ:

công nghệ xi măng, năng lượng, ô tô, xe đạp,

- Theo mức độ hiện đại: cổ điển, trung gian, tiên tiến

- Theo mục tiêu: Dẫn dắt, thúc đẩy, phát triển

- Theo sự ổn định công nghệ: Công nghệ cứng, công nghệ mềm, công

nghệ Nano

Theo luật KH&CN (2000) của Việt Nam đưa ra khái niệm công nghệ:

“Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công

cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”

Để phù hợp với quy định của Luật Chuyển giao công nghệ (2006), Luật

KH&CN (2013) của Việt Nam đưa ra khái niệm công nghệ: Công nghệ là giải

pháp, quy trình, bí quyết công nghệ có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm [14; điều 3.2]

Trang 30

1.3.2 Vai trò của công nghệ

Nhiều nhà kinh tế đồng ý rằng sự tiến bộ về công nghệ là nhân tố chính cho tăng trưởng kinh tế và đến lượt nó, các họat động nghiên cứu và chuyển giao là động lực chủ yếu cho các tiến bộ về công nghệ Mặt khác, nhiều nhà kinh tế còn nhấn mạnh hơn và cho rằng các lí thuyết về tăng trưởng cổ điển với việc khẳng định lao động và vốn thì chưa đủ để đóng góp cho sự tăng trưởng của nền kinh tế

Một số lý thuyết kinh tế đề cập nhiều đến mối quan hệ giữa tiến bộ về công nghệ và phát triển kinh tế Lý thuyết tăng trưởng mới nhấn mạnh tốc độ tăng trưởng do nguồn vốn con người, bao gồm các tri thức hay các ý tưởng sáng tạo từ khu vực doanh nghiệp, trường học và chính phủ Cách tiếp cận này như thế cho rằng các ý tưởng mới là nguồn gốc dẫn đến sự cải tiến về công nghệ và do đó dẫn đến sự cải thiện về năng suất

Một đặc điểm nổi bật của thế giới ngày nay là sự phân chia giàu nghèo ngày càng lớn giữa các nước phát triển và đang phát triển Một số nước đang phát triển ở châu Á, đặc biệt là tại các nước Đông Nam Á đã vươn lên rút ngắn thời gian và đạt được sự tăng trưởng nhanh chóng, giảm khoảng cách giàu nghèo trong khuôn khổ của phát triển bền vững bằng con đường CNH Trong đó, vai trò thúc đẩy của công nghệ đóng vai trò cốt lõi của mọi quá trình Có thể hiểu công nghệ là tổng hợp các giải pháp cũng như công cụ để chuyển đổi các nguồn tài nguyên thiên nhiên và sức lao động của con người thành sản phẩm hàng hoá và dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của xã hội Chính công nghệ là yếu tố quyết định mức độ hiệu quả trong việc sử dụng tài nguyên, làm nên sự thay đổi xã hội Lịch sử phát triển của xã hội loài người

đã chứng minh mối quan hệ biện chứng giữa công nghệ và phát triển bằng việc tăng cường áp dụng công nghệ, xã hội loài người đã từng bước chuyển dịch vị thế của mình từ thế giới tự nhiên sang xã hội Công nghệ cũng chính

Trang 31

là yếu tố quyết định sự thịnh vượng hay suy vong của một quốc gia

Trong xã hội hiện đại, vai trò của công nghệ ngày càng tăng lên Nó đã

và đang trở thành hàng hoá được chuyển giao trên thị trường và được bảo hộ bằng pháp luật Những tiến bộ như vũ bão của KH&CN trong hai thập kỷ qua, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ Nano, tự động hoá đã làm đảo lộn tư duy và chiến lược của nhiều nước Không ai còn có thể hoài nghi về vai trò của công nghệ trong phát triển kinh

tế toàn cầu và của mỗi quốc gia

1.3.3.Công nghệ 3D

Các năm gần đây, một trong các biện pháp quản lý đối tượng, vật thể quý hiếm đã được nhắc đến là số hóa 3D, lưu trữ dữ liệu 3D và trong xã hội

đã hình thành thị trường các dịch vụ số hóa 3D và dữ liệu lưu trữ 3D

Đối tượng số hóa 3D có nguồn gốc từ cuộc sống thực tế, các hiện vật bảo tàng, công trình xây dựng, giao thông Đối tượng số hóa 3D trở thành dữ liệu điện tử qua quá trình số hóa 3D của đối tượng thực tế Đây là quá trình chuyển các đối tượng thực tế truyền thống như các vật thể, tư liệu lịch sử, mô hình công trình xây dựng, giao thông, các chi tiết chế tạo máy … sang chuẩn

dữ liệu 3D lưu trữ trên các phương tiện điện tử và được các phương tiện đó nhận biết được gọi là số hóa 3D và chúng trở thành dữ liệu số 3D

Từ đó, về mặt lý thuyết, ta hiểu số hóa 3D là quá trình chuyển các đối tượng vật thể thực tế 3 chiều truyền thống sang chuẩn dữ liệu trên máy tính và được máy tính nhận biết

Để việc số hóa 3D được hiệu quả và chính xác thì việc áp dụng quy trình số hóa 3D theo chuẩn là điều cần thiết

Cũng tương tự như công nghệ nói chung, công nghệ 3D cũng có 4 thành phần chính sau đây:

- Công nghệ (T): bao gồm các máy móc, trang thiết bị

Trang 32

- Con người (H): nhân lực sử dụng CD 3D, kỷ năng học hỏi, tích lũy được trong quá trình hoạt động

- Thông tin (I): Bao gồm các dữ liệu về phần công nghệ 3D, các lý thuyết, phương pháp, công thức và các bí quyết

- Tổ chức (0): Cấu trúc tổ chức, những quy định về quyền hạn, trách nhiệm, sự phối hợp giữa các cá nhân

Quan niệm của tác giả Luận văn về công nghệ 3D:

Công nghệ 3D là giải pháp, quy trình, bí quyết công nghệ có kèm theo công cụ, phương tiện dùng để phục vụ việc bảo tồn di sản văn hóa

Trong đó nhấn mạnh đến các yếu tố: Thiết bị 3D, nhân lực sử dụng 3D, thông tin 3D và tổ chức

Ứng dụng công nghệ 3D

Ứng dụng công nghệ 3D là “chìa khoá” công nghệ cho tương lai mà bất

cứ doanh nghiệp nào, bất cứ ngành công nghiệp sản xuất nào và bất cứ quốc gia nào đều phải chú ý, để hiểu được tầm quan trọng, các ứng dụng và các cơ

hội về sản xuất, kinh tế hay xã hội liên quan

Khái niệm ứng dụng công nghệ 3D

- Công nghệ 3D đang là một trong những xu hướng phát triển mới của

khoa học kỹ thuật

- Nhờ công nghệ 3D, chúng ta sẽ có thể chế tạo những đồ vật với giá thành rẻ hơn và thời gian ngắn hơn rất nhiều

- Ứng dụng của công nghệ in 3D rất rộng rãi, từ xây dựng, thời trang, y

học, đến các ngành công nghiệp như sản xuất ô tô, máy bay, vũ trụ, bảo tồn…

1.3.3.3 Ứng dụng công nghệ 3D trong công tác bảo tồn di sản văn hóa

Câu chuyện của bảo tồn - khôi phục - gìn giữ những di sản, những công trình văn hóa có lẽ không còn là vấn đề quá mới mẻ tại Việt Nam

Trang 33

Chắc hẳn ai trong chúng ta vẫn nhói lòng mỗi khi chứng kiến một di tích xuống cấp do sự tàn phá của thời gian, tác động của ô nhiễm môi trường hay thậm chí là bị dỡ bỏ Giờ đây, áp dụng công nghệ 3D scanning, các công trình không chỉ được bảo tồn trên nền tảng kỹ thuật số mà còn hứa hẹn sẽ trở thành công cụ quảng bá hình ảnh xinh đẹp của Việt nam đến với thế giới, giúp

du khách dễ dàng tới thăm quan bất kỳ lúc nào mà không cần phải đến tận nơi

3D scanning là gì?

3D scanning là công tác sử dụng thiết bị quét đặc biệt, có khả năng phát

và thu tín hiệu lazer, đồng thời chụp hình 360 độ nhờ vào các camera chuyên dụng Dựa vào dữ liệu máy quét thu được mà phần mềm sẽ tính toán ra vị trí tọa độ trong không gian 3 chiều của một điểm bất kỳ, sau đó số hóa dữ liệu này dưới dạng khối: đám mây điểm, lưới tam giác rồi gắn vật liệu lại tái tạo lại thành không gian 3D

Không chỉ giúp hiển thị hình ảnh ở tất cả các chiều trái phải, trên dưới, với sản phẩm này người xem còn có thể di chuyển từ điểm này sang điểm khác, khám phá các không gian khác nhau, hay thậm chí nhìn bao quát toàn

bộ không gian từ trên cao Mọi chi tiết trong không gian đều được tái hiện lại 100% Đồ vật, màu sắc, vật liệu đều được quét lại một cách chính xác, giúp người xem trải nghiệm không gian một cách chân thực nhất Tùy vào yêu cầu mức độ chi tiết của vật thể mà có nhiều loại máy khác nhau Với máy quét 3D không gian cho tham khảo bảo tồn và du lịch, thời gian quét và trả không gian 3D chỉ trong 24-48 giờ đồng hồ

Ứng dụng 3D scanning cho bảo tồn di sản tại Việt Nam

Gần đây việc ra mắt và bàn giao công trình tham quan ảo Nhà hát Lớn

Hà Nội hứa hẹn sẽ đóng góp quan trọng vào việc bảo tồn và phát huy giá trị

di sản văn hóa trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0

Công trình tham quan ảo Nhà hát Lớn Hà Nội kéo dài khoảng 15 phút, được để ở chế độ tự động với các cảnh quay độc đáo sẽ mang đến cho du

Trang 34

khách bữa tiệc văn hóa mãn nhãn Tham quan ảo Nhà hát Lớn Hà Nội hiện có

18 cảnh thực tại ảo, tương ứng với 18 điểm nhìn của người tham quan Ở dưới cửa số ảnh là dây icone thu nhỏ của các cảnh này Người xem có thể chọn và bấm chuột để xem một cảnh bất kỳ Không chỉ được thưởng thức vẻ đẹp kiến trúc của nhà hát, người xem còn được thưởng thức âm nhạc dịu êm qua những tác phẩm âm nhạc nổi tiếng của Pháp Lời thoại giới thiệu về từng điểm đến thăm quan được biên soạn công phu bằng 3 thứ tiếng Việt, Pháp, Anh

Chuyến thăm quan ảo này sẽ cung cấp cho khách tham quan kiến thức phong phú về quá trình xây dựng, những nét độc đáo của kiến trúc Nhà hát, tiến trình hiện đại hóa sân khấu và âm nhạc Việt Nam đầu thế ký XX; cuộc đời

và đóng góp của nhà viết kịch Vũ Đình Long - cha đẻ của ngành kịch nói Việt Nam và ông Claude Bourrin - Giám đốc đầu tiên của Nhà hát Lớn Hà Nội

Tham quan ảo Nhà hát Lớn Hà Nội” là một sản phẩm ứng dụng công nghệ thông tin và đa phương tiện cao cấp triển khai trên mạng internet Do đó, người sử dụng chỉ cần một thiết bị thông minh và một kết nối internet là có thể truy cập ứng dụng và thực hiện một chuyến tham quan thú vị, khám phá, tìm hiểu Nhà hát Lớn Hà Nội, một công trình kiến trúc hơn 100 năm tuổi, một

di sản kiến trúc và lịch sử đã được xếp hạng cấp quốc gia của Thủ đô

Trong thời đại Đổi mới và Hội nhập, ý thức được tầm quan trọng của công trình, Lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và cũng như Nhà hát lớn Hà Nội đã có chủ chương đẩy mạnh việc bảo tồn, khai thác và quảng bá Nhà hát lớn Hà Nội Cùng với việc đẩy mạnh các hoạt động biểu diễn để tạo điều kiện cho đông đảo những người yêu nghệ thuật có điều kiện được thưởng thức nghệ thuật đỉnh cao

1.4 Khái niệm “chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ 3D”

Chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ 3D:

- Những năm gần đây, nhu cầu bảo tồn các di sản ngày càng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết Cuộc chiến tranh ở Trung Đông phá hủy và xóa sạch nhiều di tích cổ xưa Trong khi đó tại những khu vực khác, mọi người

Trang 35

cũng đang bất lực trước sự tàn phá do thảm họa tự nhiên, tình trạng phá hoại văn hóa, nạn bài trừ các tác phẩm nghệ thuật cũng như sự thiếu sự quan tâm đến gìn giữ di sản Vấn đề đặt ra rằng liệu chúng ta có thể làm được gì để ngăn chặn sự mất mát những di sản văn hóa quý giá này trong tương lai?

- Nhằm khắc phục tình trạng này, việc ứng dụng các phương tiện kỹ thuật số như quét laser để tạo ra các mô hình 3D được coi là phương pháp hữu hiệu trong công cuộc bảo tồn di tích cổ đại và các di sản văn hóa Trước hết UDCN 3D có thể bảo tồn được các giá trị nguyên bản, nguyên gốc Thứ hai Làm sáng rõ được những đóng góp những giá trị tinh thần chứa đựng trong mỗi di sản văn hóa Và cuối cùng là mở rổng ảnh hưởng tạo nên sức lan tỏa của giá trị đó đối với công chúng

Chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ 3D trong công tác bảo tồn di sản văn hóa nhằm đưa ra những giải pháp tối ưu trong công tác bảo tồn, quảng

bá, phát triển và khai thác các di sản văn hóa phục vụ cho sự nghiệp phát triển giáo dục, du lịch và công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Từ đó, học viên xin đưa ra quan niệm Chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ 3D trong công tác bảo tồn di sản văn hóa như sau: Chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ 3D trong công tác bảo tồn di sản văn hóa là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa bằng các văn bản pháp quy do các chủ thể quản lý ban hành nhằm thúc đẩy quá trình ứng dụng công nghệ 3D trong công tác bảo tồn di sản văn hóa

Việc đánh giá Chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ 3D trong công tác bảo tồn di sản văn hóa được dựa trên cơ sở lý thuyết đánh giá tác động

dương tính, tác động âm tính, kiến tạo xã hội của chính sách

Chương 3 của Luận văn sẽ tập trung phân tích Giải pháp chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ 3D trong công tác bảo tồn di sản văn hóa thông qua chính sách tuyên truyền về các định hướng bảo tồn di sản bằng công nghệ 3D; xã hội hóa việc bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa, tranh thủ sự giúp đỡ, hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, các nước trong khu vực, trên thế giới;

Trang 36

chính sách thúc đẩy thành lập Hiệp hội ứng dụng công nghệ 3D trong công tác bảo tồn di sản; và lập dự án bảo tồn di sản với ứng dụng công nghệ 3D hàng năm

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Luận văn đã khảo sát các khái niệm có liên quan đến chủ đề Luận văn bao gồm: khái niệm chính sách; Chính sách khoa học & Công nghệ; Công nghệ; Công nghệ 3D; chuyển giao công nghệ; Phân loại công nghệ 3D Luận văn đã nêu lên sự khác biệt giữa việc thúc đẩy ứng dụng công nghệ nói chung

và công nghệ 3D nói riêng, trong đó cho thấy có mối quan hệ giữa chính sách tài chính với việc thúc đẩy ứng dụng CN 3D Trong chương I, học viên đã phân tích cơ sở lý thuyết về quy luật “Cung - cầu”, quy luật “Cạnh tranh” để làm căn cứ của luận văn Dựa trên việc phân tích các khái niệm cơ bản, học viên cũng đưa ra khái niệm về “Chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ 3D trong công tác bảo tồn di sản văn hóa” làm cơ sở để xây dựng chính sách nhằm thúc đẩy bảo tồn và phát huy di sản văn hóa

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ 3D TRONG CÔNG TÁC BẢO TỒN DI SẢN TẠI NHÀ HÁT LỚN

2.1 Tình hình ứng dụng công nghệ 3D trong công tác bảo tồn di sản văn hóa

Hiện tại chưa có chính sách riêng dành cho ứng dụng công nghệ 3D,

mà chỉ có chính sách ứng dụng các thành tưu khoa học và công nghệ vào công tác bảo tồn di sản Học viên nghĩ công nghệ 3D cũng là một trong những thành tựu khoa học và công nghệ, học viên xin nêu các chính sách đang được

áp dụng cho việc ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ trong công tác bảo tồn di sản

Năm 2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày

21 tháng 9 năm 2010 về một số điều của Luật di sản văn hóa, trong đó nêu rõ được phép áp dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào các hoạt động bảo quản, tu bổ và tôn tạo di sản Đặc biệt, Chính phủ khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức, các nhân trong nước và nước ngoài đóng góp về tinh thần và vật chất hoặc trực tiếp tham gia các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa

Chính sách thúc đẩy ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ trong công tác bảo tồn di sản văn hóa vật thể

Năm 2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 86/2005/NĐ-CP ngày

08 tháng 7 năm 2005 của Chính phủ về quản lý và bảo vệ di sản văn hóa dưới nước Nghị định quy định các chính sách của Nhà nước đối với ứng dụng công nghệ trong công tác bảo tồn di sản như sau: - Khuyến khích, khích lễ kịp thời việc nghiên cứu áp dụng các thành tựu khoa học và công nghệ vào hoạt động quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản dưới nước; mọi tổ chức, cá

Trang 38

nhân có trách nhiệm ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ vào việc

bảo quản di sản văn hóa dưới nước

Chính sách thúc đẩy ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ trong công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, việc xây dựng và thực hiện các cơ chế, chính sách về bảo tồn di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa phi vật thể nói riêng ở nước ta thời gian qua đã và đang đạt được những thành tựu rất đáng khích lệ

Nhìn chung, từ kết quả của việc học tập, phổ biến Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI và những nội dung cơ bản của Luật Di sản văn hóa, hệ thống cán bộ quản lý các cấp và đông đảo quần chúng đã có những nhận thức cơ bản về vai trò quan trọng của các di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa phi vật thể nói riêng; đồng thời đã và đang tích cực thực hiện những cơ chế, chính sách nhằm khai thác những tiềm năng của kho tàng di sản phục vụ công tác phát triển kinh tế -

xã hội

Hàng trăm chương trình, đề án, kế hoạch hành động bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có nhiều chương trình lớn có tính liên ngành đã và đang được thực thi Ngoài ra, hàng trăm dự án nghiên cứu, sưu tầm và tư liệu hóa di sản văn hóa phi vật thể cũng đã được thực hiện với sự phối hợp, liên kết ở hầu khắp các tỉnh, thành phố trong cả nước bằng nguồn ngân sách địa phương và nguồn xã hội hóa với những hình thức khác nhau

Công tác kiểm kê nhằm nhận diện di sản văn hóa phi vật thể, tạo cơ sở gắn kết các hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội đã và đang đạt được những kết quả rất đáng khích lệ Đến nay,

cả 63 tỉnh, thành phố đã thực hiện nhiệm vụ và thống kê được gần 60.000 di sản văn hóa phi vật thể thuộc những loại hình khác nhau Trên cơ sở đó, lựa

Trang 39

chọn các di sản tiêu biểu, xây dựng hồ sơ khoa học để đề nghị đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và tạo cơ sở quan trọng cho việc xây dựng và thực hiện các dự án khai thác phát triển du lịch theo hướng bền vững Đến nay, đã có 191 di sản thuộc cả 7 loại hình di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc sinh sống trên mọi miền đất nước được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Đặc biệt, tính đến tháng 12/2017, đã có 13 di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của Việt Nam được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp

Hiện tại chưa có chính sách cụ thể ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ cho công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, nhưng trên định hướng chung là ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ để bảo tồn tốt nhất cho di sản văn hóa

Hiện nay đã có nhiều tổ chức cá nhân trong nước và công ty nước ngoài thực hiện số hóa di sản văn hóa và lưu giữ dữ liệu vì mục đích truyền lại nền văn hóa cho thế hệ mai sau

Thực tế, từ những năm trước đó việc số hóa di sản đã được nhiều đơn

vị manh nha thực hiện Tuy nhiên, do sự phát triển của công nghệ còn nhiều hạn chế nên việc thực hiện còn gặp nhiều khó khăn Đặc biệt, để có được sự thành công Việt Nam đang rất cần sự hỗ trợ từ nước ngoài cả về vấn đề kinh phí lẫn công nghệ

Theo đó cách đây gần chục năm, trong khi kho sắc phong cả nước đang đứng trước nguy cơ mai một, xuống cấp thì Bảo tàng Bắc Ninh (tỉnh Bắc Ninh) đã nghiên cứu và thực hiện thành công việc số hóa công tác lưu trữ sắc phong, đồng thời mở dịch vụ khôi phục, làm lại sắc phong Mặc dù một quyết định khá táo bạo thế nhưng kéo theo đó vô vàn khó khăn mà đơn vị này

Ngày đăng: 28/12/2018, 10:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2014), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Nhã Nam, Hà Nội, 2. Đặng Văn Bài (2007), Báo cáo đề dẫn Hội thảo khoa học "Bảo tồn di tích và cuộc sống đương đại", http://www.nhandan.com.vn/vanhoa/di-san/item/2490802-.html, 26/1/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di tích và cuộc sống đương đại
Tác giả: Đào Duy Anh (2014), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Nhã Nam, Hà Nội, 2. Đặng Văn Bài
Nhà XB: Nxb Nhã Nam
Năm: 2007
8. Hoàng Phê (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nặng 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt", Nxb "Đà Nẵng, Đà Nặng
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb "Đà Nẵng
Năm: 2003
15. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2012),Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI" (2012),Nxb "Chính trị Quốc gia
Tác giả: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Nhà XB: Nxb "Chính trị Quốc gia"
Năm: 2012
16. Văn kiện Hội nghị lần thứ V (1998), Ban Chấp hành Trung ƣơng khóa VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.Tài liệu Tiếng nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ V (1998)", Ban Chấp hành Trung ƣơng khóa VIII, Nxb "Chính trị Quốc gia
Tác giả: Văn kiện Hội nghị lần thứ V
Nhà XB: Nxb "Chính trị Quốc gia"
Năm: 1998
1. Alessi, L. de., „Institutions, Competition, all Individual Welfare ‟, in N. Karlssoc (ed.), Can the Present Problems of Ma e Welfare States Such as Sweden be Solved?, Stockholm: City University Pres 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: „Institutions, Competition, all Individual Welfare ‟," in N. "Karlssoc (ed.), "Can the Present Problems of Ma e Welfare States Such as Sweden be Solved
2. Anholt, Simon, Competitive Identity: / new brand management for nations, cities and regions. Palgrave Macmillan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anholt, Simon, "Competitive Identity: / new brand management for nations, "cities and regions
3. Aymonier, El La langue franỗaise et Tea dignement en Indochine, Paris, Armani Colin, 1890 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aymonier, El La" langue franỗaise et Tea dignement en Indochine
4. Betty & Gibson, Culture and Developmea,. New Paradigms, Knowledge Notes. 2-2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Betty & Gibson, "Culture and Developmea,. New Paradigms
5. Boas (F), Anthropology and modem life, w York, Norton, 1962 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anthropology and modem life, w
6. Bruno Marshall Shirley, Development, L imacy and the role of State-The Asim Tigers from Independence to Industrialist, Victoria University of Wellington 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bruno Marshall Shirley, "Development, L imacy and the role of State-The Asim Tigers from Independence to Industrialist
6. Phạm Duy Đức (2017), Quan điểm của Đảng về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Báo Đảng Cộng Sản, http://dangcongsan.vn/tu-lieu-van-kien/tu-lieu-ve-dang/lich-su-dang/books-2928201510064846/index-592820151000374663.html Link
10. Ngô Đức Thịnh (2015), Gìn giữ văn hóa phi vật thể là bảo vệ con người, nhandan.com.vn,http://www.nhandan.com.vn/hangthang/quocte/tin-quoc-te/item/25583602-gin-giu%C2%A0van-hoa-phi-vat-the-la-bao-ve-con-nguoi.html, 20/1/2015 Link
11. Chu Thái Thành (2007), Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2007/2399/Giu-gin-va-phat-huy-ban-sac-van-hoa-dan-toc.aspx, 25/7/2007 Link
3. Phan Đình Diệu (2001), Tổng quan về Công Nghệ thông tin (CNTT) và tác động của nó tới sự phát triển kinh tế - xã hội, Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội Khác
4. Vũ Cao Đàm (2006), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Khác
5. Vũ Cao Đàm (2011), Giáo trình Khoa học chính sách, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Khác
7. Đặng Ngọc Lợi (2012), Chính sách công ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn, tạp chí Kinh tế và dự báo, số tháng 1/2012 Khác
9. Nguyễn Hồng Quang (2017), Bảo tồn di sản văn hóa trong thời đại công nghiệp 4.0, tin tham khảo Văn hóa, Thể thao và Du lịch quốc tế, số tháng 10/2017 Khác
2. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2012), Thông tƣ số 18/2012/TT- BVHTTDL ngày 28 tháng 12 năm 2012 về việc quy định chi tiết một số quy định về bảo quản, tu bổ, phục hội di tích Khác
3. Chính phủ (2010), Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w