ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN THỊ HỒNG VAI TRÒ CỦA LỄ HỘI THỜ THÁNH GIÓNG TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI DÂN HUYỆN SÓC SƠN – HÀ NỘ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ HỒNG
VAI TRÒ CỦA LỄ HỘI THỜ THÁNH GIÓNG TRONG
ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI DÂN
HUYỆN SÓC SƠN – HÀ NỘI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC
Hà Nội - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ HỒNG
VAI TRÒ CỦA LỄ HỘI THỜ THÁNH GIÓNG TRONG
ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI DÂN
HUYỆN SÓC SƠN – HÀ NỘI HIỆN NAY
Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành: Tôn giáo học
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, tư liệu, tài liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, khách quan
và có nguồn gốc rõ ràng Các kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
HỌC VIÊN
Nguyễn Thị Hồng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt bài luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân người viết còn có sự quan tâm, giúp đỡ quý báu từ nhiều cá nhân và tập thể Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn đã tạo điều kiện giúp tôi có một môi trường học tập tốt, các thầy cô Bộ môn Tôn giáo học đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại đây
Tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến phòng nội vụ huyện Sóc Sơn và ban quản lý khu du lịch - di tích đền Sóc (đền Gióng) - Sóc Sơn đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong thời gian hoàn thành luận văn Đặc biệt
là sự giúp đỡ tận tình của chị Đỗ Thị Oanh - nhân viên ban quản lý khu du lịch - di tích đền Sóc đã giúp đỡ về việc cung cấp cho tôi những tài liệu vô cùng hữu ích
Tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới TS Nguyễn Hữu Thụ Một người thầy tâm huyết với nghề, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong thời gian hoàn thành luận văn Sự giúp đỡ về mọi mặt từ phương pháp, tài liệu và những lời động viên của thầy đã giúp tôi thêm tự tin và quyết tâm hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 26 tháng 9 năm 2017
Học viên
Nguyễn Thị Hồng
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
STT Nội dung từ viết tắt Viết tắt Ghi chú
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 KHÁI LƯỢC CHUNG VỀ LỄ HỘI THỜ THÁNH GIÓNG VÀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI DÂN HUYỆN SÓC SƠN – HÀ NỘI 9
1.1 Khái lược chung về lễ hội thờ Thánh Gióng 9
1.1.1 Khái niệm lễ hội truyền thống 9
1.1.2 Tổng quan về lễ hội thờ Thánh Gióng ở Việt Nam 22
1.2 Tổng quan chung về huyện Sóc Sơn và đời sống tinh thần của người dân huyện Sóc Sơn, Hà Nội 46
1.2.1 Tổng quan chung về huyện Sóc Sơn, Hà Nội 46
1.2.2 Đời sống tinh thần của người dân huyện Sóc Sơn, Hà Nội 51
CHƯƠNG 2 NHỮNG BIỂU HIỆN VAI TRÒ CỦA LỄ HỘI THỜ THÁNH GIÓNG TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI DÂN HUYỆN SÓC SƠN – HÀ NỘI HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ 63
2.1 Những biểu hiện vai trò của lễ hội thờ Thánh gióng trong đời sống tinh thần của người dân huyện Sóc sơn - Hà Nội hiện nay 63
2.1.1 Vai trò của lễ hội thờ Thánh gióng đối với việc giáo dục đạo đức, xây dựng lối sống của người dân huyện Sóc Sơn 63
2.1.2 Vai trò của lễ hội thờ Thánh gióng đối với văn hóa nghệ thuật 68
2.2 Một số khuyến nghị để phát huy những giá trị và hạn chế những mặt trái của lễ hội thờ Thánh Gióng trong đời sống tinh thần của người dân huyện Sóc Sơn – Hà Nội hiện nay 77
2.2.1 Một số mặt trái của lễ hội thờ Thánh Gióng trong đời sống tinh thần của người dân huyện Sóc Sơn – Hà Nội hiện nay 77
2.2.2 Một số khuyến nghị 81
KẾT LUẬN 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 7
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Với lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam là một trong những nền văn hoá mang đậm dấu ấn của nền nông nghiệp trồng lúa nước Trong kho tàng văn hoá của dân tộc thì lễ hội dân gian truyền thống (hay hội làng, hội lễ, lễ tết) đã trở thành loại hình sinh hoạt văn hoá hết sức độc đáo của người Việt Có thể thấy rằng lễ hội hiện diện ở rất nhiều nơi trên lãnh thổ Việt Nam, nhưng nơi sinh ra và còn được lưu giữ được một cách tương đối nguyên mẫu loại hình sinh hoạt văn hoá dân gian này, chính là vùng đồng bằng Bắc bộ
Sự ra đời, tồn tại và biến đổi của lễ hội truyền thống luôn gắn bó và phản ánh đời sống thực của cộng đồng làng xã người Việt Lễ hội có thể gắn với một loại hình tín ngưỡng, tôn giáo nào đó; hoặc cũng có thể là sự tưởng nhớ đến một nhân vật (có thật hoặc không có thật) có công với làng, với nước Chính vì vậy, lễ hội truyền thống đã trở thành một kho tàng văn hoá của dân tộc – nơi bảo lưu, nuôi dưỡng và phát triển những giá trị văn hoá mang tính truyền thống của con người, của cộng đồng làng xã và dân tộc Việt Nam
Lễ hội thờ Thánh Gióng là một trong những lễ hội lớn nhất và quan trọng nhất ở Bắc Bộ, có vị trí đặc biệt trong đời sống tâm linh của người dân
Hà Thành cổ kính Lễ hội là một trong những di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của Đông Đô Thăng Long Hà Nội nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung Lễ hội Gióng đã có từ rất lâu đời trong văn hóa Việt Nam và vẫn được duy trì cho tới tận ngày nay, vì thế nó đã tích hợp trong mình nhiều lớp văn hóa trong lịch sử Việt Nam Đặc biệt, lễ hội thờ Thánh Gióng là lễ hội thể hiện tính tâm linh và tính dân tộc sâu sắc trong đời sống tinh thần của người dân Hà Nội nói riêng và người Việt Nam nói chung, thể hiện rõ nhất truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Lễ hội tái hiện lại trận đánh của
Trang 8Đức Thánh Gióng chiến thắng 28 đạo binh của giặc Ân, thể hiện được khí thế chiến thắng hào hùng và bản lĩnh vĩ đại của dân tộc Việt Chính vì vậy, năm
2010, Hội Gióng ở đền Sóc và đền Phù Đổng đã được UNESCO công nhận
và vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
Bên cạnh những giá trị văn hóa nổi trội như thể hiện rõ tinh thần yêu nước và lòng dũng cảm quật cường của dân tộc, lễ hội Gióng cũng hàm chứa trong mình nhiều giá trị văn hóa độc đáo và tiêu biểu của nhiều lớp văn hóa trước đó Tuy nhiên, trong sự tác động mạnh mẽ của xu hướng toàn cầu hóa văn hóa vào nền văn hóa truyền thống Việt Nam hiện nay thì không ít thách thức cho việc gìn giữ và bảo tồn, phát huy những giá trị của tín ngưỡng từ Thánh Gióng cũng được đặt ra
Chính suy nghĩ này đã thôi thúc người viết lựa chọn “Vai trò của lễ hội thờ Thánh Gióng trong đời sống tinh thần của người dân huyện Sóc Sơn – Hà Nội hiện nay” là đề tài luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Thánh Gióng là một vị Thánh quá quen thuộc với nhân dân ta Truyền thuyết này gắn bó và lưu truyền với mọi thế hệ người Việt Thông qua một câu chuyện một đứa trẻ kì lạ, lên 3 rồi mà chẳng biết nói cười gì cả Vậy mà khi giặc Ân từ phương Bắc tới thì cậu bé tầm thường kia bỗng nhiên đổi khác, đứng dậy nói năng hết sức dõng dạc và mau chóng lớn thành một tráng sĩ Vị tráng sĩ này cưỡi ngựa sắt, đội nón sắt, cầm gậy sắt … một mình xông ra giữa trận tiền Đánh tan giặc Ân, vị anh hùng bỏ lại tất cả, một mình một ngựa bay thẳng lên trời
Trong tâm thức của người dân đất Việt, Thánh Gióng là hào khí của bản hùng ca hoành tráng từ ngàn xưa vọng lại Niềm tự hào, kính trọng về sức mạnh đoàn kết của dân tộc trong việc chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước Bên cạnh đó, còn là bản tình ca tuyệt đẹp về tình mẫu tử, về trách nhiệm của mỗi con người đối với tổ quốc
Trang 9Cho đến nay, viết về Thánh Gióng và hội Gióng có đến hàng trăm tác phẩm với nhiều tác giả dịch giả nổi tiếng
1 Tiêu biểu phải kể đến tác giả Cao Huy Đỉnh với "Người anh hùng
làng Dóng", trong Lễ hội Thánh Gióng, Nxb Văn hóa Thông tin, 2009
Đây là cuốn sách giới thiệu khái quát về Thánh Gióng - Một hình tượng đẹp, người anh hùng trẻ tuổi tài cao, ý chí vững bền sẵn sàng hi sinh bản thân
vì đất nước Một con người anh hùng với những phẩm chất tốt đẹp đại diện cho thế hệ trẻ Việt Nam với ý chí quật cường, thông minh, nhanh nhẹn Nó còn là bài ca về tình mẫu tử thiêng liêng, trách nhiệm đối với Tổ quốc
2 Lê Thị Hoài Phương (2010), Hội Gióng ở đền Sóc, Nxb Văn hóa
thông tin
Từ cách tiếp cận của mình, tác giả đưa ra cách nhìn về lịch sử hoành tráng, dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Tác giả cũng tái hiện lại cái nhìn khá toàn diện lễ hội ở đền Sóc Từ hành trình, huyền thoại Thánh gióng đến diễn trình lễ hội diễn ra tại đền Sóc, những hoạt động phổ biến diễn
ra tại lễ hội
Tái hiện lại những trận đánh, các tích rước của các thôn làng tại Sóc Sơn
3 Ngô Dương Sơn (2003), Truyền thuyết Phù Đổng Thiên Vương xã Phù Lỗ thờ phụng
Đây là tác phẩm tác giả đề cập chủ yếu đến quá trình ra đời, hình thành hình tượng Thánh Gióng, những câu chuyện liên quan đến Thánh gióng xuất hiện như thế nào, những dấu tích còn lưu lại của Gióng tại xã Phù Lỗ - một trong những địa phương ở Sóc Sơn thờ phụng Người Một hình tượng đẹp, hùng tráng, ngợi ca vẻ đẹp bất hủ, tinh thần bất khuất chống giặc ngoại xâm
4 Nguyễn Chí Bền (2010), Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc,
Nxb Thế Giới
Trong tác phẩm này, tác giả có viết về Hội gióng diễn ra ở hai khu vực tiêu biểu đó là đền Phù Đổng và đền Sóc - Một nơi Gióng sinh ra và một nơi
Trang 10sau khi Gióng chiến thắng giặc Ân và quay về trời Tác phẩm trình bày các nghi thức cũng như hoạt động chủ yếu của lễ hội gióng ở hai địa phương này
Từ đó có cái nhìn toàn diện về lễ hội thờ phụng Gióng để có những so sánh khái quát về lễ hội, những điểm sáng tạo, đặc sắc của từng địa phương trong việc tái hiện lại sự tích Thánh gióng
5 Nguyễn Văn Huyên (2009)- "Hội Phù Đổng (Một trận đánh thần kỳ
trong truyền thuyết Việt Nam-1938)" trong Lễ hội Thánh Gióng, Nxb Văn
hóa Thông tin
Đây là tác phẩm tái hiện chủ yếu đến trận đánh của gióng chiến thắng giặc Ân bảo vệ Tổ quốc Tác giả viết rất chi tiết và miêu tả một cách sinh động, sáng tạo trận đánh đó để người đọc như được hòa mình, sống lại trong lịch sử hào hùng của dân tộc Từ đó thể hiện một tinh thần sắt thép, ý chí quật cường của người anh hùng trẻ tuổi nói riêng, của dân tộc Việt Nam nói chung
6 Trần Bá Chí (1986), Hội Gióng đền Sóc, UBND Huyện Sóc Sơn,
Hà Nội
Cũng như các tác phẩm viết về Thánh gióng, tác phẩm này trình bày chi tiết về lễ hội Gióng diễn ra tại đền Sóc - Sóc Sơn - Hà Nội (Nơi Thánh gióng bay về trời), tại đây Người cởi áo giáp sắt, cưỡi ngựa sắt từ biệt giang sơn tươi đẹp khi đã hoàn thành xong nhiệm vụ to lớn là đánh giặc cứu nước
7Giáo sư Trần Quốc Vượng cùng tác phẩm Căn bản triết lý người anh hùng Phù Đổng và hội Gióng, In lại trong lễ hội Thánh Gióng và “Truyền thuyết về ông Gióng - trong sách vở và ở ngoài đời", trong Lễ hội Thánh Gióng, Nxb Văn hóa Thông tin, 2009
Ngoài ra còn phải kể đến hàng trăm bài viết đăng trên các báo, tạp chí, các bài văn, thơ ca ngợi về Thánh Gióng như: Phương Linh có bài “Hội Gióng và di sản văn hóa phi vật thể” Đỗ Thị Oanh với bài dự thi “Hội gióng đền Sóc – Dấu ấn một huyền thoại”; Thần tích Đổng Thiên Vương do Trung tâm du lịch di tích đền Sóc Sơn viết
Trang 11Nguyễn Việt với bài viết: “Truyền thuyết Thánh Gióng – sự phối trộn các thành tố huyền thoại Âu và Lạc ở thế kỷ 3 trước Công nguyên” Trúc
Tâm có các bài thơ về hình tượng Thánh Gióng Nguyễn Tri Nguyên có bài “Lễ hội Thánh Gióng – Một ký ức văn hóa”; Hà Hữu Nga với tác phẩm dài kỳ “Phù Đổng – cội nguồn sức mạnh Việt”…
Ngoài ra đáng chú ý hơn cả là cuốn “Không gian văn hóa lễ hội Gióng
ở Sóc Sơn” do Ban tuyên giáo huyện ủy – phòng văn hóa và thông tin trung tâm quản lý khu du lịch – di tích đền Sóc, huyện Sóc Sơn phối hợp viết, nxb Lao động, Hà Nội, 2015 Đây là tác phẩm đứng trên góc độ là đơn vị chủ quản, có vai trò kết nối giữa sự bảo tồn di sản vật thể với nhân dân là những người lưu giữ, trao truyền di sản phi vật thể Với cách tiếp cận đa chiều, đa nghĩa nhưng thân quen, gần gũi, phản ánh khá đầy đủ diện mạo của Hội Gióng đang được nhân dân lưu giữ và bảo tồn Cuốn sách gồm 3 phần: Phần 1 - Hội Gióng và khu di tích đền Sóc, phần 2 - Hành trình vết chân ngựa Gióng và phần Phụ lục - Tích các lễ rước tại lễ hội Gióng đền Sóc Đây cũng là sản phẩm thiết thực cho việc quảng bá, giới thiệu lễ hội đặc sắc đã được UNESCO công nhận, qua đó thúc đẩy mạnh mẽ ngành du lịch huyện Sóc Sơn
Có thể nói rằng viết về Thánh Gióng và viết về lễ hội Gióng có vô vàn tác phẩm khác nhau, với những nội dung phong phú, hấp dẫn, thu hút người đọc và đi sâu vào từng khía cạnh cụ thể của tín ngưỡng này Tuy nhiên, chưa
có tác phẩm nào tổng hợp được một cách chi tiết và cụ thể về lễ hội thờ Thánh Gióng ở Sóc Sơn cũng như vai trò của lễ hội này đối với đời sống tinh thần của người dân huyện Sóc Sơn nói riêng và cả nước nói chung
Nhìn chung các tác phẩm trên đều khẳng định vẻ đẹp cũng như phẩm chất tốt đẹp của người anh hùng Gióng Đồng thời chỉ ra vai trò quan trọng của ông trong sự nghiệp bảo vệ đất nước cũng như tinh thần yêu nước nồng nàn của dân tộc Việt Nam Từ hình tượng Thánh Gióng cũng như những
Trang 12truyền thuyết liên quan đến Gióng mà các tác giả đã tái hiện lại những trận đánh trong truyền thuyết để làm nổi bật sự hào hùng, gay cấn, sôi nổi, hùng tráng cũng như tinh thần anh dũng của ông Gióng nói riêng, và tinh thần yêu nước quật cường của nhân dân ta nói chung Bên cạnh đó để tưởng nhớ công lao to lớn của ông Gióng người dân đã thờ và hàng năm tổ chức lễ hội để người dân cùng nhau nhắc lại công ơn to lớn của ông Các tác giả đã tái hiện lại các hoạt động trong lễ hội một cách sinh động nhất Tuy nhiên mỗi tác giả lại chỉ viết riêng về một khía cạnh cụ thể và chưa có công trình nào viết về vai trò của lễ hội thờ Thánh gióng đối với đời sống tinh thần của người dân
Kế thừa những kết quả của các nhà nghiên cứu đi trước về lễ hội Gióng, tôi tiến hành nghiên cứu và chỉ ra tác động của lễ hội Gióng đối với đời sống tinh thần của người dân huyện Sóc Sơn - Hà Nội hiện nay
Do vậy tôi chọn đề tài “Vai trò của lễ hội thờ Thánh Gióng trong đời sống tinh thần của người dân huyện Sóc Sơn – Hà Nội hiện nay” làm đề tài
luận văn tốt nghiệp
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Phân tích và làm rõ vai trò của lễ hội thờ Thánh
Gióng trong đời sống tinh thần của người dân huyện Sóc Sơn – Hà Nội hiện nay và đưa ra một số khuyến nghị đối với công tác lễ hội
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Khái quát chung về lễ hội Thánh gióng và đời sống tinh thần của người dân huyện Sóc Sơn – Hà Nội hiện nay
- Trình bày những biểu hiện vai trò của lễ hội thờ Thánh gióng trong đời sống tinh thần của người huyện Sóc Sơn - Hà Nội hiện nay
Từ đó đưa ra một số khuyến nghị để phát huy những giá trị và hạn chế những mặt trái của lễ hội thờ Thánh Gióng trong đời sống tinh thần của người dân huyện Sóc Sơn – Hà Nội hiện nay
Trang 134 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tìm hiểu về vai trò của lễ hội thờ Thánh Gióng trong đời sống tinh thần của người dân huyện Sóc Sơn – Hà Nội
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận của đề tài dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng về tôn giáo, các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng tôn giáo của các nhà khoa học trong và ngoài nước
- Phương pháp nghiên cứu: kết hợp sử dụng một số phương pháp khác nhau nhằm đảm bảo tính hiệu quả và độ tin cậy của các thông tin thu thập được Các phương pháp sử dụng trong nghiên cứu khoa học là phương pháp chuyên ngành và liên ngành như tôn giáo học, phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp phân tích – tổng hợp, so sánh, phương pháp logic – lịch
Trang 147 Kết cấu của đề tài
Ngoài lời cam đoan, lời cảm ơn, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, mở đầu, kết luận, nội dung của bài luận văn gồm 2 chương với 4 tiết
Trang 15CHƯƠNG 1
KHÁI LƯỢC CHUNG VỀ LỄ HỘI THỜ THÁNH GIÓNG VÀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI DÂN HUYỆN SÓC SƠN - HÀ NỘI
1.1 Khái lược chung về lễ hội thờ Thánh Gióng
1.1.1 Khái niệm lễ hội truyền thống
Từ thời nguyên thuỷ khi biết làm ăn kiếm sống loài người đã biết diễn đạt niềm vui được mùa và cuộc sống được cải thiện bằng nhiều hình thức khác nhau Sau khi săn bắn và hái lượm trở về họ đứng xung quanh đống lửa vừa chia nhau thành quả lao động vừa nhảy múa vui hát Để diễn tả lòng vui sướng được hưởng kết quả lao động loài người khi ấy không chỉ dừng lại ở chỗ đời sống vật chất được đáp ứng mà còn nâng lên một bước nữa tới nhu cầu được thoả mãn về đời sống tinh thần Đó chính là hình thức lễ hội sớm nhất của loài người Rồi hết đời này qua đời khác, bao nhiêu thời gian đã trôi qua những hình thức lễ hội nguyên thuỷ được lưu truyền mãi qua các đời Ở bất kỳ thời đại nào, bất kỳ dân tộc nào, vào bất kỳ mùa nào cũng có những ngày lễ hội Lễ hội đã tạo nên “Tấm thảm muôn màu Mọi sự vật ở đó đều đan quện vào nhau, linh thiêng và trần tục, nghi lễ và hồn hậu, truyền thống
và phóng khoáng, của cải và khốn khổ, cô đơn và đoàn kết, trí tuệ và bản năng” [51;12]
Trong giai đoạn hiện nay, cùng với sự đổi thay nhiều mặt của đất nước,
Lễ hội Việt Nam với tư cách là một thành tố cấu thành của văn hoá Việt Nam cũng đang có sự biến đổi về nội dung và hình thức Những lễ hội truyền thống tiếp tục được duy trì và mở rộng Những lễ hội cổ truyền ở một số làng quê bị quên lãng trong một thời gian dài được làm sống dậy cùng với danh hiệu làng văn hóa được Bộ Văn Hoá Thông Tin trao tặng cho các làng này Bên cạnh những lễ hội truyền thống, những hình thức mới chứa đựng những nội dung mới của hoạt động lễ hội đang diễn ra biến động và từng bước định hình trong
Trang 16điều kiện mới đó là các lễ hội hiện đại - lễ hội du lịch, lễ hội văn hoá - thể thao - các ngày kỉ niệm…đang ngày càng mở rộng với nhiều quy mô, mức độ
và nội dung phong phú đa dạng, sinh động không dễ dàng thẩm định và kiểm soát Những lễ hội mới mang màu sắc hiện đại được tạo dựng một cách hoành tráng, gắn với du lịch, văn hoá của những vùng đất như: Lễ hội hoa Đà Lạt,
Lễ hội kỉ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội, Lễ hội Di sản Miền Trung…Tất cả đang đặt ra cho các nhà nghiên cứu, nhà quản lý tìm cách khai thác sử dụng để đáp ứng nhu cầu đặt ra
Lễ hội là hình thức sinh hoạt cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cư trong thời gian, không gian xác định nhằm nhắc lại những sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại, đồng thời là dịp để biểu hiện cách ứng xử văn hoá của con người với tự nhiên, thần thánh và con người trong xã hội mới
Tác giả Dương Văn Sáu, trong cuốn Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch, cho rằng: “Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn
ra trên một địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định; nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại; đồng thời là dịp để biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên - thần thánh và con người trong xã hội”[45;35]
GS Trần Quốc Vượng khi giải thích về lễ hội thì lại gắn với nền văn hoá trồng lúa của người Việt khi ông quan niệm lễ hội chính là lễ hội nông nghiệp Lễ hội nông nghiệp không chỉ bao hàm những lễ hội gắn một cách trực tiếp với nghề nông mà ta có thể gọi là nghi thức hay nghi lễ nông nghiệp như lễ hội “Lồng Tồng” của người Tày, lễ tế Thần Nông, lễ hạ điền (xuống đồng của người Mường), lễ hội thượng điền của người Việt – mà bao gồm cả những hội săn chim, đuổi cuốc, săn hổ, bắt cáo, hội đánh bắt cá ở suối, ao, hồ, hội hái lá, hái măng, hái nấm ở rừng, ở bụi bao gồm cả những hội đền, hội phủ, hội chùa, hội đình…Tất cả chúng đều được gọi là lễ hội nông nghiệp vì chúng diễn ra trong không gian thôn dã với một thời gian thôn dã (mang tính
Trang 17chất chu kì) Chủ nhân của những lễ hội này phần lớn là nông dân, là thợ thủ công, địa chủ, quan lại, sống ở vùng quê và có lối sống thôn dã Bản sắc văn
hoá Việt Nam được thể hiện đậm nét nhất ở văn hoá làng Lễ hội cổ truyền là
sinh hoạt văn hoá điển hình của văn hoá dân gian truyền thống – thành tố làm nên bản sắc văn hoá làng đó
Thực vậy, với nền văn minh lúa nước lâu đời ở xứ sở nhiệt đới, lễ hội
cổ truyền Việt Nam xuất phát từ đó với nhiều hình thức phong phú đa dạng và độc đáo Lễ hội chính là một sản phẩm và biểu hiện của một nền văn hoá Và
ở Việt Nam, đó là nền văn hoá nông nghiệp Cội nguồn sâu xa nhất là tín ngưỡng phồn thực trong nông nghiệp của dân tộc Việt Nam luôn cầu mong mưa thuận gió hoà cho vạn vật sinh sôi nảy nở
Thông thường ở Việt Nam những lễ hội có từ trước 1945 được gọi là lễ hội cổ truyền, lễ hội dân gian, truyền thống Những lễ hội ra đời từ sau 1945 được gọi là lễ hội hiện đại, lễ hội này đã và đang trở thành hoạt động văn hoá thường niên ở các cộng đồng dân cư
Bản chất và nội dung của lễ hội truyền thống là một sinh hoạt văn hoá cộng đồng bởi đây là hoạt động văn hoá tập thể thuộc về tập thể và do tập thể
tổ chức và tiến hành Dù ở bất cứ nơi đâu vào bất cứ thời gian nào lễ hội cũng phải do đông đảo quần chúng nhân dân tiến hành Chính họ là những người sáng tạo chân chính những giá trị bắt nguồn từ cuộc sống lao động sản xuất và chiến đấu Họ là chủ nhân đồng thời là người đánh giá thẩm định và hưởng thụ những thành quả sáng tạo văn hoá ấy Không bao giờ lễ hội chỉ thuộc về một nhóm người nào đó trong xã hội Không có đông người đến dự không thành hội, bởi thế mới có câu “đông như hội” chính là vậy
Mục đích lễ hội là một hoạt động văn hoá nổi bật trong đời sống con người với nhiều hình thức khác nhau nhằm phục vụ lợi ích của con người
Lễ hội không phải là mê tín dị đoan mà là một cách ứng xử thông minh khôn ngoan cuả con người đối với sức mạnh vô hình hoặc hữu hình mà họ
Trang 18không lý giải được nhưng muốn khống chế - họ phải kính và sợ Chính vì thế
lễ hội trở thành một hiện tượng văn hoá tổng hợp, giúp giải phóng năng lượng tâm linh, tâm lý, vật chất của con người
Lễ hội chính vì thế có tính chất tái tạo, con người hiến dâng để cầu xin tốt lành trong tương lai và hưởng thụ vật chất và tinh thần thoải mái trong hiện tại
Lễ hội là cách thức giao cảm cộng đồng, giao hoà giữa con người với trời đất, giữa hiện tại với hồi tưởng trong quá khứ và hi vọng tương lai
Lễ hội truyền thống xưa nhấn mạnh phần lễ, tức là phần nghi lễ vì nhu
cầu tâm linh rất lớn
Lễ hội truyền thống nay phần hội được nhấn mạnh nhiều hơn vì từ nhu
cầu tâm linh giờ đã chuyển sang giải quyết nhu cầu được vui chơi, sống lại không khí dân dã của những trò chơi dân gian xưa, không khí tưng bừng náo nhiệt hơn
Lễ hội truyền thống xuất phát từ nhu cầu nội tại của con người Lễ hội bao giờ cũng hướng tới một đối tượng Thiên nhiên cần suy tôn: các vị tiên, Phật, thần thánh, những vị Nhiên thần và Nhân thần mà xét đến cội rễ thì đó chính là hình ảnh hội tụ những phẩm chất cao đẹp nhất của những anh hùng
có công khai phá và xây dựng, những anh hùng chống giặc ngoại xâm, những người có công dạy dỗ, truyền nghề, chống thiên tai, trừ ác thú, chữa bệnh cứu người hoặc những đấng thiên nhiên giúp con người hướng thiện, tạo dựng một cuộc sống tốt lành, yên vui
Lễ hội truyền thống chính là dịp để con người giao lưu, cộng cảm và trao truyền những đạo lý, tình cảm, mỹ tục và khát vọng cao đẹp, còn là cầu nối giữa hiện tại và quá khứ, củng cố tinh thần cố kết dân tộc và tình yêu quê hương đất nước cùng niềm tự hào về gốc gác cuả mình
“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mồng mười tháng ba”
Trang 19Chính vì vậy mà lễ hội truyền thống bao giờ cũng có sức thu hút, mời gọi kì lạ đối với nhiều người, nhiều lứa tuổi Người đến với lễ hội là đến với chốn linh thiêng cao cả, với tâm thức chân thành và thanh thản với khát vọng, ước mong tốt lành
Cái không gian trầm lặng, tôn nghiêm của những ngôi đình mái cong,
ngôi chùa rêu phong, ngôi đền cổ kính dưới những tán cổ thụ bỗng sáng lên tưng bừng, rộn rịp bởi những sắc màu của cờ hoa, quạt, kiệu, tán lọng và những âm thanh của hàng loạt nhạc khí, lời ca và những nhịp điệu uyển chuyển…Nhưng yếu tố là nên sự sống động của lễ hội nhất là sự hội tụ của hàng ngàn, hàng vạn người quy tụ về đây vui với tiền nhân Không gian lộng lẫy uy nghi tạo nên chất hoành tráng và thiêng liêng của lễ hội, có sự khơi dậy cái thiện và mỹ trong tâm hồn mỗi người, thôi thúc họ vươn lên một lý tưởng sống cao đẹp và giàu ý nghĩa hơn
Lễ hội mang sức sống của một dân tộc được minh chứng qua thời gian ngàn năm lịch sử, là một bảo tàng văn hoá sống lưu giữ tín ngưỡng tôn giáo, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ dân gian, nơi phản ánh một cách trung thực nhất tâm thức của một dân tộc cần cù chịu khó, yêu lao động
Đối với cá nhân con người, tham gia lễ hội là một cách tham gia vào quá trình sáng tạo và sáng tạo văn hoá, là được hoà mình trong dòng nước đầu nguồn của văn hoá dân tộc với một tinh thần cộng đồng và cộng cảm sâu sắc
Lễ hội chia làm hai phần: Lễ và Hội
Lễ là tổng thể nghi thức thể chế hoá trật tự, gắn với sự tích, quyền năng của thần, diễn đạt mối quan hệ của Người và Thần Lễ cơ bản là linh thiêng
Dưới thời phong kiến, các nhà nho quan niệm Lễ là trật tự, là chữ đã định sẵn của Trời “Lễ nghĩa thiên chi tự”, cần phải có và không thể đảo ngược Cuộc sống xã hội cần phải có lễ để phân biệt, giữ gìn trật tự trong mối quan hệ đa chiều, luôn diễn ra trong đời sống xã hội Lễ được coi là cơ sở của một xã hội có tổ chức và đã phát triển đến một trình độ nào đó
Trang 20Nghi lễ là những nghi thức tiến hành theo những quy tắc, luật tục nhất định mang tính biểu trưng để đánh dấu, kỉ niệm một sự kiện, nhân vật nào đó nhằm mục đích cảm tạ, tôn vinh ước nguyện về sự kiện nhân vật đó với mong muốn nhận được sự may mắn tốt lành, nhận được sự giúp đỡ từ những đối tượng mà người ta thờ cúng
Lễ là các nghi lễ trang trọng gắn với một tôn giáo, một thần thoại, một huyền thoại, một phong tục… khẳng định nền nếp, đạo lý truyền thống của dân tộc Với những nghi thức tế lễ, rước, dâng hương…Phần lễ tiến hành theo một trật tự gần như thống nhất: cáo, hiến tế, cầu xin, tạ ơn
Lễ đơn giản diễn ra trong thần điện, đa số các lễ hội đền, hội chùa, đình nước ta tiến hành lễ đơn giản Lễ mở rộng ra ngoài thần điện với đám rước,
ca múa, đánh đu, chọi gà…Hội là phần của những trò chơi dân gian, diễn xướng vui chơi, tất cả mọi người đều có thể tham gia vì nó được mô phỏng theo những động tác lao động hàng ngày như đấu vật, đánh đu, chơi cờ, hát đối… Hội cơ bản là đời
Hội bao giờ cũng mang tính công cộng cả về tư cách tổ chức cũng như mục đích cần đạt được của những người tổ chức và người tham dự Các hoạt động này diễn ra thường niên theo phong tục tập quán cổ truyền của các địa phương vùng miền hoặc tổ chức vào các dịp đặc biệt trong năm để hướng tới, tôn vinh với mong muốn đạt được những mục tiêu, giá trị cụ thể nào đó trong đời sống văn hoá cộng đồng
Trang 21Hội là tập hợp những hoạt động kinh tế - văn hoá - xã hội của một cộng đồng dân cư nhất định Là cuộc vui tổ chức cho đông đảo người dự theo phong tục truyền thống hoặc nhân dịp đặc biệt Những hoạt động diễn ra trong hội phản ánh điều kiện, khả năng, trình độ phát triển của địa phương, đất nước ở vào thời điểm diễn ra sự kiện đó
Lễ và hội không tách rời nhau mà có quan hệ qua lại với nhau Trong lễ
có hội và trong hội có lễ
Việt Nam là mảnh đất đa sắc tộc và đa lễ hội Với 54 dân tộc anh em
cư trú trên khắp các miền đất nước, sự đậm đặc của Lễ hội được đúc kết trong nhiều câu ca dao tục ngữ đã in sâu vào trong trí nhớ dân gian Phong phú hơn
cả là sinh hoạt lễ hội ở đồng bằng Bắc bộ của người Kinh với 118 lễ hội lớn nhỏ từ vùng đất Tổ Phú Thọ tới Bắc Ninh với Hội Lim, Hội Dâu…rồi tới Hà Tây của Hội chùa Hương vòng qua Thái Bình với hội chùa Keo, lại qua Hải Dương để dự Hội Côn Sơn Kiếp Bạc Tới dải đất miền Trung của nắng và gió rồi tới Tây Ninh, Bà Chúa Xứ núi Xam (An Giang), Linh Sơn Thánh Mẫu núi
Bà Đen, lễ hội Lăng Ông Chiểu (TP Hồ Chí Minh) Nhìn chung lễ hội diễn ra chủ yếu vào mùa xuân, ở 3 tháng đầu năm, bởi thế mới có câu “Tháng Giêng
là tháng ăn chơi” và tháng 3 là tháng hội hè Có thể chia Lễ hội thành:
Lễ hội truyền thống của người Kinh gồm:
- Tết Nguyên Đán đánh dầu sự kết thúc của một năm cũ, khởi đầu một
năm mới
- Giỗ tổ Hùng Vương (lễ hội Đền Hùng)
- Lễ hội tưởng nhớ các vị anh hùng dân tộc như: Lễ hội Cổ Loa; Lễ hội
đền Đô ( Đền Lý Bát Đế ); Lễ hội Đống Đa; Lễ hội Trường Yên…
- Lễ hội tôn vinh các vị thần: Hội Phù Đổng; Hội Phủ Giầy; Hội đền Dạ
Trạch…
- Lễ hội các làng nghề: Hội làng Đồng Kỵ; Hội làng Chuông; Lễ hội
làng Triều Khúc…
Trang 22- Lễ hội văn hoá: Lễ hội chùa Hương, Hội Lim
Lễ hội các dân tộc ít người
Bên cạnh lễ hội của người Kinh, các dân tộc anh em còn lại cũng đóng góp vào kho tàng văn hóa dân tộc những lễ hội truyền thống đặc sắc và độc đáo như: Lễ hội đâm trâu; Lễ hội OK om Bok (dân tộc Khơ Me); Lễ hội Lồng Tồng (dân tộc Tày); Lễ hội Bỏ mả của người Bana ở Gia Lai…
Thời gian và không gian của lễ hội
- Thời gian của lễ hội
Lễ hội thường được mở ra theo chu kỳ hằng năm nhân ngày kỵ, ngày sinh hay ngày phát tích của thần Và nhất niên nhất lệ làng không thể bỏ qua ngày thiêng ấy Lễ hội xuất hiện vào những thời điểm linh thiêng của sự chuyển tiếp giữa 2 mùa, đánh dấu sự kết thúc của một chu kỳ lao động, chuẩn
bị bước sang một chu kỳ mới Hầu hêt các lễ hội cứ một năm được mở ra một lần nhưng cũng có lễ hội 3 năm tổ chức một lần ( hội Thọ Lão - Liễu Đôi –
Hà Nam); hay 10 năm mới mở hội 1 lần ( hội Đại – Ninh Hiệp – Hà Nội); có
lễ hội mỗi năm lại được tổ chức 2 lần ( hội chùa Keo – Vũ Thư – Thái Bình)
Lễ hội tập trung nhất vào mùa xuân Ngoài ra còn có hội thu
- Không gian của lễ hội
Không gian lễ hội: đó là không gian linh thiêng gắn với các di tích lịch
sử - văn hoá như: đình, đền, miếu… Địa điểm mở lễ hội phần lớn là đình – nơi trung tâm sinh hoạt của cả làng, xã nhưng cũng có khi được mở tại đền hay một gò đống, bến bãi Có trường hợp hội xuất phát từ một điểm cố định nhưng về sau lan dần ra đê, bãi, có khi ra tận chân núi, chiếm lĩnh cả một không gian lớn do diễn biến của những trò chơi Không gian lễ hội cũng là không gian linh thiêng của những thắng cảnh bao quanh di tích, thích hợp để
tổ chức phần hội với các trò chơi dân gian Đó cũng là không gian mà du khách có thể tham quan thưởng ngoạn khi các nghi thức cúng lễ đã kết thúc
Trang 23Điều này thể hiện nét đẹp văn hoá vô cùng thiêng liêng trong tín ngưỡng tâm linh của con người
Những giá trị văn hoá của lễ hội truyền thống
Trong kho tàng các giá trị văn hoá Việt Nam, lễ hội cổ truyền và tín ngưỡng dân gian là những di sản văn hoá tinh thần quý báu của ông cha ta để lại Trải qua những thăng trầm biến cố của lịch sử cho đến ngày nay vẫn lưu giữ được những nét đẹp truyền thống Như chúng ta đã biết lễ hội cổ truyền
và tín ngưỡng dân gian là nhu cầu sinh hoạt văn hoá tinh thần của mọi cộng đồng, mọi dân tộc Có thể nói lễ hội là “ bảo tàng sống” hội tụ và giới thiệu các sản phẩm sinh hoạt văn hoá truyền thống của các dân tộc Qua các lễ hội người nông dân Việt Nam đã sáng tạo lễ hội như cuộc sống thứ 2 của họ, đó
là cuộc sống hội hè, đình đám mang đậm màu sắc dân gian Phần cuộc sống
đó thuộc về những mơ ước, những khát vọng hướng tới tương lai với cái Chân
- Thiện - Mỹ Vì thế lễ hội mang tính nhân văn sâu sắc, đem lại niềm vui, hy vọng cho con người và là sức sống của con người
- Lễ hội truyền thống giúp nâng cao nhận thức giá trị lịch sử (giá trị lịch sử)
Lễ hội là một sản phẩm và biểu hiện của một nền văn hoá, là một thành
tố quan trọng cấu thành và có tác dụng duy trì những yếu tố văn hoá khác cùng tồn tại Tham gia lễ hội là một ứng xử văn hoá Nói đến “lễ hội”, “hội hè”, “đình đám”…là nói đến sinh hoạt văn hoá cộng đồng của nhân dân Việt Nam từ xưa đến nay Lễ hội chứa đựng những giá trị văn hoá tinh thần của dân tộc đặc biệt là tính cộng cảm làng xã- vun đắp, nâng đỡ tinh thần cho từng cá nhân Có thể nói, lễ hội đã góp phần củng cố cái tinh thần cộng đồng của làng quê xóm cũ Nhận thức được ý nghĩa xã hội của lễ hội mà ở bất cứ một thời đại nào, nhà nước nào cũng chăm lo duy trì và phát triển các hoạt động lễ hội cho nhân dân
Trang 24Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, truyền thống lễ hội không hề bị mai một, ngược lại thời gian như dòng sông Hồng qua năm tháng thì càng bồi đắp cho sự giàu có cho mảnh đất này Lễ hội là minh chứng cho sức sống bền bỉ
và dẻo dai của một dân tộc, mang trong mình dấu ấn lịch sử đậm nét Có những lễ hội nghìn năm tuổi như Hội đền Hùng, Hội chùa Hương, Hội Thánh Gióng Các lễ hội trên gắn với những sự kiện chính trị, những giá trị tinh thần linh thiêng trong đời sống dân tộc Sự ổn định của đời sống dân tộc ý thức tôn trọng những giá trị truyền thống và sự tôn kính thế giới tâm linh của nhân dân Việt Nam là yếu tố hàng đầu tạo cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của lễ hội Nhân dân hưởng ứng say mê lễ hội là cơ sở cho sự tồn tại của lễ hội
Lễ hội của Việt Nam hôm nay là biểu hiện sinh động cho tinh thần đại đoàn kết dân tộc, sự thống nhất, hoà bình và ổn định trong đời sống nhân dân Hơn thế nữa, sự phát triển của lễ hội là một minh chứa sinh động cho sức sống của văn hóa Việt Nam trong thời đại mới
- Lễ hội truyền thống mang giá trị hướng về nguồn cội (giá trị hướng
về nguồn cội)
Tất cả mọi lễ hội cổ truyền đều hướng về nguồn Đó là nguồn cội tự nhiên mà con người vốn từ đó sinh ra và nay vẫn là một bộ phận hữu cơ; nguồn cội cộng đồng như dân tộc, đất nước, xóm làng, tổ tiên, nguồn cội văn hoá Hơn thế nữa, hướng về nguồn đã trở thành tâm thức của con người Việt Nam - “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” Chính vì thế,
lễ hội bao giờ cũng gắn với hành hương - du lịch
Ngày nay, trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật, tin học hoá, toàn cầu hóa, con người bừng tỉnh về tình trạng tách rời giữa bản thân mình với tự nhiên, môi trường; với lịch sử xa xưa, với truyền thống văn hoá độc đáo đang bị mai một Chính trong môi trường tự nhiên và xã hội như vậy, hơn bao giờ hết con người càng có nhu cầu hướng về, tìm lại cái nguồn cội tự nhiên của mình, hoà mình vào với môi trường thiên nhiên; trở về, tìm lại và
Trang 25khẳng định cái nguồn gốc cộng đồng và bản sắc văn hoá của mình trong cái chung của văn hoá nhân loại Chính nền văn hoá truyền thống, trong đó có lễ hội cổ truyền là một biểu tượng, có thể đáp ứng nhu cầu bức xúc ấy Đó cũng chính là tính nhân bản bền vững và sâu sắc của lễ hội có thể đáp ứng nhu cầu của con người ở mọi thời đại
- Lễ hội góp phần cố kết và biểu dương sức mạnh cộng đồng (giá trị cố kết cộng đồng)
Lễ hội nào cũng là của và thuộc về một cộng đồng người nhất định, đó
có thể là cộng đồng làng xã (hội làng), cộng đồng nghề nghiệp (hội nghề), cộng đồng tôn giáo (hội chùa, hội đền, hội nhà thờ), cộng đồng dân tộc (hội Đền Hùng - quôc tế) đến cộng đồng nhỏ hẹp hơn, như gia tộc, dòng họ chính lễ hội là dịp biểu dương sức mạnh của cộng đồng và là chất kết dính tạo nên sự cố kết cộng đồng
Mỗi cộng đồng hình thành và tồn tại trên cơ sở của những nền tảng gắn kết, như gắn kết do cùng cư trú trên một lãnh thổ (cộng cư), gắn kết về sở hữu tài nguyên và lợi ích kinh tế (công hữu), gắn kết bởi số mệnh chịu sự chi phối của một lực lượng siêu nhiên nào đó (cộng mệnh), gắn kết bởi nhu cầu sự đồng cảm trong các hoạt động sáng tạo và hưởng thụ văn hoá (cộng cảm)…
Lễ hội là môi trường góp phần quan trọng tạo nên niềm cộng mệnh và cộng cảm của sức mạnh cộng đồng
Ngày nay, trong điều kiện xã hội hiện đại, con người càng ngày càng khẳng định “cái cá nhân”, “cá tính” của mình thì không vì thế cái “cộng đồng” bị phá vỡ, mà nó chỉ biến đổi các sắc thái và phạm vi, con người vẫn phải nương tựa vào cộng đồng, có nhu cầu cố kết cộng đồng Trong điều kiện như vậy, lễ hội vẫn giữ nguyên giá trị biểu tượng của sức mạnh cộng đồng và tạo nên sự cố kêt cộng đồng ấy
- Lễ hội góp phần cân bằng đời sống tâm linh (giá trị cân bằng đời sống tâm linh)
Trang 26Bên cạnh đời sống vật chất, đời sống tinh thần, tư tưởng còn hiện hữu đời sống tâm linh Đó là đời sống của con người hướng về cái cao cả thiêng liêng - chân thiện mỹ - cái mà con người ngưỡng mộ, ước vọng, tôn thờ, trong
đó có niềm tin tôn giáo tín ngưỡng Như vậy, tôn giáo tín ngưỡng thuộc về đời sống tâm linh, tuy nhiên không phải tất cả đời sống tâm linh là tôn giáo tín ngưỡng Chính tôn giáo tín ngưỡng, các nghi lễ, lễ hội góp phần làm thoả mãn nhu cầu về đời sống tâm linh của con người, đó là “cuộc đời thứ hai”, đó
là trạng thái “thăng hoa” từ đời sống trần tục, hiện hữu
Xã hội hiện đại với nhịp sống công nghiệp, các hoạt động của con người dường như được “chương trình hoá” theo nhịp hoạt động của máy móc, căng thẳng và đơn điệu, ồn ào, chật chội nhưng vẫn cảm thấy cô đơn Một đời sống như vậy tuy có đầy đủ về vật chất nhưng vẫn khô cứng về đời sống tinh thần và tâm linh, một đời sống chỉ có dồn nén, “trật tự” mà thiếu sự cởi mở,
xô bồ, “tháo khoán” Tất cả những cái đó hạn chế khảnăng hoà đồng của con người, làm thui chột những khả năng sáng tạo văn hoá mang tính đại chúng Một đời sống như vậy không có “thời điểm mạnh”, “cuộc sống thứ hai”, không có sự “bùng cháy” và “thăng hoa”
Trở về với văn hoá dân tộc, lễ hội cổ truyền con người hiện đại dường như được tắm mình trong dòng nước mát đầu nguồn của văn hoá dân tộc, tận hưởng những giây phút thiêng liêng, ngưỡng vọng những biểu tượng siêu việt cao cả - chân thiện mỹ, được sống những giờ phút giao cảm hồ hởi đầy tinh thần cộng đồng, con người có thể phô bày tất cả những gì là tinh tuý đẹp đẽ nhất của bản thân qua các cuộc thi tài, qua các hình thức trình diễn nghệ thuật, cách thức ăn mặc lộng lẫy, đẹp đẽ khác hẳn ngày thường Tất cả đó là trạng thái “thăng hoa” từ đời sống hiện thực, vượt lên trên đời sống hiện thực Nói cách khác, lễ hội đã thuộc về phạm trù cái thiêng liêng của đời sống tâm linh, đối lập và cân bằng với cái trần tục của đời sống hiện thực
Trang 27- Lễ hội góp phần sáng tạo và hưởng thụ văn hóa (giá trị sáng tạo và hưởng thụ văn hóa)
Lễ hội là một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng - văn hoá cộng đồng của nhân dân ở nông thôn cũng như ở đô thị Trong các lễ hội đó, nhân dân tự đứng ra tổ chức, chi phí, sáng tạo và tái hiện các sinh hoạt văn hoá cộng đồng và hưởng thụ các giá trị văn hoá và tâm linh, do vậy, lễ hội bao giờ cũng thấm đượm tinh thần dân chủ và nhân bản sâu sắc Đặc biệt trong “thời điểm mạnh” của lễ hội, khi mà tất cả mọi người chan hoà trong không khí thiêng liêng, hứng khởi thì các cách biệt xã hội giữa cá nhân ngày thường dường như được xoá nhoà, con người cùng sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hoá của mình
Điều này có phần nào đối lập với đời sống thường nhật của những xã hội phát triển, khi mà phân công lao động xã hội đã được chuyên môn hoá, nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ văn hoá của con người đã phần nào tách biệt
Đấy là chưa kể trong xã hội nhất định, một lớp người có đặc quyền có tham vọng “cướp đoạt” các sáng tạo văn hoá cộng đồng để phục vụ cho lợi ích riêng của mình Đến như nhu cầu giao tiếp với thần linh của con người cũng tập trung vào một lớp người có “khả năng đặc biệt” Như vậy, con người, đứng từ góc độ quảng đại quần chúng, không còn thực sự là chủ thể của quá trình sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hoá một cách bình đẳng nữa Xu hướng đó phần nào xói mòn tinh thần nhân bản của văn hoá, làm tha hoá chính bản thân con người Do vậy, con người trong xã hội hiện đại, cùng với xu hướng dân chủ hoá về kinh tế, xã hội thì cũng diễn ra quá trình dân chủ hoá về văn hoá Chính nền văn hoá truyền thống, trong đó có lễ hội cổ truyền
là môi trường tiềm ẩn những nhân tố dân chủ trong sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hoá ấy
- Lễ hội góp phần bảo tồn và trao truyền văn hóa (giá trị bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc)
Trang 28Lễ hội không chỉ là tấm gương phản chiếu nền văn hoá dân tộc, mà còn
là môi trường bảo tồn, làm giàu và phát huy nền văn hoá dân tộc ấy
Cuộc sống của con người Việt Nam không phải lúc nào cũng là ngày hội, mà trong chu kỳ một năm, với bao ngày tháng nhọc nhằn, vất vả, lo âu,
để rồi “xuân thu nhị kỳ”, “tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ”, cuộc sống nơi thôn quê vốn tĩnh lặng ấy vang dậy tiếng trống chiêng, người người tụ hội nơi đình chùa mở hội Nơi đó, con người hoá thân thành văn hoá, văn hoá làm biến đổi con người, một “bảo tàng sống” về văn hoá dân tộc được hồi sinh, sáng tạo và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Tôi đã nhiều lần tự hỏi, nếu như không có nghi lễ và hội hè thì các làn điệu dân ca như quan họ, hát xoan ; các điệu múa xanh tiền, con đĩ đánh bồng, múa rồng, múa lân ; các hình thức sân khấu chèo, hát bội, rối nước, cải lương ; các trò chơi, trò diễn: Đánh cờ người, chọi gà, chơi đu, đánh vật, bơi trải, đánh phết, trò trám sẽ ra đời và duy trì như thế nào trong lòng dân tộc suốt hàng nghìn năm qua Và như vậy thì dân tộc và văn hoá dân tộc sẽ đi đâu, về đâu, sẽ còn mất ra sao?
Đã ai đó từng nói làng xã Việt Nam là cái nôi hình thành, bảo tồn, sản sinh văn hoá truyền thống của dân tộc nhất là trong hoàn cảnh bị xâm lược và đồng hoá Trong cái làng xã nghèo nàn ấy, ngôi đình mái chùa, cái đền và cùng với nó là lễ hội với “xuân thu nhị kỳ” chính là tâm điểm của cái nôi văn hoá đó Không có làng xã Việt Nam thì cũng không có văn hoá Việt Nam
Điều này càng cực kỳ quan trọng trong điều kiện xã hội công nghiệp hoá, hiện đại hoá và toàn cầu hoá hiện nay, khi mà sự nghiệp bảo tồn, làm giàu và phát huy văn hoá truyền thống dân tộc trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, thì làng xã và lễ hội Việt Nam lại gánh một phần trách nhiệm là nơi bảo tồn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc
1.1.2 Tổng quan về lễ hội thờ Thánh Gióng ở Việt Nam
* Sự tích Thánh Gióng phá giặc Ân [4;17-25]
Theo Quốc sử và thần tích địa phương thì nước Văn Lang đến thời Hùng Vương thứ VI gặp nhiều tai biến, dân tình cực khổ vô cùng Nạn hổ beo
Trang 29họp thành đàn về bắt người, phá của ở các bộ: Phong Châu, Phúc Lộc, Chu Diên, Tân Hưng, Vũ Ninh, Vũ Định… Nạn giặc Mũi Đỏ chiếm 16 châu, đặt sào huyệt ở Hà Lỗ Giặc Ân sang xâm chiếm vùng Vũ Ninh – Sóc Giang ngày càng lấn chiếm rộng ra Trước những tai họa lớn lao dồn dập, vua Hùng Huy Vương họp triều thần tại đô thành Phong Châu bàn kế cứu dân, cứu nước Cả nước dấy lên một không khí lập công dâng lên vua Hùng Kết quả là sau 2 năm đã trừ được nạn hổ và nạn giặc Mũi Đỏ Nhưng tai hoạ lớn nhất đe dọa vận mạng của cả nước Văn Lang là giặc Ân Theo sách Lĩnh Nam Chích quái của Vũ Quỳnh (1453 -1516) đã viết: Nước ta lúc đó, phía Tây bắc giáp nước Thi La Qủy (nay thuộc Qúy Châu, Trung Quốc); vua nước ấy tên là Hy Bắc Kịch, nhân cơ hội có manh tâm thôn tính các nước xung quanh Hắn tự xưng
là Ân vương, động binh 30 vạn quân sỹ tiến xuống xâm lăng phương nam
Sách “Thiên Nam ngữ lục” cũng cho biết vài nét về tội ác của giặc Ân: Bắc phương ngoài dặm xa khơi - Gái ép làm thiếp, trai đòi làm phu Giặc Ân dùng toàn đồ bằng đá Chúng có một con ngựa đá đã làm cho biết bao nhiêu người bị giết Đó là con ngựa của Ân Vương Mỗi ngày chúng bắt dân ta ở các làng nộp cho chúng 1000 gánh cỏ cho ngựa của chúng ăn và 1000 hộc gạo cho quân chúng ăn Nếu làng nào thiếu gạo, thiếu cỏ thì chúng phạt làng đó phải bón cỏ cho ngựa đá ăn, ngựa không há mõm ăn cỏ thì chúng khép và tội chém đầu Hơn một năm trời giặc Ân hoành hành, gây biết bao đau thương tang tóc cho nhân dân Vua Hùng đã cử nhiều binh tướng giỏi đi dẹp giặc nhưng không ai đánh bại được quân Ân Giữa lúc thế giặc đang mạnh, vận nước đang lâm nguy thì Thánh Gióng xuất hiện Thánh Gióng hay Thánh Đổng là con ông Đùng, một chân đứng trên núi Sóc, một chân bước xuống vườn cà làng Gióng Mốt Ông Đùng là một nhân vật khổng lồ trong thần thoại người Việt Hiện nay nhiều quả núi trên đất nước ta còn có vết chân ông Đùng, kèm theo những câu chuyện thần kỳ Ông Đùng tượng trưng cho sức mạnh thần kỳ trong mơ ước vươn lên của con người, và là một sức mạnh giao
Trang 30thoa giữa Trời và Người, giữa Thiên nhiên và Xã hội Mẹ Gióng là một người đàn bà nghèo khổ ở làng Gióng Mốt (thôn Đổng Viên, xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm) Một hôm bà giẫm phải dấu chân khổng lồ của ông Đùng, rồi bà có thai Thánh Gióng là hiện thân của ông Đùng, chung đúc khí thiêng của non sông, đất nước, biểu thị sức mạnh thần kỳ trong mơ ước của con người Theo truyền thuyết dân gian thì Thánh Gióng được thụ thai ở bên làng Gióng Mốt nhưng khi ra đời lại lọt làng mẹ tại rừng Trại Nòn ở làng Phù Dực Trại Nòn
có khoảng đầm rộng, tôm cá, lươn ếch vùng vẫy quanh năm Giữa đầm có gò cao, cây lá hoa quả thay đổi bốn mùa thơm tho, ngào ngạt Một hôm gió to bão lớn, sấm sét đùng đùng thì bà mẹ đau bụng chuyển mình, chạy ra bờ đầm ngồi nghỉ Tự nhiên chớp lóe xuống mặt đầm, rồi một chiếc cầu đá từ dưới đáy đầm nổi lên nối bờ vào gò, bà mẹ Gióng theo cầu đá ấy đi vào đỉnh gò và
đẻ Gióng ở đó Gióng lọt lòng, bà mẹ lấy liềm đá cắt rốn, bà dùng nước ở thống để tắm rửa cho con, tắm xong đặt con lên chõng đá, chim chóc quanh đầm bay vào gò hót gáy để chào mừng, mặt trời cũng như đến tận gốc cây để sưởi ấm cho Gióng Các cụ già ở Phù Dực, Phù Đổng còn kể thêm: Tục truyền có một điều lạ nữa là hình như tất cả các thứ tôm cá, rau quả ở đầm Trại Nòn, thiên nhiên chỉ ưu đãi riêng cho mẹ Gióng ăn để lấy sữa nuôi Gióng Cũng nhờ có nguồn lợi ít ỏi ở khu đầm mà mẹ Gióng đã thầm lặng nuôi Gióng được ba năm, dù Gióng chỉ nằm im một chỗ, ai nói gì cũng mặc
Năm ấy đất nước giặc Ân hoành hành, nhà vua sai sứ giả đi kén người tài cứu nước Đoàn sứ giả đi giao qua nhà Gióng thì Gióng bỗng bảo mẹ gọi
sứ giả vào nhà và bảo Sứ về tâu vua chuẩn bị đồ dùng để gióng đánh giặc, vua vui mừng tỏ rõ lên nét mặt, hạ lệnh sai tìm thợ rào (thợ rèn) xúc tiến công việc theo ý Gióng Thành phẩm đợt đầu dâng vua, vua khen chế tạo nhanh, mọi người chịu khó Nhưng khi đưa Gióng dùng, Gióng mới ngồi lên thì con ngựa sắt đã bẹp dí Đợt sau vua giao việc cho tốp thợ cả làng Xuân Kỳ (Phù Lỗ) thiết kế, Xuân Kỳ biết rút kinh nghiệm nấu quặng, tạo khuôn đúng cách
Trang 31nên ngựa rất cao to và chắc chắn Ngựa lần này Gióng cưỡi lên nhún nhảy tha
hồ, Gióng vừa ý nói rằng: “Ngựa lần này chắc chắn lắm, phần trong như có
đủ tim phổi, ruột gan.” Vua Hùng bén xuống chiếu ban khen tốp thợ làng Xuân Kỳ tạo khuôn tinh vi, đằp lò đều lửa, ông thợ cả được phong Hoả Nhạc đại thánh Về sau Hoả Nhạc đại thánh được thờ ở đền Trôi thôn Xuân Kỳ, xã Đông Xuân, Sóc Sơn Việc lo cơm cà cho Gióng và cho quân ăn thì trước hết giao cho làng Phù Đổng và các làng xung quanh Bà mẹ và dân làng Phù Đổng mang đến cho Gióng nhiều cơm cà, Gióng ăn một mạch hết cả 10 nong rồi ra sông uống nước Bảy nong cơm, ba nong cà Nước uống một mạch, cạn
đà khúc sông Gióng càng ăn, càng uống thì lại càng cao, càng lớn Thân cao hơn 10 truợng, vai rộng gần 100 gang… Rồi Gióng mặc áo giáp sắt, đội nón sắt, cầm roi sắt, nhảy lên ngựa sắt, lên đường ra trận, quyết mở trận đầu tại núi Trâu Sơn Gióng kéo quân đi đến đâu thì nhân dân ở đó từ trẻ em đến ông già đều tự nguyện theo Gióng ra trận Một lão nông ở thôn Đông Cao (tổng Tiểu Lễ, huyện Đa Phúc) đang đập đất, nghe tin Gióng ra trận, vội vác vồ chạy qua 99 cánh đồng mới kịp ngựa Gióng Khi Gióng qua làng Trung Mầu (Gia Lâm), qua làng Cán, làng Ngườm ở Quế Võ, có nhiều đoàn người đang làm ruộng cũng vác vồ, vác cuốc hoặc buông cày, buông bừa xin nhập vào quân đội Gióng Gióng còn cho cả trẻ em đang chăn trâu, chăn bò, đang câu cá, bắt ếch… theo quân Gióng ra trận Một lực lượng chống giặc Ân hùng hậu, phấn chấn, có đủ thành phần, đủ lứa tuổi…Đó là hình ảnh của toàn dân đánh giặc được khắc hoạ đủ màu trong huyền thoại và truyền thuyết Cuộc phản công tiêu diệt giặc Ân của Thánh Gióng theo thần tích
và truyền thuyết các làng có thể trải qua 4 đợt chiến đấu với chiến sự diễn
ra ở 4 địa bàn khác nhau
Đợt 1: Đối tượng tiêu diệt là thành Ân Vương, cũng chính là đại bản doanh của Thái tử Ân và Thạch Linh thần tướng Kết quả Ân Vương bị chém đầu Thánh Gióng quất bay đầu ngựa đá của Ân Vương xuống chân núi Phả
Trang 32Lại thì roi sắt cũng bị gẫy làm đôi Thánh Gióng giật gốc tre đằng ngà vút lia lịa, giặc lăn ra chết không đếm xuể Nhưng giặc còn tướng Thạch Linh rất ngoan cố và còn nuôi hy vọng đánh thắng quân ta Sách “ Lĩnh Nam chích quái” ghi trận này như sau : “… Trong chiến trận ở Trâu Sơn, Ân Vương ngực đeo bài ngọc bị chém chết ở dưới núi, tướng sĩ Ân thua chạy toán loạn…”
Đợt 2: Thánh Gióng chia quân chặn dọc phía sông Lục Đầu không cho giặc chạy thoát theo đường thuỷ Về phía giặc, Thạch Linh củng cố lại đội ngũ tướng sĩ, tăng cường phòng ngự khắp các đồn còn lại Thánh Gióng mở đợt vây quét, tập trung thanh toán địa bàn Tiên Du – Yên Việt Giai đoạn này hai bên đánh nhau to, chiến sự kéo dài suốt mấy ngày đêm rất ác liệt : giặc Ân
có đến 28 tướng bị tử trận, binh lính chết nhiều
Đợt 3: Địa bàn chủ yếu là vùng Đông Ngàn – Yên Phong - Hiệp Hoà Tại đây giặc bị quân ta truy quét ráo riết, ngày nào cũng giết và bắt được tướng giặc, lính giặc Sau đó, Gióng phi ngựa thúc quân truy lùng tướng Thạch Linh Vây bắt Thạch Linh ở Cánh Đồng Sào gần chợ Bầu Thạch Linh phá vòng vây, lặn ngụp xuống đáy sông rồi trốn vào rừng Khi đến làng Sổ (Phù Lỗ) tạm cho quân nghỉ, Gióng lau mồ hôi rồi tắm, gội đầu, ngủ bù một giấc Chỗ Gióng dừng quân nghỉ về sau dân làng lập đền gọi là đền Phù Lỗ Nơi Gióng tắm, gội đầu sau có tên là Bến Thánh Gội Đầu
Đợt 4: Đây là giai đoạn cuối của cuộc chiến đấu chống giặc Ân xâm lược Lần này địa bàn chủ yếu là các huyện Kim Hoa, Đa Phúc và một phần huyện Hiệp Hòa Ở đây giặc Ân đã thua to nhưng chưa giết được tên tướng Thạch Linh Thạch Linh là một dị nhân phương bắc, hắn cao lớn, khoẻ mạnh, răng cắn vỡ đá, chân chạy như sóc, mũi thở rung cành cây Nếu để nó sống sót thì nước Văn Lang còn có phen hậu hoạ về sau Bởi vậy Thánh Gióng quyết trừ khử cho được tên tướng đầu sỏ Thạch Linh (Văn bia gọi là Thạch Linh Thần Tướng) Quân ta bao vây Thạch Linh mỗi này một đông, một chặt,
Trang 33Thánh Gióng phi ngựa tới, Thạch Linh vừa chống trả, vừa tẩu thoát nhanh như sóc Thánh Gióng đoán biết thế nào Thạch Linh cũng nhằm hướng khu rừng Tam Đảo để thoát vào đó nhằm dung thân lâu dài Gióng đuổi gấp, đuổi riết cát bụi bay mù mịt, lá cành gẫy, phép thần của Thạch Linh không chọi nổi phép thần của Thánh Gióng Ngựa của Thạch Linh phi tới chân núi Sóc Sơn, không ngờ ngựa của Gióng như thần gió lao vút tới chồm lên chặn đầu ngựa giặc Thánh Gióng nhanh như cắt cầm gậy tre đập vỡ mặt Thạch Linh, đánh
vỡ sọ nốt tên Hữu tướng và Tả tướng của hắn Với trận Sóc Sơn, giết được ba tướng giặc hung ác, đập tan lực lượng xâm lược quân Ân, cuộc kháng chiến giữ nước đã kết thúc thắng lợi Người anh hùng làng Gióng sau khi hoàn thành nghĩa vụ đối với đất nước đã cởi áo giáp sắt vắt lên cây, ngồi ngắm nhìn quê hương rồi phóng ngựa bay về trời đi vào cõi bất tử một cách hào hùng, hiên ngang…
* Khái quát về các lễ hội để tưởng niệm Thánh Gióng ở Việt Nam
Đức Thánh Gióng - một trong tứ bất tử của Việt Nam, là biểu tượng chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam Thánh Gióng là sự khái quát hoá, hình tượng hoá và lý tưởng hoá toàn bộ quá trình sinh ra, lớn lên, chiến đấu, chiến thắng của đội quân chống xâm lược đầu tiên của Việt Nam trong thời kỳ Văn Lang Trong sức mạnh của con người có cả sức mạnh thể lực, của cánh tay và sức mạnh của tinh thần, ý chí phi thường Lễ hội về người anh hùng làng Gióng được giới thiệu thành bộ năm hội, tuy riêng lẻ song thống nhất về chủ đề Những lễ hội ấy phản ánh các truyền thuyết về người anh hùng từ nơi sinh ra và lớn lên, lập chiến công, con đường thực thi số mệnh công dân, đạo làm con và cuối cùng, sau khi hoàn thành nhiệm vụ cao cả của mình thì đã bay về trời (hay trở về với lòng tưởng niệm của nhân dân) Ở đây chất hiện thực và huyền thoại lãng mạn đan kết vào nhau chặt chẽ Lễ hội Gióng là vị thần được thờ với tư cách là một trong “Tứ bất tử” của Việt Nam,
Trang 34là một vị chính thần (phúc thần) có uy tín và sức mạnh (vô hình) quy tụ được nhân dân toàn quốc về một mối bảo vệ đất nước
- Hội Phù Gióng Chi Nam ở làng Sen Hồ, xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm, Hà Nội
Hội được mở tại làng Sen Hồ, xã Lệ Chi, huyện Gia Lân, Hà Nội) Làng thờ ông Hiển Công - người đã từng theo Thánh Gióng đi đánh giặc Ân Thời gian mở hội: ngày Mồng 8 tháng 4 âm lịch, tức là trước ngày hội chính của “Hội Gióng Phù Đổng” một ngày, gọi là Hội Chi Nam Chính vì hội được
mở ra trước ngày hội chính của Hội Gióng Phù Đổng một ngày nên được gọi
là Hội Phù Gióng với ý suy tôn Hội Gióng Phù Đổng
Nghi lễ của hội gồm phần Lễ diễn ra ở đình và phần hội là cuộc đấu vật
và đấu gậy giữa hai tốp trai làng với số người bằng nhau, khoẻ mạnh, đứng dọc hai bên hương án trước đình Tốp thứ nhất đóng quân khanh (quân ta) với mình trần, đóng khố đỏ, bao vàng Tốp thứ hai đóng giặc Ân với mình trần, khố xanh, bao trắng Sau khi cúng lễ Thánh, họ đứng nghiêm, đợi trống lệnh
là xông vào tiến hành vật đối kháng từng đôi một, giống như hình thức đánh giáp lá cà trong các trận chiến cổ đại Sau đấu vật là đấu gậy cũng với các hình thức như vậy Kết thúc đấu vật, đấu gậy bao giờ giặc cũng bị thua Sau thắng lợi của tốp quân khanh, ông đám (chủ hội) từ hậu cung đội mâm cỗ sơn son , trên có quả dừa, có thể là tượng trưng của đầu giặc, bước ra sân đình và đặt quả dừa lên ngọn cây tre đã chẻ làm tư Tốp quân khanh được phép lay dừa Ai cướp được là “tông”, tức là may mắn Lệ làng cho ngồi ăn cỗ tại đình với tiên chỉ Cuối hội, người thắng trận đập nát quả dừa và chia các mảnh cùi dừa cho trai làng giống như biểu tượng chia thành quả chiến thắng cho mọi người cùng được hưởng
- Hội Gióng Phù Đổng tại xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội
Ai ơi Mồng chín tháng Tư - Không đi hội Gióng cũng hư mất đời Như lời ca báo hội, nói đến hội Gióng, dân tứ sứ Đông, Nam, Đoài, Bắc thường
Trang 35nghĩ ngay đến hội Gióng Phù Đổng Thời gian: từ ngày Mồng 6 đến 12 tháng
4 âm lịch, ngày chính hội là Mồng 9 tháng 4 Vị thần tưởng niệm là Thánh Gióng Địa điểm: Đền Thượng, Đền Hạ, Đồng Đầm, Sòi Bia thuộc xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội Đây là lễ hội Thánh Gióng hoàn chỉnh nhất, mẫu mục trên nhiều phương diện: truyền thuyết, ý thức, cách thức tổ chức và nghệ thuật biểu hiện Hội lệ (trong hương ước của làng) quy định: Hội Gióng hằng năm được tổ chức tại làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, nay là xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội Hội do 5 làng gồm 19 giáp lo liệu, chi phí một phần được trích ra ở ruộng công Mỗi năm một giáp được cử làm chủ tọa hội, gọi là “Giáp kéo hội” Trong 5 làng trên chỉ có hai làng Phù Đổng và Phủ Dực được cử chủ tọa Chủ tọa lo mọi việc về hội
Các vai – nhân vật – hội được phân công như sau:
- Các ông hiệu (Bộ chỉ huy quân đội Văn Lang) bao gồm 6 người: Hiệu
cờ tượng trưng cho uy lực của Thánh Gióng, cầm cờ và múa cờ; Hiệu chiêng, cầm chiêng và múa chiêng; Hiệu trống, cầm trống và đánh trống; Hiệu trung quân chỉ huy đội quân trung tâm của Thánh Gióng; Hiệu tiểu cổ hai người chỉ huy quân tiên phong
- Phù giá nội (vệ binh) “làng áo đỏ”, “làng áo đen”: 12 người - Phù giá ngoại (quân chính quy) gồm 6 đạo quân x 15 người = 90 người
- Xướng suất: chỉ huy 6 đạo quân chính quy: gồm 6 người
- Quân thám sát: 15 người - Quân lương: 15 người
- Phường Ải Lao: đội múa hát và săn bắt hổ: 20 người
- Nhạc lễ: 20 người
- Cầm cờ, biển và mang đồ thờ: 50 người
- Nữ tướng Ân (trong đó có chánh, phó soái, hay còn gọi là tướng đốc, tướng ngựa): 28 người Tổng cộng là có 262 người Ngoài ra còn có quản gia phục dịch diễn trường gồm 200 người nữa Hội được tiến hành theo lịch định
rõ từ xưa:
Trang 36 Chuẩn bị hội: Mồng 1 tháng Ba đến Mồng 5 tháng Tư âm lịch
- Mồng 1 tháng Ba: lên đền Thượng (thờ Gióng) nhận sổ hội về cử các vai, phân việc
- Ngày 15 tháng Ba: nhận cờ lệnh, trống, chiêng về tập múa và đánh biểu diễn
- Ngày 25 tháng Ba: quét dọn đền, lau đồ thờ
- Mồng 1 tháng Tư: may xong cờ lệnh mới (dài 3,15m, rộng 0,35m, màu đỏ vàng, thêu chữ “Lệnh”)
- Mồng 5 tháng Tư: giáp áo, tức là tổng diễn tập
Vào hội: từ Mồng 6 đến Mồng 9 tháng Tư âm lịch
- Mồng 6 tháng Tư: Sáng bố trí chiến trường Chiều làm lễ rước nước
- Mồng 7 tháng Tư: Rước Miều lên đền Mẫu Rước cỗ chay (cơm cà) lên đền Thượng Đêm, tổ chức cho trai gái đuổi bắt nhau trên bãi sông
- Mồng 8 tháng Tư: Buổi chiều duyệt 28 vai nữ tướng Ân
- Mồng 9 tháng Tư: Đây là ngày hội chính, gồm có: rước Miều từ đền Mẫu lên đền Thượng, múa hát thờ; ban đêm tổ chức săn hổ và diễn hội trận 2 lần: + Trận thứ nhất ở Đống Đàm: biểu tượng cho đất Vũ Ninh Diễn trình gồm: Phường Ải Lao đang múa hát; thám sát báo quân giặc vây Đống Đàm Ngay lập tức trống, chiêng nổi lên, các ông hiệu múa lạy trước bàn thờ Gióng
và đoàn quân lên đường Chiến trường là bãi đất dưới chân đê Ở đó trải ba chiếc chiếu Giữa chiếu đặt một tờ giấy trắng và úp một chiếc bát lên Bát là đồi núi, giấy là mây Bàn thờ Gióng kê ở gần đó Khoảng 14h đám rước tới, ngựa Gióng đứng trên bàn cờ có lọng che, chiêng trống ầm vang, tiếng pháo
nổ, tiếng reo hò dậy đất Cuộc chiến bắt đầu và diễn ra theo trình tự: Tất cả ác tướng Ân xuống kiệu, đứng yên, chịu sự tấn công của quân ta Hiệu cờ giương cao cờ múa ba vòng theo hướng từ phải sang trái (ba ván thuận) rồi tiến vào giữa chiếu đá tung chiếc bát và tờ giấy lên Ngụ ý là Thánh Gióng đạp núi, đuổi mây, diệt tan quân giặc Trình tự ở chiếu hai và chiếu ba cũng
Trang 37vậy Nữ tướng Ân lên kiệu quay về Phù Đổng báo hiệu đại bại Quân ta toàn thắng trở về đền Thượng mở tiệc mừng
+ Trận thứ hai ở Sòi Bia: Thám sát báo giặc tới Sòi Bia Quân đội Văn Lang bỏ tiệc cấp tốc hành quân đến Sòi Bia nhằm thẳng đồn giặc mà đánh phá, bắt đước hai tướng Đốc và Ngựa, dẫn chúng về đồn Hiệu cờ múa điệu chém đầu giặc, rồi múa cờ ba vòng từ trái sang phải (ba ván nghịch) Đêm hôm ấy mở hội lớn để khao quân
Vãn hội
- Mồng 10 tháng Tư: Lễ tạ ơn Gióng Hùng binh dâng vật phẩm lên Gióng - Ngày 11 tháng Tư: Lễ rửa hội, rước nước về rửa khí giới (biểu tượng chiến tranh đã kết thúc) Tổ chức các trò múa hát, vui chơi
- Ngày 12 tháng Tư: Sáng: rước cắm cờ, quân ta kiểm tra lại chiến trường lần cuối từ Đống Đàm đến Sòi Bia Chiều: tế báo tin thắng trận với trời đất Hạ hội Đến dự hội người xem được chứng kiến nghi thức về một hệ thống lễ với các động tác đồng bộ, thuần thục, uy nghi, mang tính nghệ thuật
và biểu tượng cao Đến hội, người ta có dịp cảm nhận mối quan hệ hai chiều giữa làng với nước, giữa cá nhân và cộng đồng; quá khứ và hiện tại như hoà nhập với nhau vừa thiêng liêng lại vừa huyền ảo
- Hội Gióng Xuân Đỉnh ở Từ Liêm, Hà Nội
Truyền thuyết kể tiếp: đuổi giặc xong, đất nước thanh bình, Gióng như thiên sứ trở về trời Trên đường đi gặp buổi trời nắng, Gióng dừng chân tại làng Cáo (thôn Xuân Tảo, xã Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm, Hà Nội) tắm mát, nghỉ ngơi rồi ăn trưa với mo cơm và mấy quả cà Lúc ra đi Gióng bỏ quên thanh roi sắt Tới nay phiến đá Gióng ngồi nghỉ vẫn còn đó, dãi nắng dầm mưa bên cạnh chiếc giếng làng Đền thờ Gióng xã Xuân Đỉnh tục gọi là đền Sóc Hội Gióng đền Sóc Xuân Đỉnh mở vào ngày Mồng 6 tháng Giêng để tưởng nhớ công ơn và những kỉ niệm thiêng liêng gắn với dấu tích của Thánh Gióng trên đường trở về trời Sáng Mồng 6, từ sớm tinh mơ, cửa đền mở, đèn
Trang 38nến đước đốt sáng trưng, chiêng trống nổi lên báo hội bắt đầu Sau cuộc lễ, đám rước kiệu thánh uy nghi từ đền ra giếng để Thánh chứng kiến những vật chứng lịch sử mà dân làng vẫn gìn giữ như truyền thống đạo lý tốt đẹp: “Uống nước nhớ nguồn”
- Hội Gióng Bộ Đầu tại Thường Tín – Hà Tây
Vào Mồng 8 tháng Giêng âm lịch, vừa xong lễ khai hạ, dân các làng ven sông Hồng náo nức rủ nhau đi xem hội làng Bộ Đầu để đi xem đấu gậy Làng thờ Thánh Gióng làm thần thành hoàng, vì Thánh đã có công diệt đôi thuồng luồng trừ thuỷ quái cho nhân dân Nguyên là khi Thánh Gióng trên đường bay về trời, chợt nghe thấy những tiếng hò reo hoặc kêu la râm ran dưới đất Thánh Gióng cúi nhìn và lắng tai nghe thì nhận ra đó là tiếng kêu của dân chúng về đôi thuồng luồng đang hoành hành trên sông Hồng mà trong
đo hình như có một người đang bị thuồng luồng bắt đi, lúc nổi, lúc chìm Thương dân, căm loài thuỷ quái tàn bạo, Thánh Gióng quay lại, lao xuống nước đánh chết loài thuỷ quái và cứu được nạn nhân Thật là kỳ lạ và may mắn, người bị nạn lại chính là mẹ Gióng Vì thế ý nghĩa của hội này là thể hiện không chỉ công lao của Thánh Gióng mà còn thể hiện lòng biết ơn của người anh hùng đối với người đã sinh thành, nuôi dưỡng mình Lễ hội ở đây
có một biểu tượng khá đặc sắc là: các nghệ nhân tài hoa đã tạc tượng Thánh Gióng bằng gỗ cao tới 5m Đây là một công trình nghệ thuật tuyệt vời và hoành tráng Mỗi năm mở đám, sau lễ thánh, làng đều tổ chức cho trai đinh múa gậy chầu Thánh Và sau đó là cuộc thi đầu gậy giật giải đầy hào hứng, đẹp mắt trên tinh thần thượng võ Cuộc đấu gậy để hồi tưởng việc Thánh Gióng dùng tre đằng ngà làm vũ khí đánh giặc, đồng thời để rèn luyện chí khí cho trai làng trong việc giữ làng, giữ nước
Tóm lại, bộ năm lễ hội tưởng niệm Thánh Gióng – Phù Đổng Thiên Vương với nội dung các hội bổ sung cho nhau, lấy hội Gióng Phù Đổng làm hạt nhân, đã hoàn thiện hình ảnh cao cả của người anh hùng Đó là biểu tượng
Trang 39cho hai nhiệm vụ lớn lao của cộng đồng người Việt ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ trong quy trình sinh thành của mình là làm nông nghiệp và đánh giặc giữ làng, giữ nước Hội Phù Gióng Chi Nam: suy tôn hội Gióng Phù Đổng Hội Gióng Phù Đổng: nơi Thánh Gióng sinh ra, lớn lên và đánh thắng giặc
Ân, đem lại bình yên cho quê hương đất nước Hội Gióng Xuân Đỉnh: trên đường Thánh Gióng trở về trời
Hội Gióng Bộ Đầu: thực hiện đạo làm con, báo hiếu với người đã sinh thành ra mình Hội Gióng Sóc Sơn: đây là điểm chót cuộc hành trình nơi trần thế - nơi Thánh Gióng ngắm nhìn đất nước lần cuối, để lại áo và phi ngựa về trời Khu di tích lịch sử đền Sóc (đền Gióng) – Sóc Sơn được dựng lên để hoàn chỉnh bài ca huyền thoại về Thánh Gióng Nếu như Hội Gióng Phù Đổng diễn ra là để tưởng niệm ngày sinh của Thánh Gióng thì Hội Gióng đền Sóc Sơn diễn ra là để tưởng niệm đến ngày hoá (ngày giỗ) của Ngài Về dự lễ hội là dịp để người ta tưởng nhớ và tỏ lòng biết ơn Thánh Gióng - người anh hùng dân tộc đã đánh tan giặc Ân xâm lược đem lại sự bình yên cho nhân dân Thần tích Phù Đổng Thiên Vương với hai khu thờ: ở làng Phù Đổng (Gia Lâm - Hà Nội) và đền Sóc (Phù Linh - Sóc Sơn) sẽ mãi là nơi lưu giữ và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, di sản văn hóa quốc gia
- Lễ hội đền Sóc (Đền Gióng) tại Sóc Sơn
Lễ hội đền Gióng đã tồn tại hàng ngàn năm gắn liền với đời sống tâm linh của người dân huyện Sóc Sơn Sau năm 1945, do điều kiện chiến tranh và các điều kiện khách quan khác mà lễ hội đền Sóc bị thu hẹp lại, thậm chí có năm lễ hội chỉ là của thôn Vệ Linh với tục tiến giò hoa tre là chính Từ những năm chín mươi của thế kỷ XX và gần đây lễ hội mới dần được khôi phục lại gần với truyền thống hơn, phần hội được tổ chức phong phú hơn
Trên lăng bia đá 8 mặt còn lưu giữ tại đền Sóc có những thông tin ghi chép về lễ hội truyền thống Bia đá ghi tên các tổng, các thôn làng trực tiếp tham gia rước lễ lên đền và các làng thờ vọng, cung cấp thông tin về các đền
Trang 40thờ Thánh Gióng khác trong huyện ngoài đền Sóc, bia đá ghi “ Hàng năm vào ngày 7 tháng Giêng có hội lớn, các tổng xã Tiên Dược, Phù Lỗ, Hương Đình, Phổ Lộng, Xuân Lai, Xuân Bảng, Thượng Giã dâng lễ ở đền Sóc Sơn, sau đó tổng Yên Tàng dâng thưởng, thôn Vệ Sơn dâng quân thuyền, thôn Dược Thượng dâng voi, thôn Đức Hậu dâng ngà voi, thôn Yên Sào dâng cỏ cho voi
ăn, thôn Đan Tảo dâng trầu, thôn Xuân Bảng dâng cây, Tiên Dược cùng với Hương Đình, Xuân Bách, Đông Lai, Xuân Dục, Đông Xoài, Xuân Tàng, Yên Tàng, Phú Tàng dâng hoa trúc (tục gọi là dâng đò) Tổng Cổ Bái, tổng Kim Anh, tổng Giã Thượng, tổng Linh Bắc dâng lễ ở đền vọng Thanh Nhàn, Kim Anh dâng chướng, Cổ Bái dâng quân, Đa Thượng diễn trữ, hai xã Thanh Nhàn, Chi Đông dâng hoa trúc Tổng Đông Đô dâng lễ ở đền thờ vọng Đông
Đồ, tổng Cổ Bái dâng lễ ở đền thờ vọng Cẩm Bào, tổng Tửu Lễ dâng lễ ở đền vọng Tửu Lễ
Ngày 11/2 tổng Tiên Dược, Xuân Dục, Xá Đông, Đoài, xã Vệ Sơn, xã Xuân Bảng đến đền đón rước nhập tịch về đền Phù Mã làm hội diễn đến 15 ngày sau mới tan tiệc Ngày lễ lại tổng Phù Lỗ, Phù Xá, Xuân Nội đến đền rước về nhập tịch ở đền thờ vọng Phù Lỗ đến 20 ngày mới tan cuộc Như vậy, theo thông tin trong bia đá thì có rất nhiều thôn xã trong huyện tham gia vào hội đền và chúng ta chưa thể phục hồi được hết các nghi thức lễ rước của hội như: lễ rước quân thuyền của thôn Vệ Sơn Đông, lễ dâng cây của thôn Xuân Bảng, lễ dâng hoa trúc của một số thôn
Hàng năm, từ ngày mồng 6 đến ngày mồng 8 tháng Giêng tại khu di tích này, một lễ hội lớn được tổ chức với sự góp mặt của hàng chục đội rước đến từ các thôn, xã trong huyện, thu hút hàng ngàn lượt khách tới hành lễ, thăm quan Lễ hội đền Sóc là một hồi ức đẹp, một hồi ức văn hóa được trao truyền và tái hiện từ thế hệ này qua thế hệ khác để tưởng nhớ người anh hùng huyền thoại xa xăm Và hồi ức ấy mỗi khi được tái hiện đều mang theo những