1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Báo chí bắc ninh với công tác bảo tồn và phát huy dân ca quan họ

153 215 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 5,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các giá trị văn hóa có xu hướng mai một theo thời gian như: sự biến tướng các làn điệu dân ca Quan họ, sự mai một các làn điệu Quan họ cổ, tầng lớp nghệ nhân thì ngày một già đi trong kh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

HOÀNG THỊ HIỀN

BÁO CHÍ BẮC NINH VỚI CÔNG TÁC BẢO TỒN

VÀ PHÁT HUY DÂN CA QUAN HỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Hà Nội - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

HOÀNG THỊ HIỀN

BÁO CHÍ BẮC NINH VỚI CÔNG TÁC BẢO TỒN

VÀ PHÁT HUY DÂN CA QUAN HỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Báo chí học

Mã số: 60 32 01 01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Linh Khiếu

Hà Nội – 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “Báo chí Bắc Ninh với công tác bảo

tồn và phát huy dân ca Quan họ” là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Linh

Khiếu Những số liệu trích dẫn và kết quả nghiên cứu đề tài đưa ra dựa trên

thực tế điều tra và chưa từng được ai công bố Nếu những thông tin tôi cung

cấp không chính xác, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Hiền

Trang 4

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Hiền

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Sự phân bố làng Quan họ gốc 35 Bảng 2 1: Kết quả khảo sát về số lượng trên Báo Bắc Ninh từ tháng 1 năm 2015 đến hết tháng 12 năm 2016: từ số 3452 - 3971 54 Bảng 2.2: Kết quả khảo sát về số lượng trên sóng phát thanh của Đài Phát thanh – Truyền hình Bắc Ninh từ tháng 1 năm 2015 đến hết tháng 12 năm 2016: 55 Bảng 2.3: Kết quả khảo sát về số lượng trên sóng truyền hình của Đài Phát thanh – Truyền hình Bắc Ninh từ tháng 1 năm 2015 đến hết tháng 12 năm

2016 56 Bảng 2.4 Tổng hợp đánh giá chất lượng các tin, bài về dân ca Quan họ trên các cơ quan báo chí địa phương 59 Bảng 2.5 Tổng hợp kết quả nhận xét các mặt thông tin 60

về dân ca Quan họ của Báo Bắc Ninh, Đài PT-TH Bắc Ninh 60 Bảng 2.6 Tổng hợp thời lượng và thời gian đăng tải, phát sóng các chương trình về dân ca Quan họ trên báo chí Bắc Ninh 62

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu 11

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 12

7 Bố cục luận văn 12

Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BÁO CHÍ VÀ DÂN CA QUAN HỌ 13 1.1 Một số khái niệm 13

1.1.1 Khái niệm dân ca 13

1.1.2 Khái niệm dân ca Quan họ 15

1.1.3 Khái niệm bảo tồn và phát huy giá trị dân ca Quan họ 16

1.1.4 Báo chí 20

1.1.5 Giới thiệu về báo in, phát thanh, truyền hình; đặc điểm và thế mạnh của các loại hình báo chí trong diện luận văn khảo sát 27

1.2 Dân ca Quan họ Bắc Ninh và tầm quan trọng của việc bảo tồn, phát huy giá trị của dân cả Quan họ 29

1.2.1 Khái quát về tỉnh Bắc Ninh 29

1.2.2 Khái quát về dân ca Quan họ Bắc Ninh 31

1.2.3 Tầm quan trọng của việc bảo tồn, phát huy giá trị dân ca Quan họ 40 1.3 Vai trò của báo chí Bắc Ninh trong công tác bảo tồn và phát huy dân ca Quan họ 42

Tiểu kết 48

Trang 7

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY

DÂN CA QUAN HỌ TRÊN BÁO CHÍ BẮC NINH 49

2.1 Giới thiệu chung về báo chí Bắc Ninh 49

2.2 Công tác bảo tồn và phát huy dân ca Quan họ trên báo chí Bắc Ninh 53

2.2.1 Khảo sát tần suất các bài viết về dân ca Quan họ trên báo chí Bắc Ninh 53

2.2.2 Kết quả thăm dò về nội dung tuyên truyền và nhu cầu thông tin về dân ca Quan họ của công chúng trên các cơ quan báo chí trong diện khảo sát 58

2.3 Những nội dung chính được thể hiện 62

2.3.1 Các văn bản chỉ đạo của Trung ương và tỉnh về dân ca Quan họ, công tác bảo tồn và phát huy dân ca Quan họ 63

2.3.2 Các làng Quan họ 65

2.3.3 Các nghệ nhân Quan họ 68

2.3.4 Đặc điểm của dân ca Quan họ được phản ánh trên báo chí Bắc Ninh 73

2.4 Hình thức chuyển tải thông tin bảo tồn và phát huy dân ca Quan họ 80

2.4.1 Thể loại 80

2.4.2 Ngôn ngữ 89

2.4.3 Ảnh 93

2.4.4 Chuyên trang, chuyên mục 95

Tiểu kết 98

Chương 3: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY BÁO CHÍ BẮC NINH THỰC HIỆN TỐT CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DÂN CA QUAN HỌ 99

3.1 Đánh giá thành công, hạn chế của báo chí Bắc Ninh trong công tác bảo tồn và phát huy dân ca Quan họ 99

3.1.1 Một số thành công và nguyên nhân thành công 99

Trang 8

3.2.5 Nâng cao chất lượng nội dung và hình thức sản phẩm báo chí 111

Tiểu kết 115 KẾT LUẬN 116 TÀI LIỆU THAM KHẢO 119 PHỤ LỤC

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong dòng chảy của văn hóa dân tộc, Quan họ là một loại hình dân

ca đặc sắc của người dân vùng Bắc Ninh – Kinh Bắc Trải qua bao thế kỷ, Quan họ gắn bó chặt chẽ với đời sống con người, phản ánh một cách khái quát, sâu sắc sinh hoạt văn hóa phong phú của cộng đồng làng xã Với sự

kế thừa, phát huy những tinh hoa văn hóa các vùng miền, bằng lối diễn xuất vô cùng điêu luyện, tinh tế đạt tới một trình độ cao, Quan họ đã trở thành nghệ thuật độc đáo, đặc trưng, bản sắc riêng có của quê hương

Bắc Ninh là nơi khởi nguồn dân ca Quan họ Nói đến dân ca Quan

họ là nói đến nền văn hoá tổng thể hợp thành từ nhiều yếu tố văn hóa nghệ thuật dân gian trong một quá trình lịch sử lâu dài, có nhiều tầng, nhiều lớp trong một chỉnh thể văn hóa; gắn bó với văn hóa, văn minh làng xã, thu hút

và biểu hiện những ước mơ; tập hợp và hành động chung cho những nguyện vọng, những khao khát của con người xứ Bắc từ nhiều đời đối với quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc của con người trên bình diện văn hóa

- xã hội

Dân ca Quan họ Bắc Ninh là thể loại dân ca phong phú nhất về mặt giai điệu trong kho tàng dân ca Việt Nam Mỗi một bài dân ca Quan họ Bắc Ninh đều có giai điệu riêng Dân ca Quan họ cổ truyền vốn không phải là nghệ thuật biểu diễn với 2 vai (nghệ sĩ - khán giả) như Tuồng, Chèo, Ca trù Bản chất của nó là thú chơi dân dã, nên người

ta mới gọi là “chơi Quan họ” Dân ca Quan họ hiện đại không chỉ là thú chơi nữa, mà là một sự trình diễn của những người hát Quan họ cùng với các thiết bị âm thanh điện tử

Ngày 30 tháng 9 năm 2009, tại kỳ họp lần thứ 4 của Ủy ban liên Chính phủ Công ước UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (từ ngày

Trang 10

28 tháng 9 tới ngày 2 tháng 10 năm 2009) dân ca Quan họ Bắc Ninh đã được công nhận là di sản phi vật thể đại diện của nhân loại Việc dân ca Quan họ Bắc Ninh được công nhận là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại sẽ góp phần tăng cường vị trí, vai trò của di sản này đối với xã hội, làm giàu thêm bức tranh đa dạng văn hóa của Việt Nam

và của nhân loại

Nhưng hiện nay do tác động của kinh tế thị trường, sự du nhập các nền văn hóa khác nhau đã ảnh hưởng không nhỏ tới sự bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa Quan họ Việc gìn giữ văn hóa đang được đặt ra cấp bách ở giai đoạn hiện tại và trong tương lai, công việc này đòi hỏi nhiều thời gian và công sức Đó không đơn thuần là công việc của ngành văn hoá, ngành khảo cổ, ngành văn học dân gian, âm nhạc mà là công việc đòi hỏi phải có sự tham gia nhiệt tình của các cấp các ngành trong đó

có báo chí

Các giá trị văn hóa có xu hướng mai một theo thời gian như: sự biến tướng các làn điệu dân ca Quan họ, sự mai một các làn điệu Quan họ cổ, tầng lớp nghệ nhân thì ngày một già đi trong khi thế hệ trẻ đam mê Quan

họ trẻ lại rất ít, nhiều nghệ nhân cao tuổi đã mất mang theo những giá trị văn hóa Quan họ quý báu đi theo…

Trước thực trạng của dân ca Quan họ, bản thân tôi là người được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Bắc Ninh – Kinh Bắc, quê hương của những làn điệu dân ca Quan họ, với tư cách là thế hệ trẻ, là một người hoạt động trong lĩnh vực thông tin, tuyên truyền, tôi cảm nhận rõ được những ảnh hưởng của báo chí địa phương đối với hoạt động tuyên truyền

về dân ca Quan họ, công tác bảo tồn dân ca Quan họ Tuy nhiên, báo chí địa phương tuyên truyền về lĩnh vực này chưa nhiều, hình thức thể hiện chưa phong phú, đa dạng và còn có mặt hạn chế như: Báo Bắc Ninh, Đài

Trang 11

Phát thanh – Truyền hình tỉnh chưa chủ động trong việc tuyên truyền về lĩnh vực này mà mới chỉ dừng lại ở việc tuyên truyền về các hoạt động liên quan đến dân ca Quan họ, công tác bảo tồn và phát huy dân ca Quan

họ khi được các cơ quan liên quan mời theo sự kiện hoặc được lãnh đạo cấp trên giao nhiệm vụ…

Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Báo chí Bắc Ninh với công tác bảo tồn và

phát huy dân ca Quan họ” làm đề tài luận văn Thạc sỹ chuyên ngành

Báo chí học Qua việc đánh giá đúng thực trạng, chất lượng, nội dung các tác phẩm báo chí tuyên truyền về hoạt động này trên các cơ quan báo chí địa phương, góp phần chỉ ra những hạn chế những yếu kém trong việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa của Quan họ, nhân rộng các yếu tố tích cực của Quan họ hơn nữa, để cho dân ca Quan họ Bắc Ninh không những không bị mai một mà còn phát triển nở rộ, luôn luôn xứng đáng là đại diện di sản văn hóa phi vật thể xuất sắc cho cả dân tộc và nhân loại

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Cho tới nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về dân ca Quan họ Bắc Ninh, có những tác phẩm, đề tài mang cấp Nhà nước, có những đề tài mang cấp tỉnh… nhưng tựu chung lại các tác phẩm đó đều hướng vào việc nghiên cứu tìm hiểu các giá trị văn hóa, các nét đẹp của dân ca Quan họ Từ đó, các nhà nghiên cứu đều chỉ ra thực trạng của dân

ca Quan họ, căn cứ vào đó chỉ ra các nguyên nhân và đưa ra các giải pháp cho quá trình bảo tồn, phát huy di sản văn hóa phi vật thể Quan họ sao cho phù hợp với điều kiện và tình hình mới hiện nay

Điển hình là một số công trình nghiên cứu có giá trị về loại hình Dân

ca như: “Báo chí với việc bảo tồn và phát huy Dân ca Xoan, ghẹo – Luận văn tốt nghiệp của Nguyễn Thị Thu Hà - Khoa Báo chí Truyền Thông –

Trang 12

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn”; “Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam trên báo chí” – Luận văn tốt nghiệp của Lê Vũ Điệp – Khoa Báo chí Truyền thông – Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn; “Báo chí với vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Hà Nội” – Luận văn tốt nghiệp của Hoàng Hương Trà – Khoa Báo chí Truyền thông – Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn…

Theo dòng lịch sử, vào năm 1978, tập thể các tác giả gồm Đặng Văn Lung, Hồng Thao, Trần Linh Quý đã xuất bản cuốn “Quan họ nguồn gốc

và quá trình phát triển” Trong tác phẩm này, các tác giả đã tiến hành nghiên cứu quá trình hình thành Quan họ, đồng thời tìm hiểu sức sống, sự phát triển của Quan họ theo dòng thời gian Tác phẩm đã cho độc giả thấy được những nét đẹp trong không gian văn hóa Quan họ, cách ứng xử, các tín ngưỡng trong Quan họ, tục kết bạn của người Quan họ… Bên cạnh đó, tác phẩm cũng đã giới thiệu một số bài Quan họ cổ ở các làng Quan họ khác nhau và so sánh sự giống và khác nhau giữa các làng Quan họ về giọng điệu, cách luyến láy… Cuốn sách này đặt nền móng cho việc nghiên cứu về Quan họ sau này

Tập thể nhiều tác giả khác nhau đã nghiên cứu về “Lối chơi Quan họ” được xuất bản tại nhà xuất bản Văn hóa thông tin năm 2006 Trong cuốn này, các tác giả tập trung vào nghiên cứu các lối chơi Quan họ khác nhau giữa các làng Quan họ Đồng thời, các tác giả cũng chỉ ra những nét đẹp, sự tinh tế của lối chơi Quan họ đúng như câu nói “ Nghề chơi Quan họ có tinh mới tường” Cũng trong năm 2006, Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Bắc Ninh đã xuất bản cuốn “Quan họ Bắc Ninh thực trạng và giải pháp bảo tồn” Đây là công trình nghiên cứu đầy kỳ công của Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Bắc Ninh, cuốn sách cũng giới thiệu chung về dân ca Quan họ Bắc Ninh, khái quát quá trình hình thành và phát triển của dân ca Quan họ,

Trang 13

nghiên cứu sâu về thực trạng của loại hình dân ca đặc sắc này chỉ ra những mặt tích cực, tiêu cực trong công tác bảo tồn Từ thực trạng và nguyên nhân, Sở đã đưa ra hệ thống các giải pháp nhằm bảo tồn một cách tốt nhất cho loại hình văn hóa phi vật thể này

Trong quá trình chờ UNESCO xét duyệt hồ sơ công nhận dân ca Quan

họ trở thành di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại thì năm 2008,

Sở VH, TT và DL Bắc Ninh đã xuất bản cuốn “Làng và nghệ nhân Quan

họ Bắc Ninh” gồm nhiều tác giả tham gia trong đó ông Nguyễn Đăng Túc làm Trưởng ban Cuốn sách này đã khái quát về văn hóa Quan họ ở các làng Quan họ cổ có truyền thống hát Quan họ từ lâu đời cho tới nay Phần hai của cuốn sách trình bày về các nghệ nhân Quan họ tiêu biểu được Đảng, Nhà nước, UBND tỉnh Bắc Ninh trao tặng danh hiệu “nghệ nhân dân

ca Quan họ Bắc Ninh”, trong đó nói lên quá trình học hát Quan họ, công lao của các nghệ nhân trong việc lưu giữ và truyền dạy những làn dân ca Quan họ đầy mượt mà trữ tình cho các thế hệ con cháu mai sau

Khi Quan họ trở thành di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận thì việc sưu tầm, nghiên cứu, tiến hành bảo tồn phát huy dân ca Quan họ

là nhiệm vụ quan trọng của tỉnh Bắc Ninh Một trong những cách thức góp phần bảo tồn di sản này là việc nghiên cứu in thành ấn phẩm Năm 2010, đã

có rất nhiều tác phẩm khác nhau nghiên cứu về dân ca Quan họ ở Bắc Ninh trong đó nổi bật có cuốn “Về miền Quan họ” của nhiều tác giả khác nhau, cuốn “Dân ca Quan họ lời ca và bình giảng” của Trung tâm văn hóa tỉnh Bắc Ninh phát hành và cuốn “300 bài dân ca Quan họ Bắc Ninh” của tác giả Hồng Thao sưu tập và ký âm Các cuốn trên đều giới thiệu về dân ca Quan họ ở các làng Quan họ gốc, giới thiệu những nét đẹp, những tinh hóa văn hóa của Quan

họ Riêng cuốn của tác giả Hồng Thao thì đã ghi lại hơn 200 bài hát Quan họ

cổ ở các làng Quan họ khác nhau Có những bài dân ca Quan họ ít người biết

Trang 14

đến và đang có nguy cơ thất truyền Việc sưu tầm và ký âm này có vai trò vô cùng quan trọng giúp chúng ta có thể lưu giữ lại các làn điệu dân ca Quan họ

cổ tránh nguy cơ bị mai một, bị thất truyền

Nói tóm lại, với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đến nay đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu khác nhau về dân ca Quan họ Bắc Ninh Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu có hệ thống, nghiên cứu sâu, chỉ ra những giải pháp để nâng cao hơn nữa về vai trò của báo chí trong công tác bảo tồn và phát huy dân ca Quan họ cả về mặt lý luận và thực tiễn

Do đó, việc nghiên cứu đề tài “Báo chí Bắc Ninh với công tác bảo tồn và phát huy dân ca Quan họ” là nghiên cứu bước đầu, có ý nghĩa về mặt lý luận, thực tiễn trên cả lĩnh vực báo chí, cũng như công tác bảo tồn và phát huy dân ca Quan họ vừa phù hợp với cuộc sống thời hiện đại, vừa giữ được những lề lối của Quan họ cổ

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa các lý luận liên quan đến đề tài của luận văn khảo sát, đánh giá thực trạng báo chí Bắc Ninh với công tác bảo tồn và phát huy dân ca Quan họ thời gian qua, đề xuất một số giải pháp chủ yếu giúp báo chí Bắc Ninh thực hiện tốt hơn nhiệm vụ trong công tác bảo tồn và phát huy dân ca Quan họ hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt mục đích trên, luận văn sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận chung về báo chí, Quan họ và thực trạng công tác bảo tồn và phát huy dân ca Quan họ của báo chí Bắc Ninh

- Khảo sát, đánh giá thực trạng báo chí Bắc Ninh với công tác bảo tồn

và phát huy dân ca Quan họ Những thành công, hạn chế của báo chí Bắc Ninh với công tác bảo tồn và phát huy dân ca Quan họ hiện nay

Trang 15

- Nêu một số quan điểm và đề xuất một số giải pháp chủ yếu giúp báo chí Bắc Ninh thực hiện tốt hơn nhiệm vụ trong công tác bảo tồn và phát huy dân ca Quan họ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu Báo chí Bắc Ninh với công tác bảo tồn và phát huy dân ca Quan họ ở tỉnh Bắc Ninh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Đối tưởng khảo sát: Báo Bắc Ninh, Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh

- Thời gian khảo sát: Trong 2 năm (từ năm 2015 đến hết 2016)

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về di sản văn hóa nói chung, di sản dân ca Quan họ nói riêng, vai trò của báo chí với công tác bảo tồn và phát huy dân ca Quan họ

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liê ̣u : Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về báo chí, công tác bảo tồn và phát huy dân ca Quan họ và những tác động của báo chí Bắc Ninh với công tác bảo tồn và phát huy dân

Trang 16

quả để đi đến đánh giá một cách khái quát về vị trí, vai trò của báo chí Bắc Ninh với công tác bảo tồn và phát huy dân ca Quan họ

- Tổng hợp các quan điểm liên quan đến đề tài từ các tài liệu khoa học, sách, báo, tạp chí

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

- Góp phần hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về báo chí với công tác bảo tồn và phát huy dân ca Quan họ

- Trên cơ sở khảo sát thực trạng báo chí Bắc Ninh với công tác bảo tồn và phát huy dân ca Quan họ thời gian qua, nêu một số quan điểm và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của báo chí Bắc Ninh với công tác bảo tồn và phát huy dân ca Quan họ hiện nay

- Luận văn góp thêm tài liệu tham khảo phục vụ sinh viên báo chí, các phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí, cán bộ ngành văn hóa, cơ quan quản lý di sản văn hóa và những người quan tâm đến lĩnh vực này

7 Bố cục luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về báo chí và dân ca Quan họ

Chương 2: Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy Dân ca Quan họ trên báo chí Bắc Ninh

Chương 3: Giải pháp thúc đẩy báo chí Bắc Ninh thực hiện tốt công tác bảo tồn và phát huy dân ca Quan họ

Trang 17

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ BÁO CHÍ VÀ DÂN CA QUAN HỌ

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Khái niệm dân ca

Dân tộc Việt Nam là một trong những dân tộc có nền văn hóa dân gian đậm đà bản sắc dân tộc và giá trị của nó đã vượt qua bao thử thách của thời gian, bởi lẽ bản chất của văn hóa dân gian là lòng nhân nghĩa, thủy chung, vì nghĩa tình, vì ấm no, hạnh phúc Đó là một cống hiến lớn lao, xứng đáng góp vào nền văn hóa chung của nhân loại

Dân ca là những viên ngọc quý trong kho tàng văn học và âm nhạc dân gian của cả dân tộc Một trong những giá trị quý báu của dân ca là cho chúng ta thấy khá sâu sắc về cuộc sống, tâm hồn của người Việt Nam Qua lời văn, nét nhạc, hình tượng dân ca, con người lao động Việt Nam từ bao đời nay muốn phô bày một cách chân thực nỗi lòng, ý nghĩ, tình cảm của mình Mỗi miền dân ca trong cả nước, ta lại không gặp những con người Việt Nam chung chung, với một phong cách dân tộc chung chung, mà ở đây ta gặp những con người Việt Nam cụ thể, những tâm hồn có phong cách riêng được hun đúc từ bao đời ở những vùng văn hóa dân gian khác nhau Con người Việt Nam qua dân ca là con người gắn bó với cuộc sống, tha thiết với quê hương, say sưa trong yêu thương, thủy chung trong nghĩa tình, cần cù, giản dị mà lại giàu mơ ước, hoài bão

Dân ca Việt Nam là một thể loại âm nhạc cổ truyền, qua việc truyền khẩu, truyền ngón các bài dân ca, mỗi người diễn xướng có quyền ứng tác

tự do, góp phần sáng tạo của mình vào tác phẩm trong quá trình biểu diễn

Do vậy họ gần như là “đồng tác giả” với những người sáng tác mà người sáng tác ban đầu không rõ là ai Một bài dân ca thường tồn tại với một bản coi như bản gốc, gọi là lòng bản và nhiều bản được ứng tấu thêm hay sửa

Trang 18

đổi gọi là dị bản Những bài dân ca được nhiều người yêu thích sẽ được truyền bá đi khắp nơi Hiện nay các nhạc sĩ đã sáng tác thêm những lời ca mới dựa trên các làn điệu đã có tạo nên sự đa dạng và phong phú cho dân

ca Các dịp biểu diễn thường là lễ hội, hát làng nghề ngoài ra thường ngày cũng được hát lên trong lao động để động viên nhau, hay trong tình yêu đôi lứa, trong tình cảm giữa người và người Tuy nhiên mỗi tỉnh thành, dân ca Việt Nam lại có phát âm, giọng nói và các từ khác nhau nên cũng có thể phân theo tỉnh cho dễ gọi vì nó cũng có tính chung của miền Bắc, miền Trung và miền Nam Ngày nay, khi khảo sát một bài dân ca được phổ biến

ở một vùng nào đó, muốn biết được xuất xứ của chúng, người ta thường dựa vào một vài đặc điểm, trong đó ví dụ như tiếng địa phương, những địa danh Đây là cách dễ nhận biết nhất để nhận ra xuất xứ của một bài dân ca Nói chung trong các bài dân ca miền Bắc thường có những từ đệm như: “rằng, thì, chứ ”

và các dấu giọng như: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng được dệt bới những nốt nhạc sao cho việc phát âm được rõ nét Một số phụ âm được phát âm một cách đặc thù như: “r, d, gi” hay “s và x” phát âm giống nhau, không phân biệt nặng nhẹ Dân ca miền Trung thì thường có chữ “ ni, nớ, răng, rứa ” dấu sắc được đọc thành dấu hỏi (so với giọng người Bắc), dấu hỏi và ngã đều được đọc giống nhau và trầm hơn chữ không dấu Những bài dân ca miền Nam thì thường có chữ “má (mẹ), bậu (em), đặng (được) ” chữ “ê” đọc thành chữ “ơ”, dấu ngã đọc thành dấu hỏi, Nhưng nhìn chung thì vẫn là thoát thai từ lòng dân với đậm tính chất mộc mạc giản dị của họ

Theo tiến sĩ khoa học Phạm Lê Hòa (Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương), dân ca là một loại hình âm nhạc với các thuộc tính không có tên tác giả, được lưu truyền từ đời này sang đời khác bằng phương thức truyền miệng; gắn với đời sống của người dân và mang màu sắc vùng miền

Trang 19

Theo GS.TS Trần Quang Hải (Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu

khoa học về Sơ lược về dân ca Việt Nam): “Dân ca là những bài hát, khúc

ca được sáng tác và lưu truyền trong dân gian mà không thuộc về riêng một tác giả nào Đầu tiên bài hát có thể do một người nghĩ ra rồi truyền miệng qua nhiều người từ đời này qua đời khác và được phổ biến ở từng vùng, từng dân tộc… Các bài dân ca được gọt giũa, sàng lọc qua nhiều năm tháng

bền vững với thời gian”

Tóm lại, dân ca là những bài hát, khúc ca được sáng tác và lưu truyền trong dân gian mà không thuộc về riêng một tác giả nào Đầu tiên bài hát có thể do một người nghĩ ra rồi truyền miệng nhau qua nhiều nguời

từ đời này qua đời khác và được phổ biến ở từng vùng, từng dân tộc Các bài dân ca được gọt giũa, sàng lọc qua nhiều năm tháng và bền vững cùng với thời gian

Từ đó, có thể hiểu khái niệm về dân ca như sau: Dân ca là những bài hát cổ truyền do nhân dân sáng tác được lưu truyền từ thế hệ này sang thế

hệ khác

1.1.2 Khái niệm dân ca Quan họ

Hàng năm, cứ mỗi độ xuân về và khi mùa thu tới, người dân 49 làng Quan họ gốc thuộc xứ Kinh Bắc (bao gồm cả Bắc Ninh và Bắc Giang ngày nay), dù ở bất cứ nơi đâu cũng trở về quê hương để trẩy hội đình, hội chùa, những lễ hội hết sức độc đáo bởi đã gắn liền với trình diễn Quan họ tự bao đời nay

Mặc dầu còn có những ý kiến khác nhau về thời điểm ra đời của Quan họ, có ý kiến cho là Quan họ có từ thế kỷ 11, số khác cho là từ thế kỷ 17, song, các công trình khảo sát, nghiên cứu từ trước tới nay đều đã khẳng định giá trị to lớn của di sản "Văn hóa Quan họ", đặc biệt

là dân ca Quan họ, loại hình nghệ thuật được coi là cốt lõi của văn hóa

xứ "Kinh Bắc" ngàn năm văn hiến

Trang 20

Dân ca Quan họ là một hình thức hát giao duyên Những liền anh trong trang phục truyền thống khăn xếp, áo the và những liền chị duyên dáng trong bộ áo mớ ba, mớ bẩy, đầu đội nón thúng quai thao,

cùng nhau hát đối những câu ca mộc mạc, đằm thắm, cách hát theo lối truyền thống không cần nhạc đệm mà vẫn đầy chất nhạc, thể hiện nét văn hóa tinh tế của người Quan họ

Theo quan niệm của người Quan họ, nghệ nhân là những người có

kỹ năng hát “vang, rền, nền, nẩy” điêu luyện, thuộc nhiều bài, nhiều

"giọng" Quan họ Họ chính là những bậc thầy dân gian thực hành việc sáng tạo, lưu giữ và trao truyền vốn di sản quý báu đó cho các thế hệ mai sau nên rất xứng đáng được tôn vinh

Dân ca Quan họ là một trong những làn điệu dân ca tiêu biểu của vùng châu thổ sông Hồng ở miền Bắc Việt Nam Nó còn được hình thành

và phát triển ở vùng văn hóa Kinh Bắc xưa, đặc biệt là khu vực ranh giới hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh ngày nay

Như vậy, Dân ca Quan họ là những làn điệu dân ca của vùng đồng bằng Bắc Bộ, tập trung chủ yếu ở vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh và Bắc Giang) Đây là môn nghệ thuật được hợp thành bởi nhiều yếu tố như âm nhạc, lời

ca, phục trang, lễ hội … với một lối hát giao duyên dân dã, thể hiện mối quan hệ gắn bó tình nghĩa giữa những "liền anh", "liền chị" hát quan họ và

là nét văn hóa tiêu biểu của người dân vùng Kinh Bắc

1.1.3 Khái niệm bảo tồn và phát huy giá trị dân ca Quan họ

Trang 21

đổi, biến hóa hay biến thái” Như vậy, trong nội hàm của thuật ngữ này, không có khái niệm “cải biến”, hay “nâng cao” hoặc “phát triển” Hơn nữa, khi nói đối tượng bảo tồn “phải được nhìn là tinh hoa”, chúng ta đã khẳng định giá trị đích thực và khả năng tồn tại theo thời gian, dưới nhiều thể trạng và hình thức khác nhau của đối tượng được bảo tồn

Công tác bảo tồn dân ca Quan họ là hoạt động của các chủ thể trong xã hội nhằm mục đích giữ gìn, bảo vệ, làm giàu và phát huy dân ca Quan họ ở hiện tại và tương lai

Công tác bảo tồn dân ca Quan họ có nhiều cấp độ khác nhau, bao gồm các hoạt động như: Bảo tồn nguyên trạng (Authentic conservation); Trùng tu (Restoration); Gia cố (Consolidation); Tái định vị (Anastilose); Phục hồi (Restore); Tái tạo – làm lại (Reconstruction); Qui hoạch bảo tồn (Preservation planning)

Xét dưới góc độ kỹ thuật bảo tồn dân ca Quan họ bao gồm 2 loại: bảo tồn nguyên trạng và bảo tồn trên cơ sở có kế thừa

Bảo tồn nguyên vẹn ( bảo tồn trong dạng “tĩnh”)

Bảo tồn nguyên vẹn dân ca Quan họ ở dạng “ tĩnh” là vận dụng thành quả khoa học kỹ thuật công nghệ cao, hiện đại bảo đảm giữ nguyên trạng hiện vật như sự vốn có về kích thước, vị trí, đường nét màu sắc, kiểu dáng Khi cần phục nguyên các di sản văn hóa vật thể cần sử dụng hiệu quả các phương tiện kỹ thuật như: đồ họa kỹ thuật vi tính công nghệ 3D theo không gian ba chiều; chụp ảnh; băng hình video; xác định trọng lượng, thành phần chất liệu của di sản văn hóa vật thể Sau khi tiến hành bảo tồn nguyên vẹn, phải so sánh đối chiếu số liệu với nguyên mẫu đã được lưu giữ chi tiết để không làm biến dạng di sản văn hóa vật thể

Bảo tồn dân ca Quan họ ở dạng “tĩnh” là tiến hành điều tra sưu tầm thu thập các dạng thức văn hóa phi vật thể như nó hiện có theo quy trình

Trang 22

khoa học nghiêm túc chặt chẽ, “giữ” chúng trong sách vở, các ghi chép, mô

tả bằng băng hình ( video), bằng tiếng ( audio), ảnh

Bảo tồn trên cơ sở kế thừa ( bảo tồn trong dạng “động”)

Bảo tồn “động”, tức là bảo tồn các hiện tượng văn hóa trên cơ sở kế thừa Di sản văn hóa Quan họ sẽ được bảo tồn trên tinh thần giữ gìn những nét cơ bản, cố gắng phục chế lại dân ca Quan họ bằng nhiều kỹ thuật công nghệ hiện đại

Dân ca Quan họ luôn tiềm ẩn trong tâm thức và trí nhớ của con người mà chúng ta thường mệnh danh họ là những nghệ nhân hay là những

Báu vật nhân văn sống Do đó bảo tồn và phát huy dân ca Quan họ còn

đồng nghĩa với việc bảo vệ những Báu vật nhân văn sống Đó là việc xã

hội thừa nhận các tài năng dân gian, tôn vinh họ trong cộng đồng, tạo điều kiện tốt nhất để trong hoàn cảnh có thể, để họ sống lâu, sống khỏe mạnh, phát huy được khả năng của họ trong quá trình bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Cần phải phục hồi các giá trị văn hóa Quan họ một cách khách quan, sáng suốt, tin cậy, chứ không thể chủ quan tùy tiện Tất cả những giá trị văn hóa văn hóa quan họ phải được kiểm chứng qua nhiều phương pháp nghiên cứu có tính chất chuyên môn cao, có giá trị chứng thực, thuyết phục thông qua các dự án điều tra, sưu tầm bảo quản, biên dịch và xuất bản các dấu tích dân ca Quan họ

*Phát huy dân ca Quan họ

Phát huy Dân ca Quan họ là những hành động nhằm đưa di sản văn hóa vào trong thực tiễn xã hội, coi đó như là nguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội

Phát huy Dân ca Quan họ phải biết kế thừa có chọn lọc những tinh

Trang 23

hoa văn hóa của đời trước để lại, làm cho các giá trị của di sản văn hóa thấm sâu, lan tỏa vào đời sống cộng đồng xã hội để cộng đồng nhận diện được giá trị, biết trân trọng những giá trị ấy và tránh có cái nhìn phiến diện Từ đó mà khơi lòng tự hào để chung tay vào bảo tồn di sản văn hóa của địa phương, của dân tộc và của cả nhân loại

Phát huy Dân ca Quan họ là để phát triển kinh tế, nhưng phát huy là phải biết kế thừa những tinh hoa của đời trước để lại Những giá trị đó chính là sự đúc kết kinh nghiệm từ thực tiễn, nếu chúng phù hợp với thời đại mới thì cần được phát huy, đồng thời phải biết sáng tạo thêm những cái mới trên nền tảng những cái truyền thống để vừa làm giàu thêm bản sắc văn hóa, góp phần đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của cư dân đương đại đồng thời cũng là cơ hội để tạo ra thêm nhiều sản phẩm du lịch đặc trưng giúp phát triển kinh tế bền vững cho địa phương

Phát huy Dân ca Quan họ phải biết mở rộng giao lưu văn hóa để làm giàu thêm bản sắc văn hóa và làm thăng hoa giá trị văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa Từ xưa đến nay không có nền văn hóa nào tự thân phát triển bằng sự “đóng kín” mà muốn phát triển phải luôn được bồi đắp bởi nhiều nền văn hóa khác Vì vậy, việc giao lưu, mở rộng văn hóa để làm giàu thêm bản sắc văn hóa, đồng thời làm thăng hoa và lan tỏa văn hóa của mình đến khắp nơi luôn là khuynh hướng của mọi cộng đồng, mọi dân tộc, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Tuy nhiên, giao lưu, tiếp nhận những luồng văn hóa khác là cần thiết nhưng tiếp nhận những cái gì

và biến đổi như thế nào để không đánh mất đi giá trị văn hóa của địa phương là việc không đơn giản

Phát huy dân ca Quan họ nhằm mục tiêu phát triển du lịch bền vững, thu hút mạnh mẽ khách du lịch trong và ngoài nước đến với di sản văn hóa Dân ca Quan họ, đây cũng là một trong những nguồn lực giúp cho nền

Trang 24

kinh tế của địa phương ổn định, góp phần phục vụ tích cực cho công tác bảo tồn Dân ca Quan họ

Dân ca Quan họ có vai trò to lớn đối với sự phát triển lành mạnh và bền vững của cuộc sống đương đại Vì vậy bảo tồn và phát huy Dân ca Quan họ là nền tảng, là nguồn động lực cho sự nghiệp bảo vệ, xây dựng

và phát triển của địa phương, của đất nước, là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi người và của cả cộng đồng

Quan họ Bắc Ninh là một sinh hoạt văn hóa nghệ thuật đặc sắc của văn hóa dân gian Việt Nam Cùng với thời gian, Quan họ Bắc Ninh không còn chỉ bó gọn là “Quan họ làng” mà đã lan tỏa tới khắp mọi miền của Tổ quốc, thậm chí còn bay qua biên giới tới bè bạn năm châu Sự tỏa sáng các giá trị văn hóa của Quan họ là nhờ quan điểm, đường lối, chính sách đúng đắn của nhà nước, sự quan tâm, trân trọng và gìn giữ di sản của cộng đồng địa phương trong việc thực hiện mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy giá trị di sản Tuy còn nhiều quan điểm khác trong việc bảo tồn và phát huy Dân ca Quan họ, nhưng một số quan điểm được rút ra như trên là những quan điểm cơ bản để giúp cho việc bảo tồn - phát huy giá trị di sản văn hóa nói chung và Quan họ Bắc Ninh nói riêng thành công

1.1.4 Báo chí

Có rất nhiều khái niệm riêng về báo chí Căn cứ Điều 3 Luật Báo chí

2016, báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống

xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử

Báo chí (xuất phát từ 2 từ "báo" - thông báo - và "chí" - giấy), nói một cách khái quát là những xuất bản phẩm định kỳ nhằm báo cáo về các sự vật, hiện tượng hay con người nổi bật trong ngày mà xã hội cần quan tâm

Trang 25

Tuy phương tiện truyền tải báo chí thay đổi theo thời gian, các nghiệp

vụ báo chí vẫn bao gồm: tìm hiểu thông tin, phân tích thông tin và phổ biến thông tin đến độc giả Mở rộng ra, khái niệm báo chí cũng được sử dụng cho các phương pháp tìm kiếm tin tức, lối viết văn trên báo chí, và các hoạt động (chuyên nghiệp hay không chuyên nghiệp) của báo chí.[1] [2]

Theo thời gian, phương tiện truyền tải của thông tin đi từ nhật báo, tạp chí (trên giấy) tới đài phát thanh, đài truyền hình (trên loa đài) tới các ấn bản điện tử trên web (báo điện tử)

Trong xã hội hiện đại, báo chí là người cung cấp thông tin chính và phản hồi ý kiến về các vấn đề của công chúng Tuy nhiên báo chí không phải lúc nào cũng chỉ giới hạn ở tìm kiếm và truyền tải thông tin Truyền thông báo chí có thể mở rộng sang các hình thức khác như văn học và điện ảnh Ở một số quốc gia, báo chí bị chính phủ kiểm soát và không phải là một cơ quan hoàn toàn độc lập.[3]

Tuy nhiên, trong một xã hội dân chủ, việc tiếp cận với thông tin miễn phí đóng một vai trò chính trong việc tạo ra một hệ thống kiểm tra và cân bằng, cũng như phân bổ quyền lực cân đối giữa Chính phủ, các doanh nghiệp, cá nhân và các tổ chức xã hội khác Việc tiếp cận thông tin có thể kiểm chứng được do báo chí thu thập bởi các nguồn phương tiện truyền thông độc lập, tuân thủ các tiêu chuẩn báo chí, có thể khiến các công dân bình thường có khả năng tham gia vào các hoạt động chính trị

Trong đời sống chính trị - xã hội, báo chí giữ vai trò hết sức quan trọng Bất kỳ một lực lượng cầm quyền nào trong các quốc gia trên thế giới đều sử dụng báo chí như một công cụ để tác động vào tư tưởng, tình cảm của công chúng, nhằm tạo ra ở họ những nhận thức mới, những định hướng

có giá trị cho cuộc sống Vì thế, trong quá trình đấu tranh cách mạng, dưới

sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, cả phía cách mạng lẫn phản cách mạnh

Trang 26

đều nhận thấy tác dụng lợi hại của báo chí Điều đó đã được chứng minh bằng toàn bộ thực tiễn đấu tranh cách mạng và những biến cố quốc tế diễn

ra trong suốt những thế kỷ qua, kể cả những bài học đắt giá của sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở một số nước Đông Âu, Liên Xô trước đây

Ở nước ta, báo chí là công cụ chính trị của Đảng, của Nhà nước, của các tổ chức, đoàn thể xã hội, là diễn đàn của nhân dân Vai trò của báo chí trong đời sống chính trị - xã hội thể hiện rõ trong hai cuộc kháng chiến của nhân dân ta là chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ để giải phóng đất nước Ngay khi chưa có Đảng lãnh đạo, các lực lượng xã hội đã có những tờ báo hoạt động rất tích cực và đã gây được sự chú ý của dư luận xã hội về các vấn đề chính trị Báo chí đã trở thành vũ khí quan trọng của nhân dân ta trong các cuộc đấu tranh chính trị Báo chí thật sự đã trở thành vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng – văn hóa, mặt khác nó cũng tạo những điều kiện cần thiết để cho mọi người dân có thể tham gia vào đời sống chính trị của đất nước Vì vậy, ý nghĩa của thông tin báo chí rất quan trọng Với nội dung thông tin có định hướng đúng đắn, chân thật, có sức thuyết phục, báo chí có khả năng hình thành dư luận xã hội, dẫn đến hành động xã hội, phù hợp với sự vận động của hiện thực theo những chiều hướng có chủ định Báo chí không chỉ là vũ khí tư tưởng sắc bén, lợi hại mà còn là người tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể, tổ chức tập thể; điều này càng phù hợp với thời đại bùng nổ thông tin hiện nay

Báo chí đóng vai trò quan trọng trong xã hội bởi lẽ:

- Là kênh tạo lập, định hướng và hướng dẫn dư luận

- Là kênh chủ yếu cung cấp kiến thức thông tin về tình hình thời sự trong nước và quốc tế cho nhân dân

- Là một công cụ hữu hiệu để quản lý, điều hành và cải cách xã hội

- Là một định chế với những quy tắc và chuẩn mực riêng của mình và

có những quan hệ mật thiết với các định chế khác trong xã hội

Trang 27

- Chúng cũng trở thành một bộ phận hữu cơ không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của mọi cá nhân, là phương tiện cung cấp thông tin, kiến thức và giải trí cho người dân

* Báo chí định hướng tư tưởng, dư luận

Báo chí là công cụ, là vũ khí quan trọng trên mặt trận tư tưởng và định hướng dư luận Đây là một nội dung đặc biệt được lưu tâm của các chính đảng, các hệ thống xã hội cũng như các giai cấp nắm quyền lãnh đạo trong xã hội Trên mặt trận tư tưởng, báo chí giữ vai trò liên kết những thành viên riêng lẻ của xã hội thành một khối thống nhất dựa vào một lập trường chính trị chung, thái độ tích cực

để xây dựng và cải tạo xã hội Một khi nhận thức được tính ưu việt của chế độ xã hội, mục đích, hành động và kết quả phù hợp với lợi ích của mình, người dân sẽ tự nguyện thực hiện các nhiệm vụ của mình trên điều kiện cụ thể

Ngoài ra, với khả năng tác động mang tính rộng lớn, toàn diện, nhanh chóng và mạnh mẽ vào xã hội, hoạt động của báo chí có vai trò hết sức to lớn trong công tác tư tưởng Báo chí trong quá khứ cũng như hiện tại được xem như cầu nối việc giáo dục lý tưởng, chính trị, xây dựng nếp sống lành mạnh gắn liền với việc phát huy những giá trị tinh thần to lớn của nhân loại Lịch sử cũng chỉ ra rằng, bất cứ chế độ nào trên thế giới cũng sử dụng và khai thác triệt

để các phương tiện truyền thông đại chúng nhằm phục vụ, củng cố

và duy trì chế độ đó Trong xã hội hiện đại, người nào nắm được các phương tiện thông tin đại chúng có thể “điều khiển” mọi người theo ý muốn, có nghĩa là dùng báo chí để hàng ngày phát đi những thông điệp chính trị nhằm giáo dục ý thức, tư tưởng, định hướng

dư luận và thuyết phục quần chúng làm theo ý muốn của mình

Trang 28

Ở nước ta, báo chí chính là phương tiện dùng để “tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của đất nước theo tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí; góp phần ổn định chính trị, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, xâu dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” (khoản 2, Điều 6, Luật báo chí sửa đổi, bổ dung năm 1999) Đồng thời, báo chí còn có vai trò “phản ánh và hướng dẫn

dư luận xã hội, làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân” (khoản 3, Điều 6, Luật báo chí sửa đổi, bổ dung năm 1999) Chính vì lẽ đó, báo chí là lực lượng xung kích trên mặt trận

tư tưởng – hướng dẫn dư luận của Đảng, là công cụ tham gia quản

lý xã hội, công cụ giám sát cán bộ đảng viên về đạo đức lối ống, giữ vai trò phản biện xã hội, đấu tranh chống các luận điệu sai trái,

có chủ đích của các thế lực thù địch, góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội nhiều năm qua *Báo chí góp phần phát triển kinh tế - xã hội

Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường như hiện nay, những thông tin chính xác, kịp thời của báo chí là sức mạnh tạo nên thắng lợi cạnh tranh Không một phương tiện truyền thông nào giữ vai trò quan trọng như báo chí trong việc cũng cấp những thông tin có giá trị đó về lĩnh vực kinh tế cần thiết như: Thông tin thị trường, hàng hóa (bao gồm thông tin giá cả, sức tiêu thụ, thị hiếu và xu hướng biến đổi thị hiếu tiêu dùng)…; thông tin thị trường tài chính (tiền tệ, vốn, giá cả, cổ phiếu, sự vận động của các

Trang 29

dòng tài chính), thị trường lao động, vật tư, thiết bị, đặc biệt là thị trường công nghệ (chu kỳ công nghệ, sự chuyển giao công nghệ) Báo chí không chỉ dừng lại trong việc cung cấp thông tin thuần túy

mà còn có thể hướng dẫn thị trường, hướng dẫn việc áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, giới thiệu những mô hình, điển hình tiên tiến trong sản xuất và kinh doanh Với việc phổ biến các kinh nghiệm thành công hay thất bại trong quản lý, kinh doanh và

áp dụng công nghệ mới, tiết kiệm chi phí trong sản xuất Không những thế, báo chí cũng góp phần tạo nên hiệu quả kinh tế lớn cho

xã hội thông qua việc dự báo, cảnh báo những khó khăn, thách thức, tai họa cần phải vượt qua hay né tránh; phát hiện, đề xuất với Đảng, Nhà nước những khó khăn, bất cập, vướng mắc cần tháo gỡ Đôi khi một bài báo tốt, có tầm, sắc bén, kịp thời có thể cứu một doanh nhân khỏi bị oan sai, cứu doanh nghiệp khỏi đổ bể Trong thời gian qua, rất nhiều doanh nghiệp trong nước đã phát triển đều đặn, đạt được những thành tựu to lớn về kinh doanh, lợi nhuận và trở thành những tập đoàn kinh tế lớn đều có phần đóng góp không nhỏ của báo chí như: Tập đoàn Bưu chính Viễn thông (VNPT), Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam, Cà phê Trung Nguyên, Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk)…

* Báo chí làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần

Làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của xã hội là một trong những vai trò mang tính khách quan của báo chí Bởi lẽ, báo chí là kênh truyền bá một cách sinh động nhất các giá trị văn hóa, tinh thần để nâng cao trình độ hiểu biết và đáp ứng nhu cầu hưởng thụ, giải trí của người dân

Trang 30

Vai trò của báo chí trong lĩnh vực văn hóa thể hiện trên nhiều mặt Thứ nhất, báo chí làm giàu, làm đẹp cho vốn văn hóa dân tộc, nhất

là ngôn ngữ, báo chí là nơi vừa giữ gìn vừa sáng tạo ra nhiều từ mới, thuật ngữ mới cả trong cách viết và cách thể hiện, trong việc chuẩn ngôn ngữ nói và viết Thứ hai, báo chí đăng tải các tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học, âm nhạc và các lĩnh vực khác Thứ

ba, qua các phương tiện thông tin đại chúng, công chúng có thể tiếp nhận nhiều tri thức văn hóa đa dạng, phong phú của các dân tộc khác để làm giàu cho văn hóa dân tộc mình Thứ tư, báo chí góp phần nâng cao văn hóa, giải trí, làm cho mọi người ngày càng hiểu nhau, xích lại gần nhau hơn, chia sẻ tâm tư, tình cảm, cùng học tập và tiến bộ trong xã hội

Xã hội càng phát triển, trình độ dân trí ngày càng cao, sự hình thành nhân cách, lối sống của con người chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố tự nhiên và xã hội, trong đó có báo chí Do vậy, trong giai đoạn mới để thực hiện tốt vai trò của mình, các phương tiện thông tin báo chí ở nước ta phải thực hiện tốt hơn nữa nhiệm vụ đấu tranh chống các tệ nạn xã hội; tăng cường truyền bá văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại; xây dựng nền đạo đức mới trên nền tảng đạo lý dân tộc; vun đắp, hoàn thiện hình mẫu con người Việt Nam hiện đại, kế thừa nét đẹp truyền thống của cha ông; nâng tầm trí tuệ, tri thức khoa học, công nghệ của mỗi công dân Muốn vậy báo chí và người làm báo cần nâng cao nhận thức chính trị, trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân, đồng thời nhanh chóng đổi mới nhiệm vụ để thông tin không chỉ đúng mà còn hay, sinh động, hấp dẫn cho công chúng

Trang 31

1.1.5 Giới thiệu về báo in, phát thanh, truyền hình; đặc điểm và thế

mạnh của các loại hình báo chí trong diện luận văn khảo sát

1.1.5.1 Báo in: (Báo viết)

Là những ấn phẩm định kỳ, truyền tải một nội dung thông tin mang tính thời sự và được phát hành rộng rãi trong xã hội (Báo in chỉ báo và tạp chí được in giấy)

Định kỳ là sự xuất hiện theo chu kỳ đều đặn và cố định của sản phẩm báo chí Định kỳ có nhiều loại (Nhật báo, thường kỳ, hàng tuần và hàng tháng, hàng quý )

Tính thời sự trong nội dung thông tin là sự phản ánh những sự kiện, vấn đề mới nảy sinh hoặc mới phát hiện trong xã hội và tự nhiên Chúng có

ý nghĩa xã hội và được quần chúng quan tâm

Phát hành rộng rãi trong xã hội nhưng tùy từng loại, từng tờ vì mỗi

tờ báo có công chúng riêng, nó phụ thuộc vào sức hấp dẫn của tờ báo đối với công chúng bạn đọc

*Đặc điểm của báo in là chuyển tải thông tin qua văn bản in (ký tự, hình vẽ, tranh ảnh, biểu đồ ) tất cả đều xuất hiện trước mắt người đọc, cho nên việc tiếp nhận thông tin của công chúng chỉ thông qua thị giác Chính

vì vậy người đọc hoàn toàn chủ động tiếp nhận thông tin (thời gian đọc, lựa chọn tin, tốc độ đọc, cách đọc ) Do chủ động nên sự tập trung cao, nguồn tin bảo đảm chính xác nên làm tăng khả năng ghi nhớ, giúp người đọc nhận thức sâu sắc về nguồn thông tin, sự lưu giữ thông tin đơn giản, phù hợp với thói quen người đọc nên báo in trở thành tư liệu quý, lưu giữ lâu dài

1.1.5.2 Báo phát thanh:

Phát thanh là một loại hình truyền thông đại chúng trong đó nội dung thông tin được truyền tải qua âm thanh” Âm thanh bao gồm ba yếu tố: lời nói, âm nhạc và tiếng động

* Đặc điểm của phát thanh

Trang 32

Chúng ta đã biết phát thanh là sản phẩm của nền kỹ thuật điện tử Do

ra đời trước truyền hình nên phát thanh đã từng được coi là loại hình truyền thông hiệu quả nhất Sự sinh động của lời nói, âm nhạc, tiếng động truyền qua làn sóng radio đã từng được thính giả đón nhận một cách nồng nhiệt

Ưu thế của báo phát thanh với kỹ thuật đơn giản, tiện lợi; Khả năng thông tin thời sự nhanh nhạy; Gần gũi công chúng, hiệu quả tác động cao Một trong những thế mạnh của báo phát thanh được thính giả đánh giá cao

là những người làm báo phát thanh biết cách tôn trọng người nghe và tác động nhanh, hiệu quả đến công chúng Nói cách khác, sức hấp dẫn của báo phát thanh chính là ở là sự thân mật, gần gũi với công chúng thính giả Với mục tiêu thu hút thính giả, tạo ra sức sống cho làn sóng phát thanh, những người làm báo phát thanh hiện đại không chỉ quan tâm đến việc đem lại cho công chúng những thông tin nóng hổi, bổ ích, gần gũi với cuộc sống thường nhật của người nghe mà còn là ở cách thể hiện những thông tin đó một cách thân tình, gần gũi “như nói với một người bạn” Người làm báo phát thanh ngày này rất quan tâm đến những thói quen và sở thích của từng nhóm công chúng nghe đài, không ngừng cải tiến về hình thức để các chương trình phát thanh ngày càng gần gũi hơn với thính giả, phù hợp với từng đối tượng nghe đài, đáp ứng thị hiếu ở từng độ tuổi

1.1.5.3 Báo truyền hình:

Truyền hình là một loại hình truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh về một vật thể hoặc một cảnh đi xa bằng sóng

vô tuyến điện

*Đặc điểm của truyền hình:

Tính thời sự; ngôn ngữ truyền hình là những hình ảnh và âm thanh Nhờ các thiết bị kỹ thuật hiện đại, truyền hình có đặc trưng cơ bản là truyền trực tiếp cả hình ảnh va âm thanh trong cùng một thời gian về cung một sự kiện,

sự việc

Trang 33

Tính phổ cập và quảng bá, đặc biệt là khả năng thuyết phục công chúng

Do những ưu thế về hình ảnh và âm thanh, truyền hình có khả năng thu hút hàng tỷ người xem cùng một lúc, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, truyền hình ngày càng mở rộng phạm vi phủ sóng phục vụ được nhiều đối tượng người xem ở vùng sâu vùng xa Tính quảng bá của truyền hình còn thể hiện ở chỗ một sự kiện xảy ra ở bất kỳ đâu được đưa lên vệ tinh sẽ truyền đi khắp thế giới, được hàng tỷ người biết đến Đặc biệt, khả năng tác động dư luận xã hội mạnh mẽ và trở thành diễn đàn của nhân dân Các chương trình truyền hình mang tính thời sự, cập nhật, nóng hổi, hấp dẫn người xem bằng cả hình ảnh, âm thanh và lời bình, vừa cho người xem thấy được thực tế của vấn đề vừa tác động vào nhận thức của công chúng

Vì vậy, truyền hình có khả năng tác động vào dư luận mạnh mẽ

1.2 Dân ca quan họ Bắc Ninh và tầm quan trọng của việc bảo tồn, phát huy giá trị của dân cả Quan họ

1.2.1 Khái quát về tỉnh Bắc Ninh

1.2.1.1.Đặc điểm về các điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý

Bắc Ninh là tỉnh nằm trong vùng châu thổ Sông Hồng, thuộc khu vực đồng bằng Bắc Bộ Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang; Phía Đông và Đông Nam giáp với tỉnh Hải Dương; Phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên; Phía Tây giáp thành phố Hà Nội

Với vị trí nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ nên địa hình của tỉnh Bắc Ninh khá bằng phẳng, có hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy nước mặt đổ về sông Cầu, sông Đuống và sông Thái Bình Mức độ chênh lệch địa hình trên toàn tỉnh không lớn

Với đặc điểm này địa chất của tỉnh Bắc Ninh có tính ổn định hơn so với Hà Nội và các đô thị vùng đồng bằng Bắc Bộ khác trong việc xây dựng công trình, cơ sở hạ tầng trong kinh doanh lưu trú Bên cạnh đó có một số

Trang 34

vùng trũng nếu biết khai thác có thể tạo ra cảnh quan sinh thái đầm nước vào mùa mưa để phục vụ cho hoạt động văn hoá và du lịch

Bắc Ninh nằm trong vùng văn minh châu thổ sông Hồng, có 3 con sông lớn chảy qua các làng mạc, thôn xóm và bồi đắp hình thành các bãi bồi ven sông xanh ngắt bãi lúa, nương dâu Đây là điều kiện hết sức thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái, làng quê Kinh Bắc

1.2.1.2 Đặc điểm Lịch sử - Văn hoá

Bước vào kỷ nguyên Đại Việt, Bắc Ninh trờ thành phên dậu phía Bắc của kinh thành Đông Đô – Thăng Long – Hà Nội Nơi đây tiếp tục giữ vai trò quan trọng đặc biệt trong công cuộc bảo vệ đất nước và phát triển văn hóa Việt Nam

Ngoài ra nơi đây cũng là vùng quê trù phú, kinh tế phát triển, là vựa lúa của đồng bằng Bắc Bộ Ít nơi nào có nhiều làng nghề nổi tiếng như tỉnh Bắc Ninh: gốm sứ ( Phù Lãng), gò đúc đồng ( Đại Bái), rèn sắt ( Đa Hội), chạm khắc ( Phù Khê, Kim Thiều), sơn mài ( Đình Bảng), giấy do ( Đống Cao), tranh điệp ( Đông Hồ), dệt lụa ( Tam Sơn, Cẩm Giang),…

Người Bắc Ninh không chỉ giỏi làm ruộng mà còn khéo tay, tinh xảo, hoạt bát trong giao thương, buôn bán và nhất là lại thông minh hiếu học Ngoa truyền dân gian về đất này quả là có cơ sở về “ Một giỏ ông đồ, một bồ tiến sĩ, một bị trạng nguyên, một thuyền bảng nhãn” Đây là quê hương của vị Trạng nguyên Lê Văn Thịnh – vị trạng nguyên khai hoa mở đầu cho lịch sử khoa cử Việt Nam

Nơi đây còn nổi tiếng với trung tâm Phật giáo và những ngôi chùa có quy mô to lớn, cổ kính, kiến trúc tạo tác rất công phu, tài nghệ như chùa Dâu, chùa Phật Tích, chùa Bút Tháp, chùa Tiêu Sơn, Cổ Pháp… Đây là những danh lam cổ tự nổi tiếng, ngày nay đã trở thành những di sản kiến trúc tiêu biểu của dân tộc ta

Trang 35

Bắc Ninh có nhiều làng nghề nghệ thuật như làng tranh Đông Hồ; làng hát ca trù Thanh Tương; làng rối nước Đồng Ngư, làng hát Tuồng Đa Hội, Tam Lư, Tấn Bảo Và đặc biệt hơn cả là hệ thống 44 làng chơi Quan

họ, một lối chơi một loại hình sinh hoạt văn hóa tinh tường, độc đáo, đạt tới đỉnh cao của thi ca và âm nhạc mà chỉ người Bắc Ninh mới có Bắc Ninh vãn luôn xứng danh là miền đất trù phú, kinh tế phát triển, là quê hương của thi ca, mảnh đất mà văn hóa nghệ thuật phát triển đến đỉnh cao của dân tộc Việt Nam

Với đăc điểm về điều kiện, tự nhiên, văn hóa - xã hội như vậy có ảnh hưởng không nhỏ tới hoat động quản lý xã hội đối với công tác bảo tồn dân

ca quan họ Bắc Ninh Trước hết có thể khẳng định rằng với truyền thống văn hóa, giàu bản sắc dân tộc, hơn nữa con người Bắc Ninh luôn trọng nghĩa, trọng tình, dân ca Quan họ đã ngấm sâu vào trong tiềm thức, nếp sống của người Bắc Ninh nên quan họ ở nơi đây trải qua bao thăng trầm của lịch sử luôn được giữ gìn và phát huy từ đời này qua đời khác.Tuy nhiên, dưới tác động của quá trình đô thị hóa, quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa diễn ra nhanh chóng, quan họ cổ đã mất dần đi sự thuần khiết vốn có, những làn điệu quan họ bị mai một và theo quy luật khắc nghiệt của thời gian, những nghệ nhân quan họ gạo cội ra đi, họ mang theo những tinh túy của quan họ đi mất…Đứng trước những khó khăn, thách thức to lớn đòi hỏi chúng ta phải làm sao khai thác và phát huy được thế mạnh, những tiềm năng vốn có của vùng quê hương Bắc Ninh - Kinh bắc đồng thời khắc phục những mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường để phát huy hơn nữa hiệu quả của hoạt động quản lý xã hội đối với công tác bảo tồn dân

ca quan họ nơi đây

1.2.2 Khái quát về dân ca Quan họ Bắc Ninh

1.2.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của dân ca Quan họ Bắc Ninh

Trang 36

Theo các nhà nghiên cứu, cho đến nay chưa có một nghiên cứu chuyên sâu nào về nguồn gốc của Quan họ Các tác giả Đặng Văn Lung, Trần Linh Quý, Hồng Thao trong tập sách “Quan họ - nguồn gốc và quá trình phát triển” cũng chỉ kể ra các giai thoại dân gian Đối với nhà nghiên cứu âm nhạc Quan họ Hồng Thao trong bài viết “Quan họ, tên gọi và nguồn gốc”, thì cho rằng Quan họ có sớm nhất là thế kỷ XV, thời điểm ra đời của thơ lục bát – dạng thơ phổ biến của lời ca Quan họ Trong khi đó, các tác giả Lê Danh Khiêm, Hoắc Công Huynh, Lê Thị Chung trong cuốn sách “Không gian văn hóa Quan họ” lại cho rằng Quan họ ra đời trên cơ sở căn cứ sau:

Thứ nhất, sinh hoạt văn hóa Quan họ bắt nguồn từ tục kết chạ giữa

các làng xã Hai làng hoặc nhiều làng kết nghĩa với nhau gọi là “kết chạ” Kết chạ là tục có ở hầu hết các tỉnh đồng bằng trung du Bắc Bộ, nhưng chỉ

ở Bắc Ninh tục kết chạ mới đậm đặc, phổ biến hơn cả Tỉnh Bắc Ninh có ít nhất 30 chạ Trong tổng số 49 làng Quan họ hiện nay thì có 36 làng có tục kết chạ Khi hai làng đã kết chạ với nhau thì cũng có nghĩa là coi nhau như

họ hàng, như anh em một nhà, dù ở hai công xã nhưng vẫn xem như là cùng huyết thống Vì vậy, trai gái trong làng kết chạ không được lấy nhau

Do đó, các bọn Quan họ ở những làng kết chạ với nhau thì không được phép nên vợ nên chồng Đồng thời, trong ngôn ngữ giao tiếp của người Quan họ cũng rất cung kính, trân trọng, đề cao lẫn nhau, xưng hô với nhau

là “anh”, “chị”, “chúng em” Phải chăng đây cũng là hệ quả ảnh hưởng tất yếu từ cách xưng hô chung của những làng kết chạ với nhau Khi đã kết chạ rồi, thì mỗi làng đều tự xưng là “dân em” và gọi làng kia là “dân anh” Mối quan hệ giữa các làng cùng chạ thật bình đẳng, trân trọng, đề cao lẫn nhau, không làng nào đứng trên làng nào Khi các làng đã kết chạ với nhau, thì vào những dịp hội hè đình đám của mỗi làng, người ta đều mời nhau

Trang 37

sang chơi, đặc biệt là vào dịp lễ hội mùa xuân Hoạt động Quan họ cũng vậy, có thể nói, hoạt động Quan họ gắn bó hữu cơ với lễ hội

Thứ hai, sinh hoạt văn hóa Quan họ ra đời sớm nhất là vào thế kỷ

XVII Quan họ ra đời, tồn tại và phát triển chính là trên cơ sở nhu cầu tất yếu phải mở rộng giao lưu Điều này xảy ra khi nền sản xuất không còn đơn thuần là tiểu nông, tự cung tự cấp và khép kín trong công xã, mà trình

độ sản xuất đã được nâng cao bằng việc phát triển kinh tế hàng hóa tiểu thủ công nghiệp, tiểu thương nghiệp Nền móng của nền kinh tế hàng hóa

là việc ra đời và phát triển các nghề phụ Việc phát triển buôn bán tiểu thương nghiệp dẫn đến ra đời các phố nhỏ, trung tâm buôn bán Việc ra đời các nghề phụ và buôn bán nhỏ đương nhiên là đã có từ rất sớm Song chỉ cho tới những năm cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, tiểu thủ công nghiệp và tiểu thương nghiệp mới phát triển mạnh mẽ Như vậy, việc phát triển kinh tế hàng hóa tiểu thủ công nghiệp và tiểu thương nghiệp thế kỷ XVII là điều kiện giao lưu quan trọng để ra đời tục kết chạ giữa các làng

xã, từ tục kết chạ đó, sinh hoạt văn hóa Quan họ ra đời

Thứ ba, các bài bản dân ca Quan họ là tổng hòa của sự tiếp thu, kế

thừa và sáng tạo từ các loại hình dân ca, nhạc cổ vốn có của các làng xã vùng Quan họ Bắc Ninh là điểm giao thoa giữa vùng rừng núi, trung du và vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ Bởi vậy, ngoài các yếu tố văn hóa bản địa, đây là vị trí thuận lợi để tiếp xúc và tiếp thu các yếu tố văn hóa, văn nghệ của vùng rừng núi, trung du và vùng đồng bằng ven biển Đồng thời, Bắc Ninh lại là đất của trăm nghề, sớm phát triển kinh tế hàng hóa tiểu thủ công nghiệp và tiểu thương nghiệp, do đó người Bắc Ninh có điều kiện giao lưu với các địa phương khác, trong đó bao gồm cả giao lưu kinh tế và giao lưu văn hóa Đó cũng chính là cơ sở thuận lợi để người Bắc Ninh tiếp thu nhiều loại hình dân ca, nhạc cổ của các vùng trong nước làm phong phú

Trang 38

cho vốn văn nghệ dân gian của mình Tiếng hát Quan họ bắt nguồn từ một số hình thức ca hát dân gian cụ thể nào đó, mà những hình thức này đều mang hình thức giao duyên, đồng thời vốn có sẵn ở các làng xóm Trong quá trình giao lưu ngày càng mở rộng giữa các cộng đồng đã tập hợp lại thành một loại hình ca hát đối đáp nhiều làn điệu Lối hát này được phát triển trên cơ sở vừa tuân thủ nét riêng, tập tục riêng của mỗi làng, vừa tuân thủ các tập tục văn hóa được hình thành trong mối quan hệ giữa các làng Từ đó, kết quả là ra đời một loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp: sinh hoạt văn hóa Quan họ

Có thể nói, Quan họ Bắc Ninh có những bước phát triển thăng trầm Quan họ Bắc Ninh là một hiện tượng văn hóa dân gian sống động tồn tại ngay trong cuộc sống của người dân Kinh Bắc, nó phục vụ cho chính đời sống tinh thần và tâm linh của họ hàng ngày, hàng giờ, góp phần vào sự phát triển của mỗi cá nhân và cộng đồng Từ những năm 60-80 của thế kỷ

XX, khi phong trào văn hóa văn nghệ nông thôn phát triển rầm rộ, Quan họ

đã được quan tâm phát triển Đoàn dân ca Quan họ Bắc Ninh được thành lập nay đổi tên là Nhà hát Quan họ Một số câu lạc bộ Quan họ ra đời Phong trào “Khắp nơi đàn và hát dân ca” phổ biến rộng rãi Để giữ gìn những làn điệu dân ca, các nhà nghiên cứu, các nghệ sỹ đã dành nhiều công sức, tâm huyết học hỏi từ những nghệ nhân Quan họ về lề lối, quy cách, làn điệu, lời hát Bước sang thời kỳ mở cửa, cùng với nền kinh tế thị trường,

sự phát triển của phương tiện thông tin đại chúng và văn hóa ngoại lai làm

lu mờ những bài dân ca trữ tình Trong những năm gần đây, khi đời sống kinh tế đã ổn định hơn, người ta lại có xu hướng tìm về những giá trị văn hóa cổ truyền dân tộc Dân ca Quan họ được sưu tầm, nghiên cứu, tìm hiểu

và trình diễn không chỉ ở những lễ hội của làng quê, tại những liên hoan văn hóa văn nghệ trong nước, mà được mang ra nước ngoài biểu diễn cho bạn bè quốc tế thưởng thức Quan họ cũng không chỉ được người Việt Nam

Trang 39

sưu tầm, nghiên cứu mà nhiều sinh viên, nhà nghiên cứu nước ngoài đã đến vùng quê Kinh Bắc để tìm hiểu Qua đó, Di sản văn hóa Quan họ được nhìn nhận và đánh giá cao Ngày nay, hàng năm cứ vào dịp hội Lim, khắp nơi đổ về vùng Bắc Ninh trảy hội, nghe hát Quan họ Hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, tại những làng quê Quan họ, phong trào ca hát Quan họ cũng đã được chính quyền quan tâm phát triển, khuyến khích thế hệ đi trước truyền dạy cho thế hệ sau

1.2.2.2 Phân bố các làng Quan họ Bắc Ninh

Di sản văn hóa Quan họ tồn tại và lan tỏa ở cả một vùng rộng lớn Tuy nhiên, sinh hoạt văn hóa Quan họ thực chất chỉ tồn tại ở một địa vực nhất định, đó là 49 làng Quan họ gốc, trong đó tại Bắc Ninh có 44 làng (tỉnh Bắc Giang có 5 làng) Các làng Quan họ ở Bắc Ninh phân bố ở huyện Tiên Du (9 làng), huyện Yên Phong (2 làng), huyện Từ Sơn (2 làng), thành phố Bắc Ninh (31 làng) Hiện nay tỉnh Bắc Ninh đã thành lập được 329 câu lạc bộ ở các làng quan họ mới (làng quan họ thực hành), thu hút hàng nghìn hạt nhân văn nghệ ở cơ sở tham gia Không gian văn hóa Quan họ tập trung trong khoảng 250km2, tập trung và xoay quanh thành phố Bắc Ninh

(Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh)

Trang 40

Những làng Quan họ chủ yếu phân bố xung quanh các con sông: sông Cầu, sông Ngũ Huyện Khê, sông Tiêu Tương Những con sông này uốn lượn quanh chân đồi, chảy len lỏi giữa những cánh đồng bằng phẳng góp phần làm cho cuộc sống nông nghiệp của người dân Bắc Ninh được thuận lợi hơn, họ có thời gian rảnh rỗi trong những lúc nông nhàn Trần Linh Quý đã khái quát vị trí địa lý của các con sông gắn bó mật thiết với những làng Quan họ: “Sông núi đã quy vùng ôm lấy một quê hương có nhiều cánh đồng rộng mỏi cánh cò Giữa những cánh đồng bát ngát ấy, có khi nổi lên những ngọn đồi thoai thoải, trên đó là một cảnh chùa tĩnh mịch

cổ kính, hay những xóm làng xanh tươi… len lách trong quê hương Quan

họ là dòng sông Cầu và sông Ngũ Huyện Khê, và sông Tiêu Tương” Có lẽ cũng bởi gần các con sông cho nên trong sinh hoạt văn hóa Quan họ, chiếc thuyền thúng bằng nan rất gắn bó với con người Quan họ Hát Quan họ trên sông cũng là một hình thức biểu diễn của dân ca Quan họ Bắc Ninh

Các làng Quan họ Bắc Ninh còn đồng thời là những làng nghề hoặc nằm ở vị trí gần sát các làng nghề khác Đó là những làng nghề với nghề trồng dâu nuôi tằm bán kén (làng Diềm, làng Hữu Chắp), nghề làm hàng xáo (làng Hòa Đình), nghề đúc đồng (làng Đại Bái, Lũng Ngâm, Quảng Phú), nghề nhuộm (làng Đình Bảng), nghề kim hoàn chạm vàng bạc khảm trai (Thị Cầu), nghề làm tranh dân gian vàng mã (Đông Hồ)… Bên cạnh đó, các làng Quan

họ này còn là nơi có chợ làng, chợ vùng nổi tiếng như: chợ Lim, chợ Ó, Nhồi, Đống Cao, Thị Cầu, Đáp Cầu Như vậy, bên cạnh việc hình thành những làng nghề, các làng buôn cũng dần xuất hiện và phát triển Đó là điều kiện cho việc giao lưu buôn bán giữa các vùng quê được mở rộng và sôi động Những chợ quê trở thành trung tâm giao lưu kinh tế, đó cũng là môi trường tạo cơ hội giao lưu văn hóa, trong đó có văn hóa Quan họ Như vậy, có thể nói văn hóa Quan họ là sản phẩm của một vùng kinh tế phát triển

Ngày đăng: 28/12/2018, 10:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trương Quốc Bình (2001), "Chủ tịch Hồ Chí Minh và vấn đề bảo tồn di sản văn hóa dân tộc", Tạp chí Tổ chức Sự kiện và Du lịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh và vấn đề bảo tồn di sản văn hóa dân tộc
Tác giả: Trương Quốc Bình
Năm: 2001
2. Nguyễn Chí Bền (2007), Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, Tạp chí Cộng sản số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể", Tạp chí "Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Năm: 2007
3. Bộ văn hóa, thể thao và Du lịch (2007), Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, tập 1, Nxb. Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, tập 1
Tác giả: Bộ văn hóa, thể thao và Du lịch
Nhà XB: Nxb. Thế giới
Năm: 2007
4. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2007), Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Năm: 2007
5. Đoàn Văn Chúc (1997), Văn hoá học, Nxb. Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đoàn Văn Chúc (1997)," Văn hoá học
Tác giả: Đoàn Văn Chúc
Nhà XB: Nxb. Văn hoá Thông tin
Năm: 1997
6. Thạc sỹ - Nhà báo Trần Chính (2000), Nghệ nhân quan họ làng Viêm Xá, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ nhân quan họ làng Viêm Xá
Tác giả: Thạc sỹ - Nhà báo Trần Chính
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2000
7. Nguyễn Thị Doan (1996) , Các học thuyết quản lý, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các học thuyết quản lý
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
8. Nguyễn Văn Đính, TS. Trần Thị Minh Hòa (2004), Giáo trình Kinh tế du lịch, Nxb. Lao động - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế du lịch
Tác giả: Nguyễn Văn Đính, TS. Trần Thị Minh Hòa
Nhà XB: Nxb. Lao động - Xã hội
Năm: 2004
9. Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh (2010), Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Bắc Ninh Lần thứ 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh (2010)
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh
Năm: 2010
10. Đỗ Huy (2005), Văn hóa và phát triển, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và phát triển
Tác giả: Đỗ Huy
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2005
11. Hồ Chí Minh; Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3 (1930 – 1945), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3 (1930 – 1945)
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
12. Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2000), Giáo trình Lý luận văn hóa và đường lối Văn hóa của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn hóa và đường lối Văn hóa của Đảng
Tác giả: Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2000
13. Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Khoa Quản lý kinh tế (2004), Giáo trình Khoa học quản lý, Nxb. Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học quản lý
Tác giả: Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Khoa Quản lý kinh tế
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2004
14. Hoắc Công Huynh, Lê Danh Khiêm (2001), Dân ca Quan họ - Lời ca và bình giải, Trung tâm văn hóa Quan họ Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca Quan họ - Lời ca và bình giải
Tác giả: Hoắc Công Huynh, Lê Danh Khiêm
Năm: 2001
15. Lê Danh Khiêm, Hoắc Công Huynh, Lê Thị Chung (2006), Không gian văn hóa Quan họ, Xưởng in báo Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không gian văn hóa Quan họ
Tác giả: Lê Danh Khiêm, Hoắc Công Huynh, Lê Thị Chung
Năm: 2006
16. Nguyễn Thị Kim Loan (2014) Quản lý di sản văn hóa, Nxb. Văn hóa – Thông tin và Viện văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý di sản văn hóa
Nhà XB: Nxb. Văn hóa – Thông tin và Viện văn hóa
17. Đặng Văn Lung, Hồng Thao, Trần Linh Quý (1978), Quan họ nguồn gốc và quá trình phát triển, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan họ nguồn gốc và quá trình phát triển
Tác giả: Đặng Văn Lung, Hồng Thao, Trần Linh Quý
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1978
18. Đặng Văn Lung, Hồng Thao, Trần Linh Qúy (1997), Dân ca quan họ, Nxb. Âm nhạc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca quan họ
Tác giả: Đặng Văn Lung, Hồng Thao, Trần Linh Qúy
Nhà XB: Nxb. Âm nhạc
Năm: 1997
19. Hoàng Vinh (1997), Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hoá dân tộc, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hoá dân tộc
Tác giả: Hoàng Vinh
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1997
49. Đài Phát thanh và Truyền hình Bắc Ninh 50. http://www.gooogle.com.vn Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w