Với tất cả những lý do đó, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Giáo dục giới tính cho trẻ em ở lứa tuổi 6-10 trong các gia đình tại thành phố Vinh- tỉnh Nghệ An” với mong muốn sẽ có một cá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
HOÀNG THỊ DIỆU THƯƠNG
GIÁO DụC GIớI TÍNH CHO TRẻ EM
ở LứA TUổI 6-10 TRONG CÁC GIA ĐÌNH TạI THÀNH PHố VINH- TỉNH NGHệ AN
(Nghiên cứu trường hợp phường Hà Huy Tập)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
HOÀNG THỊ DIỆU THƯƠNG
GIÁO DụC GIớI TÍNH CHO TRẻ EM
ở LứA TUổI 6-10 TRONG CÁC GIA ĐÌNH TạI THÀNH PHố VINH- TỉNH NGHệ AN
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan nghiên cứu: 3
3 Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn 10
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 11
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 11
6 Câu hỏi nghiên cứu 12
7 Giả thuyết nghiên cứu: 12
8 Phương pháp nghiên cứu 12
9 Khung phân tích lý thuyết 15
NỘI DUNG 15
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 16
1.1 Khái niệm công cụ 16
1.1.1 Khái niệm giáo dục 16
1.1.2 Khái niệm giáo dục giới tính 17
1.1.3 Khái niệm gia đình 20
1.1.4 Khái niệm trẻ em 20
1.2 Lý thuyết ứng dụng 21
1.2.1 Lý thuyết xã hội hóa 21
1.2.2 Lý thuyết lựa chọn hành vi hợp lý 22
1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục giới tính cho trẻ em 23
1.4 Quan điểm của Bộ Y Tế, Bộ Giáo Dục về giáo dục giới tính cho trẻ em 24
1.5 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 26
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO TRẺ EM TỪ 6 - 10 TRONG CÁC GIA ĐÌNH TẠI THÀNH PHỐ VINH 26
2.1 Nhận thức của cha mẹ về vấn đề giáo dục giới tính cho trẻ em trong các gia đình 30
2.2 Mục đích giáo dục giới tính cho trẻ em của các bậc cha mẹ hiện nay 44
2.3 Nội dung giáo dục giới tính cho trẻ em của các bậc cha mẹ hiện nay 46
Trang 42.4 Phương pháp giáo dục giới tính cho trẻ em của các bậc cha mẹ hiện nay 54
2.5 Những kết quả chính trong hoạt động giáo dục giới tính trong gia đình 62
CHƯƠNG 3 NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO TRẺ EM TRONG CÁC GIA ĐÌNH TẠI THÀNH PHỐ VINH 69
3.1 Ảnh hưởng từ các đặc trưng nhân khẩu xã hội của người giáo dục 69
3.2 Ảnh hưởng của quan điểm cá nhân và tâm lý của người giáo dục 72
3.3 Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng 76
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC 86
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, bạn bè và người thân
Lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hà, người đã tận tình hướng dẫn và đóng góp những ý kiến quý báu, cung cấp các nguồn tài liệu cần thiết để tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới UBND phường ban văn hóa hội phụ nữ và các hộ gia đình phường Hà Huy Tập, TP Vinh tỉnh Nghệ An đã hỗ trợ, cung cấp tư liệu và giúp đỡ để tôi thu thập các thông tin cần thiết cho luận văn
Tôi xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo giảng dạy ở khoa xã hội học đã cho tôi những kiến thức thì báo trên thích nhiều học tập và nghiên cứu trong suốt thời gian học ở đây
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè thân thiết
đã động viên, khích lệ về mặt tinh thần và đã tạo điều kiện về thời gian cũng như vật chất để tôi hoàn thành luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong đoạn văn nhưng không tránh khỏi thiếu sót, rất mong được sự đóng góp ý kiến
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 31 tháng 10 năm 2017
Hoàng Thị Diệu Thương
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ở nước ta, từ cuối những năm 80 (của thế kỷ XX), giáo dục giới tính đã được đưa vào chương trình thực nghiệm giảng dạy tại 17 tỉnh và thành phố trên toàn quốc Tuy nhiên, nội dung kiến thức còn sơ sài, tập trung chủ yếu ở những nội dung
có tính chất giải phẫu sinh lý cơ thể, chưa đề cập tới quan hệ giữa hai giới, vấn đề tình dục và quan hệ tình dục Trong xã hội truyền thống vấn đề giới tính, tình dục căn bản là vấn đề tế nhị, thầm kín Cho đến khi sự bùng nổ thông tin và sự phát triển của nền kinh tế thị trường, nhất là ở đô thị, thì thông tin đến với mỗi cá nhân rất đa dạng, khiến các yếu tố tiêu cực như: văn hóa đồi trụy, sách báo, video đen đã làm ảnh hưởng, tác động mạnh đến quan hệ giữa hai giới Tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng làm rối loạn trật tự xã hội
Và đáng báo động hơn cả là tình trạng xâm hại tình dục trẻ em đang diễn biến ngày càng nghiêm trọng và phức tạp khiến dư luận vô cùng bức xúc Đó là
nhận định của nhiều cơ quan được đưa ra tại buổi Tọa đàm về “Việc chấp hành các
quy định của pháp luật về đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm hại tình dục trẻ em” do Ủy ban Tư pháp Quốc hội tổ chức ngày 27/03/2017
Theo báo cáo của Tổng cục Cảnh Sát bộ công an năm 2016 trong Toàn quốc phát hiện 1.641 vụ xâm hại trẻ em, gồm 1.807, đối tượng 1.627 nạn nhân bị xâm hại trong đó có 1.248 vụ xâm hại tình dục trẻ em, chiếm 77% tổng số vụ Trong số vụ xâm hại trẻ em, tội giao cấu chiếm tỷ lệ cao nhất 677 vụ, hiếp dâm trẻ em 446 vụ, dâm ô 189 vụ, cưỡng dâm 9 vụ Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2017, trên cả nước có
805 vụ xâm hại trẻ em Phần lớn đối tượng phạm tội xâm hại trẻ em là nam giới (1.756 đối tượng, chiếm tỉ lệ 97,2%), chủ yếu trên 18 tuổi, không có nghề nghiệp ổn định và đa phần là những người quen
Nạn nhân bị sát hại chủ yếu do trẻ em gái (1.358 người, chiếm 84%), thậm chí các cháu bị thiểu năng trí tuệ cũng bị xâm hại tình dục Phần lớn nạn nhân bị xâm hại trong độ tuổi từ 13-16 (1.037 người,chiếm 63,4%), còn lại dưới 6 tuổi là
120 người, trong độ tuổi 6-13 tuổi là 479 người Các vụ xâm hại thường xảy ra ở
Trang 7các khu chung cư, tập thể, một số vùng nông thôn, sông nước, … nơi không có người trông coi, giám sát thường xuyên
Còn theo thống kê mới nhất của Bộ LĐ-TB&XH, trong 5 năm (2012-2016)
cả nước phát hiện trên 8.200 vụ xâm hại trẻ em, với gần 10.000 nạn nhân, trong đó
số vụ xâm hại tình dục chiếm tới 5.300 vụ Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Đào Hồng Lan cho rằng, con số này chỉ là những vụ việc được báo cáo, còn rất nhiều vụ nạn nhân bị kẻ xâm hại dọa dẫm hoặc vì lý do nào đó đã không được thống kê
Theo thống kê cuả Bộ Y Tế cũng thông tin, hàng năm, các cơ quan giám định khoảng 2.000 vụ có dấu hiệu bị xâm hại tình dục trẻ em Trong năm 2006 và quý 1/2017, Bệnh viện Phụ sản Trung ương đã khám và chăm sóc cho 33 trẻ bị xâm hại tình dục, trong đó trẻ ít nhất tuổi nhất là 4 tuổi, ngoài ra còn có 29 trẻ dưới 16 tuổi sinh con
Các chuyên gia y tế đã cảnh báo rằng xâm hại tình dục không chỉ nguy hại đến sức khỏe mà còn dẫn đến hậu quả nghiêm trọng về tinh thần Trẻ em dễ bị tự ti, mặc cảm, suy sụp tinh thần và chịu rất nhiều áp lực khác từ phía gia đình và xã hội
Từ đó sa vào các tệ nạn mại dâm, ma túy
Trên đây là những con số thực sự đáng lo ngại cho một thế hệ trẻ em của Việt Nam Liệu có phải hiện tượng xâm hại tình dục trẻ em bây giờ mới bắt đầu xuất hiện hay đã có từ lâu rồi nhưng bây giờ mới được lên tiếng? Liệu có phải trách nhiệm lớn nhất của những sự việc này thuộc về gia đình của chính các em- môi trường tiếp xúc đầu tiên khi đứa trẻ chào đời? Trên thực tế cha mẹ là người đầu tiên phát hiện được sự trưởng thành về mặt sinh lý, nhận thức của con mình, đặc biệt là với độ tuổi mầm non, tiểu học – lứa tuổi có nhiều chuyển biến tâm lý, ham học hỏi
và khám phá Do đó, cha mẹ là người nắm giữ vai trò quan trọng trong bước đầu của thời kỳ giáo dục giới tính cho con cái để dẫn dắt con đi đúng hướng
Với tất cả những lý do đó, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Giáo dục giới
tính cho trẻ em ở lứa tuổi 6-10 trong các gia đình tại thành phố Vinh- tỉnh Nghệ An” với mong muốn sẽ có một cái nhìn về nhận thức của các bậc phụ huynh khi nói
đến vai trò của GDGT cũng như cách thức, nội dung, hành động GDGT của các bậc
Trang 8cha mẹ đối với con cái của chính họ Từ đó tìm ra được những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động GDGT cho con cái của các bậc làm cha làm mẹ
2 Tổng quan nghiên cứu:
Gia đình là tế bào của xã hội, vì vậy vấn đề gia đình đã và đang trở thành mối quan tâm chung của mọi quốc gia Trong đó, lĩnh vực giáo dục trong gia đình luôn nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà xã hội học khác nhau Các đề tài nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các vấn đề về: Vai trò của gia đình trong việc giáo dục con người, giáo dục giới tính cho trẻ em trong các gia đình và những khó khăn, yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục trẻ em trong các gia đình đó
Trong phần tổng quan dưới đây, chúng tôi cố gắng tổng quan lại những nghiên cứu lớn xoay quanh vấn đề giáo dục gia đình trong việc giáo dục thực trạng giáo dục giới tính cho trẻ em trong các gia đình và các khó khăn trong quá trình giáo dục giới tính cho trẻ em Chúng tôi mong muốn từ việc tìm hiểu những nội dung được đề cập đến trong các nghiên cứu khác nhau, sẽ tìm ra được những khoảng trống chưa được
đề cập đến để được ngiên cứu sâu hơn trong đề tài của mình
Các nghiên cứu về vai trò của gia đình trong vấn đề giáo dục
Nghiên cứu về vai trò của gia đình trong việc giáo dục con người đã có nhiều công trình nghiên cứu, các bài viết, sách, báo và tạp chí dưới góc độ Xã hội học, có thể kể đến một số nghiên cứu như sau:
Từ năm 1992-1995, đề tài KX 07- 09 “Vai trò của gia đình trong sự hình
thành và phát triển nhân cách của con người Việt Nam” Đã nghiên cứu những vấn
đề lý luận xã hội hóa con người, về chức năng xã hội hóa gia đình, lịch sử và hiện đại; Phân tích vai trò gia đình Việt Nam trong việc tổ chức đời sống con người, nuôi dưỡng, đào tạo lớp trẻ hoàn thiện nhân cách con người trưởng thành; trách nhiệm và những hạn chế của giáo dục gia đình trong tình hình hiện nay, những điều kiện, biện pháp, chính sách cần thiết nhằm giúp đỡ gia đình làm tròn chức năng của mình
Năm 1999, cuốn sách: “Vai trò gia đình trong công cuộc xây dựng nhân
cách con người Việt Nam” Do giáo sư Lê Thi chủ biên đã chọn lọc những nghiên
cứu ở đề tài trên in trong cuốn sách này
Trang 9Năm 1993, bài viết về “Vấn đề giáo dục trong gia đình”của Hồng Than và
Ngọc Anh, đề tài tập trung nghiên cứu chức năng giáo dục con cái trong gia đình của các bậc cha mẹ những quan điểm nhận thức, nội dung giáo dục và phương pháp giáo dục của cha mẹ đối với con cài trong gia đình ở nông thôn
Năm 1996, cuốn “Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội hóa” của Lê Ngọc Văn nói đến vai trò quan trọng của gia đình trong việc xã hội hóa con người, đồng thời đề cập đến nội dung và phương pháp giáo dục của gia đình Việt Nam truyền thống và sự biến đổi của chức năng xã hội hóa gia đình
Đề tài khoa học:“Vị trí, vai trò của gia đình và cộng đồng trong sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em” (1999-2000) do Phạm Tất Dong làm chủ nhiệm đã nghiên cứu vấn đề trong gia đình, công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em trong gia đình và cộng đồng.Trong đó đề tài đề cập đến vị trí của gia đình trong việc chăm sóc học tập của con cái, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh khó khăn
Các nghiên cứu này đều cho tác giả thấy rằng, gia đình đóng vai trò rất quan trong trong tiến trình giáo dục con người
Các nghiên cứu về thực trạng giáo dục giới tính cho trẻ em
Cho đến những năm gần đây, cùng với sự biến đổi của xã hội thì vấn đề giới, giới tính đã được cởi mở hơn Đặc biệt người ta đã quan tâm hơn đến vấn đề giáo dục giớ tính cho con cái trong gia đình Một số nghiên cứu về giáo dục giới tính trong gia đình như:
Trang vinaresearch.net đã có một khảo sát dựa trên nhóm đáp viên trực tuyến Vinaresearch về vấn đề “giáo dục giới tính cho trẻ” Ở đây trang đã khảo sát trực tuyến các bậc cha mẹ độ tuổi từ độ tuổi 20 với 862 mẫu hợp lệ và cho ra các kết quả, số liệu cụ thể rõ ràng và chi tiết Bài nghiên cứu với những câu hỏi thiết thực
về vấn đề liên quan tới vấn đề cha mẹ giáo dục giới tính cho con cái Mặt khác mẫu nghiên cứu cũng đã cho thấy được rằng các bậc phụ huynh chỉ thỉnh thoảng hay lúc con cái thắc mắc về vấn đề giới tính mới bày tỏ, nói cho con hiểu nhưng mà vẫn không giải thích tỉ mỉ cho con cái, nhưng giải thích cũng chỉ dựa vào kinh nghiệm
và hiểu biết của bản thân Hầu hết các bậc phụ huynh ủng hộ vấn đề GDGT trong trường học nhưng cũng có một bộ phận các phụ huynh không đồng ý vì sợ ảnh
Trang 10hưởng tới tâm lý trẻ nếu GDGT quá sớm Bài khảo sát cũng đã cho ta thấy được cha
mẹ cũng đã có nhiều xu hướng nhìn nhận tích cực về vấn đề GTGT cho trẻ, giúp trẻ nhận thức tốt về vấn đề giới tính Thà vẽ cho hươu chạy đúng đường còn hơn là để hươu chạy sai đường
ThS Đào Thị Vân Anh thuộc trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Phổ thông cũng
đã có bài viết “Cha mẹ với việc giáo dục giới tính trong gia đình” Tác giả đã đưa ra những dẫn chứng cụ thể cần thiết về việc GDGT cho trẻ, những nguyên nhân khách quan và chủ quan, hậu quả của việc GDGT không đúng cách Tác giả cũng đã nói rằng:
“Giáo dục tình dục thật ra có mục đích duy nhất là chuẩn bị cho con cái một tâm lý phù hợp nhất trong cuộc sống yêu đương để rồi có một đời sống tình dục thực sự hài lòng, thực sự hạnh phúc trong quan hệ vợ chồng sau này.” Việc cha mẹ GDGT hay không GDGT cho con cái và giáo dục thế nào cho đúng và hiệu quả sẽ ảnh hưởng rất lớn tới việc phát triển tâm lý cũng như tình dục của trẻ bị sai lệch, hiểu sai về vấn đề giới tính thì sẽ rất dễ mắc phải những hậu quả khôn lường Tác giả cũng đã kết luận rằng cần giáo dục giới tính cho trẻ tự nhiên, bình thường như các chương trình giáo dục khác và phải có sự nối kết chặt chẽ hai chiều giữa cha mẹ và con cái Những phân tích cụ thể của Ths Đào Thị Vân Anh đã cho ta thấy tầm quan trọng của cha mẹ về vấn đề giáo dục giới tính đã viết cho trẻ, giúp trẻ hoàn thiện hơn về việc định hướng và nhìn nhận, suy nghĩ đúng đắn của kiến thức về giới
Công trình nghiên cứu: “Vai trò gia đình nông thôn trong việc giáo dục giới
tính cho trẻ em ở độ tuổi thiếu niên”của Đặng Thị Lan Anh vào năm 2003, đề cập
đến những nội dung và phương pháp giáo dục giới tính cho trẻ em ở độ tuổi thiếu niên trong gia đình nông thôn, đồng thời khẳng định tầm quan trọng của gia đình trong việc giáo dục giới tính cho trẻ, đưa ra những giải pháp và khuyến nghị về vấn
đề giáo dục giới tính cho trẻ ở độ tuổi thiếu niên Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được tác giả sử dụng là nghiên cứu định lượng
Năm 2009, Lê An Ni với đề tài “Đặc tính dân tích trong việc giáo dục giới
tình cho trẻ vị thành niên trong gia đình” đã chỉ ra sự nhận thức của cha mẹ và
những nội dung, phương pháp giáo dục giới tình cho trẻ vị thành niên được thực hiện của gia đình dân tộc thiểu số
Trang 11Ngoài những công trình nghiên cứu, bài viết đăng trên các tạp chí khoa học, vấn đề giáo dục giới tính trong gia đình cũng được đề cập đến nhiều trên các website như:
Bài viết “Giáo dục giới tính và thái độ của người lớn” của TS Thụy Anh đăng trên wedsite Tuoitre.vn Bài viết đã cho chúng ta thấy, ngay từ khi còn rất nhỏ trẻ đã có những thắc mắc, tò mò về vấn đề giới tính thông qua các câu được đặt ra cho bố mẹ Đó chính là những tìm hiểu đầu tiên về giới tính chính đáng cần được bố
mẹ giải đáp rõ ràng, khéo léo, dễ hiểu chứ không phải lảng tránh hoặc lờ đi Bắt đầu
từ những hỏi - đáp như thế, bố mẹ có thể giáo dục giới tính cho con rất nhẹ nhàng
và tự nhiên Nếu bố mẹ có thói quen bỏ qua không đối mặt với những câu hỏi hóc búa của con hoặc những câu hỏi liên quan đến các vấn đề tế nhị, không sớm thì muộn đứa trẻ sẽ tiếp cận nguồn thông tin khác để thỏa mãn tò mò của mình Vô hình chung, đây chính là bước đầu tiên cho việc chính các phụ huynh bị sốc sau này khi bé con khoe những kiến thức thu nhặt được bên ngoài, từ các nguồn đáng tin hoặc chưa được kiểm chứng Cũng theo tác giả vai trò của bố mẹ hoặc giáo viên rất quan trọng Họ phải vượt qua được cảm giác ngại ngùng khi bàn vấn đề này với trẻ
và tỏ ra rất bình thản, đúng mực, không hoảng hốt Thái độ đó khiến trẻ nhìn vấn đề một cách khoa học hơn và cũng không quá lo sợ khi nhìn ra thế giới Thêm vào đó, người lớn phải có thái độ chấp nhận và đối mặt với bất kỳ vấn đề gì trẻ nêu ra, cũng lại một cách bình thản, để giữa trẻ và người lớn có thể có những thảo luận thật sự, chân thành, không e ngại, cũng không tự đánh lừa mình rằng “con/học trò của mình còn quá bé, chưa biết đến điều này đâu” Thái độ tôn trọng, bình tĩnh, tiếp nhận vấn
đề và sẵn sàng cùng giải quyết bất kỳ vấn đề nào của trẻ là thái độ cần có trong giáo dục giới tính
Bài viết của Đỗ Hồng Ngọc “Giáo dục giới tính: Cần một chương trình toàn
diện” đã khẳng định giáo dục giới tính là tiến trình suốt cả đời người, là chuyện
phải làm hàng ngày, trước hết là ở gia đình nhằm trang bị kiến thức, hình thành nhân cách, tạo nên một nền tảng vững chắc cho sức khỏe tình dục, sức khỏe sinh sản sau này
Trang 12Bài viết “Giáo dục giới tính trong gia đình” của Nguyễn Thị Vân Anh cho
rằng trong sự phát triển tình dục, môi trường gia đình có vai trò đặc biệt quan trọng, làm sao để giáo dục giới tính trong gia đình trở thành một việc làm bình thường, tự nhiên như các nội dung giáo dục khác và thật sự đạt hiệu quả khi trong giáo dục giới tính có sự truyền đạt thông tin hai chiều thường xuyên giữa cha mẹ và con cái
Thông qua những bài viết, công trình nghiên cứu này đã cung cấp cho tôi một số thông tin để phục vụ cho đề tài như là thực trạng việc giáo dục giới tính hiện nay, những sai lầm trong quan niệm của những bậc cha mẹ, đồng thời còn giúp chúng tôi giải thích được một số nguyên nhân dẫn đến việc ngày càng nhiều trẻ những nhận thức sai lệch về giới tính Từ đó, giúp đưa ra một số kiến nghị, giải pháp giúp không chỉ các bậc phụ huynh mà còn cả các nhà chức trách về giáo dục đưa hoạt động giáo dục giới tính cho trẻ em được hiệu quả hơn
Các nghiên cứu về thực trạng sức khỏe sinh sản của trẻ em vị thành niên
Nghiên cứu “Gia đình với việc cung cấp thông tin về sức khỏe sinh sản cho
thanh niên và vị thành niên” của Nguyễn Hữu Minh (2006) đã tổng hợp một số
nghiên cứu gần đây và cho thấy việc giáo dục giới tính trong gia đình, việc cung cấp thông tin và trang bị kiến thức cho con cái về vấn đề sức khỏe nói chung và sức khỏe sinh sản là rất cần thiết nhưng còn hạn chế, giáo dục giới tính trong gia đình phụ thuộc nhiều vào hoàn cảnh gia đình; Điều kiện kinh tế của gia đình là yếu tố quan trọng giúp gia đình thực hiện được vai trò là nguồn cung cấp thông tin cho thanh niên và vị thành niên Phương pháp được tác giả sử dụng chủ yếu là phương pháp định lượng
Năm 2008, nghiên cứu” Kiến thức phòng tránh thai của vị thành niên và
thanh niên” của Hà Thị Minh Khương phân tích từ số liệu của cuộc điều tra về tình
dục và sức khỏe sinh sản của thanh niên Hà Nội năm 2003 cho thấy: kiến thức về phòng tránh thai của vị thành niên và thanh niên còn hạn chế Đồng thời nghiên cứu cũng dựa vào kết quả từ các nghiên cứu trước của Ủy ban dân số gia đình và trẻ em
và PRB, NOPEF, CPSI, FPIA ( 1999), Lê Ngọc Vân ( 2007) và rút ra kết luận có sự khác biệt theo khu vực sống, nam nữ vị thành niên và thanh niên ở nông thôn có tỷ
Trang 13lệ hiểu biết về biện pháp phòng tránh thai thấp hơn so với thành thị Phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu là phương pháp định lượng
Bài viết “Tại sao cần giáo dục giới tính cho lứa tuổi Vị thành niên” của trang cẩm nang sức khỏe cũng đã có bài viết nêu rõ một số nguyên nhân để chứng minh rằng việc giáo dục kiến thức giới tính ở độ tuổi VTN là rất quan trọng Trong bài viết này tác giả cũng đã đưa ra những con số cụ thể của việc trẻ không được GDGT như: “Việt Nam là nước đứng thứ 5 thế giới về tình trạng nạo phá thai ở tuổi vị thành niên Theo số liệu của Vụ Sức khỏe Bà mẹ - Trẻ em, tỷ lệ trẻ vị thành niên có thai trong tổng số người mang thai tăng liên tục qua các năm: Năm 2010 là 2,9%, năm 2011 là 3,1% và đến năm 2012 là 3,2% tương ứng với tỷ lệ phá thai ở lứa tuổi này là 2,2% năm 2010, 2,4% năm 2011 và 2,3% năm 2012.” Những số liệu cụ thể cũng đã phần nào minh chứng cho việc giáo dục giới tính ở trẻ VTN là rất quan trọng và cần thiết Giúp các em trong bị đầy đủ các kiến thức cơ bản nhất về vấn đề giới tính chính là một cách phòng tránh cho các em những trường hợp đáng tiếc xảy ra
Các nghiên cứu, bài viết trên cho tác giả nhận ra rằng, việc giáo dục về nội dung “ Sức khỏe sinh sản của trẻ em vị thanh niên” còn nhiều hạn chế Điều đó cho thấy sự thay đổi trong việc nhận thức, hoạt động giáo dục nội dung vệ sinh nói riêng cho con của các bậc phụ huynh là điều rất cần thiết Những hậu quả về thực trạng nạo, phá thai ở trẻ lứa tuổi vị thành niên bắt nguồn từ việc thiếu sót về giáo dục giới tính của các bậc cha mẹ đối với con khi ở độ tuổi nhỏ hơn trước đó
Các nghiên cứu về những rào cản, khó khăn trong quá trình giáo dục
giới tính cho trẻ
Bài viết “Người lớn là rào cản khi giáo dục giới tính” của tác giả Lê Hiền đăng trên báo Thanhnien online, bằng việc những số liệu nghiên cứu của Trung tâm Sáng kiến sức khỏe và dân số tác giả đã chứng minh việc thiếu hụt kiến thức về giới tính ở độ tuổi vị thành niên là rất lớn, đồng thời cũng chỉ ra những sai lầm trong quan niệm của cha mẹ và thầy cô trong việc giáo dục giới tính Theo tác giả việc giáo dục giới tính trong nhà trường còn mang tính hàn lâm, khô cứng, không thiết thực, khiến cho nó trở nên nhàm chán không thu hút được sự quan tâm và hứng thú của học sinh Vì thế, các em có xu hướng tự tìm hiểu, khám phá, đây chính là
Trang 14nguyên nhân dẫn đến những suy nghĩ và hành vi lệch lạc về giới tính Bài viết cũng thể hiện những mong muốn của trẻ trong việc tiếp cận với những thông tin về giới,
họ mong muốn người lớn coi chuyện tình yêu tình dục tuổi vị thành niên một cách nghiêm túc Thông qua bài viết tác giả muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giáo dục về giới tính, mà vai trò của người lớn đối với vấn đề này
Một bài viết thuộc bản quyền của viện Xã hội học của tác giả Nguyễn Thị Tố Quyên viết về vấn đề “giáo dục giới tính cho trẻ em trong gia đình” Tác giả đã đề cập đến nhiều nguyên nhân dẫn đến việc trẻ em không được giáo dục giới tính từ cha mẹ, nhà trường do tâm lý ngại ngùng nên họ sẽ im lặng trước các câu hỏi liên quan tới giới tính mà các em thắc mắc thì các em sẽ tò mò mà tìm đếm các mạng xã hội, sách báo để thỏa chí tò mò Ngoài ra tác giả cũng đã nêu ra mục đích cuối cùng mà giáo dục giới tính mang lại cho các em đó chính là trang bị những kiến thức tâm lý đặc điểm của mỗi giới Tác giả cũng đã có những số liệu cụ thể về tính cần thiết cũng như mức độ hiểu biết về giới tính của các bậc cha mẹ trong đó thì phần lớn cha mẹ vẫn ý thức được tầm quan trọng của những cuộc nói chuyện trao đổi trực tiếp với con cái Nhưng cũng có một số bộ phận cha mẹ còn chưa ý thức được tầm quan trọng của GDGT cho thấy họ vẫn còn có những tầm nhìn hạn hẹp, theo xu hướng truyền thống hơn là hiện đại Thông điệp mà tác giả gửi đến đó là cha mẹ cần nghiêm túc, tế nhị trong giảng dạy về giới tính cho con trẻ và không được đánh trống lảng hay bỏ mặc trẻ trong những vấn đề nhạy cảm như giáo dục giới tính
Như vậy, các nghiên cứu đã chỉ ra rất nhiều rào cản khó khăn trong quá trình GDGT cho trẻ Đây là những yếu tố quan trọng trong việc giải quyết vấn đề GDGT cho trẻ có hiệu quả hay không
Tóm lại, các công trình nghiên cứu, bài viết trên đều đã đề cập đén những vấn đề của giáo dục giới tính cho trẻ em tuổi vị thanh niên và thanh niên Điều này
đã cung cấp những nền tảng cho tác giả tìm hiểu về giáo dục giới tính đối với nhóm đối tượng đặc thù nhất định Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu chủ yếu
đi sâu phân tích nhóm đối tượng là trẻ ở độ tuổi vị thành niên Việt Nam hiếm có công trình nghiên cứu nào điều tra sâu về vấn đề giáo dục giới tính Vấn đề trẻ em ở
Trang 15độ tuổi mầm non, tiểu học ở các gia đình Trong khi đó thời gian gần đây tệ nạn xâm hại tình dục trẻ em đang ở mức đáng báo động, mà nạn nhân chủ yếu trẻ ở độ tuổi mầm non, tiểu học Các khía cạnh về giáo dục giới tính Bên cạnh đó do mỗi công trình đều có cách tiếp cận riêng về giáo dục giới tính nên đa phần: nội dung, phương pháp của các bậc phụ huynh trong giáo dục giới tính dành cho trẻ em nói chung chưa được đề cập một cách đầy đủ Do đó GDGT còn rất nhiều khoảng trống cho các nhà nghiên cứu về Xã hội học đi sâu Nghiên cứu này sẽ tiếp thu và kế thừa những kết quả nghiên cứu của các đề tài trước đó, đồng thời tập trung, đi sâu phân tích vào thực trạng GDGT cho trẻ em trong các gia đình ở lứa tuổi từ 6-10, tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến việc GDGT cho con cái của các bậc cha mẹ
3 Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học
Với tư cách là một nghiên cứu khoa học, đề tài đã sử dụng cách tiếp cận và kết hợp tổng thể các phương pháp nghiên cứu của xã hội học Trong đề tài có vận dụng những lý thuyết như: lý thuyết xã hội hóa, lý thuyết lựa chọn hành vi hợp lý để
có thể đưa ra một cái nhìn tổng thể về vấn đề giáo dục giới tính cho con cái trong các gia đình ở Việt Nam hiện nay
Kết quả nghiên cứu đạt được mang một ý nghĩa lý luận quan trọng, khẳng định tính hợp lý và ý nghĩa của việc vận dụng những lý thuyết quan trọng trong nghiên cứu xã hội học Tuy nhiên nghiên cứu này không nhằm mục đích xây dựng và phát triển lý luận
xã hội học cơ bản Nó chỉ là những đóng góp thêm vào nhằm làm rõ thực trạng giáo dục giới tính cho con cái trong các gia đình ở Việt Nam hiện nay
Hai là khái quát một vài kết quả chính trong hoạt động của các gia đình có con từ 6-10 tuổi Từ đó thấy được những yếu tố ảnh hưởng đến việc GDGT của các bậc phụ huynh
Trang 16Ba là nhìn nhận được những khó khăn của các bậc cha mẹ trong quá trình giáo dục giới tính cho con cái Từ đó đưa ra được những giải pháp thích hợp để việc giáo dục giới tính cho con cái ngày càng được phổ biến và có tính hiệu quả
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Mô tả thực trạng giáo dục giới tính trong các gia đình tại TP Vinh, Nghệ An cũng như phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục giới tính cho con cái của các bậc phụ huynh, từ đó đề xuất một số khuyến nghị về giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động giáo dục giới tính cho trẻ trong các gia đình
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đánh giá nhận thức về tầm quan trọng của việc GDGT đối với trẻ em từ 6 –
10 của các bậc cha mẹ Mô tả thực trạng GDGT cho con cái thông qua việc phân tích mục đích, nội dung, phương pháp và hiệu quả của hoạt động giáo dục thể hiện qua những kiến thức và kỹ năng mà trẻ em tiếp nhận được
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng chính đến hoạt động giáo dục giới tính cho trẻ trong các gia đình của các bậc cha mẹ như : yếu tố đặc trưng nhân khẩu; yếu tố truyền thông; yếu tố quan điểm và tâm lý của các bậc phụ huynh
Đề xuất một số khuyến nghị về giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục giới tính cho trẻ em trong các gia đình
5 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
“ Giáo dục giới tính cho trẻ em lứa tuổi từ 6 – 10 trong các gia đình tại TP Vinh, Nghệ An”
5.2 Khách thể nghiên cứu
Các bậc phụ huynh, trẻ em lứa tuổi 6-10 tại phường Hà Huy Tập – Thành phố Vinh – tỉnh Nghệ An
5.3 Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu: Phường Hà Huy Tập, TP Vinh, Nghệ An
Thời gian nghiên cứu: Từ 12/2016 – 8/2017
Trang 17 Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Tác giả tập trung phân tích thực trạng GDGT của các bậc phụ huynh đối với con cái ở độ tuổi từ 6 – 10; các tác động chủ yếu đến hoạt động GDGT bao gồm: yếu tố đặc trưng nhân khẩu; yếu tố truyền thông; yếu tố quan điểm và tâm lý của các bậc phụ huynh
6 Câu hỏi nghiên cứu
Các bậc phụ huynh có nhận thức như thế nào vấn đề GDGT đối với
7 Giả thuyết nghiên cứu:
- Các bậc cha mẹ, đa số đều nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục giới tính cho con cái nhưng thực tiễn hoạt động giáo dục giới tính cho con hàng ngày còn ở khoảng cách xa Phần lớn các bậc phụ huynh cho rằng thời gian phù hợp nhất để cha mẹ bắt đầu thực hiện giáo dục giới tính cho con cái là khi trẻ bước vào
độ tuổi vị thành niên
- GDGT cho trẻ em từ 6 – 10 tuổi trong các gia đình tại thành phố Vinh, Nghệ
An diễn ra ở hầu khắp các gia đình Tuy nhiên, ở mỗi gia đình sẽ khác nhau về mục đích, nội dung, phương pháp giáo dục Vì vậy, cũng nhận được các kết quả khác nhau đối với sự nhận biết của trẻ
- Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc giáo dục giới tính cho con cái của các bậc cha mẹ Trong đó yếu tố về đặc trưng nhân khẩu xã của các bậc cha mẹ cùng đi đôi với định kiến tâm lý hay yếu tố ảnh hưởng từ phía truyền thông chính là những yếu
tố chính dẫn đến việc giáo dục giới tính cho con cái chưa hiệu quả
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Để có thể có một sơ sở lý luận vững chắc nhằm nhìn nhận chính xác về vấn
đề giáo dục giới tính cho con cái trong các gia đình Việt Nam hiện nay, việc tổng
Trang 18hợp tài liệu là một phương pháp cần thiết Những tư liệu về nội dung giáo dục giới tính, các đề tài nghiên cứu về vấn đề giáo dục giới tính cho con cái trong các gia đình, các đề tài về thực trạng phạm tội của trẻ tuổi vị thành niên và các thông tin số liệu từ các trang báo sẽ góp phần cung cấp cho nghiên cứu những thông tin đa chiều hơn
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả có tiến hành tham khảo một số tài liệu liên quan đến đề tài giáo dục giới tính, giáo dục sức khỏe sinh sản và ngoài ra còn tham khảo một số nghiên cứu, bài viết, tạp chí Xã hội học, Internet
8.2 Phương pháp phỏng vấn sâu:
Phỏng vấn được tiến hành với 22 đối tượng là cha mẹ và con cái
- Nội dung phỏng vấn sâu đối với cha mẹ ( Gồm 12 trường hợp): nhận thức của cha
mẹ, mục đích, nội dung, phương pháp, những yếu tố tác động đến hoạt động GDGT của các bậc cha mẹ dành cho con cái trong các gia đình
- Cơ cấu mẫu như sau:
Giới tính:
+ Nam: 4 trường hợp + Nữ: 8 trường hợp Trong đó:
+ Phỏng vấn cha mẹ: 12 trường hợp + Phỏng vấn con cái: 10 trường hợp
8.3 Phương pháp thu thập thông tin bằng phiếu trưng cầu ý kiến
* Cơ cấu phiếu trƣng cầu ý kiến
- Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn trưng cầu ý kiến với 190 phiếu, số phiếu hợp lệ thu về là 182 phiếu
- Nội dung phiếu trưng cầu gồm:
+ Thực trạng GDGT cho trẻ em trong các gia đình
+ Những yếu tố tác động đến hoạt động GDGT cho con cái của các bậc phụ huynh
+ Thông tin cá nhân
- Cơ cấu mẫu:
Trang 19Giới tính: + Nam: 17,9% : 32 ( Người)
+ Nữ: 82,1% : 147 (Người)
Tuổi
+ Tuổi từ ( 30 - 40): 58,6 % : 105 (Người) + Tuổi từ ( 41 - 50): 38 % : 68 (Người) + Trên 50 tuổi: 3,4 % : 6 (Người)
Trình độ học vấn:
+ Tiểu học: 0,5% : 1 (Người) + Trung học cơ sở: 0,5% : 1 (Người) + Trung học phổ thông: 30,6% : 56 (Người) + Trung cấp, THCN và dạy nghề: 1,6% : 3 (Người) + Cao đẳng, đại học: 60,8% : 111 (Người) + Trên Đại học: 6% : 11 (Người)
Nghề nghiệp: + Công nhân viên chức: 38% : 68 (Người)
+ Kinh doanh: 36,3% : 65 (Người) + Khác: 25,7% :46 (Người)
- Phương pháp xử lý dữ liệu:
Dữ liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS 16
8.4 Phương pháp thảo luận nhóm:
Đây là phương pháp trò chuyện , thảo luận được tổ chức trên một nhóm đối tượng có chung đặc điểm nhất định Thông qua các câu hỏi được đưa ra để các đối tượng trong nhóm trả lời, đưa ra những ý kiến, trao đổi quan điểm cá nhân Qua các cuộc thảo luận nhóm, tác giả sẽ quan sát và phân tích dựa trên những thông tin thu được
Ở nghiên cứu này, tác giả tiến hành tổ chức hai cuộc thảo luận nhóm ở hai khu vực khối khác nhau trong phường Hà Huy Tập mà các bé ở độ tuổi từ 6 – 10 chính là những đối tượng trực tiếp tham gia Mỗi nhóm thảo luận sẽ bao gồm cả bé trai và bé gái Số lượng của mỗi nhóm là 6 – 8 em
Trang 209.Khung phân tích lý thuyết
Bối cảnh kinh tế - xã hội
NỘI DUNG
Chính sách Nhà nước
Thực trạng GDGT cho trẻ em lứa tuổi từ 6-10 trong các gia đình
Đặc trưng nhân khẩu
xã hội
Mục đích GDGT
Nội dung GDGT
Phương pháp GDGT
Những kết quả chính trong hoạt động GDGT
Trang 21CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1 Khái niệm công cụ
1.1.1 Khái niệm giáo dục
Giáo dục (tiếng Anh: education) theo nghĩa chung là hình thức học tập theo
đó kiến thức, kỹ năng, và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học Bất cứ trải nghiệm nào có ảnh hưởng đáng kể lên cách mà người ta suy nghĩ, cảm nhận, hay hành động đều có thể được xem là có tính giáo dục Giáo dục thường được chia thành các giai đoạn như giáo dục tuổi ấu thơ, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học, và giáo dục đại học
“Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần thể chất của một đối tượng nào đó làm cho đối tượng đó dân có những phẩm chất và năng lực cho yêu cầu đề ra”
Các nhà xã hội học giáo dục luôn nhấn mạnh tính định hướng của giáo dục, coi giáo dục là hoạt động có ý thức của con người Trên thực tế, nếu thiếu hoạt động giáo dục sẽ không thể tạo ra quá trình tái sản xuất các hoạt động tinh thần và vật chất khác
Chức năng cơ bản của giáo dục là xã hội hóa thế hệ trẻ, duy trì tính liên tục văn hóa của xã hội, và sự truyền đạt những kinh nghiệm lịch sử xã hội được tích lũy trong quá trình phát triển của loài người nhằm đảm bảo quá trình sản xuất xã hội, đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội
Trong nghiên cứu này, khái niệm giáo dục được hiểu là các hoạt động của các bậc cha mẹ đối với con cái của họ ở trong nhóm lứa tuổi từ 6 – 10 Tìm hiểu rõ nhận thức của phụ huynh về tầm quan trọng GDGT, nội dung, phương pháp của hoạt động GDGT mà họ lựa chọn nhằm mục đích tạo nên những phẩm chất , những mong muốn ở con cái họ những kiến thức về giới tính, những kĩ năng về phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em
Trang 221.1.2 Khái niệm giáo dục giới tính
Khái niệm giới tính
Theo Ann Oakley, được xem là người đầu tiên đưa thuật ngữ giới vào trong
xã hội học những năm 1970: giới tính là những khác biệt sinh lý căn bản nhất giữa đàn ông và đàn bà, khác biệt với cơ quan sinh dục của những khả năng sinh sản
Một số tác giả khác lại nhấn mạnh đến yếu tố sinh học và gen trong khi định
nghĩa “giới tính và những đặc điểm sinh học của phụ nữ và nam giới được xác định
bởi gen” Luật bình đẳng giới (năm 2006) định nghĩa “giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ”
Còn các nhà nhân học xã hội sử dụng thuật ngữ giới tính để chỉ những đặc điểm nhận dạng bên ngoài phân biệt một người nam và một người nữ, cần thiết cho
sự tái sản xuất sinh học của con người
Khái niệm giáo dục giới tính
Vấn đề giáo dục giới tính là một vấn đề còn hết sức mới mẻ, vì vậy khái niệm về giáo dục giới tính còn nhiều quan điểm khác nhau
Theo A.V Petrovxki, giáo dục giới tính là hệ thống các biện pháp y khoa và
sư phạm nhằm giáo dục cho thiếu nhi, thiếu niên và thanh niên có thái độ đúng đắn đối với các vấn đề giới tính
Giáo sư Trần Trọng Thủy và giáo sư Đặng Xuân Hoài cho rằng, giáo dục giới tính có phạm vi rất rộng lớn, tác động toàn diện đến tâm lý, đạo đức con người
“là hình thành tiêu chuẩn đạo đức của hành vi có liên quan đến lĩnh vực thầm kín
của đời sống con người, hình thành những quan điểm đạo đức lành mạnh giữa em trai và em gái, thanh nam và thanh nữ, giáo dục những sự “kiềm chế có đạo đức”,
sự thuần khiết và tươi mát về đạo đức trong tình cảm của các em”
Ngoài ra, giáo dục giới tính còn được định nghĩa:
Giáo dục giới tính nam hình thành cho trẻ những kiến thức khoa học tối thiểu
về giải phẫu cơ thể, cơ chế thụ thai, biện pháp tránh thai…
Giáo dục giới tính là một bộ phận của giáo dục nhân cách nằm cung cấp cho đối tượng những kiến thức về tâm sinh lý lứa tuổi; kiến thức về sự phát triển cơ thể,
về cấu tạo cơ quan sinh sản, kiến thức về tình bạn, tình yêu, tình dục; kiến thức về
Trang 23cơ chế mang thai, biện pháp tránh thai; kiến thức về bệnh lây nhiễm qua đường tình dục Giáo dục giới tính nhằm mục đích xây dựng các chuẩn mực trong quan hệ khác giới giúp cho cá nhân hoàn thiện nhân cách bản thân
Giáo dục giới tính giúp trẻ nhận thức được sự khác biệt giới, giúp trẻ nắm được các thuộc tính đặc trưng của từng giới, trên cơ sở đó biết ứng xử phù hợp và thực hiện tốt vai trò của giới mình; đồng thời giúp các em nắm được các chuẩn mực của đạo đức và thực hiện hành vi có văn hóa trong quan hệ với người khác giới ở mọi lúc mọi nơi
Theo định nghĩa của ngành y tế: “Giáo dục giới tính là một thuật ngữ rộng miêu tả việc giáo dục về giải phẫu sinh dục, sinh sản, quan hệ tình dục, sức khỏe sinh sản, các quan hệ tình cảm, quyền sinh sản và các trách nhiệm, tránh thai, và các khía cạnh khác của thái độ tình dục loài người Những cách giáo dục giới tính thông thường là thông qua cha mẹ, người chăm sóc, các chương trình trường học và các chiến dịch sức khỏe cộng đồng
Tóm lại giáo dục giới tính trong nghiên cứu này được hiểu là một bộ phận quan trọng của giáo dục nhân cách Giáo dục giới tính nhằm trang bị cho trẻ em ở lứa tuổi từ 6 - 10 những hiểu biết cần thiết về giới tính, hình thành cho trẻ những thái độ và kĩ năng phản ứng trong quan hệ với những người khác giới, người lạ, người thân, người quen nhằm giúp trẻ có nền tảng về giới tính và góp phần giảm thiểu tệ nạn xâm hại tình dục đang diễn ra Và những nội dung GDGT cơ bản ở lứa tuổi này được rút ra từ trong các tài liệu bổ ích như : Tập bài giảng GDGT của tổ chức Lớn lên an toàn, tài liệu tập huấn cho trẻ em và Người chưa thành niên nhằm phòng ngừa xâm hại tình dục của dự án Tuổi thơ (một sáng kiến của chính phủ Úc) Những nội dung cụ thể GDGT cho nhóm lứa tuổi có thể tập trung vào hai nhóm
chính Nhóm thứ nhất cung cấp về những nhận thức về giới tính như : nhận biết, gọi
tên chính xác các bộ phận trên cơ thể người bao gồm cả cơ quan bộ phận sinh dục; phân biệt giới tính; tìm hiểu những quy tắc về sự riêng tư các bộ phận kín trên cơ thể; kiến thức cơ bản về sinh sản; kiến thức cơ bản về dậy thì Nhóm nội dung thứ
hai cung cấp về các kỹ năng liên quan đến GDGT như: cách vệ sinh thân thể đúng
cách, các phản ứng nếu có của trẻ khi có người đụng chạm/xâm hại và mức độ tiếp
Trang 24xúc người lạ, người quen, người thân của trẻ Tuy nhiên, trong nhóm nội dungtác
giả đưa vào khảo sát như trên thì có những nội dung không phù hợp với lứa tuổi từ
6 – 10 như kiến thức tìm hiểu về người đồng tính, lưỡng tính; an toàn tình dục và
các biện pháp phòng tránh thai nhưng nghiên cứu vẫn đưa vào nhằm đánh giá đúng
hơn về nhận thức cũng như hoạt động GDGT của các bậc phụ huynh đối với con cái của họ
Giáo dục giới tính trong các gia đình
“Giáo dục giới tính trong gia đình là xây dựng cho thế hệ trẻ thái độ đúng
đắn đối với vấn đề giới tính Mục đích của giáo dục giới tính trong gicó nền tảng vêa đình nhằm hình thành cho trẻ kiến thức tối thiểu về giải phẫu cơ thể, cơ chế thụ thai, biện pháp tránh thai” Trong xã hội xưa, rất ít khi người ta đề cập đến vấn đề
giới tính trong gia đình Nhưng trong xã hội ngày nay, xã hội hiện tại chỉ dưới cơ bản mọi người đều nhận thấy giáo dục giới tính là một nội dung giáo dục quan trọng cần được chú trọng Tuy nhiên, giáo dục giới tính đang còn là vấn đề nhiều vướng mắc trong việc đánh giá một cách khoa học xem: gia đình, nhà trường hay xã hội- chủ thể nào sẽ đóng vai trò chính trong giáo dục giới tính cho trẻ, và thời gian giáo dục, nội dung, phương pháp giáo dục giới tính như thế nào để đạt được hiệu quả tối
ưu Một số yêu cầu đặt ra đối với giáo dục giới tính trong gia đình, đó là: thứ nhất là kết hợp giáo dục giới tính với giáo dục ý thức công dân, thứ hai là: người giáo dục phải có một khoảng cách tuổi nhất định đối với đối tượng giáo dục, phải có uy tín
và chiếm được lòng tin với đối tượng, thứ ba là: tùy theo lứa tuổi học mà có những nội dung giới tính giáo dục sao cho phù hợp
Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung nghiên cứu thực trạng giáo dục giới tính cho con cái trong gia đình được thể hiện ở các khía cạnh: nhận thức của cha mẹ
về tầm quan trọng của giáo dục giới tính mục đích, nội dung giới tính và phương pháp giáo dục giới tính cho con cái Đồng thời chỉ rõ được những yếu tố tác động đến việc giáo dục giới tính của các bậc phụ huynh
Như vậy, GDGT cho trẻ em trong nghiên cứu này được xem xét với nhóm giáo dục chính là các bậc cha mẹ và nhóm đối tượng nhận hoạt động GDGT là trẻ
em trong các gia đình có độ tuổi từ 6 – 10 với việc đánh giá xem xét các nội dung
Trang 25GDGT theo độ tuổi đó thuộc hai nhóm: nhóm GDGT vè kiến thức và nhóm GDGT
về kỹ năng
1.1.3 Khái niệm gia đình
Gia đình là một phạm trù xuất hiện rất sớm trong lịch sử xã hội loài người và
đã không ngừng biến đổi cùng với bước tiến của nền văn minh nhân loại Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình:
Năm 1994, tổ chức UNESCO của Liên Hợp Quốc đã lấy là năm Quốc tế về
gia đình và đưa ra định nghĩa “Gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng,
cùng sống chung và có ngân sách chung”
Theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam (2000), “Gia đình là tập hợp
những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc giao quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền lợi giữa họ với nhau”
Từ góc độ xã hội học đưa ra định nghĩa: “Gia đình là một thiết chế xã hội
đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau về quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của các thành viên cũng như để tự thực hiện tính tất yếu của xã hội về tài sản xuất con người”
1.1.4 Khái niệm trẻ em
Khái niệm “trẻ em” được nêu trong nhiều văn bản pháp lý khác nhau Theo Luật Trẻ em được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 05/4/2016, “trẻ em” được quy định là người dưới 16 tuổi Còn Ủy ban bảo vệ
và chăm sóc trẻ em Việt Nam thì đưa ra khái niệm: “Trẻ em là công dân Việt Nam
dưới 16 tuổi trừ trường hợp pháp luật áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng có thể hiểu, trẻ
em là người đang trong độ tuổi phát triển, chưa hoàn thiện về mặt sinh lý và tâm lý,
dễ bị tổn thương do các tác động tiêu cực từ môi trường xã hội
Hiệp ước về Quyền Trẻ em của Liên hiệp quốc định nghĩa trẻ em là "mọi con
người dưới tuổi 18 trừ khi theo luật có thể áp dụng cho trẻ em (Theo Wikipedia
Tiếng Việt)
Trang 26Ở đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu nhóm trẻ em trong lứa tuổi này là nhóm trẻ em đặc thù từ 6 – 10 tuổi
1.2 Lý thuyết ứng dụng
1.2.1 Lý thuyết xã hội hóa
Xã hội hóa là quá trình học tập văn hóa của mọi người và phong cách sống trong nền văn hóa ấy Đối với cá nhân, xã hội hóa mang lại những động lực cần thiết cho hoạt động và tham gia xã hội Đối với cá nhân, xã hội hóa là những phương tiện để đạt được sự tương tác văn hóa của xã hội thông qua việc đưa các thành viên cá nhân vào các luật lệ, cách ứng xử, giá trị, động lực của xã hội Đây chính là ý tưởng tập hợp của Clausen (1968) Từ nền tảng các lý thuyết xã hội hóa
đã có từ Platon, Montaigne và Roussean, Clausen định nghĩa: ''Xã hội hóa là khiến con người có tính xã hội, thích hợp với xã hội''
Ely Chinoy (1961) xã hội hóa gồm 2 chức năng chủ yếu:
+ Chuẩn bị cho cá nhân những vai trò mà người ấy sẽ thực hiện, cung cấp nội dung cấn thiết vế thói quen tín ngưỡng, các giá trị, mẫu thức về cách ứng dụng tình cảm, cách cảm nhận, các kỹ năng và kiến thức cơ bản
+ Truyền thông những nội dung văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác để duy trì sự bền vững và tương ứng về văn hóa
Từ điển American Heritage đã định nghĩa xã hội hóa một cách tổng quát Xã hội hóa là '' Một quá trình tương tác, nhờ đó cá nhân đạt được sự nhận biết mình và các chuẩn tác, giá trị, cách ứng sử và các kỹ năng xã hội thích hợp với vị trí của mình Một hành động hoặc một quá trình hành động tạo tính xã hội''
Xã hội hóa sẽ mang đến cho cá nhân những kỹ năng cần thiết mà xã hội đòi hỏi, nhờ các kỹ năng đó có đủ khả năng hòa nhập mà chính họ đang sống và làm việc Quá trình xã hội hóa có thể đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ ít đến nhiều Quá trình xã hội hóa diễn ra ở ba quá trình: giai đoạn gia đình, giai đoạn nhà trường, giai đoạn mà người ta thực sự bước vào đời Đây là ba tác nhân giúp cá nhân hòa nhập vào xã hội Trong quá trình xã hội hóa của một cá nhân chúng ta cần chú ý đến quá trình đứt đoạn xã hội hóa thì phải tái hòa nhập dù vậy ở đây xảy ra
Trang 27trường hợp nếu cá nhân đã bị đứt đoạn xã hội hóa quá lâu thì việc tái hòa nhập là một khó khăn
Theo Clausen quá trình xã hội hóa chia làm ba giai đoạn trong đó giai đoạn đầu là từ gia đình Chính gia đình là nơi cung cấp những kiến thức đầu tiên cho cá nhân để hòa nhập vậy nên việc thay đổi suy nghĩ sai lệch về vấn đề giáo dục giới
tính là rất cần thiết
Trong nghiên cứu này, tác giả xem xét lý thuyết xã hội hóa ở chiều cạnh phân tích môi trường Giáo dục trong gia đình – là môi trường đầu tiên của quá trình xã hội hóa cá nhân, và cũng là môi trường quan trọng gắn bó với mỗi cá
nhân suốt cuộc đời Lý thuyết này cho phép tác giả tìm hiểu rõ hơn về đề tài : “
Thực trạng giáo dục giới tính cho trẻ em lứa tuổi từ 6 – 10 trong các gia đình tại Thành phố Vinh – tỉnh Nghệ An” Dưới góc độ tìm hiểu những yếu tố tác động
và ảnh hưởng của văn hóa lên nhận thức của cha mẹ trong việc giáo dục giới tính cho con cái của họ chẳng hạn như trình độ học vấn, thu nhập, lối sống văn hóa, truyền thông Từ đó hình thành nên những đặc điểm trong suy nghĩ của bậc cha
mẹ về vấn đề giới tính
1.2.2 Lý thuyết lựa chọn hành vi hợp lý
Lý thuyết lựa chọn hợp lý, còn được gọi là lý thuyết lựa chọn hay lý thuyết hành động hợp lý, là một khuôn khổ cho sự hiểu biết và thường chính thức mô hình hóa hành vi kinh tế và xã hội Những tiền đề cơ bản của lý thuyết lựa chọn hợp lý là kết quả hành vi xã hội tổng hợp từ các hành vi của các diễn viên cá nhân , mỗi người được quyết định cá nhân của họ Do đó, lý thuyết tập trung vào yếu tố quyết định sự lựa chọn cá nhân (cá nhân luận)
Lý thuyết lựa chọn hợp lý sau đó giả định rằng một cá nhân có sở thích trong
số các lựa chọn thay thế lựa chọn có sẵn cho phép họ để nêu một phương án mà họ thích Những sở thích được giả định là đủ (người luôn có thể nói đó của hai lựa chọn thay thế họ xem xét thích hợp hơn hoặc không được ưa thích đến khác) và bắc cầu (nếu tùy chọn A được ưa thích hơn tùy chọn B và tùy chọn B được ưa thích hơn tùy chọn C, sau đó A được ưa thích hơn C) Các đại lý hợp lý được giả định để lấy tài khoản của các thông tin có sẵn, xác suất của các sự kiện, và các chi phí và lợi ích
Trang 28trong việc xác định sở thích, và hành động phù hợp trong việc lựa chọn các lựa chọn tốt nhất tự xác định các hành động
Tính hợp lý được sử dụng rộng rãi như là một giả định về hành vi của cá nhân trong các mô hình kinh tế vi mô và các phân tích và xuất hiện ở hầu hết các phương pháp điều trị kinh tế sách giáo khoa của con người quyết định Nó cũng là trung tâm của một số khoa học chính trị hiện đại, xã hội học, và triết học Một phiên bản đặc biệt của lý tính là hợp lý công cụ, trong đó có việc tìm kiếm các chi phí-hiệu quả nhất phương tiện để đạt được một mục tiêu cụ thể mà không cần suy nghĩ
về sự xứng đáng của mục tiêu đó Gary Becker là người ủng hộ đầu áp dụng mô hình diễn viên hợp lý rộng rãi hơn Becker đã đoạt giải Nobel năm 1992 Đài tưởng niệm trong khoa học kinh tế cho các nghiên cứu của ông về phân biệt đối xử, tội phạm, và vốn con người
Trong nghiên cứu này, tác giả xem xét lý thuyết lựa chọn hành vi hợp lý khi phân tích việc các phụ huynh đưa ra các hành vi giáo dục như thế nào đối với con
em của mình tùy thuộc vào bối cảnh xã hội; đặc trưng nhân khẩu xã hội và đặc điểm riêng của mỗi gia đình đối với con em họ
1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục giới tính cho trẻ em
Kể từ khi Chính phủ Việt Nam phê duyệt Chiến lược quốc gia về Chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001-2010 đầu tiên, cả nước đã đạt được những bước tiến đáng kể trong lĩnh vực này Số lượng các địa phương tham gia đã tăng nhanh, chất lượng dịch vụ được cải thiện và vấn đề này đã được lồng ghép với vấn đề HIV/AIDS Hiện nay Chuẩn quốc gia và Hướng dẫn về sức khỏe sinh sản (SKSS)
đã được ban hành và đã có một hệ thống Thông tin quản lý Y tế thống nhất Tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề cần phải cải thiện Các chính sách về SKSS không nên chỉ chú trọng tới các biện pháp KHHGĐ lấy phụ nữ làm trung tâm mà cần phải tập trung vào các vấn đề rộng hơn trong SKSS với sự chú ý tới nhu cầu của các nhóm khác nhau như nữ giới, nam giới và vị thành niên
Cung cấp dịch vụ y tế dù còn nhiều hạn chế về chất lượng, mức độ thân thiện, bảo mật, các dịch vụ lâm sàng, cận lâm sàng, điều trị về SKSS và cung cấp các biện pháp tránh thai của hệ thống y tế nhà nước đã đáp ứng phần nào nhu cầu của VTN
Trang 29Sự cởi mở về mặt chính sách của nhà nước (chủ trương xã hội hóa công tác y tế, khuyến khích hành nghề y, dược tư nhân…) đã bước đầu tạo điều kiện cho sự ra đời các cơ sở cung cấp dịch vụ SKSS VTN do các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức cộng đồng hoặc các cá nhân phụ trách Chính hệ thống dịch vụ này đã bổ sung cho hoạt động của các dịch vụ nhà nước và mở ra hướng đi mới cho việc phát triển đa dạng các hình thức cung ứng dịch vụ linh hoạt, thân thiện cho VTN, thậm chí dành riêng cho những nhóm đối tượng khác nhau như nam, nữ, học sinh, VTN nghiện chích ma túy, VTN nhiễm HIV Trong tương lai, các cơ sở cung cấp dịch vụ SKSS VTN của các tổ chức, cá nhân không thuộc nhà nước sẽ đóng vai trò quan trọng, giúp việc cung cấp dịch vụ SKSS VTN trở nên đa dạng, hiệu quả hơn
1.4 Quan điểm của Bộ Y Tế, Bộ Giáo Dục về giáo dục giới tính cho trẻ em
Để nâng cao kiến thức, kỹ năng và hành vi của trẻ vị thành niên trong việc tự bảo vệ nâng cao sức khoẻ bản thân, ngành Y tế nỗ lực phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể, đặc biệt là ngành Giáo dục, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ… xây dựng các tài liệu truyền thông, mô hình tại các trường học, thành lập các câu lạc bộ, xây dựng
đề án giáo dục, tổ chức các buổi sinh hoạt ngoại khóa cho học sinh về kiến thức sức khỏe sinh sản trẻ vị thành niên
Tháng 6 năm 2006, Bộ Y tế đã phê duyệt “Kế hoạch tổng thể Quốc gia về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe vị thành niên và thanh niên Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010 và định hướng 2020”
Bộ Y tế đã ban hành “Chuẩn quốc gia về dịch vụ SKSS” (2002) và hiện nay đang xây dựng “Hướng dẫn quốc gia về dịch vụ sức khỏe thân thiện dành cho VTN&TN” Đây là đáp ứng quan trọng tiến tới hoàn thiện về mặt chất lượng, kỹ thuật đối với các dịch vụ SKSS cung cấp cho VTN Tháng 8 năm 2006, Bộ Y tế ra quyết định (số 23/2006/QĐ-BYT) chuyển đổi các Trung tâm chăm sóc sức khỏe bà
mẹ, trẻ em và KHHGĐ ở các tỉnh, thành phố trực thuộc TW trước đây thành các Trung tâm chăm sóc SKSS, theo đó các trung tâm chăm sóc SKSS tỉnh/thành phố sẽ
có khoa Chăm sóc SKSS vị thành niên và nam học
Trang 30 Quan điểm, chương trình hành động của Bộ Giáo dục
Trong lĩnh vực giáo dục, nối tiếp với chương trình thí điểm giáo dục dân số được thực hiện từ những năm đầu của thập kỷ 80, từ năm 1998, các nội dung giáo dục SKSS VTN được xác định cần ưu tiên và đưa vào lồng ghép, tích hợp trong 4 môn học: Sinh học, Địa lý, Giáo dục công dân, Ngữ văn của chương trình giảng dạy chính khóa Tuy nhiên, hiệu quả thực hiện phương thức giáo dục lồng ghép này không cao do thời lượng các môn học chính khóa đã quá tải, giáo viên thiếu kiến thức và có thái độ e ngại khi nói về các vấn đề SKSS
Thực tế, giáo dục SKSS VTN lại chứa đựng rất nhiều chủ đề nhạy cảm, tế nhị, học sinh khó có thể trình bày, trao đổi một cách cụ thể trong môi trường lớp học, trước mặt thầy cô và bạn bè khác giới Đối với chủ đề này, cần phải có một môi trường phù hợp để các em có thể tin tưởng bày tỏ, trao đổi một cách thoải mái tất cả những hiểu biết, quan điểm, khúc mắc của mình Để đáp ứng nhu cầu đó, các nội dung giáo dục SKSS VTN đã được nghiên cứu, truyền tải tới học sinh dưới các hình thức mềm dẻo, linh hoạt và đa dạng thông qua các hoạt động ngoại khóa 2 Từ năm học 2006 – 2007, hoạt động ngoại khóa giáo dục SKSS/TD VTN chính thức được đưa vào khung chương trình giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh các trường phổ thông Hiện nay, công tác tập huấn cho đội ngũ giáo viên về các nội dung và phương pháp giáo dục SKSS VTN thông qua hoạt động ngoại khóa đang được tiến hành tại các địa phương
“Kế hoạch tổng thể giáo dục HIV và sức khỏe sinh sản trong nhà trường” đã được Bộ Giáo dục - Đào tạo phê duyệt tháng 3 năm 2007…
Trong nghiên cứu này của tác giả thì không tập trung vào mảng GDGT tại các nhà trường theo quy định của bộ Giáo dục và Đào tạo Tuy nhiên, với việc định hướng phải phối hợp nhiều các ngành ban như trên đã trình bày thì rõ ràng, vai trò của gia đình trong giáo dục là một bộ phận không thể thiếu được nhưng nó là bộ phận chưa được nghiên cứu nhiều một cách chính thống Vì vậy, tác giả đặt vấn đề nghiên cứu tập trung chủ yếu nhóm đối tượng các bậc phụ huynh trong việc GDGT cho con cái của họ
Trang 31Tóm lại, GDGT hiện nay trong khía cạnh các chức năng vai trò người ta hay gán nhiều cho các tổ chức như nhà trường, tổ chức phi chính phủ Nhưng dường như, vấn đề GDGT ít được đề cập đến trong các văn bản về vai trò của gia đình trong GDGT mà gia đình là một trong 4 môi trường xã hội hóa vô cùng quan trọng Trẻ ở lứa tuổi càng nhỏ lại càng có mối quan hệ mật thiết với chức năng của gia đình nhiều hơn trong vấn đề GDGT cũng như giáo dục nội dung khác Nó đóng vai trò vô cùng quan trọng nhưng lại chưa được đề cập nhiều đến Chính vì vậy, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu vấn đề GDGT cho trẻ em lứa tuổi từ 6 – 10 trong các gia đình
1.5 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Thành phố Vinh được xem là thành phố trung tâm của Bắc Miền Trung Các điều kiện kinh tế - văn hóa – giáo dục đều đang trên đà phát triển Tuy nhiên, nếu ở các Thành phố lớn đi đầu cả nước như Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh đều được nhà nước triển khai nhiều dự án cộng đồng về GDGT thì ở thành phố Vinh, điều đó chưa được phát triển mạnh mẽ
Hà Huy Tập là một phường thuộc thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Phường Hà Huy Tập – Thành phố Vinh có diện tích tự nhiên 217 ha với 22 khối phố, 3.971 hộ và 19.800 nhân khẩu Từ lâu, Hà Huy Tập được biết đến là miền đất học với nhiều người học cao, biết rộng, thành danh, có ích cho đất nước, xã hội Những năm qua, phát huy truyền thống hiếu học của địa phương, Đảng uỷ, UBND phường đã tập trung chỉ đạo thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục và đạt được nhiều thành tích đáng ghi nhận
Về kinh tế:
Từ một khu phố đã trở thành phường nội thị, nhà có số, phố có tên, đến nay phường Hà Huy Tập đã có những bước phát triển vững chắc cả về thế và lực, thể hiện rõ nét trên tất cả các mặt: Kinh tế tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 9,2%; giá trị gia tăng bình quân đầu người năm 2016 đạt 50,1 triệu đồng
Nhiều doanh nghiệp ra đời và hoạt động hiệu quả trên địa bàn Các thành phần kinh tế phát triển nhanh, đa dạng, tập trung trên các trục đường chính như: Mai Hắc
Đế, Hà Huy Tập, Nguyễn Sỹ Sách, Lý Tự Trọng, Lênin, Hải Thượng Lãn Ông
Trang 32Đời sống nhân dân không ngừng được nâng lên, số hộ giàu và khá tăng, tỷ lệ
hộ nghèo chỉ còn 0,19%, tỷ lệ hộ cận nghèo còn 0,21% Quản lý quy hoạch, đất đai,
đô thị, trật tự đô thị, vệ sinh môi trường có nhiều tiến bộ và ngày càng đi vào nề nếp Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng được tập trung chỉ đạo gắn với huy động nội lực trong nhân dân để xây dựng đường giao thông, vỉa hè, nhà văn hoá, điện chiếu sáng
Chỉ tính riêng giai đoạn 2010 - 2015 đã đầu tư xây dựng hoàn thành 26 hạng mục công trình với tổng mức đầu tư là 45,72 tỷ đồng, trong đó ngân sách phường đầu tư 30,5 tỷ đồng, huy động nhân dân đóng góp 14,41 tỷ đồng; ngoài ra, nhân dân còn hiến 119m2 đất để mở rộng đường dưới 3m, bê tông hóa được 2.456m2 các tuyến đường nội khối, liên khối
Một số công trình của tỉnh, thành phố như dự án đầu tư, tôn tạo kênh Bắc, đường 72m… được triển khai trên địa bàn, tạo điểm nhấn quan trọng đối với cảnh quan đô thị và đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của nhân dân Vì vậy, bộ mặt của phường
có sự thay đổi nhanh, theo hướng đồng bộ, ngày càng sạch đẹp, văn minh
Về văn hóa – xã hội
Cùng với phát triển kinh tế, lĩnh vực văn hoá - xã hội có nhiều tiến bộ Sự nghiệp giáo dục phát triển khá vững chắc và toàn diện, là phường dẫn đầu thành phố về chất lượng giáo dục Công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân được quan tâm Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa được đẩy mạnh; các hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể dục - thể thao từng bước đáp ứng nhu cầu của nhân dân
Đến nay, toàn phường có 22/22 khối phố được công nhận là khối văn hoá; xây dựng được 15 tổ dân cư, 61 ngõ phố văn minh; tỷ lệ gia đình văn hoá bình quân đạt 94%, gia đình thể thao đạt 53% - là một trong những đơn vị đầu tiên của thành phố đạt tiêu chí phường văn hoá, phường đạt chuẩn văn minh đô thị
Các vấn đề bức xúc của xã hội như tệ nạn ma túy, giải quyết việc làm được triển khai tích cực và đạt kết quả cao Quốc phòng - an ninh được củng cố giữ vững,
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo
Phường nhiều năm liền đạt danh hiệu Lá cờ đầu trong phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” năm 2011, 2012, 2013, 2016 10 năm liên tục đạt đơn vị quyết thắng, được Bộ trưởng Bộ Công an tặng Bằng khen
Trang 33Công tác xây dựng Đảng được quan tâm, nội bộ đoàn kết, thống nhất, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ được khẳng định Hiệu lực, hiệu quả điều hành, quản lý nhà nước được nâng cao
Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân có nhiều đổi mới, góp phần quan trọng tạo sự thống nhất cao trong Đảng bộ, sự đồng thuận trong nhân dân 13 năm liên tục (2004 - 2016), Đảng bộ phường được công nhận là Đảng bộ Trong sạch vững mạnh, (trong đó từ năm 2009 đến 2016 đạt danh hiệu Trong sạch vững mạnh tiêu biểu); chính quyền, MTTQ và các đoàn thể của phường được thành phố xếp loại xuất sắc
Về Giáo dục
Trên địa bàn phường, trường Tiểu học Hà Huy Tập 1 được đánh giá là trường có chất lượng phổ cập giáo dục xuất sắc của thành phố, kết quả phổ cập giáo dục đúng độ tuổi đạt 98% Năm học 2007 – 2008, tỷ lệ học sinh giỏi trường đạt 30%, khá 40%, trung bình 29%, loại yếu chỉ còn 1% Nhà trường đặc biệt quan tâm nâng cao chất lượng dạy và học, có nhiều phương pháp, sáng kiến mới trong công tác giảng dạy nhằm khuyến khích các em học tập tốt hơn Nhiều giáo viên giàu kinh nghiệm chuyên môn tạo ra chiều sâu trong chất lượng giảng dạy
Được sự quan tâm đúng mức, kịp thời của Đảng uỷ, UBND phường, cũng như các ban ngành đoàn thể địa phương, trường đã không ngừng lớn mạnh về mọi mặt Nhà trường đã đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị đáp ứng yêu cầu dạy và học của giáo viên, học sinh Trường được xây dựng khang trang gồm 20 phòng học cao tầng, 1 phòng nhạc, hội trường, phòng thư viện, thiết bị, phòng làm việc tạo thuận lợi cho giáo viên và học sinh yên tâm giảng dạy và học tập
Trường Tiểu học Hà Huy Tập 1
Song song với công tác dạy, học ở trường tiểu học Hà Huy Tập 1, trường Tiểu học Hà Huy Tập 2 cũng có những bước tiến đáng kể trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy Trường có đội ngũ giáo viên tâm huyết với nghề, nhiều người đạt thành tích và danh hiệu cao của ngành Toàn trường có 78 cán bộ, giáo viên, trong
đó có 80% tốt nghiệp đại học và cao đẳng Công tác kiểm tra giáo án, bài soạn dự giờ đánh giá chuyên môn, nghiệp vụ đối với giáo viên được tiến hành thường
Trang 34xuyên Các chuyên đề về đổi mới phương pháp dạy học, phong trào viết sáng kiến kinh nghiệm được chú trọng nâng cao Trong năm học qua, toàn trường có 1 sáng kiến kinh nghiệm xếp bậc 4, 2 SKKN xếp bậc 3, 6 SKKN xếp bậc 2
Nhà trường luôn bám sát mục tiêu giáo dục tiểu học, giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản Đồng thời, trường cũng đặc biệt quan tâm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, có những giải pháp thiết thực trong việc phụ đạo học sinh kém, bồi dưỡng học sinh giỏi Trong kỳ thi Toán tuổi thơ toàn quốc, trường có 3 học sinh
dự thi thì cả 3 đều đạt huy chương (1 huy chương vàng, 2 huy chương bạc) Kết quả xếp loại cuối năm, toàn trường có 804 em đạt học sinh giỏi và học sinh tiên tiến, 100% học sinh hoàn thành chương trình tiểu học
Trường Tiểu học Hà Huy Tập 2
Trong năm học vừa qua, được sự quan tâm của Đảng ủy, UBND phường, cùng các ban ngành đoàn thể, đặc biệt là phong trào xã hội hóa giáo dục phát triển mạnh, nhà trường đã huy động được 40 triệu đồng từ quỹ khuyến học của cha mẹ học sinh đầu tư xây dựng ga ra để xe và hệ thống điện chiếu sáng, đồng thời nâng cấp xây dựng, mua sắm trang thiết bị dạy học với tổng giá trị 400 triệu đồng từ ngân sách địa phương
Bên cạnh đó, Đảng ủy, chính quyền địa phương cũng có những hướng đi đúng và tổ chức thực hiện có hiệu quả trong công tác giáo dục đào tạo Đồng thời, ngành giáo dục làm tốt hơn nữa nhiệm vụ của mình, tâm huyết, yêu nghề, yêu trẻ, năng động, sáng tạo, đã khơi dậy truyền thống hiếu học, truyền thống giáo dục của nhân dân địa phương Tất cả đang tiếp sức cho “nghề học” của Hà Huy Tập, nối quá khứ, hiện tại và tương lai bằng những bước dài vẻ vang trên con đường chinh phục tri thức
Trang 35CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO TRẺ EM LỨA TUỔI 6 – 10 TRONG CÁC GIA ĐÌNH TẠI THÀNH PHỐ VINH
Giáo dục gia đình đã từ rất lâu được đánh giá có vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống giáo dục Mô hình giáo dục gia đình- nhà trường- xã hội có sự gắn kết chặt chẽ trong quá trình xã hội hóa đối với mỗi cá nhân, hình thành và hoàn thiện nhân cách trẻ Nói đến giáo dục trong gia đình, nội dung chủ yếu thường được cha mẹ quan tâm và nhắc đến đó là giáo dục đạo đức, giáo dục tri thức, những dự định về nghề nghiệp cho con gái trong tương lai Bên cạnh đó có một nội dung giáo dục có ảnh hưởng rất sâu sắc đến nhân cách, đến đời sống gia đình của con cái sau này dường như đã bị những bậc cha mẹ lãng quên hoặc ít được bậc cha mẹ quan tâm và chú ý giáo dục, đó là giáo dục giới tính
Ở chương 2, tác giả tập trung trình bày thực trạng GDGT cho trẻ em trong các gia đình nhằm mục đích cung cấp một bức tranh tương đối tổng thể về nhận thức, mục đích, nội dung, phương pháp GDGT của người giáo dục Các kết quả chính của nội dung này được phân tích dựa trên chủ yếu từ các số liệu thu được của cuộc khảo sát đối với 182 phụ huynh trên địa bàn nghiên cứu
2.1 Nhận thức của cha mẹ về vấn đề giáo dục giới tính cho trẻ em trong các gia đình
Nhận thức là yếu tố rất quan trọng trong mọi hoạt động của con người Vì thế, để nghiên cứu thực trạng GDGT, chúng tôi sẽ nghiên cứu các bậc phụ huynh đã đánh giá như thế nào về tầm quan trọng, vai trò, nội dung được đề cập trong GDGT
Nhận thức của cha mẹ về tầm quan trọng của GDGT cho trẻ em trong các
gia đình
Giáo dục giới tính là một tiến trình suốt cả đời người, gắn liền với mỗi cá nhân từ sinh cho tới tử Nhất là trong bối cảnh xã hội hiện nay, khi tệ nạn xâm hại tình dục trẻ em đang ở mức nghiêm trọng, thì GDGT cho trẻ cần được quan tâm đúng mức hơn nữa GDGT trước hết là phải thực hiện ở gia đình nhằm trang bị kiến thức, hình thành nhân cách, tạo nên một nền tảng vững chắc cho sức sức khỏe tình dục, sức khỏe sinh sản sau này Nó bao gồm những hiểu biết về phát triển tình dục, các mối quan hệ, hình ảnh về thể chất và vai trò giới, tình bạn, tình yêu, tình dục
Trang 36Hay nói cách khác GDGT đề cập đến các khía cạnh về sinh học, văn hóa xã hội, tâm lý và tâm linh của vấn đề giới tính, từ lĩnh vực nhận thức (thông tin) đến lĩnh vực tình cảm (cảm xúc, giá trị, thái độ) vào lĩnh vực hành vi (kỹ năng truyền thông, giao tiếp và kỹ năng quyết định) của mỗi cá nhân
Vì vậy, tìm hiểu về thực trạng GDGT cho con cái của các bậc phụ huynh hiện nay phải bắt nguồn từ việc nhận thức của họ Kết quả cơ bản ở câu khảo sát đầu tiên đánh giá khái quát chung về nhận thức của các bậc cha mẹ về tầm quan
trọng GDGT trong gia đình thì có tới 88% cho rằng “ quan trọng” và chỉ có 12% phụ huynh cho rằng “ không quan trọng” Không có người trả lời “ không biết”
Đây là một điều rất quan trọng, đặt ra cơ sở bước đầu đánh giá được sự phát triển về nhận thức của cha mẹ về vấn đề GDGT cho trẻ em trong các gia đình hiện nay
Chia sẻ với tác giả, một phụ huynh bày tỏ quan điểm rằng: “ Trời ơi em ơi,
ngày xưa thì còn e ngại chứ giờ thì GDGT là phải song hành với việc học tập các kiến thức khác ở trường rồi Tệ nạn đầy rẫy ra như thế nên GDGT cho con quan trọng lắm chứ” ( Nữ, 35 tuổi, nhân viên văn phòng)
Cũng đồng quan điểm đó, một phụ huynh khác cũng cho biết: “ Nói chung là
anh thấy nó quan trọng em ạ, từ hôm theo dõi thời sự đến giờ cứ nơm nớp, loay hoay đọc thêm thông tin để dạy thêm cho con” (Nam, 37 tuổi, kỹ sư)
Như vậy, hầu hết các bậc cha mẹ ở địa bàn khảo sát đã nhận thức đúng về tầm quan trọng của việc giáo dục giới tính Bộ phận phụ huynh cho rằng GDGT
“không quan trọng” chiếm tỷ lệ phần trăm không đáng kể
Nhận thức của cha mẹ về vai trò của GDGT cho trẻ em trong các gia đình
Có đến 88% các bậc phụ huynh tại địa bàn khảo sát cho rằng GDGT cho trẻ
em trong các gia đình là “quan trọng” Để tìm hiểu sâu hơn nhận thức của các bậc
cha mẹ về vai trò của GDGT cho trẻ em trong các gia đình, tác giả tiếp tục tiến hành nghiên cứu định tính và nhận được những kết quả như sau:
Nhiều phụ huynh khi được tiến hành phỏng vấn đều thống nhất rằng, GDGT
đóng vai trò rất lớn và quan trọng đối với con cái của họ trong giai đoạn hiện nay:
“Anh nghĩ GDGT giúp các cháu phòng tránh được việc bị xâm hại tình dục, biết những kĩ năng xử lý tình huống khi cần thiết Như em cũng thấy đó, thời buổi gì
mà ngày nào đưa tin cũng có trẻ bị xâm hại tình dục.”(Nam, 31 tuổi, giáo viên)
Trang 37Đa số các bậc phụ huynh khi được hỏi đến đều cho rằng, vai trò của giáo dục giới tính là dạy cho trẻ hiểu được bản chất giới tính của mình, phân biệt được giới tính nam nữ khác nhau và dạy trẻ cách bảo vệ cơ thể an toàn, chống xâm hại tình
dục.Chia sẻ về điều này, một phụ huynh cũng cho biết : “ Chị nghĩ vai trò của giáo
dục giới tính là dạy trẻ phân biệt được sự khác nhau giữa bạn nam và bạn nữ, dạy trẻ cách ứng phó với các tình huống nguy hiểm như người lạ cho quà bánh hay rủ
đi đâu thì phải làm sao, lúc người lạ ôm mình thì phải như thế nào? ( Nữ, 45 tuổi,
công nhân viên chức)
Như vậy, phần lớn các phụ huynh được lựa chọn để tiến hành phỏng vấn sâu đều xác định được vai trò quan trọng của việc giáo dục giới tính dành trong trẻ trong các gia đình Họ đều nhận định được rằng vai trò của GDGT là để giúp trẻ phân biệt rõ ràng sự khác nhau giữa hai giới tính nam, nữ và nhằm dạy trẻ những kĩ năng phòng tránh tệ nạn xâm hại tình dục
Nhận thức của cha mẹ về nội dung được đề cập trong GDGT
Bảng 1: Nhận thức của cha mẹ về nội dung được đề cập trong GDGT
Nội dung Tần số Tỉ lệ (%) Các vấn đề liên quan đến tình dục 25 13,7
Sự thay đổi của cơ thể và sự khác biệt giữa nam và
nữ
63 34,6
Các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản 36 19,8 Các mối quan hệ trong tình yêu, tình bạn 42 23,1 GDGT không dừng lại ở việc giáo dục về tình dục,
sức khỏe sinh sản, những mối quan hệ về tình yêu,
tình bạn, sự thay đổi sinh học của cơ thể… mà còn
giáo dục về đạo đức chuẩn mực xã hội trong vấn đề
giới tính
166 91,2
Kết quả khảo sát cho ta thấy có đến 91,2% các bậc phụ huynh lựa chọn
phương án: “GDGT không dừng lại ở việc giáo dục về tình dục, sức khỏe sinh sản,
những mối quan hệ về tình yêu, tình bạn, sự thay đổi sinh học của cơ thể… mà còn
Trang 38giáo dục về đạo đức chuẩn mực xã hội trong vấn đề giới tính” Đây là con số tích
cực khi nói đến sự hiểu biết của các bậc phụ huynh về nội dung được đề cập trong GDGT Trong tất cả các đáp án về nội dung được đề cập đến trong GDGT thì đây được xem là phương án lựa chọn bao hàm đầy đủ các nội dung nhất Điều đó cho ta thấy, nhận thức của phụ huynh khi được hỏi đến về GDGT thì hình dung của họ về vấn đề đó khá đầy đủ bằng việc rất nhiều người lựa chọn phương án trên
Các bậc phụ huynh cho rằng đối với thực tế hiện nay, chuyện người đồng tính, lưỡng tính; các tệ nạn xâm hại tình dục xảy ra ngày càng nhiều nên việc GDGT cho con là điều thật sự cần thiết Trong nhận thức của họ, GDGT không chỉ nói về tình dục, sức khỏe sinh sản, quan hệ tình yêu, tình bạn, người lạ người quen
mà còn giáo dục về đạo đức chuẩn mực xã hội trong vấn đề giới tính Chẳng hạn như trong chuẩn mực xã hội, giới tính nam là phải mạnh mẽ, ăn mặc đầu tóc gọn
gàng, hoạt động thể thao mạnh còn giới tính nữ thì phải nhẹ nhàng, nữ tính…“ Thì
điều chị nghĩ đầu tiên là có đề cập đến nội dung về tình dục, về giới tính nam nữ và quan hệ của hai giới, các vấn đề liên quan đến sinh sản GDGT thì nội dung của nó cũng rộng lắm Nó sẽ bao gồm cả nội dung về đạo đức chuẩn mực về giới tính nữa chẳng hạn như giới tính gì thì thường được phép làm gì hay không làm gì, những quy tắc động chạm của người này và người khác Đặc biệt là người lớn đối với trẻ em…” (Nữ, 37 tuổi, giáo viên)
Nhóm phương án các nội dung còn lại được phụ huynh lựa chọn với tỷ lệ
khá thấp Trong đó là phương án “Sự thay đổi của cơ thể và sự khác biệt giữa nam
và nữ” chiếm 34,6% Nội dung “Các mối quan hệ trong tình yêu tình bạn” chiếm
23,1%; “Các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản” chiếm 19,8% và “Các vấn đề
liên quan đến tình dục” chiếm tỷ lệ thấp nhất 13,7% Ở kết quả khảo sát định lượng,
mặc dù tỷ lệ lựa chọn phương án : “ Các vấn đề liên quan đến tình dục” chiếm tỷ lệ
thấp nhất là 13,7% nhưng trong tất cả các bậc phụ huynh khi được tiến hành phỏng
vấn sâu khi được hỏi đều trả lời rằng “quan hệ tình dục”; “sức khỏe sinh sản” là những nội dung đầu tiên họ nghĩ đến khi nói về GDGT
Kết quả khảo sát định lượng kết hợp định tính tại địa bàn cho thấy phần lớn các phụ huynh đều nhận thức đầy đủ các nội dung được đề cập đến trong vấn đề
Trang 39GDGT Đó là một tín hiệu khả quan về nhận thức của phụ huynh hiện nay Kết quả
này có sự khác biệt lớn so với kết quả nghiên cứu đề tài “Vai trò của cha mẹ đối với
việc giáo dục giới tính cho con cái trong gia đình ở nông thôn hiện nay” của tác giả
Vũ Thị Hậu năm 2008 Theo ở kết quả nghiên cứu đề tài này, tác giả Vũ Thị Hậu
kết luận: “Các bậc cha mẹ đều đã có sự nhận thức vấn đề giới tính tuy nhiên chưa
hoàn toàn đầy đủ Vẫn còn sự nhầm lẫn giữa các nội dung giáo dục về “cách ăn mặc, nói năng, đi đứng” và “bình đẳng nam nữ” hoặc nhầm lẫn nội dung “giáo dục con cái ngoan ngoãn, chịu khó học hành” và “giáo dục con sống đạo đức” là giáo dục giới tính chiếm tỷ lệ khá cao”
Và để tìm hiểu sâu sắc hơn sự nhận thức về vấn đề GDGT của các bậc phụ huynh tại địa bàn khảo sát, tác giả đã tiến hành phỏng vấn sâu với bậc phụ huynh
với câu hỏi: “Nói đến giáo dục giới tính anh chị nghĩ đến việc giáo dục những gì?”
thì kết quả nhận được khá thống nhất với kết quả nghiên cứu định lượng
Nhiều cha mẹ cho rằng: “giáo dục giới tính là một vấn đề khá rộng, đề cập
đến rất nhiều khía cạnh xoay quanh về giới tính, các mối quan hệ sinh lý cơ thể và đạo đức chuẩn mực xã hội về vấn đề giới tính”
Đây cũng là chỉ báo dẫn tới việc cha mẹ đánh giá “GDGT là rất quan trọng”
chiếm tỷ lệ cao nhất
Trao đổi với một phụ huynh khác về khía cạnh này chị cho biết thêm: “Thực
ra nói đến giáo dục thì các bố mẹ thường nghĩ ngay đến việc quan hệ tình dục hay sức khỏe sinh sản Ngay cả chị trước đây cũng thế nhưng giờ thì biết nhiều hơn rồi,
nó còn liên quan đến sinh lý cơ thể từ cách vệ sinh thân thể, cách gọi tên các bộ phận cho đến việc phòng tránh xâm hại” (Nữ, 38 tuổi, giáo viên)
Như vậy cơ sở nhận thức đầu tiên của các bậc phụ huynh về tầm quan trọng của việc giáo dục giới tính cũng như các nội dung liên quan được đề cập trong đó chủ yếu là tạo cho con cái họ những hiểu biết về chăm sóc bản thân, hiểu về giới tính để từ đó phòng tránh được tệ nạn xâm hại tình dục đang diễn ra
Nhận thức của phụ huynh về độ tuổi phù hợp để bắt đầu thực hiện GDGT
cho con
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn của các bậc cha mẹ về tầm quan trọng, vai trò của GDGT cũng như những nội dung được đề cập đến của GDGT, tác giả tiếp tục
Trang 40đi sâu vào vấn đề với việc thực hiện khảo xác định lượng dành cho các bậc phụ
huynh: “Theo anh chị, giáo dục giới tính nên bắt đầu từ độ tuổi nào là phù hợp
nhất?” thì kết quả thu về được như sau:
Bảng 2: Quan điểm của cha mẹ về việc xác định độ tuổi phù hợp đề bắt đầu GDGT cho con cái
Độ tuổi Tần số Tỷ lệ (%)
Độ tuổi mầm non ( 3 đến dưới 6 tuổi) 14 7,7
Độ tuổi tiểu học ( 6 đến dưới 10 tuổi) 87 48,1
Độ tuổi vị thành niên ( 10 đến dưới 18 tuổi) 80 44,2
Theo các khung chương trình giáo dục giới tính của các nước tiên tiến trên thế giới nói chung và theo ý kiến các chuyên gia giáo dục Việt Nam nói riêng, độ tuổi mầm non từ 3 đến dưới 6 tuổi là độ tuổi thích hợp nhất cho việc các bậc cha mẹ
áp dụng thực hiện giáo dục giới tính cho con cái Thậm chí một số chuyên gia còn cho rằng, không có mốc giới hạn của việc giáo dục giới tính cho trẻ, càng sớm thì càng tốt với những nội dung phù hợp
Tuy nhiên kết quả khảo sát thu được cho thấy, tỷ lệ phụ huynh đồng ý rằng “Ở
độ tuổi mầm non (3 đến dưới 6 tuổi)” là độ tuổi phù hợp nhất nên bắt đầu áp dụng việc
giáo dục giới tính chỉ chiếm 7,7% Đa phần các bậc phụ huynh khi được tiến hành
phỏng vấn sâu về câu hỏi này đều cho rằng “còn quá sớm, nhỏ thế, biết gì đâu”
Đó là lý do vì sao theo kết quả định lượng thu được, đại đa số các bậc phụ
huynh lựa chọn phương án “Việc giáo dục giới tính nên bắt đầu từ độ tuổi tiểu học
(6 đến dưới 10 tuổi)” chiếm tỉ lệ 48,1%, cao hơn khoảng 6 lần so với số lượng phụ
huynh lựa chọn phương án cho rằng nên bắt đầu GDGT ở độ tuổi mầm non là phù hợp Kết quả các cuộc phỏng vấn sâu thu được cũng ủng hộ cho nhận định này Đại
diện nhóm phụ huynh lựa chọn phương án này cho biết: “ Lứa tuổi này chị nghĩ nên
bắt đầu GDGT là phù hợp Con chị học sách khoa học lớp 5 ở trường cũng có nội dung này đưa vào rồi nhưng chị nghĩ là chưa đủ hoặc cô giáo ở lớp nên truyền đạt thêm chứ giờ toàn nạn nhân các vụ xâm hại tình dục là trẻ em ở độ tuổi tiểu học sợ lắm em ạ” ( Nữ, 37 tuổi, buôn bán)