Đồng thời tái hiện lại một phần nội dung của Đề tài cấp Bộ“Nghiên cứu giải pháp công nghệ ứng dụng cho quản lý và khai thác thông tin, dữ liệu đất đai trên nền điện toán đám mây”.. Với m
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN&TRUYỀN THÔNG
* -Đỗ Duy Yên
ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY - NỀN TẢNG AZURE
VÀ ỨNG DỤNG TRONG QUẢN LÝ THÔNG TIN ĐẤT ĐAI
TẠI BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÁY TÍNH
Thái Nguyên - 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để có thể tìm hiểu, hoàn thiện luận văn và có được kết quả như ngày hôm nay,tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn tới trường Đại học công nghệ thông tin vàtruyền thông - Đại học Thái Nguyên đã tạo môi trường thật tốt cho tôi được học tập,rèn luyện, tìm hiểu và trau dồi kiến thức trong suốt hai năm học vừa qua
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy trong Viện Công nghệ thông tin Viện khoa học và công nghệ Việt Nam, những người đã tận tình dạy bảo tôi cùng tậpthể lớp trong suốt quá trình chúng tôi học tập tại trường
-Đặc biệt tôi xin được gửi lời cảm ơn tới Tiến Sỹ Nguyễn Văn Tảo, thầy đã rấtnhiệt tình cung cấp tài liệu, hướng dẫn, chỉ bảo, đóng góp ý kiến và tạo mọi điều kiệncho tôi thực hiện, hoàn thiện luận văn được dễ dàng và có kết quả tốt nhất
Cuối cùng, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn chân thành, lời cảm ơn sâu sắc tới giađình, bạn bè những người luôn bên cạnh, động viên, giúp đỡ tôi trong học tập vàcuộc sống
Luận văn có được một số kết quả nhất định, tuy nhiên không thể tránh khỏisai sót và hạn chế, kính mong được sự cảm thông và đóng góp ý kiến của thầy cô
và các bạn
Thái Nguyên, ngày 08 tháng 10 năm 2015
Đỗ Duy Yên
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan toàn bộ nội dung trong luận văn này là kết quả quá trình tìm hiểucác tài liệu liên quan đến đề tài của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trungthực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Học viên
(Ký tên và ghi rõ họ tên)
Đỗ Duy Yên
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
LỜI CAM ĐOAN 3
MỤC LỤC 4
MỞ ĐẦU 6
CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT 8
DANH MỤC HÌNH VẼ 9
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY NỀN TẢNG DỊCH VỤ AZURE .11
1.1 Giới thiệu chung về điện toán đám mây 11
1.1.1 Khái niệm điện toán đám mây 11
1.1.2 Đặc điểm của điện toán đám mây 12
1.2 Phân tích, so sánh với các mô hình tính toán khác .12
1.2.1 Điện toán lưới (Grid Computing) 13
1.2.2 Tính toán theo yêu cầu (Utility Computing) 13
1.2.3 Dịch vụ Web (Web Service) 14
1.3 Kiến trúc điện toán đám mây 15
1.3.1 Mô hình kiến trúc tổng quát 15
1.3.2 Các thành phần của điện toán đám mây 15
1.4 Các mô hình dịch vụ của điện toán đám mây 16
1.4.1 Phần mềm như một dịch vụ (SaaS - Software as a Service) 16
1.4.2 Nền tảng như một dịch vụ (PaaS - Platform as a Service) 18
1.4.3 Hạ tầng như một dịch vụ (IaaS - Infrastructure as a Service) 18
1.5 Ưu, nhược điểm của điện toán đám mây .19
1.5.1 Ưu điểm 19
1.5.2 Nhược điểm 20
1.6 Giới thiệu nền tảng dịch vụ Azure 21
1.6.1 Các thành phần chính của dịch vụ Azure 21
1.6.2 Dịch vụ SQL Azure 25
1.6.3 Dịch vụ Live 28
1.7 Tiểu kết 28
Trang 5CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH QUẢN LÝ THÔNG TIN ĐẤT ĐAI TRÊN NỀN ĐIỆN
TOÁN ĐÁM MÂY 30
2.1 Tổng quan về Hệ thống thông tin quản lý đất đai 30
2.1.1 Khái niệm hệ thống thông tin đất đai 30
2.1.2 Khái niệm quản lý thông tin đất 30
2.1.3 Một số dạng dữ liệu được quản lý trong hệ thống thông tin đất đai 31
2.1.4 Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai 31
2.2 Tình hình triển khai nền tảng CNTT trong ngành quản lý đất đai 35
2.3 Đánh giá hiện trạng và sự cần thiết xây dựng LIS trên nền tảng điện toán đám mây 41
2.3.1 Điểm mạnh 41
2.3.2 Điểm yếu 42
2.3.3 Sự cần thiết xây dựng HTTT quản lý đất đai trên nền ĐTĐM 42
2.4 Mô hình Hệ thống thông tin quản lý đất đai trên nền tảng ĐTĐM 44
2.4.1 Kiến trúc tổng thể cho hệ thống 46
2.4.2 Kiến trúc triển khai 51
2.5 Tiểu kết: 55
CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐẤT ĐAI TẠI TỈNH BẮC NINH TRÊN NỀN TẢNG ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY 56
3.1 Hiện trạng dữ liệu đất đai 56
3.1.1 Hiện trạng hệ thống hồ sơ địa chính .56
3.1.2 Hiện trạng hệ thống thông tin đất đai 57
3.1.3 Hệ thống ELIS cho tỉnh Bắc Ninh 59
3.2 Phân tích thiết kế hệ thống thông tin đất đai 60
3.2.1 Đặc tả yêu cầu người dùng 60
3.2.3 Phân tích thiết kế hệ thống 68
3.3 Chương trình thử nghiệm 76
3.3.1 Lựa chọn công nghệ 76
3.3.2 Các bước triển khai 76
3.3.3 Hình ảnh kết quả 77
3.4 Tiểu kết 79
KẾT LUẬN 80
Trang 6TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 7MỞ ĐẦU
Trong 10 năm gần đây, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơquan nhà nước là một chủ đề thu hút sự quan tâm của các cơ quan nhà nước cũng nhưcủa người dân, doanh nghiệp nhờ tác động mạnh mẽ của nó đến chất lượng cuộc sống
Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước đã và
đang góp phần vào sự phát triển chung của xã hội, hướng tới mục tiêu “Dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Tuy nhiên, bên cạnh những thành
tựu đạt được, việc áp dụng công nghệ thông tin vào nghiệp vụ quản lý hành chính nhànước vẫn còn hạn chế, đầu tư chưa đồng đều và còn gặp nhiều khó khăn Một trongnhững khó khăn được nhắc đến đó là việc chưa có sự thống nhất hay bắt tay với nhaucủa các cơ quan quản lý
Trong quá trình làm luận văn, tôi đã may mắn nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo
của Tiến sĩ Nguyễn Văn Tảo và hướng cho tôi nghiên cứu đề tài “Điện toán đám mây
- nền tảng Azure và ứng dụng trong quản lý thông tin đất đai tại Bắc Ninh”.
Luận văn được trình bày với bố cục 3 chương Chương 1, trình bày tổng quan
về Điện toán đám mây và nền tảng Windows Azure Chương 2 của luận văn phân tíchhiện trạng ứng dụng CNTT trong quản lý hành chính đất đai, những điểm mạnh, điểmyếu và sự thiết yếu xây dựng hệ thống quản lý thông tin đất đai trên đám mây Đồng
thời tái hiện lại một phần nội dung của Đề tài cấp Bộ“Nghiên cứu giải pháp công nghệ
ứng dụng cho quản lý và khai thác thông tin, dữ liệu đất đai trên nền điện toán đám mây” Chương 3 tập trung phân tích kỹ hiện trạng quản lý đất đai tại tỉnh Bắc Ninh, đề
xuất mô hình quản lý đất đai trên đám mây cho cấp tỉnh/thành và tiến hành thử nghiệmtrên Windows Azure
Với mục đích muốn tìm hiểu điện toán đám mây, cụ thể là nền tảng dịch vụ
Azure của Microsoft cùng với những lợi ích nó mang lại, tôi đã chọn đề tài “Điện
toán đám mây - Nền tảng Azure và ứng dụng trong quản lý thông tin đất đai tại Bắc Ninh” cho luận văn tốt nghiệp của mình Luận văn này tập trung tìm hiểu những
khái niệm cơ bản về điện toán đám mây nói chung, công nghệ Azure nói riêng và ứngdụng vào phân tích, xây dựng thử nghiệm
Trang 8Do thời gian và kiến thức còn hạn chế nên tôi chỉ cài đặt thử nghiệm một số quytrình thủ tục hành chính trên đám mây Tôi mong nhận được sự góp ý, nhận xét củacác thầy cô cũng như của bạn bè để hoàn thiện các chức năng của hệ thống đảm bảo hệthống đáp ứng quy trình và góp phần xây dựng hệ thống chính phủ điện tử.
Trang 9CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮTTên viết tắt
API Aplication Programming
Interface
Giao diện lập trình ứng dụng
CNTT Information Technology Công Nghệ Thông Tin
Trang 10DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Mô hình điện toán đám mây 11
Hình 1.2 Mô hình grid computing 13
Hình 1.3 Mô hình Tính toán theo yêu cầu 14
Hình 1.4 Mô hình Web service 14
Hình 1.5 Mô hình kiến trúc điện toán đám mây [5] 15
Hình 1.6 Các thành phần của điện toán đám mây [5] 16
Hình 1.10 Windows Azure cung cấp các dịch vụ lưu trữ và tính toán dựa trên Windows cho các ứng dụng đám mây[7] 22
Hình 1.11 Ứng dụng Windows Azure có thể bao gồm các thể hiện web role và worker role, trong đó mỗi thể hiện chạy trên máy ảo của riêng nó [7] 23
Hình 1.12 Windows Azure cho phép lưu trữ dữ liệu trong các blob, table, và queue, sử dụng RESTful để truy cập [6] 24
Hình 1.13 SQL Azure cung cấp các tiện ích hướng dữ liệu trong đám mây [7] 25
Hình 1.14 Cơ sở dữ liệu SQL Azure [6] 26
Hình 1.15 Một ứng dụng có thể sử dụng chỉ một cơ sở dữ liệu hay nhiều cơ sở dữ liệu “Huron” data Sync [7] 27
Hình 1.16 “Huron” Data Sync sử dụng Microsoft Sync Framework để đồng bộ dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu SQL Azure và các cơ sở dữ liệu trong nhà [7] 28
Hình 2.1 Mô hình thành phần Elis Cloud 45
Hình 2.2 Sơ đồ luồng ngữ cảnh .46
Hình 2.3 Mô hình kiến trúc tổngthể 48
Hình 2.4 Kiến trúc dữ liệu 50
Hình 2.5 Mô hình kiến trúc triển khai giai đoạn 1 .52
Hình 2.6 Mô hình phân tầng giai đoạn 1 .53
Hình 2.7 Mô hình phân tầng giai đoạn 2 .54
Hình 2.8 Mô hình triển khai giai đoạn 3 .55
Hình 3.1 Các thành phần của cơ sở dữ liệu đất đai 60
Hình 3.2 Biểu đồ đăng ký lần đầu cho tổ chức 64
Hình 3.3 Biểu đồ đăng ký lần đầu cho hộ gia đình, cá nhân 65
Hình 3.4 Biểu đồ đăng ký biến động sau cấp giấy 67
Hình 3.5 Biểu đồ cấp đổi, cấp lại giấy chứng nhận 68
Hình 3.6 Biểu đồ Use case của hệ thống 70
Hình 3.7 Biểu đồ Use case quản trị người dùng 71
Hình 3.8 Biểu đồ cộng tác quản trị người dùng 72
Hình 3.9 Biểu đồ tiếp nhận hồ sơ 73
Hình 3.10 Biểu đồ cộng tác tiếp nhận hồ sơ 73
Hình 3.11 Biểu đồ kiểm tra hồ sơ 73
Hình 3.12 Biểu đồ cộng tác kiểm tra hồ sơ 74
Hình 3.13 Biểu đồ xác nhận thông tin 74
Hình 3.14 Mô hình dữ liệu 75
Hình 3.15 Giao diện xem bản đồ 77
Hình 3.16 Giao diện tra cứu thông tin 78
Trang 11Hình 3.17 Giao diện đánh giá hiệu suất truy cập 78
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY,
NỀN TẢNG DỊCH VỤ AZURE.
Nội dung chương này sẽ giới thiệu tổng quan về ĐTĐM, các mô hình dịch vụ,
mô hình triển khai của ĐTĐM, kiến trúc tổng thể của mô hình ĐTĐM, đồng thời sosánh kiến trúc ĐTĐM với một số kiến trúc khác Chương này cũng trình bày mô hìnhhoạt động, các dạng cung cấp của nhà cung cấp Azure
1.1 Giới thiệu chung về điện toán đám mây
1.1.1 Khái niệm điện toán đám mây
Điện toán đám mây (Cloud computing), còn gọi là điện toán máy chủ ảo, là môhình tính toán sử dụng các công nghệ máy tính và phát triển dựa vào mạng Internet.Thuật ngữ “đám mây” ở đây là lối nói ẩn dụ chỉ mạng Internet (dựa vào cách được bốtrí của nó trong sơ đồ mạng máy tính) và như một liên tưởng về độ phức tạp của các cơ
sở hạ tầng chứa trong nó Ở mô hình điện toán này, mọi khả năng liên quan đến côngnghệ thông tin đều được cung cấp dưới dạng các “dịch vụ”, cho phép người sử dụngtruy cập các dịch vụ công nghệ từ một nhà cung cấp nào đó “trong đám mây” màkhông cần phải có các kiến thức, kinh nghiệm về công nghệ đó, cũng như không cầnquan tâm đến các cơ sở hạ tầng phục vụ công nghệ đó.[16]
Theo tổ chức xã hội máy tính IEEE: “Điện toán đám mây là hình mẫu trong đó
thông tin được lưu trữ thường trực tại các máy chủ trên Internet và chỉ được lưu trữ tạm thời ở các máy khách, bao gồm máy tính cá nhân, trung tâm giải trí, máy tính trong doanh nghiệp, các phương tiện máy tính cầm tay, ".[16]
Hình 1.1 Mô hình điện toán đám mây
Điện toán đám mây là khái niệm tổng thể bao gồm cả các khái niệm như phầnmềm dịch vụ, Web 2.0 và các vấn đề khác xuất hiện gần đây, các xu hướng công nghệnổi bật, trong đó đề tài chủ yếu của nó là vấn đề dựa vào Internet để đáp ứng nhu cầungười dùng Ví dụ: Dịch vụ Google AppEngine cung cấp những ứng dụng kinh doanh
Trang 13trực tuyến thông thường, có thể truy cập từ một trình duyệt Web, còn các phần mềm
và dữ liệu đều được lưu trữ trên các máy chủ
1.1.2 Đặc điểm của điện toán đám mây
Tự phục vụ theo nhu cầu (On-demand self-service): Khách hàng chỉ cần nêu rayêu cầu thông qua trang web cung cấp dịch vụ, hệ thống của nhà cung cấp sẽ tự gomnhặt các tài nguyên rỗi để đáp ứng yêu cầu của khách hàng
Truy xuất diện rộng (Broad network access): Điện toán đám mây cung cấp cácdịch vụ thông qua môi trường Internet Do đó, người sử dụng chỉ cần kết nối Internet
là có thể sử dụng được dịch vụ Hơn nữa, điện toán đám mây ở dạng dịch vụ nênkhông đòi hỏi khả năng xử lý cao ở phía máy khách, vì vậy người sử dụng có thể truyxuất bằng các thiết bị di dộng như điện thoại thông minh, laptop, … và không phụthuộc vào vị trí địa lý
Dùng chung tài nguyên (Resource pooling): Tài nguyên của nhà cung cấp dịch
vụ được dùng chung, phục vụ cho nhiều người dùng dựa trên mô hình “multi-tenant”(máy chủ dịch vụ lưu và quản lý những khách hàng khác nhau) Mô hình này cho phéptài nguyên phần cứng và tài nguyên ảo hóa sẽ được cấp phát động dựa vào nhu cầu củangười dùng
Khả năng co giãn (Rapid elasticity): Đây là tính chất đặc biệt nhất, nổi bật nhất
và quan trọng nhất của điện toán đám mây Đó là khả năng tự động mở rộng hoặc thunhỏ hệ thống tùy theo nhu cầu của người sử dụng Khi nhu cầu tăng cao, hệ thống sẽ
tự mở rộng bằng cách thêm tài nguyên vào Ngược lại, khi nhu cầu giảm xuống, hệthống sẽ tự giảm bớt tài nguyên
Điều tiết dịch vụ (Measured service): Hệ thống điện toán đám mây tự độngkiểm soát và tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên (dung lượng lưu trữ, đơn vị xử lý,băng thông, …) Lượng tài nguyên sử dụng có thể được theo dõi, kiểm soát và báo cáomột cách minh bạch cho cả hai phía nhà cung cấp dịch vụ và người sử dụng [5]
1.2 Phân tích, so sánh với các mô hình tính toán khác.
Thật khó để phân biệt điện toán đám mây và các mô hình tính toán khác, bởi vìClouds không ra đời một cách riêng lẻ hay độc lập mà nó dựa trên nền tảng của cáccông nghệ trước đó Bắt nguồn từ điện to á n l ư ới (grid computing) trong thập niên
1980, tiếp theo là đ i ện toán theo nhu c ầu ( utility computing) và dịch vụ Web 2.0 Sauđây chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về các mô hình tính toán này để đưa ra được sự giống vàkhác nhau giữa các mô hình này với mô hình điện toán đám mây
Trang 141.2.1 Điện toán lưới (Grid Computing)
So với công nghệ điện toán đám mây, điểm giống nhau giữa chúng là cho phép
ảo hóa các nguồn lực công nghệ thông tin mà không cần có sự giới hạn về không gianđịa lý hay sự đồng nhất về hệ điều hành
Hình 1.2 Mô hình grid computing
Điểm khác nhau giữa chúng là:
- Về kiến trúc: Tính toán lưới tập trung vào việc tích hợp các tài nguyên có sẵngồm phần cứng, hệ điều hành, cơ sở hạ tầng an ninh của các hệ thống còn điện toánđám mây hướng tới các cấp độ khác nhau của dịch vụ nhằm đáp ứng tối đa nhu cầucủa người dùng
- Về mô hình tính toán: Grids không sử dụng mô hình tính toán bó, tốc độ tínhtoán chậm hơn còn điện toán đám mây sử dụng mô hình tính toán bó, tốc độ tính toánnhanh hơn
- Về mô hình dữ liệu: Tính toán lưới dùng các giao thức chuyên biệt để tìmkiếm các tài nguyên trên mạng để lưu trữ còn điện toán đám mây dùng Data Center đểlưu trữ dữ liệu
- Ảo hóa: Điện toán đám mây dùng công nghệ ảo hóa nhiều hơn tính toán lưới
- Về phạm vi sử dụng: Tính toán lưới chủ yếu hướng tới khoa học còn điện toánđám mây hướng tới thương mại, quan tâm đến việc phục vụ nhu cầu của khách hàngthông qua việc cung cấp các dịch vụ theo nhu cầu của khách hàng
1.2.2 Tính toán theo yêu cầu (Utility Computing)
Trang 15Hình 1.3 Mô hình Tính toán theo yêu cầu
So với các công nghệ điện toán đám mây, điểm giống nhau giữa chúng là tất cảcác tài nguyên tính toán được cung cấp cho khách hàng bao gồm phần cứng (HaaS -Hardware as a Service), cơ sở hạ tầng (IaaS - Infrastructure as a service) và nền (PaaS-Platform as a Service) dưới dạng các dịch vụ
Điểm khác nhau giữa chúng là:
- Tính toán theo yêu cầu có thể coi như là mô hình kinh doanh hơn là một côngnghệ cụ thể trong đó ứng dụng các nguồn tài nguyên cơ sở hạ tầng, phần cứng, phầnmềm được cung cấp Còn điện toán đám mây liên quan đế cách thiết kế, xây dựng,triển khai và chạy ứng dụng hoạt động trong một máy tính ảo, chia sẻ nguồn lực, tự
mở rộng và thu hẹp
1.2.3 Dịch vụ Web (Web Service)
Hình 1.4 Mô hình Web service
So với các công nghệ điện toán đám mây, điểm giống nhau giữa chúng là chúngcùng là mô hình tính toán ảo mà người sử dụng có thể làm việc thông qua trình duyệt,dịch vụ Web bao phủ toàn bộ không gian ứng dụng hướng dịch vụ tồn tại trong điệntoán đám mây
Trang 16Điểm khác nhau giữa chúng là: Dịch vụ Web là phần mềm trung gian để kếtnối server ứng dụng với các chương trình của khách hàng còn điện toán đám mây tất
cả mọi vấn đề liên quan đến công nghệ thông tin đều được truyền tải dưới dạng dịchvụ
1.3 Kiến trúc điện toán đám mây
Kiến trúc đám mây là kiến trúc của những hệ thống phần mềm bao gồm sựphân phối của điện toán đám mây, gồm phần cứng và phần mềm thiết kế bởi một kiếntrúc sư làm việc cho một nơi tích hợp đám mây Nó bao gồm nhiều thành phần đámmây kết nối với nhau thông qua các giao diện lập trình ứng dụng, thông thường là cácWeb service Mỗi hãng cung cấp có một kiến trúc điện toán đám mây riêng và pháttriển theo thế mạnh của từng hãng nhưng đều nhằm mục đích nâng cao chất lượngphục vụ, đảm bảo mọi điều kiện thuận lợi cho khách hàng, thu hút khách hàng
1.3.1 Mô hình kiến trúc tổng quát
Phần lớn hạ tầng cơ sở của điện toán đám mây hiện nay là sự kết hợp củanhững dịch vụ đáng tin cậy được phân phối thông qua các trung tâ m d ữ liệu được xâydựng trên những máy chủ với những cấp độ khác nhau của các công nghệ ảo hóa
Những dịch vụ này có thể được truy cập từ bất kỳ đâu trên thế giới, trong đó đámmây là một điểm truy cập duy nhất cho tất cả các máy tính có nhu cầu của khách hàng.Kiến trúc đám mây gồm: nền tảng đám mây (Cloud Platform), các dịch vụ đámmây (Cloud Service), cơ sở hạ tầng đám mây (Cloud Infrastructure), lưu trữ đám mây(Cloud Storage)
Hình 1.5 Mô hình kiến trúc điện toán đám mây [5]
1.3.2 Các thành phần của điện toán đám mây
Điện toán đám mây gồm 6 thành phần chính liên quan với nhau như trong
Trang 17hình sau.
Trang 18Hình 1.6 Các thành phần của điện toán đám mây [5]
- Infrastructure: Cơ sở hạ tầng của điện toán đám mây là phần cứng được
cung cấp như là các dịch vụ, nghĩa là được chia sẻ và có thể sử dụng lại dễ dàng Cáctài nguyên phần cứng được cung cấp theo các thời gian cụ thể theo yêu cầu Dịch vụkiểu này giúp cho việc giảm chi phí bảo hành, chi phí sử dụng,…
- Storage: Lưu trữ đám mây là khái niệm tách dữ liệu khỏi quá trình xử lý và
chúng được lưu trữ ở những vị trí từ xa Lưu trữ đám mây cũng bao gồm cả các dịch
vụ cơ sở dữ liệu,ví dụ như BigTable của Google, SimpleDB của Amazon…
- A Cloud Platform: Là dịch vụ cho việc phát triển phần mềm ứng dụng và
quản lý các yêu cầu phần cứng, nhu cầu phần mềm Ví dụ nền dịch vụ như Khung ứngWeb (Web application frameworks), Web hosting,
- Application: Ứng dụng đám mây là một đề xuất về kiến trúc phần mềm sẵn
sàng phục vụ, nhằm loại bỏ sự cần thiết phải mua phần mềm, cài đặt, vận hành vàduy trì ứng dụng tại máy bàn/thiết bị (desktop/device) của người sử dụng Ứng dụngđám mây loại bỏ được các chi phí/tài nguyên để bảo trì và vận hành các chương trìnhứng dụng
- Services: Dịch vụ đám mây là một phần độc lập của phần mềm có thể kết hợp
với các dịch vụ khác để thực hiện tương tác, kết hợp giữa các máy tính với nhau đểthực thi chương trình ứng dụng theo yêu cầu trên mạng Ví dụ các dịch vụ hiện naynhư: Simple Queue Service, Google maps, các dịch vụ thanh toán linh hoạt trên mạngcủa Amazon,
- Client: Khách hàng đám mây là những yêu cầu phần mềm hoặc phần cứng để
tận dụng các dịch vụ điện toán đám mây trên mạng Thiết bị cung cấp cho khách hàng
có thể là Web browser, PC, laptop hoặc mobile, …
1.4 Các mô hình dịch vụ của điện toán đám mây.
1.4.1 Phần mềm như một dịch vụ (SaaS - Software as a Service)
SaaS là một mô hình triển khai phần mềm được phát triển và hoạt động trênnền tảng Internet được quản lý bởi nhà cung cấp và cho phép người dùng truy cập từ
Trang 19xa Đối với các phần mềm đóng gói truyền thống, người sử dụng thường phải cài đặtvào hệ thống máy tính cá nhân hoặc các máy chủ của họ Còn dịch vụ SaaS, nhàcung cấp phần mềm dịch vụ sẽ sở hữu phần mềm này và chạy phần mề m đó trên hệthống máy tính ở trung tâm dữ liệu của nhà cung cấp Khách hàng không sở hữuphần mềm này nhưng họ có thể thuê nó để tiết kiệm chi phí cho việc mua máy chủ
và bản quyền phần mềm
Dịch vụ SaaS có các đặc tính sau:
- Truy cập và quản lý phần mềm thương mại dựa trên mạng Internet
- Các hoạt động được quản lý từ trung tâm thay cho mỗi vị trí của khách hàng,cho phép khách hàng truy cập vào các ứng dụng từ xa thông qua tr ìn h duyệt
- Việc phân phối phần mềm ứng dụng được thực hiện theo mô hình một-nhiều(một đối tượng - nhiều người thuê) khác với mô hình một-một, kể cả kiến trúc, giá cả
và sự quản lý
- Các nhà cung cấp SaaS xác định chi phí của phần mềm dựa theo yêu cầungười sử dụng (per-user basis), trường hợp số người sử dụng chỉ đạt con số cực tiểu thìthường phải cộng thêm phí tổn cho băng thông và không gian lưu trữ dữ liệu
Ngoài những đặc tính nêu trên, SaaS còn có những lợi thế như sau:
- Khách hàng tiết kiệm được tiền do không phải mua các máy chủ hoặcphần mềm khác để hỗ trợ sử dụng tất cả mọi thứ đều được sử dụng thông quatrình duyệt
- Khách hàng luôn có được các tính năng, chức năng mới nhất của các phầnmềm dịch vụ được cung cấp mà không cần lo lắng về việc cập nhật các bản vá lỗi haynâng cấp phần mềm bởi vì điều này đã được thực hiện bởi các nhà cung cấp dịch vụ
- Khách hàng luôn được đáp ứng với những sản phẩm tốt nhất trong thực tế vớigiá thành thấp nhất có thể
Bên cạnh những lợi thế trên thì mô hình SaaS cũng có một số nhược điểm là:
- Khách hàng sẽ bị phụ thuộc vào công nghệ mà nhà cung cấp đưa ra cho họ,giảm linh hoạt và sáng tạo Khách hàng cảm thấy bức bối vì chỉ có quyền thực hiệnnhững việc trong phạm vi nhà cung cấp cho phép
- Do phải cung cấp dịch vụ để đáp ứng cho nhiều đối tượng khách hàng, trong
đó những công ty lớn có khối lượng dữ liệu rất lớn nên đòi hỏi nhà cung cấp phải có
hệ thống máy chủ khổng lồ, nguồn tài chính hùng mạnh và hệ thống phải được phân
bố ở nhiều nơi
- Chi phí bảo trì, phát triển và cả trách nhiệm cho các sản phẩm phần mềm cùngđội ngũ nhân viên sẽ tăng dần theo khối lượng dữ liệu khách hàng
Trang 20- Với các ứng dụng triển khai trực tuyến trên mạng Internet, nếu đường truyềnInternet bị gián đoạn thì ảnh hưởng rất lớn đến công việc của khách hàng.
Trước những ưu thế vượt trội của mô hình SaaS, đã có nhiều nhà cung cấp dịch
vụ SaaS, điển hình là Google Hãng đã cung cấp bộ phần mềm gồm cả miễn phí lẫntính phí là Google Apps Bộ phần mềm này có nhiều chức năng bao gồm thư điện tử(Gmail), lịch trực tuyến (Google Calendar), trao đổi trực tuyến (Google Talk), … vàđặc biệt là gói phần mềm văn phòng (Google Documents & Spreadsheets) thực hiệnsoạn thảo, bảng tính, [6]
1.4.2 Nền tảng như một dịch vụ (PaaS - Platform as a Service)
Khi khách hàng cần một môi trường để phát triển ứng dụng, PaaS là một sự lựachọn tốt nhất Nó mang đến môi trường phát triển như một dịch vụ, phục vụ yêu cầucủa khách hàng Khách hàng sẽ xây dựng ứng dụng chạy trên cơ sở hạ tầng của nhàcung cấp và phân phối tới người sử dụng thông qua máy chủ của nhà cung cấp đó.Khách hàng không cần phải quản lý hoặc kiểm soát các cơ sở hạ tầng bên dưới baogồm cả mạng, máy chủ, hệ điều hành, lưu trữ, các công cụ, môi trường phát triển ứngdụng Đặc biệt, PaaS sẽ giải quyết bài toán “địa lý” khi nhóm phát triển ứng dụng ởnhững vùng địa lý khác nhau Khi khách hàng cần môi trường để triển khai một ứngdụng, khách hàng sẽ gửi yêu cầu tài nguyên về CPU, bộ nhớ và dung lượng lưu trữthông qua trình duyệt, hệ thống của nhà cung cấp sẽ đáp ứng yêu cầu tài nguyên chokhách hàng Từ đó khách hàng có thể triển khai ứng dụng nhanh hơn, linh hoạt và ổnđịnh hơn trong khi chỉ phải trả chi phí cho tài nguyên mà mình sử dụng Một số nhàcung cấp dịch vụ PaaS điển hình là Google App Engine, Microsoft Azure.[5]
1.4.3 Hạ tầng như một dịch vụ (IaaS - Infrastructure as a Service)
Trong loại hình dịch vụ này, khách hàng được cung cấp tài nguyên là “máy chủảo” (gồm bộ xử lý, dung lượng lưu trữ, các kết nối mạng, …) được ảo hóa từ cơ sở hạtầng vật lý của nhà cung cấp Khách hàng sẽ cài hệ điều hành, triển khai và cấu hìnhứng dụng Nhà cung cấp dịch vụ sẽ quản lý cơ sở hạ tầng cơ bản bên dưới, khách hàng
sẽ phải quản lý hệ điều hành, lưu trữ, các ứng dụng triển khai trên hệ thống và các kếtnối giữa các thành phần Sử dụng dịch vụ này, khách hàng tránh được rủi ro khi đầu tư
cơ sở hạ tầng Khi cần máy chủ cấu hình cao, khách hàng cấu hình thêm máy chủ, bộnhớ, CPU, … và ngược lại Điều này đáp ứng được nhu cầu thực tế của các doanhnghiệp khi cần triển khai hệ thống mới, hệ thống của họ lúc đầu nhỏ, cần máy chủ cấuhình thấp, nhưng sau một thời gian hoạt động, mô hình hệ thống lớn dần, cần máy chủ
có cấu hình cao hơn, dịch vụ này sẽ sẵn sàng đáp ứng Ở dịch vụ này, điển hình làAmazon EC2, IBM Blue Cloud [5]
Trang 211.5 Ưu, nhược điểm của điện toán đám mây.
1.5.1 Ưu điểm
- Sử dụng tài nguyên tính toán động: Các tài nguyên được cấp phát cho doanh
nghiệp đúng như những gì doanh nghiệp muốn một cách tức thời Thay vì việc doanhnghiệp phải tính toán xem có nên mở rộng hay không, phải đầu tư bao nhiêu máy chủthì nay doanh nghiệp chỉ cần ra yêu cầu và đám mây sẽ tự tìm kiếm tài nguyên rỗi đểcung cấp cho doanh nghiệp
- Tiết kiệm chi phí: Doanh nghiệp sẽ có khả năng cắt giảm chi phí để mua bán,
cài đặt và bảo trì tài nguyên Thay vì việc phải cử một chuyên gia đi mua máy chủ, càiđặt máy chủ, bảo trì máy chủ thì nay doanh nghiệp chỉ cần xác định chính xác tàinguyên họ cần và gửi yêu cầu lên đám mây Như vây họ chỉ mất chi phí sử dụng cácdịch vụ do đám mây cung cấp
- Giảm độ phức tạp trong cơ cấu doanh nghiệp: Doanh nghiệp không nhất thiết
phải thuê một chuyên gia IT để vận hành, bảo trì máy chủ mà chỉ cân tập trung vàolĩnh vực sản xuất, kinh doanh của mình
- Giảm thiểu rủi ro cơ sở hạ tầng: Các doanh nghiệp có thể sử dụng đám mây
để giảm rủi ro vốn có trong việc đầu tư các máy chủ cũng như các cơ sở hạ tầng khác
- Nâng cao năng lực: Mỗi khi một doanh nghiệp cần triển khai một sản phẩm
mới cần có máy chủ để chạy, phần mềm bản quyền, … Thủ tục để mua và lắp đặt mấtrất nhiều thời gian làm chậm tiến độ triển khai sản phẩm Trong khi đó, việc sử dụngtài nguyên của điện toán đám mây sẽ được cung cấp bởi một yêu cầu trên trình duyệt,yêu cầu sẽ được đáp ứng tức thì đảm bảo năng lực cho doanh nghiệp
- Hiệu năng cao hơn: Khi doanh nghiệp sử dụng hạ tầng của mình, họ phải duy
trì đội ngũ nhân viên công nghệ thông tin để quản lý hạ tầng, đồng thời khi cần mởrộng sản phẩm cần hạ tầng mạnh hơn lúc đó phải có chính sách nâng cấp hạ tầng hợp
lý cũng như thay đổi các thiết bị, máy móc bị hỏng Trong khi, nếu doanh nghiệp sửdụng tài nguyên của điện toán đám mây thì việc quản lý cơ sở hạ tầng đã có nhà cungcấp điện toán đám mây, doanh nghiệp chỉ cần tập trung vào công việc kinh doanh chínhcủa họ, do đó sản phẩm của họ làm ra có chất lượng hơn
- Khả năng mở rộng, linh hoạt: Nhờ khả năng co giãn của điện toán đám mây,
hệ thống của khách hàng có khả năng mở rộng hoặc thu nhỏ một cách linh hoạt tùytheo nhu cầu cụ thể Doanh nghiệp có thể khởi đầu với quy mô nhỏ, nhu cầu thấpnhưng sau đó phát triển mở rộng quy mô với nhu cầu tăng cao Các dịch vụ điện toánđám mây có thể được truy xuất ở bất kỳ đâu, bất kỳ lúc nào thông qua mạng Internet.Khách hàng có thể lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ nào đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu
Trang 22của mình với giá cả và chất lượng dịch vụ hợp lý nhất.
- Tính sẵn sàng: Việc sử dụng các dịch vụ của điện toán đám mây làm cho
người sử dụng lo lắng đến tính sẵn sàng của dịch vụ mà họ sử dụng Đây là một lý do
có thể làm cho người sử dụng ngại sử dụng các dịch vụ của điện toán đám mây Nhưnghiện tại, những người sử dụng dịch vụ của điện toán đám mây có thể an tâm về chấtlượng dịch vụ Ví dụ như trong mô hình SaaS có dịch vụ tìm kiếm của Google, khingười dùng truy cập vào trang web sử dụng dịch vụ tìm kiếm này thì có thể an tâmrằng mình luôn được đáp ứng
- Sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn: Nhờ khả năng co giãn nên tài nguyên luôn
được sử dụng một cách hợp lý nhất, theo đúng nhu cầu của khách hàng, không bị lãngphí hay dư thừa Đối với nhà cung cấp dịch vụ, công nghệ ảo hóa giúp cho việc khaithác tài nguyên vật lý hiệu quả hơn, phục vụ nhiều khách hàng hơn.[15]
1.5.2 Nhược điểm
Điện toán đám mây có rất nhiều ưu điểm, mang lại nhiều lợi ích cho kháchhàng, nhưng cũng giống như bất kỳ mô hình nào khác nó cũng tồn tại nhiều tháchthức, hạn chế mà đặc biệt là vấn đề an ninh dữ liệu, thông tin Cụ thể có một số hạnchế sau:
- Vấn đề tuân thủ luật lệ: Bằng cách tự lưu trữ ứng dụng của mình, một khách
hàng có thể dễ dàng xác định những mục tiêu kiểm soát và duy trì tình trạng toàn vẹncủa dữ liệu theo yêu cầu của luật lệ Tuy nhiên, nếu khách hàng này muốn đưa nhữngứng dụng tài chính của mình lên “đám mây”, họ chắc chắn sẽ phải đánh giá lại nhữngmục tiêu kiểm soát để bảo đảm không vi phạm vấn đề tuân thủ luật lệ
- Không có một chuẩn chung nào cho tất các các nhà cung cấp dịch vụ: Mỗi
nhà cung cấp xây dựng cơ sở hạ tầng riêng nên vấn đề khách hàng có nhu cầu sử dụngnhiều dịch vụ của nhiều nhà cung cấp khác nhau khó có thể kết hợp, tương thích vớinhau cũng như khi một ứng dụng được triển khai trên nhà cung cấp này thì sẽ khôngtriển khai được trên nhà cung cấp khác Do đó, khách hàng sẽ bị phụ thuộc vào côngnghệ mà nhà cung cấp đưa ra cho họ
- Các nhà cung cấp cần chi phí xây dựng lớn: Để xây dựng được một “đám
mây” đòi hỏi phải đầu tư lớn, xây dựng nhiều trung tâm dữ liệu trên khắp thế giới,đồng thời đòi hỏi độ bảo mật, an ninh, an toàn dữ liệu cao Vì vậy, chỉ có nhữnghãng công nghệ lớn trên thế giới có nguồn tài chính hùng mạnh và phân bố hệ thống
ở nhiều nơi mới có thể đầu tư từ thiết bị cho đến việc thuê đội ngũ nhân viên côngnghệ thông tin lành nghề, mua sắm các chính sách bảo mật cao
Trang 23- Khó lấy niểm tin của khách hàng: Những lo ngại về an ninh, bảo mật thông
tin, nỗi lo mất kiểm soát cũng là bài toán khó, làm đau đầu của các nhà cung cấp điệntoán đám mây
1.6 Giới thiệu nền tảng dịch vụ Azure
Azure là một nền tảng đám mây được đặt trong trung tâm dữ liệu củaMicrosoft, cung cấp hệ điều hành và tập các dịch vụ phát triển, có thể sử dụng độc lậphoặc kết hợp với nhau, để xây dựng các ứng dụng mới, chạy các ứng dụng trên đámmây hoặc phát triển các ứng dụng đã có lấy đám mây làm cơ sở Azure có cấu trúc mở,cho phép lập trình viên chọn lựa xây dựng các ứng dụng web, chạy các ứng dụng trêncác thiết bị, máy tính, máy chủ nối mạng Azure giúp giảm thiểu nhu cầu mua côngnghệ, cho phép lập trình viên nhanh chóng và dễ dàng tạo ra các ứng dụng chạy trênđám mây bằng cách sử dụng các kỹ thuật có sẵn với môi trường phát triển là VisualStudio và Microsoft NET framework, hỗ trợ nhiều ngôn ngữ lập trình và môi trườngphát triển Azure đơn giản hóa việc duy trì và vận hành ứng dụng bằng cách cung cấpviệc chạy ứng dụng hoặc lưu trữ khi có nhu cầu Việc quản lý cơ sở hạ tầng được tiếnhành tự động Azure cung cấp một môi trường mở, chuẩn, hỗ trợ nhiều giao thức mạnggồm HTTP, REST, SOAP, XML Nếu như Windows Live, Microsoft Dynamics vànhững dịch vụ Microsoft trực tuyến cho thương mại khác như Microsoft ExchangeOnline, SharePoint Online cung cấp các ứng dụng đám mây có sẵn cho NSD thì Azurecho phép lập trình viên cung cấp cho khách hàng những thành phần tính toán, lưu trữ,xây dựng các khối dịch vụ và tạo các ứng dụng đám mây Các dịch vụ của Azure gồmWindows Azure, NET Services, SQL Services, Live Services.[15]
1.6.1 Các thành phần chính của dịch vụ Azure
Windows Azure là một hệ điều hành để chạy các ứng dụng Windows và lưu trữ
dữ liệu của các ứng dụng này trên đám mây
Windows Azure chạy trên rất nhiều máy, tất cả đều được đặt trong trung tâm dữliệu của Microsoft và có thể truy cập nhờ mạng Internet Kết cấu Windows Azure liênkết các trạng thái xử lý thành một khối thống nhất Các dịch vụ lưu trữ và chạy ứngdụng của Windows Azure được xây dựng phía trên các kết cấu này Ở mức cao,Windows Azure hiểu đơn giản là một platform để chạy những ứng dụng windows vàlưu trữ dữ liệu của chúng trong đám mây Hình sau chỉ ra các thành phần chính của nó:
Trang 24Hình 1.10 Windows Azure cung cấp các dịch vụ lưu trữ và tính toán dựa trên
Windows cho các ứng dụng đám mây[7]
Window Azure cung cấp cho các các nhà phát triển với khả năng lưu trữ và tínhtoán theo yêu cầu để lưu trữ, mở rộng và quản lý Internet hay các ứng dụng đám mây.Window Azure hỗ trợ một sự triển khai thí nghiệm phát triển thống nhất thông qua sựtích hợp của nó với Visual Studio Trong phiên bản chạy miễn phí, NET quản lý cácứng dụng xây dựng sử dụng Visual Studio sẽ được hỗ trợ Window Azure là một nềntảng mở sẽ hỗ trợ cả các ngôn ngữ và môi trường của Microsoft và không phải củaMicrosoft Window Azure mong muốn chào đón các công cụ của các bên thứ 3 và cácngôn ngữ như là Eclipse, Ruby, PHP, và Python [16]
Để cho phép các khách hàng tạo, cấu hình, và quan sát các ứng dụng, WindowsAzure cung cấp một cổng truy cập trình duyệt Một khách hàng cung cấp mộtWindows Live ID, và sau đó chọn có tạo một tài khoản lưu trữ để chạy ứng dụng hoặctài khoản cho lưu trữ dữ liệu, hoặc cả hai Một ứng dụng có thể được trả phí theo nhiềucách: thuê trọn gói, phí dựa trên việc dùng bao nhiêu trả bấy nhiêu, hoặc theo một hìnhthức khác
- Ứng dụng trên Windows Azure: Trên Windows Azure, một ứng dụng thông
thường có nhiều thể hiện, mỗi cái chạy trên một bản copy của mã ứng dụng mỗi mộtthể hiện chạy trên máy ảo của riêng nó (VM) Những máy ảo này chạy hệ điều hànhWindows Server 2008 64 bit, và chúng cung cấp một mặt nạ (hypervisor)được thiết kếđặc biệt cho việc sử dụng trên đám mây
Một nhà phát triển không cung cấp ảnh VM của riêng họ cho Windows Azure
để chạy, hay không cần lo lắng về việc duy trì một bản sao hệ điều hành Windows.Thay vào đó, phiên bản miễn phí cho phép nhà phát triển tạo ứng dụng sử dụng thểhiện Web role và/ hoặc Worker role Hình sau chỉ ra làm hai thể hiện trên
Trang 25Hình 1.11 Ứng dụng Windows Azure có thể bao gồm các thể hiện web role và worker role, trong đó mỗi thể hiện chạy trên máy ảo của riêng nó [7]
Như tên mô tả của nó, mỗi thể hiện web role chấp nhận các yêu cầu HTTP (hayHTTPS) đầu vào thông qua IIS (Internet Information Service) 7 Một Web Role có thểđược cài đặt sử dụng ASP.NET, WCF hay một kĩ thuật khác mà làm việc với IIS Nhưhình trên đã chỉ ra, Windows Azure cung cấp cơ chế cân bằng bải trọng để phân bổ cácyêu cầu tới các thể hiện web role mà là các thành phần của cùng ứng dụng
Một thể hiện worker role, ngược lại, không thể nhận yêu cầu trực tiếp từ bênngoài - nó không được phép có bất kì đầu vào kết nối trên mạng nào, và IIS khôngchạy trong VM của nó Thay vào đó, nó nhận đầu vào thông qua một hàng đợi trongnơi lưu trữ Windows Azure Các thông điệp trong hàng đợi có thể đến từ thể hiện webrole, một ứng dụng trong nhà hay một cái khác Bất kể thông điệp đến từ đâu, một thểhiện worker role có thể gửi đầu ra tới hàng đợi khác hay ra bên ngoài Và không giốngthể hiện web role, được tạo ra để điều khiển các yêu cầu HTTP đầu vào, một thể hiệnworker role là một công việc theo lô Thích hợp với số đông, một worker role có thểđược cài đặt sử dụng bất kì kĩ thuật Windows nào với một phương thức main()
Kể cả chạy thể hiện web role hay worker role, mỗi VM chứa một tác nhânWindows Azure (Windows Azure agent) cho phép ứng dụng tương tác với WindowsAzure fabric, như hình trên chỉ ra Agent đưa ra một API cho phép thể hiện ghi vàomột log được duy trì bởi Windows Azure, gửi các cảnh báo tới chủ ứng dụng thôngqua Windows Azure fabric, và nhiều công việc khác nữa
- Lưu trữ dữ liệu: Các ứng dụng làm việc với dữ liệu theo nhiều cách khác
nhau Thỉnh thoảng, chúng chỉ yêu cầu các blob, trong khi lúc khác lại cần những cấutrúc phức tạp hơn để lưu trữ dữ liệu Và trong một số trường hợp, cần một cách để traođổi dữ liệu giữa những phần khác nhau của một ứng dụng Windows Azure storage tậptrung vào những yêu cầu như đã nêu trên, như được chỉ ra ở hình 1.12
Trang 26Hình 1.12 Windows Azure cho phép lưu trữ dữ liệu trong các blob, table, và queue,
sử dụng RESTful để truy cập [6]
Cách đơn giản nhất để lưu trữ dữ liệu trong Windows Azure storage là sử dụngblob Như hình trên chỉ ra, có một sự phân cấp đơn giản: một tài khoản lưu trữ (storageaccount) có thể có một hay nhiều container, mỗi một container lại chứa một hay nhiềucác blob Blob có thể lớn lên tới tận 50 gigabytes, và để làm cho việc vận chuyểnnhững blob lớn dễ dàng hiệu quả, mỗi một blob có thể được phân chia thành nhữngkhối nhỏ Nếu một lỗi xảy ra, sự vận chuyển lại được khôi phục với những khối gầnnhất chứ không phải với toàn bộ blob Các blob có thể có siêu dữ liệu đi kèm, như làthông tin về nơi lưu trữ ảnh JPEG hay ai là tác giả file MP3
Blob là một kiểu dữ liệu, nhưng chúng không có cấu trúc Để cho phép ứngdụng làm việc với dữ liệu theo cách hiệu quả hơn, Windows Azure storage cung cấpcác bảng Chúng không phải là các bảng quan hệ Thực chất, mặc dù chúng được gọi
là các bảng, dữ liệu chúng lưu trữ thực chất được đặt trong một tập các thực thể vớicác thuộc tính Một bảng không có lược đồ định nghĩa Thay vào đó, các thuộc tính cóthể có nhiều kiểu khác nhau, như là int, string, bool, hay datatime Một ứng dụng cóthể truy cập dữ liệu của bảng sử dụng dịch vụ dữ liệu ADO.NET hay LINQ Một bảngđơn có thể là rất lớn, với hàng tỉ các thực thể và kích thức hàng terabyte dữ liệu, vàWindows Azure storage có thể phân chia và đặt nó trên nhiều server nếu cần thiết đểcải thể thiện hiệu năng
Các blob và bảng chủ yếu để lưu trữ dữ liệu Lựa chọn thứ 3 trong WindowsAzure storage là hàng đợi (queue), có mục đích hoàn toàn khác Vai trò chính của hàngđợi là cung cấp một cách để các thể hiện Web role liên lạc với thể hiện Worker role
Windows Azure storage có thể được truy cập bằng một ứng dụng WindowsAzure hay bằng một ứng dụng chạy ở một nơi nào đó Trong cả hai trường hợp, ba
Trang 27kiểu lưu trữ của Windows Azure sử dụng quy định của REST để xác định và đưa ra dữliệu Mọi thứ được đặt tên sử dụng URI và truy cập với thông qua HTTP chuẩn Mộtclient NET có thể sử dụng ADO.NET Data Service và LINQ, nhưng truy cậpWindows Azure storage từ một ứng dụng Java chỉ có thể sử dụng RESTful Ví dụ, mộtblob có thể được đọc với một HTTP GET dựa trên một URI như sau:
1.6.2 Dịch vụ SQL Azure
Tổng quan dịch vụ SQL Azure
Các tổ chức Công nghệ thông tin đang xem xét một sự hội tụ của các nhân tốtác động đến họ Những nhân tố này bao gồm sự tăng nhanh chóng của dữ liệu số, sựcần thiết đối với việc xử lý các giao dịch và để hỗ trợ những truy vấn ngẫu nhiên đốivới một lượng lớn dữ liệu, và sự bùng nổ của lưu lượng Internet Các tổ chức IT phảiđối phó với những điều như sau:
- Sự vượt quá khả năng lưu trữ.
- Cần nhiều server hơn.
- Cần nhiều không gian (rack space).
- Điều hành hoạt động server.
- Lập kế hoạch cho sự cần thiết tương lai.
Các thành phần của dịch vụ SQL Azure
Với sự ra đời của SQL Azure Service, những người dùng có thể lưu trữ dữ liệutrên đám mây.Một trong những cách hấp dẫn nhất là việc sử dụng các server có thểtruy cập trên Internet để điều khiển dữ liệu Mục đích của SQL Data Service tập trungvào lĩnh vực này, cung cấp một tập dịch vụ dựa trên đám mây
Những thành phần đầu tiên của dịch vụ SQL Azure là cơ sở dữ liệu SQL Azure
và “Huron” Data sync Hình sau chỉ ra điều đó
Hình 1.13 SQL Azure cung cấp các tiện ích hướng dữ liệu trong đám mây [7]
Trang 28- Cơ sở dữ liệu SQL Azure (Cơ sở dữ liệu SQL Azure): SQL Azure cung cấp
một hệ quản trị database trong đám mây Khách hàng chỉ việc chi trả chi phí cho việc
sử dụng CSDL của đám mây Sử dụng cơ sở dữ liệu đám mây cũng cho phép chuyểnchi phí vốn, như chi phí phần mềm DBMS, thành các chi phí vận hành
Không giống dịch vụ lưu trữ Windows Azure, cơ sở dữ liệu SQL Azure đượcxây dựng trên Microsoft SQL Server Cơ sở dữ liệu SQL Azure sẽ hỗ trợ dữ liệu quan
hệ, cung cấp một môi trường SQL Server trong đám mây bao hàm với các chỉ số, cáckhung nhìn, các thủ tục lưu trữ, các trigger, dữ liệu này có thể truy cập sử dụngADO.NET và những giao diện truy cập dữ liệu Windows khác
Trong khi các ứng dụng có thể sử dụng Cơ sở dữ liệu SQL Azure nhiều nhưlàm với một DBMS cục bộ, các yêu cầu quản lý giảm đi đáng kể Thay vì việc lo lắng
về các kĩ thuật, như việc quan sát việc sử dụng đĩa và file ghi log, một khách hàng Cơ
sở dữ liệu SQL Azure có thể tập trung vào những thứ quan trọng: dữ liệu Microsoftđiều khiển các chi tiết hoạt động Và giống như những thành phần khác của platformWindows Azure, sử dụng Cơ sở dữ liệu SQL Azure rất dễ dàng: chỉ cần truy cập vàocổng web và cung cấp những thông tin cần thiết
Một DBMS trong đám mây hấp dẫn bởi nhiều lý do Đối với một số tổ chức,cho phép một nhà cung cấp dịch vụ đặc biệt đảm bảo tính tin cậy, điều khiển sao lưu,
và thực hiện những chức năng quản lý khác mang lại nhiều ý nghĩa Dữ liệu trong đámmây có thể được truy cập bởi các ứng dụng chạy ở mọi nơi, thậm chí trên các thiết bịmobile Và đưa ra những sự tiết kiệm chi phí của việc mở rộng mà một nhà cung cấpdịch vụ quan tâm, sử dụng một cơ sở dữ liệu đám mây sẽ mang lại giá thành rẻ hơn tựphải làm nó Mục đích của Cơ sở dữ liệu SQL Azure là để cung cấp những lợi ích nhưvậy Hình 1.13 chỉ ra một cách nhìn đơn giản của kĩ thuật này
Hình 1.14 Cơ sở dữ liệu SQL Azure [6]
Một ứng dụng sử dụng CSDL SQL Azure có thể chạy trên Windows Azure,trong một trung tâm dữ liệu của công ty, trên một thiết bị di động, hay ở một nơi khác.Bất cứ nơi đâu nó chạy, ứng dụng truy cập dữ liệu thông qua một giao thức gọi là TDS
Trang 29(Tabular Data Stream) Đó cũng là giao thức sử dụng để truy cập một SQL Server Cơ
sở dữ liệu cục bộ, và do đó một ứng dụng CSDL SQL Azure có thể sử dụng bất kì mộtthư viện khách SQL Server đã tồn tại nào ADO.NET là thư viện được dùng nhiềunhất, nhưng ODBC và những thứ khác cũng có thể được sử dụng
Mặc dù trong khi môi trường xem như chuẩn, dịch vụ một ứng dụng sử dụngvững chắc hơn những gì một thể hiện đơn của SQL Server cung cấp, nhưng trong sựlưu trữ Windows Azure, mọi dữ liệu lưu trữ trong CSDL SQL Azure được sao lưulàm 3 Cũng giống như việc lưu trữ Windows Azure, dịch vụ cung cấp sự thống nhất
ở mức cao: khi một thao tác ghi trả lại, mọi sao lưu đã được ghi Mục đích là đểcung cấp lưu trữ dữ liệu đáng tin cậy thậm chí trong trường hợp có lỗi hệ thống haylỗi mạng
Kích thước lớn nhất của một CSDL đơn trong CSDL SQL Azure là 10gigabytes Một ứng dụng mà dữ liệu của nó trong phạm vi giới hạn này có thể sử dụngchỉ một cơ sở dữ liệu, trong khi một ứng dụng khác với nhiều dữ liệu hơn sẽ cần tạonhiều cơ sở dữ liệu Hình sau chỉ ra ý tưởng này
Hình 1.15 Một ứng dụng có thể sử dụng chỉ một cơ sở dữ liệu hay nhiều cơ sở dữ
liệu “Huron” data Sync [7]
Xây dựng trên Microsoft Sync Framework và Cơ sở dữ liệu SQL Azure, kĩthuật này đồng bộ dữ liệu quan hệ của các DBMS trong nhà Những người chủ của dữliệu này có thể xác định những gì cần được đồng bộ, những xung đột này được điềukhiển, và nhiều hơn nữa tưởng là của việc xây dựng dịch vụ này là việc dữ liệuđược lưu giữ chỉ ở một nơi Nhiều tổ chức có bản sao chép của cũng dữ liệu của những
cơ sở dữ liệu khác nhau, thông thường ở những vị trí địa lý khác nhau Việc giữ cho
dữ liệu đó đồng bộ là thách thức nhưng cần thiết “Huron” Data Sync tập trung vàovấn đề này Xây dựng trên Microsoft Sync Framework và Cơ sở dữ liệu SQL Azure,
Trang 30nó có thể đồng bộ dữ liệu quan hệ ở nhiều cơ sở dữ liệu Hình 1.16 chỉ ra cơ sở của kĩ thuật này.
Hình 1.16 “Huron” Data Sync sử dụng Microsoft Sync Framework để đồng bộ dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu SQL Azure và các cơ sở dữ liệu trong nhà [7]
“Huron” Data Sync làm việc theo cùng cách: dữ liệu thay đổi được đồng bộ đầutiên với Cơ sở dữ liệu SQL Azure, sau đó là với DBMS Kĩ thuật cung cấp một giaodiện đồ họa cho phép người dùng xác định dữ liệu nào nên được đồng bộ giữa các cơ
sở dữ liệu Người dùng mà định nghĩa sự đồng bộ có thể cũng định nghĩa những xungđột nào có thể được điều khiển các lựa chọn bao gồm ưu tiên phép ghi cuối cùng, yêucầu những sự thay đổi đối với một cơ sở dữ liệu xác định thành công, và nhiều hơnnữa
Đặc tính chính của SQL Data Service là cung cấp dữ liệu như một dịch vụ Dữliệu của bạn luôn sẵn sàng bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào Dịch vụ cung cấp những lợiích chính như: Dịch vụ dễ sử dụng, sự phát triển ứng dụng nhanh hơn, hỗ trợ chuẩncông nghiệp và hỗ trợ giao thức được biết rộng rãi (REST và SOAP)
1.6.3 Dịch vụ Live
Live service là một tập các block trong nền tảng dịch vụ Azure để điều khiển vàquản lý các tài nguyên ứng dụng và dữ liệu người dùng Live Service cung cấp cho cácnhà phát triển một cách dễ dàng để xây dựng những ứng dụng và những thử nghiệm,trên phạm vi rộng lớn của những thiết bị số mà có thể kết nối tới một trong nhữngnhóm người lớn nhất trên Web
1.7 Tiểu kết
Trang 31Điện toán đám mây là biện pháp sử dụng dựa trên kết nối Internet, nơi mànhững người dùng chia sẻ cùng một mạng máy chủ, phần mềm và dữ liệu.
Trang 32Windows Azure cung cấp một hệ điều hành để chạy các ứng dụng Windows vàlưu trữ dữ liệu của các ứng dụng này trên đám mây, nó là nền tảng điện toán đám mâytheo mô hình PaaS Để hỗ trợ cho Windows Azure có SQL Azure Service, nhờ có dịch
vụ này mà những người dùng có thể lưu trữ dữ liệu trên đám mây.Một trong nhữngcách hấp dẫn nhất là việc sử dụng các server có thể truy cập trên Internet để điều khiển
dữ liệu
Windows Azure với SQL Azure Service cung cấp môi trường phát triển đầy đủtính năng giống như hệ điều hành Windows và SQL Server được cài đặt trên tính máytính của người dùng
Trang 33CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH QUẢN LÝ THÔNG TIN ĐẤT ĐAI
TRÊN NỀN ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY
Nội dung chương 2 làm rõ một số khái niệm trong quản lý đất đai, phân tíchhiện trạng ứng dụng CNTT trong quản lý thông tin đất đai, nêu ra những điểm mạnh,điểm yếu và sự cần thiết đưa hệ thống quản lý thông tin đất đai lên nền tảng đám mây,
từ đó tái hiện lại mô hình quản lý thông tin đất đai trên nền tảng điện toán đám mây
được đề xuất trong đề tài cấp Bộ: “Nghiên cứu giải pháp công nghệ ứng dụng cho
quản lý và khai thác thông tin, dữ liệu đất đai trên nền điện toán đám mây.” [1].
2.1 Tổng quan về Hệ thống thông tin quản lý đất đai
2.1.1 Khái niệm hệ thống thông tin đất đai
Hệ thống thông tin đất đai (LIS - Land Information System) là hệ thống tổnghợp các yếu tố hạ tầng CNTT, phần mềm, dữ liệu và quy trình, thủ tục được xây dựng
để thu thập, lưu trữ, cập nhật, xử lý, phân tích, tổng hợp và truy xuất thông tin đất đai.[3]
Cơ sở dữ liệu đất đai là tập hợp các dữ liệu đất đai được sắp xếp, tổ chức đểtruy cập, khai thác, quản lý và cập nhật thông qua phương tiện điện tử [3]
2.1.2 Khái niệm quản lý thông tin đất
Quản lý thông tin đất là một hoạt động thiết yếu của con người trong hệ thốngthông tin đất đai nhằm thiết kế và duy trì một môi trường làm việc bên trong và bênngoài hệ thống, để hệ thống có thể hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu đã định, trên
cơ sở sử dụng tốt nhất các nguồn tài liệu, dữ liệu đã cho [4]
Quản lý thông tin đất là quá trình xác định một loạt các hoạt động của hệ thốngđược định hướng theo các mục tiêu, trong đó các hành động cơ bản là: xác định mụctiêu, lập kế hoạch để xác định mục tiêu đó, tổ chức và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch
đó Ví dụ như việc bảo trì thông tin, được diễn ra từ khi thu thập dữ liệu vào hệ thống,kiểm tra, sắp xếp và phân loại thông tin
Quản lý thông tin đất nhằm thực hiện một số chức năng sau:
Trang 34- Lưu trữ một cách an toàn, hạn chế thấp nhất những sự cố làm thông tin thayđổi, hỏng thiết bị kỹ thuật do thời gian, gây ra sự cạnh tranh không lành mạnh giữa conngười.
- Không cho phép cá nhân xâm phạm bản quyền, thay đổi nội dung thông tin
- Xây dựng các khuôn dạng dữ liệu phù hợp cho việc phân tích và xử lý để tạo
ra thông tin ý nghĩa khi có yêu cầu
- Cung cấp các thông tin đầy đủ và chính xác để giúp các nhà quản lý phục vụcông tác quản lý đất đai
2.1.3 Một số dạng dữ liệu được quản lý trong hệ thống thông tin đất đai
a Dữ liệu dạng chữ - số: các dữ liệu dạng chữ - số có thể lưu trữ trong hồ sơ, sổsách hoặc văn bản, bản mềm trong máy tính
b Dữ liệu đồ họa (bản đồ hay ảnh chụp máy bay, ảnh vệ tinh): Dữ liệu đồ họađược lưu trữ bằng bản đồ hoặc ảnh số trên các thiết bị lưu trữ ngoài
2.1.4 Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai
Các quan hệ đất đai là các quan hệ xã hội trong lĩnh vực kinh tế, bao gồm: quan
hệ về sở hữu đất đai, quan hệ về sử dụng đất đai, quan hệ về phân phối các sản phẩm
do sử dụng đất mà có [4]
Bộ luật Dân sự quy định "Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sửdụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật " Từ khiLuật đất đai thừa nhận quyền sử dụng đất là một loại tài sản dân sự đặc biệt (1993) thìquyền sở hữu đất đai thực chất cũng là quyền sở hữu một loại tài sản dân sự đặc biệt
Vì vậy khi nghiên cứu về quan hệ đất đai, ta thấy có các quyền năng của sở hữu nhànước về đất đai bao gồm: quyền chiếm hữu đất đai, quyền sử dụng đất đai, quyền địnhđoạt đất đai Các quyền năng này được Nhà nước thực hiện trực tiếp bằng việc xác lậpcác chế độ pháp lý về quản lý và sử dụng đất đai Nhà nước không trực tiếp thực hiệncác quyền năng này mà thông qua hệ thống các cơ quan nhà nước do Nhà nước thành
Trang 35lập ra và thông qua các tổ chức, cá nhân sử dụng đất theo những quy định và theo sựgiám sát của Nhà nước [4]
Trang 36Hoạt động trên thực tế của các cơ quan nhà nước nhằm bảo vệ và thực hiệnquyền sở hữu nhà nước về đất đai rất phong phú và đa dạng, bao gồm 15 nội dung đãquy định ở Điều 22, Luật Đất đai 2013 như sau: [3]
1 Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó
2 Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản
đồ hành chính
3 Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản
đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất
4 Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
5 Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất
6 Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất
7 Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
8 Thống kê, kiểm kê đất đai
9 Xây dựng hệ thống thông tin đất đai
10 Quản lý tài chính về đất đai và giá đất
11 Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
12 Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy địnhcủa pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai
13 Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai
14 Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý
và sử dụng đất đai
15 Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai
Trang 37Mười lăm nội dung trên nhằm bảo vệ và thực hiện quyền sở hữu nhà nước vềđất đai, được tập trung vào 4 lĩnh vực cơ bản sau đây: [4]
* Thứ nhất: Nhà nước nắm chắc tình hình đất đai, tức là Nhà nước biết rõ cácthông tin chính xác về số lượng đất đai, về chất lượng đất đai, về tình hình hiện trạngcủa việc quản lý và sử dụng đất đai Cụ thể:
- Về số lượng đất đai: Nhà nước nắm về diện tích đất đai trong toàn quốc gia,trong từng vùng kinh tế, trong từng đơn vị hành chính các địa phương; nắm về diệntích của mỗi loại đất như đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, v.v ; nắm về diện tích củatừng chủ sử dụng và sự phân bố trên bề mặt lãnh thổ
- Về chất lượng đất: Nhà nước nắm về đặc điểm lý tính, hoá tính của từngloại đất, độ phì của đất, kết cấu đất, hệ số sử dụng đất v.v , đặc biệt là đối với đấtnông nghiệp
-Về hiện trạng sử dụng đất: Nhà nước nắm về thực tế quản lý và sử dụng đất cóhợp lý, có hiệu quả không? có theo đúng quy hoạch, kế hoạch không? cách đánh giáphương hướng khắc phục để giải quyết các bất hợp lý trong sử dụng đất đai
* Thứ hai: Nhà nước thực hiện việc phân phối và phân phối lại đất đai theo quyhoạch và kế hoạch chung thống nhất Nhà nước chiếm hữu toàn bộ quỹ đất đai, nhưnglại không trực tiếp sử dụng mà giao cho các tổ chức, cá nhân sử dụng Trong quá trìnhphát triển của đất nước, ở từng giai đoạn cụ thể, nhu cầu sử dụng đất đai của cácngành, các cơ quan, tổ chức cũng khác nhau
Nhà nước với vai trò chủ quản lý đất đai thực hiện phân phối đất đai cho cácchủ sử dụng; theo quá trình phát triển của xã hội, Nhà nước còn thực hiện phân phốilại quỹ đất đai cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử cụ thể Để thực hiện việc phânphối và phân phối lại đất đai, Nhà nước đã thực hiện việc chuyển giao quyền sử dụngđất giữa các chủ thể khác nhau, thực hiện việc điều chỉnh giữa các loại đất, giữa cácvùng kinh tế
Hơn nữa, Nhà nước thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mụcđích sử dụng đất, cho phép chuyển quyền sử dụng đất và thu hồi đất Vì vậy, Nhà nước
Trang 38quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất đai Đồng thời, Nhà nước còn quản lýviệc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất; quản
lý việc chuyển quyền sử dụng đất; quản lý việc lập quy hoạch, kế hoạch và thực hiệnquy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
* Thứ ba: Nhà nước thường xuyên thanh tra, kiểm tra chế độ quản lý và sử dụngđất đai Hoạt động phân phối và sử dụng đất do các cơ quan nhà nước và do người sửdụng cụ thể thực hiện Để việc phân phối và sử dụng được phù hợp với yêu cầu và lợiích của Nhà nước, Nhà nước tiến hành kiểm tra giám sát quá trình phân phối và sửdụng đất Trong khi kiểm tra, giám sát, nếu phát hiện các vi phạm và bất cập trongphân phối và sử dụng, Nhà nước sẽ xử lý và giải quyết các vi phạm, bất cập đó
* Thứ tư: Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai Hoạtđộng này được thực hiện thông qua các chính sách tài chính về đất đai như: thu tiền sửdụng đất (có thể dưới dạng tiền giao đất khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất,
có thể dưới dạng tiền thuê đất, có thể dưới dạng tiền chuyển mục đích sử dụng đất),thu các loại thuế liên quan đến việc sử dụng đất (như thuế sử dụng đất, thuế chuyểnquyền sử dụng đất, thuế thu nhập cao có được từ việc chuyển quyền sử dụng đất )nhằm điều tiết các nguồn lợi hoặc phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tưcủa người sử dụng đất mang lại
Các mặt hoạt động trên có mối quan hệ trong một thể thống nhất đều nhằm mụcđích bảo vệ và thực hiện quyền sở hữu Nhà nước về đất đai Nắm chắc tình hình đấtđai là tạo cơ sở khoa học và thực tế cho phân phối đất đai và sử dụng đất đai một cáchhợp lý theo quy hoạch, kế hoạch Kiểm tra, giám sát là củng cố trật tự trong phân phốiđất đai và sử dụng đất đai, đảm bảo đúng quy định của Nhà nước
Như vậy, để quản lý thông tin về đất đai cần có một hệ thống thông tin quản lýđất đai (ELIS) được xây dựng phục vụ mục đính quản lý nhà nước về đất đai Do đó,
hệ thống này mang đầy đủ các đặc điểm của công tác quản lý về dữ liệu và quản lý về
hồ sơ hành chính, cụ thể:
Trang 39- Quản lý các thông tin về quá khứ, thông tin hiện tại và có thể có các thông tin
về tương lai
- Quản lý các thông tin gốc, thông tin sao chép
- Quản lý các sản phẩm phản ánh trực tiếp hoạt động của ngành theo một thểthống nhất ở tất cả các quốc gia
- Quản lý thông tin đất mang tính kinh tế, tính kỹ thuật và tính xã hội đặc trưng
- Quản lý đầy đủ các thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, pháp lý
- Quản lý thông tin đất có khả năng cập nhật, bổ sung những biến động vềthông tin một cách thường xuyên và liên tục
2.2 Tình hình triển khai nền tảng CNTT trong ngành quản lý đất đai
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành quản lý đất đai có thể tính từkhoảng năm 1994 đến nay, với các địa bàn ứng dụng từ các cơ quan quản lý nhà nướccấp Trung ương đến các cơ quan quản lý cấp địa phương Về hiện trạng có thể phântích theo các hướng: chính sách và cơ chế thực hiện, cơ cấu tổ chức và nguồn nhânlực, công nghệ và hiện trạng đầu tư
Về chính sách và cơ chế thực hiện:
Ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành tài nguyên và môi trường nói chung
và ngành quản lý đất đai nói riêng trước năm 2004 chưa có các cơ sở pháp lý Các dự
án ứng dụng công nghệ thông tin cho lĩnh vực quản lý đất đai trước năm 1994 cũng đã
có một số với các nguồn vốn từ ngân sách trung ương, vốn ODA không hoàn lại vàmột số các tỉnh, thành phố với ngân sách địa phương
Năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định 179/2004/QĐ-TTg về việcphê duyệt Chiến lược ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin (CNTT) tài nguyên
và môi trường đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 (sau đây gọi là Quyết định
số 179) Trong Quyết định số 179 đã đưa ra 4 mục tiêu chủ yếu và 7 nhiệm vụ trọngtâm Trong đó việc xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường nói chung và xâydựng cơ sở dữ liệu đất đai nói riêng là một trong các nhiệm vụ cơ bản nhất
Trang 40Sau 5 năm Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện Chiến lược, tới nay đã cónhững thay đổi về bối cảnh Về lĩnh vực công nghệ thông tin, Luật Công nghệ thôngtin năm 2007 đã được thông qua tại kỳ họp thứ 7 và thứ 8 Quốc hội khóa XI, là nhữngvăn bản quy phạm pháp luật quan trọng thể chế hóa Chỉ thị 58 của Bộ Chính trị Ngày10/4/2007 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 64/2007/NĐ-CP về ứng dụng côngnghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước (Nghị định 64) Nghị định đãquy định cụ thể các nội dung, nhiệm vụ và tổ chức thực hiện việc ứng dụng công nghệthông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước và xác định trách nhiệm của Thủtrưởng các cơ quan, đơn vị trong việc ứng dụng CNTT trong phạm vị ngành, địaphương mình.
Để đẩy mạnh và thực hiện nhất quán Chiến lược nhằm thúc đẩy công tác ứngdụng Công nghệ thông tin trong ngành Tài nguyên và Môi trường, Bộ trưởng Bộ Tàinguyên và Môi trường đã có Quyết định số 1888/QĐ-BTNMT ngày 29 tháng 9 năm
2008 về việc thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Chiến lược ứng dụng và phát triển côngnghệ thông tin tài nguyên và môi trường đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020(sau đây gọi tắt là Ban chỉ đạo) do Thứ trưởng Thường trực Nguyễn Văn Đức làmTrưởng ban, Tổng cục Quản lý đất đai đã có thành viên trong Ban chỉ đạo và tham giatrong các hoạt động của Ban chỉ đạo ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vựcquản lý đất đai phù hợp với định hướng chung của ngành
Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghịđịnh số 102/2008/NĐ-CP về việc thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu về tàinguyên và môi trường, ban hành 15/09/2008 trong đó quy định chi tiết danh mục dữliệu của lĩnh vực quản lý đất đai và xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trườngcác cấp, các ngành Tiếp theo đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành thông tư
số 07/2009/TT-BTNMT ngày 10 tháng 7 năm 2009 về quy định chi tiết một số điềucủa Nghị định số 102/2008/NĐ-CP trong đó quy định chi tiết hơn về chức năng nhiệm
vụ của các đơn vị thu thập, quản lý và cung cấp dữ liệu
Tổng cục quản lý đất đai đã xây dựng và thực hiện dự án “ Xây dựng và thửnghiệm Chuẩn dữ liệu địa chính ở Việt Nam” với mục tiêu là xây dựng và ban hành áp