1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý chất lượng đào tạo tại trường đại học Thái Bình theo tiếp cận đảm bảo chất lượng

185 86 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 185
Dung lượng 3,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Lý do chọn đề tài Trong bối cảnh xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng và cạnh tranh mạnh mẽ, sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã tác động đến giáo dục Việt Nam nói chung, GDĐH nói riêng, tạo cho GDĐH nhiều thời cơ và thách thức đan xen. Trước thực tiễn đó, GDĐH Việt Nam cần xây dựng chiến lược phát triển, trong đó tập trung cải cách mạnh mẽ QL để nâng cao CLĐT thì mới có khả năng cạnh tranh, hội nhập với thị trường lao động của khu vực và thế giới. Nghị quyết 14/2005/NQ-CP của Chính phủ đã chỉ ra rằng: “Đến năm 2020, GDĐH Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và tiệm cận trình độ tiên tiến trên thế giới, có năng lực cạnh tranh cao, thích ứng với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” [12] và “GDĐH đổi mới mạnh mẽ về chất lượng và quy mô, ...nâng một số trường ĐH lên đẳng cấp Quốc tế”[12]. Cùng với đó là bối cảnh toàn ngành giáo dục đang phấn đấu thực hiện Nghị quyết 29 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Đổi mới căn bản, toàn diện hệ thống GDĐH, trong đó đổi mới phương thức QL là khâu đột phá, quyết định CLĐT của cơ sở giáo dục. Chất lượng đào tạo GDĐH hiện nay đang là vấn đề được các học giả, các chuyên gia, các nhà khoa học trong nước và trên thế giới, các nhà QLGD và những người liên quan rất quan tâm bởi CLGDĐH là CL nguồn nhân lực quốc gia để làm ra những sản phẩm có hàm lượng chất xám cao, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước một cách bền vững. Tại các diễn đàn, nghị trường Quốc hội, vấn đề CLGD ĐH luôn được xem là vấn đề nóng. Nhất là khi các trường ĐH đang được giao quyền tự chủ, vấn đề QLCL ĐT để cung cấp nguồn nhân lực có trình độ, chuyên môn thích ứng thị trường lao động đầy biến động là mối quan tâm hàng đầu. Trong những năm gần đây cho thấy CLĐT các trường ĐH đang có những hồi chuông cảnh báo, số lượng SV tốt nghiệp ra trường phải ĐT lại hoặc làm trái ngành chiếm tỷ lệ cao. Đây là vấn đề đặt ra đối với các trường ĐH, trong đó có các trường ĐHĐP cần thiết lập hệ thống ĐBCL bên trong nhà trường, vận hành đồng bộ các quy trình được thiết lập thì CLĐT sẽ thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Trường ĐHĐP với sứ mạng ĐT nguồn nhân lực có CL phục vụ trực tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần xây dựng xã hội học tập, xã hội nghề nghiệp. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy CLĐT của các trường ĐHĐP hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Mặc dù các trường ĐHĐP được đầu tư, trang bị về CSVC khá tốt, có ĐNGV tâm huyết, gắn bó với nghề, nhưng CLĐT vẫn chưa đảm bảo, một phần do xu hướng chạy theo lợi nhuận, theo số lượng, chưa quan tâm đến CLĐT; một phần xây dựng CĐR, CTĐT chưa gắn kết chặt chẽ với thị trường lao động; một phần chưa thu hút được đội ngũ giảng viên có học hàm, học vị cao về giảng dạy,... Vấn đề đặt ra để các trường ĐHĐP phát triển ổn định, bền vững trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì cần phải thay đổi mạnh mẽ tư duy QL theo phương thức QL mới (tức là QLCL), sẽ tác động tích cực đến CL nguồn nhân lực, đáp ứng thị trường lao động, khẳng định vị thế, thương hiệu của nhà trường trong nước và khu vực. Hiện nay, nhiều địa phương trong cả nước đang trên đà phát triển với tốc độ nhanh và mạnh; thu hút nhiều tập đoàn lớn về đầu tư; thành lập nhiều cụm khu công nghiệp, khu kinh tế; đô thị hóa phát triển. Thực trạng trên đang đặt ra cho các CSĐT ĐH tại địa phương phải có nhiều giải pháp mang tính chiến lược, bứt phá trong QL với cách tiếp cận phù hợp để cung cấp nguồn nhân lực có CL phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, có năng lực thích ứng với bối cảnh đổi mới và hội nhập, bởi theo CIMO “Quản lý là yếu tố quyết định CL của CSĐT”. Quản lý chất lượng là phương thức quản lý tiên tiến, đã được vận dụng thành công trong các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, sản xuất và bước đầu được áp dụng trong giáo dục. Để QLCL thì việc làm đầu tiên và quan trọng nhất là xây dựng một hệ thống ĐBCL bên trong nhà trường, nhưng trong thực tế theo nhận định của tiến sĩ Nghiêm Xuân Huy, Viện trưởng Viện ĐBCL Đại học Quốc gia Hà Nội thì chưa có trường ĐH nào xây dựng được hệ thống này. Cách tiếp cận ĐBCL cũng là cách tiếp cận phù hợp nhất đối với các trường ĐHĐP với trình độ QL và quy mô ĐT còn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM

VŨ THỊ DUNG

QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÁI BÌNH THEO TIẾP CẬN

ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

QLCLĐT Quản lý chất lượng đào tạo

TCCN Trung cấp chuyên nghiệp

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu 4

8 Luận điểm bảo vệ 7

9 Đóng góp mới của luận án 7

10 Cấu trúc luận án 7

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THEO TIẾP CẬN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG 8

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 8

1.1.1.Nghiên cứu về chất lượng đào tạo đại học 8

1.1.2.Nghiên cứu về quản lý chất lượng đào tạo đại học 11

1.1.3.Nghiên cứu về đảm bảo chất lượng đào tạo đại học 15

1.1.4.Đánh giá chung 18

1.1.5.Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu 19

1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan 20

1.2.1 Chất lượng 20

1.2.2 Quản lý chất lượng 22

1.2.3 Đào tạo và chất lượng đào tạo đại học 24

1.2.4 Quản lý chất lượng đào tạo đại học 26

1.2.5 Quản lý chất lượng đào tạo đại học theo tiếp cận đảm bảo chất lượng 28

1.3 Các cấp độ và mô hình quản lý chất lượng 28

1.3.1 Các cấp độ quản lý chất lượng 28

1.3.2 Các mô hình quản lý chất lượng 35

1.4 Quá trình đào tạo đại học 40

1.4.1 Đầu vào 40

1.4.2 Quá trình 42

1.4.3 Đầu ra 42

1.5 Nội dung quản lý chất lượng đào tạo đại học theo tiếp cận đảm bảo chất lượng 43

1.5.1 Xây dựng chính sách chất lượng, kế hoạch chiến lược 43

1.5.2 Cấu trúc hệ thống quản lý chất lượng đào tạo đại học theo tiếp cận đảm bảo chất lượng 45

1.5.3 Các bước triển khai hệ thống quản lý chất lượng đào tạo đại học theo tiếp cận đảm bảo chất lượng 45

1.6 Các yếu tố tác động đến quản lý chất lượng đào tạo đại học theo tiếp cận đảm bảo chất lượng 53

1.6.1 Yếu tố chủ quan 55

1.6.2 Yếu tố khách quan 53

Kết luận chương 1 55

Trang 4

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÁI BÌNH THEO TIẾP CẬN ĐẢM BẢO

CHẤT LƯỢNG VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 57

2.1 Các chủ trương, chính sách quản lý chất lượng đào tạo giáo dục đại học 57

2.2 Trường đại học Thái Bình trong hệ thống giáo dục quốc dân 59

2.2.1 Đặc trưng của các trường đại học địa phương 59

2.2.2 Thông tin chung về Trường Đại học Thái Bình 60

2.2.3 Khảo sát thực trạng quản lý chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Thái Bình theo tiếp cận đảm bảo chất lượng 71

2.3 Thực trạng quản lý chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Thái Bình theo tiếp cận đảm bảo chất lượng 75

2.3.1 Thực trạng về nhận thức của lãnh đạo, cán bộ giảng viên, công nhân viên về vai trò của quản lý chất lượng trong nhà trường 75

2.3.2 Thực trạng xây dựng hệ thống quản lý chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Thái Bình theo tiếp cận đảm bảo chất lượng 77

2.3.3 Thực trạng vận hành hệ thống quản lý chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Thái Bình theo tiếp cận đảm bảo chất lượng 95

2.3.4 Thực trạng đánh giá, cải tiến hệ thống quản lý chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Thái Bình theo tiếp cận đảm bảo chất lượng 97

2.4 Đánh giá chung 102

2.4.1 Điểm mạnh 102

2.4.2 Điểm yếu 103

2.4.3 Thời cơ 104

2.4.4 Thách thức 104

2.5 Kinh nghiệm Quốc tế về quản lý chất lượng đào tạo đại học theo tiếp cận đảm bảo chất lượng 104

2.5.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 104

2.5.2 Kinh nghiệm của Singapore 105

2.5.3 Kinh nghiệm của Thái Lan 105

2.5.4 Kinh nghiệm của Mỹ 106

2.5.5 Những kinh nghiệm Quốc tế trong quản lý chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Thái Bình theo tiếp cận đảm bảo chất lượng 107

Kết luận chương 2 108

CHƯƠNG 3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÁI BÌNH THEO TIẾP CẬN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG 110

3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 110

3.1.1 Đảm bảo chất lượng và hiệu quả 110

3.1.2 Đảm bảo tính hệ thống 110

3.1.3 Đảm bảo tính khả thi 110

3.1.4 Đảm bảo tính kế thừa 110

3.2 Đề xuất hệ thống quản lý chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Thái Bình theo tiếp cận đảm bảo chất lượng 110

3.2.1 Giới thiệu hệ thống 110

3.2.2 Mô tả hệ thống 112

Trang 5

3.3 Các biện pháp quản lý chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Thái Bình theo

tiếp cận đảm bảo chất lượng 112

3.3.1 Biện pháp 1: Tổ chức bồi dưỡng, nâng cao nhận thức vai trò của hệ thống quản lý chất lượng, vai trò của từng cá nhân trong vận hành, đánh giá và cải tiến hệ thống quản lý 112

3.3.2 Biện pháp 2: Chỉ đạo hoàn thiện chính sách chất lượng, kế hoạch chiến lược và các văn bản quản lý khác 115

3.3.3 Biện pháp 3: Tổ chức xây dựng quy trình cho các công việc chưa được quy trình hóa 120

3.3.4 Biện pháp 4: Chỉ đạo hoàn thiện các quy trình chưa hợp lý, bổ sung văn bản hướng dẫn thực hiện quy trình 125

3.3.5 Biện pháp 5: Tổ chức nâng cao năng lực vận hành các tiểu hệ thống cho cán bộ giảng viên, nhân viên 129

3.3.6 Biện pháp 6: Tập huấn kĩ năng viết báo cáo tự đánh giá hệ thống quản lý và đề xuất cải tiến quy trình cho tất cả cán bộ, giảng viên trong trường, chuẩn bị báo cáo để đón đoàn đánh giá ngoài 131

3.4 Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 135

3.4.1 Mục đích khảo sát 135

3.4.2 Nội dung khảo sát 135

3.4.3 Phương pháp khảo sát 135

3.4.4 Đối tượng khảo sát 135

3.4.5 Kết quả khảo sát về sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất 136

3.5 Thử nghiệm 139

3.5.1 Mục đích thử nghiệm 139

3.5.2 Nội dung thử nghiệm 139

3.5.3 Đối tượng thử nghiệm 139

3.5.4 Phương pháp và tiến trình thử nghiệm 140

3.5.5 Thời gian thử nghiệm 140

3.5.6 Quy trình thử nghiệm 140

3.5.7 Kết quả thử nghiệm 142

Kết luận chương 3 146

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 148

1.Kết luận 148

2.Khuyến nghị 149

2.1.Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo 149

2.2.Đối với Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình 150

2.3.Đối với Trường Đại học Thái Bình 150

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ 151

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

DANH MỤC PHỤ LỤC 158

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

1.1 Các cấp độ quản lý chất lượng 31

1.2 Vòng tròn Deming 35

1.3 Mô hình ĐBCL AUN- QA 36

1.4 Đảm bảo chất lượng cấp trường- AUN 37

1.5 Đảm baỏ chất lượng bên trong - AUN 37

1.6 Đảm bảo chất lượng cấp chương trình- AUN 38

1.7 Mô hình tổng thể quá trình đào tạo đại học 40

1.8 Cấu trúc đảm bảo chất lượng bên trong cơ sở đào tạo đại học 45

2.1 Sơ đồ mối quan hệ của Trường Đại học Thái Bình 61

2.2 Cơ cấu tổ chức của Trường Đại học Thái Bình 63

2.3 Thực trạng nhận thức về vai trò của quản lý chất lượng 76

2.4 Thực trạng xây dựng quy trình xây dựng chuẩn đầu ra 79

2.5 Thực trạng xây dựng quy trình quản lý phát triển chương trình đào tạo 80

2.6 Thực trạng xây dựng quy trình quản lý hoạt động tuyển sinh 82

2.7 Thực trạng xây dựng quy trình quản lý đội ngũ giảng viên 83

2.8 Thực trạng xây dựng quy trình quản lý cơ sở vật chất 85

2.9 Thực trạng xây dựng quy trình quản lý hoạt động giảng dạy 86

2.10 Thực trạng xây dựng quy trình quản lý hoạt động học tập 88

2.11 Thực trạng xây dựng quy trình quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học 89

2.12 Thực trạng xây dựng quy trình quản lý hoạt động đánh giá 90

2.13 Thực trạng xây dựng quy trình quản lý kết quả học tập 92

2.14 Thực trạng xây dựng quy trình đánh giá kiến thức chuyên môn, KNNN 93

2.15 Thực trạng xây dựng quy trình đánh giá khả năng thích ứng 94

2.16 Thực trạng vận hành hệ thống QLCL 96

2.17 Thực trạng đánh giá xây dựng hệ thống QLCL 98

2.18 Thực trạng đánh giá vận hành hệ thống QLCL 100

2.19 Hệ thống QLCL của Mỹ 106

3.1 Hệ thống QLCL đào tạo tại Trường Đại học Thái Bình 110

3.2 Quy trình QL CĐR 120

3.3 Quy trình QL phát triển CTĐT 121

3.4 Quy trình QL hoạt động học tập, thực tập 122

3.5 Quy trình QL hoạt động NCKH 122

3.6 Quy trình QL kiểm tra, đánh giá 123

3.7 Quy trình QL đánh giá kỹ năng chuyên môn 123

3.8 Quy trình QL đánh giá khả năng thích ứng 124

3.9 Quy trình QL hoạt động tuyển sinh 125

3.10 Quy trình QL đội ngũ giảng viên 126

3.11 Quy trình QL CSVC 127

3.12 Quy trình QL hoạt động giảng dạy 127

3.13 Quy trình QL kết quả học tập 127

3.14 Sự cần thiết xây dựng hệ thống QLCL 135

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng Tên bảng Trang

Bảng 1.1: Bảng tổng hợp nội dung và phân cấp trong QLCLĐT đại học theo tiếp

cận ĐBCL 53

Bảng 2.1: Quy mô và chất lượng đào tạo 66

Bảng 2.2: Ngành nghề đào tạo 67

Bảng 2.3: Cơ cấu đội ngũ cán bộ giảng viên Trường Đại học Thái Bình 67

Bảng 2.4: Thống kê số lượng đội ngũ giảng viên Trường Đại học Thái Bình 68

Bảng 2.5: Thống kê số lượng đội ngũ GV cơ hữu Trường Đại học Thái Bình 69

Bảng 2.6: Kết quả nghiên cứu đề tài các cấp 70

Bảng 2.7: Danh sách các đối tượng khảo sát 71

Bảng 2.8: Quy trình tổ chức khảo sát 72

Bảng 2.9: Thang đo đánh giá 74

Bảng 2.10: Nhận thức của lãnh đạo, CBQL, ĐNGV và nhân viên về vai trò QLCL 75

Biểu đồ 2.3: Thực trạng nhận thức của lãnh đạo, CBQL, ĐNGV về vai trò QLCL 76 Bảng 2.11: Thực trạng xây dựng quy trình quản lý CĐR theo tiếp cận ĐBCL 78

Biểu đồ 2.4: Thực trạng xây dựng quy trình quản lý CĐR theo tiếp cận ĐBCL 79

Bảng 2.12: Thực trạng phát triển quy trình quản CTĐT theo tiếp cận ĐBCL 80

Biểu đồ 2.5: Thực trạng phát triển quy trình quản lý chương trình đào tạo 80

Biểu đồ 2.6: Thực trạng xây dựng quy trình quản lý hoạt động tuyển sinh 82

theo tiếp cận đảm bảo chất lượng 82

Bảng 2.14: Thực trạng xây dựng quy trình quản lý đội ngũ giảng viên theo tiếp cận đảm bảo chất lượng 83

Biểu đồ 2.7: Thực trạng xây dựng quy trình quản lý đội ngũ giảng viên 83

theo tiếp cận đảm bảo chất lượng 83

Biểu đồ 2.8: Thực trạng xây dựng quy trình quản lý cơ sở vật chất 84

theo tiếp cận đảm bảo chất lượng 84

Bảng 2.16: Thực trạng xây dựng quy trình quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên theo tiếp cận đảm bảo chất lượng 85

Bảng 2.17: Thực trạng xây dựng quy trình quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo tiếp cận đảm bảo chất lượng 87

Trang 8

Biểu đồ 2.10: Thực trạng xây dựng quy trình quản lý hoạt động học tập theo tiếp

cận ĐBCL 87

Bảng 2.18: Thực trạng xây dựng quy trình quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học theo tiếp cận ĐBCL 88

Biểu đồ 2.11: Thực trạng xây dựng quy trình quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học theo tiếp cận đảm bảo chất lượng 88

Bảng 2.19: Thực trạng xây dựng quy trình quản lý hoạt động đánh giá sinh viên theo tiếp cận đảm bảo chất lượng 89

Bảng 2.20: Thực trạng xây dựng quy trình quản lý kết quả học tập theo tiếp cận đảm bảo chất lượng 90

Biểu đồ 2.13: Thực trạng xây dựng quy trình quản lý kết quả học tập 91

Bảng 2.21: Thực trạng xây dựng quy trình quản lý hoạt động đánh giá kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp 92

Biểu đồ 2.14: Thực trạng xây dựng quy trình đánh giá kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp 93

Bảng 2.22: Thực trạng xây dựng quy trình quản lý hoạt động đánh giá khả năng thích ứng của sinh viên sau khi tốt nghiệp 94

Bảng 2.22: Thực trạng xây dựng quy trình quản lý hoạt động đánh giá khả năng thích ứng của sinh viên sau khi tốt nghiệp 94

Biểu đồ 2.15: Thực trạng xây dựng quy trình đánh giá khả năng thích ứng của sinh viên sau khi tốt nghiệp 94

Biểu đồ 2.16: Thực trạng vận hành hệ thống quản lý chất lượng đào tạo 96

tại Trường Đại học Thái Bình theo tiếp cận đảm bảo chất lượng 96

Biểu đồ 2.17: Thực trạng đánh giá xây dựng hệ thống quản lý chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Thái Bình theo tiếp cận đảm bảo chất lượng 98

Biểu đồ 2.18: Thực trạng đánh giá vận hành hệ thống quản lý chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Thái Bình theo tiếp cận đảm bảo chất lượng 100

Bảng 3.3: Tính khả thi của các biện pháp đề xuất 138

Bảng 3.4: Quy trình thử nghiệm 141

Bảng 3.7: Doanh nghiệp đánh giá năng lực của sinh viên 146

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong bối cảnh xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng và cạnh tranh mạnh mẽ, sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã tác động đến giáo dục Việt Nam nói chung, GDĐH nói riêng, tạo cho GDĐH nhiều thời cơ và thách thức đan xen Trước thực tiễn đó, GDĐH Việt Nam cần xây dựng chiến lược phát triển, trong đó tập trung cải cách mạnh mẽ QL để nâng cao CLĐT thì mới có khả năng cạnh tranh, hội nhập với thị trường lao động của khu vực và thế giới Nghị

quyết 14/2005/NQ-CP của Chính phủ đã chỉ ra rằng: “Đến năm 2020, GDĐH Việt

Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và tiệm cận trình độ tiên tiến trên thế giới,

có năng lực cạnh tranh cao, thích ứng với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” [12] và “GDĐH đổi mới mạnh mẽ về chất lượng và quy mô, nâng một số trường ĐH lên đẳng cấp Quốc tế”[12]

Cùng với đó là bối cảnh toàn ngành giáo dục đang phấn đấu thực hiện Nghị quyết 29 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Đổi mới căn bản, toàn diện hệ thống GDĐH, trong đó đổi mới phương thức QL là khâu đột phá, quyết định CLĐT của cơ sở giáo dục

Chất lượng đào tạo GDĐH hiện nay đang là vấn đề được các học giả, các chuyên gia, các nhà khoa học trong nước và trên thế giới, các nhà QLGD và những người liên quan rất quan tâm bởi CLGDĐH là CL nguồn nhân lực quốc gia để làm ra những sản phẩm có hàm lượng chất xám cao, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước một cách bền vững Tại các diễn đàn, nghị trường Quốc hội, vấn đề CLGD ĐH luôn được xem là vấn đề nóng Nhất là khi các trường ĐH đang được giao quyền tự chủ, vấn đề QLCL ĐT để cung cấp nguồn nhân lực có trình độ, chuyên môn thích ứng thị trường lao động đầy biến động là mối quan tâm hàng đầu

Trong những năm gần đây cho thấy CLĐT các trường ĐH đang có những hồi chuông cảnh báo, số lượng SV tốt nghiệp ra trường phải ĐT lại hoặc làm trái ngành chiếm tỷ lệ cao Đây là vấn đề đặt ra đối với các trường ĐH, trong đó có các trường

Trang 10

ĐHĐP cần thiết lập hệ thống ĐBCL bên trong nhà trường, vận hành đồng bộ các quy trình được thiết lập thì CLĐT sẽ thỏa mãn nhu cầu của khách hàng

Trường ĐHĐP với sứ mạng ĐT nguồn nhân lực có CL phục vụ trực tiếp cho

sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần xây dựng xã hội học tập, xã hội nghề nghiệp Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy CLĐT của các trường ĐHĐP hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập Mặc dù các trường ĐHĐP được đầu tư, trang bị về CSVC khá tốt, có ĐNGV tâm huyết, gắn bó với nghề, nhưng CLĐT vẫn chưa đảm bảo, một phần do xu hướng chạy theo lợi nhuận, theo số lượng, chưa quan tâm đến CLĐT; một phần xây dựng CĐR, CTĐT chưa gắn kết chặt chẽ với thị trường lao động; một phần chưa thu hút được đội ngũ giảng viên có học hàm, học vị cao về giảng dạy, Vấn đề đặt ra để các trường ĐHĐP phát triển ổn định, bền vững trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì cần phải thay đổi mạnh mẽ

tư duy QL theo phương thức QL mới (tức là QLCL), sẽ tác động tích cực đến CL nguồn nhân lực, đáp ứng thị trường lao động, khẳng định vị thế, thương hiệu của nhà trường trong nước và khu vực

Hiện nay, nhiều địa phương trong cả nước đang trên đà phát triển với tốc độ nhanh và mạnh; thu hút nhiều tập đoàn lớn về đầu tư; thành lập nhiều cụm khu công nghiệp, khu kinh tế; đô thị hóa phát triển Thực trạng trên đang đặt ra cho các CSĐT

ĐH tại địa phương phải có nhiều giải pháp mang tính chiến lược, bứt phá trong QL với cách tiếp cận phù hợp để cung cấp nguồn nhân lực có CL phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, có năng lực thích ứng với bối cảnh đổi mới và hội nhập,

bởi theo CIMO “Quản lý là yếu tố quyết định CL của CSĐT”

Quản lý chất lượng là phương thức quản lý tiên tiến, đã được vận dụng thành công trong các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, sản xuất và bước đầu được áp dụng trong giáo dục Để QLCL thì việc làm đầu tiên và quan trọng nhất là xây dựng một

hệ thống ĐBCL bên trong nhà trường, nhưng trong thực tế theo nhận định của tiến

sĩ Nghiêm Xuân Huy, Viện trưởng Viện ĐBCL Đại học Quốc gia Hà Nội thì chưa

có trường ĐH nào xây dựng được hệ thống này Cách tiếp cận ĐBCL cũng là cách

Trang 11

khiêm tốn Xuất phát từ những lý do trên tác giả quyết định chọn đề tài:“Quản lý chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Thái Bình theo tiếp cận đảm bảo chất lượng” làm định hướng nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Dựa trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề về lý luận và thực tiễn, luận án đề xuất

hệ thống ĐBCL và các biện pháp triển khai hệ thống QLCLĐT tại Trường ĐH Thái Bình theo tiếp cận ĐBCL nhằm đảm bảo và từng bước nâng cao CLĐT, đáp ứng nhu cầu ĐT nguồn nhân lực có CL cho tỉnh Thái Bình

3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình đào tạo ở trường đại học địa phương

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Thái Bình theo tiếp cận ĐBCL

4 Giả thuyết khoa học

Trong mọi cơ sở giáo dục, QL luôn là yếu tố quyết định CL QLCL là phương thức QL tiên tiến đã được vận dụng thành công trong các lĩnh vực thương mại, dịch

vụ, sản xuất và bước đầu được áp dụng trong GD Các trường ĐHĐP nói chung, Trường ĐH Thái Bình nói riêng đã và đang triển khai các hoạt động ĐBCL đào tạo theo Bộ Tiêu chuẩn đánh giá CLGD đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Tuy hoạt động này đã có những kết quả ban đầu, song vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập Nếu xây dựng được hệ thống ĐBCL bên trong nhà trường với các chuẩn mực

và quy trình quản lý ĐBCL phù hợp và các biện pháp triển khai hệ thống này một cách đồng bộ, thông suốt ở mọi khâu của QTĐT thì CLĐT của nhà trường sẽ được đảm bảo theo CĐR và từng bước được nâng cao, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của địa phương, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Bình

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về CL, QLCL, các mô hình QLCL, ĐT, CLĐT, QLCLĐT đại học theo tiếp cận ĐBCL

- Đánh giá thực trạng QLCLĐT tại Trường ĐH Thái Bình theo tiếp cận ĐBCL

Trang 12

- Đề xuất hệ thống ĐBCL và các biện pháp triển khai hệ thống ĐBCL tại Trường ĐH Thái Bình

- Khảo nghiệm các biện pháp và thử nghiệm một số biện pháp QLCLĐT tại Trường ĐH Thái Bình theo tiếp cận ĐBCL

6 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu

- Nội dung nghiên cứu: Luận án chỉ đề cập đến cấp độ ĐBCL trong các mô

hình QLCL, trong đó tuân thủ nguyên tắc cơ bản của QLCL là xây dựng một hệ thống ĐBCL bên trong nhà trường và đề xuất các biện pháp triển khai hệ thống tại Trường ĐH Thái Bình Trong QLCL mọi thành viên trong hệ thống đều là chủ thể

QL công việc của mình theo một quy trình nghiêm ngặt, trong đó lãnh đạo đóng vai trò quyết định

- Địa bàn nghiên cứu: Trường ĐH Thái Bình, tỉnh Thái Bình

- Đối tượng khảo sát:

+ Khảo sát đội ngũ CBQL, GV, SV tại Trường ĐH Thái Bình và một số nhà quản trị DN, đơn vị sử dụng lao động là SV tốt nghiệp của Trường ĐH Thái Bình

có hợp tác trong ĐT

+ Khảo sát các nhà quản trị DN trên địa bàn tỉnh Thái Bình: Công ty TNHH điện cơ AIDI, Công ty TNHH IVORY VIỆT NAM, Công ty Cổ phần May xuất khẩu Việt Thái

+ Khảo sát 03 khóa SV tốt nghiệp: ĐH Kế toán khóa 1, ĐH Quản trị Kinh doanh khóa 2, ĐH Kế toán khóa 3 của Trường ĐH Thái Bình

- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2012 đến năm 2018

- Đối tượng thử nghiệm: Đội ngũ CBQL, GV, SV năm cuối các ngành Kế

toán, Quản trị Kinh doanh của Trường ĐH Thái Bình

7 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp luận

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Duy vật biện chứng và Chủ nghĩa Duy vật lịch

sử, Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và QLGD bao gồm các cách tiếp cận sau:

Trang 13

7.1.1 Tiếp cận lịch sử - logic

Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của các quan điểm về CL, CLĐT, QLCLĐT và các cấp độ QLCL, các mô hình QLCL Từ đó thấy được tính logic, sự phù hợp khi áp dụng vào QLCL đào tạo ĐH nói chung, các trường ĐHĐP nói riêng, từng bước nâng cao CLĐT đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của địa phương trong bối cảnh đổi mới và hội nhập

7.1.3 Tiếp cận đảm bảo chất lượng

Chất lượng sản phẩm chính là hệ quả của toàn bộ hệ thống QL Để có CL cần hướng tới khách hàng, có sự lãnh đạo quyết liệt của người đứng đầu về vận hành hệ thống QLCL và lôi cuốn sự tham gia của tất cả mọi thành viên trong tổ chức Quá trình vận hành đảm bảo thông suốt, cần tập trung tới các công đoạn của hệ thống QL một cách đồng bộ, không quản lý các yếu tố hay từng giai đoạn một cách đơn lẻ

7.1.4 Tiếp cận cung cầu

Khảo sát nhu cầu của thị trường lao động, đánh giá tác động của bối cảnh hội

nhập, trường ĐHĐP cần xây dựng CĐR, CTĐT gắn với nhu cầu của khách hàng Đây chính là nội dung cốt lõi của QLCL đào tạo đại học theo tiếp cận ĐBCL của luận án

7.2 Các phương pháp nghiên cứu

7.2.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các nguồn tài liệu, văn bản trong nước và trên thế giới liên quan đến đề tài nghiên cứu, để xây dựng và chuẩn hóa các khái niệm, công cụ và khung lý thuyết về QLCLĐT đại học theo tiếp cận đảm bảo chất lượng

Trang 14

7.2.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.2.1 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Được sử dụng để đưa ra các nhận định khoa học về đặc điểm chung của trường ĐHĐP, làm cơ sở bổ sung những hạn chế của các luận điểm khoa học trước đây cho phù hợp với thực tiễn QLCLĐT các trường ĐHĐP hiện nay nói chung, tại Trường ĐH Thái Bình nói riêng

7.2.2.2 Phương pháp điều tra khảo sát

Xây dựng Phiếu hỏi để thu thập ý kiến của các đối tượng khảo sát (CBQL,

GV, CNV, SV và nhà quản trị DN) về thực trạng QLCLĐT tại Trường ĐH Thái Bình theo tiếp cận ĐBCL

7.2.2.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

Nghiên cứu các văn bản, tài liệu, báo cáo TĐG của Trường ĐH Thái Bình để

có cơ sở đánh giá thực trạng QLCLĐT của nhà trường

7.2.2.4 Phương pháp phỏng vấn

Tiến hành trao đổi, phỏng vấn các CBQL, GV, SV của nhà trường; Nhà quản trị DN để tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn khi thực hiện quá trình QLCLĐT đại học theo tiếp cận ĐBCL

7.2.2.5 Phương pháp chuyên gia

Tiến hành lấy ý kiến chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà QLGD (qua hội thảo, phỏng vấn, tọa đàm) về QLCLĐT đại học theo tiếp cận ĐBCL, đồng thời tìm hiểu mức độ tán thành của các chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà QLGD về các biện pháp QLCLĐT đại học theo tiếp cận ĐBCL

7.2.2.6 Nhóm các phương pháp hỗ trợ

- Sử dụng một số công thức toán học áp dụng trong nghiên cứu giáo dục Phương pháp này được sử dụng với mục đích xử lý các kết quả điều tra, phân tích kết quả nghiên cứu, đồng thời để đánh giá mức độ tin cậy của phương pháp điều tra, phương pháp thử nghiệm;

- Sử dụng phần mềm SPSS để xử lý số liệu

Trang 15

8 Luận điểm bảo vệ

- Quản lý CLĐT theo tiếp cận ĐBCL là yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng góp phần củng cố và phát triển Trường ĐH Thái Bình trong bối cảnh các trường ĐHĐP đang chịu sức ép về CLĐT

- Để QLCLĐT theo tiếp cận ĐBCL, cần xác định các điều kiện ĐBCL ở các giai đoạn của QTĐT, xây dựng và vận hành hệ thống QL các điều kiện này một cách đồng bộ, thông suốt, đảm bảo không có lỗi trong toàn bộ hệ thống để tiến tới đánh giá, cải tiến hệ thống QL cho phù hợp với tình hình thực tiễn và đáp ứng nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương

- Hệ thống CLĐT theo tiếp cận ĐBCL tại Trường ĐH Thái Bình được xây dựng và vận hành trên cơ sở nghiên cứu lý luận về QLCLĐT và điều kiện thực tiễn của nhà trường và có khả thi trong quá trình triển khai, đảm bảo nguồn nhân lực có

CL, đáp ứng thị trường lao động đầy biến động hiện nay

9 Đóng góp mới của luận án

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về QLCL, ĐBCL và vận dụng vào một cơ

sở GDĐH

- Đề xuất cấu trúc hệ thống QLCLĐT tại Trường ĐH Thái Bình theo tiếp cận ĐBCL và các biện pháp triển khai

10 Cấu trúc luận án

Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu và đạt được mục đích nghiên cứu đã đề

ra, ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận

án gồm 03 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý chất lượng đào tạo đại học theo tiếp cận

đảm bảo chất lượng

Chương 2: Cơ sở thực tiễn quản lý chất lượng đào tạo tại Trường Đại học

Thái Bình theo tiếp cận đảm bảo chất lượng và kinh nghiệm quốc tế

Chương 3: Các biện pháp quản lý chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Thái

Bình theo tiếp cận đảm bảo chất lượng

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC THEO TIẾP CẬN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Trong những năm gần đây, các nhà QLGD, các nhà nghiên cứu, các chuyên gia trong nước và trên thế giới đã và đang rất quan tâm đến CLGD đại học Bởi chất lượng GDĐH là phương tiện chủ yếu quyết định CL nguồn nhân lực quốc gia để làm ra những sản phẩm có hàm lượng chất xám cao, tạo ra giá trị mới và năng lực

cạnh tranh lớn.“ Đến năm 2020, GDĐH phải có bước tiến cơ bản về CL và quy

mô, đáp ứng nhu cầu nhân lực cả về CL và số lượng cho sự phát triển kinh tế - xã hội, và nâng cao tiềm năng trí tuệ, tiếp cận trình độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, nâng một số trường ĐH lên đẳng cấp quốc tế, góp phần quan trọng vào việc nâng cao sức cạnh tranh của nguồn nhân lực và nền kinh tế đất nước”[12]

Để ĐBCL nguồn nhân lực quốc gia, phải tính toán chiến lược dựa trên các điều kiện quốc tế và tranh thủ hợp tác từ sự phát triển và lợi ích của toàn cầu đem lại, sản phẩm tạo ra phải được thế giới chấp nhận và tiệm cận chuẩn quốc tế Các quan niệm

về CLĐT, QLCLĐT, ĐBCL ĐT đại học cũng phải thay đổi mạnh mẽ để phù hợp với bối cảnh đổi mới và hội nhập Theo xu hướng của nhiều nước trên thế giới đã và đang thực hiện đổi mới, cải cách mạnh mẽ GDĐH theo hướng QLCL Tất cả các cải cách, đổi mới đều hướng vào mục đích đảm bảo CLĐT, đáp ứng sự thỏa mãn của khách hàng Để thực hiện được nhiệm vụ chiến lược trên, lãnh đạo các trường ĐH cần nhận thức đầy đủ về vai trò của QLCL trong sự tồn tại và phát triển của nhà trường, trong đó các trường ĐHĐP là những mắt xích hình thành nên hệ thống giáo dục quốc dân, góp phần đảm bảo CL nguồn nhân lực quốc gia Trong sự phát triển của GD và ĐT đã có sự đóng góp quan trọng của nhiều công trình nghiên cứu về CLĐT đại học, QLCLĐT đại học và ĐBCL đào tạo ĐH trong nước và trên thế giới

1.1.1 Nghiên cứu về chất lượng đào tạo đại học

Chất lượng GDĐH luôn là chủ đề được nhiều học giả, các chuyên gia, các nhà QLGD trong nước và trên thế giới quan tâm với nhiều khía cạnh, bình diện khác nhau Bởi CLGD ĐH có ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế, văn hóa của mỗi nước

Trang 17

cứu trước đây đã cho thấy có những cách tiếp cận khác nhau về CLGD đại học Tác

giả Frazer Malcolm [118, tr.101-111] quan niệm rằng: “CLGD đại học là phát triển

nguồn nhân lực để tạo ra mặt bằng dân trí có chất lượng cao, CLGD đại học chính

là CL nguồn nhân lực quốc gia”

Với cách tiếp cận khác, tác giả Brubacher [88] cho rằng:“CLGD đại học

được thể hiện ở việc đạt được những trách nhiệm xã hội mà GDĐH phải gánh vác, đại học với ý nghĩa là trung tâm tri thức CLGD đại học được hợp thành từ chất lượng của tất cả các trường đại học Không thể có một nền GDĐH có chất lượng nếu đa số chất lượng của các trường đại học ở mức thấp kém, không hoàn thành sứ mệnh mà xã hội giao cho”

Một cách tiếp cận sát với thực tiễn hơn khi tác giả David Andrew Turner [95] quan niệm: “ Giáo dục chất lượng cao là giáo dục đáp ứng nhu cầu của SV và hỗ trợ

sự phát triển trong tương lai của họ ”

Ở một góc độ tiếp cận hệ thống hơn, các tác giả Harvey và Green đã có các

quan niệm về CLGD đại học như sau: “CL là sự vượt trội; CL là sự hoàn hảo nhất

quán; CL là sự phù hợp với mục tiêu; CL được đánh giá bằng chi phí tài chính; CL được phản ánh ở giá trị chuyển đổi tạo ra giá trị gia tăng”

Cùng với vấn đề nghiên cứu trên, tác giả Nguyễn Đức Chính đã có những tổng kết hiện nay trên thế giới có 6 quan niệm về CLGD đại học như sau [16, tr.23-26]:

(1) Chất lượng được đánh giá bằng “đầu vào” Theo quan điểm này, một

trường ĐH có chất lượng cao nếu tuyển được nhiều SV giỏi, có đội ngũ cán bộ giảng dạy có uy tín, có CSVC tốt và trang thiết bị hiện đại, Nếu theo quan niệm này thì CL “đầu vào” quyết định toàn bộ CLGD của nhà trường và không quan tâm đến “quá trình” và “đầu ra”

(2) Chất lượng được đánh giá bằng “đầu ra”, với quan niệm này cho rằng

trường ĐH có chất lượng cao nếu đào tạo được nhiều sinh viên tốt nghiệp giỏi, thực hiện được nhiều công trình khoa học có giá trị, thu hút nhiều người đến học

(3) Chất lượng được đánh giá bằng “giá trị gia tăng”, đây là một quan niệm

cho rằng SV sau khi tốt nghiệp (được đào tạo) sẽ có sự phát triển vượt bậc về trí tuệ

và nhân cách

Trang 18

(4) Chất lượng được đánh giá bằng “giá trị học thuật”, theo quan niệm này,

trường ĐH có chất lượng cao nếu có đội ngũ cán bộ giảng dạy, các nhà khoa học có

uy tín lớn

(5) Chất lượng được đánh giá bằng “văn hóa tổ chức riêng”, với quan niệm

trường đại học có chất lượng cao nếu có được một truyền thống tốt đẹp về hoạt động không ngừng nâng cao CLĐT

(6) Chất lượng được đánh giá bằng “kiểm toán” Theo quan niệm này, trường

đại học có chất lượng cao nếu kết quả kiểm toán chất lượng cho thấy nhà trường có thu thập đủ thông tin cần thiết, sự hợp lý và hiệu quả của quá trình thực hiện các quyết định về chất lượng

Tác giả Phạm Thành Nghị [63, tr.30] với cách tiếp cận đi sâu nghiên cứu về

CL và CLGD đại học; các chỉ số, chuẩn mực, hình thức đánh giá, ĐBCL và TQM trong GDĐH, đồng thời tác giả cũng đưa ra các nội dung lý thuyết qua phân tích

tổng hợp các trường phái lý thuyết về CLGD đó là: “sự khan hiếm của chất lượng;

gia tăng giá trị; xác định theo sứ mệnh và mục tiêu”

Với một góc độ tiếp cận cụ thể hơn, tác giả Trần Khánh Đức [34, tr.33] quan

niệm: “CLĐT không chỉ dừng ở kết quả của QTĐT trong nhà trường với những

điều kiện đảm bảo nhất định như CSVC, ĐNGV, và còn phải tính đến mức độ phù hợp và thích ứng của người tốt nghiệp với thị trường lao động như tỷ lệ có việc làm sau tốt nghiệp, năng lực hành nghề tại các vị trí làm việc cụ thể ở các doanh nghiệp, cơ quan, các tổ chức sản xuất dịch vụ, khả năng phát triển nghề nghiệp”

Cách tiếp cận này đã cho thấy khá toàn diện về CLĐT của CSĐT đại học phụ thuộc vào nhiều thành tố, trong đó phải kể đến đầu vào, QTĐT và đầu ra; một vòng tròn khép kín từ khi người học vào trường đến khi người học tốt nghiệp và được thị trường lao động chấp nhận

Từ những cách tiếp cận của các chuyên gia, các nhà khoa học trên đã cho thấy CLGD ĐH có rất nhiều quan niệm, cách hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau Mỗi tác giả đều có một cách tiếp cận theo cách riêng của mình, nhưng tựu chung lại CLGD ĐH là ĐBCL đầu vào, quá trình và đầu ra thích ứng trong mọi hoàn cảnh

Tuy nhiên, nếu theo các cách tiếp cận trên, có thể nhận thấy một số hạn chế sau:

Trang 19

- Chất lượng GDĐH không phải do bản thân CSĐT đánh giá mà phải được đánh giá từ chính người học, đơn vị sử dụng nhân lực qua đào tạo;

- Chất lượng GDĐH phù hợp với mục tiêu, vậy mục tiêu cần được xác định rõ người học, nhà trường hay toàn xã hội;

- Chất lượng GDĐH nếu chỉ đánh giá qua “Đầu vào”, hay “Đầu ra”hoặc

“Giá trị gia tăng”, “Giá trị học thuật”, “Văn hóa tổ chức riêng”, “Kiểm toán”,

thì chưa phản ánh một cách toàn diện Bởi CLGD đại học chính là hệ quả của hệ thống ĐBCL mà ở đó bao gồm: Tiểu hệ thống quản lý các yếu tố đầu vào, tiểu hệ thống QL các yếu tố quá trình và tiểu hệ thống QL các yếu tố đầu ra Các tiểu hệ

thống QLCL này cần được vận hành đồng bộ, thông suốt trong toàn bộ các khâu của QTĐT

1.1.2 Nghiên cứu về quản lý chất lượng đào tạo đại học

Những năm 80 của thế kỷ XX, đã có nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu về QLCL trong lĩnh vực Giáo dục Các công trình nghiên cứu đã tập trung đưa

ra các khái niệm về CL, QLCL trong Giáo dục, các thành tố để thiết lập hệ thống

QLCL R.Ellis, Ellis (1993) [96] quan niệm: “Trong môi trường kinh doanh, QLCL

được xem là một quá trình nơi mà một nhà máy sản xuất đảm bảo với khách hàng

là sản phẩm hay dịch vụ của mình luôn đáp ứng được các chuẩn mực”

Với một cách tiếp cận khác, D.Woodhouse [122, tr.5-6] quan niệm rằng:

“QLCL là bao gồm các hệ thống, chính sách, thủ tục, quy trình, hành động và thái

độ được xác định từ trước nhằm đạt được, duy trì, giám sát và củng cố chất lượng”

Đặc biệt là Jonk West- Burnham (1997) đã nghiên cứu tổng hợp các vấn đề về QLCL trong giáo dục là hệ thống các quan niệm về CL, khách hàng, văn hóa, lãnh đạo, làm việc theo nhóm, quản lý quá trình

Ở trong nước, nhiều tác giả đã nghiên cứu về QLCL trong Giáo dục như Nguyễn Đức Chính, Phan Văn Kha, Nguyễn Tiến Hùng, Trần Khánh Đức, Phạm Thành Nghị, Nguyễn Xuân Thức, Bùi Minh Hiền, Vũ Quốc Bình, Nguyễn Vũ Bích Hiền, và nhiều luận án, luận văn, bài báo, công trình nghiên cứu về vấn đề này, cụ thể như sau:

Trang 20

- Tác giả Nguyễn Đức Chính [16, tr.40] cho rằng: “QLCL trong GD là một

phương thức có công cụ chủ yếu là Bộ chuẩn bao gồm các tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ báo và các quy trình thực hiện các tiêu chuẩn đó”

- Nhiều tác giả cho rằng QLCL thực chất bao gồm các hoạt động sau:

+ Thiết lập chuẩn;

+ Đối chiếu thực trạng so với chuẩn;

+ Xây dựng các biện pháp nâng thực trạng ngang chuẩn

Ba hoạt động này được tiến hành đồng thời, liên tục thông qua một hệ thống QLCL Hệ thống QLCL bao gồm các bộ phận cấu thành bởi:

+ Danh mục các lĩnh vực cần quản lý (tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ báo);

+ Những quy trình thực hiện các công việc để đạt được các chỉ báo, tiêu chí, tiêu chuẩn (danh mục các công việc và bản hướng dẫn thực hiện các công việc) Các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành các bước trong quy trình thực hiện các công

việc [16, tr.40] Từ đó, tác giả đưa ra quan niệm:“QLCL trong GD là xây dựng và

vận hành một hệ thống quản lý (trên cơ sở các tiêu chuẩn, tiêu chí ) nhằm tác động vào các điều kiện ĐBCL trong tất cả các giai đoạn của quá trình giáo dục, cho tất

cả các sản phẩm của cả hệ thống chứ không nhằm vào chất lượng của từng giai đoạn hay từng sản phẩm đơn lẻ” [16, tr.40]

Trong nghiên cứu [35, tr.44-46], tác giả Trần Khánh Đức đã phân tích kinh nghiệm QLCL của các trường ĐH của Hoa Kỳ, Thái Lan, Hàn Quốc Những kinh nghiệm về xây dựng khung đánh giá, chuẩn mực chất lượng, định hướng mục tiêu

và trách nhiệm của nhà nước về thực tiễn QLCL

Tác giả Vũ Quốc Bình trong “QLCL toàn diện” quan niệm rằng: “QLCL là

tổng thể các biện pháp kinh tế, kỹ thuật, hành chính tác động lên toàn bộ quá trình hoạt động của một tổ chức hay của một doanh nghiệp để đạt hiệu quả cao nhất về chất lượng với chi phí thấp nhất QLCL là trách nhiệm của mọi thành viên trong tổ chức, song trước hết phải được cấp lãnh đạo cao nhất nhận thức đầy đủ và triển khai đồng bộ ” [5, tr.30-31]

Tác giả Đỗ Trọng Tuấn (2014), luận án tiến sĩ chuyên ngành QLGD với đề

tài:“Quản lý chất lượng đào tạo tại các trường đại học tư thục khu vực Miền Trung

Trang 21

trường ĐH, đại học tư thục trên thế giới và tại Việt Nam; xác định những bất cập của các trường ĐH tư thục hiện nay; đề xuất các giải pháp QLCLĐT ở các trường

ĐH tư thục bằng việc hoạch định hoàn thiện, nâng cao CLĐT theo AUN; hoàn thiện QLCL theo mô hình ĐBCL của AUN Với nội dung của luận án này, tác giả đã tiếp cận theo hướng đáp ứng yêu cầu CĐR cho SV

Nguyễn Văn Ly (2010), luận án tiến sĩ chuyên ngành QLGD với đề tài: “Quản

lý chất lượng đào tạo trong các học viện, trường công an nhân dân”[59], tác giả đã

nghiên cứu vấn đề lí luận QL, CL, QLCL, QLCLĐT trong và ngoài nước để vận dụng vào QLCLĐT trong các học viện, trường ĐH Công an nhân dân; xây dựng hệ thống QLCLĐT đại học và đề xuất các giải pháp triển khai nhằm nâng cao CLĐT trong các học viện, trường Công an Nhân dân

Tác giả Nguyễn Thị Kim Nhung (2017), luận án tiến sĩ chuyên ngành QLGD

với đề tài:“Quản lý đào tạo theo hướng ĐBCL ở các trường CĐ khu vực Tây Bắc”

[64], tác giả nghiên cứu cơ sở lý luận về QLĐT theo hướng ĐBCL ở trường cao

đẳng; đánh giá thực trạng về đào tạo và QLĐT theo hướng ĐBCL ở các trường cao đẳng khu vực Tây Bắc; đề xuất các biện pháp QLĐT theo hướng ĐBCL ở các

trường CĐ khu vực Tây Bắc

Khổng Hữu Lực (2017), luận án tiến sĩ chuyên ngành QLGD với đề tài:

“Quản lý QTĐT nghề công nghệ thông tin trình độ CĐ tiếp cận ĐBCL” [57], tác giả

đưa ra những đóng góp mới của luận án về hệ thống hóa lý luận về QLCL trong đào tạo, vận dụng vào việc quản lý QTĐT nghề CNTT trình độ cao đẳng theo tiếp cận ĐBCL; xây dựng mô hình ĐBCL, khung tham chiếu quản lý quá trình đào tạo, đặc biệt là khung lý thuyết về quản lý QTĐT nghề CNTT theo tiếp cận ĐBCL

Luận án tiến sĩ chuyên ngành QLGD với đề tài:“Quản lý Trường ĐH Điện lực

theo tiếp cận QL chất lượng tổng thể (TQM) [68] của tác giả Trần Thị Thanh

Phương (2015) đã vận dụng mô hình TQM vào quản lý Trường Đại học Điện lực để nâng cao CL nguồn nhân lực ngành Điện lực, từ đó xây dựng VHCL trong nhà trường Với cách tiếp cận này, tác giả tập trung vào các nội dung: Đánh giá nhu cầu của khách hàng; lãnh đạo và chiến lược; hệ thống hóa và quy trình QLCL; VHCL Cùng với cách tiếp cận theo TQM, luận án tiến sĩ của tác giả Trịnh Thị Diệu

Hằng (2016) chuyên ngành QLGD với đề tài “ Quản lý QTĐT đại học liên kết Quốc

Trang 22

tế tại Đại học Quốc gia Hà Nội theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể” [45] đã

đề xuất một số biện pháp hoàn thiện hệ thống QL quá trình đào tạo đại học theo TQM nhằm đảm bảo và góp phần nâng cao CLĐT đại học liên kết Quốc tế tại ĐH

Quốc gia Hà Nội

Liên quan đến QLCL nhưng đối với các trường THPT, luận án tiến sĩ của tác

giả Phạm Anh Tuấn (2015) chuyên ngành QLGD với đề tài: “Cơ sở lý luận và thực

tiễn của tự đánh giá trong QLCL ở trường trung học phổ thông”[81] tác giả đã xác

định, làm rõ bản chất tự đánh giá trong ĐBCL; chỉ ra các điều kiện thực hiện và nội dung cơ bản của tự đánh giá trong ĐBCL ở trường trung học phổ thông; đề xuất một số biện pháp đổi mới tự đánh giá ở trường trung học phổ thông Việt Nam Luận án tiến sĩ chuyên ngành QLGD của tác giả Vũ Duy Hiền (2013) với đề

tài:“Quản lý quá trình đào tạo đại học vừa học vừa làm theo tiếp cận đảm bảo chất

lượng”[47] đã đề xuất các giải pháp QTĐT đại học vừa làm vừa học theo tiếp cận

ĐBCL nhằm nâng cao CL và hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước

Với cách tiếp cận rộng hơn, luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý Hành chính

công của tác giả Đoàn Văn Dũng (2015) với đề tài: “Quản lý nhà nước về chất

lượng giáo dục đại học”[27] đã chỉ ra nguyên nhân chính từ trách nhiệm QLNN, từ

đó đề xuất các giải pháp để nâng cao CLGD ĐH ở Việt Nam Tác giả đã phân tích, làm rõ QLNN đối với GDĐH cần tập trung vào vấn đề QLCL thay vì quản lý truyền thống thuần túy, cần đổi mới mạnh mẽ nhận thức trong QLNN về CLGD đại học theo QLCL

Cùng với các công trình nghiên cứu về ĐH truyền thống, nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu về các trường ĐHĐP với những cách tiếp cận khác nhau Tác giả

Dương Đức Hùng với đề tài: “Cơ sở khoa học xây dựng trường ĐHĐP đáp ứng yêu

cầu đào tạo nhân lực trong bối cảnh hiện nay” đã chỉ ra một số vấn đề lý luận xây

dựng trường ĐHĐP đáp ứng yêu cầu đào tạo nhân lực, nhất là nhân lực tại chỗ trong bối cảnh hiện nay, khẳng định tầm quan trọng và vai trò của trường ĐHĐP trong sự phát triển KT-XH của tỉnh; làm rõ thực trạng ĐHĐP ở Việt Nam, xác định các đặc trưng khác biệt so với trường ĐH truyền thống

Trang 23

Qua các công trình khoa học của các tác giả trên đã cho thấy QLCL trong Giáo dục được nghiên cứu theo nhiều khía cạnh khác nhau, mỗi công trình đi theo một cách tiếp cận riêng để làm rõ nội hàm của đề tài nghiên cứu Các công trình đã giải quyết khá toàn diện về cơ sở lý luận của QLCL, đã phân tích và làm rõ các khái niệm CL, CLGD Bên cạnh đó, mỗi công trình nghiên cứu đã đề xuất các biện pháp

để triển khai các mô hình QL phù hợp với thực tiễn của từng trường, tuy nhiên, không có một mô hình nào là phù hợp cho tất cả các trường ĐH

1.1.3 Nghiên cứu về đảm bảo chất lượng đào tạo đại học

Warren Piper [121, tr.21] cho rằng: “ĐBCL trong GDĐH là tổng số các cơ

chế và quy trình được áp dụng nhằm ĐBCL đã được định trước hoặc việc cải tiến chất lượng liên tục, bao gồm việc hoạch định, việc xác định, khuyến khích, đánh giá

và KSCL” Trong bối cảnh về sứ mạng và tầm nhìn của các trường ĐH, ĐBCL

nghĩa là các quy trình với các nguyên tắc hướng đến mục tiêu nâng cao CL, đặc biệt chú trọng đến các lĩnh vực chính như: giảng dạy, học tập, nghiên cứu và các dịch vụ cộng đồng Mục tiêu tổng quát là liên tục đẩy mạnh và cải tiến CL chương trình, cách phân phối chương trình và trang thiết bị hỗ trợ

Tiếp cận theo một góc độ khác, chuyên gia R Ellis (1993) [98, tr.86-87] cho

rằng: “ĐBCL trong giáo dục có thể được chia thành 3 nhóm: (1) Nhóm ý kiến thứ

nhất cho rằng: ĐBCL là một hệ thống quy trình đã được thiết lập trong giáo dục Đánh giá ngoài thông qua chương trình, cam kết nghề nghiệp, đánh giá đồng nghiệp, thậm chí cả quy trình thi cử là những yếu tố ĐBCL trong quá trình dạy học

đã được sử dụng từ lâu (2) Nhóm ý kiến thứ hai đối lập cho rằng ĐBCL là cách tiếp cận mới để thiết lập và duy trì các chuẩn mực CL trong các CSGD (3) Nhóm ý kiến thứ ba trung gian hơn cho rằng các CSGD đã có một số quy trình QLCLĐT nhưng cần thiết phải đưa thêm vào cơ chế và quy trình phù hợp hơn với hoàn cảnh mới của trường học”

Nhóm ý kiến thứ ba này xem là phù hợp hơn khi các CSGD thực hiện các quy trình KSCL, một số quy trình ĐBCL còn sơ khai đã có mặt Mặc dù người quản lý chỉ quan tâm đến kết quả đầu ra; giám sát chặt chẽ việc kiểm tra, đánh giá đầu ra để không đưa ra xã hội những người tốt nghiệp không đáp ứng các chuẩn mực chất

Trang 24

lượng CSGD sẽ có những biện pháp nhất định trong đào tạo để tăng số lượng người tốt nghiệp đạt các chuẩn mực đánh giá

Theo quan điểm của Hội đồng Giáo dục Quốc gia Phần Lan [dẫn theo 30, tr.537]

cho rằng:“ĐBCL là một phần của QLCL tập trung vào việc cung cấp các minh chứng

mà các yêu cầu chất lượng sẽ được hoàn thành”

Theo Hiệp hội các trường ĐH Châu Á (AUN) để phù hợp với các chức năng,

nhiệm vụ cơ bản của nhà trường ĐH thì: “ĐBCL bên trong bao gồm bộ máy, các

nguồn lực và các nguồn thông tin nhằm thiết lập, duy trì và phát triển chất lượng các hoạt động dạy, học, NCKH và phục vụ cộng đồng" (AUN, 2007) [34, tr.537]

Theo Hiệp hội ĐBCL GDĐH Châu Âu (ENQA, 2005) [32, tr.538], hoạt động ĐBCL bên trong của các trường ĐH bao gồm các nội dung cơ bản sau:

(1) Nhà trường cần có chính sách, chiến lược và các quy trình ĐBCL các hoạt động nhằm không ngừng nâng cao CL toàn diện, xây dựng và phát triển VHCL trong toàn bộ các hoạt động của mình

(2) Nhà trường cần có cơ chế và quy trình xét duyệt, định kỳ rà soát các CTĐT và văn bằng chứng chỉ được cấp

(3) Người học được đánh giá dựa trên các chuẩn mực, quy định, quy trình công khai và nhất quán

(4) Đảm bảo chất lượng đội ngũ giảng dạy và sự tham gia ý kiến của họ vào các báo cáo đánh giá CL của nhà trường

(5) Người học được tiếp cận với các nguồn tài nguyên học tập tương ứng với các CTĐT và các hoạt động khác của Nhà trường

(6) Nhà trường có đủ các thông tin cần thiết cho công tác quản lý các CTĐT

và các hoạt động khác của Nhà trường

Nhà trường định kỳ cập nhật và công khai các thông tin cần thiết về CTĐT, các văn bằng, chứng chỉ được cấp

Tổ chức ĐBCL giáo dục đại học quốc tế định nghĩa:“ĐBCL có thể liên quan

đến một chương trình, một cơ sở hay một hệ thống GDĐH tổng quát Trong mỗi trường hợp, ĐBCL là tất cả các quan điểm, đối tượng, hoạt động và quy trình mà đảm bảo rằng các tiêu chuẩn thích hợp về mặt giáo dục đang được duy trì và nâng

Trang 25

cao trong và ngoài mỗi chương trình ĐBCL còn là việc làm cho các tiêu chuẩn và quá trình đều được cộng đồng giáo dục và công chúng biết đến rộng rãi ”

Trong nước, theo TCVN 5814 [82]: “Bảo đảm chất lượng là toàn bộ hoạt

động có kế hoạch và hệ thống được tiến hành trong hệ chất lượng và được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo sự tin tưởng thỏa đáng rằng thực thể (đối tượng) sẽ thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu chất lượng” Trong giáo dục, ĐBCL có thể được coi

như là một “hệ thống các biện pháp, các hoạt động có kế hoạch được tiến hành

trong và ngoài nhà trường, được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo ra sự tin tưởng thỏa đáng rằng các hoạt động và sản phẩm đào tạo”

Theo tác giả Nguyễn Tiến Hùng [48, tr.80]: “ĐBCL giáo dục là quá trình

kiểm soát và đo/đánh giá theo các yêu cầu đã được xác định” Hệ thống ĐBCL giúp

CSGD đạt tới tự tin về CL của mình và đạt tới niềm tin của công luận ngày càng cao Hệ thống ĐBCL bắt đầu bằng việc thiết lập các chuẩn CL và được chi tiết bằng

bộ chỉ số giáo dục để đo/đánh giá CL, thực hiện các đánh giá và sử dụng các kết quả

để cải tiến CL, xây dựng niềm tin và uy tín của CSGD trong cộng đồng xã hội

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý Giáo dục với đề tài:“Nghiên cứu xây

dựng hệ thống đảm bảo chất lượng ở các trường cao đẳng”[70] của tác giả Trần

Linh Quân đã xác định được nội dung, điều kiện để ĐBCL trong trường cao đẳng nghề nói chung và CĐSP nói riêng ở Việt Nam, qua đó đề xuất hệ thống ĐBCL với các điều kiện: Danh mục các hoạt động cần ĐBCL cho các yếu tố của Đầu vào - Quá trình - Đầu ra; các quy trình của các hoạt động (hướng dẫn xác lập quy trình);

Bộ tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động

Năm 2011, tác giả Nguyễn Quang Giao với cách tiếp cận cụ thể hơn trong LATS

chuyên ngành Quản lý Giáo dục với đề tài: “Xây dựng hệ thống ĐBCL quá trình dạy

học các môn chuyên ngành ở trường Đại học Ngoại ngữ” [41], tác giả cho rằng công

tác ĐBCL trường ĐH cần thực hiện bốn chức năng: Xác lập chuẩn; xây dựng quy trình; xây dựng tiêu chí và vận hành, đo lường, đánh giá, thu thập và xử lý số liệu Qua tổng quan các công trình nghiên cứu nêu trên, có thể rút ra một số nhận xét như sau:

- Nghiên cứu về CLGD đại học được triển khai ở nhiều bình diện khác nhau Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đã cho tác giả luận án cái nhìn tổng quan về

CL, QLCL, QLCLĐT, ĐBCL; các hướng nghiên cứu theo các cách tiếp cận để làm

Trang 26

rõ nội dung cốt lõi của đề tài Qua đó, hệ thống hóa cơ sở lý luận, cách thức đánh giá thực trạng để từ đó đề xuất các biện pháp;

- Qua các công trình nghiên cứu, tác giả của luận án nhận thấy hiện vẫn chưa

có công trình nào nghiên cứu về QLCLĐT tại một trường đại học công lập ở địa phương, cụ thể trực thuộc ủy ban nhân dân tỉnh theo tiếp cận ĐBCL Trong khi đó, hiện nay nhiều địa phương trong cả nước đang có những chiến lược phát triển kinh tế với lộ trình cụ thể, thu hút nhiều tập đoàn lớn về địa phương đầu tư, thành lập nhiều cụm khu công nghiệp, khu kinh tế, Trước thực tiễn đó, nhu cầu nguồn nhân lực có chất lượng, với các ngành nghề phù hợp, đáp ứng sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh là rất cấp thiết và đang đặt ra cho các trường ĐH trực thuộc ủy ban nhân dân tỉnh Chính vì vậy,luận án tiếp tục kế thừa các công trình khoa học trên để nghiên cứu và đề xuất các biện pháp QLCL đào tạo tại trường ĐHĐP theo tiếp cận ĐBCL, đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng phù hợp cho tỉnh trong bối cảnh đổi mới và hội nhập

1.1.4 Đánh giá chung

Trên cơ sở nghiên cứu tổng quan, tác giả đưa ra một số nhận định về những vấn đề chưa được đề cập nghiên cứu như sau:

Thứ nhất, tổng quan các công trình nghiên cứu trên đã cho tác giả luận án cái

nhìn toàn diện về GDĐH nhưng theo nhiều cách tiếp cận khác nhau: Có công trình nghiên cứu về QLCL cơ sở đào tạo nhưng theo cách tiếp cận TQM; có công trình nghiên cứu theo hướng tiếp cận ĐBCL nhưng đối với các trường ĐH tư thục, các trường cao đẳng Tây Bắc, các trường ĐH Công an nhân dân; có công trình nghiên cứu

về xây dựng hệ thống ĐBCL nhưng cho quá trình dạy học, QTĐT, Chưa có công

trình nghiên cứu nào đi sâu, phân tích về QLCLĐT tại một trường đại học cụ thể trực thuộc UBND tỉnh theo tiếp cận ĐBCL Vì vậy, tác giả tiếp tục kế thừa các công trình nghiên cứu trên để vận dụng nghiên cứu công trình QLCLĐT tại một trường ĐH cụ thể, trực thuộc UBND tỉnh theo tiếp cận ĐBCL một cách bài bản, hệ thống hơn

Thứ hai, các nghiên cứu về QLCL giáo dục đại học đã đề xuất nhiều mô hình và

các phương thức QL khác nhau nhằm mục đích nâng cao CLĐT của cơ sở GDĐH Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu đề xuất được một một hệ thống đảm

Trang 27

bảo chất lượng bên trong nhà trường Đây là vấn đề cốt lõi của quản lí chất lượng: Hệ thống quản lý quyết định chất lượng của một có sở giáo dục

Thứ ba, các công trình nghiên cứu trên đã đề xuất nhiều giải pháp khác nhau,

nhưng chưa đề tài nào nghiên cứu, phân tích theo hướng QLCL là xây dựng, vận

hành, đánh giá và cải tiến hệ thống QL tại một trường đại học công lập trực thuộc tỉnh Thái Bình Đây cũng chính là một hướng đi hoàn toàn mới mà tác giả

luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ hơn

1.1.5 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu

Với các phân tích, nghiên cứu tổng quan nêu trên, QLCLĐT đại học theo tiếp cận ĐBCL trong thời gian tới cần giải quyết các vấn đề sau:

1.1.5.1 Cần tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận về quản lý chất lượng đào tạo đại học theo tiếp cận đảm bảo chất lượng

Thứ nhất, trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, do ảnh hưởng của nền kinh tế thị

trường cũng như đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, đặc biệt khi Việt Nam đã và đang tham gia tích cực vào nhiều hoạt động quốc tế trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học, công nghệ, giáo dục, văn hóa xã hội Bối cảnh này đặt ra cho giáo dục Việt Nam nhiều cơ hội nhưng cũng nhiều thách thức Thực tiễn cho thấy hiện nay nhiều trường ĐH đã và đang mở rộng quy mô

ĐT và cơ cấu ngành nghề, đổi mới đa dạng hóa các loại hình ĐT, quan hệ hợp tác quốc tế; được giao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm với xã hội; đổi mới nội dung, hình thức và phương thức ĐT Một số trường ĐH đã áp dụng mô hình QL theo ISO, QL theo TQM, Tuy nhiên việc đề xuất xây dựng hệ thống QLCLĐT tại một trường ĐHĐP công lập trực thuộc ủy ban nhân dân tỉnh theo tiếp cận ĐBCL chưa được đề cập trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Vấn đề này cần được tiếp tục nghiên cứu một cách cụ thể, hệ thống hơn

Thứ hai, sẽ tiếp tục nghiên cứu kinh nghiệm QLCLĐT đại học trong nước và trên

thế giới để tiếp tục kế thừa, củng cố và phát triển cơ sở lý luận và thực tiễn của luận án

để xây dựng hệ thống QLCLĐT tại một trường ĐHĐP công lập, trực thuộc UBND tỉnh theo tiếp cận ĐBCL Luận án tiếp tục nghiên cứu một số mô hình về QLCL của một số nước trên thế giới và tại Việt Nam để vận dụng linh hoạt trong công trình nghiên cứu, phù hợp với bối cảnh phát triển của địa phương và của cả nước

Trang 28

1.1.5.2 Đánh giá thực trạng quản lý chất lượng đào tạo đại học theo tiếp cận ĐBCL

Thứ nhất, đánh giá thực trạng đào tạo và CLĐT ĐH

Thứ hai, đánh giá thực trạng QLCLĐT ĐH theo tiếp cận ĐBCL

1.1.5.3 Đề xuất các biện pháp quản lý chất lượng đào tạo đại học theo tiếp cận đảm bảo chất lượng

Thứ nhất, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức về vai trò của

QLCL và vai trò của từng cá nhân trong hệ thống quản lý

Thứ hai, tổ chức hoàn thiện hệ thống QLCLĐT theo tiếp cận ĐBCL

Thứ ba, tổ chức huấn luyện năng lực vận hành các tiểu hệ thống quản lý

Thứ tư, tổ chức viết báo cáo tự đánh giá, cải tiến hệ thống quản lý chất lượng để chuẩn bị

thực hiện đánh giá ngoài

1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan

1.2.1 Chất lượng

Chất lượng là mục tiêu, là mong muốn của sự tìm tòi, khám phá của con người trong suốt tiến trình lịch sử của nhân loại CL là sự thỏa mãn kết quả mong đợi của con người, có tác dụng thúc đẩy những nỗ lực, phấn đấu không ngừng của mỗi người trên

cương vị của mình CL là những gì có thể nhận biết nhưng thật khó xác định [16, tr.19]

Theo Từ điển Anh Oxford English Dictionary, khái niệm “chất lượng” bao gồm tất

cả các đặc trưng của sự vật, ngoại trừ những đặc trưng về số lượng [dẫn theo 16, tr.19] Viện Chất lượng Anh (BSI-1991) [dẫn theo 16, tr.19] với quan điểm chức

năng, định nghĩa: “CL là tổng hòa những đặc trưng của sản phẩm hay dịch vụ tạo

cho nó có khả năng thỏa mãn nhu cầu đã nêu hoặc tiềm ẩn”

Oakland (1998) [dẫn theo 16, tr.19] đã đưa ra định nghĩa:“CL là mức độ trùng

khớp với mục tiêu và chức năng”

Quan niệm của Sallis (1996) [dẫn theo 16, tr.20]: “CL là khi nó phải làm được

những điều cần làm và làm những gì người mua chờ đợi ở nó”

Như vậy, một định nghĩa chính xác về CL gần như là không thể và cũng không cần thiết do khái niệm này được dùng với nhiều nội hàm khác nhau Theo Phạm Thành Nghị [63, tr.26-27], CL được hiểu là tuyệt đối và tương đối:

- Theo ý nghĩa tuyệt đối, CL là cái “mọi người đều ngưỡng mộ, nhiều người

Trang 29

- Theo nghĩa tương đối, khái niệm CL có nhiều sắc thái khác nhau Nó liên quan đến hai thông số: các tiêu chuẩn kỹ thuật của nhà cung ứng và đáp ứng nhu cầu của người tiếp nhận

Theo một quan niệm khác, tác giả Crosby (1984:60) [91] coi “CL là sự phù hợp

với những yêu cầu”, với quan niệm này thì việc xác định yêu cầu của một sản phẩm

hay một dịch vụ là điều quan trọng nhất để hình dung người sản xuất hay người cung cấp dịch vụ muốn làm ra cái gì và phục vụ như thế nào Như vậy, CL có thể được hiểu theo nhiều cách: 1 Là sự xuất sắc (quality as excellence); 2 Là sự đặc biệt (quality as special); 3 Là sự hoàn hảo (quality as perfection); 4 Đáng giá trị đồng tiền (quality as value for money); 5 Là sự tuân thủ các tiêu chuẩn đã quy định

Quan niệm về CL của các nhà nghiên cứu, các chuyên gia trên vẫn chưa chỉ rõ được các thông số của CL một cách cụ thể, mới đưa ra CL một cách chung chung là làm hài lòng, thỏa mãn nhu cầu khách hàng Yêu cầu đặt ra đối với các công trình nghiên cứu trên cần có các chỉ số cụ thể trong từng lĩnh vực quản lý, trong từng tiêu chí, tiêu chuẩn, chỉ báo để đối sánh thì CL sẽ luôn được cải thiện, đảm bảo, đáp ứng bối cảnh đổi mới và hội nhập Tác giả Phạm Thành Nghị [63, tr.26-27] quan niệm

CL là cái làm hài lòng, vượt nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng Điều này thể hiện rõ khi mua sản phẩm, người tiêu dùng trước hết lựa chọn các sản phẩm phù hợp với nhu cầu sử dụng của mình, sau đó mới quan tâm đến giá cả, nơi sản xuất Một cách tiếp cận khác, tác giả Nguyễn Đức Chính [16 tr.19-20] quan niệm

rằng: “CL là sự đáp ứng các tiêu chuẩn tức là hệ thống quản lý đạt chuẩn và hệ quả

của nó là toàn bộ sản phẩm của hệ thống đạt chuẩn”

Với các cách tiếp cận trên, cách tiếp cận của tác giả Nguyễn Đức Chính có thể coi là cách tiếp cận tương đối toàn diện và phù hợp hơn cả trong xu thế các trường

ĐH đang có sự cạnh tranh mạnh mẽ về CLĐT để tồn tại và phát triển, tiến tới tiệm cận chuẩn CL Quốc tế

Từ những nghiên cứu của các chuyên gia, các học giả trên, luận án sử dụng

quan niệm về chất lượng như sau: Chất lượng là sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng trên cơ sở tuân thủ các quy trình trong hệ thống ĐBCL, quá trình thực hiện đảm bảo tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình trong hệ thống QL, vì CL là hệ quả của hệ thống quản lý

Trang 30

Trong cuốn “Quản lý chất lượng là gì?” của tác giả Matsushita Konosuke đã trình

bầy một cách sinh động về mô hình QLCL TQM theo “Kiểu Nhật” Trong mô hình

đó “tinh thần đồng đội” được đặc biệt đề cao và đây được ví như sự hợp lực của các

thành viên trong đội bóng đá Mặc dù tác giả của hệ thống QLCL có nguồn gốc từ

Mỹ, nhưng trong những năm 1950 -1970 khi QLCL được áp dụng rộng rãi tại Nhật

Bản, thì các doanh nghiệp của Mỹ vẫn đứng ngoài cuộc Phong trào “Cách mạng

chất lượng” ở Mỹ chỉ bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ XX khi Ford Motor là

Công ty Mỹ đầu tiên dưới sự điều hành của Deming đã trở thành người dẫn đầu trên thị trường nội địa Các công ty, các tập đoàn lớn như Ford Motor, General Electric

đã làm giàu lý luận về TQM bằng những kinh nghiệm đúc rút từ thực tiễn

Trong giáo dục, CL thỏa mãn nhu cầu của người học và thị trường lao động, sản phẩm không CL, kém CL đồng nghĩa với sự thất bại, với sự lãng phí CL không tự nhiên sinh ra, nó là kết quả của hàng loạt các yếu tố tác động có liên quan chặt chẽ với

nhau Tác giả A Feingenbaum cho rằng: “QLCL là một hệ thống hoạt động thống nhất

có hiệu quả của những bộ phận khác nhau trong một tổ chức, chịu trách nhiệm triển khai những tham số chất lượng, duy trì và nâng cao nó để đảm bảo sản xuất và tiêu dùng một cách kinh tế nhất, thỏa mãn nhu cầu của tiêu dùng” [dẫn theo 16, tr.39]

Tác giả Kaoru Ishikawa đã cho rằng:“QLCL nghiên cứu triển khai, thiết kế sản

xuất, bảo dưỡng sản phẩm có chất lượng, kinh tế nhất, có ích nhất cho người tiêu dùng

và bao giờ cũng thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng” [dẫn theo 16, tr.39]

Chuyên gia AG Robertson người Anh cho rằng:“QLCL được xác định như hệ

thống quản trị nhằm xây dựng chương trình và sự phối hợp các cố gắng của những đơn vị khác nhau để duy trì và tăng cường CL trong các tổ chức từ khâu thiết kế, sản xuất, vận hành, sao cho có hiệu quả nhất, đồng thời cho phép thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng” [dẫn theo 16, tr.39]

Trang 31

Theo Philip Crosby, chuyên gia người Mỹ [89] cho rằng: “QLCL là phương

tiện có tính chất hệ thống đảm bảo việc tôn trọng tổng thể tất cả các thành phần của một kế hoạch hành động”

Quản lý chất lượng dựa trên các nguyên tắc: coi trọng vai trò con người, tính đồng bộ, sự toàn diện và dựa trên cơ sở các quy trình Do vậy, để thực hiện QLCL cần

có hệ thống CL về cơ cấu tổ chức, các thủ tục, quá trình và các nguồn lực cần thiết Như vậy, mỗi định nghĩa về QLCL ở trên đều dựa vào những mục đích xem xét riêng của từng CSĐT, nhưng tất cả đều giống nhau ở chỗ thể hiện QLCL là hệ thống các quy trình nhằm đảm bảo CL cho toàn hệ thống với mục đích là thỏa mãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất, có hiệu quả kinh tế cao nhất, được tiến hành trong tất cả các giai đoạn từ thiết kế sản xuất cho đến phân phối, sử dụng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu của khách hàng

Nghiên cứu QLCL trong GDĐT ở Việt Nam từ trước đến nay là một vấn đề mới, luôn thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Giáo dục được coi là nền tảng của đất nước để quyết định sự tồn vong của một dân tộc và GDĐH đang có xu thế xã hội hóa Vấn đề CLGD, QLCLĐT ở trong nước đã được nghiên cứu ở những năm cuối của thế kỷ XX và ngày càng thu hút được sự quan tâm của Nhà nước, các CSGD và cộng đồng xã hội Hiện nay, QLCLĐT trường ĐH theo tiếp cận ĐBCL đang trở thành đề tài được sự quan tâm đông đảo của mọi tầng lớp trong xã hội khi nhu cầu nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao ngày càng lớn, nhưng tỷ lệ SV tốt nghiệp ĐH không đáp ứng nhu cầu của nhà tuyển dụng Tỷ lệ SV phải đào tạo lại chiếm khoảng 50% Vấn đề này đặt ra cho các CSGD đại học cần thay đổi cơ chế quản lý, cơ chế kiểm tra, giám sát; tăng cường, nâng cao công tác KĐCL Từ thực tiễn trên, các trường ĐH nói chung, trường ĐHĐP nói riêng cần tập trung QLCL đào tạo để đáp ứng nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ sự phát triển kinh

tế, xã hội của tỉnh và các địa phương khác trong cả nước

Dưới đây là một số công trình nghiên cứu của các tác giả đã đưa ra những quan niệm về QLCL như sau:

Tác giả Nguyễn Đức Trí đã đưa ra những nội dung cơ bản về CL và QLCL giáo dục nghề nghiệp cùng khả năng vận dụng TQM vào QLCL các CSGD nghề nghiệp hiện nay [77]

Trang 32

Đề tài nghiên cứu cấp Bộ năm 2004 của tác giả Phan Văn Kha: “Nghiên cứu đề

xuất mô hình QLCLĐT đại học ở Việt Nam”[65] đã đánh giá thực trạng QLCLĐT đại

học ở Việt Nam, xác định những quan điểm trong QLCL và thiết kế mô hình QLCLĐT

Mô hình QLCL được đề xuất theo ISO 9000 bao gồm 5 bước sau: Xây dựng hệ thống chất lượng; Giới thiệu hệ thống chất lượng và đào tạo đội ngũ; Vận hành hệ thống chất lượng; Đánh giá hệ thống chất lượng; Giám sát hệ thống chất lượng

Tác giả Vũ Quốc Bình [5, tr.30-31] quan niệm:“QLCL là tổng thể các biện

pháp kinh tế, kỹ thuật, hành chính tác động lên toàn bộ quá trình hoạt động của một

tổ chức hay của một doanh nghiệp để đạt hiệu quả cao nhất về CL với chi phí thấp nhất, QLCL là trách nhiệm của mọi thành viên trong tổ chức, song trước hết phải được cấp lãnh đạo cao nhất nhận thức đầy đủ và triển khai đồng bộ”

Một cách tiếp cận với nhiều góc độ, khía cạnh liên quan đến toàn bộ các mặt hoạt động trong một nhà trường bao gồm đầy đủ các lĩnh vực quản lý Tác giả

Nguyễn Đức Chính [16, tr.40] đã quan niệm:“CL trong giáo dục là một phương

thức có công cụ, chủ yếu là Bộ chuẩn bao gồm các tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ báo và các quy trình thực hiện các tiêu chuẩn đó” Tác giả cho rằng, QLCL thực chất bao

gồm các hoạt động sau:

- Thiết lập chuẩn;

- Đối chiếu thực trạng so với chuẩn;

- Có kế hoạch nâng thực trạng ngang chuẩn

Ba hoạt động này tiến hành đồng thời, liên tục thông qua một hệ thống quản lý chất lượng Hệ thống này có cơ sở là Bộ chuẩn bao gồm các tiêu chuẩn, tiêu chí và chỉ báo

Như vậy, quan niệm quản lý chất lượng phù hợp nhất với luận án là xây dựng

và vận hành một hệ thống quản lý, nhằm tác động vào các điều kiện ĐBCL của hệ thống một cách đồng bộ, trong tất cả các giai đoạn của quá trình đào tạo, cho tất

cả các sản phẩm của cả hệ thống, cuối cùng là đánh giá và cải tiến hệ thống QL nhằm cung cấp sản phẩm chất lượng đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động

1.2.3 Đào tạo và chất lượng đào tạo đại học

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, thuật ngữ đào tạo được giải nghĩa là “quá

Trang 33

những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của con người” [75, tr.298]

Theo Từ điển Giáo dục học, thuật ngữ “ đào tạo” được giải nghĩa là hoạt động mang tính phối hợp giữa các chủ thể dạy học (người dạy và người học), là sự thống nhất hữu cơ giữa hai mặt dạy và học tiến hành trong một CSĐT Trong đó, tính chất, phạm vi, cấp độ, cấu trúc và quy trình của hoạt động được quy định một cách chặt chẽ, cụ thể, về mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, CSVC, thiết bị dạy học, đánh giá kết quả đào tạo cũng như thời gian và đối

tượng đào tạo cụ thể [76]

Đào tạo cùng với NCKH và dịch vụ phục vụ cộng đồng là chức năng cơ bản

và là hoạt động đặc trưng của các CSĐT ĐH Đây là hoạt động chuyển giao có hệ thống, có phương pháp, những kinh nghiệm, những tri thức, những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp chuyên môn, đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết

để chuẩn bị cho người học bước vào cuộc sống lao động nghề nghiệp, tự lập và góp phần xây dựng, bảo vệ Tổ quốc

Để có nguồn nhân lực có chất lượng cao, các nhà QLGD cần quan tâm đến CLĐT Bởi CLĐT là vấn đề quan trọng nhất của tất cả các nhà trường ở các cấp học Việc phấn đấu nâng cao CLĐT luôn được coi là nhiệm vụ hàng đầu của các CSĐT, nhất là các trường ĐH Chính vì vậy, CLĐT đại học được quan niệm theo nhiều cách tiếp cận khác nhau

Tác giả Trần Khánh Đức [34, tr.521] quan niệm:“CLĐT là kết quả của QTĐT

được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, CTĐT theo các ngành nghề cụ thể ”

Tác giả Lê Đức Ngọc, Lâm Quang Thiệp - Đại học Quốc gia Hà Nội [dẫn theo

34, tr.521] đã quan niệm: “CLĐT được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu

đào tạo đã đề ra đối với một CTĐT”

Tác giả Nguyễn Minh Đường và Phan Văn Kha (2006) [36] quan niệm: “Chất

lượng đào tạo là mức độ đạt được so với mục tiêu đào tạo được đề ra nhằm thỏa

Trang 34

mãn yêu cầu của khách hàng” Một trường ĐH có chất lượng cao chính là nơi đào

tạo ra nguồn nhân lực có trình độ, có chuyên môn cao đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động Qua đó CLĐT là kết quả người học đạt được đáp ứng mục tiêu đặt

ra, kết quả đó được thị trường lao động chấp nhận

Các công trình khoa học nghiên cứu trên đã đưa ra nhiều cách tiếp cận về CLĐT với những khía cạnh khác nhau và cho thấy tầm quan trọng của CLĐT trong các CSGD ĐH hiện nay CLĐT phải được thể hiện khi người học tốt nghiệp được thị trường lao động đón nhận và hài lòng, người học phát triển ở các vị trí cao hơn Xuất phát từ những quan niệm trên, hệ thống các tiêu chí đánh giá CLĐT đối với từng ngành đào tạo nhất định có thể bao gồm các tiêu chí sau:

- Phẩm chất về xã hội-nghề nghiệp (đạo đức, ý thức, trách nhiệm, uy tín,…);

- Các chỉ số về sức khỏe, tâm lý, sinh học;

- Trình độ kiến thức, kỹ năng chuyên môn;

- Năng lực hành nghề (cơ bản và thực tiễn);

- Khả năng thích ứng với thị trường lao động;

- Năng lực nghiên cứu và tiềm năng phát triển nghề nghiệp [30, tr.33-34] Chất lượng đào tạo là giá trị cốt lõi, là mục tiêu phấn đấu của các CSĐT ĐH

Để đảm bảo CLĐT nguồn nhân lực cho thị trường lao động của địa phương và của

cả nước, các nhà trường cần phải quan tâm đến việc thiết lập hệ thống QLCL đào

tạo theo tiếp cận ĐBCL, bởi “CLĐT là mức độ đạt được của mục tiêu đào tạo nhằm

thỏa mãn yêu cầu của khách hàng” [34, tr.111]

1.2.4 Quản lý chất lượng đào tạo đại học

Quản lý chất lượng đào tạo là một hoạt động mang tính quyết định sự tồn tại của CSGD đại học, nơi mà nhiều quy trình được thiết lập và vận hành CLĐT được duy trì nếu trường ĐH xây dựng được hệ thống QLCL, ở đó các quy trình được xây dựng và vận hành, tác động vào các điều kiện ĐBCL trong tất cả các giai đoạn của QTĐT, trong tất cả các sản phẩm của cả hệ thống QL Trường ĐH có hệ thống QL đạt chuẩn thì CLĐT sẽ luôn ổn định và phát triển bền vững, sẽ xây dựng niềm tin đối với xã hội Với tầm quan trọng như vậy, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về QLCL đào tạo như sau:

Trang 35

Tác giả Trần Khánh Đức có khá nhiều công trình nghiên cứu về QLCLĐT đại

học Năm 2004, sách chuyên khảo “Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân

lực theo ISO&TQM” đã phản ánh những kết quả nghiên cứu cơ bản về lý luận và

thực tiễn việc vận dụng quan điểm, chuẩn mực, quy trình ISO&TQM trong quản lý

và kiểm định CLĐT nhân lực Năm 2009, tác phẩm “Giáo dục và phát triển nguồn

nhân lực trong thế kỷ XXI”, giới thiệu Bộ Tiêu chuẩn ISO 9000 và các nguyên tắc

QLCL; chu trình QLCL; các mô hình QLCL gồm kiểm tra chất lượng - sự phù hợp,

mô hình kiểm tra chất lượng toàn diện; Bảo đảm chất lượng và các mô hình QLCL

giáo dục theo ISO và TQM, đánh giá và KĐCL Năm 2010, với chủ đề “QLCL đào

tạo đối với các trường trung cấp chuyên nghiệp”, tác giả đã đề cập đến bốn vấn đề

cụ thể là các chính sách quốc gia và cơ sở pháp lý về QLCL giáo dục, những khái niệm về CL và CLĐT, các lý thuyết CL và chu trình QLCL, đánh giá và KĐCL giáo dục Từ đó tác giả đưa ra khái niệm QLCLĐT là quá trình tổ chức thực hiện có

hệ thống các biện pháp quản lý toàn bộ QTĐT nhằm đảm bảo và không ngừng nâng cao CLĐT đáp ứng yêu cầu người sử dụng lao động (từ khâu tìm hiểu thị trường lao động, thiết kế CTĐT đến công tác tuyển sinh, tổ chức đào tạo và kiểm tra, đánh giá kết quả ĐT) [30, tr.49]

Tác giả Đỗ Trọng Tuấn [80] cho rằng: “QLCLĐT là hoạt động cốt lõi, quyết

định sự tồn tại, lớn mạnh, thương hiệu, nó bao gồm 3 hoạt động chủ yếu đó là: Đào tạo (hoạt động dạy- học); nghiên cứu khoa học; các dịch vụ phục vụ cộng đồng”

- Quản lý ĐT (giảng dạy và học tập): Gồm thiết kế CTĐT, nội dung CTĐT, tổ chức thực hiện CTĐT (các hoạt động kiểm tra, đánh giá );

- Quản lý NCKH: Tạo môi trường NCKH, xây dựng cơ chế chính sách đãi ngộ cho các hoạt động nghiên cứu;

- Quản lý các hoạt động dịch vụ liên quan khác: Thư viện, các bộ phận phục vụ, tạo điều kiện và môi trường làm việc để phát huy năng lực

Khổng Hữu Lực (2017) [57] đã quan niệm: “Quá trình đào tạo gồm các hoạt

động: Xây dựng kế hoạch đào tạo, thời khóa biểu; thực hiện tiến độ đào tạo; quản

lý hoạt động giảng dạy; quản lý hoạt động học tập; quản lý thi kết thúc môn học/module; quản lý hoạt động thực tập kết hợp sản xuất; quản lý thi tốt nghiệp”

Trang 36

Từ các công trình nghiên cứu trên, có thể đưa ra quan niệm QLCLĐT là quá trình thực hiện hàng loạt các biện pháp quản lý tác động vào các yếu tố ĐBCL trong tất cả các giai đoạn của hệ thống QL Trong nội dung luận án này, tác giả nghiên

cứu hệ thống QLCL đào tạo ĐH theo tiếp cận ĐBCL là xây dựng và vận hành một

hệ thống QL, nhằm tác động vào các yếu tố ĐBCL đầu vào, quá trình, đầu ra một cách đồng bộ, thống nhất Trong tất cả các giai đoạn của QTĐT, không để xảy ra lỗi trong bất kì giai đoạn/sản phẩm nào nhằm tạo ra sản phẩm có CL thỏa mãn nhu cầu khách hàng

1.2.5 Quản lý chất lượng đào tạo đại học theo tiếp cận đảm bảo chất lượng

Quản lý CLĐT là xây dựng và vận hành hệ thống QL nhằm tác động vào các điều kiện ĐBCL trong tất cả các giai đoạn của quá trình, cho tất cả các sản phẩm của cả hệ thống chứ không nhằm vào từng sản phẩm hay từng giai đoạn một cách đơn lẻ [16, tr.40]

Luận án định hướng nghiên cứu theo QLCLĐT ĐH theo tiếp cận ĐBCL là xây dựng và vận hành hệ thống QL cho các thành tố của QTĐT: đầu vào, quá trình và đầu

ra Hệ thống quản lý các thành tố này cần được vận hành đồng bộ, thông suốt, theo đúng quy trình, không quản lý theo từng giai đoạn hay từng sản phẩm một cách đơn

lẻ Cuối cùng là đánh giá toàn bộ hệ thống QL để cải tiến những tồn tại, đáp ứng đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho địa phương và phù hợp với bối cảnh công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế

1.3 Các cấp độ và mô hình quản lý chất lượng

1.3.1 Các cấp độ quản lý chất lượng

Quản lý chất lượng là hoạt động gắn liền với quá trình sản xuất ngay từ những năm trước cách mạng công nghiệp và sau đó được phát triển và áp dụng cho GDĐH Quá trình phát triển của quản lý nói chung đi từ mô hình hành chính tập trung đến các hình thức phi tập trung QLCL cũng phát triển cùng quá trình từ giai đoạn trọng tâm là KSCL sang ĐBCL và QLCL tổng thể [50, tr.111] Nếu chỉ vận dụng khi đã có thành phẩm và nhằm loại bỏ phế phẩm thì đó là KSCL Vận dụng trong suốt quá trình sản xuất và phòng ngừa phế phẩm thì đó là ĐBCL Trường hợp luôn cải tiến, luôn nâng cao chuẩn cho phù hợp với yêu cầu khách hàng thì đó là

Trang 37

Biểu đồ 1.1: Các cấp độ quản lý chất lượng [98]

1.3.1.1 Kiểm soát chất lượng (Quality Control)

“Kiểm soát chất lượng” là thuật ngữ lâu đời nhất về mặt lịch sử của khoa học quản lý Nó bao gồm việc kiểm tra và loại bỏ các thành phẩm hay sản phẩm cuối cùng không thỏa mãn các tiêu chuẩn đã đề ra trước đó Đây là công đoạn xảy ra sau cùng khi sản phẩm đã được làm xong, có liên quan tới việc loại bỏ hoặc từ chối những hạng mục hay sản phẩm có lỗi Thanh tra nội bộ và thử nghiệm sản phẩm là những phương pháp phổ biến nhất Hệ thống chất lượng dựa chủ yếu trên giấy tờ, sổ sách ghi nhận kết quả từng ca sản xuất Các tiêu chí chất lượng hạn chế, chỉ căn cứ vào số lượng sản phẩm được chấp thuận Vì thế, cách làm này kéo theo sự lãng phí nhiều khi khá lớn do phải loại bỏ hoặc làm lại các sản phẩm không đạt yêu cầu [16, tr.41]

Kiểm soát chất lượng được hình thành trên quan điểm CL là sự tổng hợp cả một hệ thống, CL không chỉ hình thành ở khâu cuối cùng mà hình thành ở các khâu,

công đoạn làm ra sản phẩm, do vậy các khâu cần phải kiểm tra để thực hiện tốt“

KSCL chỉ giải quyết các vấn đề sau khi chúng bị phát hiện” [98, tr.23]

Quản lý chất lượng tổng thể

Trang 38

Kiểm soát chất lượng tập trung vào việc theo dõi lại các lỗi trong quá khứ, là “

một phương thức cần thiết cho việc thanh tra và loại bỏ những sản phẩm có khiếm khuyết” [109]

Kiểm soát chất lượng bao gồm việc kiểm tra và loại bỏ các thành phẩm hay sản phẩm cuối cùng không thỏa mãn các tiêu chuẩn đã đề ra trước đó [16, tr.37], cấp độ này diễn ra sau cùng của quá trình Chính vì vậy đã gây lãng phí lớn vì phải loại bỏ các sản phẩm không đạt yêu cầu

Trong giáo dục, KSCL thông qua hệ thống chỉ đạo chuyên môn, thanh - kiểm tra nhằm giám sát những hoạt động cốt lõi Hệ quả với hệ thống quản lý tập trung quan liêu, bao cấp chỉ nhấn mạnh việc phát hiện và xử phạt những vi phạm quy định

và chuẩn mực sẵn có, không đặt ra mục tiêu để cải thiện liên tục và toàn diện nhằm đáp ứng ngày càng cao những nhu cầu thiết thực của xã hội Các chuẩn mực được xác định từ các cấp quản lý cao hơn để đưa xuống nhà trường, GV thực hiện, như thanh tra, kiểm tra kết quả học tập của người học, kiểm tra cấp, phát văn bằng, chứng chỉ, Quá trình kiểm tra cho thấy phát hiện những SV yếu kém, chưa ĐBCL thì phải học lại, hoặc học bổ sung các môn chưa đạt; không cấp phát văn bằng cho những trường hợp chưa đảm bảo điều kiện theo quy định, từ đó điều chỉnh và cải tiến hệ thống quản lý ĐBCL đầu ra Đây là những hạn chế của cấp độ KSCL, chỉ phát hiện khi đã có kết quả, dẫn tới hệ quả người học không đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, không thích ứng được xu thế hội nhập, phải ĐT lại gây lãng phí cả

về thời gian và tiền bạc

1.3.1.2 Đảm bảo chất lượng (Quality Assurance)

Đảm bảo chất lượng là cấp quản lý trung gian giữa KSCL và TQM, ĐBCL là nhân lõi hình thành nên TQM

Nguyễn Đức Chính [16, tr.37-38] cho rằng:“Đảm bảo chất lượng là quá trình

xảy ra trước và trong khi thực hiện Cấp độ QL này giúp phòng tránh những sai phạm có thể xảy ra ngay từ khi thực hiện những bước đầu tiên Bên cạnh đó, CL sản phẩm được thiết kế ngay trong quá trình sản xuất ra nó từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng, theo tiêu chuẩn nghiêm ngặt đảm bảo không có sai phạm trong bất

cứ khâu nào”

Trang 39

Freeman [109, tr.16] cho rằng: “ĐBCL là một cách tiếp cận có hệ thống nhằm

xác định nhu cầu thị trường và điều chỉnh các phương thức làm việc nhằm đáp ứng được các nhu cầu đó” Với cách tiếp cận đó, ĐBCL bao gồm:

- Sứ mạng và mục đích của tổ chức được tất cả mọi người trong tổ chức biết một cách rõ ràng, được công khai, minh bạch, rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, để ai cũng hiểu và thuộc được sứ mạng của trường

- Mọi người trong tổ chức đều hiểu và biết được công việc của mình là làm cho ai và để làm gì hay đó chính là xây dựng văn hóa bên trong nhà trường

Theo Oakland (1988), mô hình ĐBCL dựa trên nguyên lý là tất cả các bộ phận chức năng phải chia sẻ trách nhiệm về CL, cung cấp một phương pháp hữu hiệu để đạt và duy trì các tiêu chuẩn chất lượng

Theo TCVN 5814: “Bảo đảm chất lượng là toàn bộ hoạt động có kế hoạch và

hệ thống, được tiến hành trong hệ thống quản lý đã được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo sự tin tưởng rằng thực thể (đối tượng) sẽ thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu chất lượng”[dẫn theo 34, tr.536] .Để bảo đảm chất lượng thì cần xây dựng kế hoạch và thiết kế hệ thống ĐBCL, thực hiện đầy đủ các yêu cầu CL thì sẽ đạt được mục tiêu

Tác giả Nguyễn Đức Chính [16, tr.42] đã đưa ra quan niệm:“Đảm bảo chất

lượng là thỏa mãn các tiêu chuẩn kỹ thuật một cách ổn định CL của sản phẩm hay dịch vụ được đảm bảo bằng một hệ thống tại chỗ Hệ thống ĐBCL chỉ rõ việc sản xuất phải được thực hiện như thế nào, theo tiêu chuẩn nào”

Tác giả Trần Khánh Đức [34, tr.47] đưa ra quan niệm ĐBCL trong đào tạo:“

ĐBCL có thể được coi như là một hệ thống các biện pháp, các hoạt động có kế hoạch, được tiến hành trong và ngoài nhà trường và được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo ra sự tin tưởng thỏa đáng rằng các hoạt động và sản phẩm đào tạo (sinh viên tốt nghiệp) sẽ thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu về CLĐT theo mục tiêu đào tạo dự kiến”.

Tác giả Nguyễn Tiến Hùng [48, tr.81-82] dựa trên thực tiễn và kinh nghiệm Quốc tế đã đưa ra quy trình ĐBCL gồm các bước cụ thể như sau:

(1) Tự đánh giá bao gồm đánh giá chất lượng cấp CSGD cũng như cấp đơn vị/bộ phận bao gồm đầu vào từ các hội đồng chính thức, nhân viên của CSGD và

Trang 40

người học TĐG tại cấp đơn vị/bộ phận của CSGD cần được thực hiện thường xuyên để có thể cải tiến chất lượng liên tục TĐG cấp cơ sở phải được thực hiện ít nhất hàng năm theo kế hoạch ĐBCL của nhà trường Kết quả báo cáo TĐG sẽ giúp nhà trường nhìn nhận thực trạng của nhà trường, từ đó đề xuất các giải pháp cải tiến chất lượng bên trong nhà trường Báo cáo TĐG còn là kết quả hoạt động của nhà trường hàng năm, được gửi cho gia đình người học và công khai trước công luận (2) Đánh giá bên trong bao gồm đánh giá chất lượng được thực hiện bởi cơ quan quản lý cấp trên của CSGD Đánh giá có thể được thực hiện từ 2 đến 3 năm một lần để xem xét nâng cao chính sách và lập kế hoạch phát triển cho CSGD (3) Đánh giá ngoài bao gồm đánh giá chất lượng của cơ quan bên ngoài hay độc lập Đánh giá có thể được thực hiện từ ba đến năm năm một lần để xem xét nâng cao chính sách và lập kế hoạch phát triển cho CSGD

(4) Kiểm định là kết quả đầu ra của đánh giá chất lượng bên trong và bên ngoài Báo cáo đánh giá ngoài được gửi lên Hội đồng Kiểm định xem xét và phê chuẩn, giúp các CSGD được công nhận trong việc cung cấp các chương trình giáo dục có chất lượng CSGD được kiểm định sẽ tự tin và sự công nhận của công luận Các CSGD khác sẽ tạo động lực để đạt được công nhận tương tự

Từ những quan niệm trên, tác giả luận án đưa ra quan niệm ĐBCL được xác định như các hệ thống, chính sách, quy trình, hành động và thái độ được xác định từ trước nhằm đạt được, duy trì, giám sát và củng cố CLGD ở mức chuẩn cho phép nhất định và từ đó tìm ra những giải pháp để không ngừng nâng cao CLGD

Trong thực tế để tồn tại và phát triển, mọi tổ chức đều phải quan tâm đến CL sản phẩm, CL hoạt động của tổ chức mình Nhưng theo quy luật CL không tự nhiên sinh ra, mà là kết quả tác động của phương thức quản lý Nhân loại đã và đang chứng kiến sự thành công của QLCL như một phương thức quản lý Các ngành sản xuất công nghiệp với các quy trình công nghệ tiên tiến đã và đang cung cấp hàng loạt sản phẩm có chất lượng Gần đây, những ngành kém phát triển, thiếu sức cạnh tranh như nông nghiệp, thủy sản cũng nhờ phương thức quản lý này đã cho ra đời những sản phẩm đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế Giáo dục, nhất là GDĐH với sứ mạng cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh và hội

Ngày đăng: 27/12/2018, 16:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Thị Phương Anh, Đảm bảo chất lượng giáo dục Đại học tại Việt Nam với nhu cầu hội nhập, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảm bảo chất lượng giáo dục Đại học tại Việt Nam với nhu cầu hội nhập
2. Tạ Thị Kiều An, Ngô Thị Ánh, Nguyễn Văn Hóa, Nguyễn Hoàng Kiệt, Đinh Phượng Vương (2004), Quản lý chất lượng trong các tổ chức, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất lượng trong các tổ chức
Tác giả: Tạ Thị Kiều An, Ngô Thị Ánh, Nguyễn Văn Hóa, Nguyễn Hoàng Kiệt, Đinh Phượng Vương
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2004
3. AUN&QA (2009), Sổ tay thực hiện các hướng dẫn đảm bảo chất lượng trong mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay thực hiện các hướng dẫn đảm bảo chất lượng trong mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á
Tác giả: AUN&QA
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
4. Lê Thanh Bình (2009), Một số vấn đề về quản lý nhà nước kinh tế, văn hóa, giáo dục trên thế giới và Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về quản lý nhà nước kinh tế, văn hóa, giáo dục trên thế giới và Việt Nam
Tác giả: Lê Thanh Bình
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
5. Vũ Quốc Bình (2003), Quản lý chất lượng toàn diện, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất lượng toàn diện
Tác giả: Vũ Quốc Bình
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2003
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Thông tư Quy định về việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh trình độ tiến sĩ, thạc sĩ, ĐH, CĐ và TCCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư Quy định về việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh trình độ tiến sĩ, thạc sĩ, ĐH, CĐ và TCCN
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2011
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005) Đề án đổi mới GDĐH Việt Nam giai đoạn 2006-2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án đổi mới GDĐH Việt Nam giai đoạn 2006-2020
13. Nguyễn Hữu Châu, (2008), Chất lượng giáo dục, những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Chất lượng giáo dục, những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
14. Nguyễn Đức Chính (2002), Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học
Tác giả: Nguyễn Đức Chính
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
15. Nguyễn Đức Chính (2004), Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học
Tác giả: Nguyễn Đức Chính
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
16. Nguyễn Đức Chính (2015), Quản lý Chất lượng trong giáo dục , NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Chất lượng trong giáo dục
Tác giả: Nguyễn Đức Chính
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2015
17. Nguyễn Đức Chính (2015), Phát triển Chương trình Giáo dục, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển Chương trình Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Đức Chính
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2015
18. Nguyễn Quốc Chí- Nguyễn Thị Mỹ Lộc (1996), Đại cương về khoa học quản lý, Trường cán bộ QLGD và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương về khoa học quản lý
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí- Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Năm: 1996
26. Nguyễn Thị Doan (chủ biên, 1996), các học thuyết quản lý, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: các học thuyết quản lý, "NXB
Nhà XB: NXB" Chính trị Quốc gia
27. Đoàn Văn Dũng (2015), LATS chuyên ngành Quản lý Hành chính công: “Quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học”, Học viện Chính trị Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học
Tác giả: Đoàn Văn Dũng
Năm: 2015
28. Vũ Cao Đàm (2005), Phương pháp luận NCKH, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội 29. Nguyễn Văn Đạm (1999), Từ điển tường giải và liên tưởng Tiếng Việt,NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận NCKH, "NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội 29. Nguyễn Văn Đạm (1999), "Từ điển tường giải và liên tưởng Tiếng Việt
Tác giả: Vũ Cao Đàm (2005), Phương pháp luận NCKH, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội 29. Nguyễn Văn Đạm
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1999
30. Trần Khánh Đức (2004), Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO & TQM, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO & TQM
Tác giả: Trần Khánh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2004
31. Trần Khánh Đức (2009), Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI, "NXB
Tác giả: Trần Khánh Đức
Nhà XB: NXB" Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
32. Trần Khánh Đức (2011), Phát triển các giá trị văn hóa, nhân văn và mô hình nhà trường đại học tương lai. Kỷ yếu Hội thảo khoa học VHCL trong trường đại học 20/10/2011, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển các giá trị văn hóa, nhân văn và mô hình nhà trường đại học tương lai
Tác giả: Trần Khánh Đức
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
33. Trần Khánh Đức, Nguyễn Mạnh Hùng (2012), Gıáo dục đại học và Quản trị đại học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gıáo dục đại học và Quản trị đại học
Tác giả: Trần Khánh Đức, Nguyễn Mạnh Hùng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2012

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w