ngữ được tính điểm cao nhất Ngôn ngữ, Từ điển học & Bách khoa thư,Ngôn ngữ & Đời sống còn khá nhiều các tạp chí khoa học khác của cáctrường, các viện nghiên cứu có đăng tải các công trìn
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
DƯƠNG THỊ SINH
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA CÁC TÍT BÀI
TRÊN TẠP CHÍ KHOA HỌC(KHẢO SÁT TRÊN BA TẠP CHÍ: NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG, NGÔN NGỮ, TỪ ĐIỂN HỌC VÀ BÁCH KHOA THƯ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
DƯƠNG THỊ SINH
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA CÁC TÍT BÀI
TRÊN TẠP CHÍ KHOA HỌC(KHẢO SÁT TRÊN BA TẠP CHÍ: NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG, NGÔN NGỮ, TỪ ĐIỂN HỌC VÀ BÁCH KHOA THƯ)
Chuyên ngành: NGÔN NGỮ VIỆT NAM
Mã số: 60 22 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM VĂN TÌNH
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ Đặc điểm ngôn ngữ của các tít bài
trên tạp chí khoa học là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của
ai Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trongcác công trình khác Nếu sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm./
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2015
Tác giả luận văn
Dương Thị Sinh
Trang 4Số hóa bởi Trung
tâm Học liệu –
ĐHTN i
h ttp : // w w w l rc t n u e du vn
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, với lòng biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân thànhnhất tới thầy giáo - PGS TS Phạm Văn Tình đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo vàgiúp đỡ em hoàn thành tốt luận văn này
Em xin trân trọng cảm ơn các thày, cô giáo trong Ban giám hiệu,Khoa Sau đại học, Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm - Đại học TháiNguyên đã tạo mọi điều kiện để em hoàn thành khóa học và thực hiện tốtluận văn tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn các thày, cô giáo - những người đã tận tìnhgiảng dạy, hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập và giúp đỡ em hoànthành tốt luận văn này
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn chân thành tới người thân, bạn bè và cácbạn học viên lớp Cao học Ngôn ngữ K21 đã luôn giúp đỡ, động viên, khích lệtôi trong suốt thời gian vừa qua
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2015
Tác giả luận văn
Dương Thị Sinh
Trang 6Số hóa bởi Trung
tâm Học liệu –
ĐHTN ii
h ttp : // w w w .
l rc t n u e du .v n
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC .iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của đề tài 8
7 Cấu trúc của luận văn 8
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 9
1.1 Những vấn đề về ngữ pháp tiếng Việt
9 1.1.1 Từ 9
1.1.2 Cụm từ 10
1.1.3 Giới ngữ 13
1.1.4 Câu 13
1.1.5 Văn bản 16
1.2 Những vấn đề về phong cách học 21
1.2.1 Khái niệm phong cách học 21
1.2.2 Các phong cách chức năng trong tiếng Việt 21
1.3 Những vấn đề về báo chí và sự phân biệt báo với tạp chí
24 1.3.1 Khái quát về báo chí 24
1.3.2 Phân biệt báo và tạp chí 25
Trang 91.4.1 Khái niệm 28
1.4.2 Tính chất 28
1.4.3 Chức năng 29
1.4.4 Cấu trúc của tít 30
1.4.5 Những loại tít thường gặp 30
1.4.6 Các loại tít mắc lỗi 31
1.5 Tiểu kết 31
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM CÁC TÍT BÀI TRÊN TẠP CHÍ KHOA HỌC XÉT VỀ HÌNH THỨC 32
2.1 Đặt vấn đề 32
2.2 Cấu trúc ngữ pháp của tít 33
2.2.1 Tít được thể hiện bằng từ 33
2.2.2 Tít được thể hiện bằng cụm từ 33
2.2.3 Tít được thể hiện bằng giới ngữ 38
2.2.4 Tít được thể hiện bằng câu 38
2.2.5 Tít có cấu trúc đặc biệt 41
2.3 Các thủ pháp đặt tít thường gặp (các loại tít thường gặp) 42
2.3.1 Dùng các đơn vị của ngôn ngữ dân gian 43
2.3.2 Dùng biện pháp tu từ 44
2.3.3 Dựa theo tên các tác phẩm văn học, ca khúc nổi tiếng hoặc nương theo ý thơ, danh ngôn… 44
2.3.4 Dùng con số để nhấn mạnh 45
2.3.5 Dùng cấu trúc bỏ lửng 45
2.3.6 Tạo ra những cấu trúc mới, lạ, bất thường 47
2.3.7 Đặt ra những câu hỏi 47
2.3.8 Dùng kết cấu A:B, A-B 48
2.3.9 Đặt tít theo mô típ nhất định 49
2.3.10 Các thủ pháp đặt tít khác 53
Trang 102.4 Các tít mắc lỗi 54
2.4.1 Tít mơ hồ 54
2.4.2 Tít có độ dài quá lớn 54
2.4.3 Tít rập khuôn 56
2.5 Tiểu kết 56
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM CÁC TÍT BÀI TRÊN TẠP CHÍ KHOA HỌC XÉT VỀ NGỮ NGHĨA 58
3.1 Đặt vấn đề 58
3.2 Tít thể hiện nội dung dẫn nhập 60
3.3 Tít thể hiện quan hệ với Sa-pô (Chapeau) 62
3.4 Tít phản ánh kết luận 65
3.5 Tít định hướng nghiên cứu 67
3.6 Tít thể hiện một nội dung chính 69
3.7 Tít thể hiện nội dung tổng thể 71
3.8 Tiểu kết 73
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78 PHỤ LỤC
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Bảng thống kê các cấu trúc ngữ pháp của tít bài trên tạp chí
khoa học 32Bảng 2.2 Bảng thống kê các kiểu câu chia theo mục đích nói 39Bảng 2.3 Bảng thống kê các thủ pháp đặt tít thường gặp trên tạp chí khoa
học 42Bảng 3.1 Bảng kết quả khảo sát thể hiện đặc điểm ngữ nghĩa của các tít
bài trên tạp chí khoa học 59
Trang 121 Lí do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
Trang 13Các ấn phẩm xuất bản định kì (báo, tạp chí) là sản phẩm của nhữngphương tiện truyền thông vốn rất cần thiết cho mọi đối tượng bạn đọc rộng rãitrong xã hội Các ấn phẩm đó không chỉ phản ánh thông tin một cách nhanhchóng, kịp thời với nội dung đa dạng, phong phú, mà còn cung cấp một lượngtri thức khoa học trong nhiều lĩnh vực Trong các báo chí đa dạng đó, tạp chíkhoa học (hiện tại chiếm một tỉ lệ đáng kể trong số hơn 800 ấn phẩm báo chí
ở Việt Nam) đang có sự phát triển mạnh mẽ, đáp ứng nhu cầu thông tin khoahọc về những kết quả nghiên cứu, trao đổi, phê bình… trong mọi lĩnh vựckhoa học
Trong cấu trúc văn bản nói chung, văn bản báo chí nói riêng, tít (tiêu đề,đầu đề ) là bộ phận giữ một vai trò quan trọng Nó là yếu tố đầu tiên được vínhư cánh cửa để độc giả bước vào văn bản, quyết định sự lựa chọn của độc giảđọc hay không đọc văn bản đó Việc đặt tít như thế nào cho hay, cho hấp dẫn
và lôi cuốn người đọc luôn là một vấn đề đặt ra cho các nhà báo Có một thực
tế là, nhiều tít báo hiện nay chưa đảm bảo được tính hấp dẫn, lôi cuốn, thậm chícòn mắc lỗi, đặc biệt là lỗi trong sử dụng ngôn ngữ
Tuy nhiên, nghiên cứu tít báo về phương diện ngôn ngữ lại chưa đượcquan tâm nhiều Đã có một số công trình nghiên cứu về đặc điểm tít báonhưng phần thì tiến hành khảo sát trong phạm vi quá hẹp, phần lại quá dàntrải nên kết quả nghiên cứu còn những hạn chế nhất định, chưa làm nổi rõđược đặc điểm ngôn ngữ tít báo Mặt khác, cho đến nay, chưa có công trìnhnào nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ tít trên tạp chí khoa học - một loại tạpchí có những đặc thù riêng, đòi hỏi cao về tính chất chuyên sâu cũng nhưtrình độ của đối tượng bạn đọc
Trong các tạp chí khoa học, tạp chí thuộc chuyên ngành ngôn ngữchiếm một số lượng đáng kể Hiện nay, ngoài 3 tạp chí chuyên ngành ngôn
Trang 14ngữ được tính điểm cao nhất (Ngôn ngữ, Từ điển học & Bách khoa thư,Ngôn ngữ & Đời sống) còn khá nhiều các tạp chí khoa học khác (của cáctrường, các viện nghiên cứu có đăng tải các công trình ngôn ngữ học).Chính vì vậy mà nghiên cứu ngôn ngữ tít trên tạp chí khoa học, và cụ thể làcác tạp chí thuộc lĩnh vực ngôn ngữ học, là công việc vô cùng cần thiết, có
ý nghĩa lí luận và thực tiễn cao Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài:
“Đặc điểm ngôn ngữ của các tít bài trên tạp chí khoa học” làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn của mình
2 Lịch sử nghiên cứu
Trong những năm gần đây, sự phát triển vượt bậc của báo chí đã chứng
tỏ tầm quan trọng của mình đối với đời sống, xã hội trong tư cách là cơ quanquyền lực thứ tư, thì ngôn ngữ báo chí cũng ngày càng thu hút được sự quantâm của của các nhà nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau
Tác giả Hà Minh Đức (trong cuốn Cơ sở lí luận báo chí, đặc tính chung
và phong cách, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000) cho rằng, ngôn ngữ báo
chí và ngôn ngữ văn học đều là những ngôn ngữ có tính chuẩn mực cao Đồngthời khẳng định, ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ chính luận, đảm nhiệm chứcnăng chính là chức năng thông tin
Còn tác giả Hoàng Anh (trong Một số vấn đề sử dụng ngôn từ trên báo
chí, Nxb Lao động, 2003) lại quan tâm đến tính sự kiện của ngôn ngữ báo chí,
coi đây là nét đặc trưng bao trùm của ngôn ngữ báo chí
Tác giả Nguyễn Tri Niên (trong Ngôn ngữ báo chí, Nxb Đồng Nai,
2003) đã căn cứ vào bản chất của thông tin báo chí mà không căn cứ vào bảnchất nội tại của ngôn ngữ để chỉ ra đặc điểm của ngôn ngữ báo chí, do tác giảphân biệt quá rạch ròi ngôn ngữ và ngôn ngữ báo chí nên quan điểm này cònnhiều hạn chế
Tác giả Vũ Quang Hào - người có nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu
và giảng dạy trong lĩnh vực báo chí (trong cuốn Ngôn ngữ báo chí, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2004) đã đưa ra được những nhận định, quan điểm rất có
Trang 15giá trị về ngôn ngữ báo chí, trong đó có đề cập đến đặc điểm của tít báo màchúng tôi sẽ trình bày cụ thể ở những phần tiếp theo.
Trần Thanh Nguyện, Đặc điểm ngôn ngữ của các văn bản báo chí, luận
văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, 2004 Kết quả nghiên cứu củaluận văn này có những giá trị nhất định trong việc làm nổi rõ đặc điểm ngônngữ báo chí nói chung
Tác giả Nguyễn Đức Dân (trong cuốn Ngôn ngữ báo chí, những vấn đề
cơ bản, Nxb Giáo dục, 2007) đã trình bày những vấn đề cơ bản nhất của ngôn
ngữ báo chí, đặc điểm và khả năng hoạt động của tiếng Việt trong phong cáchngôn ngữ báo chí Đây là công trình có ý nghĩa thiết thực đối với những ngườinghiên cứu ngôn ngữ báo chí và nhất là những người làm báo
Trên đây, chúng tôi chỉ điểm qua một số công trình nghiên cứu về ngônngữ báo chí, mà những công trình này ít nhiều có liên quan đến việc nghiên cứungôn ngữ tít của văn bản báo chí Bởi lẽ, tít là một bộ phận của văn bản báochí, có liên kết chặt chẽ với nội dung văn bản nên dù độc lập hơn so với các bộphận khác của văn bản thì vẫn phải tuân theo những chuẩn mực và quy tắc nhấtđịnh của ngôn ngữ báo chí
Những công trình thực sự nghiên cứu về tít của văn bản báo chí tuy
có tăng trong những năm gần đây nhưng vẫn còn ít ỏi và nhỏ lẻ Hầu hếtcác công trình chỉ nghiên cứu ở một khía cạnh nào đó, một số công trìnhlại nghiên cứu tít báo chí tiếng Việt trong sự so sánh với tiếng Anh, tiếngNga - những ngôn ngữ biến hình có nhiều đặc điểm riêng về từ vựng, ngữ
âm và ngữ pháp so với ngôn ngữ đơn lập nên kết quả nghiên cứu cũng chỉ
áp dụng được ở một chừng mực nhất định Có thể kể tới một số công trìnhtiêu biểu sau:
Tác giả Bùi Khắc Việt (trong bài Phong cách ngôn ngữ trong tên các bài
báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tạp chí Ngôn ngữ số 1,1978) mới dừng lại ở
việc khảo sát chứ chưa đi đến những kết luận từ góc độ ngôn ngữ
Trang 16Còn tác giả Hồ Lê (trong bài viết Nhờ đâu những tiêu đề bài viết có sức
hấp dẫn, Ngôn ngữ, số 1, 1982) đã phân tích một cách sâu sắc nguyên nhân
làm nên tính hấp dẫn của tiêu đề văn bản dựa trên sự khảo sát tiêu đề các bàibáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tác giả Nguyễn Đức Dân (trong Dấu ngoặc kép trong những đề báo, báo
Kiến thức ngày nay, số 218, 1996) thì chỉ đơn thuần bàn về vai trò của dấungoặc kép trong những đề báo (theo cách gọi của tác giả)
Tác giả Trịnh Sâm (trong cuốn Tiêu đề văn bản tiếng Việt, Nxb Giáo
dục, 2000) đã miêu tả một cách khá toàn diện về tiêu đề văn bản tiếng Việt nóichung, tiêu đề văn bản báo chí nói riêng trên cơ sở khảo sát khá nhiều tiêu đềcủa nhiều thể loại báo chí như thể loại phóng sự, thể loại tin tức… Tuy nhiên,tác giả mới chỉ khái quát đặc điểm chung của tiêu đề các thể loại báo chí màchưa có sự phân tích một cách chi tiết, sâu sắc về tiêu đề văn bản báo chí dướigóc nhìn ngôn ngữ học
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương (trong bài viết Một số nhận xét về đặc
điểm ngôn ngữ của các đầu đề trong báo chí tiếng Anh hiện đại, tạp chí Ngôn
ngữ số 9+10, 2001) đã khảo sát khái quát được một cách tương đối toàn diện vềnhững đặc điểm ngôn ngữ trên các đầu đề trong báo chí tiếng Anh hiện đại.Đây là một công trình được đánh giá là có tính hệ thống cao
Cùng tác giả này còn có bài viết Trích dẫn trong tiếng Anh in trên Tạp
chí Ngôn ngữ số 14, 2002 Trong bài viết này, tác giả lại đề cập đến một khíacạnh khác trong tiêu đề báo chí tiếng Anh, đó là loại tiêu đề trích dẫn
Với bài viết Đôi điều nên biết về tiêu đề báo chí tiếng Anh và tiếng Việt
(tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 10, 2003), tác giả Nguyễn Thị Vân Đông đãgiới thiệu một số nét về đặc điểm của tiêu đề và những kĩ năng viết tiêu đề báocủa báo chí phương Tây, có trích dẫn các cứ liệu trong báo chí tiếng Anh và sosánh với tiếng Việt
Trang 17Cùng tác giả này trong bài viết Tiêu đề báo tiếng Anh và tiếng Việt dạng
ngữ cố định cũng có những nhận định đáng chú ý về việc sử dụng ngữ cố định
để đặt tiêu đề cho bài báo Theo tác giả, các nhà báo đã khai thác rất triệt để và
có hiệu quả ngữ cố định vào việc đặt tiêu đề nhằm đáp ứng tốt yêu cầu về chứcnăng và đặc điểm của ngôn ngữ báo chí
Dù đạt được những thành tựu nhất định, nhưng như đã nói ở trên, cáccông trình này cũng chỉ có ý nghĩa như một chỉ dẫn giúp cho việc nghiên cứungôn ngữ báo chí tiếng Việt
Tác giả Trần Thanh Nguyên (trong bài viết Về kiểu tiêu đề mô phỏng
trên các văn bản báo chí, tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 10, 2003) đã có
những cố gắng trong việc làm phong phú thêm cho diện mạo của những nghiêncứu về tiêu đề báo chí nhưng công trình này cũng như nhiều công trình khác,mới chỉ dừng lại ở một khía cạnh nhỏ của tiêu đề báo chí
Ở một phương diện khác, tác giả Hoàng Anh (trong cuốn Một số vấn đề
sử dụng ngôn từ trên báo chí, Nxb Lao động, 2003) lại tiến hành phân loại tiêu
đề báo chí thành một số kiểu cơ bản dựa trên cách nhìn tổng thể về các phươngdiện ý nghĩa và chức năng của tiêu đề báo chí
Tác giả Vũ Quang Hào dành hẳn một phần trong cuốn Ngôn ngữ báo chí
để nói về tít báo Thuật ngữ “tít” còn có nhiều tên gọi khác như tiêu đề, nhan
đề, đầu đề… nhưng ông sử dụng thuật ngữ tít, bởi theo ông, “tít” vừa là mộtthuật ngữ của báo chí, lại là một từ nghề nghiệp được dùng rất phổ biến Ngoài
ra, thuật ngữ “tít” còn mang tính quốc tế, đồng thời có khả năng phái sinh caohơn các thuật ngữ khác nên thuận tiện trong sử dụng, có khả năng gọi tên cáckhái niệm phái sinh và tên các thao tác trong xử lí tít Chúng tôi cũng đồng tình
và chấp nhận cách gọi này của Vũ Quang Hào
Tác giả Nguyễn Đức Dân, (trong bài Ý tại ngôn ngoại, những thông tin
chìm trong ngôn ngữ báo chí, Tạp chí ngôn ngữ số 10, 2004) đã có những nhận
xét trên phương diện ngữ dụng đối với tiêu đề báo chí dựa vào sự khảo sát việc
sử dụng các lời bài hát, các câu thành ngữ, tục ngữ trong đặt tiêu đề báo chí
Trang 18Trong một nghiên cứu (Từ trái nghĩa trong các tiêu đề báo chí Nga, tạp
chí Ngôn ngữ số 1, 2007), tác giả Vũ Thị Chín đã chỉ ra rằng, sử dụng từ tráinghĩa là một thủ pháp đặt tiêu đề được yêu thích và phổ biến trong các tiêu đềbáo chí tiếng Nga
Tác giả Lê Đình (trong bài “Mèo Trạng Quỳnh ăn rau” không phải là
“mèo ăn rau” Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống, số 1+2, 2009) lại nêu và phê
phán sự lẫn lộn giữa các kiểu định danh trong rất nhiều tiêu đề báo chí dẫn đếnnhững nhận thức sai lệch về nội dung bài báo Từ việc coi mối quan hệ giữatiêu đề với nội dung bài báo là “mối quan hệ giữa phần tóm lược, phần tổng thểvới phần miêu tả và thuyết minh về nó”, tác giả đã đưa ra những góp ý về cáchđặt tiêu đề sao cho tiêu đề đó phải phản ánh đúng hiện thực trong phần nộidung văn bản báo chí
Luận văn Đặc điểm của tiêu đề văn bản trong thể loại tin tức của Trần
Thị Thanh Thảo (Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, 2013) đã nghiên cứu tiêu
đề ở phương diện ngôn ngữ học trong sự giao nhau với các phương diện khácnhư xã hội học và kí hiệu học, nhưng đây là một công trình nghiên cứu tiêu đềvăn bản báo chí ở thể loại tin tức, một thể loại báo có nhiều tính chất khác biệt
so với tạp chí khoa học ở cả nội dung, hình thức cũng như các đặc điểm về cáchthức sử dụng ngôn ngữ
Nghiên cứu tít của một văn bản nói chung, tít của văn bản báo chí nóiriêng có thể dựa trên nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa
có công trình nào nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ tít trên tạp chí khoahọc, một loại tạp chí có những đặc thù riêng so với các thể loại báo chíkhác Chính vì vậy, chúng tôi chọn đặc điểm ngôn ngữ tít trên tạp chí khoahọc - một lĩnh vực còn nhiều bỏ ngỏ và khá mới mẻ cho đến nay, làm đề tàinghiên cứu của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích tìm ra đặc điểm về cấu trúc vàngữ nghĩa của tít trên tạp chí khoa học, thấy được thực trạng, xu hướng đặt títhiện nay
Trang 19- Nghiên cứu đề tài này còn nhằm mục đích đóng góp, bổ sung thêm vàokho tàng lí luận về ngôn ngữ báo chí nói chung, ngôn ngữ tít báo nói riêng, cụthể là ngôn ngữ tít trên tạp chí khoa học, một lĩnh vực cho đến nay vẫn chưađược khảo cứu đầy đủ.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, luận văn trình bày một cách hệ thống các vấn đề lí luận có liênquan đến đề tài
Thứ hai, luận văn khảo sát các tít bài trên tạp chí khoa học mà cụ thể làtrên tạp chí Ngôn ngữ, tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống, tạp chí Từ điển học &Bách khoa thư
Thứ ba, trên cơ sở miêu tả, luận văn sẽ phân tích, chỉ ra các đặc điểm vềcấu trúc và ngữ nghĩa của các tít bài trên tạp chí khoa học để có những địnhhướng cho việc đặt tít báo khoa học sao cho phù hợp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Do hầu hết các ngành khoa học và viện nghiên cứu đều có tạp chí khoahọc chuyên ngành của mình nên số lượng các tạp chí khoa học là rất lớn Bởivậy, chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu đặc điểm tít của các bài báo trên ba tạpchí: Tạp chí Ngôn ngữ (TC NN), Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống (TC NN&ĐS),Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư (TC TĐH & BKT) trong ba năm 2011,
2012, 2013 Đây là những tạp chí đăng tải các bài viết có tính chất nghiên cứuchuyên sâu về ngôn ngữ nên càng đòi hỏi khắt khe trong việc sử dụng ngônngữ trên mọi phương diện Do vậy, lựa chọn ba tạp chí này càng làm tăng tínhcấp thiết và ý nghĩa lí luận cũng như thực tiễn của luận văn
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này là đặc điểm ngôn ngữ học của các títbài trên tạp chí khoa học, nhưng chỉ xét đến đặc điểm cấu trúc và đặc điểm ngữnghĩa của các tít
Trang 205 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp thống kê, phân loại: Phương pháp này được sử dụng đểthống kê số lần xuất hiện và phân loại các tít theo những tiêu chí nhất định
Phương pháp miêu tả: Phương pháp này được dùng để miêu tả đặc điểm
về cấu trúc và ngữ nghĩa của các tít báo
Phương pháp phân tích diễn ngôn: Phương pháp quan trọng nhất để chỉ
ra mối quan hệ, vai trò của tít trong cấu trúc tổng thể một bài báo khoa học
6 Đóng góp của đề tài
Về mặt lí luận Trên cơ sở tham khảo những nguồn tài liệu và các
công trình nghiên cứu về ngôn ngữ báo chí, đề tài có sự phân tích đầy đủ, chitiết và sâu sắc về một khía cạnh của ngôn ngữ báo chí, cụ thể là ngôn ngữ títbáo Do vậy, ở mức độ nào đó, kết quả nghiên cứu của đề tài này sẽ gópphần làm phong phú thêm lí luận về ngôn ngữ báo chí nói chung, ngôn ngữtít báo nói riêng
Về mặt thực tiễn Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ giúp ích nhiều cho
những người trực tiếp làm công tác biên tập, viết báo Đồng thời, luận văn sẽ làtài liệu tham khảo cho những người nghiên cứu, sinh viên và tất cả những aiquan tâm đến ngôn ngữ báo chí nói chung, ngôn ngữ tít báo nói riêng
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, nộidung luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Đặc điểm các tít bài trên tạp chí khoa học xét về mặthình thức
Chương 3: Đặc điểm các tít bài trên tạp chí khoa học xét về mặtngữ nghĩa
Trang 21Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Những vấn đề về ngữ pháp tiếng Việt
Vì cấu trúc cú pháp của tít có thể là cụm từ, giới ngữ, câu hay một kếtcấu đặc biệt nên chúng tôi thấy cần thiết phải trình bày một số khái niệm cóliên quan đến các đơn vị ngữ pháp này để làm cơ sở cho phần khảo sát và kiếngiải ở những phần sau
1.1.1 Từ
Định nghĩa về từ tương đối thống nhất giữa các nhà nghiên cứu
Trong từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, từ được định nghĩa là “đơn vị
ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn định dùng để đặt câu”
[34, tr.1372]
Diệp Quang Ban cũng cho rằng “từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất mà có
nghĩa và có thể hoạt động tự do (trong câu)” [4, tr 43]
Theo cuốn Từ vựng, ngữ nghĩa, tiếng Việt của Đỗ Hữu Châu: “Từ của
tiếng Việt là một hoặc một số ấm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [6, tr 8].
Dựa vào mặt cấu tạo có thể phân loại từ tiếng việt thành hai loại: Từ đơn
và từ phức (từ láy và từ ghép)
Theo Đỗ Hữu Châu, từ đơn là những từ một hình vị Về mặt ngữnghĩa, chúng không lập thành những hệ thống có một kiểu ngữ nghĩachung Chúng ta chỉ lĩnh hội và ghi nhớ nghĩa của từng từ một cách riêng
rẽ Kiểu cấu tạo không đóng vai trò gì đáng kể trong việc lĩnh hội ý nghĩacủa từ Từ phức bao gồm hai tiểu loại: từ láy và từ ghép Từ láy là những từđược cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay
bộ phậ ức âm tiết của mộ ị hay đơn vị có nghĩa Từ ghépđược sản sinh do sự kết hợp hai hoặc một số hình vị (hay đơn vị cấu tạo)tách biệt, riêng rẽ, độc lập đối với nhau
Trang 22Vì có rất ít tít có cấu trúc cú pháp là từ nên chúng tôi không đi sâuvào nội dung này.
1.1.2 Cụm từ
Khi các từ kết hợp với nhau theo những quan hệ nhất định chúng ta sẽ cócác đơn vị cú pháp Đơn vị cú pháp nhỏ nhất trong tiếng Việt là cụm từ
Khác với từ, cụm từ được định nghĩa khác nhau ở một số tác giả:
“Đơn vị ngữ pháp trung gian giữa từ và câu” [34, tr.894]
“Cụm từ là những kiến trúc gồm hai từ trở lên kết hợp “tự do” với nhau
theo những quan hệ ngữ pháp hiển hiện nhất định và không chứa kết từ ở đầu (để chỉ chức vụ ngữ pháp của kiến trúc này)” [4, tr 6]
Rõ ràng, định nghĩa thứ hai đầy đủ và dễ hiểu hơn định nghĩa thứ nhất.Bởi nếu coi cụm từ là đơn vị ngữ pháp trung gian giữa từ và câu thì các tổhợp từ chưa thành câu như ngữ cố định, giới ngữ sao không gọi là cụm từ?Cụm từ phân biệt với ngữ cố định ở tính kết hợp tự do hay không tự do giữacác từ và phân biệt với giới ngữ ở chỗ có chứa hay không chứa kết từ ở đầucủa tổ hợp từ Vì thế, chúng tôi chấp nhận và sử dụng định nghĩa của DiệpQuang Ban về cụm từ Các thành tố trong một cụm từ tiếng Việt có thể cómột trong ba quan hệ sau:
Quan hệ chủ - vị là quan hệ giữa chủ ngữ với vị ngữ
Quan hệ chính phụ là quan hệ giữa thành tố chính với thành tố phụ
Quan hệ đẳng lập là quan hệ giữa hai yếu tố bình đẳng với nhau vềngữ pháp
Ba kiểu cụm từ này có vai trò không hoàn toàn như nhau trong vi ệcnghiên cứu cú pháp học Cụm chủ - vị thường làm nòng cốt trong câu đơnnên nó được xem xét kĩ hơn khi nghiên cứu về câu Còn cụm từ đẳng lập
thì “về mặt cú pháp quan hệ này vốn “lỏng lẻo” không có những “quy
tắc” cứng rắn” [4, tr 14] nên chúng tôi cũng không đi sâu vào nội dung
này Riêng cụm từ chính phụ, do có tính chất riêng biệt nên việc phân tích
Trang 23nó không chỉ giúp ta phân xuất được các từ làm thành tố phụ của từ làmthành tố chính mà ta còn có thể phân định được nhiều từ loại, nhiều tiểuloại của từ, nắm được cách mở rộng, rút gọn câu Vì vai trò quan trọngcủa cụm từ chính phụ nên nó được nghiên cứu rất kĩ trong ngữ pháp tiếngViệt Cụm từ chính phụ thường được gọi tên theo từ loại của thành tốchính trong cụm.
Cụm danh từ có danh từ làm thành tố chính (còn gọi là danh ngữ, ngữ
danh từ) Ví dụ: mấy bông hoa, hai quyển sách kia
Ở dạng đầy đủ, cụm danh từ gồm ba phần, được kết hợp ổn định vớinhau theo thứ tự: phần phụ trước + danh từ trung tâm + phần phụ sau Phần phụtrước và phần phụ sau của danh ngữ chứa các thành tố phụ cho danh từ, đó làthành phần định tố
- Phần phụ trước có cấu trúc tối đa gồm ba định tố: Đ1 + Đ2 + Đ3
+ Đ1 là các đại từ chỉ tổng lượng: tất cả, tất thảy, hết thảy, cả…
+ Đ2 là vị trí của các phó từ chỉ lượng và các số từ: mấy, những, các,
một, mọi, mỗi, vài, dăm…
+ Đ3 là định tố đứng ngay trước danh từ trung tâm, là vị trí của từ cái
chỉ xuất
Trang 24- Phần phụ sau có cấu trúc tối đa gồm ba định tố: Đ4 + Đ5 +Đ6
+ Đ4 là định tố đứng ngay sau danh từ trung tâm để bổ sung ý nghĩahạn định
+ Đ5 cũng là định tố đứng sau danh từ trung tâm để bổ sung thêm ýnghĩa hạn định Điểm khác nhau giữa Đ4 và Đ5 là: Đ4 nêu đặc trưng thườngxuyên, còn Đ5 biểu thị đặc trưng không thường xuyên
+ Đ6 là định tố biểu thị sự chỉ định về không/thời gian đối với danh từ
trung tâm, do vậy ở vị trí này luôn là các đại từ chỉ định: này, kia, ấy, nọ, đó…
b Cụm động từ
Cụm động từ (còn gọi là động ngữ) là loại cụm từ chính phụ, trong đóthành tố trung tâm là động từ còn các thành tố phụ có chức năng bổ sung ýnghĩa về cách thức, mức độ, thời gian, địa điểm… cho động từ trung tâm đó
Cụm động từ cũng gồm ba phần, được kết hợp ổn định với nhau theothứ tự: phần phụ trước + trung tâm + phần phụ sau (B1+T+B2)
Trung tâm (T) của động ngữ có thể là một động từ nhưng cũng có thể là
một vài động từ (kể cả động từ không độc lập).Ví dụ: không dám ở một mình.
Hoặc là một kết cấu đặc trưng của tiếng Việt (gọi là kết cấu khứ hồi)
Ví dụ: đi làm về, vào lớp ra, xuống dưới nhà lên
Cũng có khi, thành phần trung tâm là một phó từ lâm thời chuyển thành
Phần phụ sau (B2) có thể là:
+ Các phó từ có chức năng biểu thị sự hoàn thành Ví dụ: Việc anh giao
tôi đã làm xong.
Trang 25+ Các phó từ có chức năng chỉ phương hướng hoặc kết quả
Ví dụ: Không tìm ra sai sót gì ở đây.
+ Các từ tình thái có chức năng tạo câu theo mục đích thông báo
Ví dụ: Khởi hành nào!
+ Các thực từ (danh từ, động từ, tính từ…) có chức năng biểu thị đối
tượng, cách thức, mức độ, địa điểm, thời gian Ví dụ: học đàn, nghe hát
+ Các kết cấu đặc trưng Ví dụ: cấm đổ rác bừa bãi
c Cụm tính từ
Cụm tính từ (còn gọi là tính ngữ) là loại cụm chính phụ có tính từ làmthành tố trung tâm và một hoặc một số thành tố phụ Xét về mặt cấu tạo, cụmtính từ khá giống với cụm động từ và cũng gồm ba phần được sắp xếp theo thứ
tự phần phụ trước + trung tâm + phần phụ sau (B1+T+B2)
Các tính ngữ ít khi được dùng để đặt tên cho tít nên chúng tôi không đisâu phân tích kết cấu của cụm tính từ
1.1.3 Giới ngữ
Như đã nói, các từ kết hợp với nhau một cách có tổ chức sẽ tạo ra các tổhợp từ Các tổ hợp từ có thể là một câu hoặc kiến trúc tương đương với câunhưng chưa thành câu Các tổ hợp từ chưa thành câu được gọi chung là tổ hợp
từ tự do Các tổ hợp từ này có thể chứa kết từ ở đầu để chỉ chức vụ ngữ phápcủa toàn bộ phần còn lại trong tổ hợp từ này Những tổ hợp từ có chứa kết từ ởđầu như vậy được gọi là giới ngữ
Ví dụ: Về việc ta đã bàn hôm qua, khi tôi đến thành phố này…
1.1.4 Câu
1.1.4.1 Khái niệm
Câu là đơn vị rất phức tạp trong ngữ pháp tiếng Việt Có rất nhiều côngtrình nghiên cứu về câu, theo đó, câu được định nghĩa rất khác nhau Có thểquy vô số các định nghĩa về câu theo hai khuynh hướng chính trong cách địnhnghĩa về câu như sau:
Trang 26Khuynh hướng định nghĩa câu dựa vào ý nghĩa và hình thức
Khuynh hướng này thể hiện ở ba cách định nghĩa:
Dựa vào mặt ý nghĩa: Coi “câu là tổ hợp của các từ biểu thị một tư
tưởng trọn vẹn” [42, tr 138] Việc xác định câu theo định nghĩa này là không
thuận lợi vì thật khó xác định thế nào là “một tư tưởng trọn vẹn” Và những
câu tỉnh lược sẽ không được coi là câu nữa vì chúng đều không biểu thị một tưtưởng trọn vẹn
Dựa vào mặt hình thức:
Dựa vào hình thức bên ngoài: “Câu là chuỗi từ nằm giữa hai dấu chấm
hoặc hai chữ cái hoa” [dẫn theo 45, tr 38].
Dựa vào hình thức bên trong: “Tất cả những kết hợp có chứa vị ngữ hoặc
chỉ ra những vị ngữ bị lược bỏ bằng thành phần hình thức của mình, hoặc chỉ gồm một vị ngữ sẽ được chúng tôi gọi là câu” [dẫn theo 45, tr 38].
Cách định nghĩa dựa vào dấu câu được coi là tiện lợi và phù hợp với thực
tế xác định câu hơn cả Nhưng về lí thuyết, nó bị phê phán là chưa chỉ ra đượcđặc điểm cấu trúc và chức năng của câu
Dựa cả vào hình thức và ý nghĩa: Đi theo hướng này, Diệp Quang Ban
định nghĩa câu như sau: “Câu là đơn vị của ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên
trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói hoặc có thể kèm theo sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm”
[4, tr 107]
Cũng như nhiều tác giả khác, Diệp Quang Ban cố gắng tạo ra định nghĩađầy đủ, toàn diện về câu Tuy nhiên, định nghĩa trên chỉ áp dụng được vớinhững câu điển hình còn những câu thiếu tính trọn vẹn về ngữ pháp và nghĩa sẽnằm ngoài đối tượng của định nghĩa này
Hướng định nghĩa câu dựa vào khối lượng và chức năng
Trang 27Khuynh hướng này định nghĩa câu trong mối quan hệ hệ thống với các
đơn vị ngôn ngữ khác Cụ thể: “Câu là kiểu đơn vị nhỏ nhất mà có thể mang
một thông báo tương đối hoàn chỉnh” [7, tr 363].
Định nghĩa này không nêu được dấu hiệu hình thức đặc trưng của câunhưng đây là định nghĩa mang tính hệ thống rõ rệt nhất, cho phép xác định câu,phân biệt nó với những đơn vị nhỏ hơn và lớn hơn Đây cũng là định nghĩangắn gọn, dễ nhớ
Như vậy, định nghĩa câu là vấn đề rất khó khăn, phức tạp Cho đếnnay, vẫn chưa có cách định nghĩa câu thỏa mãn tất cả hoặc hầu hết các nhàngữ pháp Để có được một định nghĩa chính xác, đầy đủ, toàn diện về câucòn cần nhiều tâm sức của các nhà nghiên cứu Ở luận văn này, chúng tôi
sử dụng định nghĩa của tác giả Nguyễn Tài Cẩn về câu, đó là: “Câu là kiểu
đơn vị nhỏ nhất mà có thể mang một thông báo tương đối hoàn chỉnh” (7,
tr 363) Định nghĩa này vừa mang tính hệ thống lại ngắn gọn, dễ nhớ Mặtkhác, nhược điểm không nêu được dấu hiệu hình thức đặc trưng của câucũng không ảnh hưởng đến việc khảo sát đặc điểm hình thức cũng như ngữnghĩa của các tít báo
1.1.4.2 Phân loại câu
Sự phân loại câu trong ngôn ngữ học cũng khá phức tạp Mỗi quan điểmlại dựa vào những tiêu chuẩn rất khác nhau
- Theo cấu tạo ngữ pháp, câu được phân thành câu đơn, câu phức thànhphần và câu ghép
Câu đơn là câu chỉ có một cụm chủ - vị và chính cụm chủ - vị này giữ vaitrò là nòng cốt câu
Câu phức thành phần là câu gồm từ hai cụm chủ - vị trở lên, trong đó chỉ
có một cụm chủ - vị làm nòng cốt câu, những cụm chủ - vị còn lại đều bị baohàm bên trong nòng cốt câu
Trang 28Câu ghép là câu gồm từ hai cụm chủ - vị trở lên, mỗi cụm chủ - vị trong
số đó có tư cách một nòng cốt câu, tức là không cụm chủ - vị nào bao hàm cụmchủ - vị nào Chúng dường như được ghép lại, kết nối lại để tạo thành một câu
- Theo mục đích nói, người ta thường chia câu thành bốn loại: Câu trầnthuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến và câu cảm thán
Câu trần thuật được dùng để kể, xác nhận (là có hay không có), mô tảmột vật với các đặc trưng của nó hoặc một sự kiện với các chi tiết nào đó
Câu nghi vấn thường được dùng để nêu lên điều chưa biết hoặc hoài nghi
và chờ đợi sự trả lời, giải thích của người tiếp nhận câu đó
Câu cầu khiến được dùng để bày tỏ ý muốn nhờ hay bắt buộc người nghethực hiện điều được nêu lên trong câu
Câu cảm thán được dùng khi cần thể hiện đến một mức độ nhất địnhnhững tình cảm khác nhau, thái độ đánh giá, những trạng thái tinh thần khácthường của người nói đối với sự vật hay sự kiện mà câu nói đề cập hoặc ám chỉ
Ở luận văn này, chúng tôi chỉ khảo sát theo hai cách phân loại trên Cònnhiều cách phân loại câu khác nhưng luận văn chưa có điều kiện đi sâu
1.1.5 Văn bản
1.1.5.1 Khái niệm
Trong ngôn ngữ học, văn bản được định nghĩa rất khác nhau
Đinh Trọng Lạc quan niệm văn bản “là một thể thống nhất toàn vẹn
được xây dựng theo những quy tắc nhất định” [26, tr.34]
Hữu Đạt thì coi “văn bản là một tập hợp các câu (hay phát ngôn) được
kết hợp với nhau theo một phương thức nhất định đảm bảo cho việc truyền đạt thông tin có hiệu quả và chính xác” [13, tr.68]
Định nghĩa của Trần Ngọc Thêm có phần đơn giản hơn: “Văn bản là
chỉnh thể thống nhất và trọn vẹn về nội dung và hình thức” Ông cũng giải
thích thêm: “Văn bản là một hệ thống mà trong đó các câu mới chỉ là các phần
tử Ngoài các câu-phần tử, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc Cấu trúc
Trang 29của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ ấy.” [45, tr 19]
Hiện nay, văn bản được quan niệm là đơn vị cao nhất của ngôn ngữ.Theo đó, văn bản là một chỉnh thể gồm một hay nhiều đoạn văn được liên kếtchặt chẽ với nhau để thể hiện một nội dung hoàn chỉnh chung
1.1.5.2 Tính liên kết của văn bản
Một chuỗi câu hỗn độn, rời rạc không thể tạo thành văn bản mà cần cótính tổ chức chặt chẽ, tức là các câu phải có sự liên kết với nhau Theo TrầnNgọc Thêm, những mối liên hệ qua lại phức tạp giữa các câu tạo thành mộtmạng lưới Chính nhờ mạng lưới này mà các câu gắn bó lại với nhau để tạo
thành văn bản Và ông cho rằng “mạng lưới các mối liên hệ giữa các câu trong
một văn bản như thế gọi là tính liên kết của nó” [45, tr 19]
Tính liên kết có khả năng rất lớn, nó là nhân tố quan trọng biến mộtchuỗi câu hỗn độn thành một văn bản Sự liên kết trong văn bản được thể hiệndưới hai dạng: Liên kết nội dung và liên kết hình thức
Liên kết hình thức: Là sự liên kết được thể hiện trên bề mặt của văn bản
Đó chính là sự liên kết được thể hiện qua các phương tiện ngôn ngữ Như vậy,liên kết hình thức là thứ không thể thiếu trong tổ chức văn bản Nó được coi làchất kết dính các bộ phận của văn bản với nhau
Liên kết nội dung: Nếu liên kết hình thức là sự liên kết bên ngoài thì liênkết nội dung (hoặc liên kết ngữ nghĩa) là sự liên kết bên trong của văn bản, làyếu tố đảm bảo cho tính lôgic chặt chẽ của văn bản về mặt ngữ nghĩa Liên kếthình thức chỉ có giá trị khi phù hợp với liên kết nội dung Chính vì sự gắn bóchặt chẽ giữa liên kết hình thức và liên kết nội dung mà mỗi văn bản đều phải
có đủ hai mặt liên kết này
1.1.5.3 Kết cấu của văn bản
“Kết cấu văn bản là cách thức tổ chức văn bản là yếu tố quy định tính
chất của văn bản cũng như phong cách của kiểu loại và phong cách của người sáng tạo văn bản” [13, tr 168]
Trang 30Thông thường, một văn bản sẽ có kết cấu như sau:
A Tít (còn gọi là đầu đề, tiêu đề, nhan đề )
Đây là thành tố rất quan trọng, thu hút sự chú ý trước tiên của người tiếpnhận văn bản, nhiều khi quyết định việc đọc hay không đọc một văn bản Títthường ngắn gọn nhưng lại thể hiện nội dung cơ bản và khái quát của văn bảnnhư thông tin về đề tài, chủ đề chung trong văn bản có nhiều chủ đề bộ phận
Do đó, tít phải đảm bảo tính chính xác về nội dung ngữ nghĩa và tính thẩm mĩ,bắt mắt nhằm thu hút người đọc
ổn định nhất, chặt chẽ nhất Nghĩa là, chúng thường có đủ cả bốn phần và được
Trang 31trình bày lần lượt từ đặt vấn đề, giải quyết vấn đề rồi kết thúc vấn đề Ở các vănbản nghệ thuật, trình tự bốn phần trên có thể bị đảo lộn và cũng khó để tìm thấyranh giới giữa các phần như các văn bản khoa học.
Các bài viết trên tạp chí khoa học chính là những văn bản khoa học, hơnnữa, đó còn là những văn bản khoa học đặc thù Do vậy, chúng có kết cấuriêng, rất ổn định và chặt chẽ Dưới đây, chúng tôi dành riêng một phần để trìnhbày về loại văn bản này
Có chức năng thông báo là chủ yếu, trình bày những hiện tượng, quy luậtcủa tự nhiên, xã hội
Tính trừu tượng, khái quát cao, có lôgic chặt chẽ, tính nhất quán cao,khách quan và tường minh
Thường ngắn gọn, không chứa thông tin dư thừa
Về mặt ngôn ngữ:
- Từ ngữ: Sử dụng nhiều và sử dụng chính xác các thuật ngữ khoa học.Những từ ngữ trừu tượng, trung hòa về sắc thái biểu cảm xuất hiện với tần sốcao Các đại từ ngôi thứ ba (người ta) và đại từ ngôi thứ nhất (ta, chúng ta,chúng tôi) với ý nghĩa khái quát được dùng nhiều Danh từ được sử dụngnhiều rất phù hợp với khuynh hướng định danh của phong cách này Từ ngữđược dùng với nghĩa đen là chủ yếu, rất hiếm khi dùng nghĩa bóng, nghĩatrừu tượng
Trang 32- Cú pháp: Phong cách khoa học sử dụng các câu hoàn chỉnh, kết cấu câuchặt chẽ, rõ ràng để đảm bảo yêu cầu chính xác, một nghĩa Các phát ngôn hàmchứa nhiều lập luận khoa học, thể hiện tính tư duy logic cao Câu điều kiện-hệquả và câu ghép được sử dụng nhiều, ít dùng câu rút gọn thành phần Ít dùngcấu trúc đảo, thành phần câu thường được trình bày theo trật tự thuận theo thứ
tự chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ Văn phong khoa học thường sử dụng những cấutrúc câu khuyết chủ ngữ, hoặc câu có chủ ngữ không xác định Sử dụng sốlượng rất lớn các phương tiện liên kết để nối các câu, các phần của văn bản chỉ
ra trình tự phát triển của tư tưởng và mối liên hệ giữa các thông tin Các câuliên kết với nhau một cách rất chặt chẽ tạo thành những đoạn văn mạch lạc,phân cách rơ ràng Các đoạn văn thường được đánh số hoặc chữ hoặc các kíhiệu để thể hiện sự khu biệt, sự phân cấp rõ ràng
Đây chỉ là những đặc điểm chung nhất của một văn bản khoa học Ngoài
ra, do văn bản khoa học cũng là văn bản truyền thông nên các thông tin trong
đó phải đảm bảo các yêu cầu của một văn bản truyền thông như tính ngắn gọn,chính xác, hấp dẫn, đại chúng Bởi ngoài chức năng thông tin, văn bản truyềnthông còn có chức năng tác động, định hướng dư luận, nhất là trong xã hội hiệnđại, truyền thông có vai trò rất quan trọng đối với đời sống Quá trình truyềnthông không chỉ đơn giản là quá trình truyền đạt thông tin mà thông qua đó, hệthống chân lý, giá trị vŕ chuẩn mực xã hội được xây dựng, duy trì Thêm vào
đó, bên cạnh việc đáp ứng yêu cầu của độc giả nói chung, các văn bản khoa họccòn có một lượng độc giả riêng với những đòi hỏi nhất định về trình độ, kiếnthức chuyên môn đối với từng chuyên ngành nên mọi chi tiết trình bày trongvăn bản khoa học phải đáp ứng những yêu cầu rất khắt khe, không thể tùy tiệnvới bất cứ thông tin nào
Tóm lại, văn bản khoa học là một văn bản đặc thù, có những đặc điểmriêng về ngôn ngữ cũng như cấu trúc Tít của văn bản khoa học, vì vậy, cũng cónhững đặc trưng riêng sẽ được trình bày kĩ ở những chương sau
Trang 331.2 Những vấn đề về phong cách học
1.2.1 Khái niệm phong cách học
Theo Cù Đình Tú, “Phong cách học là một bộ phận của ngôn ngữ học
nghiên cứu nguyên tắc, quy luật lựa chọn, sử dụng toàn bộ các phương tiện ngôn ngữ nhằm biểu hiện một nội dung tư tưởng, tình cảm nhất định trong phong cách chức năng ngôn ngữ nhất định” [49, tr 29]
Phong cách học nghiên cứu các quy tắc hoạt động của các yếu tố riêng lẻcủa hệ thống ngôn ngữ, quy tắc hoạt động của các hệ thống nhỏ trong ngôn ngữ
và quy tắc hoạt động của toàn bộ hệ thống ngôn ngữ nói chung Phong cáchhọc quan tâm chủ yếu đến giá trị phong cách, tức giá trị biểu đạt, biểu cảm,cảm xúc của các phương tiện ngôn ngữ (âm vị, hình vị, từ, ngữ, câu, văn bản)trong những hoàn cảnh giao tiếp tiêu biểu, với những điều kiện giao tiếp nhấtđịnh của hoạt động giao tiếp Bên cạnh đó, phong cách chức năng ngôn ngữcũng là một trong những nội dung cơ bản của phong cách học, bởi đó là mộttrong những tiêu chuẩn để đánh giá tính đúng đắn, tính có hiệu lực của lời nói
Như vậy, “phong cách học, trong nghĩa chung nhất, là một môn trong
ngành ngôn ngữ học nghiên cứu các nguồn phương tiện ngôn ngữ dồi dào và các nguyên tắc lựa chọn, sử dụng những phương tiện này trong việc diễn đạt một nội dung tư tưởng, tình cảm nhằm đạt được những hiệu quả thực tế mong muốn, trong những điều kiện giao tiếp khác nhau” (26, tr 13)
1.2.2 Các phong cách chức năng trong tiếng Việt
“Phong cách chức năng là dạng tồn tại của ngôn ngữ dân tộc biểu thị
quy luật lựa chọn, sử dụng các phương tiện biểu hiện tùy thuộc vào tổng hợp các nhân tố ngoài ngôn ngữ như hoàn cảnh giao tiếp, đề tài và mục đích giao tiếp, đối tượng tham dự giao tiếp” [49, tr 45]
Có nhiều cách phân chia phong cách chức năng trong tiếng Việt Có thể
khảo sát hai quan điểm về cách phân loại qua hai bộ giáo trình Phong cách học
và đặc điểm tu từ tiếng Việt của Cù Ðình Tú và Phong cách học tiếng Việt của
Ðinh Trọng Lạc (chủ biên ), Nguyễn Thái Hoà
Trang 34Cù Ðình Tú phân loại dựa trên sự đối lập giữa phong cách khẩu ngữ tựnhiên và phong cách ngôn ngữ gọt giũa Sau đó, trên cơ sở chức năng giao tiếpcủa xã hội mà chia tiếp phong cách ngôn ngữ gọt giũa thành phong cách khoahọc, phong cách chính luận, phong cách hành chính Phong cách ngôn ngữ vănchương được khảo sát riêng không nằm trong phong cách ngôn ngữ gọt giũa.
Ðinh Trọng Lạc phân loại phong cách chức năng tiếng Việt ra làm 5 loại: phong cách hành chính- công vụ, phong cách khoa học- kỹ thuật, phongcách báo chí- công luận, phong cách chính luận và phong cách sinh hoạt hàngngàyCả hai cách phân loại trên đều có những nhược điểm nhất định: Cách thứnhất phân loại còn thiếu một phong cách báo chí Cách thứ hai lại không cóphong cách ngôn ngữ văn chương trong hệ thống Ðiều này không đảm bảotính hệ thống của phong cách chức năng ngôn ngữ trong tiếng Việt và mâuthuẫn về khái niệm phong cách đã được đề cập ở phần phân loại của các tác giả
Theo chúng tôi, các phong cách chức năng tiếng Việt có thể được chiathành: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, phong cách ngôn ngữ khoa học, phongcách ngôn ngữ báo chí, phong cách ngôn ngữ chính luận, phong cách ngôn ngữhành chính và phong cách ngôn ngữ văn chương
Trong luận văn này, chúng tôi chỉ quan tâm đến phong cách khoa học vàphong cách báo chí
1.2.2.1 Phong cách ngôn ngữ báo chí
Phong cách ngôn ngữ báo chí (hay còn gọi là phong cách báo chí -công
luận, phong cách thông tấn, phong cách truyền thông đại chúng ) “là khuôn
mẫu thích hợp để xây dựng lớp văn bản trong đó thể hiện vai của người tham gia giao tiếp trong lĩnh vực báo chí - công luận Nói cụ thể hơn là vai của nhà báo, người đưa tin, người cổ động, người quảng cáo, bạn đọc (phát biểu) tất
cả những ai tham gia vào hoạt động thông tin của xã hội về tất cả các vấn đề thời sự” [26, tr 19]
- Chức năng: Chức năng giao tiếp lí trí (thông báo) và chức năng tácđộng là chức năng cơ bản của phong cách ngôn ngữ báo chí
Trang 35- Đặc điểm ngôn ngữ:
Từ ngữ: Sử dụng lớp từ ngữ được cấu tạo đặc biệt, có màu sắc biểu cảm
và màu sắc tu từ rõ rệt Xu hướng luôn đi tìm cái mới trong ý nghĩa của từ trởthành một nguyên tắc dùng từ của phong cách này Dùng nhiều từ có màu sắctrang trọng , nhiều từ ngữ có tính bình giá phủ định Sử dụng nhiều từ ngữthuộc nghề báo như đưa tin, tiết lộ, thông tin viên và nhiều kiểu viết tắt làmcho việc viết thông tin và tiế nhận thông tin được nhanh, gọn
Cú pháp: Phong cách báo chí sử dụng những khuôn mẫu cú pháp như:Câu khuyết chủ ngữ, câu có đề ngữ, câu có nhiều thành phần tách biệt, nhữngyếu tố diễn cảm của cú pháp
Kết cấu văn bản: Những đầu đề thường được diễn đạt ngắn gọn, rõ ràng,hấp dẫn có khả năng thâu tóm toàn bộ nội dung bài viết Các văn bản theo kiểucung cấp tin tức thường được trình bày theo những khuôn mẫu nhất định đểviệc truyền đạt, tiếp nhận thông tin được nhanh chóng, dễ dàng
1.2.2.2 Phong cách ngôn ngữ khoa học
Phong cách ngôn ngữ khoa học là phong cách được dùng trong lĩnh vựcnghiên cứu, học tập và phổ biến khoa học Phong cách khoa học có ba biến thể:Phong cách khoa học chuyên sâu, phong cách khoa học giáo khoa và phongcách khoa học phổ cập
- Chức năng: Phong cách khoa học có hai chức năng là: thông báo vàchứng minh Chức năng chứng minh tạo nên sự khu biệt giữa phong cách khoahọc với các phong cách khác Bởi khoa học không phải là những tri thức vớitính sẵn có mà là quá trình chứng minh, làm sáng tỏ ý nghĩa của những cái mới,cái có giá trị
- Ðặc trưng: Phong cách khoa học có 3 đặc trưng :
Tính trừu tượng- khái quát: Vì khoa học phải thông qua con đường kháiquát hóa, trừu tượng hóa để nhận thức và phản ánh hiện thực khách quan nênphong cách kha học phải có tính khái quát, trừu tượng cao Khái quát hoa, trừu
Trang 36tượng hoá chính là con đường của nhận thức lí tính giúp ta thoát khỏi những nhận biết lẻ tẻ, rời rạc ở giai đoạn cảm tính.
Tính logic nghiêm ngặt: Cách diễn đạt của phong cách khoa học phảibiểu hiện năng lực tổng hợp của trí tuệ, phải tuân theo quy tắc chặt chẽ từ tưduy logic hình thức đến tư duy logic biện chứng Các ý tưởng khoa học phảiđược sắp xếp trong mối quan hệ logic, tránh trùng lặp hoặc mâu thuẫn
Tính chính xác- khách quan: Phong cách khoa học phải đạt tính chínhxác - khách quan vì khoa học yêu cầu sự phản ánh các quy luật của tự nhiên và
xã hội phải là sự phản ánh chính xác, chân thực, khách quan
- Ðặc điểm ngôn ngữ: Đặc điểm ngôn ngữ của văn bản khoa học đã trìnhbày ở trên cũng chính là đặc điểm ngôn ngữ của phong cách khoa học nênchúng tôi không nhắc lại ở đây
1.3 Những vấn đề về báo chí và sự phân biệt báo với tạp chí
1.3.1 Khái quát về báo chí
Báo chí ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Thựchiện chức năng thông tin, báo chí cung cấp cho công chúng về tất cả các vấn
đề, sự kiện của đời sống xã hội, đáp ứng nhu cầu khám phá, tìm hiểu thế giới tựnhiên và xã hội Đồng thời báo chí tác động tới nhiều tầng lớp xã hội với nhữngmối quan tâm, sở thích và nhu cầu khác nhau Chính điều đó đã khiến cho báochí trở thành một hoạt động thông tin đại chúng rộng rãi và năng động nhất màkhông một hình thái ý thức xã hội nào sánh kịp Báo chí ra đời, tồn tại songsong với quá trình phát triển của xã hội loài người Do đó, trong lịch sử đã cónhiều nghiên cứu về báo chí với những cách tiếp cận khác nhau
Xét theo ngữ nghĩa, người ta cho rằng báo chí xuất phát từ hai từ “báo” thông báo và “chí” - giấy, nói một cách khái quát, báo chí là những xuất bảnphẩm định kỳ Cũng có người cho rằng báo chí là thuật ngữ bao hàm hai kháiniệm khác nhau là “báo” và “tạp chí” Nếu như “báo” có nhiệm vụ thông tinthời sự và bình luận kịp thời về những sự việc, sự kiện, hiện tượng, con người,
Trang 37-tình huống, hoàn cảnh tiêu biểu, điển hình mới xuất hiện trong đời sống hàngngày, thì “tạp chí” lại có nhiệm vụ cơ bản là nghiên cứu khoa học và thông tinkhoa học.
Có rất nhiều định nghĩa về báo chí Tuy nhiên những định nghĩa đó quáchung chung, quá rộng nhưng lại vẫn chưa bao hàm hết được các loại hình báochí hiện đang tồn tại trong xã hội Theo chúng tôi, định nghĩa đầy đủ nhất, rõràng nhất về báo chí là định nghĩa trong luật báo chí nước ta sửa đổi bổ sung
năm 1999 Theo đó, “báo chí nói trong luật này là báo chí Việt Nam, bao gồm:
báo in (báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn), báo nói (chương trình phát thanh), báo hình (chương trình truyền hình, chương trình nghe-nhìn thời
sự được thực hiện bằng những phương tiện kĩ thuật khác nhau), báo điện tử (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài” Mặc dù định nghĩa này không tập
trung vào giới thiệu nội hàm báo chí nhưng bằng việc liệt kê các loại hình báochí, định nghĩa đã chỉ rõ các loại hình báo chí trong xã hội, giúp người tiếpnhận có cái nhìn rất cụ thể, rõ ràng về báo chí
1.3.2 Phân biệt báo và tạp chí
Báo chí được phân chia thành các loại báo in, báo nói, báo hình, báo điện
tử Báo và tạp chí nằm trong loại hình báo in
Đặc trưng nổi bật nhất của báo đó là thông tin thời sự, với các yêu cầu là:kịp thời, chính xác và đầy đủ Do đặc trưng thông tin thời sự, nên đối tượngphục vụ của báo thường đa dạng và có phạm vi rộng đối với mọi đối tượngcông chúng trong xã hội Cũng vì vậy, nội dung phản ánh của báo thường lànhững vấn đề mang tính thời sự nóng hổi Cổ vũ, động viên kịp thời các phongtrào quần chúng cách mạng Độ dài thông tin phản ánh trên báo cũng chỉ giớihạn trong một chừng mực nhất định Những vấn đề mang tính lý luận, tổng kếtkinh nghiệm thực tiễn thì báo không có điều kiện đi sâu phản ánh Ngôn ngữchuẩn nhưng mang tính phổ cập, cụ thể, dễ hiểu Phạm vi phát hành rộng rãi
Trang 38Tạp chí là loại ấn phẩm khổ nhỏ hơn báo, đóng thành tập, có bìa, chuyểntải các loại thông tin có tính tổng hợp, chuyên sâu, xuất bản định kỳ ở một thờiđiểm nhất định, có thể định kỳ một tuần một lần, một tháng một, hai lần, hoặc
6 tháng một lần Tạp chí cũng là một tờ báo in, nhưng là cơ quan lý luận, họcthuật, khoa học của một tổ chức, đoàn thể, chủ yếu đi sâu nghiên cứu, hướngdẫn, trao đổi nghiệp vụ Nội dung phản ánh là các vấn đề sự kiện cần đi sâunghiên cứu thực trạng, nguyên nhân và đưa ra giải pháp tháo gỡ hoặc phổ biếnnhững kinh nghiệm, học thuật mang tính khoa học chuyên ngành Tạp chíthường sử dụng ngôn ngữ khoa học, lấy yếu tố khoa học làm chủ đạo để phântích, lý giải lôi cuốn bạn đọc Phạm vi phát hành hẹp
Trên đây là sự phân biệt tương đối rạch ròi giữa báo và tạp chí Nhữngvấn đề chung về lý luận, nghiệp vụ, khoa học thường chiếm một tỷ trọng lớntrong cơ cấu nội dung các bài trên tạp chí Các bài viết phải thể hiện được tínhchất nghiên cứu, phát hiện những quy luật vận động cụ thể trong từng lĩnh vựcthuộc các ngành nghiệp vụ chuyên môn Ở đây, chức năng tuyên truyền vềnhững vấn đề lý luận chính trị, lý luận nghiệp vụ, khoa học kỹ thuật sẽ đem lạicho độc giả nhiều kiến thức mới mẻ và giúp cho người đọc dễ dàng tiếp cận vớithực tế, liên hệ, vận dụng trong điều kiện cụ thể của bản thân Thông thườngtạp chí được chia thành hai loại: Tạp chí thông tin ngôn luận mang tính tuyêntruyền phổ biến và Tạp chí nghiên cứu khoa học, học thụât chuyên ngành
Phạm vi phản ánh của Tạp chí tuyên truyền phổ biến thường là nhữngvấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội… Đối tượng phục vụ của loại tạp chínày bao gồm số đông các tầng lớp dân cư (tạp chí kinh tế, tạp chí thời trang, tạpchí bảo hiểm xã hội ) Còn Tạp chí mang tính nghiên cứu khoa học chủ yếuthông tin, trao đổi, công bố các công trình nghiên cứu khoa học chuyên ngành
Do vậy, đối tượng phục vụ thuộc loại này chủ yếu là những người trong ngành,đòi hỏi phải có sự hiểu biết nhất định về một lĩnh vực, chuyên ngành nào đó(tạp chí Toán học, tạp chí Ngôn ngữ, tạp chí Vật lí ngày nay )
Trang 39Các tạp chí Ngôn ngữ, Ngôn ngữ & Đời sống, Từ điển học & Bách khoathư thuộc vào loại tạp chí khoa học chuyên ngành, chúng tôi gọi tắt là tạp chíkhoa học.
1.4 Tít báo chí
Tít là phản chiếu đầu tiên đập vào mắt của người đọc Đây cũng là phần
mà đại đa số độc giả đọc trước khi quyết định có nên đọc tiếp hay không Tấtnhiên, tít là phần luôn luôn được đưa vào danh mục của thư viện điện tử Do
đó, các tác giả cần phải để tâm suy nghĩ cẩn thận khi đặt tít sao cho thu hút sựchú ý của người đọc
Tít hay còn gọi là tiêu đề, đầu đề, nhan đề là bộ phận giữ vai tròquan trọng trong một văn bản, đặc biệt là văn bản báo chí Nó là yếu tố đầutiên, là cánh cửa để người đọc bước vào văn bản Có thể nói tít là câu quantrọng nhất trong một bài viết trên báo, là phần độc giả đọc trước tiên và nóquyết định số phận bài báo Bài báo rất hay nhưng đầu đề dở thì có thể làmmất ít nhất một nửa số độc giả Do vậy, đặt tên cho một tác phẩm báo chíluôn là sự trăn trở của mỗi nhà báo dù ở loại hình báo chí nào Theo một kếtquả điều tra xã hội học năm 1995 thì những nhà báo được hỏi cho rằng chỉ
có khoảng 30% tít đặt hay Đồng thời họ cũng cho rằng đặt tít hay khôngphải là khâu đơn giản, mặc dù cố gắng nhưng chưa chắc đã có kết quả tốt.100% nhà báo công nhận luôn có hứng thú đọc những bài báo có tít hấp dẫn,
có 18% số người nói họ không thường xuyên cố gắng đặt tít hấp dẫn, có tới80% số người thích tít báo hấp dẫn về phương diện nội dung và 20% thích títbáo được trình bày hấp dẫn Về thao tác đặt tít thì có 35,4% lo khái quát nộidung bài, 29,16% muốn “mạ” cho tít hấp dẫn, 27,08% thích hể hiện phongcách cá nhân độc nhân độc đáo và chỉ có 8,3% chú tâm tìm ngôn từ cho tít.[18, tr 137]
Nhưng dù thế nào đi nữa thì mỗi tít nên vừa nêu được thần thái của bàiviết vừa gợi được trí tò mò cho độc giả Vậy tít là gì? Tít có cấu trúc và chứcnăng ra sao?
Trang 401.4.1 Khái niệm
Xét về mặt thuật ngữ thì tít báo còn được gọi là nhan đề, đầu đề,tiêu đề… nhưng thuật ngữ tít (vốn mượn từ tiếng Pháp Titre và tiếng AnhTitle) được sử dụng rộng rãi và phù hợp hơn cả Bởi đây vừa là thuật ngữbáo chí vừa là một từ nghề nghiệp Ngoài ra, thuật ngữ này còn có khảnăng phái sinh cao, nó tiện lợi cho việc gọi tên các thao tác xử lý tít
Trong từ điển tiếng Việt, tít được định nghĩa là “đầu đề bài báo, thường in
chữ lớn” [26, tr 1284].
Nếu nhìn từ góc độ ma-két (maquette) báo, có nhiều cách gọi tít nhưsau: tít đầu trang, tít đầu trang cố định, tít đầu trang biến động, tít chính, títphụ, tít phụ trên, tít phụ dưới, tít lớn, tít nhỏ… Nếu xét về phương diện thểloại của bài báo, có tít tin, tít phóng sự, tít tiểu phẩm, tít ký, tít bài bìnhluận… Mỗi loại tít như thế có đặc điểm, tính chất và đặc trưng riêng Tít làmột trong những bộ phận quan trọng của bài báo tiếng Việt (một bài báogồm tít và phần nội dung) Vị trí đầu tiên của tít khiến cho nó trở nên quantrọng trong bất kì bài báo nào
1.4.2 Tính chất
- Thông tin cao
Tít được xem như là một thông điệp đầu tiên mà bài báo, tác giả gửi tớicho người đọc, có tính chất đại diện cho văn bản nhằm thông tin về nội dung.Bởi vậy, tít phải chính xác và mang tính thông tin cao Tít phải rõ ràng, dễ hiểu,nghĩa là làm thế nào để độc giả có thể hiểu ngay lập tức Tránh các từ trừutượng, từ viết tắt, từ chuyên môn hay từ gây hiểu lầm
- Ngắn gọn:
Tít phải ngắn gọn, năng động, nghĩa là phải viết trực tiếp, loại bỏ các yếu
tố thừa, yếu tố lặp Xu hướng chung trong ngôn ngữ báo chí hiện nay là viếtcác câu ngày càng ngắn đi Tính cô đọng, súc tích trong các tít báo được đẩy tớimức cao nhất Một tít ngắn thì độc giả chỉ nhìn thoáng qua là nhớ được, khôngphải tốn thời gian để dừng lại đọc Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng trung bình