1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN Phương pháp giải các dạng bài tập vật lí 6

23 714 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 312,73 KB
File đính kèm SKKN.rar (309 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

về giải bài tập vật lí 6 HƯỚNG DẪN HỌC SINH PHƯƠNG PHÁP GIẢI CÁC DẠNG BÀI TẬP VẬT LÍ 6 I. Phần mở đầu: I.1. Lý do chọn đề tài: Trong việc nâng cao chất lượng giáo dục nói chung chất lượng bộ môn nói riêng. Việc cải tiến phương pháp dạy học một nhân tố quan trọng, bên cạnh việc bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, việc phát huy tính tích cực của học sinh có ý nghĩa hết sức quan trọng. Giáo dục phải được tiến hành trên cơ sở tự nhận thức, tự hành động, việc khơi dậy phát triển ý thức năng lực tư duy, bồi dưỡng phương pháp tự học con đường phát triển tối ưu của giáo dục, nhất trong môn học vật lí. Do chương trình mới, học sinh khối 6 đã được tiếp cận với Vật lí còn nhiều bỡ ngỡ với những khái niệm Vật lí lạ lẫm như Lực, Trọng lực, Lực đàn hồi, Khối lượng riêng, Trọng lượng riêng... trong khi đó kiến thức toán học của các em vẫn còn hạn chế gây ảnh hưởng không ít đến việc dạy học Vật lí. Xuất phát từ những lí do trên, tôi quyết định chọn đề tài: “ Hướng dẫn học sinh phương pháp giải các dạng bài tập Vật Lí 6 ” nhằm giúp học sinh nắm chắc được kiến thức cơ bản, mở rộng hiểu sâu kiến thức. Từ dó nâng cao được chất lượng bộ môn Vật lí biết vận dụng vào thực tế.

Trang 1

HƯỚNG DẪN HỌC SINH PHƯƠNG PHÁP GIẢI CÁC DẠNG

ý nghĩa hết sức quan trọng Giáo dục phải được tiến hành trên cơ sở tự nhận thức,

tự hành động, việc khơi dậy phát triển ý thức năng lực tư duy, bồi dưỡng phươngpháp tự học là con đường phát triển tối ưu của giáo dục, nhất là trong môn học vật

lí Do chương trình mới, học sinh khối 6 đã được tiếp cận với Vật lí còn nhiều bỡngỡ với những khái niệm Vật lí lạ lẫm như Lực, Trọng lực, Lực đàn hồi, Khốilượng riêng, Trọng lượng riêng trong khi đó kiến thức toán học của các em vẫncòn hạn chế gây ảnh hưởng không ít đến việc dạy học Vật lí

Xuất phát từ những lí do trên, tôi quyết định chọn đề tài: “ Hướng dẫn học

sinh phương pháp giải các dạng bài tập Vật Lí 6 ” nhằm giúp học sinh nắm

chắc được kiến thức cơ bản, mở rộng và hiểu sâu kiến thức Từ dó nâng cao đượcchất lượng bộ môn Vật lí và biết vận dụng vào thực tế

I.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:

Trong khuôn khổ nhà trường THCS, bài tập Vật lí 6 thường là những vấn đềkhông quá phức tạp, có thể giải được bằng những suy luận lôgic, bằng tính toánhoặc thực nghiệm dựa trên cơ sở những quy tắc Vật lí, phương pháp Vật lí đã quyđịnh trong chương trình học Việc giải bài tập Vật lí giúp củng cố đào sâu, mở rộngnhững kiến thức cơ bản của bài giảng, xây dựng củng cố kỹ năng kỹ xảo vận dụng

lý thuyết vào thực tiễn, là biện pháp quý báu để phát triển năng lực tư duy của học

Trang 2

sinh, có tác dụng sâu sắc về mặt giáo dục tư tưởng, đạo đức lớn Vì thế trong việcgiải bài tập Vật lí mục đích cơ bản cuối cùng không phải chỉ tìm ra đáp số, tuy điềunày cũng quan trọng và cần thiết, mục đích chính của việc giải là ở chỗ người làmbài tập hiểu được sâu sắc hơn các khái niệm, định luật Vật lí, vận dụng chúng vàonhững vấn đề thực tế trong cuộc sống, trong lao động.

Người giáo viên Vật lí có nhiệm vụ nghiên cứu thật sâu để nắm vững tinhthần chỉ đạo của nội dung chương trình, các trọng tâm trọng điểm và đề ra yêu cầugiảng dạy đối với từng phần, từng chương, mục Cần chú ý cả về kiến thức lẫn việcbồi dưỡng cho học sinh phương pháp học tập và làm việc một cách khoa học Giáoviên cần nghiên cứu kỹ về kiến thức, phương pháp truyền đạt và hướng học sinhthực hiện tốt các yêu cầu của giáo viên, đồng thời để học sinh có kỹ năng phân tíchhiện tượng, so sánh và kỹ năng ứng dụng vào thực tế, giải các bài tập một cáchhiểu quả Vì đây là môn học không xa vời với thực tế Học môn Vật lý chính là tìmhiểu về những kiến thức, hiện tượng trong thực tế cuộc sống xung quanh các em

I.3 Đối tượng nghiên cứu:

Trường THCS Hàm Nghi, nơi tôi đang giảng dạy là một trường thuộc vùngven của TP BMT, với đặc thù đa số học sinh có hoàn cảnh khó khăn, trên 50% họcsinh là đồng bào dân tộc thiểu số được nhà nước phụ cấp tiền học phí và sách vởđến trường Các em chủ yếu là tự học ở nhà, không có người hướng dẫn chỉ bảo

Vì vậy, tôi xin chọn các em học sinh khối lớp 6 gồm các lớp: 6A, 6B, 6C, 6D, 6F

là đối tượng nghiên cứu của tôi trong đề tài này

I.4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu:

Từ bài 1 đến bài 22 của sách giáo khoa vật lí 6

I.5 Phương pháp nghiên cứu:

Có rất nhiều phương pháp nghiên cứu nhưng đối với bộ môn Vật lý cónhững phương pháp cơ bản sau: Quan sát quá trình giảng dạy, nghiên cứu và tổng

Trang 3

kết rút kinh nghiệm của giáo viên, phân tích bằng lý thuyết, thực nghiệm sư phạm

để kiểm nghiệm lại những vấn đề đang được nghiên cứu Việc quan sát các quátrình sư phạm, nghiên cứu kinh nghiệm của giáo viên có thể được tiến hành bằngnhiều cách: Dự giờ, thăm lớp, xem kế hoạch giảng dạy, xem vở học sinh, trao đổitrực tiếp với giáo viên và học sinh

II Phần nội dung:

II.1 Cơ sở lý luận:

Bài tập Vật lí giúp cho học sinh ôn tập, đào sâu, mở rộng kiến thức: Trongcác bài tập học sinh phải vận dụng những kiến thức khái quát, những định nghĩavào những trường hợp cụ thể mà rất đa dạng, nhờ thế mà học sinh nắm được nhữngbiểu hiện rất cụ thể của chúng trong thực tế và phạm vi ứng dụng của chúng

Bài tập có thể là điểm khởi đầu để dẫn đến kiến thức mới: Ngoài những ứngdụng quan trọng trong kỹ thuật, bài tập Vật lí giúp cho học sinh thấy được nhữngứng dụng muôn hình muôn vẻ trong thực tiễn của các kiến thức đã học

Giải bài tập vật lý rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, vận dụng lý thuyết vào thựctiễn, rèn luyện thói quen vận dụng kiến thức khái quát: Bài tập vật lý là một trongnhững phương tiện rất quý báu để rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo vận dụng lý thuyếtvào thực tiễn, rèn luyện thói quen vận dụng kiến thức khái quát đã thu nhận được

để giải quyết các vấn đề của thực tiễn

Giải bài tập là một trong những hình thức làm việc tự lực cao của học sinh:Trong khi làm bài tập do phải tự mình phân tích các điều kiện của đầu bài, tự xâydựng những lập luận, kiểm tra và nhận xét những kết luận của những học sinhkhác

Giải bài tập góp phần làm phát triển tư duy sáng tạo của học sinh: Có nhiềubài tập vật lý không chỉ dừng lại trong phạm vi vận dụng những kiến thức đã học

Trang 4

mà còn giúp bồi dưỡng cho học sinh tư duy sáng tạo Đặc biệt là những bài tập giảithích hiện tượng, bài tập thí nghiệm.

Giải bài tập vật lý là một phương tiện để kiểm tra mức độ nắm vững kiếnthức của học sinh: Thông qua các bài tập vật lí, học sinh có thể tự kiểm tra đượcmức độ nắm vững kiến thức của học sinh Giáo viên có thể kịp thời đổi mới cácphương pháp dạy học phù hợp để giúp học sinh nắm vững được kiến thức, áp dụngkiến thức vào giải các bài tập vật lí cơ bản và nâng cao

II.2 Thực trạng:

a Thuận lợi - khó khăn:

Chương trình vật lý 6 là phần mở đầu cho môn học vật lí phổ thông, nênnhững yêu cầu về khả năng tư duy trừu tượng, khái quát cũng như những yêu cầu

về mặt định lượng trong việc hình thành các khái niệm và định nghĩa đều ở mứcthấp, đơn giản, rõ ràng Việc giải thích hiện tượng đều dựa trên nền tảng cơ bảncủa những khái niệm, định nghĩa cơ bản của vật lí 6

Trường THCS Hàm Nghi thuộc xã Cư Êbur, địa bàn trường nằm ở vùng vencủa TP BMT Các em học sinh còn nhiều khó nhăn, đặc biệt là các em đồng bàodân tộc thiểu số Một buổi đi học, còn một buổi ở nhà phụ giúp công việc gia đình,

ít có thời gian ôn tập bài ở nhà Điều kiện tiếp cận với công nghệ thông tin cònnghèo nàn Việc tiếp thu các kiến thức do giáo viên hướng dẫn trên lớp là chủ yếu,các em không có thời gian tự tìm tòi và học hỏi thêm ở bạn bè và sách báo Nênảnh hưởng rất nhiều trong quá trình giảng dạy cũng như trong quá trình tiếp thu bàitrên lớp của học sinh

b Thành công – hạn chế:

Khi áp dụng đề tài vào việc hướng dẫn các em học sinh khối 6 ở trường, tôi

đã đạt được những kết quả sau:

+ Đa số các em có tiến bộ trong môn vật lí, có ý thức tìm tòi và có khả năng

tư duy, suy luận, nêu vấn đề và giải đáp các vấn đề dựa trên kiến thức cơ bản tốt

+ Biết cách phân tích đề bài và suy nghĩ câu trả lời đúng hướng của câu hỏi

Trang 5

+ Biết trả lời các câu hỏi gợi mở của giáo viên trong quá trình quan sát vàlàm thí nghiệm.

+ Có tinh thần yêu thích môn học, tập trung và chú ý nghe giảng trong giờhọc

Bên cạnh đó, vẫn còn có một số hạn chế như: một số em chưa được sự quantâm, nhắc nhở từ gia đình trong việc ý thức cũng như học tập Dẫn đến chất lượng

và hiệu quả học tập còn nhiều hạn chế Một số em vẫn còn nhút nhát, rụt rè khi giảiđáp vấn đề và nêu ra vấn đề còn chưa rõ, còn suy nghĩ sợ nói sai và sợ các bạncười, chưa tự tin Nội dung cấu trúc chương trình sách giáo khoa mới hầu nhưkhông dành thời lượng cho việc hướng dẫn học sinh giải bài tập hay luyện tập ( đặcbiệt là chương trình vật lí ở các lớp: 6, 7, 8), dẫn đến học sinh không có điều kiện

bổ sung, mở rộng và nâng cao kiến thức cũng như rèn kỹ năng giải bài tập Vật lí

c Mặt mạnh – mặt yếu:

Tuy có hoàn cảnh khó khăn, trường học xa nhà, nhưng tinh thần học tập củacác em rất tốt Các em chú ý lắng nghe và tiếp thu bài học nghiêm túc, có tính sángtạo

Kiến thức còn cơ bản, các khái niệm, định nghĩa còn đơn giản nên các emhọc sinh dễ tiếp thu hơn Các câu hỏi vận dụng chủ yếu về những sự vật, hiệntượng gần gũi với đời sống hàng ngày của các em

Hầu hết các em học sinh còn chưa biết cách trình bày một bài giải vật lí,chưa biết cách áp dụng lí thuyết vào việc lập luận để đưa ra lời giải thích đúng vàchặt chẽ cho một hiện tượng vật lí Giáo viên vật lí phải hướng dẫn học sinh cácbước giải bài tập một cách tỉ mỉ với nhiều bài tập mẫu khác nhau

d Các nguyên nhân, các yếu tố tác động:

Trang 6

Năm học đầu tiên của bậc THCS, các em học sinh đã làm quen với rất nhiềumôn học mới với các phương pháp học hoàn toàn khác so với bậc tiểu học, trong

đó có môn học vật lí Nên trong quá trình giảng dạy, giáo viên phải tỉ mỉ hơn Thờigian đầu áp dụng, giáo viên phải rất nhiệt tình chỉ bảo cho các em học sinh hiểu vàlàm quen với việc nắm vững lí thuyết, áp dụng lí thuyết vào giải thích hay giải cácbài tập vật lí

Các em học sinh cũng phải chú ý nghe giảng, có thái độ học tập nghiêm túc

và tự giác, tự tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm qua việc giải bài tập và từ bạn bè

e Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đặt ra.

Trong quá trình giảng dạy và trao đổi kiến thức cũng như kinh nghiệm vớiđồng nghiệp tôi thấy rằng các em học sinh đa số là ham mê môn học vật lí, vì mônhọc này giúp ích cho các em khi giải thích, hiểu những vấn đề mà thực tế ngoài đờisống các em thấy hoặc biết Đây là một môn học rất gần gũi với các em, hầu nhưnhững sự việc hay hiện tượng mà hàng ngày các em gặp đều được lý giải dựa trêncác định nghĩa, định luật vật lí Nhưng do bước đầu làm quen với môn học nên các

em còn nhiều bỡ ngỡ, chưa định hướng được các bước cơ bản để giải một bài tậpvật lí Các em thường lung túng trong việc định hướng giải, hầu như các em chưabiết cách giải cũng như trình bày lời giải

Với nội dung của chương trình sách giáo khoa mới thì hầu như không cóthời lượng để hướng dẫn các em học sinh phương pháp giải bài tập Dẫn đến các

em không có điều kiện bổ sung, rèn luyện để mở rộng và nâng cao kiến thức cũngnhư các kỹ năng, kinh nghiệm khi giải một bài tập vật lí

II.3 Giải pháp, biện pháp:

a Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:

Để giúp cho các em học sinh lớp 6 biết cách giải bài tập vật lí, áp dụng phần

lí thuyết đã học vào việc lập luận câu trả lời một cách chính xác và chặt chẽ nên tôi

đã tiến hành nghiên cứu và áp dụng đối với các em học sinh lớp 6 tại trường THCSHàm Nghi

Tôi dành ra khoảng 5 phút để hướng dẫn cho các em học sinh một số bài tậptrong SBT, và một số bài tập luyện tập khác sau mỗi tiết học Giúp các em học sinh

Trang 7

mở rộng kiến thức, kỹ năng cũng như khả năng định hướng khi giải bài tập Yêucầu các em học sinh về nhà làm hoàn chỉnh các bài tập mà giáo viên hướng dẫn.Giáo viên sẽ dành ra từ 1 đến 2 phút đầu giờ của tiết học tiếp theo để giải đáp vàsửa sai sót của học sinh trong quá trình học sinh làm bài tập ở nhà.

b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:

Các bước chung để giải một bài tập vật lí:

+ Bước 1: Đọc và tìm hiểu nội dung đề ra, phân tích bài toán

+ Bước 2: Tóm tắt bài toán theo các kí hiệu của đại lượng đã biết và các đạilượng cần tìm, đồng nhất đơn vị nếu cần

+ Bước 3: Tìm hiểu mối liên hệ giữa các giả thiết trong đề bài, giữa các đạilượng đã biết với đại lượng cần tìm để đưa ra công thức đúng

+ Bước 4: Áp dụng lí thuyết đã học để đưa ra lời giải thích chính xác nhất,hoặc áp dụng công thức và đặt lời giải, giải, lưu ý các đơn vị của các đại lượng

+ Bước 5: Xem xét lại các lập luận, kết luận, nhận xét, đáp số

Tuy theo từng dạng bài tập mà ta áp dụng các bước trên để giải bài tập vật lí.Đối với vật lí lớp 6 được chia làm ba dạng bài tập: Bài tập định lượng, bàitập định tính

Bài tập định lượng gồm có: Bài tập về đơn vị đo, cách đo và bài tập về giải thích các hiện tượng vật lí.

Bài tập về đơn vị đo, cách đo gồm các bài: Đo độ dài, đo thể tích chất

lỏng, đo thể tích vật rắn không thấm nước, khối lượng – đo khối lượng Đối vớidạng bài tập này giáo viên cần nhấn mạnh với học sinh phải chú ý đến đơn vị đo,

và cách đổi đơn vị

* Đổi đơn vị đo:

Ta biết đơn vị đo độ dài được xắp xếp theo thứ tự từ lớn đến nhỏ như sau:km; hm; dam; m; dm; cm; mm… Mỗi bậc hơn kém nhau 10 lần

Trang 8

Đơn vị đo khối lượng được sắp xếp theo thứ rự từ lớn đến nhỏ như sau: tấn,

tạ, yến, kg, hg (lạng), g, mg… Mỗi đơn vị hơn kém nhau 10 lần

Đơn vị đo thể tích được sắp xếp theo thứ tự từ lớn đến nhỏ như sau: m3,

dm3, cm3, mm3…Mỗi bậc hơn kém nhau 1000 lần

+ Muốn đổi đơn vị đo độ dài và đơn vị đo khối lượng từ lớn sang nhỏ cáchnhau 1, 2, 3… bậc thì ta chỉ việc nhân với 10, 100, 1000… hay dời dấu phẩy sangphải 1, 2, 3… chữ số

Trang 9

* Cách xác định giới hạn đo và độ chia nhỏ nhất của dụng cụ đo:

+ Xác định giới hạn đo (GHĐ): Là giá trị lớn nhất được ghi trên dụng cụ đo.+ Xác định độ chia nhỏ nhất (ĐCNN) ta theo các bước sau:

• Xác định đơn vị đo của dụng cụ đo

• Xác định n là số khoảng chia giữa hai số ghi lien tiếp (số bé và số lớn)

• ĐCNN = (số lớn – số bé) : n (có đơn vị như trên dụng cụ đo)

Ví dụ 1: Trên thước kẻ có ghi số lớn nhất là 30cm Giữa số 1 và số 2 có 5khoảng chia thì GHĐ = 30cm và ĐCNN = (2 – 1) : 5 = 0,2cm

Ví dụ 2: Trên bình chia độ có ghi số lớn nhất là 250 cm3 Giữa số 50 và số

100 có 10 khoảng chia thì:

GHĐ = 250 cm3 và ĐCNN = (100 – 50) : 10 = 5cm3

* Ước lượng và chọn dụng cụ đo thích hợp:

+ Ước lượng: Bằng mắt và kinh nghiệm trong cuộc sống

+ Chọn dụng cụ đo: Kích thước cần đo lớn (nhiều) thì chọn dụng cụ đo cóGHĐ lớn sao cho số lần thực hiện đo là lớn nhất

: Kích thước cần đo nhỏ (ít) cần có độ chính xác cao nên

ta chọn dụng cụ đo có ĐCNN có giá trị nhỏ nhất

* Cách đặt dụng cụ đo và ghi kết quả:

+ Đặt dụng cụ đo và mắt nhìn đúng cách

+ Đọc và ghi kết quả đo đúng quy định

Bài tập về giải thích hiện tượng vật lí gồm các bài: Bài tập về lực, bài tập

về máy cơ đơn giản, bài tập về nhiệt học Ở dạng bài tập này học sinh cần nắnvững lí thuyết đã học để nhận biết được lực, định nghĩa về lực, phương và chiềucũng như độ lớn của lực (trọng lực, lực đàn hồi); nhận biết được cấu tạo và cách sửdụng của các loại máy cơ đơn giản; hiện tượng dãn nở vì nhiệt của các chất (rắn,lỏng, khí) và đặc điểm của sự dãn nở vì nhiệt này

Trang 10

- Đối với trọng lực cần chú ý cách xác định phương, chiều của trọng lực.

Ví dụ: Tại sao thả các vật ở trên các tầng cao xuống thì các vật đó đều không

bị rơi ra ngoài Trái Đất?

Giải thích: Ta biết trọng lực là lực hút của Trái Đất Trọng lực tác dụng lênvật có phương thẳng đứng và có chiều từ trên xuống dưới (hướng về phía TráiĐất) Khi ta thả các vật ở trên các tầng cao xuống thì các vật đó đều chịu tác dụngcủa trọng lực, nên dưới tác dụng của trọng lực các vật đó sẽ rơi xuống Trái Đất màkhông bị rơi ra ngoài

- Đối với lực đàn hồi cần chú ý cách nhận biết vật có tính đàn hồi, làm thế

nào để biết được sự xuất hiện của lực đàn hồi?

Ví dụ 1: Làm thế nào để nhận biết lực đàn hồi của lò xo chỉ xuất hiện khi nó

bị biến dạng?

Giải thích: Khi ta móc đầu A của lò xo vào một cái đinh như hình 10.a Lò

xo không bị biến dạng vì kích thước của nó không bị thay đổi Khi ta cầm đầu Bcủa lò xota không có cảm giác lò xo tác dụng lực lên ta (lúc này lò xo không bịbiến dạng) Nhưng khi ta kéo đầu B của lò xo một lực theo chiều từ A đến B thì lò

xo giãn ra, khi đó lò xo đa bị biến dạng (hình 10.b) Đồng thời ta cũng cảm thấy lò

xo cũng đang kéo ta một lực có chiều ngược lại lực đó chính là lực đàn hồi Vậy,khi lò xo bị biến dạng thì nó mới xuất hiện lực đàn hồi

Trang 11

Ví dụ 2: Một sợi dây cao su có tính đàn hồi không? Tại sao?

Giải thích: Một sợi dây cao su có tính đàn hồi Vì khi ta dung hai tay kéo nó(vừa phải) thì nó dài ra (bị biến dạng) Đồng thời nếu ta thôi không kéo nữa thì sợidây cao su đó lại trở về hình dạng và kích thước ban đầu Biến dạng đó là biếndạng đàn hồi Vật bị biến dạng đàn hồi thì vật đó có tính chất đàn hồi

- Đối với hai lực cân bằng cần chú ý cách xác định hai lực cân bằng:

· Hai lực phải tác dụng lên cùng một vật.

· Phương của hai lực phải cùng nằm trên cùng một đường thẳng.

· Độ lớn của hai lực phải bằng nhau.

· Chiều của hai lực phải ngược nhau.

Thiếu 1 trong 4 yếu tố đó thì chúng không phải là hai lực cân bằng.

Nhận biết: Nếu chỉ có hai lực tác dụng vào cùng một vật mà vật vẫn đứng yên, thì hai lực đó là hai lực cân bằng.

Ví dụ: Một quyển lịch được móc vào một cái đinh đóng trên tường Hãy chobiết các lực tác dụng lên quyển lịch Có nhận xét gì về các lực đó?

Giải thích: Các lực tác dụng lên quyển lịch là:

- Lực hút của Trái Đất có phương thẳng đứng, có chiều từ trên xuống

- Lực giữ của cái đinh có phương thẳng đứng, có chiều từ dưới lên

Hai lực đó là hai lực cân bằng Vì quyển lịch đó chịu tác dụng của hai lực

mà nó vẫn đứng yên

- Về kết quả tác dụng của lực thì học sinh cần chú ý: Lực tác dụng lên một

vật có thể làm cho vật đó bị biến dạng hoặc biến đổi chuyển động hoặc cả hai (vừa làm cho vật biến đổi chuyển động và vừa bị biến dạng).

Ví dụ 1: Khi dội quả bong bàn xuống nền nhà thì quả bong sẽ như thế nào?Tại sao?

Giải thích: Khi dội quả bong bàn xuống nền nhà thì quả bóng sẽ bị móp đi

và chuyển động theo hướng khác Vì khi đó nền nhà đã tác dụng lên quả bóng và

Ngày đăng: 27/12/2018, 15:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w