1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của dự án duy trì và phát triển bền vững đến sinh kế của người dân vùng đệm vườn quốc gia tam đảo khu vực thái nguyên

71 135 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 469,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dự án quản lý và bảo vệ vườn Quốc gia Tam Đảo mang tính bền vững.Việc xem xét và đánh giá tác động của dự án thuộc tổ chức GTZ đang triển khai tại khu vực vùng đệm vườn quốc gia Tam Đảo

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ sau Hội nghị thượng đỉnh thế giới về Môi trường họp tại Reo de Janeirio, Braxin năm 1992, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đã trở thành đặc trưng cơ bản của thời đại “Phát triển bền vững” được xem là một lựa chọn tối ưu, là mục tiêu hàng đầu trong chiến lược phát triển của các quốc gia trên thế giới trong điều kiện hiện nay Thoạt đầu, phát triển bền vững được nhấn mạnh như là sự phát triển lâu dài dưới góc độ môi trường Ngày nay, khái niệm này được phân tích rộng hơn, bao gồm ba chiều hay nhằm đến 3 mục tiêu chủ yếu là: Tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và công bằng xã hội Như vậy, có thể hiểu “phát triển bền vững” là sự phát triển mà trong đó, bảo đảm sự kết hợp hài hoà giữa mục tiêu kinh

tế, mục tiêu xã hội và mục tiêu bảo vệ môi trường

Ngày nay, vấn đề môi trường ngày càng thu hút được sự quan tâm của tất cả mọi thành phần trong xã hội vì nó ảnh hưởng trực tiếp hàng ngày đến cuộc sống của vạn vật trên trái đất Trái đất của chúng ta đang nóng dần lên hàng ngày hàng giờ bởi chính các tác động xấu của con người đến môi trường tự nhiên như việc chặt phá, khai thác rừng trái phép, nước thải của các nhà máy chế biến không qua xử lý theo đúng tiêu chuẩn, khí thải của nền sản xuất công nghiệp trên toàn thế giới Môi trường xấu đã tác động lại cuộc sống của chính chúng ta như: Ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, lũ lụt, hạn hán Ở Việt Nam, Chính phủ và người dân cùng đã nhận thức được tầm quan trọng phải bảo vệ môi trường sống cho chính bản thân chúng ta và gìn giữ cho các thế hệ mai sau Cùng với sự trợ giúp của các tổ chức nước ngoài về kinh nghiệm, phương pháp kỹ thuật và vốn, chính phủ Việt Nam và các ban ngành có liên quan đã hợp sức cùng với người dân triển khai các dự án tại khu vực vùng

Trang 2

đệm nhằm duy trì và bảo tồn thiên nhiên, cải thiện môi trường sống, nâng cao nhận thức và mức sống của người dân trong khu vực vùng đệm, nhờ đó mà gián tiếp duy trì và bảo vệ các khu bảo tồn thiên nhiên

Rừng Quốc gia Tam Đảo được thành lập theo quyết định 136/TTG ngày 06/03/1996 của Thủ tướng Chính phủ, nằm cách Hà Nội khoảng 70 km về phía Bắc Với tổng diện tích 34.995 ha và 15.515

ha vùng đệm Đây là một trong những rừng Quốc gia lớn nhất ở Việt Nam và và là vùng tự nhiên cuối cùng ở sát Hà Nội chưa bị chuyển thành đất sử dụng cho nông nghiệp Rừng Quốc gia Tam Đảo cũng được biết đến với hệ sinh thái rất phong phú và đa dạng

cả về số lượng và chủng loại động thực vật trải khắp từ rừng nhiệt đới rậm rạp của vùng Đông Nam Á, rừng có khí hậu ôn hoà của miền Nam Trung Quốc và rừng vùng núi cao của miền đông dãy Himalaya Song việc khai thác tràn lan rừng quốc gia trong thời gian qua và công tác quản lý chưa hiệu quả đã làm xói mòn đa dạng sinh học và suy kiệt các nguồn lực rừng quốc gia, đặc biệt ở tầng thực vật thấp Có khoảng trên 200.000 người dân sinh sống trong khu vực xung quanh Vườn Quốc gia Tam Đảo (vùng đệm) Phần lớn người dân ở đây tạo thu nhập từ hoạt động nông nghiệp trong khi đó vẫn sử dụng Vườn Quốc gia Tam Đảo như một nguồn cung cấp thực phẩm, chất đốt, cây thuốc, nước uống, nước cho sản xuất nông nghiệp và là nơi chăn thả gia súc Trước tình hình đó, dự án kéo dài trong 6 năm (bắt đầu từ năm 2003 đến 2009) về Quản lý rừng Quốc gia và vùng đệm Tam Đảo (TamDao Management Project) đã được thiết lập giữa Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức GTZ

(German Agency for Technical Cooperation or Deutsche

Gesellschaft für Technische Zusammenarbeit), Bộ Nông nghiệp &

Phát triển Nông thôn, và ba tỉnh nằm trong vùng đệm bao gồm tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tuyên Quang Dự án Quản lý rừng

Trang 3

Quốc gia và vùng đệm Tam Đảo hướng tới phát triển phương pháp quản lý hòa nhập và hợp tác cho rừng Quốc gia và các vùng đệm cũng như giải quyết các vấn đề chính về bảo tồn môi trường thiên nhiên như nhặt củi, săn bắn, và thu nhặt cây thuốc cũng như khai thác quặng bất hợp pháp Dự án nhằm mục tiêu hỗ trợ và phát triển các sáng kiến, phương kế sinh nhai khác nhau cũng như các hoạt động giáo dục và nâng cao ý thức trong cộng đồng, cùng với các mục tiêu giảm nghèo Dự án quản lý và bảo vệ vườn Quốc gia Tam Đảo mang tính bền vững.

Việc xem xét và đánh giá tác động của dự án thuộc tổ chức GTZ đang triển khai tại khu vực vùng đệm vườn quốc gia Tam Đảo

để thấy được và nhân rộng các hoạt động mang lại hiệu quả kinh tế,

xã hội và môi trường, rút kinh nghiệm các hoạt động kém hiệu quả nhằm giúp người dân khu vực vùng đệm giảm bớt và dần dần loại

bỏ sự phụ thuộc vào việc khai thác các nguồn lợi tự nhiên để sinh sống như: Khai thác gỗ, săn bắn, chăn thả gia súc, khai thác quặng, đất đá là hết sức cấp bách và cần thiết Với mục đích duy trì và phát triển bền vững Vườn Quốc gia Tam Đảo nên việc xem xét đến hiệu quả của dự án GTZ triển khai tại khu vực vùng đệm là điều kiện tiên quyết Hơn thế nữa, hiện tại chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào thực hiện để đánh giá tác động cũng như hiệu quả của

dự án Chính vì lý do đó, tác giả chọn nghiên cứu đề tài : “Tác

động của dự án duy trì và phát bền vững đến sinh kế của người dân vùng đệm vườn quốc gia Tam Đảo khu vực Thái Nguyên”

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Trang 4

Thông qua phân tích đánh giá các hoạt động của dự án đã được triển khai tại các xã vùng đệm, tác giả chỉ ra được các hoạt động tích cực của dự án cần phát huy và nhân rộng, rút kinh nghiệm các hoạt động triển khai không hiệu quả, đề xuất các giải pháp sử dụng tối ưu để từng bước giúp người dân phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập, nâng cao đời sống kinh tế, văn hoá, trính trị xã hội và

sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên theo hướng bền vững cho người dân khu vực vùng đệm

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Tìm hiểu các hoạt động thực tế của dự án đang được triển khai

- Đánh giá sự ảnh hưởng của dự án đến sinh kế của người dân vùng đệm vườn quốc gia Tam Đảo khu vực Thái Nguyên

- Nghiên cứu, đưa ra những giải pháp để phát triển và sử dụng các nguồn lực nói chung (nguồn lực tự nhiên, nguồn lực về con người, nguồn lực về xã hội, nguồn lực tài chính) tại khu vực vùng đệm có hiệu quả nhằm đảm bảo mục tiêu duy trì và phát triển bền vững vườn quốc gia Tam Đảo

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các hộ nông dân sinh sống trong khu vực vùng đệm của dự án

- Môi trường tự nhiên và xã hội thuộc khu vực vùng đệm

- Các nguồn lực tại khu vực vùng đệm của dự án

4 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu nhằm đánh giá tính hiệu quả từ các hoạt động của dự án, xem xét việc duy trì và phát triển các nguồn lực:

Trang 5

Nguồn lực tự nhiên, nguồn lực về con người, nguồn lực về xã hội, nguồn lực về vật chất của các hộ gia đình, nguồn lực tài chính trên địa bàn nghiên cứu Từ việc nghiên cứu đó đề xuất các giải pháp để

sử dụng và phát triển bền vững các nguồn lực nói trên

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo luận văn được chia thành 3 chương cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên

cứu

Chương 2: Thực trạng triển khai dự án GTZ tại khu vực nghiên cứu Chương 3: Giải pháp chủ yếu nhằm duy trì và phát triển bền vững các nguồn lực tại vùng đệm Vườn Quốc gia Tam Đảo khu vực Thái Nguyên.

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài nghiên cứu

1.1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

1.1.1.1 Khái niệm phát triển bền vững

Trang 6

Phát triển bền vững là một khái niệm mới nảy sinh từ sau cuộc khủng hoảng môi trường, do đó cho đến nay chưa có một định nghĩa nào đầy đủ và thống nhất Một số định nghĩa của Khoa học Môi trường về phát triển bền vững:

- Năm 1992: Tại Rio de Janeiro, Brasil là nơi đăng cai tổ chức Hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất, tên chính thức là Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc (UNCED) Tại đây, các đại biểu tham gia đã thống nhất những nguyên tắc cơ bản và phát động một chương trình hành động vì sự phát triển bền vững có tên Chương trình Nghị sự 21 (Agenda 21) Với sự tham gia của đại diện hơn 200 nước trên thế giới cùng một số lượng lớn các tổ chức phi chính phủ, hội nghị đã đưa ra bản Tuyên ngôn Rio về môi trường và phát triển cũng như thông qua một số văn kiện như hiệp định về sự đa dạng sinh học, bộ khung hiệp định về sự biến đổi khí

Năm 2002: Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững nhóm họp tại Johannesburg, Nam Phi là dịp cho các bên tham gia nhìn lại những việc đã làm 10 năm qua theo phương hướng mà Tuyên ngôn Rio và Chương trình Nghị sự 21 đã vạch ra, tiếp tục tiến hành với một số mục tiêu được ưu tiên Những mục tiêu này bao gồm xóa nghèo đói, phát triển những sản phẩm tái sinh hoặc thân thiện với môi trường nhằm thay thế các sản phẩm gây ô nhiễm, bảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên Hội nghị cũng

đề cập tới chủ đề toàn cầu hóa gắn với các vấn đề liên quan tới sức khỏe và phát triển Các đại diện của các quốc gia tham gia hội nghị cũng cam kết phát triển chiến lược về phát triển bền vững tại mỗi quốc gia trước năm 2005 Việt Nam cũng đã cam kết và bắt tay vào hành động với Dự án VIE/01/021 "Hỗ trợ xây dựng và thực hiện Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam" bắt đầu vào tháng 11/2001

và kết thúc vào tháng 12/2005 nhằm tạo tiền đề cho việc thực hiện

Trang 7

Vietnam Agenda 21.

-Theo Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển (World Commission and Environment and Development, WCED) thì “phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ”

- Phát triển bền vững là một mô hình chuyển đổi mà nó tối ưu các lợi ích kinh tế và xã hội trong hiện tại nhưng không hề gây hại

cho tiềm năng của những lợi ích tương tự trong tương lai (nguồn:

Gôdian và hecdue, 1988, GS Grima Lino).

Định nghĩa này bao gồm hai nội dung then chốt: Các nhu cầu của con người và những giới hạn đối với khả năng của môi trường đáp ứng các nhu cầu hiện tại và tương lai của con người

- Phát triển bền vững là mô hình phát triển mới trên cơ sở ứng dụng hợp lý và tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục

vụ cho nhu cầu của con người thế hệ hiện nay mà không làm hại

cho thế hệ mai sau (nguồn: Nguyễn Mạnh Huấn, Hoàng Đình Phu-

Những vấn đề kinh tế –xã hội và văn hoá trong phát triển bền vững,

Hà Nội 3/1993, trang 17,18).

- Phát triển bền vững là mục tiêu của tăng trưởng kinh tế làm giảm sự khai thác tài nguyên cho phát triển kinh tế, sự suy thoái môi trường trong tương lai và làm giảm sự đói nghèo

- Phát triển bền vững bao gồm sự thay đổi Công nghệ hiện đại, Công nghệ sạch, Công nghệ có hiệu quả hơn nhằm tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên hoặc từ sản phẩm kinh tế – xã hội

Muốn vậy, phải giải quyết các mâu thuẫn như sản xuất – nhu cầu - tài nguyên thiên nhiên và phân phối, vốn đầu tư, cũng như Công nghệ tiên tiến cho sản xuất

- Các nước trên thế giới đều có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên; điều kiện kinh tế – xã hội khác nhau, đưa đến

Trang 8

hiện tượng có nước giàu và nước nghèo, nước công nghiệp phát triển và nước nông nghiệp Do đó, cần xem xét bốn vấn đề: con người, kinh tế, môi trường và công nghệ, qua đó phân tích phát triển bền vững và có đạt được mục tiêu phát triển bền vững.

-Về kinh tế, phát triển bền vững bao hàm việc cải thiện giáo dục, chăm lo sức khoẻ cho phụ nữ và trẻ em, chăm lo sức khoẻ cho cộng đồng, tạo ra sự công bằng về quyền sử dụng ruộng đất, đồng thời xóa dần sự cách biệt về thu nhập cho mọi thành viên trong cộng đồng xã hội

-Về con người, để đảm bảo phát triển bền vững cần thiết nâng cao trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật cho người dân, nhờ vậy người dân sẽ tích cực tham gia bảo vệ môi trường cho sự phát triển bền vững Muốn vậy phải đào tạo một đội ngũ các nhà giáo đủ về

số lượng, cũng như các thầy thuốc, các kỹ thuật viên, các chuyên gia, các nhà khoa học trong mọi lĩnh vực của đời sống

-Về môi trường, phát triển bền vững đòi hỏi phải sử dụng tài nguyên như đất trồng, nguồn nước, khoáng sản… đồng thời, phải chọn lựa kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để nâng cao sản lượng, cũng như mở rộng sản xuất đáp ứng nhu cầu của dân số tăng nhanh.Phát triển bền vững đòi hỏi không làm thoái hoá các ao hồ, sông ngòi, uy hiếp đời sống sinh vật hoang dã, không lạm dụng hoá chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp, không gây nhiễm độc nguồn nước, không khí và lương thực

-Về Công nghệ, phát triển bền vững là giảm thiểu tiêu thụ năng lượng và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong sản xuất,

áp dụng có hiệu quả các loại hình công nghệ sạch trong sản xuất Trong sản xuất công nghiệp cần đạt mục tiêu ít chất thải hoặc chất gây ô nhiễm môi trường, tái sử dụng các chất thải, ngăn ngừa các chất khí thải công nghiệp làm suy giảm tầng ozon bảo vệ trái đất

Trang 9

- Phát triển bền vững và các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội – văn hoá – môi trường Mỗi mục tiêu phát triển có vị trí riêng của nó, song nó được gắn với mục tiêu khác Sự hoà nhập hài hoà hữu cơ này tạo nên sự phát triển tối ưu cho cả nhu cầu hiện tại và tương lai vì xã hội loài người.

Phát triển bền vững theo Brundtland

(Năm 1984: Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã ủy nhiệm cho bà Gro Harlem Brundtland, khi đó là Thủ tướng Na Uy, quyền thành lập và làm chủ tịch Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (World Commission on Environment and Development-WCED), nay còn được biết đến với tên Ủy ban Brundtland Tới nay, ủy ban này đã được ghi nhận có những công hiến rất giá trị cho việc đẩy mạnh sự phát triển bền vững.)

Theo Ủy ban Brundtland: "Phát triển bền vững là sự phát

triển thoả mãn những nhu cầu của hiện tại và không phương hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai Đó là quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con người, động vật

và thực vật Qua các bản tuyên bố quan trọng, khái niệm này tiếp tục mở rộng thêm và nội hàm của nó không chỉ dừng lại ở nhân tố sinh thái mà còn đi vào các nhân tố xã hội, con người, nó hàm chứa

sự bình đẳng giữa những nước giàu và nghèo, và giữa các thế hệ Thậm chí nó còn bao hàm sự cần thiết giải trừ quân bị, coi đây là điều kiện tiên quyết nhằm giải phóng nguồn tài chính cần thiết để

áp dụng khái niệm phát triển bền vững

1.1.1.2 Xu hướng phát triển bền vững

“Phát triển bền vững” qua một số nghiên cứu ở Việt Nam

Trang 10

Khái niệm “Phát triển bền vững” được biết đến ở Việt Nam vào khoảng cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 Mặc dù xuất hiện ở Việt Nam khá muộn nhưng nó lại sớm được thể hiện ở nhiều cấp

độ

Về mặt học thuật, thuật ngữ này được giới khoa học nước ta tiếp thu nhanh Đã có hàng loạt công trình nghiên cứu liên quan mà đầu tiên phải kể đến là công trình do giới nghiên cứu môi trường tiến hành như "Tiến tới môi trường bền vững” (1995) của Trung tâm tài nguyên và môi trường, Đại học Tổng hợp Hà Nội Công trình này đã tiếp thu và thao tác hoá khái niệm phát triển bền vững theo báo cáo Brundtland như một tiến trình đòi hỏi đồng thời trên bốn lĩnh vực: Bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt nhân văn, bền vững về mặt môi trường, bền vững về mặt kỹ thuật "Nghiên cứu xây dựng tiêu chí phát triển bền vững cấp quốc gia ở Việt Nam

- giai đoạn I” (2003) do Viện Môi trường và phát triển bền vững, Hội Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam tiến hành Trên

cơ sở tham khảo bộ tiêu chí phát triển bền vững của Brundtland và kinh nghiệm các nước: Trung Quốc, Anh, Mỹ, các tác giả đã đưa ra các tiêu chí cụ thể về phát triển bền vững đối với một quốc gia là bền vững kinh tế, bền vững xã hội và bền vững môi trường Đồng thời cũng đề xuất một số phương án lựa chọn bộ tiêu chí phát triển bền vững cho Việt Nam "Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững (2000) do Lưu Đức Hải và cộng sự tiến hành đã trình bày hệ thống quan điểm lý thuyết và hành động quản lý môi trường cho phát triển bền vững Công trình này đã xác định phát triển bền vững qua các tiêu chí: Bền vững kinh tế, bền vững môi trường, bền vững văn hoá, đã tổng quan nhiều mô hình phát triển bền vững như mô hình 3 vòng tròn kinh kế, xã hội, môi trường giao nhau của Jacobs

và Sadler (1990), mô hình tương tác đa lĩnh vực kinh tế, chính trị, hành chính, công nghệ, quốc tế, sản xuất, xã hội của WCED (1987),

Trang 11

mô hình liên hệ thống kinh tế, xã hội, sinh thái của Villen (1990),

mô hình 3 nhóm mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường của ngân hàng thế giới (World Bank)

Chủ đề này cũng được bàn luận sôi nổi trong giới khoa học

xã hội với các công trình như "Đổi mới chính sách xã hội - Luận cứ

và giải pháp" (1997) của Phạm Xuân Nam Trong công trình này, tác giả làm rõ 5 hệ chỉ báo thể hiện quan điểm phát triển bền vững: Phát triển xã hội, phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, phát triển chính trị, tinh thần, trí tuệ, và cuối cùng là dự báo quốc tế về phát triển

1.1.1.2 Khái niệm sinh kế

- Sinh kế: Một sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (cửa hàng, nguồn tài nguyên, đất đai, đường xá ) và các hoạt động cần

có để kiếm sống

Kết quả của sinh kế là những thay đổi có lợi cho sinh

kế của cộng đồng Nhờ các chiến lược sinh kế mang lại cụ thể là thu nhập cao hơn, nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần, cuộc sống ổn định hơn, giảm rủi ro, đảm bảo tốt hơn an toàn lương thực và sử dụng bền vững hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên

- Sinh kế bền vững: Một sinh kế được xem là bền vững khi nó phải phát huy được tiềm năng của con người để từ đó sản xuất và duy trì phượng tiện kiếm sống của họ Nó phải có khả năng đương đầu và vượt qua áp lực cũng như các thay đổi bất ngờ

- Sinh kế bền vững không được khai thác hoặc gây bất lợi cho môi trường hoặc cho các sinh kế khác ở hiện tại và tương lai – trên thực

tế thì nó nên thúc đẩy sự hoà hợp giữa chúng và mang lại những điều tốt đẹp cho các thế hệ tương lai

- Sinh kế bền vững , nếu theo nghĩa này phải hội tụ đủ những nguyến tắc sau: Lấy con người làm trung tâm, dễ tiếp cận, có sự

Trang 12

tham gia của người dân, xây dựng dựa trên sức mạnh con người và đối phó với các khả năng dễ bị tổn thương, tổng thể, thực hiện ở nhiều cấp, trong mối quan hệ với đối tác, bền vững và năng động.

Nguồn tham khảo: CẨM NANG PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ NÔNG THÔN VÀ PHÂN TÍCH SINH KẾ BỀN VỮNG Mạng Lưới Các Trung Tâm Nuôi Trồng Thủy Sản Châu Á Thái Bình Dương (NACA) Hà nội, 6/2006

1.1.1.3 Khái niệm về vùng đệm

Tại Điều 8- Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ngày 11/01/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất là rừng tự nhiên quy định ghi rõ: "Vùng đệm là vùng rừng, đất hoặc vùng đất

có mặt nước nằm sát ranh giới với các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên; có tác dụng ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm phạm khu rừng đặc dụng Mọi hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích hỗ trợ cho công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ khu rừng đặc dụng; hạn chế di dân từ bên ngoài vào vùng đệm; cấm săn bắn, bẫy bắt các loài động vật và chặt phá các loài thực vật hoang dã là đối tượng bảo vệ Diện tích của vùng đệm không tính vào diện tích của khu rừng đặc dụng; dự án đầu tư xây dựng và phát triển vùng đệm được phê duyệt cùng với dự án đầu tư của khu rừng đặc dụng Chủ đầu tư dự án vùng đệm có trách nhiệm phối hợp với UBND các cấp

và các cơ quan, đơn vị, các tổ chức kinh tế - xã hội ở trên địa bàn của vùng đệm, đặc biệt là với ban quản lý khu rừng đặc dụng để xây dựng các phương án sản xuất lâm – nông - ngư nghiệp, định canh định cư trên cơ sở có sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện để

ổn định và nâng cao đời sống của người dân".(Nguồn )

Như vậy, vùng đệm phải được xác định trên cơ sở theo ranh giới của các xã nằm ngay bên ngoài khu bảo tồn, những lâm trường

Trang 13

quốc doanh tiếp giáp với khu bảo tồn nên đưa vào trong vùng đệm

vì những hoạt động của các lâm trường này có ảnh hưởng đến công tác bảo tồn của cả vùng đệm và khu bảo tồn Trong những trường hợp như thế, ranh giới vùng đệm không nhất thiết cách đều một khoảng và chạy song song với ranh giới các khu bảo tồn

Vùng đệm của vườn quốc gia Tam Đảo được xác định nằm trên địa bàn của 27 xã và thị trấn thuộc 6 huyện và 3 tỉnh, cụ thể là:

- Tỉnh Vĩnh Phúc: Bao gồm các xã Hồ Sơn, Hợp Châu, Minh Quang, Đại Đình, Tam Quan thuộc huyện Tam Đảo và thị trấn Tam Đảo; xã Trung Mỹ thuộc huyện Bình Xuyên; và xã Ngọc Thanh thuộc huyện Mê Linh

- Tỉnh Thái Nguyên: Bao gồm các xã Quân Chu, Cát Nê, Ký Phú, Văn Yên, Hoàng Nông, Phú Xuyên, La Bằng, Mỹ Yên, Khôi

Kỳ, Yên Lãng và thị trấn Quân Chu thuộc huyện Đại Từ; xã Phúc Thuận và Thành Công thuộc huyện Phổ Yên

- Tỉnh Tuyên Quang: Bao gồm các xã Ninh Lai, Thiện Kế, Hợp Hoà, Kháng Nhật, và Hợp Thành thuộc huyện Sơn Dương

1.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.1.2.1 Đôi nét về tổ chức GTZ.

- Tổ chức GTZ là một tổ chức thuộc chính phủ Đức hoạt động trong lĩnh vực hợp tác quốc tế Nhiệm vụ của GTZ là góp phần tác động tích cực vào sự phát triển về mặt chính sách, kinh tế, sinh thái

và xã hội của 130 nước đối tác, cải thiện điều kiện sống kinh tế, văn hoá và triển vọng lâu dài của người dân ở các nước đó

Các hoạt động của GTZ được tài trợ bởi chính Bộ hợp tác Kinh tế phát triển Đức (BMZ) Ngoài ra, GTZ thực hiện sứ mệnh của mình dưới sự uỷ nhiệm của các Bộ khác của Đức Chính phủ của các nước đối tác và các tổ chức quốc tế như Uỷ ban châu Âu

Trang 14

(European Commission), Liên Hợp Quốc (United Nations), Ngân hàng thế giới (World Bank) cũng như các tổ chức cá nhân khác.GTZ đã có mặt ở Việt Nam vào năm 1993 và hiện đang hỗ trợ Chính phủ Việt Nam trong việc triển khai hơn 20 chương trình dự

án trong nhiều lĩnh vực khác nhau Hiện tại, hoạt động hợp tác kỹ thuật của GTZ tại Việt Nam tập chung vào ba lĩnh vực chính: Phát triển kinh tế bền vững, Quản lý tài nguyên thiên nhiên, Chăm sóc sức khoẻ và lĩnh vực đan xen giảm nghèo

1.1.2.2 Một số hoạt động của GTZ triển khai tại Việt Nam.

a Dự án Phát triển nông thôn Đắk Lắk

Từ năm 2003, Dự án đẩy mạnh sự tham gia của đồng bào dân tộc thiểu số nông thôn vào tiến trình phát triển kinh tế của tỉnh Mục tiêu giai đoạn II là giới thiệu phương pháp lập kế hoạch phát triển chung dựa theo nhu cầu để phân phối nguồn lực Sự quan tâm đến nhu cầu và bối cảnh văn hóa - xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số

là điểm mấu chốt trong việc điều chỉnh khung pháp lý để phát triển nông thôn và quản lý tài nguyên thiên nhiên

Dự án hỗ trợ giới thiệu mô hình quản lý rừng cộng đồng có

sự tham gia trong giao đất, điều tra rừng và lập kế hoạch quản lý rừng Đồng thời, hỗ trợ các cơ quan liên quan xây dựng và thí điểm các thủ tục hành chính và tài chính cần thiết để thể chế hóa thủ tục

và nhân rộng toàn tỉnh Cùng với các cơ quan khuyến nông thuộc

Sở NN-PTNT và với sự tham gia của nông dân là dân tộc thiểu số,

Dự án đã triển khai thí điểm và phổ biến các mô hình canh tác đất dốc và chăn nuôi gia súc phù hợp Đồng thời giới thiệu các phương pháp khuyến nông có sự tham gia và hỗ trợ người dân tiếp cận các nguồn tín dụng quy mô nhỏ Để tạo cơ hội tăng thu nhập thêm cho người dân, Dự án xúc tiến thúc đẩy mối liên kết giữa sản xuất, chế biến và thương mại thông qua xây dựng các chuỗi giá trị và Hợp tác Công - Tư Dự án cũng tập trung vào nâng cao năng lực và tập

Trang 15

huấn cho các cán bộ ở các cơ quan và tổ chức xã hội các cấp trong tỉnh Các quy trình, hướng dẫn mới hoặc được thông qua và các mô hình đã được thí điểm ở 4 xã mục tiêu của dự án ở huyện Lak và Ea H’Leo Phân bổ tài chính công cho các buôn người dân tộc thiểu số

ở 2 huyện mục tiêu vùng dự án (Lak và Ea H'Leo) tăng từ 23 tỉ đồng (tương đương khoảng 1,15 triệu Euro vào năm 2005) lên 35 tỉ đồng (tương đương 1,75 triệu Euro)

b Tại Đắc Nông (8):

Ngày 16/4/08 tại Hà Nội, ông Đỗ Thế Nhữ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông đã ký văn bản thoả thuận thực hiện Dự án Bảo vệ Môi trường và Quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên tỉnh Đắk Nông với Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Liên bang Đức, do Tiến sĩ Guenter Riethmacher, Giám đốc Tổ chức Hợp tác kỹ thuật Đức tại Việt Nam (GTZ) đại diện

* Mục tiêu của Dự án:

- Cải thiện sự tham gia của người dân nghèo ở nông thôn, đặc biệt là người dân tộc thiểu số vào công cuộc phát triển kinh tế của tỉnh Đắc Nông Hướng đi của dự án sẽ tập trung vào việc cải thiện nông nghiệp vùng cao, đưa vào áp dụng các mô hình nông lâm kết hợp, chú trọng phương pháp quản lý rừng dựa vào cộng đồng… để các hộ dân và người dân tộc thiểu số cùng thực hiện Phương pháp này cũng sẽ được nhân rộng trên toàn tỉnh Không chỉ góp phần thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam cũng như Chiến lược Bảo vệ Môi trường Quốc gia, dự án còn giúp xây dựng các phương pháp và cách tiếp cận mới để thực hiện ở cấp trung ương và tỉnh Chính phủ Đức viện trợ không hoàn lại 2 triệu euro cho giai đoạn này Kết quả của dự án không chỉ dừng lại ở sự

hỗ trợ phát triển mà còn tác động đến được với đời sống người dân

Về phía UBND tỉnh Đắk Nông, Phó Chủ tịch Đỗ Thế Nhữ nêu rõ, với gần 90% dân số sống bằng nghề nông nghiệp, lâm

Trang 16

nghiệp, 35% dân số của tỉnh là người dân tộc thiểu số nghèo, Đắk Nông nhận thức rất rõ tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên gắn với sản xuất kinh doanh Dự án Bảo

vệ môi trường và Quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên

có tầm quan trọng rất lớn đối với tỉnh Đắk Nông, tạo nền tảng cho

sự phát triển bền vững của tỉnh UBND tỉnh Đắk Nông cam kết tổ chức thực hiện đúng các cam kết trong dự án đồng thời thành lập một Ban Chỉ đạo của tỉnh để giám sát và thực hiện Tổng số tiền viện trợ 2 triệu Euro, chủ yếu là viện trợ không hoàn lại

c Tại Hoà Bình: (9)

* Nội dung dự án:

• Nâng cao năng lực trong quản lý và lập kế hoạch phát triển rừng cho cán bộ lâm nghiệp cấp huyện, xã để có đủ trình độ tư vấn hướng dẫn cho các chủ rừng tư nhân và cộng đồng thực hiện được các hoạt động theo yêu cầu của dự án

• Xây dựng mô hình điểm về sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên và thiết lập các hoạt động về quản lý bền vững diện tích rừng hiện có tại thôn bản của 04 huyện của mỗi tỉnh (ít nhất mỗi Huyện 01 mô hình được thực hiện có hiệu quả)

• Nâng cao năng lực phát triển thể chế và tổ chức trong quản

lý lâm nghiệp cấp tỉnh, huyện và xã

* Mục tiêu chính cần đạt là:

• Nâng cao năng lực cho hệ thống các đối tác của dự án

• Cải thiện năng lực tổ chức và phát triển thể chế về quản lý rừng tại cấp tỉnh, huyện và xã trong vùng dự án

• Phát triển mô hình thí điểm về sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên và thiết lập các hoạt động bền vững diện tích rừng hiện

có tại hai tỉnh Hoà Bình – Sơn La

Tổng số tiền viện trợ không hoàn lại là 2 triệu Euro

Trang 17

Thời gian thực hiện dự án: Từ 5/2007 – 5/2010.

d Quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên vùng ven biển tại tỉnh Sóc Trăng

Dự án hỗ trợ Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng và Chi cục kiểm lâm thông qua việc phát triển các mô hình đồng quản lý các vùng ven biển bền vững, quản lý rừng ngập mặn thích ứng với sự biến đổi khí hậu, cũng như xây dựng một khuôn khổ chính sách điều tiết Chương trình sẽ được hỗ trợ thông qua xây dựng các đề án tài trợ bền vững cho các dịch vụ môi trường, cung cấp bởi các vùng đất ngập nước ven biển

Để bảo vệ và quản lý vành đai rừng ngập mặn hiệu quả, dự

án sẽ áp dụng Phương pháp Hệ Sinh Thái, một chiến lược để quản

lý tổng hợp đất, nước và nguồn tài nguyên sinh vật nhằm hỗ trợ bảo tồn và sử dụng bền vững một cách hợp lý

Các nhóm đối tượng của dự án là những người dân địa phương sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên vùng ven biển Nhóm này bao gồm những người không có đất canh tác, phụ thuộc vào việc thu gom các nguồn tài nguyên chẳng hạn như cua, các loài động vật thân mềm, cá và mật ong để sinh sống cũng như những người nuôi tôm, phụ thuộc vào nguồn nước ven biển không bị ô nhiễm

đ Bảo tồn và Quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên khu vực VQG Phong Nha-Kẻ Bàng

Trang 18

Bằng các biện pháp hỗ trợ kỹ thuật, tổ chức hội thảo, và hỗ trợ tài chính, dự án hoạt động nhằm tăng cường cơ chế lập kế hoạch cấp huyện và xã theo đường hướng sử dụng các phương pháp thân thiện với môi trường và quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên

Nhằm thúc đẩy sinh kế cho vùng đệm của vườn quốc gia, dự

án hỗ trợ việc lập kế hoạch của địa phương và các cơ quan thực hiện việc lập “kế hoạch phát triển bền vững kinh tế vùng đệm” Mục tiêu tổng thể của kế hoạch là phác thảo các cơ hội sinh kế thay thế mang tính bền vững và thân thiện với môi trường, giảm sự phụ thuộc của người dân trong vùng vào nguồn tài nguyên thiên nhiên của vườn quốc gia

Thêm vào đó, dự án còn xây dựng “Quy hoạch phát triển du lịch” cho vùng dự án Nâng cao năng lực quản lý và nhận thức môi trường trong khu vực Phong Nha Kẻ Bàng, từ đó xây dựng và phát triển một ngành du lịch mang tính môi trường bền vững, đem lại lợi ích trực tiếp cải thiện sinh kế của nhân dân địa phương

Ngoài ra, dự án GTZ hỗ trợ ban quản lý vườn quốc gia tăng cường các biện pháp bảo vệ, hỗ trợ không chỉ việc bảo vệ vườn mà còn tái sinh và bảo tồn các loài động thực vật đang bị đe dọa

Thời gian hoạt động của dự án là 8 năm, chia làm 3 giai đoạn, 2 giai đoạn đầu thực hiện trong 3 năm và giai đoạn cuối trong

2 năm Giai đoạn 1 của dự án tính từ 10/2007 đến 10/2010

e Kết hợp Bảo tồn và Phát triển Khu Dự trữ Sinh quyển tỉnh Kiên Giang

Dự án sẽ tập trung triển khai hoạt động tại ba trọng điểm của Khu Dự trữ Sinh quyển tỉnh Kiên Giang mà đã được UNESCO công nhận năm 2006, gồm Vườn Quốc gia U Minh Thượng, Vườn

Trang 19

Quốc gia Phú Quốc và khu vực rừng phòng hộ ven biển thuộc Kiên Lương và Hòn Chông

Mục tiêu của Dự án là quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên của tỉnh Kiên Giang và cải thiện việc quản lý các khu rừng phòng hộ

Giai đoạn đầu của Dự án sẽ đặt trong tâm vào quản lý hiệu quả các khu rừng phòng hộ và rừng ven biển

Một số khảo sát ban đầu sẽ được thực hiện để điều tra động thực vật trong vùng lõi các vườn quốc gia và các khu rừng phòng

hộ ven biển Đây sẽ là cơ sở để giám sát tác động của Dự án cũng như việc triển khai các chiến dịch nâng cao nhận thức

Các nhóm đối tượng của Dự án gồm người dân nghèo sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên thuộc rừng phòng hộ ven biển, đất ngập nước và các khu bảo vệ cũng như cán bộ trực thuộc các vườn quốc gia, các sở, ban, ngành liên quan của tỉnh và huyện

Tham gia Dự án còn có người dân, cán bộ khuyến nông, cán

bộ địa phương và các cơ quan đoàn thể Dự án sẽ giải quyết vấn đề xóa đói giảm nghèo thông qua các cơ hội cải thiện và đa dạng sinh

kế, đặc biệt cho người dân các dân tộc thiểu số như người Khmer và phụ nữ

Lợi ích trực tiếp của Dự án là sự phối kết hợp giữa các bên tham gia được cải thiện Sẽ tổ chức những hội thảo với các bên tham gia để tiến hành lập kế hoạch cho các chiến lược quản lý, và cùng phối hợp với Dự án Quản lý Nguồn tài nguyên thiên nhiên vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng để chia sẻ thông tin và áp dụng rộng rãi cho các hệ sinh thái khác nhau của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long

Đầu ra của Dự án gồm:

• Đa dạng sinh học động, thực vật được đánh giá tại các điểm nóng

Trang 20

• Các chiến lược quản lý sử dụng đất cho Khu Dự trữ sinh quyển được hoàn thiện

• Năng lực và kiến thức kỹ thuật cho các cơ hội tạo thu nhập, gồm cả kiến thức thị trường được cải thiện

• Nâng cao nhận thức về môi trường và quản lý tài nguyên thiên nhiên

• Xây dựng được các kế hoạch bảo tồn đa dạng sinh học trong Khu

• Năng lực lập kế hoạch, thiết kế và quản lý dự án được cải thiện

Thực trạng triển khai dự án tại vùng đệm Vườn Quốc gia

Tam Đảo khu vực Thái Nguyên

Hoạt động hợp tác trên nằm trong khuôn khổ giai đoạn 2 của

dự án Phát triển rừng Quốc gia Tam Đảo và vùng đệm (gồm ba tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Thái Nguyên) do GTZ phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thực hiện từ năm 2006 đến

2009, với khoảng 1,5 triệu euro viện trợ không hoàn lại của phía Đức

Giai đoạn 1 của dự án được thực hiện trong giai đoạn 2003-2006, phía Đức đã tài trợ 1,79 triệu euro, được thực hiện tại

26 làng thuộc 8 huyện của 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tuyên Quang, với mục tiêu phát triển bền vững, xóa đói giảm nghèo và bảo vệ thiên nhiên môi trường

Giai đoạn 2: Ngày 4/7/07 tại Hà Nội, trước sự chứng kiến của đại diện các cơ quan ban ngành, ông Guenter Riemacher – Giám

Trang 21

đốc văn phòng đại diện Tổ chức hợp tác kỹ thuật Đức (GTZ) tại Hà

Nội và TS Lê Văn Minh - Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Nông

nghiệp và Phát triển nông thôn đã ký kết Bản thỏa thuận thực hiện

dự án Quản lý vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm - giai đoạn 2

từ tháng 10/2006 – 9/2009

Theo đó, giai đoan này của Dự án sẽ tập trung vào 3 nội dung chính như: Tiếp tục hoàn thiện, phổ biến các khái niệm và phương

pháp luận về lập kế hoạch sử dụng tài nguyên bền vững vào kế

hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương và kế hoạch ngành;

Nâng cao đời sống người dân thông qua việc giới thiệu các kỹ thuật

bảo tồn tài nguyên thiên nhiên gắn với lợi ích kinh tế trong sản xuất

nông lâm nghiệp và chăn nuôi; Xây dựng hệ thống giám sát và đánh

giá đối với tác động của các biện pháp bảo tồn tự nhiên ở Vườn

quốc gia Tam Đảo CHLB Đức Viện trợ không hoàn lại 2 triệu euro

cho dự án Quản lý vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm - giai đoạn

2

(Nguồn Bộ NN & PTNT ngày 7/17/2007)

Các hoạt động hỗ trợ của dự án GTZ tại huyện Đại Từ tỉnh

Thái Nguyên

Xã được

triển khai

Bắt đầu thực hiện

Yên Lãng 2004

Đèo Khê Trồng chè cành giống mới 50

Khuôn Nanh Khôi phục nương chè già 18

Xây dựng vườn ươm cây LN 2

Văn Yên 2004

Bầu 2 Trồng chè cành giống mới 90

Trang 22

Cát Nê 2005

Đồng Gốc Trồng chè cành giống mới 63

Xóm Vang Trồng chè cành giống mới 133

Tân Tiến 1 CLB phụ nữ chăn nuôi 100

Tân Yên 2 Xây dựng vườn ươm cây LN 3

Hoàng

Làng Hưu Trồng chè cành giống mới 264

Đồng Khuôn CLB phụ nữ chăn nuôi 120

Tham quan mô hình trang trại 30

Nguồn :Công ty TNHH Mê Công 24 Trấn Vũ Quận Ba Đình Hà Nội,Việt Nam (10)

1.2 Phương pháp nghiên cứu và đánh giá

1.2.1 Các vấn đề mà đề tài cần giải quyết

Mục tiêu của dự án bảo vệ vườn Quốc gia Tam Đảo là nhằm

cải thiện mức sống cho các hộ gia đình thông qua cải thiện thu

nhập Việc xem xét mức thu nhập, chi phí cho sản xuất của hộ và

các nguồn thu nhập khác sẽ làm cơ sở cho việc đánh giá tác động

dự án

Để có những căn cứ đánh giá tác động của dự án đến sinh kế

người dân vùng đệm vườn quốc gia Tam Đảo khu vực Thái Nguyên

thì các vấn đề mà tác giả cần tập chung giả quyết là:

1. Dự án tác động đến sinh kế của người dân trong khu vực vùng

đệm như thế nào?

Trang 23

2. Thu nhập của các hộ nông dân tham gia dự án có gì khác biệt với các hộ dân không tham gia dự án?

3. Xu hướng đầu tư cho tương lai tại địa phương trong nông nghiệp

4. Nhận thức của các hộ dân tham gia dự án và không tham gia dự

án về vấn đề trồng và bảo vệ rừng có được cải thiện hay không?

5. Đánh giá của người dân tham gia dự án và không tham gia dự án

về ô nhiễm môi trường tại khu vực vùng đệm

6. Người dân có ủng hộ, tham gia nhiệt tình vào dự án hay không?

7. Các hoạt động hỗ trợ về cơ sở hạ tầng nông thôn có tác động như thế nào đến sinh kế của người dân vùng đệm

8. Khả năng tạo thu nhập mới của người dân sau khi tham gia dự

án tại địa phương

9. Đánh giá rủi ro trong phương thức sinh sống mới sau khi khai

dự án rút khỏi địa phương

10 Rừng tự nhiên đã được bảo vệ bởi cộng đồng địa phương hay chưa?

1.2.2 Phương pháp nghiên cứu

1.2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Phương pháp này được sử dụng để hệ thống hoá và tóm tắt về cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn có liên quan đến đề tài này Ngoài ra, thu thập số liệu thứ cấp tại phòng Nông nghiệp & PTNT, phòng Tài nguyên và môi trường, phòng thống kê và các phòng ban khác ở huyện Đại Từ, Ban quản lý vườn Quốc gia Tam Đảo Nguồn gốc của các tài liệu này đều được chú thích rõ ràng sau mỗi biểu số liệu

- Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp: Chọn mẫu điều tra trong khu vực nghiên cứu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên Phỏng

Trang 24

vấn trực tiếp chủ hộ bằng các câu hỏi đã được chuẩn bị trước và in sẵn Thu thập các thông tin sơ cấp tại các hộ nông dân trên địa bàn vùng đệm thuộc vườn quốc gia Tam Đảo theo 02 nhóm: Nhóm hộ dân tham gia dự án (150 mẫu) và nhóm hộ không tham gia dự án (48 mẫu điều tra).

* Mục tiêu chọn mẫu điều tra

Mục tiêu của hoạt động điều tra thực địa nhằm thu thập đầy

đủ, toàn diện và chính xác các thông tin về đời sống sinh hoạt, các hoạt động sản xuất – kinh doanh, trồng và bảo vệ rừng, tư tưởng ý thức của các hộ trong địa bàn nghiên cứu để từ đó có thể chỉ ra những tác động, thay đổi do các hoạt động dự án mang lại

* Cơ sở chọn mẫu điều tra

Sau khi khảo sát kỹ lưỡng, tác giả và các thành viên trong nhóm điều tra quyết định lựa chọn 03 xã là Cát Nê, Văn Yên và Ký Phú thuộc huyện Đại Từ để điều tra Đây là 03 xã tiêu biểu, có thể đại diện được cho tất cả các xã còn lại trong huyện Xã Cát Nê đại diện cho các xã vùng sâu vùng xa, xã Văn Yên đại diện cho các xã vùng giữa còn xã Ký Phú đại diện cho các xã gần với khu vực thị trấn Đại Từ

Số liệu điều tra sơ cấp được tác giả thu thập thông qua các phương pháp sau:

* Phương pháp phỏng vấn cấu trúc:

Để thu thập số liệu cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu, chúng tôi đã điều tra các hộ sản xuất nông nghiệp bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp một thành viên hiểu biết về nông nghiệp của gia đình Điều này đảm bảo lượng thông tin có tính đại diện và chính xác Chúng tôi phỏng vấn thử một số hộ theo một mẫu câu hỏi đã được soạn thảo trước Sau đó xem xét bổ sung phần còn thiếu và loại bỏ phần không phù hợp trong bảng câu hỏi Câu hỏi

Trang 25

được soạn thảo bao gồm các câu hỏi đóng và câu hỏi mở Nội dung các câu hỏi phục vụ cho đề tài nghiên cứu theo các nhóm thông tin sau:

1 Nhóm thông tin về xác định hộ gia đình

2 Nhóm thông tin về các đặc điểm nhân khẩu của hộ

3 Nhóm thông tin về các nguồn lực tự nhiên của hộ

4 Nhóm thông tin về các nguồn thu nhập của hộ

5 Nhóm thông tin về hiện trạng sử dụng các nguồn lực tự nhiên từ rừng quốc gia, rừng trồng của hộ

6 Nhóm thông tin đánh giá tác động của các hoạt động hiện nay đến sinh kế của người dân

7 Nhóm thông tin về các hoạt động hỗ trợ của dự án

* Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc:

Để lấy thông tin theo chiều rộng, tránh cho người bị phỏng vấn cảm thấy bị nhàm chán, bị ép buộc phải trả lời câu hỏi có sẵn, chúng tôi đã dùng các câu hỏi không có trong phiếu điều tra để hỏi thêm các hộ dân trong quá trình phỏng vấn

Phương pháp này nhằm mục đích lấy thêm những thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu, gợi mở hơn nhiều vấn đề mới quan trọng và thú vị

* Phương pháp quan sát trực tiếp:

Đây là phương pháp rất sinh động và thực tế Tác giả có thêm các thông tin tại địa bàn nghiên cứu trong quá trình đi điều tra phỏng vấn hộ thông qua ghi chép, chụp ảnh lại một cách cụ thể, thực tế, phong phú và khách quan

1.2.2.2 Phương pháp xử lý thông tin

- Thông tin và các số liệu sau khi thu thập được sẽ được cập nhật và tính toán thuỳ theo mục đích của đề tài trên chương trình Excel của Microsoft

Trang 26

- Sử dụng phần mềm xử lý thống kê xã hội SPSS 15.0 for Windows (Satatistical Package For Social Sciences) để tính toán các tham số (trung bình, độ lệch chuẩn, sai số chuẩn, phương sai ) và xem xét mối tương quan giữa các chỉ tiêu nghiên cứu đồng thời kiểm định các giả thiết thống kê trong mô hình phân tích.

1.2.2.3 Phương pháp phân tích đánh giá

- Phương pháp thống kê mô tả: Là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng kinh tế xã hội vào việc mô tả sự biến động cũng như

xu hướng phát triển của hiện tượng kinh tế xã hội thông qua số liệu thu thập được Phương pháp này được dùng để tính, đánh giá các kết quả nghiên cứu từ các phiếu điều tra hộ

- Phương pháp phân tích so sánh : Xử lý số liệu tính toán ra các chỉ tiêu số tương đối nhằm chỉ rõ nguyên nhân biến động của hiện tượng nghiên cứu Phương pháp này dùng để so sánh sự sự khác nhau về thu nhập từ các ngành nghề khác nhau, cơ cấu thu nhập giữa các hộ tham gia dự án và không tham gia dự án

- Phương pháp phân tổ thống kê: Mục tiêu của việc phân tổ trong nghiên cứu là làm cho sự đồng nhất trong cùng một nhóm và

sự khác biệt giữa các nhóm tăng lên (Nguồn: TS Đỗ Anh Tài - Giáo

trình phân tích số liệu thống kê trang 95 NXB Thống kê tháng 8/2008) Tác giải đã phân tổ các hộ điều tra theo tiêu chí: Có tham

gia dự án và không tham gia dự án để tiến hành phân tích đánh giá Ngoài ra, tác giả còn phân tổ số liệu theo các tiêu chí: Thu nhập, trình độ văn hoá của chủ hộ để phân tích đánh giá

- Phương pháp dự báo: Dự báo xu thế biến động của các hiện tượng kinh tế xã hội cho tương lai

1.2.2.4 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo

- Phối hợp và tham gia ý kiến của các chuyên gia giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực duy trì và phát triển bền vững tài nguyên

Trang 27

thiên nhiên để xây dựng phương pháp thực hiện và tổ chức điều tra đạt kết quả cao.

1.2.3 Một số công cụ sử dụng trong nghiên cứu

- Sử dụng các chỉ số (Indicators) để đánh giá, so sánh sự biến động của đối tượng nghiên cứu trong cùng một khu vực giữa các nhóm hộ tham gia dự án và không tham gia dự án

- Sử dụng phần mềm SPSS xem xét mức độ tương quan và để kiểm định các chỉ tiêu nghiên cứu

1.2.4 Hệ thống chỉ tiêu phân tích đánh giá

a) Đánh giá về thu nhập

- Thu nhập của các nhóm hộ từ các nguồn khác nhau:

+ Nông nghiệp: Trồng trọt, chăn nuôi

+ Ngành nghề tự do

+ Thu nhập từ rừng

b) Đánh giá nhận thức của người dân về bảo vệ rừng

- Sự hiểu biết và nhận thức về việc cần thiết phải bảo vệ tài nguyên rừng giữa nhóm hộ tham gia dự án và không tham gia dự án

- Nhận thức về môi trường và ô nhiễm môi trường khu vực vùng đệm

c) Hệ thống chỉ tiêu xem xét tác động của sinh kế đến thay đổi cơ cấu trong sản xuất của nhóm hộ tham gia dự án

- Phân bổ nguồn lực trong sản xuất được thể hiện trong cơ cấu thu nhập của nhóm hộ không tham gia dự án

- Phân bổ lại nguồn lực thông qua cơ cấu đóng góp về thu nhập của nhóm hộ tham gia dự án

d) Đánh giá về trình độ sản xuất của người dân sau khi được tập huấn

Trang 28

- Khả năng hiểu biết và áp dụng các kiến thức sau đợt tập huấn vào trong sản xuất của nhóm hộ tham gia dự án.

- Khả năng tạo thu nhập mới từ việc áp dụng các tiến bộ khoa học

kỹ thuật sau tập huấn vào sản xuất nông, lâm nghiệp của nhóm hộ tham gia dự án

- Khả năng nhân rộng của dự án: Dự án có được người khác đến học tập và làm theo không?

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI DỰ ÁN TẠI

Trang 29

KHU VỰC NGHIÊN CỨU2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Đại Từ là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên Huyện Đại Từ có diện tích tự nhiên là 57.790 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 14689 ha chiếm tỷ lệ 25.42%, đất lâm nghiệp là 27.814 ha chiếm 48.13%

Phía Bắc giáp với huyên định Hoá

Phía Nam giáp với huyên Phổ Yên

Huyện có 24 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm 1 thị trấn

và 23 xã Dân số hiện nay là 91.385 người, mật độ dân số trung bình của huyện là 175,49 người/km2

Các thành phần dân tộc đang sinh sống trên địa bàn huyện gồm: Kinh, Tày, Dao, Nùng, Cao Lan, Hoa, Sán dìu, Khơ me

2.1.1.2 Đặc điểm địa hình

Đại Từ là huyện có địa hình tương đối phức tạp thể hiện đặc trưng của vùng trung du miền núi phía Bắc Địa hình có thể chia làm 03 vùng khác nhau:

Trang 30

- Vùng 1: Là vùng địa hình của dãy Tam Đảo, có cao trình từ 300 trở lên

- Vùng 2: Là vùng của dãy núi thấp có cao trình từ 100m đến 300m

- Vùng 3: Là vùng thung lũng song song vói dãy Tam Đảo

Tổng diện tích của huyện được phân theo cao trình và độ dốc được thể hiện ở biểu 2.1

Biểu 2.1: Phân loại đất theo cao trình và theo độ dốc.

STT Cao trình

(m)

Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)

Độ dốc (o)

Diện tích (ha)

Tỷ lệ (%)

Nguồn: Phòng tài nguyên môi trường Huyện Đại Từ - Thái Nguyên

- Thổ nhưỡng: Trên địa bàn huyện được hình thành từ 4 nhóm đất chính và được trình bày dướu biểu 2.2

Biểu 2.2: Các nhóm đất chính của huyện Đại Từ

(ha)

Tỷ lệ (%)

2 Đất Felarit phát triển trên đất đỏ biến chất 15.107 26.14%

3 Đất Felarit phát triển trên đất phù sa cổ 13.036 22.55%

4 Đất phù sa Gley phát triển trên đất phù sa cổ 13.247 22.94%

Nguồn: Phòng tài nguyên môi trường Huyện Đại Từ - Thái Nguyên

Tình hình sử dụng đất đai của huyện Đại Từ năm 2008

Căn cứ vào mục đích sử dụng mà chúng ta có thể phân chia diện tích đất đai của huyện Đại Từ như sau:

Trang 31

Biểu 2.3: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Đại Từ năm 2008

2.6 Đất tôn giáo, tín ngưỡng

2.7 Đất nghĩa trang, nghĩa địa

2.8 Đất sông suối, mặt nước chuyên dùng

2.9 Đất phi nông nghiệp khác

3 Đất chưa sử dụng

Nguồn: Phòng tài nguyên môi trường Huyện Đại Từ - Thái Nguyên

2.1.1.3 Khí hậu, thời tiết, thuỷ văn

+ Khí hậu chia làm 2 mùa rất rõ rệt Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau

 Nhiệt độ trung bình năm: 23ºC

 Nhiệt độ cao nhất trung bình năm: 28ºC

 Nhiệt độ thấp nhất trung bình năm: 16ºC

 Lượng mưa trung bình năm: 1.870mm/năm

Trang 32

 Độ ẩm không khí trung bình: 78 – 90 (%)

 Lượng nước bốc hơi trung bình 980mm/năm

+ Hệ thống thủy văn: Đại Từ có điều kiện thuỷ văn rất thuận lợi: Có sông Công chảy qua huyện có chiều dài 24km, Hồ Núi Cốc liền kề có diện tích tự nhiên 25km2 Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn có các con suối nằm trên địa bàn các xã như: La Bằng, Quân Chu, Cát Nê, Phục Linh, Ký Phú, Văn Yên, Mỹ Yên, Hoàng Nông cung cấp và điều phối nước rất quan trọng cho việc cung cấp nước tưới, tiêu và nước sinh hoạt cho người dân

2.1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

2.1.2.1 Tình hình dân số và lao động

Dân số toàn huyện và cơ cấu dân số được trình bày ở biểu 2.2

Biểu 2.4: Dân số và lao động của huyện Đại Từ

1 Tổng dân số

1.1 Trong độ tuổi lao động

1.2 Ngoài độ tuổi lao động

Trang 33

d) Công trình công cộng, vệ sinh môi trường

Biểu 2.5 : Một số chỉ tiêu cơ bản về kinh tế của huyện đại Từ

2006

Năm 2007

Năm 2008

Tăng trưởng 08/07

Hệ thống giao thông khá thuận lợi cho việc giao thương Đại

Từ quốc lộ 37 đi tỉnh Tuyên Quang, từ đó có thể đi các tỉnh lân cận

Trang 34

như Yên Bái, Hà Giang, Phú Thọ Trung tâm thị trấn Đại Từ chỉ cách quốc lộ 3 khoảng 12km, thuận lợi cho việc di chuyển đến Thành phố Thái Nguyên và đi các tỉnh bạn như Bắc Kạn, Cao Bằng, Thủ đô Hà Nội, Bắc Giang, Bắc Ninh

- Khó khăn:

- Thực trạng và đánh giá:

3 Tổng quan dữ liệu cơ sở nghiên cứu và kết quả nghiên cứu

3.1Tổng quan cơ sở dữ liệu thu thập

6 thôn được chọn ra từ 3 xã của huyện Đại Từ điều tra làm

cơ sở dữ liệu phân tích cho đề tài được trình bày ở biểu sau:

Bảng 3.1: Bảng thống kê số hộ điều tra cơ sở

Trang 35

Trong 198 hộ gia đình đã được điều tra, tương ứng với 20,3 % tổng

số hộ gia đình của 6 thôn

Bảng 3.2: Thông tin chung về chủ hộ

Chỉ tiêu gia dự án Hộ tham Hộ không tham gia dự án

Tuổi bình quân chủ hộ (năm) 46,32

(10,45)

45,10 (9,447) Chủ hộ là nam giới (% trên tổng số) 90 85,4

2) Giới tính của chủ hộ giữa hai nhóm không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo kiểm định Pearson Chi Square tại mức xác suất 90% (Pearson Chi- Square = 0,421 và giá trị p-value = 0.81 > 0.05)

3) Mức độ tiếp cận thông tin thông qua đọc tài liệu và nhóm dân tộc của chủ

hộ không có sự khác biệt giữa hai nhóm theo kiểm định Pearson Chi Square tại mức xác suất 90% (Pearson Chi-Square = 0,773 và giá trị p-value = 0.379 > 0.05)

4) Giá trị trong ngoặc đơn là độ lệch chuẩn của giá trị trung bình tại mức xác suất 90%.

Tuổi bình quân của các chủ hộ cũng như giới tính của các chủ hộ tham gia và không tham gia dự án là không có sự khác biệt như vậy ta có thể thấy yếu tố tuổi tác thể hiện cho sự tích lũy kinh nghiệm trong cuộc sống và sản xuất cũng như giới tính của chủ hộ, người có ảnh hưởng lớn

Ngày đăng: 27/12/2018, 12:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w