Nhiều nhà nghiên cứu đã bắt đầu chấp nhận tư tưởng của ông, đưa nó vào trong quá trình xây dựng học thuyết của mình, thậm chí, nhiều người còn cố cải tạo triết học Freud bằng cách kết hợ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÙI THỊ THẠCH THẢO
TƯ TƯỞNG CỦA SIGMUND FREUD VỀ VÔ THỨC TRONG TÁC
PHẨM "LÝ GIẢI GIẤC MƠ"
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÙI THỊ THẠCH THẢO
TƯ TƯỞNG CỦA SIGMUND FREUD VỀ VÔ THỨC TRONG TÁC
PHẨM "LÝ GIẢI GIẤC MƠ"
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do bản thân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Vũ Hảo Các nguồn tài liệu tham khảo được trích dẫn rõ ràng, kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn
là trung thực theo thực tế nghiên cứu, chưa từng được bất cứ tác giả nào nghiên cứu và công bố
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trang 4LỜI CẢM ƠN!
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong Khoa Triết học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đã quan tâm giúp
đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS Nguyễn Vũ Hảo người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Do điều kiện thời gian và năng lực còn hạn chế, chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để luận văn hoàn thiện hơn
Học viên
Bùi Thị Thạch Thảo
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ H NH THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA FREUD VỀ VÔ THỨC TRONG TÁC PHẨM LÝ GIẢI GIẤC MƠ” 12
1.1 Nh ng iều iện inh tế - h i ch u Âu thế XIX- XX 12
1.2 Nh ng tiền ề ho học t nhiên 15
1.3 Nh ng tiền ề tư tư ng 17
1.4 Cu c i, s nghiệp c Freud v t c ph “Lý giải giấc mơ” 21
1.4.1 uộ i và s nghi p Fr u 21
1.4.2 á ph m gi i gi m 25
CHƯƠNG : NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN, GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA TƯ TƯỞNG FREUD VỀ VÔ THỨC TRONG TÁC PHẨM LÝ GIẢI GIẤC MƠ” 29
2.1 Vô thức v t số h i niệ liên qu n trong ph n t học Freud 29
2.1.1 Khái ni m vô thứ 29
2.1.2 Một số khái ni m liên qu n 39
2.2 Tư tư ng c Freud về vô thức - th nh tố cơ bản trong cấu trúc nh n cách 47
2.2.1 u tr nh n á h 47
2.2.2 á gi i o n phát tri n nh n á h 51
2.3 Tư tư ng c Freud về v i trò c vô thức trong s ng tạo ho học v nghệ thuật 53
2.4 Nh ng gi trị v hạn chế c tư tư ng c Freud về vô thức trong t c ph “Lý giải giấc mơ” 59
2.4.1 Những ánh giá á nhà nghiên ứu về giá trị và h n hế tư tưởng Fr u về vô thứ 59
Trang 62.4.2 Những giá trị tư tưởng Fr u về vô thứ 62
2.4.2 Những m t h n hế tư tưởng Fr u về vô thứ 63
KẾT LUẬN 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết c ề t i
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển ngày càng mạnh
mẽ của kinh tế thị trường, những hệ quả mà nó mang lại đang ngày một biểu hiện rõ nét ra trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Các nhà nghiên cứu nhận ra rằng, muốn xã hội phát triển một cách bền vững thì những lĩnh vực như văn hóa, đời sống tinh thần của con người không thể bị bỏ quên Chính thực tiễn này đã đặt ra nhu cầu nghiên cứu, kế thừa và phát triển các
tư tưởng triết học phương Tây hiện đại về con người, văn hóa và xã hội Trong đó, việc nghiên cứu, đánh giá lại một cách khách quan học thuyết Freud và những cống hiến của nó là cần thiết Điều này được thể hiện qua một số nguyên nhân chính sau:
hứ nh t, về xu hướng triết học phi duy lý Vào những năm cuối thế kỉ
XIX, đầu thế kỉ XX ở châu Âu xuất hiện một trào lưu triết học mới với tên gọi trào lưu triết học đời sống Sở dĩ có tên gọi như vậy là bởi các triết gia này đều hướng học thuyết của họ về nghiên cứu các lĩnh vực của đời sống, đặc biệt là đời sống tâm lý, tình cảm của các cá nhân trong xã hội Trong bối cảnh châu Âu đương thời với sự thống trị của chủ nghĩa duy lý máy móc siêu hình, tuyệt đối hóa vai trò của lý tính, điều mà đã trực tiếp dẫn đến sự tha hóa rộng rãi trong đời sống đạo đức xã hội với những biểu hiện như lối sống thực d ng hay tư tưởng tuyệt đối hóa vai trò của khoa học kĩ thuật và những giá trị vật chất do nó mang lại, thói đạo đức giả,v.v thì sự xuất hiện của trào lưu triết học đời sống mang một ý nghĩa nhân văn không thể phủ nhận được khi đi sâu vào khai thác đời sống nội tâm của con người cá nhân , một mảnh đất hầu như còn để ngỏ trong lịch sử tư tưởng triết học trước đó Với những giá trị kể trên, chủ nghĩa Phi duy lý đã ngày càng phát triển mạnh mẽ và có ảnh hưởng
Trang 8sâu rộng đến đời sống xã hội đặc biệt là từ thế kỉ XX Trong các trào lưu triết học phi duy lýnày, phải kể đến chủ nghĩa Freud
hứ h i, về học thuyết vô thức và tác giả Chủ nghĩa Freud được lấy
theo tên người sáng lập ra nó là bác sĩ tâm thần người o Sigmund Freud Lấy lý thuyết về vô thức và sự đ nén bản năng làm trung tâm để giải thích các vấn đề đạo đức- xã hội Ngay từ khi xuất hiện, học thuyết này đã tạo ra một bước ngoặt to lớn không chỉ trong lĩnh vực tâm lý học mà cả trong lĩnh vực triết học Lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, vấn đề bản năng của con người được đưa ra không phải như một thứ xấu xa, đáng khinh
bỉ, mà là đối tượng nghiên cứu trung tâm, là nền tảng lý luận để giải thích mọi hiện tượng xã hội an đầu, những tư tưởng của Freud được cho là quá mới m , và vì thế ít nhận được sự đồng cảm trong đại bộ phận giới nghiên cứu, thậm chí phải chịu sự đả kích, phê phán ở nhiều nơi Tuy nhiên, cùng với
sự phát triển của xã hội, với sự hình thành lối tư duy ngày một cởi mở, phóng khoáng và đặc biệt là với những thành tựu to lớn mà Freud đạt được trên thực tiễn lĩnh vực tâm lý học cũng như trong giải quyết các vấn đề thực tiễn xã hội đặt ra, các học thuyết của ông ngày càng có ch đứng và được đánh giá lại một cách khách quan, toàn diện hơn Nhiều nhà nghiên cứu đã bắt đầu chấp nhận tư tưởng của ông, đưa nó vào trong quá trình xây dựng học thuyết của mình, thậm chí, nhiều người còn cố cải tạo triết học Freud bằng cách kết hợp
nó với triết học Marx, một học thuyết được xem là đối lập ở ch đề cao mặt
xã hội của con người trong khi triết học Freud lại chú trọng đến bản năng và
tâm lý cá nhân
hứ b , sự ảnh hưởng của học thuyết vô thức của Freud đến Việt Nam
Việt Nam, triết học Freud cũng đang được nhìn nhận và đánh giá lại một cách khách quan- toàn diện hơn Vô thức và tâm lý cá nhân được xem như
Trang 9một lĩnh vực quan trọng của triết học và nghiên cứu học thuyết vô thức của Freud là cần thiết để góp phần b sung và hoàn thiện hơn nữa quan điểm triết
học về con người, về mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội
hứ tư, nghiên cứu học thuyết vô thức của Freud chúng ta không thể
không đề cập đến những luận giải về giấc mơ được ông trình bày chủ yếu
trong các bài viết về giấc mơ và tác ph m gi i gi m ởi theo Freud,
giấc mơ chính là một trong hai biểu hiện tiêu biểu nhất, là minh chứng trực tiếp nhất cho sự tồn tại của cõi vô thức trong tâm lý m i cá nhân
Tóm lại, học thuyết về vô thức của Freud là một phát minh khoa học có giá trị to lớn không chỉ trong việc nghiên cứu tâm lý cá nhân mà còn trong việc vận d ng nghiên cứu các vấn đề đạo đức, xã hội Việc đưa ra những đánh giá khách quan và toàn diện hơn về học thuyết này với tư cách một học thuyết
có giá trị trong lịch sử triết học nhân loại là thực sự cần thiết Vì những lý do
trên, tôi chọn chủ đề: ư tưởng Sigmun Fr u về vô thứ trong tá
ph m ‘ gi i gi m ’ làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 T ng qu n t nh h nh nghiên cứu ề t i
Học thuyết Vô thức của Freud từ khi ra đời đã là một đề tài gây tranh cãi mạnh mẽ, cho đến ngày nay, sự quan tâm của các nhà nghiên cứu đối với học thuyết này chỉ có tăng chứ không hề giảm Nhiều tác ph m và công trình nghiên cứu về tư tưởng của Freud đã lần lượt ra đời, trong đó đáng chú ý là một số công trình sau:
hứ nh t, nhóm công trình nghiên cứu tư tưởng triết học của Freud với
tư cách một trào lưu triết học độc lập của phương Tây hiện đại, trong mối tương quan với thời đại và với những học thuyết đi trước gồm có:
Tác ph m Một số trào lưu triết học phương Tây hiện đại của Nguyễn Hào Hải đã trình bày một cách cô đọng nhất về bối cảnh lịch sử xã hội là tiền
Trang 10đề cho sự ra đời của học thuyết Vô thức và những nội dung chính của học thuyết này
Trong cuốn giáo trình Triết học Phương Tây hiện đại do Nguyễn Vũ Hảo chủ biên, nhóm tác giả đã nêu ra những tư tưởng triết học cơ bản trong phân tâm học của Sigmund Freud, dù sự tồn tại của những tư tưởng này luôn
bị chính Freud phủ nhận
Cuốn Triết học o và ý nghĩa hiện thời của nó do Phạm Văn Đức làm chủ biên, đã nghiên cứu những vấn đề chung của triết học o, triết học Freud và những ảnh hưởng của triết học Freud
Trong cuốn Triết học Phương Tây hiện đại của Lưu Phóng Đồng do
Lê Khánh Tường dịch, học thuyết về vô thức được tác giả tiếp cận với tư cách một trong hai phát hiện lớn của chủ nghĩa Freud sơ k và được đánh giá một cách khách quan về cả nội dung tư tưởng lẫn ý nghĩa của học thuyết đối với thời đại Nghiên cứu về Vô thức với vai trò yếu tố trọng tâm trong tư tưởng triết học Freud, tác giả đã chỉ ra những đặc tính của Vô thức như tính nguyên thủy , tính chủ động , tính phi đạo đức , tính phi ngôn ngữ ,… [Xem 12]
Thứ hai, nhóm các công trình chuyên khảo về tư tưởng của Freud Trong đó, cần phải kể đến một số công trình như:
Công trình Nhân học triết học Freud và ảnh hưởng của nó tới nhân học triết học phương Tây hiện đại do Đ Minh Hợp chủ biên nghiên cứu chuyên sâu về các tư tưởng triết học của Freud, đặc biệt là vấn đề con người trong tư tưởng triết học của ông Trong đó, các tư tưởng về vô thức đóng vai trò hết sức quan trọng, bởi đối với Freud, vô thức được xem như đối tượng nghiên cứu chính trong quá trình đi tìm bản chất con người [Xem 33, tr.189] Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đã chỉ ra được nội dung triết học trong học thuyết
Trang 11Phân tâm học của Freud C thể, theo đó yếu tố bản thể trong học thuyết Phân tâm học là Vô thức: Freud thực sự thừa nhận vị thế bản thể đặc thù của vô thức [33, tr.200] ên cạnh đó, nghiên cứu vô thức cũng được coi là yếu tố quan trọng trong quan điểm về quá trình nhận thức của Freud, M i hành vi tâm thần, m i quá trình vô thức đều có nghĩa xác định, bao hàm những quan
hệ về nghĩa, việc làm sáng tỏ chúng là nhiệm v quan trọng của nhân học phân tâm [33, tr.247]
Tác ph m Freud đã thực sự nói gì của David Stanfford Trong tác
ph m này, một loạt các khái niệm cơ bản của Phân tâm học như : Vô thức, sự dồn nén,… đã được tác giả hệ thống hóa và trình bày lại Với m c tiêu hệ thống hóa và đi tìm bản chất những quan điểm của Freud, tác giả David Stanfford đã đi khảo cứu lại những tiền đề về khoa học, tư tưởng cho sự ra đời của học thuyết Phân tâm học: Trong sự phát triển lý luận bản năng của Freud,tiến hóa luận và di truyền học đã có ảnh hưởng rất lớn đối với ông Thời thanh niên, Phrớt chịu ảnh hưởng sâu sắc của Đacuyn, khi học ở Đại học Viên, rất thích thú với sinh vật học Ông thường nghe giáo sư giảng về sinh vật học, sinh lý học, thần kinh học, do đó đã xây dựng được cơ sở sinh vật học vững chắc cho nghiên cứu tâm lý học sau này Ngoài ra, di truyền học đã nói rõ cơ thể bản năng hoặc cơ sở của thể xác là khuynh hướng có tính điển hình cho một hành động nhất định [5, tr.178] àn về tác ph m Lý giải giấc
mơ , tác giả đã trích dẫn lại lời của Freud trong lời tựa của lần xuất bản Tiếng Anh "Tác ph m này, mà sự đóng góp mới m của nó vào tâm lý học đã từng làm mọi người kinh ngạc lúc công bố nó (1900), về căn bản vẫn giữ nguyên Ngay cả hiện nay, tôi vẫn cho rằng nó chứa đựng những cái có giá trị nhất trong tất cả những phát hiện mà tôi có may mắn thực hiện Một trực giác như
Trang 12trực giác này không thể xảy tới hai lần trong một đời người"[Dẫn theo 5, tr.125]
Cuốn sách Ximôn Phrớt của tác giả Diệp Mạnh Lý đã trình bày một cách chuyên khảo về cuộc đời sự nghiệp cũng như các tư tưởng của Freud với lời t ng kết: Thời đại biến đ i lớn thường thai nghén ra những vĩ nhân Những tháng năm xao động, biến cải đã sinh ra Freud- một con người vĩ đại
có tư tưởng kiệt xuất" Đặc biệt, trong chương Từ đoán mộng đến vô thức , tác giả đã trình bày một cách khái quát tư tưởng về Vô thức của Freud thông qua các giải thích về giấc mơ của ông Luận giải về vai trò của tiền ý thức trong quan niệm của Freud, tác giả Diệp Mạnh Lý nhận định: Phrớt chỉ
rõ, hễ cái gì chúng ta ý thức được đều trải qua sự chấp nhận của bước thứ hai tâm lý; còn những tài liệu của bước thứ nhất tâm lý, một khi không lách qua cửa ải thứ hai thì không thể nào được ý thức thừa nhận và tiếp thu Do đó muốn đi qua cửa ải thứ hai thì đành phải dùng các loại hóa trang để được ý thức thỏa mãn, mới bước được vào địa phận ý thức [43, tr.98]
Tác ph m Freud và tâm phân học của nhà nghiên cứu Phạm Minh Lăng là sự trình bày có hệ thống toàn bộ tư tưởng về phân tâm học của Freud với tư cách một hệ thống triết học vô cùng phong phú với nhiều vấn đề đáng quan tâm Với mong muốn nhìn nhận một cách thực sự khách quan và khoa học về học thuyết Phân tâm của Freud, tác giả Phạm Minh Lăng đã lựa chọn điểm xuất phát nghiên cứu là các giấc mơ với nhận định Hiểu được đúng đắn giấc mơ cũng có nghĩa là hiểu đúng đắn những ảnh hưởng gì và sự hoạt động của cái vô thức với tư cách một hoạt động tinh thần [41, tr.153] Tiếp t c đi sâu vào nghiên cứu giấc mơ, tác giả Phạm Minh Lăng chỉ ra rằng bất cứ biểu hiện nào trong mơ cũng bị quy định bởi yếu tố vô thức, hay nói cách khác, giấc mơ có thể được hiểu như là biểu hiện của hoạt động tinh thần vô thức của
Trang 13con người Tác giả viết: "Những khó khăn nảy sinh trong quá trình tìm cách giải thích giấc mơ mà đương sự không hay biết có thể hiểu là do bị những khuynh hướng nào đó chống đối lại, kìm hãm không cho cái vô thức (tức nội dung thực) của giấc mơ hiện ra rõ ràng Đó là nguyên nhân của những biến dạng trong mơ"[41, tr.95]
hứ b , những tư tưởng về vô thức của Freud còn được đề cập đến
trong rất nhiều công trình nghiên cứu văn hóa, tôn giáo và tâm lý học như:
Cuốn sách Tìm cội nguồn của ngôn ngữ và ý thức của tác giả Trần Đức Thảo đã trình bày những nghiên cứu dựa trên tư duy phê phán về hệ thống quan điểm của Freud về vô thức, đặc biệt là phê phán tư tưởng về phức cảm Oedipe của Freud dưới góc nhìn của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Cuốn Các học thuyết về nhân cách của tác giả Barry D.Smith và Harold J.Vetter đã nghiên cứu tư tưởng của Freud với tư cách một học thuyết tâm lý có giá trị vô cùng to lớn và sức ảnh hưởng mạnh mẽ trong lĩnh vực tâm
lý học Tuy chỉ tiếp cận trên lĩnh vực tâm lý, nhưng tác ph m cũng góp phần
giúp người đọc hiểu được một cách toàn diện hơn, sâu sắc hơn về học thuyết của Freud
Cuốn Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật do tác giả Đ Lai Thúy sưu tầm và biên soạn đã trình bày những nghiên cứu học thuyết về vô thức của Freud cũng như những ảnh hưởng của học thuyết này trong Văn học, nghệ thuật, đặc biệt là tại Việt Nam Tập trung vào phân tích một số tác ph m văn thơ Việt Nam như Về Kinh ắc - Hoàng Cầm,… nhóm tác giả đã chỉ ra những nội dung của phức cảm Oedipe biểu hiện qua các hình ảnh nghệ thuật,
từ đó chứng minh cho những quan điểm của Phân tâm học về sự tồn tại của
vô thức trong đời sống tinh thần của con người Đi sâu tìm hiểu về những
Trang 14huyễn tưởng gây ra bởi phức cảm Oedipe, một trong những nội dung của Vô thức, Nhà nghiên cứu Đ Lai Thúy khẳng định: Nhà thơ phóng chiếu và cấu trúc hoá các huyễn tưởng của mình thành những hình tượng văn học [51, tr.13] Nhận thức được vai trò của giấc mơ như là sự biểu hiện ra của yếu tố
vô thức, nhóm tác giả cũng nhận định: Mộng chính là dùng bộ mặt được hóa trang hiện trở lại nguyện vọng vô thức [51, tr.103] Tác ph m Về Kinh ắc cũng là một trong những tác ph m được nhà nghiên cứu Đ Lai Thúy lựa chọn để phân tích, như một vũ hội hóa trang đầy sống động đầy màu sắc, âm thanh và hình ảnh mà nhà thơ Hoàng Cầm sử d ng để che đi những nội dung của mặc cảm Oedipe của chính nhà thơ.[Xem 51, tr.105]
Ngoài ra, tư tưởng của S.Freud còn là nguồn cảm hứng cho rất nhiều đề tài Luận văn, luận án khoa học, tiêu biểu là Luận án Tư tưởng triết học của S.Freud của Tạ Thị Vân Hà, Luận án Quan điểm của Phân tâm học về con người và văn hóa- văn minh của Nguyễn Văn Quế, Luận văn Quan niệm về con người trong phân tâm học của Sigmund Freud của Dương Thị Hồng Điệp và rất nhiều công trình khác
hứ tư, nhóm công trình về Freud và học thuyết vô thức ở nước ngoài
gồm có:
Cuốn Freud: Conflic and culture : Essay on his life, work, and legacy
do Michael S Roth t ng hợp lại 18 bài luận văn về Freud, khám phá những nghiên cứu của Freud và sự quan tâm của ông đến vấn đề văn hóa và con
người Trong đó nhận định về tác ph m gi i gi m : "Tác ph m Lý
giải giấc mơ có thể được hiểu theo nhiều nghĩa: một học thuyết khoa học, một tập hợp những quy tắc tài tình nhưng cũng rất rõ ràng, mạch lạc trong việc luân giải các giấc mơ, một lý thuyết khoa học táo bạo về những giấc mơ mà trên đó đã dựng lên một cuộc cách mạng tâm lý học về vô thức Nhưng nó
Trang 15cũng là cánh cửa s mở ra thế giới bên trong của chính tác giả và là một cuốn nhật ký riêng tư về cuộc đời và sự nghiệp của một bác sĩ Do Thái tài giỏi sống tại fin- de- si cle Vienna, người đã ghi lại với sự châm biếm một cách hài hước đời sống riêng tư của những bệnh nhân có học thức và không kém phần hóm hỉnh cũng như đời sống riêng tư của chính ông"1
Tác ph m Freud: A Life for Our Time của nhà nghiên cứu Peter Gay
đã trình bày lại toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp và các đóng góp của Freud trong
sự phát triển Phân tâm học cũng như toàn bộ học thuyết của Freud Trong cuốn sách này, tác giả đã dựng lại một cách hết sức sinh động hoàn cảnh xã hội Viên những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX cũng như tái hiện một cách sống động, chi tiết bức tranh cuộc sống của gia đình Freud từ thủa ấu thời cho đến khi ông qua đời và những công trình khoa học mà ông đã để lại Tác giả cũng đã phân tích một cách hết sức khách quan, khoa học về sự nghiệp cũng như các tư tưởng của Freud, góp phần tránh những quan điểm chưa thực sự đúng đắn khi nhận định về ông
3 M c ích v nhiệ v nghiên cứu c luận v n
M c đích nghiên cứu của luận văn là phân tích làm rõ tư tưởng của
Freud về vô thức trong tác ph m gi i gi m , từ đó đưa ra đánh giá về
những giá trị và hạn chế của nó
Để đạt được m c đích nghiên cứu trên, luận văn có các nhiệm v sau
đây:
1 Nguyên bản tiếng Anh: " the Interpretation of dreams is many things: a scholary treatise,
an ingenious yet lucid set of rules for interpreting dreams, a bold scientific theory of dreams upon which is built a revolutionary psychology of the unconcious But it is also a window on the inner life of its author and an intimate diary of the life and work of a cultured Jewish physician living in fin- de- siecle Vienna, who records with irony and humor the private lives of his cultivated and witty patients as well as his own", [63, tr.05].
Trang 16hứ nh t, trình bày các điều kiện và tiền đề cho sự hình thành tư tưởng
vô thức của Freud trong tác ph m gi i gi m , đặc biệt là những tiền
4 Đối tư ng v phạ vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là tiền đề, điều kiện ra đời và nội
dung của tư tưởng về vô thức của Freud trong tác ph m gi i gi m
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu, làm rõ những
tư tưởng cơ bản của S Freud về vô thức trong tác ph m gi i gi m
5 Cơ s l luận v phương ph p nghiên cứu:
lý luận với thực tiễn
Trang 17- hương ph p nghiên c u
Luận văn sử d ng các phương pháp nghiên cứu biện chứng như: Phương pháp phân tích- t ng hợp, Phương pháp đối chiếu so sánh tài liệu và
phương pháp thống nhất logic- lịch sử
6 Ý ngh l luận v th c tiễn c Luận v n
ngh l lu n: Luận văn góp phần nghiên cứu một cách hệ thống những tư tưởng về vô thức của S.Freud được trìnhg bày trong tác ph m
gi i gi m Từ đó làm rõ những thành tựu và hạn chế trong học thuyết này
nhằm góp phần làm phong phú thêm những nghiên cứu ở Việt Nam về tư tưởng vô thức của Freud
ngh th ti n: Luận văn có thể được sử d ng như tài liệu tham khảo
về tư tưởng triết học của Freud nói chung và học thuyết vô thức của Freud
trong tác ph m gi i gi m nói riêng Mặt khác, Luận văn cũng có thể
được tham khảo trong những nghiên cứu về vận d ng học thuyết vô thức vào
thực tiễn Việt Nam hiện nay
7 Kết cấu c Luận v n
Luận văn có kết cấu gồm có 2 chương và 7 tiết
Trang 18CHƯƠNG 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ
H NH THÀNH TƯ TƯỞNG CỦA FREUD VỀ VÔ THỨC TRONG
TÁC PHẨM LÝ GIẢI GIẤC MƠ”
1.1 Nh ng iều iện inh tế - h i châu Âu thế XIX- XX
Vào thời k này, ở châu Âu đã diễn ra nhiều biến động trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, c thể:
rên nh v c inh t :
Cuối thế kỉ XIX- đầu thế kỉ XX ở châu Âu, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ Các ông chủ tư bản với m c đích tối đa hóa lợi nhuận đã không ngừng phát triển khoa học kỹ thuật, mở rộng sản xuất, phát triển hệ thống giao thông, Tất cả những n lực kể trên đã giúp cho "Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế
kỉ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại"[44, tr.42] Thời k này, sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế đã khiến cho giai cấp tư sản giàu lên một cách nhanh chóng, làm tăng khoảng cách giàu- ngh o trong xã hội hơn tất cả các hình thái kinh tế- xã hội trước đó Đây được xem như nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hàng loạt những bất công trong xã hội, tạo ra những áp lực to lớn đối với đời sống tinh thần của con người
Ngoài ra, để bóc lột một cách tối đa giá trị thặng dư, các ông chủ tư bản cũng hết sức quan tâm tới việc phát triển Khoa học- kỹ thuật Các phát minh giúp nâng cao năng suất lao động, mang lại lợi nhuận kh ng lồ luôn là ước
mơ mà các ông chủ tư bản theo đu i Chính vì lý do này, đây còn được xem như thời k tôn sùng Khoa học kỹ thuật, Khoa học- kỹ thuật với các dây chuyền sản xuất, các c máy công nghiệp được xã hội tư bản tôn thờ Điều
Trang 19này xét trên một khía cạnh nào đó có ảnh hưởng hết sức tiêu cực tới sự phát triển đời sống tinh thần của con người
Hơn thế nữa, sự phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa cũng đặt ra vấn đề về nguồn nguyên, nhiên liệu ph c v tái sản xuất mở rộng và vấn đề thị trường tiêu th sản ph m Để giải quyết những vấn đề kể trên, Chủ nghĩa
tư bản đã thực hiện cuộc xâm chiếm thuộc địa trên phạm vi toàn thế giới Từ
đó, dẫn đến nhiều hệ quả trên lĩnh vực chính trị- xã hội
Trên nh v c ch nh tr - ã h i:
Để đạt được m c đích tối đa hóa lợi nhuận, các nhà tư sản thời k này không chỉ chú trọng phát triển khoa học kỹ thuật mà còn thực hiện những chính sách bất công như cắt giảm lương, kéo dài giờ làm việc, Chính những điều này đã dấy lên làn sóng phản đối mạnh mẽ của giai cấp công nhân, làm sâu sắc thêm mâu thuẫn vốn có giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân
Mặt khác, các cuộc xâm chiếm thuộc địa của các nước tư bản thời k này đã làm xuất hiện những mâu thuẫn mới trong lòng xã hội, đó là mâu thuẫn giữa các nước tư bản và thuộc địa và mâu thuẫn trong nội bộ các nước
tư bản do sự phân chia thuộc địa và tầm ảnh hưởng không đồng đều
Tuy nhiên, đáng chú ý nhất vẫn là những hệ quả của sự phát triển kinh
tế đối với đời sống tinh thần của con người Thời k này, thân phận con người dường như trở nên vô cùng nhỏ bé so với những thành tựu vĩ đại trên lĩnh vực khoa học công nghệ Vấn đề con người, hạnh phúc, dường như bị quên lãng, các học thuyết chính trị- xã hội chịu ảnh hưởng sâu sắc của sự phát triển khoa học tự nhiên, đặc biệt là vật lý học iểu hiện qua sự thống trị của phương pháp siêu hình, cùng với sự ra đời của một số học thuyết duy khoa học và chủ nghĩa thực chứng Ngoài ra, sống trong bối cảnh một nền công nghiệp máy móc, cơ giới phát triển mạnh, đời sống tinh thần của con người cũng không
Trang 20khỏi chịu những ảnh hưởng tiêu cực, trong đó có lối sống thực d ng; vị kỉ; chỉ coi trọng các giá trị vật chất, văn minh; và hàng loạt các vấn đề đạo đức khác Việc bị gò ép vào trong những quy trình sản xuất công nghiệp với hiệu suất cao khiến cho con người chịu áp lực tâm lý nặng nề, mất cảm giác tự do
và từ đó dẫn đến những căn bệnh tâm lý
Những hệ quả trên đã gây nên sự khủng hoảng trầm trọng trong đời sống tinh thần con người châu Âu Trong ý nghĩa đó, nhà nghiên cứu Phạm Minh Lăng cho rằng trong lịch sử, các nước phương Tây luôn được coi là nơi
có một nền triết học duy lý đáng trân trọng Nhờ vào những thành tựu của nền triết học duy lý mà các quốc gia này đã tạo ra một nền sản xuất phát triển, khoa học- công nghệ tiên tiến Do đó, chỉ trong vòng vài thế kỷ, các quốc gia này đã tạo ra được những bước nhảy vọt trong lĩnh vực kinh tế, vượt xa những quốc gia phương Đông c đại, những quốc gia vẫn được coi là cái nôi của nền văn minh thế giới trước đó Tuy nhiên, cũng vì quá say sưa với những thành tựu vật chất do mình sáng tạo ra mà các quốc gia phương Tây đã bỏ quên mất chính mình, cái con người đã làm nên những kì tích đó Con người trở thành nô lệ cho những sản ph m sáng tạo của mình Khi đó, Con người đã thực sự bị giáng cấp xuống hàng những công c loại 2, công c của công c Cũng từ đó xã hội đã đ ra không biết bao nhiêu là hội chứng Con người trở nên sung túc về vật chất nhưng tâm hồn thì trở nên cằn c i và luôn trong tình trạng bất an [Xem 41, tr.334] Điều nghịch lý này đã tồn tại hàng thế kỉ dưới sự thống trị của chủ nghĩa tư bản, các giá trị vật chất văn minh tưởng chừng như sẽ mang lại hạnh phúc cho con người thì nay lại trở thành xiềng xích nô lệ con người Ngoài xã hội, khoa học kỹ thuật phát triển với những thành tựu rực rỡ bao nhiêu thì bên trong đời sống tâm lý của m i cá nhân lại càng ngh o nàn, tù túng bấy nhiêu
Trang 21Chính thực tiễn này đã đặt ra nhu cầu cho triết học phải đi sâu tìm hiểu lại về những vấn đề như bản chất của con người và tâm lý cá nhân mà chủ nghĩa Freud là một điển hình Freud khẳng định: Sự công nhận rằng có những hoạt động tinh thần vô thức sẽ mở cho khoa học một hướng đi mới có tính chất quyết định , hướng đi mới ấy chính là việc thừa nhận một cách thẳng thắn những bản năng của con người, coi đó như đối tượng nghiên cứu chủ yếu của toàn bộ một học thuyết chứ không phải một điều đáng xấu h , cần bị chối bỏ Hướng đi đó không những đã xây dựng được một hệ thống lý luận riêng mà còn đưa được những lý thuyết của mình vào trong việc giải quyết những vấn đề do thực tiễn xã hội đặt ra, hướng đi mới đó cũng chính là lối thoát duy nhất của đời sống tinh thần con người, là một hướng đi đầy tính nhân văn trong bối cảnh xã hội đương thời
1.2 Nh ng tiền ề ho học t nhiên
Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX ở châu Âu, khoa học tự nhiên phát triển mạnh mẽ đạt được nhiều thành tựu to lớn Các phát minh có giá trị vạch thời đại được đưa ra ở hầu hết mọi lĩnh vực đã gây nên sự chao đảo trong thế giới quan của bản thân các nhà khoa học nói riêng và toàn châu Âu nói chung
rong nh v c v t ý học
Sự ra đời của hàng loạt các phát minh quan trọng, trong đó có định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng là cơ sở cho tư tưởng về những năng lượng tâm lý và sự chuyển hóa giữa chúng trong nội tâm của con người (Freud coi Libido là năng lượng tính d c nguyên thủy của con người, không
tự sinh ra và cũng không tự mất đi Ông cũng khẳng định khi năng lượng libido của con người không tìm được m c tiêu, không được giải phóng thì sẽ
dẫn đến những biến thái trong tâm lý cá nhân Trong tác ph m " gi i gi
m " ông đã đưa ra những phân tích trên nhiều ca bệnh tâm lý xuất phát từ
Trang 22nguyên nhân này.) Sự vận d ng lý thuyết bảo toàn và chuyển hoá năng lượng vào lý giải quá trình vận động và biến đ i của các năng lượng tâm lý đã mang tới cho Freud những thành công bước đầu trong việc điều trị bệnh tâm lý và, đây cũng là một trong những cơ sở được Freud sử d ng để chứng minh cho sự tồn tại của cõi vô thức
rong nh v c sinh học
Phải kể đến các phát minh như Học thuyết tiến hóa của Darwin và công trình nghiên cứu về hệ thần kinh và phản xạ của nhà sinh lý học người Nga Ivan Pavlov Những công trình nghiên cứu này đã cung cấp cho Freud cái nhìn t ng quan về cấu trúc, sự vận hành của cơ thể và đặc biệt là hệ thần kinh, từ đó giúp cho Freud xác định hướng nghiên cứu của mình Những kiến thức về kết cấu và quá trình vận hành của hệ thần kinh cũng có thể được xem như cơ sở lý luận giúp cho Freud hình thành những tư tưởng đầu tiên của Phân tâm học, bác bỏ quan điểm sai lầm của một số nhà nghiên cứu trước đó coi bệnh tâm lý hoàn toàn do sự t n thương của não bộ àn về những ảnh hưởng của học thuyết tiến hóa đối với Freud, David Staffort Clark viết: Trong sự phát triển lý luận bản năng của Freud,tiến hóa luận và di truyền học
đã có ảnh hưởng rất lớn đối với ông Thời thanh niên, Phrớt chịu ảnh hưởng sâu sắc của Đacuyn, khi học ở Đại học Viên, rất thích thú với sinh vật học Ông thường nghe giáo sư giảng về sinh vật học, sinh lý học, thần kinh học,
do đó đã xây dựng được cơ sở sinh vật học vững chắc cho nghiên cứu tâm lý học sau này Ngoài ra, di truyền học đã nói rõ cơ thể bản năng hoặc cơ sở của thể xác là khuynh hướng có tính điển hình cho một hành động nhất định[5, tr.178] Điều này lý giải cho sự coi trọng các mong muốn bản năng con người trong các nghiên cứu của Freud
Trang 23Thực trạng nêu trên đã thôi thúc nhiều nhà nghiên cứu đi tìm con đường mới cho nghiên cứu tâm lý học, trong đó phải kể đến nghiên cứu của trường phái Tâm lý học biến thái với những đại biểu như J reur và đặc biệt là J M Charcot Đây là nguồn cảm hứng trực tiếp giúp cho Freud xây dựng lên học thuyết của mình Freud rất tâm đắc với câu châm ngôn của Charcot Lý thuyết thì tốt, nhưng không ngăn được thực tiễn tồn tại Freud cũng đã từng tham gia một khóa học thôi miên của J.M Charcot tại Paris và sau đó ông đã vận d ng lý thuyết này vào trong các trị liệu tâm lý của mình một thời gian dài trước khi phát minh ra phương pháp "Liên tưởng tự do"[Xem 62, tr.16]
1.3 Nh ng tiền ề tƣ tƣ ng
ản thân Freud, trong các trước tác của mình luôn khẳng định học thuyết của ông không có nội dung triết học và cũng không chịu sự ảnh hưởng của các trào lưu triết học đương thời bởi theo ông, các học thuyết triết học đều phần nhiều mang tính tư biện còn học thuyết Phân tâm học lại được xây dựng hoàn toàn dựa trên những kinh nghiệm thực tiễn đúc rút từ hoạt động tâm lý học lâm sàng Tuy nhiên, chính những tài liệu về quá trình nghiên cứu của Freud từ khi còn trong ghế nhà trường đến khi xây dựng học thuyết về
Trang 24phân tâm học cũng như chính những tư tưởng được trình bày trong các tác
ph m của Freud đã minh chứng cho nguồn gốc triết học của học thuyết này
Về vấn đề này, nhà nghiên cứu Đ Minh Hợp đã có nhận xét: Trong một số tác ph m của mình, Freud có trực tiếp viện dẫn Schopenhauer, song ông vẫn kiên quyết khẳng định mình chỉ ‘đọc Schopenhauer vào giai đoạn cuối đời’! Freud cũng có thái độ tương tự đối với Nietzsche Một mặt, ông thường viện dẫn Nietzsche trong các tác ph m của mình; mặt khác, ông lại nhấn mạnh rằng, các tư tưởng của Nietzsche không có ảnh hưởng đến việc hình thành phân tâm học…Ảnh hưởng của triết học đến phân tâm học là hiển nhiên, nhưng Freud lại kiên trì phủ nhận sự thực này và thường xuyên tuyên bố tính độc đáo trong những tư tưởng phân tâm học mà ông đưa ra, đồng thời nhấn mạnh không một thế giới quan triết học nào có ảnh hưởng đến sự hình thành phân tâm học, nếu chỉ viện dẫn vào nguồn gốc triết học trong trường hợp tối cần thiết [32, tr.12]
Trong những suy giải về giấc mơ và bản năng tính d c của con người,
c thể là trong chính tác ph m gi i gi m , Freud nhiều lần trích dẫn
và cho thấy sự ảnh hưởng của Aristotle Ngay trong chương đầu của tác
ph m, ông viết: "Cả hai công trình nghiên cứu có đề cập đến giấc mơ của Aristotle đều khẳng định giấc mơ là một vấn đề thuộc tâm lý Aristotle đã biết rõ một số đặc trưng của giấc mơ; chẳng hạn như ông đã biết rằng trong
mơ, những cảm giác không đáng kể mà con người nhận được lúc ngủ sẽ bị trở thành những cảm giác rất mãnh liệt ('một người mơ thấy mình đang đi trong biển lửa và cảm thấy rất nóng, nếu như chỉ một phần nào đó của cơ thể cảm thấy hơi ấm'), điều này đã dẫn ông đến kết luận rằng giấc mơ có thể dễ dàng đánh lạc hướng các giác quan Dấu hiệu đầu tiên cho thấy rằng một thay đ i
Trang 25ban đầu trên cơ thể đã thoát khỏi sự giám sát của cơ quan kiểm duyệt."2
Như vậy, ở đây Freud dựa trên các quan điểm về nguồn gốc giấc mơ của Aristotle
để chứng minh cho học thuyết của mình Theo đó, giấc mơ hoàn toàn không phải là vấn đề thuộc lĩnh vực tâm linh, không phải những lời mách bảo của Thần linh hay bất cứ một lực lượng siêu nhiên nào khác mà là một vấn đề
thuộc phạm vi tâm lý của con người Cũng trong tác ph m gi i gi m ,
Freud đã kể một kỉ niệm trong đó cho thấy quan điểm của ông về mối quan hệ giữa triết học và khoa học: Trong một cuộc tranh luận của một câu lạc bộ sinh viên nước Đức về mối quan hệ giữa triết học và các khoa học cơ bản, là một thanh niên theo chủ nghĩa duy vật, tôi đã đứng lên chống lại những quan điểm cực đoan, một chiều 3 Có thể thấy, ở đây chính Freud cũng không thể phủ nhận hoàn toàn mối quan hệ giữa học thuyết của mình với triết học
Mặt khác, những quan niệm của Freud về vai trò của vô thức đối với hoạt động tư duy sáng tạo cũng như việc hình thành các giấc mơ rất tương đồng với quan niệm về linh hồn bất tử và quá trình nhận thức của Platon Nói cách khác, Freud đã chịu ảnh hưởng từ quan điểm nhận thức luận của Platon,
c thể: Platon coi nhận thức là quá trình hồi tưởng lại của linh hồn những tri
2 Nguyên bản tiếng Anh "In the two works of Aristotle in which there is mention of dreams, they are already regarded as constituting a problem of psychology Aristotle was acquainted with some of the characteristics of the dream-life; for example, he knew that dream converts the slight sensations perceived in sleep into intense sensations ('one imagines that one is walking through fire, and feels hot, if this or that part of the body become only quite slightly warm'), which led him to conclude that dreams might easily betray to the physician the first indications of an incipient physical change which escaped observation during the day", [59, tr.7]
3
Nguyên bản tiếng Anh There was a debate in a German students’ club about the relation
of philosophy to the general sciences Being a green youth, full of materialistic doctrines, I thrust myself forward in order to defend an extremely one- sided position [59,tr.212]
Trang 26thức, kinh nghiệm mà nó đã trải qua trước khi bị trói buộc vào thân xác Linh hồn con người là bất tử và m i lần con người chết đi linh hồn đó sẽ ngao du trong vũ tr , đây cũng là quá trình tiếp thu những kiến thức, kinh nghiệm
ph c v cho quá trình tư duy của con người Còn Freud coi những tư duy, đặc biệt là sự sáng tạo nghệ thuật của con người đều bắt nguồn từ những kiến thức, kinh nghiệm mà con người đã trải qua kể từ thời ấu thơ Những kiến thức, trải nghiệm này được lưu trữ tận trong vô thức, khi nhà văn, nhà thơ, hoạ sĩ sáng tạo, những trải nghiệm đó sẽ được bộc lộ ra, trực tiếp trở thành ý tưởng chủ đạo của tác ph m (đối với hội hoạ- thể hiện qua việc Freud phân tích các bức tranh của Leonard De Vinci) và tâm lý của nhân vật, hình tượng văn học (đối với văn chương, kịch, thơ Nhà thơ phóng chiếu và cấu trúc hoá các huyễn tưởng của mình thành những hình tượng văn học [51, tr.13] Điều này thể hiện qua việc Freud phân tích các tác ph m của Shakespeare, ) Sự ảnh hưởng của Platon đối với Freud còn được khẳng định qua chính thừa nhận của Freud: Cái Eros của Platon xét về phương diện nguồn gốc, phát hiện và liên lạc với ái tình, hoàn toàn phù hợp với tinh lực tình yêu, với cái libido của Phân tâm học [Dẫn theo 21, tr.47]
Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu cũng khẳng định rằng Freud còn chịu ảnh hưởng từ tư tưởng về đạo đức và văn hóa từ Spinoza và Kant Ảnh hưởng phần nào từ học thuyết đơn tử của G.H.Lebniz và thuyết giới hạn ý thức của J.F.Herbart
Tuy nhiên, có thể khẳng định chắc chắn rằng những học thuyết triết học
có ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ nhất đến việc hình thành tư tưởng của Freud là Schopenhauer và Nietzche với tư tưởng phi duy lý đã đề cao mặt nội tâm của con người và khẳng định đây mới chính là đối tượng mà triết học cần hướng tới nghiên cứu
Trang 27Học thuyết ý chí của Schopenhauer và sau này được Nietzche phát triển lên thành ý chí quyền lực đã đi tìm và lý giải nguồn gốc của mọi hành động từ mặt bản năng, ý chí của con người chứ không lấy lý tính làm xuất phát điểm như các học thuyết triết học trước đó Tuy còn đôi ch duy tâm nhưng đây chính là những tiền đề trực tiếp tác động đến việc hình thành tư tưởng về sự dồn nén vô thức và những tư tưởng về tính d c của Freud
1.4 Cu c i, s nghiệp c Freud v t c ph “Lý giải giấc mơ” 1.4.1 u c i v s nghi p c reud
đã định cư và sinh sống trên bờ sông Ranh; trong thế kỉ XIV- XV, rất nhiều người Do Thái ở đây bị bức hại, họ phải rời xa quê hương, chạy về hướng Đông, đầu thế kỉ XIX lại rời Litva, xuyên qua Kaxilia rồi trở về chốn cũ Đức- Áo"[Dẫn theo 43, tr.24] Qua lời tự thuật này có thể thấy được phần nào sự tự hào về dòng máu của mình, cũng như tinh thần dũng cảm đón nhận thách thức của ông Điều này cũng phần nào lý giải được những bất đồng trong ứng xử giữa Freud và cha mình sau này
Cha ông là Jakob Freud, là một nhà sản xuất nhỏ trong lĩnh vực dệt len Và theo chính con trai của S.Freud, ngài Jakob Freud là một người "Đáng mến, hào phóng, cởi mở Mọi thành viên trong gia đình đều yêu mến ông, và ông đặc biệt tốt đối với lũ tr con chúng tôi"[Dẫn theo 62, tr.32] Tuy nhiên,
Trang 28đối với một S.Freud luôn dũng cảm chấp nhận thách thức thì lối ứng xử nhẫn nhịn của cha ông đã phần nào khiến ông không đồng tình Điều này được thể hiện qua sự thất vọng khi Freud nghe kể câu chuyện của cha mình thời còn tr
bị một tín đồ Cơ Đốc giáo đối xử bất công (giật mũ vất xuống vũng nước và mắng chửi) chỉ vì ông là một người Do Thái Sau này, trong tư tưởng của Freud vẫn luôn đi tìm và tôn thờ những người anh hùng dám chống lại Cơ Đốc giáo, điển hình là nhân vật Hanibal
Mẹ của Freud là bà Amalia Nathansohn, là người vợ thứ ba và nhỏ hơn cha Freud 20 tu i Trong hai bậc thân sinh, Freud dành phần nhiều tình cảm của mình cho mẹ, đây có lẽ cũng là một trong những cơ sở cho việc phát triển học thuyết về "phức cảm Oedipe" của ông sau này
Sinh ra trong một thời đại đầy biến động tại một gia đình đông anh chị
em (8 anh chị em) và có hoàn cảnh khó khăn (công việc kinh doanh của cha Freud không mấy thành công, cả gia đình ông phải sống trong căn nhà đi thuê khá nhỏ khi ở Vienna), Freud trưởng thành từ rất sớm và là người anh khá nghiêm khắc đối với các em mình Nhận xét về hoàn cảnh xã hội mà Freud được sinh ra và lớn lên, nhà nghiên cứu Đ Lai Thuý đã phải ngậm ngùi thừa nhận: Thành phố Vienna hoa lệ bấy giờ thực sự là một lò lửa s c sôi những mâu thuẫn kinh tế, xã hội, tinh thần và trí tuệ Nhưng bầu không khí s c sôi này vấp phải những thành kiến của một xã hội quan phương Thanh giáo và bảo thủ làm nảy sinh thói đạo đức giả và nạn cùng kh về ức chế tính
d c [51, tr.82]
Chính hoàn cảnh sống và những trải nghiệm thời thơ ấu bên gia đình được cho là đã để lại dấu ấn hết sức sâu sắc trong những nghiên cứu của ông sau này Giống như lời nhận xét của nhà nghiên cứu Diệp Mạnh Lý "Thời đại biến đ i lớn thường thai nghén ra những vĩ nhân Những tháng năm xao động,
Trang 29biến cải đã sinh ra Freud- một con người vĩ đại có tư tưởng kiệt xuất"[43, tr.142]
on ư ng ến v i h n t m h n i hung và h thuyết về vô thứ n i riêng
Mùa thu năm 1873, Freud bắt đầu đi học y học tại đại học t ng hợp Viên, đây chính là cột mốc khởi đầu đánh dấu con đường đến với phân tâm học của ông Trong thời gian học, Freud thể hiện sự quan tâm đặc biệt đối với vấn đề sinh lý y khoa và đã có nhiều nghiên cứu về sinh lý thần kinh
Năm 1882-1885, Freud làm việc tại bệnh viện đa khoa Viên và tại đây, ông đã công bố một số công trình về mặt bệnh lý học thần kinh Tháng
10 1885, ông đến Paris và tham gia khóa học về liệu pháp thôi miên của Martin Charcot, người được biết đến như là cha đ của ngành thần kinh học hiện đại Từ năm 1886, Freud bắt đầu sử d ng liệu pháp này trong chữa trị với những điểm khác biệt đáng kể so với phương pháp nguyên bản mà ông học được ở Pháp Thông qua việc ứng d ng và nghiên cứu chuyên sâu về thôi miên Freud đã đề xướng một biện pháp mới, mà theo ông là có hiệu quả hơn nhiều so với phương pháp thôi miên trong chữa trị bệnh lý thần kinh bởi nó cho phép bệnh nhân của ông có thể tự do nói về tất cả những ý tưởng hay ký
Jean-ức ngẫu nhiên xuất hiện trong tâm trí họ, liệu pháp này được ông đặt tên là liên tưởng tự do
Đến năm 1896, Freud chính thức từ bỏ việc sử d ng thôi miên trong điều trị và chính thức chuyển sang dùng thuật ngữ phân tâm học để chỉ liệu pháp chữa trị do ông sáng lập ra cũng như những lý thuyết mà dựa vào đó liệu pháp này được xây dựng Lý thuyết mới của Freud được hình thành nên trong thời k ông gặp phải những suy s p về mặt tinh thần và liên t c gặp những giấc mơ phiền toái Từ việc phân tích chính tâm lý của bản thân và những
Trang 30giấc mơ lặp đi lặp lại một cách khó hiểu của mình, Freud đã đi đến tìm ra những tư tưởng hoàn toàn mới trên lĩnh vực phân tích tâm lý
S phát tri n " h n t m h " và những ống hiến ông ho
ến khi qu i
Sau khi thiết lập, học thuyết về "Phân tâm học" tiếp t c được Freud phát triển và hoàn thiện cho đến khi ông qua đời, bất chấp những thất bại bước đầu và những ý kiến tranh cãi xoay quanh học thuyết này
Thời k đầu, nội dung chủ yếu của học thuyết là nghiên cứu cõi vô thức, nội dung và vai trò của nó đối với đời sống cá nhân, từ đó vận d ng vào
lý giải một số vẫn đề xã hội như văn hóa, tôn giáo,
Càng về sau, Freud lại thiên sang nghiên cứu không chỉ là những
"Eros"- những bản năng tính d c của con người mà là những "Thamandous"- được ông hiểu là "bản năng chết"
Tháng 2 1923, Freud được phát hiện là đã mắc căn bệnh ung thư vòm họng và phải trải qua 33 cuộc phẫu thuật sau đó vì căn bệnh này
Tuy sức khỏe không còn tốt nhưng Freud vẫn tiếp t c công việc chữa bệnh và viết sách vào cuối đời
Năm 1936, sau khi gia đình Freud phải chuyển sang Anh vì sự tàn bạo của Đức Quốc xã, ông đã qua đời tại đây
Ông đã để lại một số lượng đồ sộ các công trình, trong đó tiêu biểu
như: "The interpretation of dreams" (1900), "Three Essays on the Theory of Sexuality" (1905) "Totem and Taboo" (1913), "Beyond the pleasure principle" (1920), "The Ego and the Id" (1923),
Đặc biệt, trong đó, tất cả những phân tích về giấc mơ từ đó làm cơ sở chứng minh cho sự tồn tại của cõi vô thức được Freud tập hợp lại vào năm
1900 và cho xuất bản thành cuốn sách với tên gọi gi i gi m Một
Trang 31trong những thành công lớn nhất trong cuộc đời nghiên cứu của ông Trong
tác ph m "Freud: Conflict and culture" có đoạn đánh giá về tác ph m này
như sau: "Tác ph m Lý giải giấc mơ có thể được hiểu theo nhiều nghĩa: một học thuyết khoa học, một tập hợp những quy tắc tài tình nhưng cũng rất rõ ràng, mạch lạc trong việc luân giải các giấc mơ, một lý thuyết khoa học táo bạo về những giấc mơ mà trên đó đã dựng lên một cuộc cách mạng tâm lý học
về vô thức Nhưng nó cũng là cánh cửa s mở ra thế giới bên trong của chính tác giả và là một cuốn nhật ký riêng tư về cuộc đời và sự nghiệp của một bác sĩ
Do Thái tài giỏi sống tại fin- de- siècle Vienna, người đã ghi lại với sự châm biếm một cách hài hước đời sống riêng tư của những bệnh nhân có học thức và không kém phần hóm hỉnh cũng như đời sống riêng tư của chính ông"4
1.4.2 c ph m “Lý giải giấc mơ”
Tác ph m được Freud bắt tay vào thực hiện từ năm 1895 Trong lá thư gửi Wilhelm Fliess, Freud đã viết như sau: Ông có bao giờ nghĩ rằng, một ngày nào đó sẽ có một tấm bia đá được đặt trước ngôi nhà của tôi, trên đó có khắc dòng chữ ‘Trong ngôi nhà này, vào ngày 24 7 1895, bí n về các giấc
mơ đã được gợi mở với tiến sĩ Sigm Freud’ Vào thời điểm này, tôi có thể thấy được phần nào viễn cảnh đó"5
4 Nguyên bản tiếng Anh: " the Interpretation of dreams is many things: a scholary treatise,
an ingenious yet lucid set of rules for interpreting dreams, a bold scientific theory of dreams upon which is built a revolutionary psychology of the unconcious But it is also a window on the inner life of its author and an intimate diary of the life and work of a cultured Jewish physician living in fin- de- siecle Vienna, who records with irony and humor the private lives of his cultivated and witty patients as well as his own", [63, tr 54]
5 Nguyên bản tiếng anh: Do you suppose that some day a marble tablet will be placed on the house, inscribed with these words: 'In this house on July 24, 1895, the secret of dreams was revealed to Dr Sigm Freud'? At the moment I see little prospect of it." [62, tr.79]
Trang 32Đến năm 1900, tác ph m được xuất bản lần đầu và sau đó được tái bản trên 7 lần trong suốt cuộc đời của Freud
Tác ph m gi i gi m có tên gốc tiếng Đức là Die
Traumdeutung và được dịch sang tiếng anh lần đầu được thực hiện bởi A.A rill, một nhà phân tâm học thuộc chủ nghĩa Freud Vài năm sau đó, bản dịch có bản quyền của James Strachey được xuất bản với cái tên The Interpretation of dreams
Tác ph m đã thể hiện những quan điểm của Freud về vô thức dựa trên các luận giải của ông về giấc mơ cũng như đặt những tiền đề đầu tiên cho quan điểm về phức cảm Oedipe sau này Đây cũng có thể được coi như một trong những tác ph m quan trọng nhất, bao hàm những tư tưởng cốt lõi nhất trong toàn bộ sự nghiệp nghiên cứu của Freud Trong lời tựa của lần xuất bản
bằng tiếng Anh, Freud đã nhận xét về tác ph m " gi i gi m " như sau:
"Tác ph m này, mà sự đóng góp mới m của nó vào tâm lý học đã từng làm mọi người kinh ngạc lúc công bố nó (1900), về căn bản vẫn giữ nguyên Ngay
cả hiện nay, tôi vẫn cho rằng nó chứa đựng những cái có giá trị nhất trong tất
cả những phát hiện mà tôi có may mắn thực hiện Một trực giác như trực giác này không thể xảy tới hai lần trong một đời người"[Dẫn theo 5, tr.125]
Trang 33Kết luận chương 1
Tóm lại, Freud được sinh ra và lớn lên trong một thời kì lịch sử đầy biến động ở châu Âu, thời k đánh dấu sự thống trị của chủ nghĩa tư bản trên phạm vi toàn thế giới với thành tựu là sự phát triển vượt bậc trên lĩnh vực kinh tế Tuy nhiên, sự tuyệt đối hóa vai trò của kinh tế, và của máy móc đã mang tới những hệ quả hết sức nghiêm trọng, nhất là trên lĩnh vực đời sống tinh thần của con người Xuất phát từ những thực tiễn xã hội kể trên Freud đã quyết định lựa chọn trở thành một bác sĩ tâm lý, nghiên cứu và giải quyết sự rối loạn trong đời sống tinh thần của xã hội Qua quá trình học tập, nghiên cứu về tâm lý học và cách khắc ph c một số vấn đề tâm lý cũng như qua thực tiễn hoạt động trong lĩnh vực tâm lý lâm sàng, Freud rút ra được những lý thuyết nền tảng cho sự ra đời một học thuyết mới, học thuyết Phân tâm học Những tư tưởng đầu tiên của học thuyết Phân tâm học được Freud đúc kết
lại trong tác ph m gi i gi m
Trong tác ph m, Freud đã trình bày tư tưởng của ông về vô thức, bộ phận chủ yếu kết cấu lên đời sống tâm lý của con người Tư tưởng về vô thức
của Freud trong tác ph m gi i gi m nói riêng và trong toàn bộ học
thuyết của Freud nói chung là sự kế thừa và phát huy của nhiều học thuyết khoa học đương thời như định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, thuyết tiến hóa, trường phái Tâm lý học biến thái , trường phái nghiên cứu mở đầu cho ngành tâm lý học hiện đại… Trên lĩnh vực triết học, học thuyết về vô thức của Freud ra đời là sự kế thừa những tư tưởng từ học thuyết đơn tử của Lebniz, thuyết giới hạn tâm lý của Herbart, nhận thức luận của Platon, quan niệm về nguồn gốc hình thành giấc mơ của Aristotle, và chủ yếu nhất là thuyết duy ý chí của Nietzche và Schopenhauer
Trang 34Tư tưởng về vô thức được Freud trình bày trong tác ph m gi i gi
m không những là một bước ngoặt mang tính đột phá trong lĩnh vực tâm lý
học mà còn mang những ý nghĩa triết học không thể phủ nhận Chính tác giả của cuốn Lý giải giấc mơ cũng phải thừa nhận việc hình thành nên những
tư tưởng trong tác ph m này là khó có thể có được lần thứ hai trong đời
Trang 35CHƯƠNG : NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN, GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA TƯ TƯỞNG FREUD VỀ VÔ THỨC TRONG TÁC PHẨM
LÝ GIẢI GIẤC MƠ”
2.1 Vô thức v t số h i niệ liên qu n trong ph n t học
đã chỉ ra rằng giấc mơ hoàn toàn không phải là những lời nhắn nhủ của Chúa
và bác bỏ hoàn toàn những quan điểm thần bí, tâm linh về nguồn gốc của giấc
mơ Chính nhờ việc tìm ra và áp d ng phương pháp liên tưởng tự do vào trong nghiên cứu và điều trị các bệnh tâm lý, Freud đã đi đến nhận thức chung rằng tất cả các giấc mơ của con người đều có một tầng nội dung thứ hai, được
n giấu Từ việc đi nghiên cứu tầng nội dung này của giấc mơ, Freud đi đến kết luận giấc mơ không là gì khác hơn ngoài sự biểu hiện những ham muốn của con người trong đời sống hàng ngày, những ham muốn này là xuất phát từ bản năng và không được thỏa mãn, nhưng chúng vẫn tồn tại và bị dồn nén trong cõi vô thức Nhà nghiên cứu Phạm Minh Lăng đã nhận xét: Hiểu được đúng đắn giấc mơ cũng có nghĩa là hiểu đúng đắn những ảnh hưởng gì
và sự hoạt động của cái vô thức với tư cách một hoạt động tinh thần [41,
tr.153] Trong tác ph m gi i gi m , Freud cũng khẳng định Sự luận
giải về giấc mơ là con đường trực tiếp nhất dẫn đến những hiểu biết về các
Trang 36hoạt động vô thức của tâm trí 6 Như vậy, ở đây, Freud đã lập luận cho sự tồn tại của vô thức thông qua việc phân tích giấc mơ của con người bằng phương pháp liên tưởng tự do Tuy đã được chứng minh qua nhiều ví d về những thành công trong thực tiễn điều trị bênh tâm lý nhưng phương pháp nghiên cứu trên của Freud vẫn chưa nhận được sự đồng tình của một bộ phận các nhà khoa học Họ coi phương pháp liên tưởng tự do là một phương pháp thiếu cơ
sở lý luận, từ đó bác bỏ cả những ý nghĩa thực tiễn to lớn mà phương pháp này đã mang lại Nhà nghiên cứu Diệp Mạnh Lý khái quát lại một số nhận định: Phương pháp tự do liên tưởng là cơ sở hoặc ch dựa của lý luận giải thích mộng Do tính chủ quan và tính tùy tiện của phương pháp này nên thường khó đạt được kết luận khoa học tin cậy Chả trách L Wittgenstein nói:
‘Mọi cái Phrớt đã làm là soạn ra câu chuyện thần thoại mới’ [05, tr.107] Nếu xét trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, các tư tưởng luận giải cho sự tồn tại của vô thức được Freud khái quát từ thực tiễn là hợp lý
và khoa học Tuy nhiên cái thực tiễn mà Freud lấy làm cơ sở cho học thuyết của mình lại bị hạn chế trong phạm vi những người bệnh tâm lý và bản thân Freud mà thôi Mặt khác, phương pháp liên tưởng tự do của Freud cũng hoàn toàn ph thuộc vào tư duy, ý thức của chủ thể Chính điều này
đã khiến cho quan điểm về vô thức của Freud được trình bày trong tác
ph m gi i gi m nói riêng và toàn bộ học thuyết của Freud nói
chung rơi vào duy tâm chủ quan
Tóm lại, những tư tưởng triết học của Freud trong tác ph m gi i
gi m , hay nói cách khác là phần lớn tư tưởng của Freud trong tác ph m
the unconscious activities of the mind [59, tr 604]
Trang 37này đều được trình bày thông qua những luận giải của ông về vô thức, một thành tố mà ông cho là hết sức quan trọng trong cấu trúc tâm lý của con người Tuy đôi ch còn rơi vào tư biện và chủ quan nhưng những tư tưởng về
vô thức của Freud đã phần nào giải quyết được mối quan hệ giữa cá nhân và
xã hội cũng như giữa mặt bản năng và lý trí của con người Nhận xét về giá trị của những tư tưởng về vô thức của Freud, tác giả Lương Văn Kế khẳng định: Chủ nghĩa Mác không phủ nhận cơ sở sinh học của con người…, cho nên nó cũng không coi thường bản năng và vô thức Chỉ có điều, do một số nhà lý luận sau này, bởi nhiều lý do khác nhau, đã tuyệt đối hóa mặt ý thức mà xem nhẹ việc nghiên cứu vô thức và tâm lý cá nhân Mảnh đất quan trọng và thiết thân ấy, do vậy, trong một thời k dài hàng thế kỷ đã là nơi tung hoành của các trường phái tâm lý học ở các nước Tư ản chủ nghĩa Tây Âu và ắc Mĩ,
mà trung tâm của họ là phân tâm học, với đại biểu điển hình là Sigmund Freud [14, tr.05]
Vô thứ là gì?
Theo Freud, Phân tâm học là khoa học về vô thức Cái gọi là phân tâm (phân tích tâm lý) chẳng qua là sự khẳng định trong kết cấu tâm lý của con người, vô thức là thành phần chủ yếu còn những quá trình tinh thần có ý thức (hữu thức) chỉ là c c bộ của toàn bộ đời sống tinh thần Có thể nói, theo Freud vô thức không phải gì khác ngoài một bộ phận trong kết cấu tâm lý của con người, nhưng nó là bộ phận chủ yếu Từ những luận giải về nguồn gốc hình thành các giấc mơ, Freud đi đến khẳng định rằng bên dưới các hoạt động của ý thức con người do lý trí thống trị là cả một thế giới rộng lớn của vô thức , trong đó bao gồm cả những ham muốn bản năng nhất, nguyên thủy nhất, những năng lượng tâm lý mạnh mẽ nhất của con người Thậm chí, Freud coi lịch sử nhân loại chính là lịch sử bản năng bị áp chế, xã hội văn minh bắt
Trang 38nguồn từ sự áp chế đối với bản năng, d c vọng và sự ‘thăng hoa’ của vô thức [Dẫn theo 21, tr.62] Những năng lượng bản năng của con người, theo Freud, bị dồn nén lại và chỉ được giải thoát trong giấc mơ cùng một vài trường hợp khác mà trong tác ph m chưa khảo cứu đến Ông viết: Nói một cách chính xác, Vô thức là một thực thể huyền bí, bản chất bên trong của nó vẫn còn là một điều bí n đối với chúng ta giống như tính xác thực của thế giới hiện tượng Và nó cũng chỉ được truyền tải đến chúng ta một cách không trọn vẹn thông qua các dữ liệu của ý thức, cũng giống như thế giới khách quan thông qua sự bộc lộ của các cơ quan kiểm duyệt 7 Điều này có nghĩa là theo Freud cõi vô thức là hoàn toàn nằm ngoài sự kiểm soát của ý thức, chúng
ta không thể nhận thức được nó bởi nếu có thể nhận thức được thì những tâm trạng, cảm xúc, ham muốn hay những năng lượng tâm lý đó đã thuộc về ý thức chứ chẳng còn là vô thức nữa Và những dữ kiện của vô thức cũng chỉ được truyền tải đến với chúng ta trong những giấc mơ dưới một hình thức rất khó hiểu mà thôi
Vậy từ đâu mà vô thức được hình thành và bởi lý do gì mà những mong muốn, những năng lượng vô thức lại không hề được nhận biết bởi con người "tỉnh thức" mà chỉ trong giấc mơ những năng lượng, ham muốn này mới được giải phóng Chúng ta chỉ có thể lý giải được cặn kẽ điều này dựa trên tư tưởng của chính Freud về nội dung của Vô thức ởi vô thức chứa đựng tất cả những ham muốn, những cảm xúc bản năng nhất của con người,
đi ngược lại luân thường, đi ngược hoàn toàn với những chu n mực xã hội
nature is just as unknown to us as the reality of the external world, and it is just as imperfectly reported to us through the data of consciousness as is the external world through the indications of our sensory organs [59, tr 607]
Trang 39quy định, bởi vậy thậm chí việc tự nhận thức được rằng mình có những suy nghĩ, những ham muốn đó cũng khiến cho chủ thể cảm thấy xấu h và có l i với lương tâm Tuy nhiên những bản năng này của con người lại luôn hiện hữu và không ai có thể phủ nhận đó cho nên nó phải được dồn nén xuống một vùng mà ý thức không thể chạm tới, ít nhất là trong khi con người còn "tỉnh táo" Tất nhiên, ở đây cũng cần hiểu những xấu h và day dứt do nội dung vô thức mang lại cho con người phần lớn chỉ tồn tại song hành với sự xem thường mặt bản năng của con người do xã hội quy định Tức là, nếu như xã hội không quá khắt khe đối với những ước vọng bản năng thì con người đã có thể phát triển một cách tự do hơn và sẽ có sự cân bằng giữa mặt bản năng với mặt xã hội trong m i con người, tạo điều kiện giúp cho con người phát triển một cách toàn diện hơn Phát biểu cái nhìn của mình đối với mối quan hệ giữa
cá nhân và xã hội, Freud nói: Chúng ta không thể kiêu ngạo quá mức, đến mức hoàn toàn không hề đếm xỉa gì đến phần động vật nguyên thủy trong bản tính chúng ta; chúng ta cũng không thể quên, vì m c đích văn hóa mà xóa bỏ hạnh phúc cá nhân là điều không thể thực hiện được… Vì vậy, chúng ta chớ
cố sức đem năng lượng của tính d c từ m c đích vốn có của nó chuyển dịch toàn bộ ra ngoài Làm như vậy quyết không thể thành công Và tính d c hễ bị dồn ép quá mức, tất nhiên sẽ dẫn đến các thiệt hại do sử d ng không thỏa đáng [Dẫn theo: 43, tr.150] Như vậy, theo Freud, cần có sự cân bằng trong mối quan hệ giữa bản năng và tính xã hội của m i con người để hạn chế những hệ quả trong lĩnh vực tâm lý cá nhân do sự tuyệt đối hóa vai trò của mặt xã hội gây ra Trong một bu i nói chuyện của mình, Freud từng lấy ví d
về một con ngựa chết g c trong chuồng do bị kìm nén quá mức ước muốn bản năng ăn yến mạch Hình tượng n d này của Freud không chỉ nhắc nhở m i con người về sức mạnh và tầm quan trọng của các yếu tố bản năng vô thức
Trang 40mà còn khái quát lên được phần nào bức tranh xã hội đương thời với những cái tôi cá nhân bị bóp ngạt trong một hệ thống đồ sộ những nguyên tắc lý tính của xã hội
Nội ung vô thứ
Nội dung của Vô thức vô cùng phong phú, đa dạng từ những bản năng, những ước muốn, đến những ký ức mà việc nhớ lại sẽ gây một n i đau hoặc một tâm trạng không thoải mái cho chủ thể Theo Freud, trong các ký ức và trải nghiệm được lưu trữ trong cõi vô thức, những ký ức và trải nghiệm từ thời thơ ấu của m i cá nhân đóng vai trò quan trọng nhất trong việc hình thành nhân cách của họ Trong tác ph m, Freud đã dành riêng một m c để phân tích
về những trải nghiệm thời ấu thơ với tư cách nguồn gốc hình thành nên giấc
mơ, tại đây ông đã đưa ra rất nhiều ví d cho thấy sự ảnh hưởng của những kí
ức tu i thơ đối với việc lý giải nội dung giấc mơ Tiêu biểu nhất trong các ví
d được Freud lựa chọn phải kể đến một loạt các giấc mơ của ông thể hiện sự mâu thuẫn giữa một bên là khát khao được đến Rome để nghiên cứu về nghệ thuật, hội họa, và một bên là những lý do khiến cho ước mơ đến Rome nghiên cứu của ông không thể trở thành hiện thực Sau khi phân tích cặn kẽ các giấc mơ của mình, Freud đã tìm ra được nguyên nhân khiến ông không
thể đến Rome dù rất mong muốn, ông viết trong tác ph m gi i gi m :
Tới lúc này, tôi b ng tình cờ nhớ lại một kỉ niệm ấu thời Một kỉ niệm mà tới ngày nay vẫn còn ảnh hưởng mạnh mẽ tới những cảm xúc và giấc mơ của tôi Khi tôi còn nhỏ, tầm 10-12 tu i, cha tôi bắt đầu đưa tôi đi dạo cùng ông, và trong các cuộc trò chuyện thể hiện quan điểm cá nhân của ông về thế giới, có một lần ông kể với tôi câu chuyện sau, để tôi có thể hiểu chúng tôi được sinh
ra vào thời k tốt đẹp hơn thời của ông rất nhiều: ' Khi cha còn tr , vào một
bu i chiều thứ bảy, khi cha đang đi bộ dọc các con phố tại nơi con sinh ra,