1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tìm hiểu hành vi tham gia quá trình giảng dạy học tập của sinh viên khối trường đại học kinh tế tại hà nội

50 68 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 2,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảng 2: Phân tích chéo mức độ tham gia học trên lớp và số năm học của sinh viênBảng 3 : thống kê thời gian tham gia các tiết học của sinh viên Biểu đồ 1: Tỉ lệ giới tính của mẫu khảo sá

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA MARKETING - -

BÁO CÁO NHÓM 5

BỘ MÔN NGHIÊN CỨU MARKETING

ĐỀ TÀI: Tìm hiểu hành vi tham gia quá trình giảng dạy - học tập của sinh

viên khối trường đại học kinh tế tại Hà Nội

Lớp: Nghiên cứu Marketing (118)_2

GVHD: GS TS Nguyễn Viết Lâm

Trang 2

2 Đóng

góp ý kiến

3 Hoàn thành

công việcđược giaođúng thời hạn

4 Hoàn

thànhcông việcđược giao

có chấtlượng

T.Huyền

tích cựcTrịnh Ngọc

Trang 3

1.Lý do chọn đề tài ……… xx

2 Mục tiêu nghiên cứu………

2.1 Mục tiêu chung: ………

2.2 Các mục tiêu nghiên cứu cụ thể:………

3 Phương pháp thu thập thông tin……….

3.1 Phương pháp nghiên cứu………

3.2 Thiết kế bảng hỏi………

3.3 Thiết kế mẫu nghiên cứu………

3.3.1 Tổng thể mục tiêu……….

3.3.2 Khung lấy mẫu………

3.3.3 Phương pháp chọn mẫu………

3.3.4 Lựa chọn các thành viên cụ thể của mẫu………

3.4 Quá trình thực hiện………

Phần II:Trình bày kết quả nghiên cứu

1 Mô tả mẫu nghiên cứu

2 Hành vi tự học của sinh viên

2.1 Mức độ chuyên cần trong việc tham gia các buổi học trên lớp

2.2 Mức độ tham gia vào các giờ học trên lớp

2.3 Thái độ, đánh giá của sinh viên đối với các giờ học trên lớp

2.4 Tình trạng phân bổ các buổi học lý thuyết và thực hành của sinh viên trên lớp

3 Hành vi tự học của sinh viên

3.1 Hành vi học nhóm tại các nơi công cộng của sinh viên

3.2 Mức độ tham gia học nhóm của sinh viên

Phần III: Đề xuất giải pháp

Danh mục bảng biểu và biểu đồ

Bảng 1: Đặc điểm mẫu khảo sát

Trang 4

Bảng 2: Phân tích chéo mức độ tham gia học trên lớp và số năm học của sinh viên

Bảng 3 : thống kê thời gian tham gia các tiết học của sinh viên

Biểu đồ 1: Tỉ lệ giới tính của mẫu khảo sát

Biểu đồ 2: Tỷ lệ sinh viên các trường được khảo sát

Biểu đồ 3: Độ tuổi của sinh viên

Biểu đồ 4: Mức độ tham gia vào các buổi học trên lớp

Biểu đồ 5: Mức độ tham gia học trên lớp của các loại sinh viên

Biểu đồ 6: Lý do sinh viên đi học không đầy đủ

Biểu đồ 7: Thời gian tham gia các buổi học trên lớp

Biểu đồ 8 : Tỷ lệ đi học đúng giờ của sinh viên các năm

Biểu đồ 9: Thể hiện mức độ thường xuyên đến muộn của sinh viên với các

Trang 5

Biểu đồ 23: Thái độ của sinh viên trong các giờ học trên lớp

Biểu đồ 24: Mức độ đồng ý của sinh viên về các nhận định về một bài giảng hấp dẫn

Biểu đồ 25 : Thể hiện sự đánh giá của sinh viên về mức độ phân bổ các buổi học

Biểu đồ 16 :Thể hiện mức độ quan trọng của việc tự học ở nhà đối với sinh viên

Biểu đồ 27 :Thể hiện lợi ích của việc tự học ở nhà

Biểu đồ 28: Biểu đồ tần suất tự học của sinh viên

Biểu đồ 29: Biểu đồ thể hiện thời gian sinh viên dành cho việc tự học ở nhà Biểu đồ 30: Biểu đồ thể hiện khoảng thời gian sinh viên cho là phù hợp cho việc tự học

Biểu đồ 31: Biểu đồ việc sinh viên làm trong thời gian tự học

Biểu đồ 32: Biểu đồ thể hiện lý do sinh viên không tự học ở nhà

Biểu đồ 33: Mức độ tự học tại các địa điểm công cộng của sinh viên

Biểu đồ 34: Biểu đồ khoảng thời gian tự học của sinh viên

ở những nơi công cộng

Biểu đồ 35: Biểu đồ việc học tại nơi công cộng

Biểu đồ 36 : Mức độ học nhóm của sinh viên

Biểu đồ 37: Biểu đồ tần suất tham gia học nhóm

Biểu đồ 38: biểu đồ thời gian khi nào tự học của sinh viên

Biểu đồ 39 : Thể hiện lý do khi sinh viên học nhóm

Biểu đồ 40 : tác động của việc học nhóm

Biểu đồ 41 : Lợi ích của việc học nhóm

Biểu đồ 42: Thể hiện lợi ích nhận được của những sinh viên thường xuyên học nhóm

Biểu đồ 43: Yếu tố tham gia học nhóm

Trang 6

Chủ đề: Tìm hiểu hành vi tham gia quá trình giảng dạy - học tập

của sinh viên khối trường đại học kinh tế tại Hà Nội

I.Mở đầu

1.Lý do chọn đề tài

Trong môi trường đại học, mối quan hệ giảng viên và sinh viên được coi

là mối quan hệ tập trung nhất, xuyên suốt trong quá trình giảng dạy và học tập Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, khoa học công nghệ, đặc biệt

là sự bùng nổ công nghệ thông tin, đã tạo sự thay đổi lớn trong cuộc sống con người nói chung cũng như trong giáo dục nói riêng Người giảng viên trong trường đại học được đào tạo chuyên sâu một lĩnh vực; quan hệ giảng viên - sinh viên đã có nhiều thay đổi so với trước đây Giảng viên trở thành người thầy đóng vai trò trợ giúp và hướng dẫn sinh viên cách tiếp cận nguồn tri thức, trở thành người hướng dẫn về mặt phương pháp là chủ yếu Sinh viên tiếp cận bài

Trang 7

giảng thông qua các phương tiện hiện đại như máy chiếu, qua phần mềm giảng dạy, email v.v thay vì cách học đọc - chép truyền thống Sinh viên “dân chủ” hơn, chủ động, tự do hơn trong việc lĩnh hội kiến thức, tri thức, đồng thời phản hồi lại những tri thức mà mình học được cho thầy cô, nhờ đó có thể tăng cường khả năng phản biện, phát triển tư duy độc lập và nâng cao tính sáng tạo ở mỗi người

Những thay đổi trên đòi hỏi sinh viên cần phải chủ động và tích cực hơn trong học tập Vì thế mà việc tham gia vào quá trình học tập- giảng dạy của sinhviên góp phần rất lớn vào chất lượng và kết quả của quá trình học tập - giảng dạy ở các trường đại học Việc tham gia các hoạt động học tập và nghiên cứu trên lớp, việc chuẩn bị bài tự học rất quan trọng quyết định rất lớn đến chất

lượng học tập- giảng dạy

Môi trường xung quanh chúng ta biến đổi hàng ngày, hàng giờ, lượng kiến thức ngày càng được mở rộng vì thế mà việc tham gia vào quá trình học tập - giảng dạy của sinh viên càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, đặc biệt

là đối với sinh viên các trường trong khối kinh tế

Với mục đích nhằm cải thiện chất lượng giảng dạy - học tập của các

trường thuộc khối ngành kinh tế trên địa bàn thành phố Hà Nội, nhóm sinh viên đến từ khoa Marketing trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã tiến hành cuộc

nghiên cứu với đề tài: “Tìm hiểu hành vi tham gia quá trình giảng dạy - học tập của sinh viên khối trường đại học kinh tế tại Hà Nội” tìm hiểu về hành vi tham gia vào quá trình học tập - giảng dạy của sinh viên các trường khối ngành kinh

tế trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ đó làm căn cứ đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy - học tập tại các trường thuộc khối ngành kinh tế

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung:

Thông qua việc nghiên cứu, thu thập và phân tích thông tin về hành vi tham gia vào quá trình giảng dạy- học tập của sinh viên các khối trường kinh tế trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất một số giải pháp giúp nâng cao chất lượng giảng dạy- học tập

2.2 Các mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

Mục tiêu nghiên cứu Danh mục thông tin Mục đích

Tìm hiểu đặc điểm

của sinh viên khối

trường kinh tế

-Thông tin cơ bản về sinh viên như:

tuổi, giới tính, sinh viên năm mấy, ngành học, trường đang theo học,

Có thể dùng làm dữ liệu trong phân tích chéo

Trang 8

- Thực trạng lên lớp của sinh viên:

mức độ chuyên cần, tần suất bỏ tiết, lí

do, sinh viên có chú ý trong giờ học hay không, nếu làm việc riêng thì thường làm gì,

-Mức độ sinh viên tham gia phát biểu

ý kiến xây dựng bài

- Động lực nào có thể giúp sinh viên tham gia tích cực? (điểm số, đam mê học tập, sự yêu thích với môn học, )

- Thái độ của sinh viên trong các giờ học lý thuyết và các giờ học bài tập/tình huống/thuyết trình trao đổi (có nghiêm túc hay không, mức độ yêu thích đối với từng loại giờ học, sinh viên có hứng thú hơn với giờ họcnào hơn )

- Yếu tố nào khiến sinh viên cảm thấythiếu hứng thú khi học các giờ học học lý thuyết ( bài giảng không thu hút, môn học không đủ gợi hứng thú, giáo viên, )

- Số giờ học chữa bài tập/thảo luận/tình huống trung bình của 1 môntrên 1 kì học là bao nhiêu? Sinh viên cảm thấy như thế nào về số lượng ấy?

(phù hợp hay chưa/ nhiều hay ít)

Hiểu được mức

độ và hành vi tham gia vào quá trình học tập của sinh viên trong các giờ học trên lớp Từ đó thayđổi phương pháp phù hợp,

sử dụng các yếu tố tác động đến hành vi SV

để nâng cao mức độ tham gia

- Sinh viên thường làm gì khi tự học

ở nhà: nghiên cứu bài mới, học lại bài

cũ, làm bài tập, nghiên cứu thêm, làmbài tập nhóm,

Biết được đặc điểm hành vi của sinh viên trong quá trình

-Sinh viên thường ưu tiên tự học tại đâu nhiều nhất ( thư viện, quán ăn

Trang 9

nhanh kfc, lotte, nhà sách, quán cà phê…)

-Thường dành khoảng thời gian nào

để đi hoc?

-Ưu tiên học mình hay cùng bạn bè?

-Động lực thúc đẩy sinh viên tự học tại những nơi công cộng?

Hành vi học nhóm

- Mức độ sinh viên tham gia học nhóm

- Tác động của việc học nhóm đối vớiviệc học tập của sinh viên

- Sinh viên thường học nhóm khi nào? (chỉ khi có bài tập nhóm hay luôn học nhóm)

- Lợi ích nhận được từ việc học nhóm? ( chia sẻ nhận thêm nhiều kiếnthức )

- Sinh viên cảm thấy hình thức học này có phù hợp với mình hay không?

- Hiệu quả đạt được so với học một mình ?

3 Phương pháp thu thập thông tin:

●Thu thập dữ liệu sơ cấp:

3.1 Phương pháp nghiên cứu

Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn bằng bảng câu hỏi để thu thập các dữ liệu, thông tin cần thiết về hành vi tham gia quá trình giảng dạy - học tập của sinh viên khối trường kinh tế trên địa bàn thành phố Hà Nội Sau khi thiết kế bảng hỏi, quá trình điều tra thu thập số liệu sơ cấp sẽ tiến hành điều tra phỏng vấn trực tiếp cá nhân và phỏng vấn online(qua các mạng xã hội như facebook, zalo, Instagram )

Nhóm lựa chọn phương pháp điều tra phỏng vấn bởi các lý do sau:

+ Phương pháp điều tra phỏng vấn với bảng hỏi ngắn gọn và đi thẳng vào vấn

đề, có thể phân tích được nhóm đối tượng mẫu đại diện cho tổng thể mục tiêu

Trang 10

Phần 2: Phần câu hỏi về thông tin cá nhân cơ bản

Bao gồm 6 câu hỏi về các thông tin cơ bản về người được phỏng vấn: họ tên, giới tính, trường, tuổi, sinh viên năm mấy, chuyên ngành đang học

Phần 3: Phần câu hỏi về hành vi học tập ở trên lớp của sinh viên

Nhóm câu hỏi phục vụ mục đích nghiên cứu hành vi tham gia quá trình học tập của sinh viên trên lớp (gồm 11 câu hỏi)

Phần 4: Phần câu hỏi về hành vi tự học của sinh viên

Gồm 16 câu hỏi tìm hiểu về hành vi tự học ở nhà, học nhóm và học ở những nơi công cộng của sinh viên

❖ Các thang điểm chính được sử dụng trong bảng hỏi

Trong bảng hỏi, nhóm đã sử dụng 2 thang điểm chính là thang đo khoản mục vàthang điểm Likert

3.3 Thiết kế mẫu nghiên cứu

3.3.1 Tổng thể mục tiêu

Tổng thể mục tiêu của nghiên cứu là sinh viên khối các trường kinh tế thuộc địabàn Hà Nội

3.3.2 Khung lấy mẫu

Được nhóm xác định là danh sách sinh viên đang học tại 3 trường đại học: Trường ĐH Ngoại Thương, Trường ĐH Thương Mại, Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân

Trong khi thiết kế mẫu, các danh sách mà nhóm có thể tham khảo để thiết

khung lấy mẫu là các danh sách sinh viên của các trường ĐH thuộc khối các trường kinh tế trên địa bàn Hà Nội Tuy nhiên đây là 3 trường đào tạo kinh tế điển hình Khung được nhóm đề xuất cũng tồn tại những thiếu sót như có thể cócác sinh viên đã tốt nghiệp, nghỉ học hoặc bảo lưu nhưng chưa được các trường cập nhật thông tin và sinh viên của một số trường thuộc khối các trường kinh tế khác chưa được đề cập

Tuy nhiên, do giới hạn về mặt nguồn lực tài chính và thời gian nhóm chưa thể tiếp cận và có thông tin đầy đủ về khung mẫu đã xác định trên

3.3.3 Phương pháp chọn mẫu

Do hạn chế về nguồn lực nên nhóm không thể thiết kế được khung lấy mẫuhoàn chỉnh Vì vậy, nhóm lựa chọn kỹ thuật chọn mẫu phi xác suất Kỹ thuậtchọn mẫu này không yêu cầu cần có một khung lấy mẫu cụ thể, đồng thời chiphí khảo sát cũng không quá cao phù hợp với nguồn lực của nhóm Tuy nhiên,với kỹ thuật này mẫu không đảm bảo được tính đại diện và có thể chịu định kiếncủa người nghiên cứu khi phân nhóm

Trong kỹ thuật chọn mẫu phi xác suất này, nhóm sử dụng phương pháp làchọn mẫu tiện lợi Đối với phương pháp chọn mẫu tiện lợi, phỏng vấn viên sẽ

Trang 11

tiến hành phỏng vấn sinh viên ở 3 trường ĐH: ĐH Ngoại Thương, ĐH ThươngMại, Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Và để hạn chế thấp nhất những hạn chế củaphương pháp này, trong quá trình phỏng vấn, nhóm đã chú ý tới thời gian tiếnhành phỏng vấn (chia các ngày trong tuần, các buổi trong ngày một cách đồngđều

Kích thước của mẫu áp dụng trong nghiên cứu được dựa theo yêu cầucủa phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis) Dựa theonghiên cứu của Hair, Anderson, Tatham và Black (1998) cho tham khảo về kíchthước mẫu dự kiến Theo đó kích thước mẫu tối thiểu là gấp 5 lần tổng số biếnquan sát

3.3.4 Lựa chọn các thành viên cụ thể của mẫuBởi nhóm sử dụng phương pháp lấy mẫu tiện lợi nên danh sách các thành viên

cụ thể được nhóm xác định là nhóm sinh viên được phỏng vấn trả lời bảng hỏi.Theo kích thước mẫu dự kiến, số lượng phần tử ở mỗi trường là:

ĐH Ngoại Thương : 44 người

3.4 Quá trình thực hiện

❖ Phỏng vấn viên

❖ Triển khai thực hiện

II.Trình bày kết quả nghiên cứu

1 Mô tả mẫu nghiên cứu

Bảng 1: Đặc điểm mẫu khảo sát

Trang 13

Cuộc điều tra đã phỏng vấn 151 người trong đó có 111 sinh viên nữ, chiếm 74%còn lại 40 sinh viên nam, chiếm 26%

Biểu đồ 1: Tỉ lệ giới tính của mẫu khảo sát

Số sinh viên trường ĐH Kinh tế quốc dân được phỏng vấn nhiều nhất, chiếm 47% tương đương 67 sinh viên, tiếp đó là trường ĐH Ngoại thương chiếm 29%, và cuối cùng là trường ĐH Thương mại, chiếm 24%

Biểu đồ 2: Tỷ lệ sinh viên các trường được khảo sát

Theo số liệu thống kê được thì sinh viên tham gia vào quá trình phỏng vấn chủ yếu là sinh viên năm 3 và ở tuổi 20, là những sinh viên đã có khoảng thời gian quen và ổn định trong việc tham gia quá trình học tập - giảng dạy tại môi trường đại học nên có nhận thức và cái nhìn rõ ràng hơn trong kết quả nghiên cứu phục vụ cho quá trình nghiên cứu của nhóm

Trang 14

Biểu đồ 3: Độ tuổi của sinh viên

2 Hành vi tự học của sinh viên

2.1 Mức độ chuyên cần trong việc tham gia các buổi học trên lớp

❖ Chuyên cần

Biể

u đồ 4: Mức độ tham gia vào các buổi học trên lớp

Kết quả nghiên cứu cho thấy có 44/151 bạn luôn đi học đầy đủ - chiếm

29,1%; 68/151 bạn thỉnh thoảng nghỉ vì lý do bất khả kháng như bị bệnh, nhà cóviệc, … , nhưng có đến 39/151 bạn (chiếm 25,9%) đôi khi nghỉ học với lý do cốtình nghỉ, không muốn đi học, khi có hứng mới đi

Tỷ lệ sinh viên nghỉ học với lý do không chính đáng tồn tại khá nhiều (chiếm đến gần 30%) cũng phản ánh phần nào việc học trên lớp không thu hút sinh viên Có thể là do nội dung chương trình học nhàm chán hoặc phương pháp giảng dạy của giảng viên không hấp dẫn, … hoặc cũng có thể là do các bạn bị

Trang 15

ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường, xã hội bên ngoài Nhà trường cần có biện pháp khắc phục để đạt hiệu quả trong công tác thu hút sinh viên lên giảng

đường đầy đủ để tiếp thu kiến thức một cách đầy đủ

Bảng 2: Phân tích chéo mức độ tham gia học trên lớp và số năm học của

Đôi khi nghỉ học vì không muốn đi học

Nghỉ tối đa trong phạm

vi cho phép

Chỉ đi học khi nào có hứng

Bảng phân tích trên cho ta thấy:

Với sinh viên năm nhất, tỉ lệ số sinh viên đi học đầy đủ chiếm tỉ lệ lớn nhất Tuynhiên tỷ lệ này giảm dần đối với sinh viên năm hai, ba và bốn

Biểu đồ 5: Mức độ tham gia học trên lớp của các loại sinh viên

Trang 16

Như đã phân tích ở trên tỷ lệ nghỉ học vì lý do không chính đánh của sinh viêncòn tồn tại khá nhiều, tuy nhiên thì hầu hết các bạn sinh viên đều có ý thức đi học đầy đủ hoặc nếu nghỉ học thì đôi khi nghỉ học với lý do bất khả kháng Điềunày thì vẫn có thể chấp nhận được Tuy nhiên thì mức độ đi học đầy đủ và nghỉ học lại khác nhau ở từng hệ sinh viên.

Có thể thấy ngay , sinh viên năm ba có tỷ lệ nghỉ học vì lý do không chính đáng cao nhất Cụ thể là, so với tổng số lượng sinh viên năm 3 tham gia vào nghiên cứu, có 22% luôn đi học đầy đủ, 49% nghỉ học vì lý do bất khả kháng,

và 29% nghỉ học vì lý do không chính đáng như cố tình nghỉ học hoặc là chỉ đi học khi có hứng

Trong khi đó, sinh viên năm nhất và năm hai có tỷ lệ nghỉ học vì lý do không chính đáng ít hơn Chiếm 19-20% so với tổng số sinh viên tham gia nghiên cứu của mỗi hệ

Sinh viên năm bốn, chỉ có khoảng 19% nghỉ học không chính đáng so với tổng số sinh viên năm bốn tham gia phỏng vấn, trong đó chỉ có 6% là nghỉ học

vì lý do không muốn đi học, còn 13% là nghỉ học trong phạm vi cho phép Điều này có thể thấy sinh viên năm nhất và năm hai tại các trường trong khối ngành kinh tế có mức độ chuyên cần cao nhất Và mức độ chuyên cần này giảm dần đối với các sinh viên năm ba Với sinh viên năm bốn và năm năm thì vì số lượng khảo sát khá ít nên cũng khó có thể khách quan cho rằng họ chăm chỉ lên lớp hơn sinh viên năm nhất,năm hai và năm 3 Tuy nhiên, cũng có thể hiểu rằng,sinh viên năm bốn và năm năm trưởng thành hơn, và nhận thức rõ hơn việc tham gia đủ các buổi học, chỉ nghỉ học trong phạm vi cho phép để không bị ảnh hướng đển điểm số cũng như kết quả học tập

❖ Yếu tố ảnh hưởng đến mức độ chuyên cần

Biểu đồ 6: Lý do sinh viên đi học không đầy đủ

Trang 17

Từ biểu đồ, có thể thấy rằng lý do chủ yếu khiến sinh viên không tham gia đầy

đủ các buổi học trên lớp là do bất khả kháng (ốm đau, việc gia đình, ) với 64/151 lựa chọn chiếm khoảng 31% tổng lựa chọn

Những lý do ảnh hưởng đến mức độ chuyên cần như phương pháp giảng dạy của giảng viên, hình thức điểm danh, mức độ hấp dẫn của nội dung bài học có

số lượt chọn khá nhiều, chiếm khoảng 44% tổng lựa chọn

Hoặc là lý do chủ quan như việc sinh viên ngủ dậy muộn chiếm 15% tổng số lựa chọn

Bên cạnh đó, các lý do khác như không có người quen học cùng lớp và đi làm thêm,… chiếm khoảng 10%

Từ đây, sẽ có hai nhóm lý do chính ta cần có biện pháp khắc phục đó chính là nhóm lý do đến từ giảng viên như phong cách, phương pháp giảng dạy, nội dung bài học và hình thức điểm danh,… cần có biện pháp thay đổi để làm thay đổi hành vi nghỉ học với lý do không chính đáng Ngoài ra, còn có lý do đến từ chính bản thân sinh viên, nhà trường cũng cần có biện pháp khuyến khích sinh viên đi học đầy đủ

Biểu đồ 7: Thời gian tham gia các buổi học trên lớp

Biểu đồ … cho thấy hầu hết các bạn sinh viên khối trường kinh tế đều đến lớpsớm hơn 5-10 phút hoặc là đúng giờ Điều đó thể hiện qua việc có 31% các bạn sinh viên hay đến trước tiết học tầm 5-10 phút và có 36% các bạn thường đến đúng giờ Tuy nhiên, vẫn còn một tỷ lệ khá (chiếm 33%) cao sinh viên thường đến muộn 5-10 phút, thậm chí là trên 10 phút Thời gian tham gia các buổi học trên lớp cũng có sự khác nhau giữa các hệ sinh viên

Bảng thống kê thời gian tham gia các tiết học của sinh viên

Trang 18

Trước tiết học 5p Đúng giờ Đến muộn 5-10p Đến muộn sau

Bảng 3 : thống kê thời gian tham gia các tiết học của sinh viên

Biểu đồ 8 : Tỷ lệ đi học đúng giờ của sinh viên các năm

Nhóm sẽ không bàn đến việc sinh viên năm ba có mức độ đi học đúng giờ caonhất hay mức độ đi muộn cao nhất, vì trong nghiên cứu, tỷ lệ tham gia của các bạn sinh viên năm ba là cao nhất nên việc so sánh tỷ lệ giữa các hệ sinh viên ở đây không mang tính khách quan Nhóm sẽ xem xét mức độ ở từng hệ sinh viên

Các bạn sinh viên ở mỗi hệ năm nhất, hai, ba, bốn và năm hầu như đều có xu hướng đi học đúng giờ hoặc sớm hơn tầm 5 phút Tuy nhiên,tỷ lệ sẽ khác nhau

ở từng hệ

Đối với sinh viên năm nhất, tỷ lệ sinh viên đi học đúng giờ chiếm 38% so với tổng số sinh viên năm nhất tham gia phỏng vấn và tỷ lệ sinh viên đi sớm hơn khoảng 5-10 phút chiếm 43%, và tỷ lệ đến muộn chiếm 19%

Đối với sinh viên năm hai, tỷ lệ sinh viên đi học đúng giờ chiếm 43% so với tổng số sinh viên năm nhất tham gia phỏng vấn và tỷ lệ sinh viên đi sớm hơn khoảng 5-10 phút chiếm 37%, và tỷ lệ đến muộn chiếm 20%

Đối với sinh viên năm ba, tỷ lệ sinh viên đi học đúng giờ chiếm 49% so với

Trang 19

tổng số sinh viên năm nhất tham gia phỏng vấn và tỷ lệ sinh viên đi sớm hơn khoảng 5-10 phút chiếm 23%, và tỷ lệ đến muộn chiếm 28%.

Đối với sinh viên năm bốn và năm năm, tỷ lệ sinh viên đi học đúng giờ chiếm 44% so với tổng số sinh viên năm nhất tham gia phỏng vấn và tỷ lệ sinh viên đi sớm hơn khoảng 5-10 phút chiếm 28%, và tỷ lệ đến muộn chiếm 28%

Có thể thấy, hầu hết các bạn sinh viên khối trường kinh tế đều đến lớp sớm hơn 5-10 phút hoặc là đúng giờ tuy nhiên thì tỷ lệ đi học muộn còn khá cao Tỷ

lệ đi học muộn cao dần từ các hệ sinh viên năm nhất đến năm bốn và năm năm Điều này cho thấy, các bạn sinh viên khóa trên có thái độ, ý thức đến lớp đúng giờ chưa cao Vậy nguyên nhân của việc đi học muộn đó là gì?

Lý do đi học muộn của sinh viên được nhóm khảo sát với chủ yếu là bốn lý do

chính như: lý do khách quan (hỏng xe, tắc đường, lỡ xe bus, ), lý do chủ quan(cố tình đến muộn, ngủ dậy muộn, … ) hoặc do giảng viên thường đến muộn hay giảng viên thường điểm danh cuối giờ

Biểu đồ 9: Thể hiện mức độ thường xuyên đến muộn của sinh viên với các

lý do

Hầu hết các bạn sinh viên đều mắc phải bốn lý do trên với mức độ thỉnhthoảng/ hiếm khi

Với lý do thứ nhất là lý do khách quan thì có 14% câu trả lời là thường xuyên

và rất thường xuyên vì lý do này, còn lại 86% thì thỉnh thoảng mới mắc phải, thậm chí là không bao giờ

Với lý do thứ 2 là lý do chủ quan thì có tận 24% câu trả lời là thường xuyên

và rất thường xuyên vì lý do này nên đến muộn, và 76% câu trả lời là thỉnh thoảng và không bao giờ

Với lý do thứ 3 và thứ tư là do giảng viên đến muộn hoặc do giảng viên hay điểm danh cuối giờ thì có 21% câu trả lời là thường xuyên và rất thường xuyên

vì lý do này nên đến muộn, 79% câu trả lời là thỉnh thoảng và không bao giờ

Trang 20

Vậy có thể thấy mức độ các bạn sinh viên hay đến muộn vì lý do chủ quan là cao nhất Điều này phản ánh các bạn sinh viên còn thụ động trong việc quản lý thời gian và ý thức chưa cao Bên cạnh đó lý do từ phía giảng viên cũng chiếm

tỷ trọng lớn thứ hai, không chênh lệch nhiều so với lý chủ quan, điều này cho thấy chế độ quản lý thời gian ở các trường đại học kinh tế chưa nghiêm khắc, còn lỏng lẻo Và tỷ trọng của nhóm yếu tố chủ quan là thấp nhất, tuy nhiên vẫn khá cao

Mặc dù vậy, mức độ thường xuyên đi học muộn của sinh viên lại có những lý

do khác nhau đối với mỗi hệ sinh viên

Biểu đồ 10 : Thể hiện mức độ thường xuyên muộn học của sinh viên bởi các

lý do

Đối với sinh viên năm nhất, các bạn đi học muộn chủ yếu vì lý do khách quan

và chủ quan Bên cạnh đó, vẫn có lý do liên quan đến việc giảng viên đến muộn hoặc điểm danh cuối giờ Tuy nhiên thì mức độ thường xuyên đi học muộn vì các các lý do này không cao,và chênh lệch cũng không nhiều

Tỷ lệ thường xuyên đi học muộn chủ yếu rơi vào nhóm sinh viên năm hai và năm ba Nhìn biểu đồ có thể thấy ngay được các bạn sinh viên năm hai đến muộn chủ yếu là do giảng viên điểm danh cuối giờ Còn các bạn sinh viên năm

ba lại vì cả hai lý do vì giảng viên điểm danh cuối giờ và vì lý do chủ quan là chính Bên cạnh đó, lý do giảng viên đến muộn nên sinh viên cũng đến muộn cũng khá cao

2.2 Mức độ tham gia vào các giờ học trên lớp

Trang 21

Biểu đồ 11: Tình trạng tham gia phát biểu ý kiến xây dựng bài trên lớp của

sinh viên

Kết quả khảo sát cho thấy đa số sinh viên tham gia phát biểu ý kiến nhưng không thường xuyên (chiếm 61,6% trên tổng số sinh viên được khảo sát) Tỉ lệ sinh viên luôn tích cực tham gia phát biểu ý kiến xây dựng bài rất thấp, chỉ chiếm 9,3% trên tổng số Tỷ lệ sinh viên không bao giờ phát biểu ý kiến chiếm khá cao là 29,1%

Liệu tình trạng tham gia phát biểu ý kiến ở mỗi sinh viên có khác nhau với từng hệ?

Biểu đồ 12: Tình trạng tham gia phát biểu ý kiến xây dựng bài trên lớp của

sinh viên các năm

Nhìn chung, thì tỷ lệ sinh viên không thường xuyên tham gia phát biểu, xây

dựng ý kiến trên lớp của các hệ tương đối giống nhau

Các bạn sinh viên năm hai và năm ba có tỷ lệ không bao giờ tham gia phát biểu cao nhất, lần lượt là 37% và 30% so với tổng số sinh viên tham gia phỏng vấn của mỗi hệ Trong khi nhóm sinh viên nhất có tỷ lệ tham gia phát biểu thấp hơn hẳn là 14% so với tổng số sinh viên tham gia phỏng vấn của nhóm sinh

Trang 22

viên năm nhất

Tỷ lệ tích cực phát biểu của năm hai và năm ba rất thấp, chỉ chiếm 14% và 1%

so với sinh viên từng hệ

Vậy, tại sao lại thấp đến như vậy? Trước khi giải quyết thắc mắc này, nhóm sẽ

đi phân tích những động lực giúp các bạn sinh viên tích cực phát biểu trước

Biểu đồ 13: Các động lực sinh viên tích cực tham gia phát biểu ý kiến xây

dựng bài trên lớp

Động lực “Vì điểm số” là động lực được chọn nhiều nhất trong cuộc khảo sát

Có đến 104/151 sinh viên được khảo sát(chiếm 68,9%) chọn động lực này là động lực giúp họ tham gia phát biểu ý kiến xây dựng bài trên lớp

Sau đó là động lực “ Phương pháp giảng dạy của giảng viên thu hút, sinh động, vừa sức, gây hứng thú” được lựa chọn nhiều thứ hai với tần suất 85/151, chiếm 56,3%

Bên cạnh đó những động lực như yêu thích môn học hay muốn thể hiện bản thân cũng là động lực mà không ít sinh viên lựa chọn

Điều này phản ánh thực trạng sinh viên hiện nay đi học vì điểm số khá cao Phải có một tác động tích cực từ phía giảng viên như điểm số hay phương pháp giảng dạy lôi cuốn thì mới thu hút được sinh viên còn nếu không có tác động gì thì các bạn vẫn còn khá thụ động với việc tương tác trên lớp

Có bốn động lực chính thu hút sự tương tác từ phía sinh viên như: “phương pháp giảng dạy của sinh viên”, “vì đam mê, yêu thích môn học”, “vì muốn thể hiện bản thân” và “vì điểm số”

Trang 23

Biểu đồ 14 : thể hiện sự ảnh hưởng của các yếu tố đến việc tích cực tham

gia xây dựng bài của sinh viên

Sau khi phân tích chéo giữa mức độ và động lực giúp sinh viên tích cực tham gia xây dựng bài của sinh viên thì ta thấy được rằng phần lớn sinh viên tham giaxây dựng bài nhưng không thường xuyên vì lý do điểm số và phương pháp giảng dạy của giảng viên, lần lượt chiếm 37% và 40%

Đối với nhóm sinh viên luôn tích cực phát biểu mỗi khi có cơ hội thì có đến 50% số sinh viên tham gia vì phương pháp giảng dạy, còn lại là lí do về điểm số

và muốn thể hiện bản thân

Phương pháp giảng dạy và điểm số là hai yếu tố chính tác động đến quá trình tham gia xây dựng bài trên lớp đối với sinh viên Từ đây nhà trường, giảng viên

có thể xem xét để áp dụng hai động lực này để thu hút sinh viên tham gia tương tác trên lớp để đạt được hiệu quả cao nhất

Tiếp theo nhóm tiếp tục đi phân tích lý do sinh viên không tích cực tham gia phát biểu ý kiến xây dựng bài trên lớp

Trang 24

Biểu đồ 15 : thể hiện lý do sinh viên không tích cực trong việc phát biểu ý

kiến xây dựng bài trên lớp

Trong đó 1-9 là các lý do:

1 Do một số câu hỏi quá dễ, gây nhàm chán

2 Do áp lực khối lượng kiến thức các môn học quá nhiều

3 Giảng viên chưa có phương pháp, nghệ thuật giảng dạy và nhiệt tình chưacao

4 Ngại trả lời, sợ trả lời sai

5 Các thành viên khác trong lớp ít tham gia phát biểu

6 Do ấn tượng không tốt với giảng viên dạy bộ môn đó

7 Do sinh viên chưa hiểu hết tác dụng của việc phát biểu xây dựng bài

8 Do không chuẩn bị bài trước khi đến lớp

9 Không chú ý đến câu hỏi

Những lí do 3,4,5,8,9 là những lí do chính khiến cho sinh viên không hăng háitham gia phát biểu ý kiến và xây dựng bài Các lý do này đều chiếm trên 70% sốsinh viên khảo sát lựa chọn

Các lý do khiến cho sinh viên không tham gia phát biểu trong quá trình học trên lớp lại khác nhau ở từng hệ sinh viên

Trang 25

Bảng: Thống kê lý do mà sinh viên không tham gia phát biểu trong quá

trình học tập trên lớp đối với từng nhóm sinh viên

Biểu đồ 17: Thể hiện lý do sinh viên không tham gia phát biểu xây dựng bài

đối với sinh viên theo số năm học

Ngày đăng: 26/12/2018, 21:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w