1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Truyền thông về chương trình mỗi xã, phường một sản phẩm trên báo chí quảng ninh (luận văn ths báo chí và truyền thông)

130 161 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 2,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là tỉnh đầu tiên triển khai chương trình, công tác tuyên truyền về chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” trên các phương tiện thông tin đại chúng và báo chí đóng vai trò quan trọng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LƯU THỊ THUỲ LINH

TRUYỀN THÔNG VỀ CHƯƠNG TRÌNH

“MỖI XÃ, PHƯỜNG MỘT SẢN PHẨM”

TRÊN BÁO CHÍ QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH BÁO CHÍ

Hà Nội - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LƯU THỊ THUỲ LINH

TRUYỀN THÔNG VỀ CHƯƠNG TRÌNH “MỖI XÃ, PHƯỜNG MỘT

SẢN PHẨM” TRÊN BÁO CHÍ QUẢNG NINH

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học

Mã số: 60320101

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang

Hà Nội-2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình do tôi nghiên cứu Thông tin, các trích dẫn và số liệu trong luận văn rõ ràng và trung thực Các kết luận trong luận văn chưa từng được công bố trong các công trình khác

Tác giả luận văn

Lưu Thị Thùy Linh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn thành, trước hết, bằng sự nỗ lực và nghiêm túc trong nghiên cứu của tác giả, nhưng không thể không kể đến sự giúp đỡ, hướng dẫn nhiệt tình, trách nhiệm của rất nhiều người Những sự giúp đỡ và hướng dẫn đó giúp tác giả hoàn thành được luận văn đúng tiến độ và đóng góp vào hoạt động nghiên cứu về truyền thông cho chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và trân trọng tới:

Các thầy, cô giáo Khoa Báo chí và Truyền thông (Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội) đã hướng dẫn, chỉ bảo và cung cấp kiến thức để bản thân nâng cao trình độ nghiệp vụ về báo chí, nhất

là phát thanh, truyền hình trong suốt thời gian qua

Đặc biệt, xin được chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang – người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này!

Lãnh đạo cơ quan Đài Phát thanh Truyền hình Quảng Ninh, Báo Quảng Ninh, Ban điều hành OCOP Quảng Ninh cùng các đồng nghiệp, bạn

bè và người thân đã tạo điều kiện giúp đỡ, góp ý, động viên tôi trong suốt khóa học và thời gian nghiên cứu luận văn

Trong khuôn khổ một luận văn, do sự giới hạn về thời gian và kinh nghiệm nên không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô và các bạn!

Trang 5

Lưu Thị Thùy Linh DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

HĐND: Hội đồng nhân dân

Trang 6

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA BÁO CHÍ TRONG TRUYỀN THÔNG VỀ CHƯƠNG TRÌNH “ MỖI XÃ , PHƯỜNG MỘT SẢN PHẨM” 11 1.1 Khái niệm 11

1.2 Vai trò của báo chí trong tuyên truyền các chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước nói chung, trong truyền thông về chương trình “Mỗi xã,

phường một sản phẩm” 16

1.3 Các yếu tố tác động đến chất lượng truyền thông của báo chí đối với xây dựng nông thôn mới nói chung, chương trình “Mỗi xã phường một sản phẩm”

nói riêng 20 1.4 Thực tiễn chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” ở Quảng Ninh 23 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 30

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BÁO CHÍ QUẢNG NINH TRUYỀN THÔNG

VỀ CHƯƠNG TRÌNH “MỖI XÃ, PHƯỜNG MỘT SẢN PHẨM” 31 2.1 Giới thiệu các cơ quan báo chí Quảng Ninh trong diện khảo sát 32

2.2 Khảo sát báo chí Quảng Ninh truyền thông về chương trình “Mỗi xã,

phường một sản phẩm” 35

2.3 Đánh giá chung về thành công và hạn chế của báo chí Quảng Ninh trong

truyền thông về chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” 63 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 72 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TRUYỀN THÔNG VỀ MỘT SỰ KIỆN KINH TẾ TRÊN BÁO CHÍ ĐI ̣A PHƯƠNG TRONG THỜI GIAN TỚI 73

3.1 Nhiệm vụ truyền thông chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm”

trong giai đoạn tới 74

Trang 7

3.2 Những giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng chương trình “Mỗi xã,

phường một sản phẩm” trên báo chí Quảng Ninh 75

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 89

KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 8

xã hội Tuy nhiên chính sự đa dạng và phong phú của điều kiện tự nhiên và xã hội đã tạo ra sự đa dạng về sản vật và các sản phẩm truyền thống của địa phương Đó là những sản vật từ biển, từ rừng, các sản phẩm ẩm thực, nhiều danh lam thắng cảnh, lễ hội truyền thống Vấn đề tồn tại chính với các sản phẩm truyển thống ở Quảng Ninh là nhiều sản phẩm chưa thương mại hóa được và nếu đã thương mại hóa thì cũng khó tiêu thụ

Để khắc phục những yếu kém đó, ngày 22/10/2013, UBND tỉnh Quảng Ninh phê quyệt đề án số 2870/QĐ-UBND “Tỉnh Quảng Ninh- mỗi xã, phường một sản phẩm” giai đoạn 2013-2016 [66]

“Mỗi xã phường một sản phẩm”- OCOP là một chương trình mở, chưa

có tiền lệ về phương pháp luận, về cơ chế chính sách chưa có mô hình hiệu quả để học tập trong nước Là tỉnh đầu tiên triển khai chương trình, công tác tuyên truyền về chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” trên các phương tiện thông tin đại chúng và báo chí đóng vai trò quan trọng hàng đầu quyết định thành công của chương trình

Truyền thông cho Chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” được báo chí Quảng Ninh xác định là một chương trình dài hơi, rất cần đánh giá, nhìn nhận, rút kinh nghiệm qua từng giai đoạn, đă ̣c biê ̣t là khi tỉnh Quảng Ninh vừa kết thúc giai đoa ̣n 1 của chương trình “Mỗi xã, phường mô ̣t sản phẩm”, triển khai giai đoa ̣n 2 của chương trình với thời gian thực hiện từ năm

2017 đến năm 2020 và khi bộ Nông nghiệ p và Phát triển Nông thôn đã quyết đi ̣nh triển khai chương trình “Mỗi xã , phường mô ̣t sản phẩm ” trên

Trang 9

phạm vi toàn quốc Việc nghiên cứu, khảo sát, đánh giá về những việc đã làm được và chưa được của báo chí Quảng Ninh trong vấn đề truyền thông về chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” rất cần thiết hơn bao giờ hết, nhằm đưa ra những giải pháp đề xuất nhằm nâng cao chất lượng các tác phẩm báo chí về truyền thông cho chương trình “Mỗi xã phường một sản phẩm”

Đây chính là lí do học viên lựa chọn đề tài: Truyền thông về chương trình

"Mỗi xã, phường một sản phẩm” trên báo chí Quảng Ninh (Khảo sát trên Đài Phát thanh Truyền hình Quảng Ninh, Báo Quảng Ninh, Báo Điện tử Quảng Ninh từ tháng 1/2017 đến tháng 6 trong năm 2017)

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong những năm qua, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được công bố về vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân Trong số các nghiên cứu xuất bản sách, có một số tác phẩm đáng chú ý như sau:

Sách “Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn” của tác giả PGS.TS Chu Hữu Quý , PGS.TS Nguyễn K ế Tuấn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2001 Trong công trình khoa học này các nhà nghiên cứu làm rõ một số vấn đề như: vấn đề lí luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn theo những yêu c ầu rút ngắn; nghiên cứu thực trạng thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; các tác giả cũng đưa ra con đường, bước đi và các giải pháp chiến lược đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn trong giai đoạn tiếp theo.[47]

Sách “ Nông nghiệp, nông dân, nông thôn” trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta” của GS.TS Hoàng Ngọc Hòa, Nxb Chính trị Quốc gia 2008 Trong cuốn sách, tác giả xem xét, đánh giá thực trạng và trình bày những suy ngẫm của mình về phương hướng phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta trong thời kỳ mới Thông qua việc

Trang 10

nhìn nhận những thành tựu nổi bật cũng như những điều còn hạn chế sau hơn

20 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cuốn sách nêu lên một số giải pháp thiết thực nhằm góp phần vào sự nghiệp to lớn này.[30]

Sách “Nông nghiệp nông thôn Việt Nam sau 20 năm đổi mới: Quá khứ

và hiện tại”- Nguyễn Văn Bích, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2007 Với cách nhìn khái quát, cuốn sách được coi như một bản tổng kết về lĩnh vực nông nghiệp nước ta Được chuẩn bị công phu, nghiêm túc, phản ánh khá đầy

đủ, toàn diện, có thống kê số liệu qua các thời kỳ lịch sử xây dựng, phát triển kinh tế nông nghiệp nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, cuốn sách đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn trong nông nghiệp, nông thôn, về quan hệ sản xuất, cơ chế quản lý Đặc biệt, cuốn sách đã nêu lên được bối cảnh về sự phát triển của nền kinh tế nước ta nói chung, nền nông nghiệp, nông thôn nói riêng.[6]

Công trình nghiên cứu: “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới” của PGS,TS Nguyễn Sinh Cúc, Nxb Thống kê, năm 2003 Đây là công trình nghiên cứu dài hơi rất công phu của tác giả bởi ngoài những phân tích có tính thuyết phục về quá trình đổi mới nông nghiệp Việt Nam sau gần 20 năm, công trình còn cung cấp hệ thống tư liệu về phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta như là một Niên giám thống kê nông nghiệp thu nhỏ Công trình đã luận giải rõ quá trình đổi mới, hoàn thiện chính sách nông nghiệp, nông thôn nước ta trong những năm đổi mới, những thành tựu và những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam Những gợi mở

về những vấn đề cần giải quyết của phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta như vấn đề đầu tư, vấn đề phân hoá giàu nghèo, vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh, xuất khẩu nông sản đã được tác giả lý giải với nhiều luận cứ có tính thuyết phục [13]

Trang 11

Các công trình nghiên cứu nói trên đã tập trung bàn luận về khái niệm,

về quan điểm, về phương pháp xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam trong bối cảnh phát triển công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước

Trong lĩnh vực truyền thông đại chúng, việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn và đặc biệt là xây dựng nông thôn mới đã được thể hiện trong nhiều luận văn, luận án như:

“Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trên báo in Việt Nam”- Luận văn thạc sỹ ngành báo chí của tác giả Vũ Thái Hà, năm 2010, của trường Đại học Khoa học Xã Hội và Nhân Văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội Luận văn xác định những nội dung mà cơ quan báo chí cần nhận thức về

"Nông nghiệp, nông dân, nông thôn" để tiến hành tuyên truyền trên báo in Luận văn cũng chỉ ra những cái được và chủa được trong công tác tuyên truyền về nội dung nêu trên Luận văn đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền về "Nông nghiệp, nông dân, nông thôn" trên báo in trong thời gian tới.[27]

“Vấn đề chỉ dẫn tư vấn khoa học kỹ thuật nông nghiệp cho nông dân trên báo chí Việt Nam" - Luận văn thạc sỹ báo chí của tác giả Bùi Thị Hồng Vân (2012) do PGS.TS Vũ Quang Hào hướng dẫn tại trường Đại học khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội Thông qua việc phân tích và hệ thống hoá cứ liệu từ các sản phẩm báo chí có nội dung chỉ dẫn tư vấn về khoa học kỹ thuật nông nghiệp cho nông dân, đề tài luận văn góp phần lý giải thêm hoặc đề xuất thêm những khía cạnh lý luận mới của xu hướng báo chí đang nói đến [68]

Vấn đề tuyên truyền xây dựng nông thôn mới trên báo chí Quảng Ninh- Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Báo chí học của tác giả Vũ Mạnh Cường, năm 2013, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Luận văn hệ thống hóa những khái niệm liên quan đến nông thôn mới, các chủ trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước và quá trình xây dựng nông thôn mới của tỉnh Quảng Ninh Luận

Trang 12

văn làm rõ vai trò của báo chí với việc tuyên truyền các chủ trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước nói chung và quá trình xây dựng nông thôn mới nói riêng Trên cơ sở khảo sát báo chí Quảng Ninh, đánh giá thực trạng về cách thức, nội dung, hình thức vấn đề tuyên truyền xây dựng nông thôn mới,

từ đó rút ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân của những thành công, hạn chế của việc tuyên truyền đó Xác định phương hướng cơ bản và những giải pháp để nâng cao chất lượng thông tin, tuyên truyền và xây dựng nông thôn mới trên báo chí Quảng Ninh Thời gian khảo sát của công trình nghiên cứu này là từ tháng 6 năm 2012 đến tháng 6 năm 2013 Đây là thời điểm báo chí Quảng Ninh chưa thực hiện truyền thông cho chương trình

“Mỗi xã, phường một sản phẩm” nên luận văn của tác giả Vũ Mạnh Cường chưa đề cập đến vấn đề này [14]

Những nghiên cứu trên phần nào đã làm sáng tỏ những vấn đề về công tác tuyên truyền nói chung, báo chí nói riêng trong xây dựng nông thôn mới; vai trò của cơ quan truyền thông với chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; về xây dựng nông thôn mới; mối quan hệ giữa công tác truyền thông và nhiện vụ xây dựng nông thôn mới; những kết quả từ chủ trương xây dựng nông thôn mới mang lại

Chương trình “Mỗi xã phường một sản phẩm” mới được thực hiện thí điểm đầu tiên tại Quảng Ninh cách đây 4 năm Cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào thực hiện nghiên cứu truyền thông về đề tài này Chính vì vậy công trình nghiên cứu của chúng tôi không trùng lặp với những công trình nghiên cứu của các tác giả khác đã được công bố cho đến thời điểm này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Trang 13

Trên cơ sở hệ thống hoá những vấn đề lý luận, luận văn nghiên cứu thực trạng báo chí Quảng Ninh truyền thông chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm”, từ đó đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng truyền thông về chương trình này trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận liên quan đến đề tài; các chủ trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước, của tỉnh Quảng Ninh và quá trình triển khai chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” của tỉnh Quảng Ninh

- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng báo chí Quảng Ninh truyền thông cho chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm”; chỉ ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân của truyền thông về chương trình này

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng truyền thông chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” trên báo chí Quảng Ninh trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Mối quan hê ̣ truyền thông giữa báo chí đi ̣a phương với các vấn đề phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn khảo sát Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Ninh, báo Quảng Ninh, báo điện tử Quảng Ninh từ tháng 1/2017 đến tháng 6/2017 Đài Phát thanh truyền hình, báo Quảng Ninh và Báo Quảng Ninh điện tử là 3 tờ báo lớn của Quảng Ninh, hàng năm đều nhận nhiệm vụ tuyên truyền, truyền thông cho chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” Các cơ quan báo chí này có nhiều chuyên mục, chuyên đề, tin bài viết về chương trình “Mỗi

xã, phường một sản phẩm”

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Trang 14

5.1 Cơ sở lí luận:

Luận văn được nghiên cứu dựa trên quan điểm của học thuyết Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng, theo quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác báo chí nói chung và báo chí tuyên truyền về nông nghiệp, nông thôn, nông dân nói riêng; đồng thời luận văn cũng dựa trên cơ sở lý luận, nghiệp vụ báo chí, các đề tài nghiên cứu về thực tiễn báo chí, với việc truyền thông nông thôn mới, truyền thông chương trình

“Mỗi xã phường một sản phẩm” từ nhiều nguồn khác nhau

Lý thuyết truyền thông của báo chí địa phươn g với các vấn đề phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội Lý thuyết về văn hoá

Các chủ trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước và của tỉnh Quảng Ninh đối với vấn đề xây dựng nông thôn mới, vấn đề triển khai chương trình

“Mỗi xã phường một sản phẩm”

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn dựa trên cơ sở các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiêu cứu tài liệu: Sử dụng các thông tin thu thập

được từ những tài liệu như các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, băn bản của ban chỉ đạo thực hiện chương trình nông thôn mới tỉnh Quảng Ninh, ban chỉ đạo chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” (OCOP) tỉnh Quảng Ninh, báo cáo công tác tuyên truyền về chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” của các cơ quan báo chí trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Phương pháp này nhằm phân tích nội dung văn bản các báo cáo, tài liệu, giáo trình, công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm”

- Phương pháp khảo sát, thống kê: Khảo sát, thống kê các tin, bài,

chương trình, chuyên mục… trên kênh truyền hình, kênh phát thanh và trang thông tin điện tử của Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Ninh, Báo Quảng

Trang 15

Ninh, báo điện tử Quảng Ninh về vấn đề “Mỗi xã, phường một sản phẩm” Phương pháp này nghiên cứu tần suất xuất hiện, nội dung tuyên truyền, phương thức, hình thức thể hiện của các tin, bài viết, phóng sự, chuyên mục… liên quan đến chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” trên đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Ninh, báo Quảng Ninh, báo điện tử Quảng Ninh

- Phương pháp phân tích nội dung: Dùng để phân tích nội dung các bài

báo, các sản phẩm báo chí trong truyền thông về chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” trên báo chí Quảng Ninh, từ đó rút ra được nội dung, hình thức, phương thức truyền thông

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phương pháp này nhằm trao đổi, phỏng

vấn với các chuyên gia, nhà quản lý trong lĩnh vực nông nghiệp để lấy ý kiến

về quan điểm tuyên truyền chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh hiện nay cũng như hiệu quả, tác động và những giải pháp tuyên truyền chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm”; phỏng vấn các phóng viên, biên tập viên phụ trách chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” của báo Quảng Ninh và đài PT-TH Quảng Ninh nhằm hiểu hơn về hoạt động truyền thông chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” của các cơ quan báo chí đó Cụ thể, tác giả luận văn đã phỏng vấn ông Đinh Bá Trinh- Uỷ viên thường trực Ban Chỉ Đạo OCOP tỉnh Quảng Ninh- Trưởng phòng nhiệp

vụ OCOP Ban xây dựng Nông thôn mới Quảng Ninh, bà Nguyễn Hương Giang- Phóng viên phòng Biên tập Truyền hình- phụ trách các chuyên mục khuyến nông, khuyến ngư, Bà Phạm Minh Hiền- phóng viên phòng thời sự chuyên đưa tin về mảng nông nghiệp, nông thôn và phụ trách chương trình

“101 cách thoát nghèo”, bà Phạm Ngọc Anh- phóng viên phòng Thông Tin Điện tử, đài Phát thanh Truyền hình Quảng Ninh, nhà báo Tạ Thượng Quân, Báo Quảng Ninh.’

Trang 16

- Phương pháp bảng hỏi angket: Bảng hỏi được tác giả luận văn phát

cho 100 dân sinh sống trên địa bàn thành phố Hạ Long để thu thập ý kiến đánh giá của người dân về việc báo chí Quảng Ninh truyền thông cho chương trình

lý luận báo chí, đặt biệt là chức năng nhiệm vụ của báo chí trong xã hội hiện đại

- Trên cơ sở khảo sát thực tiễn, có thể khái quát mô hình truyền thông chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” hiệu quả trên báo chí Góp phần cùng tỉnh Quảng Ninh thực hiện thành công chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm”

6.2 Ý nghĩa thực tiễn:

- Các phân tích, lý giải về những mặt được và chưa được của vấn đề truyền thông chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” trên báo chí Quảng Ninh sẽ góp phần nâng cao kiến thức chuyên môn cho người làm báo, đặc biệt là nhà báo trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Ngoài ra, luận văn còn là tài liệu tham khảo, vận dụng để triển khai thông tin, tuyên truyền về những vấn đề khác đạt hiệu quả

- Quá trình thực hiện nghiên cứu cũng là dịp để tác giả luận văn bổ sung kiến thức, qua đó góp phần đổi mới nâng cao hiệu quả công tác truyền thông cho chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” tại cơ quan mình làm việc

Qua kết quả nghiên cứu cho thấy thưc trạng truyền thông về chương trình Mỗi xã phường một sản phẩm trên báo chí Quảng Ninh Luận văn cũng chỉ ra những nét ưu việt của chương trình và những đóng góp của chương

Trang 17

trình làm thay đổi bức tranh kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, quá trình thực hiện chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” Từ đó sẽ có những các thức truyền thông cho chương trình OCOP khi chương trình này triển khai trên phạm vi toàn quốc

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của Luận văn được bố cục làm 3 chương:

Chương1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn của báo chí trong truyền thông về chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm”

Chương 2: Thực trạng báo chí Quảng Ninh truyền thông về chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm”

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng truyền thông về mô ̣t sự kiê ̣n kinh tế trên báo chí đi ̣a phương trong thời gian tới

CHƯƠNG 1:

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA BÁO CHÍ TRONG TRUYỀN THÔNG CHƯƠNG TRÌNH

Trang 18

“ MỖI XÃ, PHƯỜNG MỘT SẢN PHẨM”

1.1 Khái niệm

1.1.1 Truyền thông

Truyền thông là một hiện tượng xã hội phổ biến, ra đời và phát triển

cùng với sự phát triển của xã hội loài người, tác động và liên quan trực tiếp đến mọi cá thể xã hội Do đó, có rất nhiều khái niệm và định nghĩa khác nhau, tuỳ theo góc nhìn đối với truyền thông

Trong sách “Truyền thông đại chúng”, nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia,

2001, PGS.TS Tạ Ngọc Tấn cho rằng: Truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau [56,

Như vậy, truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin tư tưởng tình cảm , chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa con người với nhau nhằm đạt được sự hiểu biết, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cộng đồng xã hội

Trong luâ ̣n văn này , tác giả xin khu biệt khái niệm “truyền thông” là những vấn đề về thông tin, tuyên truyền và quảng bá cho chương trình “Mỗi

xã, phường mô ̣t sản phẩm”

1.1.2 Nông dân, nông nghiệp, nông thôn

* Nông nghiệp

Trang 19

Theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về

chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn: “Nông nghiệp

là phân ngành trong hệ thống ngành kinh tế quốc dân, bao gồm các lĩnh vực nông, lâm, diêm nghiệp và thủy sản” [36]

Theo một cách khác, Nông nghiệp có thể được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả những ngành sản xuất có đối tượng tác động là những cây trồng, vật nuôi gắn liền tất yếu với tự nhiên; có thời gian sản xuất bằng thời gian lao động cộng với thời gian phát triển của cây trồng, vật nuôi dưới sự tác động của điều kiện tự nhiên

* Nông dân

Theo “Bách khoa tri thức toàn thư Việt Nam”: Nông dân là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp Nông dân sống chủ yếu bằng làm ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai Tùy từng quốc gia, từng thời kỳ lịch sử, người nông dân

có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất Họ hình thành nên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội [31, tr 302]

* Nông thôn

Theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về

chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn: “Nông thôn là

phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã Nông thôn Việt Nam hiện nay có khoảng 70% dân số sinh sống” [36]

1.1.3 Nông thôn mới

Nông thôn mới được hiểu là nông thôn có kinh tế phát triển, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được nâng cao, có quy hoạch, kết cấu hạ tầng hiện đại, môi trường sinh thái trong lành, dân trí cao, giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc, an ninh chính trị được giữ vững

Trang 20

Nông thôn mới khác với nông thôn truyền thống Đó là làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; sản xuất phát triển bền vững, theo hướng kinh tế hàng hóa; đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ngày càng cao; bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ

4- “Báo hình” là tên gọi loại hình báo chí thực hiện trên sóng truyền

hình (chương trình truyền hình, chương trình nghe - nhìn thời sự

được thực hiện bằng các phương tiện khác nhau).

5- “Báo điện tử” là tên gọi loại hình báo chí thực hiện trên mạng thông tin máy tính (Internet, Intranet).

Ở Quảng Ninh, Báo chí đi ̣a phương sử dụng cả 4 loại hình báo chí: Đài Phát thanh- Truyền hình Quảng Ninh có các loại hình báo chí là “ báo nói”,

“báo hình”, “báo điê ̣n tử”; Báo Quảng Ninh có 2 loại hình báo chí là “Báo in”

và “báo điê ̣n tử”

1.1.5 Chương trình

Thuâ ̣t ngữ “chương trình” được tác giả luâ ̣n văn sử dụng dùng để chỉ

mô ̣t sự kiê ̣n kinh tế xã hô ̣i ở địa phương Tỉnh Quảng Ninh có mô ̣t sự kiê ̣n kinh tế- xã hô ̣i là thực hiê ̣n đề án “Tỉnh Quảng Ninh- Mỗi xã, phường mô ̣t sản phẩm”, giai đoa ̣n 2013-2016

Không gian văn hoá của chương trình là tại tỉnh Quảng Ninh

Thời gian văn hoá của chương trình là từ năm 2013 đến năm 2016 Đây là mô ̣t sự kiê ̣n kinh tế của mô ̣t đi ̣a phương (Tỉnh Quảng Ninh) nằm trong vùng văn hoá Bắc Bô ̣ mang dấu vết kinh tế biển

Trang 21

1.1.6 OCOP - “Mỗi xã phường một sản phẩm”

Mỗi xã, phường một sản phẩm là gì? “Mỗi xã, phường một sản phẩm” (tiếng Anh là One commune, one product - viết tắt là OCOP) là mô hình được học tập từ phong trào “Mỗi làng một sản phẩm của của Nhật Bản” (tiếng Anh là One village, one product- viết tắt là OVOP)

“Mỗi xã một sản phẩm”, bao gồm xã, phường và thị trấn Một xã có ít nhất một sản phẩm, hoặc nhiều xã có chung một sản phẩm

“Sản phẩm”: Các sản phẩm sản xuất tại địa phương (bao gồm cả sản phẩm dịch vụ du lịch), sử dụng nguyên liệu địa phương (phạm vi trong tỉnh),

do người địa phương làm chủ

Nằm trong chương trình Nông thôn mới của tỉnh Quảng Ninh , “Mỗi

xã, phường một sản phẩm” thực chất là giải pháp để phát triển kinh tế từ các sản phẩm nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, truyền thống văn hóa, danh thắng các địa phương vốn dĩ là những tiềm năng lợi thế của các vùng miền chưa được phát huy, khai thác để phát triển kinh tế nâng cao thu nhập cho người dân vùng nông thôn

1.1.7 Đi ̣a văn hoá Quảng Ninh

Vị trí địa lý

Quảng Ninh là một tỉnh ở địa đầu phía đông bắc Việt Nam, có dáng một hình chữ nhật lệch nằm chếch theo hướng đông bắc - tây nam Phía tây tựa lưng vào núi rừng trùng điệp Phía đông nghiêng xuống nửa phần đầu vịnh Bắc bộ với bờ biển khúc khuỷu nhiều cửa sông Quảng Ninh có biên giới quốc gia và hải phận giáp giới nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, có

đường bờ biển dài 250 km Diện tích tự nhiên toàn tỉnh Quảng Ninh là tính đến ngày 1-10-1998 là 611.081,3 ha Trong đó đất nông nghiệp 243.833,2 ha, đất chuyên dùng 36.513 ha, đất ở 6.815,9 ha, đất chưa sử dụng 268.158,3 ha

Trang 22

Dân tộc

Dân tộc, Quảng Ninh có 22 thành phần dân tộc, song chỉ có 6 dân tộc

có hàng nghìn người trở lên, cư trú thành những cộng đồng và có ngôn ngữ,

có bản sắc dân tộc rõ nét Ðó là các dân tộc Việt (Kinh), Dao, Tày, Sán Dìu, Sán Chỉ, Hoa

Người Việt (Kinh) chiếm 89,23% tổng số dân Họ có gốc bản địa và nguồn gốc từ các tỉnh, đông nhất là vùng đồng bằng Bắc Bộ Họ sống đông đảo nhất ở các đô thị, các khu công nghiệp và vùng đồng bằng ven sông, ven biển Người Dao (4, 45%) có hai nhánh chính là Thanh Y, Thanh Phán,

thường cư trú ở vùng núi cao Người Hoa (0, 43%), người Sán Dìu (1,80%), Sán chỉ (1,11%) ở vùng núi thấp và chủ yếu sống bằng nông nghiệp với nghề trồng cấy lúa nước

Tôn giáo

Quảng Ninh là một vùng đất có nền văn hoá lâu đời Văn hoá Hạ Long

đã được ghi vào lịch sử như một mốc tiến hoá của người Việt Cũng như các địa phương khác, cư dân sống ở Quảng Ninh cũng có những tôn giáo, tín ngưỡng để tôn thờ

Trang 23

Ðạo Phật đến với vùng đất này rất sớm Trước khi vua Trần Thái Tông (1225-1258) đến với đạo Phật ở núi Yên Tử thì đã có nhiều các bậc chân tu nối tiếp tu hành ở đó Vua Trần Nhân Tông (1279-1293) chọn Yên Tử là nơi xuất gia tu hành và lập nên dòng Thiền trúc Lâm ở Việt Nam Thế kỷ 14, khu Yên Tử và Quỳnh Lâm (Ðông Triều) là trung tâm của Phật giáo Việt Nam, đào tạo tăng ni cho cả nước

Những người tôn thờ các tôn giáo khác cũng có nhưng không đông như tín đồ Ðạo Phật Hiện có 27 nhà thờ Ky Tô giáo của 9 xứ thuộc 41 họ đạo nằm ở 8 huyện, thị xã, thành phố Số giáo dân khoảng hơn một vạn người Tín

đồ đạo Cao Ðài hiện có khoảng vài chục người

Tín ngưỡng phổ biến nhất đối với cư dân sống ở Quảng Ninh là thờ cúng tổ tiên, thờ các vị tướng lĩnh nhà Trần có công với dân với nước, các vị Thành Hoàng, các vị thần, thờ các mẫu [12]

1.2 Vai trò của báo chí trong tuyên truyền các chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước nói chung, trong truyền thông về chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm”

1.2.1 Vai trò của báo chí đối với tuyên truyền các chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước

Trước hết phải khẳng định, hoạt động báo chí là hoạt động chính trị Trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam, báo chí đóng vai trò quan trọng, không chỉ là vũ khí sắc bén của những người cộng sản trong tuyên truyền, thức tỉnh, giác ngộ quần chúng, giúp họ lựa chọn con đường, đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Đảng, đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước mà còn

là “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN

Trang 24

Báo chí luôn là “người” đi tiên phong, chủ động, tích cực tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, sự điều hành của Chính phủ về phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, tăng cường an ninh quốc phòng, đối ngoại; củng cố và nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đấu tranh kiên quyết chống các tư tưởng thù địch, phản động, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc và nhân dân lao động Báo chí đã, đang góp phần kiến tạo bầu không khí dân chủ trong xã hội, ngày càng thể hiện tốt hơn vai trò vừa hướng dẫn dư luận xã hội, tham gia có hiệu quả phản biện xã hội vừa góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc

Để báo chí thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, lãnh đạo báo chí, do đó, báo chí đã phát triển khá nhanh về số lượng Theo báo cáo của Ban Tuyên giáo Trung ương, cả nước

có hơn 700 cơ quan báo in; 528 tạp chí; trên 500 đài truyền thanh, truyền hình cấp huyện, 05 báo điện tử lớn, hàng chục trang báo điện tử là cánh tay nối dài của báo in, hàng trăm trang thông tin điện tử, hàng ngàn website, với hơn 17.000 người làm báo chuyên nghiệp được cấp thẻ nhà báo Phần lớn các

cơ quan báo chí hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích và định hướng chính trị, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Bên cạnh đó, báo chí có bước phát triển

về số lượng, trình độ, tham gia ngày càng tích cực vào quá trình truyền thông Các cơ quan báo chí từng bước nâng cao về chất lượng; đã thực hiện tốt chức năng là công cụ tuyên truyền của Đảng và Nhà nước, là diễn đàn của nhân dân, có những đóng góp tích cực, quan trọng vào những thành quả quan trọng,

có ý nghĩa lịch sử của quá trình đổi mới ở nước ta Những thành công cũng như hạn chế trong hoạt động của mỗi cơ quan báo chí gắn liền với những ưu khuyết điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo của từng tổ chức đảng

Trang 25

1.2.2 Vai trò của báo chí trong truyền thông chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm”

Nhiệm vụ trước tiên của báo chí là phản ánh trung thực đời sống và góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội Cùng với các vấn đề khác, đề tài OCOP- Mỗi xã phường một sản phẩm luôn chiếm một tý lệ lớn trong hệ thống báo chí Quảng Ninh Từ 4 năm trở lại đây, đề tài OCOP luôn được các báo trong tỉnh Quảng Ninh khai thác mạnh mẽ Báo chí Quảng Ninh tuyên truyền, phản ánh về đời sống nông thôn, những thuận lợi khó khăn của người dân, doanh nghiệp và chính quyền khi triển khai chương trình mỗi xã phường một sản phẩm Báo chí kịp thời tổng kết những bài học kinh nghiệm trong quá trình triển khai chương trình để nhân rộng và phát huy

Trong thời gian qua, tỉnh Quảng Ninh đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo khoa học về vai trò của báo chí trong việc truyền thông cho chương trình

“Mỗi xã, phường một sản phẩm Tại hội thảo, các nhà báo và các nhà quản lý đều nêu bật tầm quan trọng của báo chí trong việc tuyên truyền, động viên và nâng cao nhận thức của người dân, chủ thể của chương trình “Mỗi xã phường một sản phẩm”

Tỉnh Quảng Ninh từ lâu đã nhận thức rõ vai trò, ý nghĩa thiết thực trong việc xây dựng và phát triển thương hiệu Sản phẩm vật chất, tinh thần của Quảng Ninh được giới báo chí, truyền thông phân tích, đánh giá và khẳng định tính thực tế, tích cực đã là động lực thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến với Quảng Ninh, bên cạnh đó thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng hiệu quả cho cộng đồng doanh nghiệp

Trong thời gian tới, báo chí cần tiếp tục phải tuyên truyền những điểm mới

và khác của chương trình mỗi xã phường một sản phẩm hiện nay so với trước đây

Vì sao có những điểm mới đó? Những điểm mới đó là gì ? Sẽ được triển khai như thế nào và hiệu quả như thế nào ? Để tuyên truyền những điểm mới đó, báo chí

Trang 26

phải phân tích những hiệu quả của chương trình mỗi xã phường một sản phẩm, từ

đó rút ra bài học cho giai đoạn hiện nay Tăng cường sự phối hợp tuyên truyền giữa các cơ quan báo chí về vấn đề “Mỗi xã phường một sản phẩm” để mang lại hiệu quả cao Các cơ quan báo chí cũng cần phải nghiên cứu tâm lý, thói quen của đọc báo, xem truyền hình của người dân, đặc biệt là người dân khu vực nông thôn

để việc tuyên truyền thật sự hiệu quả Đói thông tin sẽ rất khó phát triển sản xuất, rất khó nắm được nhu cầu thị trường … Vì thế, làm sao để người dân tiếp cận được nhiều hơn với thông tin báo chí là điều hết sức quan trọng

Tại Quảng Ninh, cùng với sự phát triển của hệ thống báo chí cả nước, báo chí Quảng Ninh đã có bước phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng Đây là lực lượng quan trọng đã và đang đi đầu trong công tác tuyên truyền, phổ biến rộng rãi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như những chủ chương, chính sách, quy định của tỉnh

Do địa hình phức tạp, nhiều đồi núi, hải đảo việc người dân nắm rõ các chủ trương của Đảng và Nhà nước cũng như của tỉnh gặp nhiều trở ngại Với việc sóng phát thanh, truyền hình của Đài Phát thanh – Truyền hình Quảng Ninh được phủ kín 100% địa bàn tỉnh và Báo Quảng Ninh được phát hàng ngày đến các thôn bản đã là kênh thông tin quan trọng để người dân nắm được các chủ trương của Đảng và Nhà nước về chương trình mỗi xã phường một sản phẩm

Báo chí Quảng Ninh là cơ quan truyền tải tất cả các hình ảnh, thông điệp, sản phẩm của doanh nghiệp, của người nông dân đến với công chúng với mong muốn nhận được sự ủng hộ của công chúng dành cho sản phẩm OCOP Ngoài ra, báo chí Quảng Ninh cũng phân tích những ưu, nhược điểm cũng như tính năng của sản phẩm hay dịch vụ đó cho khách hàng dể khách hàng có nhiều cơ hội lựa chọn Bên cạnh đó, báo chí Quảng Ninh cũng là nơi phản ánh tâm tư, nguyện vọng của người tiêu dùng khiến cho doanh nghiệp, người sản xuất tự điều chỉnh và hoàn thiện sản phẩm ngày một tốt hơn

Trang 27

Thế mạnh của báo chí Quảng Ninh hiện nay là có nhiều loại hình, sử dụng phương tiện kỹ thuật tiên tiến, luôn cải tiến về nội dung và hình thức nhằm thu hút khán thính giả và đọc giả Mảng đề tài OCOP được báo chí khai thác một cách triệt để, làm phong phú thêm nội dung truyền thông, góp phần đáng kể vào việc truyền thông, quảng bá sản phẩm nông nghiệp cho từng địa phương trong tỉnh

1.3 Các yếu tố tác động đến chất lượng truyền thông của báo chí đối với xây dựng nông thôn mới nói chung, chương trình “Mỗi xã phường một sản phẩm” nói riêng

1.3.1 Chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và của tỉnh Quảng Ninh

Thực tế, chủ trương đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước có tác động mạnh mẽ đế sự phát triển của đất nước nói chúng và lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn Đảng ta nhấn mạnh cần phải “tăng cường sự chỉ đạo và huy động các nguồn lực cần thiết để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Tiếp tục phát triển và đưa nông nghiệp, ngư nghiệp lên một trình độ mới” [18, tr 91, 92]

Những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển nông thôn đã trở thành động lực thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, bộ mặt nông thôn thay đổi nhanh chóng, đời sống vật chất tinh thần của dân cư các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện

Khi triển khai xây dựng nông thôn mới, Quảng Ninh đã xác định lựa chọn một số chương trình phát triển sản xuất trọng tâm, đảm bảo phù hợp với các địa bàn, đặc biệt là địa bàn vùng dân tộc, miền núi, biên giới (vì có

97 xã miền núi, hải đảo/ tổng số 125 xã), đó là chương trình xây dựng thương hiệu nông sản và tập trung vào Chương trình Mỗi xã, phường một sản phẩm Tỉnh Quảng Ninh là tỉnh đầu tiên trong cả nước triển k hai chương trình “Mỗi xã , phường mô ̣t sản phẩm” một cách hệ thống

Trang 28

Do vậy, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến hiệu quả tuyên truyền của báo chí nói chung và báo chí Quảng Ninh nói riêng về chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm”

1.3.2 Nhận thức về tầm quan trọng của chương trình OCOP của các cấp chính quyền và sự vận dụng cụ thể hóa ở địa phương

Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến công tác tuyên truyền của các

cơ quan thông tấn báo chí đó là sự nhận thức của các cấp chính quyền và sự vận dụng, cụ thể hóa ở địa phương Báo chí là phương tiện quan trọng để tạo

sự lan tỏa của chương trình OCOP trong xã hội Vì vậy, việc quan tâm, chỉ đạo của Đảng bộ, chính quyền địa phương tích cực truyền thông cho OCOP là một trong những ưu tiên hàng đầu Không chỉ yêu cầu các cơ quan báo chí của địa phương xây dựng kế hoạch, chương trình, tăng thời lượng phát sóng

về OCOP, Đảng bộ, chính quyền địa phương cần chỉ đạo, tháo gỡ giải quyết kịp thời những vấn đề đặt ra để công tác tuyên truyền có hiệu quả Phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị thực hiện thành công chương trình “Mỗi

xã, phường một sản phẩm”

1.3.3 Chức năng, nhiệm vụ của cơ quan báo chí

Ngoài chức năng cơ bản của báo chí là thông tin Các cơ quan báo chí Quảng Ninh là kênh thông tin quan trọng của Đảng, Nhà nước trong tuyên truyền, phổ biến đường lối, chính sách đến đông đảo quần chúng nhân dân và làm nhiệm vụ chính trị của địa phương

Các cơ quan báo chí phải thực hiện tốt chức năng, nhiệm truyền thông trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung và chương trình “Mỗi

xã, phường một sản phẩm” nói riêng Cốt lõi trong việc truyền thông chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm”, báo chí Quảng Ninh phải xác định được từng thời điểm, giai đoạn triển khai để có kế hoạch thông tin, tuyên

Trang 29

truyền hợp lý, tạo hiệu ứng tích cực Đồng thời, tăng cường tính phản biện trong các tác phẩm báo chí về chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm”

Là cơ quan báo chí địa phương, báo chí Quảng Ninh có trách nhiệm truyền tải những thông tin, phổ biến những kiến thức về quảng bá sản phẩm OCOP cho người dân, doanh nghiệp và người tiêu dùng Mục tiêu của các cơ quan báo chí Quảng Ninh là tạo dựng niềm tin của người dân về sản phẩm OCOP Đây là yếu tố quan trọng khởi điểm để sản xuất, tiêu thụ sản phẩm OCOP đạt hiệu quả Với vai trò của mình, các cơ quan báo chí Quảng Ninh thời gian qua đã có nhiều đổi mới trong phương thức, hình thức thể hiện, nội dung truyền thông, xây dựng những chuyên đề và chuyên mục phù hợp với đối tượng tiếp nhận để làm sao người dân tiếp nhận thông tin sản phẩm OCOP để từ đó thay đổi nhận thức của mình, áp dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất hơn là sản xuất theo lối truyền thống, từ đó cho ra những sản phẩm chất lượng, đáp ứng nhu cầu thị trường Đó là yếu tố quan trọng, quyết định đến thành công của công tác truyền thông, quảng bá sản phẩm OCOP

1.3.4 Trình độ của đội ngũ làm truyền thông (phóng viên, biên tập viên )

Nhà báo luôn giữ vai trò trung tâm, là chủ thể của mọi hoạt động báo chí và có ảnh hưởng to lớn, mang tính quyết định đến chất lượng cũng như hiệu quả hoạt động của báo chí Để thực hiện tốt tuyên truyền về xây dựng nông thôn mới, đòi hỏi phóng viên phải am hiểu về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng nông thôn mới Phóng viên phải có chính kiến, quan điểm lập trường của mình về vấn đề đề cập Có như vậy mới có thể định hướng đúng đắn cho dư luận, xã hội

1.3.5 Sự phối hợp giữa nhà quản lý- doanh nghiệp- người dân- nhà báo trong truyền thông cho chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm”

Trang 30

Thời gian qua, báo chí Quảng Ninh luôn có sự phối hợp chặt chẽ với các cấp, cách ngành, các doanh nghiệp và người dân nhằm đưa sản phẩm OCOP của từng địa phương tiếp cận với thị trường và với người tiêu dùng được hiệu quả

Việc áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất là một tất yếu khách quan, quyết định đến sự thắng lợi của từng mô hình sản xuất, góp phần ổn định đời sống xã hội, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và báo chí đóng vai trò quan trọng cùng các nhà quản lý, nhà khoa học, người dân và doanh nghiệp tạo ra chuỗi sản xuất bền vững, góp phần nâng cao giá trị cho sản phẩm OCOP Báo chí được xem là một kênh thông tin quan trọng trong chuyển tải những kết quả nghiên cứu khoa học đến người dân Tính đại chúng, dễ thấy,

dễ hiểu, dễ làm theo của báo chí, đặc biệt là truyền hình đã tác động rất lớn đến nhận thức của người dân, giúp họ thay đổi tư duy, áp dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất

Hầu hết các doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia OCOP của tỉnh là

những đơn vị được lập ra từ cộng đồng dân cư, họ mới được thoát ra khỏi lối làm ăn kinh doanh nhỏ lẻ, manh mún tự phát; nay tham gia vào sân chơi mới nên nhiều doanh nghiệp còn bỡ ngỡ, chưa biết cách truyền thông về sản phẩm của mình, nên giai đoạn hiện nay rất cần cơ quan báo chí truyền thông hỗ trợ, giúp đỡ để quảng bá thương hiệu sản phẩm OCOP của các doanh nghiệp đến với công chúng Sự phối hợp giữa nhà quản lí, doanh nghiệp, người dân và nhà báo đã giúp sản phẩm OCOP của các địa phương được vươn xa, nhiều nơi biết đến

1.4 Thực tiễn chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm”

1.4.1 Phong trào “Mỗi xã, phường một sản phẩm” tại Nhật Bản

Phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” (OVOP) được khởi phát từ năm

1979 tại làng Oyama, tỉnh Oita, Nhật Bản Đây được coi là cách thức để phát

Trang 31

triển nền Nông nghiê ̣p của nước Nhâ ̣t theo ki ̣p với sự phát triên chung của cả nước Phong trào được xây dựng trên 3 nguyên tác chính:

Một là “Từ địa phương tiến ra toàn cầu“: Mục tiêu cao nhất của sản

xuất hàng hóa nông nghiệp Nhật Bản là chiếm lĩnh thị trường nông sản thế giới Do đó, chất lượng nông sản OVOP phải không ngừng được nâng cao, đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu và tiêu chuẩn trong nước cũng như quốc tế Cùng với đó, các hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm cũng được tăng cường tại hầu khắp các nước trên thế giới

Hai là,“Tự tin - Sáng tạo”.Phong trào OVOP quan tâm đến tất cả các

khâu của chu trình sản xuất - tiêu thụ sản phẩm khuyến khích những cách làm sáng tạobao gồm việc nghiên cứu mẫu mã, chất liệu, quy cách đóng gói bao bì; cách tiếp thị, quảng bá, đưa sản phẩm ra thị trường sao cho ấn tượng, thu hút khách hàng…

Ba là, “Tập trung phát triển nguồn nhân lực” Tại Nhật Bản, nông dân

không những được đào tạo bài bản, có kiến thức về sản xuất nông nghiệp, hiểu biết sâu về sản phẩm, ứng dụng thành thạo khoa học - kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào sản xuất hàng hóa, họ còn được cung cấp những kiến thức

về kinh doanh, về nghệ thuật marketing để có thể tự xây dựng các chiến lược kinh doanh, cạnh tranh sản phẩm của mình Họ còn nhận được sự hỗ trợ từ Chính phủ, chính quyền địa phương, các doanh nghiệp bằng những chính sách hiệu quả Nhờ đó, họ tạo được những sản phẩm có thương hiệu như: Chanh Kobosu; thịt bò Bungo; nấm Oita Trong 20 năm (1979-1999), phong trào OVOP đã tạo ra được 329 sản phẩm với tổng doanh thu là 141 tỷ yên/năm (1,1 tỷ USD)

Phong trào OVOP như một điển hình của việc phát triển ngành nghề nông thôn trên cơ sở tận dụng các nguồn lực địa phương.Phong trào đã lan tỏa

Trang 32

trên khắp đất nước Nhật Bản, là một trong những nhân tố quan trọng góp phần vào sự phát triển thần kỳ của ngành nông nghiệp nói riêng cũng như nền kinh tế Nhật Bản nói chung Kinh nghiệm từ phong trào OVOP được áp dụng

ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia ở châu Á và châu Phi [34]

1.4.2 Quan điểm của tỉnh Quảng Ninh về chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm”

Ban chấp hành Đảng bộ Tỉnh Quảng Ninh đã ban hành nghị quyết về xây dựng nông thôn mới đồng bộ ở 125 xã (hiện còn 111 xã) trong đó có 22

xã đặc biệt khó khăn và 06 xã bãi ngang ven biển, trong điều kiện là tỉnh miền núi, ven biển có nhiều thuận lợi song cũng có nhiều khó khăn, nhất là tại các khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa

Tỉnh cũng xác định tái cấu trúc ngành nông nghiệp phải bắt đầu từ việc xác định lợi thế của các địa phương, quy hoạch vùng sản xuất tập trung, lựa chọn sản phẩm chủ lực, ứng dụng khoa học công nghệ nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, phát triển theo chuỗi giá trị gắn với thị trường, cải cách hành chính, khuyến khích, thu hút doanh nghiệp tại chỗ, doanh nghiệp ngoài

địa bàn đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, khu vực nông thôn

Từ bài học kinh nghiệm của Nhật Bản, Thái Lan, trong phát triển nông thôn, điển hình là phong trào OVOP, OTOP, trên cơ sở tham mưu, đề xuất của Ban Xây dựng nông thôn mới, UBND Tỉnh phê duyệt Đề án để triển khai

Chương trình OCOP, giai đoạn 2013 -2016, với mục tiêu (1) Phát triển các

hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh (hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và vừa)

để sản xuất các sản phẩm truyền thống, dịch vụ có lợi thế ở các địa bàn xã, phường, thị trấn góp phần tái cơ cấu nền kinh tế Quảng Ninh theo hướng phát triển nội sinh và gia tăng giá trị (2) Thực hiện có hiệu quả nhóm tiêu chí

“Kinh tế và hình thức tổ chức sản xuất” trong Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới (3) Thông qua việc phát triển sản xuất tại các địa bàn

Trang 33

nông thôn góp phần hạn chế việc giảm dân số nông thôn di cư ra thành phố, bảo vệ môi trường, gìn giữ ổn định xã hội nông thôn và giảm nghèo bền vững

1.4.3 Kết quả thực hiện chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm”

1.4.3.1 Tại tỉnh Quảng Ninh

Chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” OCOP là một mô hình mới, lần đầu tiên được triển khai ở Việt Nam và tỉnh Quảng Ninh, do đó chưa có tiền lệ

về phương pháp luận, về cơ chế chính sách, chưa có mô hình hiệu quả để học tập,

do vậy, cần phải có cách thức, phương pháp triển khai khoa học:

- Tổ chức đi nghiên cứu, học tập quốc tế

- Ban hành cơ chế, chính sách thực hiện

sở sản xuất để tạo nên phong trào sâu rộng sản xuất, kinh doanh sản phẩm OCOP

Với 3 nguyên tắc cơ bản (1) Hành động địa phương, hướng đến toàn cầu, (2) Tự lực, tự tin và sáng tạo, (3) Đào tạo nguồn nhân lực Trên cơ sở

Trang 34

nguyên lý hỗ trợ sản xuất theo chuỗi giá trị hoàn chỉnh (Từ sản xuất ngoài cánh đồng - thu hoạch - chế biến - tiêu thụ) để gia tăng giá trị nguyên liệu bản địa, Chương trình OCOP xác định 2 đối tượng quan trọng là Sản phẩm (sản phẩm và dịch vụ) và Tổ chức kinh tế (tập trung vào Hợp tác xã, doanh nghiệp vừa và nhỏ) Do vậy, Chương trình OCOP được thiết kế để các chủ thể sản xuất (từ cá thể, hộ sản xuất, Tổ hợp tác, Hợp tác xã, doanh nghiệp) có sự chủ động về ý tưởng sản phẩm, xác định thị trường, chủ động sản xuất, tiêu thụ, Nhà nước đóng vai trò tạo sân chơi, hỗ trợ chính sách, thông tin thị trường và xúc tiến thương mại

Sau 03 năm (2013-2016) triển khai, chương trình OCOP đã đạt được kết quả quan trọng: Đã thành lập được hệ thống tổ chức (Ban Điều hành OCOP) ở cấp tỉnh và 14 huyện thị xã thành phố; Đã xây dựng được kế hoạch tổng thể giai đoạn 1 (2013-2016); Ban hành được Bộ công cụ quản lý chương trình ( Chu trình phát triển, thủ tục pháp lý, cách thức hỗ trợ thành lập tổ chức kinh

tế, lập kế hoạch, phương án sản xuất kinh doanh và ban hành Bộ Tiêu chí đánh giá và xếp hạng sản phẩm OCOP); Xác định được và phân tích lợi thế cạnh tranh của 65 sản phẩm, nhóm sản phẩm để thực hiện giai đoạn 1 (đến 2016); Tập trung phát triển doanh nghiệp theo hướng doanh nghiệp cộng đồng, hợp tác xã theo Luật HTX 2012, hiện đã có 180 doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, cơ sở sản xuất được thành lập, đăng ký tham gia và đang sản xuất trên 210 sản phẩm, nhóm sản phẩm, dịch vụ Thiết kế, đăng ký được nhãn hiệu sở hữu trí tuệ OCOP và đã được Bộ Khoa học và Công nghệ cấp bằng chứng nhận sở hữu trí tuệ để làm cơ sở bảo hộ cho toàn bộ sản phẩm, dịch vụ của chương trình

Tổ chức hội thi thiết kế nhãn hiệu (logo) và kiểu dáng công nghiệp bao bì đã có 46/300 tác phẩm dự thi đoạt giải Xây dựng và đưa vào hoạt động trung tâm OCOP tại thị xã ĐôngTriều, Uông Bí, Hoành Bồ, Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà, Quảng Yên, Ba Chẽ,

Trang 35

Đặc biệt, chương trình xúc tiến thương mại OCOP được thực hiện trên phạm vi toàn tỉnh, một số thị trường trọng điểm trong nước (Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, đồng bằng sông Hồng, khu vực Tây Bắc) và tại thị trường Trung Quốc (tỉnh Quảng Tây, Vân Nam) thông qua các kỳ triển lãm, hội chợ thương mại Riêng Hội chợ OCOP thường niên đã được tổ chức

4 kỳ tại thành phố Hạ Long vào dịp xuân (tết cổ truyền) và hè (phục vụ du lịch) – đây là việc thiết lập thông tin thị trường hữu ích nhất giữa hộ sản xuất

và thị trường Hội chợ OCOP trở thành sản phẩm du lịch của Tỉnh, đã tạo được dư luận xã hội tốt trong nhân dân và du khách, thiết thực đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã, qua đó khẳng định chương trình OCOP đã đi đúng hướng và bước đầu đạt hiệu quả và theo nguyện vọng của người tiêu dùng cũng như của các doanh nghiệp, hợp tác xã

Hiệu quả rõ nét của chương trình OCOP sau 03 năm triển khai được thể hiện qua các chỉ số như sau:

- Về tổ chức kinh tế: Có 180 doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở hộ sản xuất tham gia (Đề án đề ra từ 20 – 30 đơn vị)

- Về quy mô, năng lực của các tổ chức kinh tế tham gia Chương trình OCOP có sự tăng trưởng nhanh, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế khu vực nông thôn Tổng vốn pháp định đăng ký của các doanh nghiệp, hợp tác xã

là 117.097 triệu đồng Tổng số lao động là 2.172 người; Tuổi bình quân của chủ doanh nghiệp, hợp tác xã là 44 tuổi, trình độ học đại học 20 người, chiếm 37% Diện tích đất, mặt nước của các doanh nghiệp, hợp tác xã đang sở hữu,

sử dụng là 2.289,86 ha

- Về sản phẩm: Hiện đã có 210 sản phẩm, trong đó đã đánh giá tiêu chuẩn (tháng 5/2016) cho 121 sản phẩm, kết quả có 99 sản phẩm đạt tiêu chuẩn từ 3 – 5 sao, hiện đã cấp Giấy chứng nhận 39 sản phẩm, đang tập trung hoàn thiện các chỉ tiêu về an toàn thực phẩm, y tế đối với 60 sản phẩm OCOP

Trang 36

còn lại Các sản phẩm dịch vụ như du lịch nông thôn, lễ hội hoa ở các địa phương Hoành Bồ, Bình Liêu, Ba Chẽ,

Các sản phẩm OCOP đều nằm trong các nhóm sản phẩm lợi thế quốc gia (Tôm thẻ chân trắng, thủy sản chế biến); nhóm sản phẩm lợi thế địa phương (Hàu Thái bình dương, Lợn Móng Cái, gà Tiên Yên, Dược liệu Ba kích, Trà hoa vàng,.) và nhóm đặc sản vùng miền (Miến dong, gạo nếp, gạo thảo dược, hoa quả, các món ăn ngon, lạ, )

- Doanh số bán hàng OCOP của các tổ chức kinh tế, cơ sở hộ sản xuất OCOP trong 03 năm đạt 672.296 triệu đồng (Đề án đề ra 200.000 triệu đồng) nhờ gia tăng về quy mô sản xuất và giá bán, đóng góp tích cực cho tăng thu nhập của nhân dân

Để tiếp tục triển khai Chương trình OCOP đạt hiệu quả, trở thành một chương trình phát triển kinh tế khu vực nông thôn và đô thị của Quảng Ninh trong tiến trình thực hiện xây dựng Quảng Ninh trở thành tỉnh có cơ cấu kinh

tế dịch vụ - công nghiệp hiện đại vào năm 2020, ngay sau khi đề án “Mỗi xã , phường mô ̣t sản phẩm” giai đoa ̣n 1, thời gian từ 2013 đến 2016 kết thúc, tỉnh Quảng Ninh đã phê duyệt đề án Chương trình “Mỗi xã, phường mô ̣t sản phẩm tỉnh Quảng Ninh” , giai đoa ̣n 2017-2020 Để OCOP trở thành 1 thương hiệu mạnh của tỉnh trên phạm vi toàn quốc và gia nhâ ̣p thi ̣ trường quốc tế , đề án OCOP giai đoa ̣n 2017-2020 đặt ra một số những mục tiêu cụ thể như sau: Hoàn thiện hệ thống tổ chức OCOP Quảng Ninh theo hướng thành lập Bộ máy chuyên trách OCOP từ tỉnh đến huyện; hàng năm, mỗi địa phương có ít nhất 1-2 ý tưởng sản phẩm được hỗ trợ thực hiện theo chu trình OCOP đã ban hành; có ít nhất 80 tổ chức kinh tế phát triển ổn định; có ít nhất 250 sản phẩm được phát triển [67]

1.4.3.2 Trên toàn quốc

Trang 37

Từ thực tiễn triển khai của cả nước nói chung và Quảng Ninh nói riêng cho thấy, chủ trương cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế theo hướng nội sinh là hết sức đúng đắn Vì vậy, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ,

Bộ NN&PTNT quyết định phát động chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” để phát triển nông thôn gắn với 2 mục tiêu cốt lõi là xây dựng NTM và cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp, với viê ̣c ban hành Quyết định số 2277/QĐ-BNN-VPĐP ngày 05/6/2017 phê duyệt Đề cương Đề án “Chương trình quốc gia Mỗi xã một sản phẩm” giai đoạn 2017 - 2020, định hướng đến năm 2030.[8]

Trong đề cương đề án, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xác định xây dựng và triển khai “Chương trình quốc gia Mỗi xã một sản phẩm” là nhiệm

vụ trọng tâm trong triển khai xây dựng nông thôn mới gắn với cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế khu vực nông thôn Trên cơ sở Đề cương

Đề án “Chương trình quốc gia Mỗi xã một sản phẩm” giai đoạn 2017 - 2020, định hướng đến năm 2030 đã được Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt, UBND các tỉnh, thành phố chủ động xây dựng và triển khai “Chương trình mỗi xã một sản phẩm” cấp tỉnh ngay trong năm 2017

cũng làm rõ vai trò của báo chí trong tuyên truyền các chính sách, chủ trương

của Đảng và Nhà nước nói chung, trong truyền thông về chương trình “Mỗi

xã, phường một sản phẩm” nói riêng

Trang 38

Luận văn chỉ ra những yếu tố tác động đến chất lượng truyền thông của báo chí đối với xây dựng nông thhôn mới nói chung và chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” nói riêng Đó là các yếu tố: Chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và của tỉnh Quảng Ninh; nhận thức của các cấp chính quyền và sự vận dụng cụ thể hóa ở địa phương ; trình độ của đội ngũ làm truyền thông (phóng viên, biên tập viên ); chức năng, nhiệm vụ của

cơ quan báo chí; trình độ của đội ngũ làm truyền thông (phóng viên, biên tập viên )

Luận văn cũng đưa ra một cái nhìn toàn cảnh về thực tiễn triển khai chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” ở đi ̣a phương Quảng Ninh Chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” OCOP là một mô hình mới, lần đầu tiên được triển khai ở Việt Nam và tỉnh Quảng Ninh, do đó chưa có tiền lệ về phương pháp luận, về cơ chế chính sách, chưa có mô hình hiệu quả để học tập Tuy nhiên, với cách làm sáng ta ̣o trên cơ sở ho ̣c tâ ̣p thực tiễn triển khai mô hình ở các quốc gia như Nhật Bản, Thái Lan, Tỉnh Quảng Ninh đã đã thu được những thành công, được Bô ̣ Nông nghiê ̣p và phát triển nông thôn đánh giá là mô hình điểm, phát động chương trình quốc gia “Mỗi xã phường một sản phẩm” giai đoạn 2017-2020 trên pha ̣m vi toàn quốc

CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG BÁO CHÍ QUẢNG NINH TRUYỀN THÔNG VỀ

CHƯƠNG TRÌNH “MỖI XÃ, PHƯỜNG MỘT SẢN PHẨM”

Trang 39

2.1 Giới thiệu các cơ quan báo chí Quảng Ninh trong diện khảo sát

2.1.1 Đài PT-TH Quảng Ninh

Đài Phát thanh – Truyền hình Quảng Ninh trực thuô ̣c Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh

Đài Phát thanh – Truyền hình Quảng Ninh được chính thức thành lập năm 1956 với tên gọi lúc bấy giờ là Đài truyền thanh Hòn Gai Năm 1963 Nhà nước hợp nhất tỉnh Hải Ninh và Khu Hồng Quảng thành tỉnh Quảng Ninh và Đài phát thanh Hòn Gai đổi tên gọi là Đài phát thanh Quảng Ninh Thực hiện nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao, cũng như đáp ứng nhu cầu phát triển thông tin của nhân dân, Đài phát thanh Quảng Ninh đã nghiên cứu, triển khai việc làm truyền hình, bên cạnh duy trì phát thanh ngày càng tốt hơn

Đến tháng 8, năm 1983 Đài phát thanh Quảng Ninh chính thức phát sóng chương trình truyền hình đầu tiên, đánh dấu bước phát triển quan trọng của Đài Từ đó Đài có tên là Đài phát thanh – truyền hình Quảng Ninh Việc phát sóng chương trình truyền hình đầu tiên của Đài Phát thanh truyền hình Quảng Ninh đã đưa tỉnh Quảng Ninh trở thành tỉnh, thành đầu tiên trong khu vực miền Bắc làm truyền hình

Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh đang duy trì phát sóng 2 kênh phát thanh, 2 kênh truyền hình và trang thông tin điện tử qtv.vn

- QNR1 - Kênh phát thanh thời sự chính trị tổng hợp phát sóng

20h/ngày

- QNR2 - Kênh phát thanh văn hóa - du lịch - đối ngoại phát sóng

18h/ngày

- QTV1 – Kênh thời sự chính trị tổng hợp phát sóng 24h/ngày

- QTV3 – Kênh giải trí quảng bá phát sóng 24h/ngày

Thời lượng phát sóng chương trình phát thanh do Đài sản xuất đạt 20 giờ/ngày, tăng hơn 3 lần năm 2008 Năng lực sản xuất chương trình truyền

Trang 40

hình đạt 19,6 giờ/ngày (kênh QTV1 đạt 10 giờ/ngày, kênh QTV2 đạt 9,6 giờ/ngày), tốc độ tăng trưởng chỉ tiêu thời lượng phát sóng đạt 33%/năm, năng lực tự sản xuất chương trình của Đài tăng 2%/năm

Một trong những việc làm quan trọng để mở rộng diện phủ sóng truyền hình, Đài phát thanh truyền hình Quảng Ninh đã thực hiện việc phát sóng truyền hình qua vệ tinh Vinasat 1 cả 2 kênh QTV1 và QTV3

Hiện trang thông tin điện tử tổng hợp Đài đang duy trì 10 chuyên mục;

hệ thống tin, bài được cập nhật thường xuyên trong ngày, trong đó, sử dụng, biên tập từ tin, bài từ Đài PTTH tỉnh, còn lại sử dụng tin, bài của các Báo Trung ương, bộ, ngày Đặc biệt, trên trang website của Đài có thể xem lại các bản tin thời sự, các chuyên mục trên sóng truyền hình của Đài, xem trực tuyến kênh truyền hình Quảng Ninh, các kênh Youtube, VTV, VTC, HTV, nghe phát thanh trực tuyến

Trang thông tin điện tử của Đài được xây dựng bằng 3 ngôn ngữ: tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Trung Ngoài tin tức dưới dạng text, hình ảnh, Đài còn sản xuất các bản tin tiếng Anh phát sóng trên trang thông tin, tăng cường công tác thông tin đối ngoại của Đài, của Tỉnh

2.1.2 Báo Quảng Ninh

Báo Quảng Ninh trực thuộc Tỉnh ủy Quảng Ninh, là cơ quan ngôn luận Đảng bộ, chính quyền tỉnh, có nhiệm vụ tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; phổ biến các Chỉ thị, Nghị quyết và nhiệm vụ chính trị của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương; Cổ vũ mạnh mẽ phong trào thi đua yêu nước, phát huy và nêu gương các điển hình tiên tiến, kịp thời biểu dương các tập thể, cá nhân năng động, sáng tạo khắc phục khó khăn, quyết tâm phấn đấu hoàn thành thắng lợi các mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đã đề ra; Đồng thời là diễn đàn phản ánh tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân

Ngày đăng: 26/12/2018, 09:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Anh(2008), Những kỹ năng về sử dụng ngôn ngữ trong truyền thông đại chúng, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kỹ năng về sử dụng ngôn ngữ trong truyền thông đại chúng
Tác giả: Hoàng Anh
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
2. Ban Tuyên giáo Trung ương (2007), Tăng cường lãnh đạo , quản lý tạo điều kiê ̣n để báo chí nước ta phát triển mạnh mẽ , vững chắc trong thời gian tới, Nxb Lý luâ ̣n chính tri ̣, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường lãnh đạo , quản lý tạo điều kiê ̣n để báo chí nước ta phát triển mạnh mẽ , vững chắc trong thời gian tới
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb Lý luâ ̣n chính tri ̣
Năm: 2007
3. Hoàng Quốc Bảo (Chủ biên) (2010), Lãnh đạo và quản lý hoạt động báo chí ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lãnh đạo và quản lý hoạt động báo chí ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Hoàng Quốc Bảo (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
Năm: 2010
4. Khiếu Quang Bảo (2007), “Ngôn ngữ truyền hình”, Tạp chí Người làm báo, (số 12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ngôn ngữ truyền hình”
Tác giả: Khiếu Quang Bảo
Năm: 2007
8. Bô ̣ Nông nghiê ̣p và phát triển nông thôn , Quyết định số 2277/QĐ-BNN- VPĐP ngày 05/6/2017 phê duyệt Đề cương Đề án “Chương trình quốc gia Mỗi xã một sản phẩm” giai đoạn 2017 - 2020, định hướng đến năm 2030 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình quốc gia Mỗi xã một sản phẩm
13. Nguyễn Sinh Cúc, năm 2003, “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới” , Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới
Nhà XB: Nxb Thống kê
14. Vũ Mạnh Cường, năm 2013, “ Vấn đề tuyên truyền xây dựng nông thôn mới trên báo chí Quảng Ninh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Vấn đề tuyên truyền xây dựng nông thôn mới trên báo chí Quảng Ninh
15. Đài PT-TH Quảng Ninh, "Mỗi xã, phường một sản phẩm" - điểm nhấn Nông thôn mới Quảng Ninh 2014, qtv.vn,http://www.qtv.vn/channel/5986/201501/moi-xa-phuong-mot-san pham- diem-nhan-nong-thon-moi-quang-ninh-2014-2386686/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỗi xã, phường một sản phẩm
16. Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học KHoa học- Xã hội và nhân văn (2005), Báo chí, những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí, những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học KHoa học- Xã hội và nhân văn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2005
17. Nguyễn Đức Dân (2007), Ngôn ngữ báo chí – những vấn đề cơ bản, Nxb Giáo dục, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ báo chí – những vấn đề cơ bản
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật
Năm: 2011
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập (Đại hội VI, VII, VIII, IX, X), Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập (Đại hội VI, VII, VIII, IX, X)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật
Năm: 2011
21. Đức Dũng (2002), Sáng tạo tác phẩm báo chí, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tạo tác phẩm báo chí
Tác giả: Đức Dũng
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 2002
22. Đức Dũng (2009), Phóng sự báo chí hiện đại, Nxb Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phóng sự báo chí hiện đại
Tác giả: Đức Dũng
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2009
23. Nguyễn Văn Dững (2012), Cơ sở lý luận báo chí , Nxb Lao đô ̣ng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Lao đô ̣ng
Năm: 2012
24. Nguyễn Văn Dững (Chủ biên), Đỗ Thị Thu Hằng (2012), Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản
Tác giả: Nguyễn Văn Dững (Chủ biên), Đỗ Thị Thu Hằng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật
Năm: 2012
25. Nguyễn Thi ̣ Trường Giang (2011), Đạo đức nghề nghiê ̣p của nhà báo , NXB Chính Trị - Hành Chính Quốc Gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Đạo đức nghề nghiê ̣p của nhà báo
Tác giả: Nguyễn Thi ̣ Trường Giang
Nhà XB: NXB Chính Trị - Hành Chính Quốc Gia Hồ Chí Minh
Năm: 2011
27. Vũ Thái Hà, năm 2010, Luận văn thạc sỹ ngành báo chí “Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trên báo in Việt Nam”- trường Đại học Khoa học Xã Hội và Nhân Văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trên báo in Việt Nam
12. Cổng thông tin điê ̣n tử Quảng Ninh ,, (http://www.quangninh.gov.vn/vi-VN/Trang/chuyenmuctongquan.aspx?chm=%C4%90i%E1%BB%81u%20ki%E1%BB%87n%20t%E1%BB%B1%20nhi%C3%AAn%20-%20x%C3%A3%20h%E1%BB%99i) Link
26/03/2016 http://baoquangninh.com.vn/kinh-te/201603/chuong-trinh-moi-xa-phuong-mot-san-pham-can-som-khac-phuc-nhung-han-che-2301283/ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w