Luận văn đặt mục tiêu đầu tiên là tìm hiểu tình hình sử dụng các biến thể phát âm của /l/ - /n/ và những ảnh hưởng của các nhân tố xã hội cũng như thái độ ngôn ngữ đến cách sử dụng các b
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội – 11/ 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MÃ SỐ:: 60 22 02 40
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: PGS.TS TRỊNH CẨM LAN
Hà Nội -11/ 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên chúng tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong khoa Ngôn ngữ học – Đại học KHXHNV và 58 cộng tác viên (CTV) là người dân làng Đại Lộc, Yên Chính, Ý Yên, Nam Định đã tận tình giúp đỡ, cung cấp tư liệu quan trọng giúp chúng tôi hoàn thành luận văn này
Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi đã tham khảo, vận dụng lý thuyết và kết quả của những người đi trước Đặc biệt để hoàn thành luận văn này ngoài sự nỗ lực của bản thân, chúng tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Trịnh Cẩm Lan
Chúng tôi cũng xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS Trịnh Cẩm Lan người đã giúp đỡ, chỉ bảo và luôn bên cạnh chúng tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tuy nhiên, do còn hạn chế về năng lực, thời gian dành cho việc khảo sát, thu thập và xử lý tư liệu có hạn nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, chỉ bảo thêm
Tôi xin chân thành cảm ơn
Học viên Phạm Thúy Hằng
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VẼ
QUY ƯỚC TRÌNH BÀY
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Nguồn tư liệu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Bố cục của luận văn 5
Chương I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ CẢNH HUỐNG NGÔN NGỮ - XÃ HỘI Ở LÀNG ĐẠI LỘC, XÃ YÊN CHÍNH, HUYỆN Ý YÊN, NAM ĐỊNH 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu hiện tượng lẫn lộn /l/ - /n/ trong tiếng Việt 6
1.2 Một số vấn đề lý thuyết chính 8
1.2.1 Biến thể ngôn ngữ, phương ngữ, thổ ngữ với tư cách là biến thể của ngôn ngữ 8
1.2.2 Một số vấn đề thái độ ngôn ngữ 13
1.3 Cảnh huống ngôn ngữ - xã hội của địa bàn nghiên cứu 16
1.3.1 Đặc điểm tự nhiên và dân cư 16
1.3.2 Cảnh huống ngôn ngữ - xã hội của làng Đại Lộc 17
1.4 Tiểu kết 18
Chương II: TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CÁC BIẾN THỂ PHÁT ÂM CỦA /L/ VÀ /N/ Ở LÀNG ĐẠI LỘC, YÊN CHÍNH, Ý YÊN, NAM ĐỊNH 19
2.1 Âm vị /l/ và /n/ trong hệ thống phụ âm đầu tiếng Việt 19
Trang 52.1.1 Âm vị /l/ trong hệ thống phụ âm đầu
19
2.1.2 Âm vị /n/ trong hệ thống phụ âm đầu 19
2.2 Tình hình sử dụng các biến thể của /l/ và /n/ tại địa phương 20
2.2.1 Phương pháp điều tra 20
2.2.2 Kết quả điều tra 23
2.3 Ảnh hưởng của các nhân tố xã hội đến tình hình sử dụng biến thể phát âm của /n/ và /l/ tại làng Đại Lộc, xã Yên Chính, Ý Yên, Nam Định 28
2.3.1 Giới tính 29
2.3.2 Tuổi 31
2.3.3 Trình độ học vấn 35
2.3.4 Khả năng ngoại ngữ 38
2.3.5 Nghề nghiệp 39
2.3.6 Mô hình hôn nhân 43
2.4 Tiểu kết 46
Chương III: THÁI ĐỘ NGÔN NGỮ ĐỐI VỚI CÁC BIẾN THỂ PHÁT ÂM CỦA /L/ VÀ /N/ Ở LÀNG ĐẠI LỘC, YÊN CHÍNH, Ý YÊN, NAM ĐỊNH 48
3.1 Dẫn nhập 48
3.2 Kết quả điều tra 48
3.2.1 Tuổi 49
3.2.2 Trình độ 50
3.2.3 Nghề nghiệp 51
3.2.4 Mô hình hôn nhân 52
3.3 Bàn luận 53
3.3.1 Ủng hộ việc duy trì cách phát âm địa phương 53
3.3.2 Không ủng hộ việc duy trì cách phát âm địa phương 56
3.4 Dự đoán 59
3.5 Tiểu kết 61
KẾT LUẬN 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Việc sử dụng các biến thể của /l/, /n/ ở phong cách đọc bảng từ 23
Bảng 2.2 Việc sử dụng các biến thể của /l/ và /n/ ở phong cách văn bản 24
Bảng 2.3 Việc sử dụng các biến thể của /l/, /n/ ở phong cách nói tự nhiên 26
Bảng 2.4: Tương quan giữa giới tính với việc sử dụng các biến thể 29
của /l/, /n/ 29
Bảng 2.5 Tương quan giữa tuổi với việc sử dụng các biến thể của /l/, /n/ …… 31
Bảng 2.6: Tương quan giữa trình độ học vấn với việc sử dụng các biến thể của /l/, /n/ 36
Bảng 2.7: Tương quan giữa khả năng ngoại ngữ với việc sử dụng các biến thể của /l/, /n/ 38
Bảng 2.8: Tương quan giữa nghề nghiêp với việc dùng các biến thể của /l/ và /n/ 40
Bảng 2.9: Tương quan giữa mô hình hôn nhân với việc sử dụng các biến thể của /l/, /n/ 43
Bảng 3.1: Ý muốn chủ quan đối với việc duy trì hay sửa đổi cách phát âm địa phương 49
Bảng 3.2: Tương quan giữa ý muốn chủ quan với tuổi đời 49
Bảng 3.2 Tương quan giữa ý muốn chủ quan với trình độ học vấn 50
Bảng 3.3: Tương quan giữa ý muốn chủ quan với nghề nghiệp 51
Bảng 3.4 Tương quan giữa ý muốn chủ quan với mô hình hôn nhân 52
Trang 7DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1 Sự biến thiên của tình hình sử dụng các biến thể của /l/ và /n/ ở phong
cách đọc bảng từ 24
Hình 2.2 Sự biến thiên của tình hình sử dụng các biến thể của /l/ và /n/ ở phong cách đọc văn bản 25
Hình 2.3 Sự biến thiên của tình hình sử dụng các biến thể của /l/ và /n/ ở phong cách lời nói tự nhiên 26
Hình 2.4: Tương quan giới tính với việc sử dụng biến thể của /l/, /n/ 29
Hình 2.5: Tương quan giữa các nhóm tuổi với việc sử dụng các biến thể của /l/, /n/ 32
Hình 2.6: Tương quan giữa trình độ học vấn với việc sử dụng các biến thể của /l/, /n/ 36
Hình 2.7: Tương quan giữa khả năng ngoại ngữ với việc sử dụng các biến thể của /l/ và /n/ 39
Hình 2.8: Tương quan giữa nghề nghiệp với việc sử dụng các biến thể của /l/ và /n/ 40
Hình 2.9: Tương quan giữa mô hình hôn nhân với việc sử dụng các biến thể của /l/, /n/ 44
Hình 3.1: Tương quan giữa ý muốn chủ quan và tuổi đời 50
Hình 3.2: Tương quan giữa ý muốn chủ quan và trình độ học vấn 51
Hình 3.3: Tương quan giữa ý muốn chủ quan với nghề nghiệp 52
Hình 3.4: Tương quan giữa ý muốn chủ quan với mô hình hôn nhân 53
Trang 8QUY ƢỚC TRÌNH BÀY
CTV: Cộng tác viên
[1]–0: Biến thể chuẩn của /l/
[l]- 1: Biến thể phi chuẩn của /n/, đọc với cơ chế phát âm như [l] [n]–1: Biến thể phi chuẩn của /l/, đọc với cơ chế phát âm như [n] [n]- 0: biến thể chuẩn của /n/
ĐH, CĐ, TC : Đại học, cao đẳng, trung cấp
Trang 10tố có ảnh hưởng không nhỏ đến việc sử dụng ngôn ngữ
Sự khác biệt phương ngữ trong không gian của tiếng Việt thể hiện chủ yếu ở sự khác biệt giữa các phương ngữ, thổ ngữ với nhau và sự khác biệt giữa các phương ngữ, thổ ngữ ấy với tiếng Việt toàn dân Tâm điểm của sự khác biệt nằm ở những biến thể khác biệt của một số đơn vị ngôn ngữ cụ thể Nghiên cứu phương ngữ, thổ ngữ hiện nay chủ yếu là nghiên cứu các biến thể khác biệt ấy
Về mặt không gian, các biến thể khác biệt tồn tại phổ biến hơn ở các khu vực nông thôn, cái nôi của nền văn hóa Việt Với phương thức sống biệt lập, khép kín trong nhiều thế kỷ kiểu công xã nông thôn Việt Nam, các phương ngữ, thổ ngữ tồn tại lâu bền, dai dẳng Để tìm hiểu tính đa dạng của tiếng Việt, cần thiết phải tìm đến các phương ngữ, thổ ngữ với những biến thể khác biệt của nó với tiếng Việt toàn dân
Đó là lý do khiến chúng tôi quyết định lựa chọn một khu vực nông thôn tỉnh Nam Định để nghiên cứu Không gian mà chúng tôi lựa chọn là làng Đại Lộc, xã Yên Chính, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định Đây là một làng mà tiếng nói của nó so với tiếng nơi ở những vùng xung quanh và tiếng Việt toàn dân thì có một số khác biệt mà chỉ thoạt nghe, người Việt nào cũng có thể nhận ra Thổ ngữ ở đây đa dạng và khác biệt so với các làng khác trong xã cũng như
Trang 112
các xã khác trong huyện Một trong những khác biệt đáng kể so với xung quanh là hiện tượng lẫn lộn /l/, /n/ tồn tại phổ biến trong khi mọi cộng đồng dân cư làng khác trong khu vực lại không có Điều này làm cho làng mang dáng dấp của một đảo thổ ngữ Cái đảo thổ ngữ ấy tồn tại như thế nào? Liệu môi trường, các nhân tố ngoài ngôn ngữ như đặc trưng xã hội, thái độ của người sử dụng có tham góp vào sự khác biệt đó hay không? Việc tìm câu trả lời cho câu hỏi đó là một điều chúng tôi quan tâm
Đó là những lý do khiến chúng tôi quyết định lựa chọn vấn đề “Khảo sát các biến thể phát âm của /l/, /n/" (nghiên cứu trường hợp làng Đại Lộc, Yên Chính, Ý Yên, Nam Định) làm đề tài nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
2.1 Luận văn đặt mục tiêu đầu tiên là tìm hiểu tình hình sử dụng các biến thể phát âm của /l/ - /n/ và những ảnh hưởng của các nhân tố xã hội cũng như thái độ ngôn ngữ đến cách sử dụng các biến thể của /l/ và /n/ tại làng Đại Lộc 2.2 Nếu mục tiêu thứ nhất được thực hiện tốt, chúng tôi hy vọng thực hiện mục tiêu thứ hai là góp thêm tư liệu thực tiễn từ một cộng đồng nông thôn châu thổ Bắc Bộ cho bức tranh nghiên cứu chung đối với hiện tượng lẫn lộn /l/ - /n/ trong tiếng Việt Trên cơ sở hiện trạng từ một làng quê Bắc Bộ này, chúng tôi muốn góp thêm một tiếng nói vào việc nghiên cứu những hiện tượng ngôn ngữ lệch chuẩn nhằm hướng tới chuẩn hoá tiếng Việt ở các cộng đồng nông thôn trong một tương lai không xa
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích vừa nêu, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
- Tìm hiểu tình hình nghiên cứu các biến thể /l/, /n/ ở Việt Nam và xây dựng cơ sở lý thuyết cho đề tài
- Tình hình sử dụng các biến thể phát âm của /l/- /n/ tại làng Đại Lộc
Trang 123
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố xã hội và cả thái độ ngôn ngữ liên quan đến người nói đối với việc sử dụng các biến thể phát âm của /l/ và /n/ ở làng Đại Lộc, xã Yên Chính, huyện Ý Yên, Nam Định
4 Nguồn tƣ liệu
Để có được tư liệu cho đề tài, chúng tôi đã trực tiếp đi tới địa bàn làng Đại Lộc, xã Yên Chính, huyện Ý Yên, Nam Định để điều tra, trò chuyện với các CTV Tư liệu thu được gồm ba loại chính như sau:
- Tư liệu ghi âm gồm các file ghi âm bảng từ, đoạn văn bản và các đối thoại tự nhiên trước và sau khi phỏng vấn Các công cụ điều tra (bảng từ, đoạn văn) được thiết kế sẵn sao cho tần số xuất hiện âm vị /l/, /n/ nhiều nhất
- Phiếu điều tra thái độ ngôn ngữ của người dân địa phương đối với các biến thể của /l/ và /n/
- Tư liệu phỏng vấn gồm một số cuộc thoại phỏng vấn được ghi âm và một số ghi chép trong những cuộc phỏng vấn hay trò chuyện mà chúng tôi không thực hiện được việc ghi âm
Đồng thời trong các cuộc phỏng vấn, chúng tôi cũng tiến hành thăm dò ý kiến của người dân về thái độ của họ với cách sử dụng biến thể /l/, /n/, xem xét nhu cầu muốn thay đổi hay muốn tiếp tục duy trì các biến thể phát âm ấy
58 CTV được lựa chọn với cố gắng đảm bảo sự cân đối về đặc điểm xã hội như: về giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn… Các đặc trưng
xã hội của các CTV có thể quan sát qua bảng sau:
Trang 145
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điền dã được dùng để thu thập tư liệu nghiên cứu Các tư liệu thu được bao gồm các nguồn đã trình bày trong phần tư liệu
- Phương pháp miêu tả ngữ âm học được dùng để miêu tả đặc điểm ngữ
âm các biến thể của hai phụ âm /l/ và /n/ Trong số các biến thể có: biến thể [l]-0 và [n]-0 được coi là biến thể không đánh dấu (giống biến thể toàn dân), các biến thể đánh dấu là [l]-1 và [n]-1 (biến thể ngôn ngữ của Đại Lộc) Từ
đó, chúng tôi tái hiện sự khác biệt trong cách phát âm các phụ âm /l/ và /n/ giữa thổ ngữ làng Đại Lộc với tiếng nói ở các vùng xung quanh cũng như với
tiếng Việt toàn dân
- Phương pháp phân tích định lượng được dùng để tìm mối tương quan giữa biến thể đánh dấu của /l/, /n/ với các đặc điểm xã hội của người nói như tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, trình độ học vấn, khả năng ngoại ngữ, mô hình hôn nhân… Bên cạnh đó, tương quan giữa thái độ ngôn ngữ với việc sử dụng các biến thể đánh dấu của /l/, /n/ cũng được tìm ra trong cố gắng xem xét ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan đối với việc sử dụng các biến thể ngôn ngữ
6 Bố cục của luận văn
Ngoài mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương sau:
Chương I: Một số vấn đề lý thuyết và cảnh huống ngôn ngữ - xã hội ở làng Đại Lộc, Yên Chính, Ý Yên, Nam Định
Chương II : Tình hình sử dụng các biến thể phát âm của /l/ và /n/ ở làng Đại Lộc, xã Yên Chính, Huyện Ý Yên, Nam Định
Chương III: Thái độ ngôn ngữ đối với các biến thể phát âm của /l/, /n/ ở làng Đại Lộc, xã Yên Chính, Huyện Ý Yên, Nam Định
Trang 156
Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ CẢNH HUỐNG NGÔN NGỮ -
XÃ HỘI Ở LÀNG ĐẠI LỘC, XÃ YÊN CHÍNH, HUYỆN Ý YÊN,
NAM ĐỊNH
1.1 Tổng quan nghiên cứu hiện tượng lẫn lộn /l/ - /n/ trong tiếng Việt
Trong giới Việt ngữ học, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến hiện tượng lẫn lộn /l/ và /n/ Trong đó, đầu tiên phải kể đến tác giả Trần Thị Thìn
với bài nghiên cứu “Bước đầu tìm hiểu hiện tượng phát âm lệch chuẩn /l/, /n/”
(1979), Trong bài viết, tác giả cho rằng hiện tượng lẫn lộn /l/, /n/ là hiện tượng lệch chuẩn hay còn gọi là ngọng Tác giả đã tiến hành khảo sát, phân tích tư liệu, tìm hiểu nguyên nhân mắc lỗi của trên 100 học sinh lớp 4 và 100 học sinh lớp 1 thuộc trường tiểu học Đoàn Kết, Hai Bà Trưng, Hà Nội Nghiên cứu đã dùng phương pháp thực nghiệm rồi so sánh kết quả trước và sau khi thực nghiệm cho trẻ tập phát âm phân biệt hai phụ âm đầu này Kết quả cho thấy sau khi có sự luyện tập phát âm số lượng trẻ phát âm chuẩn tăng
lên đáng kể, chỉ còn 25/100 trẻ lớp 1 đôi lúc vẫn mắc lỗi
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình cũng có một nghiên cứu “[n] hay [l] ở
một làng quê Việt Nam: một quan sát từ góc độ ngôn ngữ học xã hội” Trong
nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp định lượng của ngôn ngữ học
xã hội để khảo sát biến thể của /l/ ở một làng quê Việt Nam nhằm tìm sự giống và khác nhau giữa cộng đồng văn hóa ngôn ngữ này với các cộng đồng văn hóa ngôn ngữ đã được khảo sát ở nơi khác Sau đó tác giả cũng đưa ra kết luận rằng hiện nay xu hướng phát âm /l/ thành /n/ là xu hướng chính
Liên quan đến đối tượng này, tác Hà Quang Năng cũng có một nghiên
cứu được trình bày trong bài viết “Khảo sát thực trạng các cách phát âm lẫn
lộn [l] - [n] hiện nay” (2007) Trong nghiên cứu này, tác giả nhìn đối tượng
với tư cách một hiện tượng “phát âm địa phương” và tìm hiểu xu hướng chuyển đổi hai phụ âm này tại một làng ngoại thành Hà Nội Tác giả cũng đã
Trang 167
đưa ra kiến nghị rằng “Cần có những điều tra, khảo sát tiếp theo ở nhiều địa phương khác nhau thuộc phương ngữ Bắc Bộ nhằm xác định xu hướng chuyển đổi của cặp phụ âm này” Như vậy, tác giả Hà Quang Năng đã chỉ ra một hướng đi là mở rộng địa bàn khảo sát tiến tới điều tra tổng thể trong phạm vi phương ngữ Bắc để có những tổng hợp về thực trạng lẫn lộn hai phụ
âm đầu /l/ và /n/
Một trong những tiếng nói góp vào số các công trình nghiên cứu hiện tượng này là nghiên cứu của tác giả sinh viên Dương Thị Hồng Yên với một công trình nghiên cứu đạt giải Nhì của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2012
Nghiên cứu cho thấy góc nhìn khá tổng quan về “Sự khác biệt trong hiện
tượng lẫn lộn /l/, /n/ giữa khu vực đô thị và nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc” Với
đề tài này, tác giả đã phân tích các biến xã hội tác động đến tình hình sử dụng các biến thể phi chuẩn của /l/, /n/ tại Vĩnh Phúc Sau đó tác giả tổng hợp kết quả và đưa ra phân tích của những nhân tố xã hội tác động đến hiện tượng lẫn lộn các phụ âm đầu /l/, /n/ tại khu vực nông thôn và khu vực đô thị Từ đó, nghiên cứu đã phân tích, tìm ra những khác biệt trong hiện tượng lẫn lộn các phụ âm đầu /l/, /n/ ở cả hai khu vực nông thôn và đô thị của tỉnh Vĩnh Phúc như thế nào, thông qua đó, tác giả mong muốn hướng người đọc nhìn rộng ra các cộng đồng nông thôn và đô thị khác
Ngoài những nghiên cứu trên đây còn có một số nghiên cứu của các tác giả khác có đề cập đến hiện tượng ở những mức độ khác nhau, hoặc bàn đến hiện tượng nhân nghiên cứu các biến thể phát âm địa phương thuộc phương
ngữ Bắc nói chung như Bùi Thị Minh Yến (2007) với “Học vấn với việc phát
âm [l] - [n] trong tiếng Việt (ở một xã ngoại thành Hà Nội)”, trong cuốn
“Ngôn ngữ và văn hóa Hà Nội”; Ngô Thị Hải Yến (2014) với “Biến thể ngôn
ngữ mang tính đánh dấu tại hai xã Cổ Loa và Xuân Canh, huyện Đông Anh,
Hà Nội” (Khoá luận tốt nghiệp Cử nhân Ngôn ngữ học trình độ quốc tế, Khoa
Ngôn ngữ học, Trường Đại học KHXH&NV); Trịnh Cẩm Lan (2016) với
“Biến thể ngôn ngữ đánh dấu trong tiếng Hà Nội khu vực nông thôn” (Tạp chí
Ngôn ngữ và Đời sống, số 1, 2016) Các nghiên cứu này chủ yếu đều phác
Trang 178
thảo hiện trạng phát âm hai phụ âm /l/, /n/, lý giải hiện trạng từ góc độ ngôn ngữ và xã hội, tìm ra những nhân tố xã hội có ảnh hưởng ở những mức độ khác nhau đến hiện trạng đó
Như vậy, có thể nói, hiện trạng phát âm các biến thể của /l/ và /n/ đã được nghiên cứu ở một số cộng đồng nông thôn Bắc Bộ và bước đầu các nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra những nhận định về hiện trạng Một số nghiên cứu cũng xem xét các nhân tố xã hội ảnh hưởng đến hiện trạng này Tuy nhiên, mỗi cộng đồng nông thôn lại có những cảnh huống riêng về dân cư, xã hội, sự
cư trú, cũng có thể có những đặc điểm riêng về sự giao lưu, tiếp xúc với các cộng đồng bên ngoài, đặc điểm riêng về cảnh huống ngôn ngữ nên việc sử dụng các biến thể phát âm của /l/ và /n/ nói riêng, của các âm vị khác trong hệ
thống nói chung có thể không giống nhau Vì vậy, việc lựa chọn Khảo sát các
biến thể phát âm của /l/, /n/ (nghiên cứu trường hợp làng Đại Lộc, Yên Chính,
Ý Yên, Nam Định) ở luận văn này là góp thêm một hiện trạng từ một cộng
đồng nông thôn chưa từng được nghiên cứu cho bức tranh chung
1.2.1 Biến thể ngôn ngữ, phương ngữ, thổ ngữ với tư cách là biến thể của ngôn ngữ
1.2.1.1 Biến thể ngôn ngữ, biến thể ngôn ngữ đánh dấu
Biến thể ngôn ngữ
Cho đến nay, trong giới nghiên cứu, có rất nhiều các quan niệm khác nhau về biến thể ngôn ngữ Có quan niệm cho rằng biến thể là một loại biến dạng của hằng thể và chỉ tồn tại trong mối tương quan với hằng thể đó Tuy
Trang 189
nhiên, cách quan niệm như vậy chỉ tồn tại được trong điều kiện một ngôn ngữ
đã được xác định những biến thể chuẩn mực một cách chính thức [Dẫn theo
48] Nguyễn Văn Khang coi biến thể ngôn ngữ (variety hay variant) là một
đơn vị nghiên cứu của ngôn ngữ học xã hội, theo đó biến thể là hình thức biểu hiện của ngôn ngữ được sử dụng phổ thông trong hoàn cảnh xã hội giống nhau với đặc trưng xã hội giống nhau [11; 30]
Như vậy, cái gọi là biến thể ở đây có thể là ngôn ngữ, cũng có thể là phương ngữ hoặc thậm chí là phong cách, hay một dạng biểu hiện một đơn vị nào đó của hệ thống ngôn ngữ như một thành tố ngữ pháp, một yếu tố từ vựng hay một âm vị nào đó Chẳng hạn phương ngữ của vùng Nam Bộ cũng được coi là biến thể ngôn ngữ, cụ thể hơn, cách phát âm lệch chuẩn [n] của âm vị /l/, [l] của âm vị /n/, cách phủ định “hổng có” thay vì “không” trong phương
ngữ Nam,… đều là các biến thể
Theo Trịnh Cẩm Lan, đây là cách quan niệm có thể nói là thỏa đáng và tồn tại phổ biến trong ngôn ngữ học xã hội nhiều thập kỉ qua Tất nhiên, hai cách quan niệm trên có xu hướng xích lại gần nhau ở những ngôn ngữ mà người ta đã xác định được đâu là các biến thể chuẩn mực trong số các biến
thể [Trịnh Cẩm Lan, Sự biến đổi ngôn từ của các cộng đồng chuyển cư đến
thủ đô - Nghiên cứu trường hợp cộng đồng Nghệ Tĩnh tại Hà Nội, NXB Khoa
học xã hội, Hà Nội, 2007.] [48,16]
Cơ sở nghiên cứu của phương ngữ học xã hội là dựa trên mối tương quan nào đó giữa các biến ngôn ngữ và các biến xã hội ở một cộng đồng phương ngữ Khi nói đến các biến xã hội là chúng tôi muốn nói đến những nhân tố tạo nên tính đa dạng xã hội của ngôn ngữ, như: khu vực, địa vị xã hội, phong cách, tuổi, giới, nghề nghiệp, thành phần xuất thân, hoàn cảnh giao tiếp…
Chính sự liên quan, sự tương tác giữa những nhân tố xã hội khác nhau đó và
sự thể hiện của chúng trên các biến thể ngôn từ lại làm nên tính đa dạng của ngôn ngữ, đặc biệt là thứ ngôn ngữ sinh động mà ngôn ngữ học xã hội lấy làm đối tượng nghiên cứu [51,17]
Trang 1910
Trong luận văn này, chúng tôi muốn xem xét việc sử dụng các biến thể của /l/ và /n/ trong ngôn từ của người dân một vùng nông thôn Nam Định (cụ thể là làng Đại Lộc, xã Yên Chính, Ý Yên, Nam Định) để từ đó xem xét ảnh hưởng của sự phân bố xã hội lên những biến thể ngôn ngữ đó, cố gắng tìm ra những mối tương quan giữa các biến ngôn ngữ và các biến xã hội Bên cạnh
đó, cũng tôi cũng cố gắng điều tra thái độ ngôn ngữ của họ với các biến thể địa phương vốn đã và đang tồn tại trong cộng đồng của họ
Biến thể ngôn ngữ đánh dấu
Biến thể ngôn ngữ mang tính đánh dấu hay biến thể ngôn ngữ bị đánh dấu (marked variation) lần đầu được Nikolay Trubetzkoy (1890 – 1938), một nhà ngôn ngữ học thuộc trường phái Praha đưa ra và được ứng dụng trước hết trong âm vị học để chỉ những khác biệt lưỡng phân liên quan đến khả năng có hay không có thuộc tính x của một cặp đối lập: không có thuộc tính x – không đánh dấu (unmarked) và có thuộc tính x – bị đánh dấu (marked) [dẫn
theo 1, tr21] Chẳng hạn, các cặp doing/doin; call/calls … là những cặp đối
lập giữa không đánh dấu và đánh dấu (hay bị đánh dấu) Sau đó, khái niệm này được dùng với nghĩa rộng hơn để chỉ những khác biệt về mức độ đánh dầu nhiều hơn (more marked) hay ít hơn (less marked) Không những thế nó còn được mở rộng cả về phạm vi ứng dụng cả trong hình thái học và cú pháp học
Sau này các nhà phương ngữ học và ngôn ngữ học xã hội cũng dùng khái niệm “tính đánh dấu” trong tổ hợp “biến thể mang tính đánh dấu (marked variation)” để chỉ những biến thể khác biệt của một đơn vị ngôn ngữ nào đó (âm vị, từ, ngữ…) về mặt khu vực hay xã hội Tính đánh dấu về mặt khu vực hay xã hội của một biến thể ngôn ngữ nào đó cho ta biết biến thể đó được dùng phổ biến ở địa phương nào, bởi nhóm xã hội nào (theo giới tính, tuổi, nghề nghiệp, thành phần xuất thân…) Chẳng hạn, trong các biến thể của âm
vị /n/ có [n] – 0 được phát âm là [n] như trong “Việt Nam” và [n]-1 được phát
âm là [l] như trong “Việt Lam” thì biến thể [n]-1 được coi là biến thể bị đánh
Trang 2011
dấu Sự đánh dấu ở đây có thể về mặt khu cực hoặc xã hội Về mặt khu vực,
nó là biến thể của một số cộng đồng nông thôn châu thổ Bắc Bộ Về mặt xã hội, nó thường chỉ được dùng ở nhóm xã hội có trình độ thấp
Đây là khái niệm cơ bản mà chúng tôi sử dụng để gọi các biến thể ngữ
âm /l/, /n/ trong cộng đồng ngôn ngữ Đại Lộc Những biển thể mang đặc trưng ngữ âm địa phương sẽ được coi là những biến thể mang tính đánh dấu, những biến thể được phát âm như tiếng Việt toàn dân sẽ được coi là những biến thể không mang tính đánh dấu
1.2.1.2 Phương ngữ với tư cách là biến thể ngôn ngữ
Trong quá trình phát triển, từng ngôn ngữ cụ thể tồn tại các biến dạng khác nhau như: phương ngữ, tiếng lóng, tiếng nghề nghiệp … điều đó phản ánh quá trình phát triển đa dạng, sự hành chức phức tạp trong bất kì một ngôn ngữ nào Cũng như vậy, tiếng Việt là ngôn ngữ thống nhất, tồn tại dưới những hình thức khác nhau: ngôn ngữ văn hóa, khẩu ngữ và phương ngữ Tuy sự thống nhất là cơ bản nhưng giữa các phương ngữ vẫn tồn tại những nét khác biệt dễ nhận thấy, đặc biệt ở bình diện ngữ âm, từ vựng
Phương ngữ (dialect) còn được gọi là phương ngôn hay tiếng địa
phương Hoàng Thị Châu (1989) [6] và một số tác gỉả khác cho rằng: Phương
ngữ là biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay so với một phương ngữ khác Điểm khác biệt giữa phương ngữ với ngôn ngữ toàn dân hay giữa các
phương ngữ là rất ít còn điểm giống lại cơ bản, rất nhiều Quan niệm này được đại đa số các nhà ngôn ngữ học Việt Nam chấp nhận Bản thân luận văn của chúng tôi cũng sử dụng khái niệm về phương ngữ của Hoàng Thị Châu cho nghiên cứu của mình
Các nhà ngôn ngữ học xã hội nhìn phương ngữ từ hai góc độ, góc độ cấu trúc và góc độ chức năng Nhìn từ góc độ cấu trúc, gọi là phương ngữ của một ngôn ngữ khi phương ngữ đó có cùng hệ thống, cấu trúc với ngôn ngữ như hệ thống ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp … Còn nếu nhìn từ góc độ chức
Trang 2112
năng thì phương ngữ là một loại biến thể ngôn ngữ mà các chức năng gián tiếp chịu sự hạn chế mang tính địa phương và sự phát triển của nó chưa đạt đến mức tiêu chuẩn hóa [17, 54]
Trong luận văn này, với ý đồ nghiên cứu phương ngữ bằng các phương pháp của ngôn ngữ học xã hội, chúng tôi chấp nhận và sử dụng quan niệm của Trịnh Cẩm Lan [17] về đặc điểm chung của phương ngữ như sau:
Với tư cách là biến thể của một ngôn ngữ, phương ngữ thường được
dùng trong một phạm vi địa lý hay một phạm vi xã hội nhất định Có những phương ngữ được dùng trong phạm vi địa – xã hội
Một phương ngữ cụ thể nào đó không hoàn toàn độc lập mà phải
được xem xét trong mối quan hệ giữa bản thân nó với cái ngôn ngữ mà nó là biến thể và với cả những phương ngữ khác cùng là biến thể của ngôn ngữ chung đó
Về năng lực hành chức trong một xã hội nào đó thì chức năng của
phương ngữ bao giờ cũng hẹp hơn ngôn ngữ toàn dân Vì thế, trên cả lý thuyết và thực tế, bất cứ khi nào có một sự tiếp xúc giữa các phương ngữ xảy
ra thì phương ngữ hay những yếu tố của phương ngữ nào gần ngôn ngữ toàn dân hơn bao giờ cũng mạnh hơn và có xu hướng lấn át các phương ngữ hay những yếu tố của các phương ngữ còn lại
Liên quan đến khái niệm phương ngữ còn có khái niệm “giọng” (giọng nói) Giọng là sự nhấn mạnh khía cạnh ngữ âm, là cái riêng trong cách phát
âm địa phương nên cũng có thể gọi là “giọng địa phương” Theo nghĩa này, giọng không phải là một yếu tố ngữ âm đơn lẻ mà là tập hợp những yếu tố ngữ âm khác nhau đồng thời xuất hiện khi phát âm và đồng thời được tiếp
nhận khi giao tiếp Theo Hoàng Cao Cương (1989) [7]: “giọng địa phương là
một hệ thống phương tiện âm thanh của một ngôn ngữ được người bản địa dùng như một loại tín hiệu giao tiếp – văn hóa nhờ đó người ta không những nhận được các thông tin ngữ nghĩa, cảm xúc của một thông báo mà còn nhận
ra được xuất xứ của người thực hiện giao tiếp”
Trang 2213
1.2.1.3 Thổ ngữ
Theo tác giả Hoàng Thị Châu: Nếu ta hiểu theo khía cạnh thao tác, thổ ngữ hay phương ngữ là biến thể địa phương của ngôn ngữ gồm một chùm những nét khu biệt phương ngữ, thổ ngữ này so với phương ngữ, thổ ngữ khác, cũng như so với ngôn ngữ toàn dân Như vậy, không nhất thiết hai thổ ngữ phải khác nhau nhiều mà chỉ cần vài nét khu biệt nhỏ cũng đủ để tự khẳng định mình và khu biệt với nhau Nếu xét như vậy thì có thể nói, hầu hết
các xã miền Bắc đều có thổ ngữ riêng [6, tr232]
Một số nhà nghiên cứu khác cũng giải thích về khái niệm “thổ ngữ” như
là một biến thể của hệ thống ngôn ngữ thường tồn tại trong một phạm vi không gian hẹp (có thể là huyện, xã, thậm chí là làng…) và có những đặc trưng đặc biệt so với cái phương ngữ lớn bao quanh nó hoặc cái ngôn ngữ mà
nó biến thể Những đặc trưng này thường thể hiện ở việc phát âm mang tính
đặc thù riêng cho một địa phương nhỏ, còn gọi là thổ âm (Nguyễn Văn
Khang, 2012) và có thể có một số từ ngữ riêng, cũng có thể khác xa hơn Chẳng hạn có thể gọi Thổ ngữ Nghi Lộc (huyện, thuộc Hà Tĩnh), thổ ngữ Cổ
Nhuế (xã, thuộc Hà Nội), thổ ngữ Triều Khúc (làng, thuộc Hà Nội) [18, tr20]
Trong luận văn của mình, chúng tôi dựa theo cách hiểu trên để áp dụng nhận diện và coi cách phát âm lẫn lộn /l/, /n/ đặc trưng của cộng đồng ngôn ngữ làng Đại Lộc, Yên Chính,Ý Yên, Nam Định như một nét khu biệt riêng của chính làng này so với các làng khác trong cũng xã và các xã khác trong huyện Ý Yên
1.2.2 Một số vấn đề thái độ ngôn ngữ
1.2.2.1 Khái niệm
Thái độ ngôn ngữ (language attitude), theo Nguyễn Văn Khang (2008)
“… có thể được hiểu là sự đánh giá về giá trị và khuynh hướng hành vi của một cộng đồng hay cá nhân đối với một ngôn ngữ hoặc một hiện tượng ngôn ngữ nào đó Biết được thái độ ngôn ngữ có thể biết được cũng như dự đoán về hành vi ngôn ngữ của cá nhân hay cộng đồng Nghiên cứu thái độ ngôn ngữ
Trang 2314
có thể giúp việc lý giải những vấn đề ngôn ngữ mà cụ thể là đối với các biến thể ngôn ngữ” [12, tr 85]
Theo góc nhìn của các nhà tâm lý học xã hội, việc nghiên cứu thái độ
ngôn ngữ thường tập trung vào lý giải việc các cá nhân tham gia giao tiếp làm
gì với ngôn ngữ và nghĩ gì với ngôn ngữ?
1.2.2.2 Phân loại thái độ ngôn ngữ
Về phân loại thái độ ngôn ngữ, xu hướng chung của giới nghiên cứu là chia thái độ ngôn ngữ làm 3 loại chính:
a Thái độ trung thành ngôn ngữ
Nguyễn Văn Khang (2008) cho rằng “Đây là cái lẽ vì sao khi người ta
giao tiếp bằng ngôn ngữ của dân tộc mình thì lại cảm thấy thân thiết: giao tiếp giữa các thành viên trong gia đình, làng xóm bằng tiếng dân tộc, tiếng quê hương những câu chuyện tâm tình, trút bầu tâm sự nói chung đều bằng tiếng dân tộc, tiếng quê hương” [12]
Tuy nhiên, theo Trịnh Cẩm Lan (2007), cách lý giải trên mới chỉ xuất
phát từ một phía Từ một phía khác cũng có thể thấy rằng, ngoài cảm giác thân thiết khi dùng tiếng dân tộc, tiếng quê hương thì năng lực biểu hiện ngôn ngữ của một cá nhân và phạm vi cũng như mức độ tinh tế của thông tin truyền tải đôi khi lại trở thành yếu tố bắt buộc người ta phải dùng tiếng nói của dân tộc, của quê hương mình Vì vậy có thể nói trung thành ngôn ngữ là một thái
độ phổ biến và tất yếu” [16,tr 74]
Trung thành ngôn ngữ là thái độ dễ thấy trong các cộng đồng Những ai không trung thành trong sử dụng ngôn ngữ của chính dân tộc mình sẽ dễ bị cô lập và nhận thái độ lãnh đạm từ chính cộng đồng nơi mình sinh sống
b Thái độ tự ti ngôn ngữ
Theo Trịnh Cẩm Lan (2007), “tự ti ngôn ngữ thường xuất hiện trong sự
tiếp xúc giữa ngôn ngữ/phương ngữ số lượng người sử dụng ít, lịch sử không dài, ít ưu thế so với ngôn ngữ/phương ngữ có số lượng người sử dụng lớn, lịch sử lâu đời và có ưu thế Cũng có thể xảy ra khi có sự tiếp xúc giữa hai
Trang 2415
phương ngữ mà chủ nhân của chúng có địa vị và sự đánh giá xã hội khác nhau, một bên là không có ưu thế, tạm gọi là thấp, và bên kia có ưu thế, tạm gọi là cao” [16, tr 74]
Thái độ tự ti ngôn ngữ có liên quan đến một lý thuyết, đó là “lốt ngôn ngữ” Theo lý thuyết này, một người sử dụng ngôn ngữ dùng một ngôn ngữ
có địa vị cao hơn (chẳng hạn một biến thể ngôn ngữ có uy tín xã hội cao, một ngôn ngữ có địa vị thống trị ) thường được đánh giá là thông minh hơn, đáng tin cậy hơn, lịch lãm hơn những người có một lốt ngôn ngữ thấp kém
c Thái độ kì thị ngôn ngữ
Thái độ kì thị dễ xảy đến với những thành kiến, phân biệt vị thế của ngôn ngữ, thậm chí nhiều quốc gia trên thế giới thái độ kì thị với những ngôn ngữ có địa vị thấp còn tồn tại dưới dạng đồng hóa và cưỡng bức
1.2.2.3 Phương pháp nghiên cứu thái độ ngôn ngữ
Có rất nhiều phương pháp khác nhau để nghiên cứu thái độ ngôn ngữ song các nhà ngôn ngữ học chủ yếu sử dụng 3 phương pháp sau:
a Phương pháp dùng bảng hỏi
Phương pháp dùng bảng hỏi được áp dụng với hai loại câu hỏi đóng và
mở Câu hỏi đóng là những câu hỏi đã được thiết kế sẵn đáp án trả lời và CTV chỉ việc lựa chọn, trong khi đó câu hỏi mở CTV sẽ được thoải mái thể hiện suy nghĩ, đáp án của mình
b Phương pháp phỏng vấn trực tiếp
Sử dụng phương pháp này, người nghiên cứu sẽ trực tiếp tham gia đặt câu hỏi cho CTV về các vấn đề liên quan và ghi lại dưới dạng ghi âm hoặc viết Phương pháp này thường khách quan và có độ tin cậy cao
c Phương pháp quan sát
Với phương pháp quan sát, người nghiên cứu cố gắng để CTV không biết mình bị điều tra và âm thầm quan sát, phân tích, ghi lại thái độ của họ
Trang 2516
1.3 Cảnh huống ngôn ngữ - xã hội của địa bàn nghiên cứu
1.3.1 Đặc điểm tự nhiên và dân cƣ
Đại Lộc là một trong năm làng thuộc xã Yên Chính, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định Phía Bắc của làng Đại Lộc giáp với xã Yên Bình và được ngăn cách bởi một cánh đồng rộng lớn, một con sông nhỏ và con đường liên huyện, phía Nam giáp với xã Yên Phú, ranh giới là một cánh đồng và một con sông nhỏ, phía Đông giáp làng Minh Sơn (cũng thuộc xã Yên Chính) được ngăn cách bằng 2 cách đồng của 2 làng cùng hệ thống mương máng thủy lợi; phía Tây giáp xã Yên Phú và ranh giới ngăn cách cũng là một cánh đồng rộng Như vậy có thể thấy bao quanh làng Đại Lộc là những cánh đồng và hệ thống sông ngòi, mương, máng khiến cho khu dân cư này khá biệt lập với các khu dân cư làng khác, xã khác
Hiện nay, tổng diện tích đất của làng khoảng 1,692 km2 , được chia làm
4 đội sản xuất Các đội sản xuất trong làng sống quần cư với nhau và không
có ranh giới tách biệt rõ ràng Phần đất ở được bố trí ở giữa, bao xung quanh
là toàn bộ đất phục vụ sản xuất nông nghiệp và đồng thời cũng chính là ranh giới phân chia làng Đại lộc với các làng khác Phần diện tích đất trong làng được bọc xung quanh bởi hệ thống sông ngòi xung quanh, nên đất đai màu
mỡ, chủ yếu là đất cát thịt thích hợp với trồng cây hoa màu như: ngô, đỗ, lạc, khoai tây, khoai lang và các loại rau cho năng suất cao và là vựa hoa màu chính của toàn khu vực Ở những vùng đất trũng khác, người dân nơi đây chủ yếu là trồng lúa Ngoài ra, việc chăn nuôi gia súc, gia cầm cũng phát triển rất mạnh cũng cấp một lượng thịt lớn cho nhân dân trong xã và những vùng lân cận
Do làng Đại Lộc được bao bọc bốn xung quang bởi hệ thống sông ngòi nên trước đây, khi đường xá chưa được cải thiện, việc đi lại, giao lưu buôn bán giữa các đội sản xuất trong làng với khu vực lân cận còn gặp nhiều khó
Trang 2617
khăn Tuy nhiên, hiện nay, với hệ thống đường bộ hiện đại người dân không
còn gặp bất kì khó khăn nào khi đi lại, trao đổi với bên ngoài
Theo thống kê năm 2015, dân số toàn làng 519 nhân khẩu Dân cư trong
làng nổi tiếng là cần cù, chịu khó, ham học hỏi Ngoài nghề nông là chính,
trong những lúc nông nhàn, đàn ông trong xã đi làm thợ xây, đàn bà đi phụ
vôi vữa nên ở đây có câu “chồng vôi vợ vữa’ Bên cạnh đó, họ còn đi buôn
bán chính những sản phẩm do mình làm ra: bán rau, buôn lúa Chính những
đức tính chịu khó, cần cù mà đời sống của bà con trong làng không ngừng
được cải thiện
1.3.2 Cảnh huống ngôn ngữ - xã hội của làng Đại Lộc
Qua thời gian khảo sát, điền dã tại làng Đại Lộc, chúng tôi nhận thấy
rằng: tiếng Việt được sử dụng một cách phổ biến ở hầu hết mọi đối tượng;
không có hiện tượng sử dụng tiếng dân tộc hay tiếng nước ngoài trong giao
tiếp, sinh hoạt hằng ngày Về cơ bản, phát âm nơi đây có nhiều điểm chung
với tiếng Việt toàn dân nhưng bên cạnh đó không thể phủ nhận rằng, trong
ngôn ngữ giao tiếp của người dân Đại Lộc có những nét khác biệt điển hình
so với Tiếng Việt toàn dân Sự khác biệt rõ ràng khiến chúng ta có thể cảm
nhận được bằng thính giác Bên cạnh những khác biệt điển hình đó, trong quá
trình khảo sát, chúng tôi cũng nhận thấy một vài đặc điểm trong cách phát âm
rất đa dạng của người dân nơi đây
Như nhiều vùng khác thuộc phương ngữ Bắc, người dân nơi đây phát âm
không phân biệt /c/ và /ȶ/, /s/ và /ȿ/, /z/ và /ʐ / Theo đó, người Đại Lộc phát
âm “cây tre” là “cây che”, “hoa sen” là “hoa xen”, “gia đình” thành “da
đình”
Không nằm ngoài đặc trưng phát âm của người dân Nam Định nói
chung, trong cách phát âm của mình, người Đại Lộc cũng có những biến đổi
ngữ âm như âm /o/ thành [uo], /ɛ/ thành [iɛ] Chẳng hạn: “con bò” được
người Đại Lộc phát âm là “cuon buò”; “cho em” là “chuo iem”; “xem phim”
thành “xiem phim”
Trang 2718
Như vậy, có thể nói rằng, ở địa bàn làng Đại Lộc, Yên Chính, Ý Yên, Nam Định cũng xuất hiện những biến thể khá giống với những địa phương khác thuộc phương ngữ Bắc Bộ và tiếng địa phương Nam Định của họ Và một điều đáng quan tâm nữa ở cách phát âm của người dân Đại Lộc là sự lẫn lộn 2 phụ âm /l/ và /n/ giống như nhiều địa phương khác ở Bắc Bộ Tuy vậy, tiếng Việt người dân các huyện thị phía nam tỉnh Nam Định như thành phố Nam Định, các huyện Mỹ Lộc, Vụ Bản, Ý Yên thì tuyệt nhiên không tồn tại biến thể này Do đó, sự lẫn lộn hai phụ âm /l/ và /n/ là nét nổi bật trong cách phát âm của làng Đại Lộc khi mà ngay cả các làng, các xã xung quanh cũng
sử dụng cách phát âm /l/, /n/ chuẩn toàn dân
Sự biến đổi trong cách phát âm /l/, /n/ ở làng Đại Lộc không chỉ được sử dụng trên một phạm vi rộng mà còn rất phổ biến với nhiều đối tượng và đây
là điều thu hút sự quan tâm của chúng tôi
cụ và cơ sở để lý giải những kết quả nghiên cứu đó, chúng tôi sẽ dựa vào những khái niệm, cơ sở lý thuyết về biến thể ngôn ngữ, cách tiếp cận ngôn ngữ học xã hội trong nghiên cứu phương ngữ mà những nhà nghiên cứu ngôn ngữ trước đó đã sử dụng Bên cạnh đó, theo mục đích của luận văn, những cơ
sở lý thuyết có liên quan đến “Thái độ ngôn ngữ“ cũng giúp lý giải thái độ đối với ngôn ngữ của từng đối tượng khác nhau trong cùng cộng đồng ngôn ngữ Đại Lộc
Trang 2819
Chương II TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CÁC BIẾN THỂ PHÁT ÂM CỦA /l/ VÀ /n/
Ở LÀNG ĐẠI LỘC, YÊN CHÍNH, Ý YÊN, NAM ĐỊNH
2.1 Âm vị /l/ và /n/ trong hệ thống phụ âm đầu tiếng Việt
2.1.1 Âm vị /l/ trong hệ thống phụ âm đầu
Về phương thức cấu âm: /l/ là một âm xát, khi phát âm, lưỡi uốn cong, mặt lưỡi hạ thấp xuống, đầu lưỡi nâng lên và chạm vào ngạc trước làm không khí bị chặn lại ở lối giữa miệng, chỉ có thể thoát được ở hai khe bên Tiếng cọ xát của không khí rất yếu, dây thanh rung động tương đối, không khí thoát ra khá tự do nên tỷ lệ tiếng thanh so với tiếng động được tạo thành do sự cọ xát của không khí lớn hơn nhiều Vì những lý do đó, người ta gọi /l/ là âm vang khe bên hay còn gọi là âm vang bên
Về vị trí cấu âm: khi phát âm /l/, đầu lưỡi cong lên, chạm vào lợi trên (ngạc trước) Vì vậy đầu lưỡi – lợi là nơi cản trở luồng không khí và /l/ được coi là âm đầu lưỡi – lợi xét về vị trí cấu âm
Tóm lại, theo phương thức cấu âm và vị trí cấu âm, /l/ là âm xát, hữu thanh, vang bên, đầu lưỡi – lợi
2.1.2 Âm vị /n/ trong hệ thống phụ âm đầu
Về phương thức cấu âm: khi phát âm /n/, lưỡi con rủ xuống, đầu lưỡi bít lại ở miệng và luồng hơi phải thoát ra ngoài một phần qua hốc mũi trước khi thoát ra đằng miệng Vì vậy đặc điểm cấu âm tiêu biểu của âm này là âm mũi Tiếng động do sự phá vỡ chướng ngại vật ở đằng miệng rất nhỏ Dây thanh có
sự chấn động, do vậy mà /n/ cũng là âm vang
Về vị trí cấu âm: khi phát âm này, đầu lưỡi đặt vào chân hàm răng trên hoặc lợi Vì vậy, /n/ cũng là âm đầu lưỡi
Nhận xét
Trang 2920
Qua mô tả ở trên, dễ nhận thấy rằng /l/ và /n/ giống nhau ở chỗ chúng đều là âm vang, đầu lưỡi Hai phụ âm này chỉ khác nhau ở đặc điểm /n/ là âm mũi còn /l/ là âm vang bên
Từ đặc trưng riêng của mỗi phụ âm, chúng ta thấy rằng muốn phát âm được /n/ thì phải tạo cho luồng không khí thoát ra ngoài không phải qua miệng mà là qua mũi (đặc trưng tiêu biểu của /n/) Còn muốn phát âm /l/ thì luồng không khí không phải đi qua mũi mà phải cọ xát vào hai bên thành má tạo âm khe bên (đặc trưng tiêu biểu của /l/)
Do đặc điểm ngữ âm khá giống nhau nên trong quá trình phát âm thường
có sự nhầm lẫn Hậu quả của sự nhầm lẫn này là hiện tượng lệch chuẩn hay phi chuẩn, theo đó, âm /l/ được phát âm theo cơ chế tạo âm của /n/ và ngược lại
2.2 Tình hình sử dụng các biến thể của /l/ và /n/ tại địa phương
2.2.1 Phương pháp điều tra
Đề tài luận văn mang tính chất của một công trình nghiên cứu phương ngữ học xã hội với tư liệu từ các cuộc khảo sát trên thực địa Phương pháp xử
lý tư liệu chính được áp dụng ở đây là thống kê tần số của các biến ngôn ngữ với các biến thể của chúng được sử dụng trên thực tế, cũng như tính tương quan giữa các biến xã hội với các biến ngôn ngữ Để tìm hiểu xu hướng chuyển đổi hai phụ âm /l/, /n/ này trong cách phát âm, chúng tôi tiến hành điều tra 58 CTV thuộc các lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, trình độ văn hóa,
mô hình hôn nhân khác nhau Cách thức điều tra được tiến hành như sau:
Phần 1:
(1) Cho CTV đọc và ghi âm bảng từ, các từ trong đó có chứa các phụ âm /l/, /n/ Các phụ âm /l/, /n/ đứng ở những vị trí khác nhau Cụ thể là:
- Từ/ cụm từ hai âm tiết, trong đó âm tiết đầu có /l/, âm tiết sau có /n/ là
âm đầu như: lẩu nướng, leo núi, lợn nái,
- Từ/ cụm từ hai âm tiết, trong đó âm tiết đầu có /n/, âm tiết sau có /l/ là
âm đầu như: nón lá, nói lái, núi lớn, nộp lãi
Trang 3021
- Từ/ cụm từ hai âm tiết, trong đó cả hai đều có /l/ là âm đầu như: lũ lụt,
lê la, long lanh, lấp lánh
- Từ/ cụm từ hai âm tiết, trong đó cả hai đều có /n/ là âm đầu như: no nê,
nặng nề, nôn nao, nước nóng
- Từ/ cụm từ ba âm tiết, trong đó có cả /n/ và /l/ là âm đầu như: nói láo
lếu, leo lên nương, la làng nước
Sở dĩ, chúng tôi lại sử dụng các từ/cụm từ có /l/, /n/ với nhiều chu cảnh phát âm như vậy là để khảo sát hiện tượng lẫn lộn hay hiện tượng chuyển đổi giữa hai phụ âm /l/ và /n/ có thể xảy ra những khả năng nào, có bao nhiêu khả năng có thể xảy ra với họ? Bởi trên thực tế CTV có thể sẽ đọc theo bản năng sẵn có (đọc theo sự nhầm lẫn vốn đã mặc định trong thói quen và không thể thay đổi) hoặc cũng có thể đọc đúng /l/ nhưng không đúng /n/ và ngược lại; song cũng có thể có những CTV phát âm khi đúng khi sai nhưng khả năng chuyển đổi giữa /l/, /n/ hoặc /n/, /l/ trong từng chu cảnh không linh hoạt Do
đó, CTV chỉ có thể chỉnh sửa cẩn trọng phát âm của mình trong bảng từ khi các chu cảnh có xuất hiện chỉ /l/ hoặc /n/, nó dễ hình thành thói quen, không
cần chuyển đổi
(2) Cho CTV đọc đoạn văn bản trong đó chứa nhiều âm tiết có phụ âm đầu là /l/ và /n/ Một cách tự nhiên, các CTV đọc văn bản theo thói quen hàng ngày của mình và được chúng tôi ghi vào băng ghi âm cũng như đánh dấu trực tiếp lỗi sai vào phiếu điều tra
Các công cụ điều tra (bảng từ, đoạn văn) được thiết kế sẵn sao cho tần số xuất hiện âm vị /l/, /n/ nhiều nhất, trong đó:
- Phụ âm /l/ xuất hiện 43 lần ở bảng từ, với 58 CTV, tổng là 2494
- Phụ âm /l/ xuất hiện 27 lần ở văn bản, với 58 CTV, tổng là 1566
- Phụ âm /n/ xuất hiện 39 lần ở bảng từ, với 58 CTV, tổng là 2262
- Phụ âm /n/ xuất hiện 17 lần ở văn bản, với 58 CTV tổng là 986
Trang 3122
Phần báo cáo kết quả điều tra (2.2.2.) sẽ là những số liệu thống kê thể hiện tình hình sử dụng của 2 biến tương ứng trong cách đọc bảng từ và văn bản
Trang 3223
Phần 2:
CTV trả lời 5 câu hỏi về thái độ ngôn ngữ của họ đối với hiện tượng phát
âm lẫn lộn 2 phụ âm đầu /l/, /n/
Phần 3
Một số câu hỏi phỏng vấn sâu để từ đó thấy được những chia sẻ cụ thể
về cảm nhận cũng như thái độ của chính người trong làng nhìn nhận cách phát
âm của mình Từ phần 3, chúng tôi không chỉ được nghe cách phát âm /l/, /n/
tự nhiên nhất mà người làng Đại Lộc vẫn thường sử dụng trong giao tiếp tự nhiên mà còn được hiểu hơn về nhiều câu chuyện vui buồn, khó khăn gặp phải khi phát âm lẫn lộn /l/, /n/ của những người dân làng Đại Lộc, Yên Chính, Ý Yên, Nam Định
2.2.2 Kết quả điều tra
Các bảng 2.1, 2.2, 2.3 là những chỉ số thống kê biểu hiện tình hình sử dụng các biến thể của /l/, /n/ ở hai phong cách, cách đọc bảng từ và cách đọc văn bản
- [l]-0, [n]-0: là biến thể chuẩn của /l/, /n/
- [l]-1 và [n]-1 là biến thể đánh dấu của /l/ và /n/
Hình 2.1 dưới đây là sự thể hiện trực quan hơn tình hình sử dụng các biến thể đánh dấu của /n/ và /l/ ở cách đọc bảng từ:
Trang 34có sự thay đổi đột ngột cách phát âm phụ âm /n/ so với cách đọc bảng từ, trong khi phụ âm /l/ thì chỉ là sự giảm nhẹ Trên thực tế, theo điều tra của chúng tôi, sở dĩ xảy ra hiện tượng này phần lớn là bởi rất nhiều người dân cộng đồng ngôn ngữ Đại Lộc có thể phát âm cả hai phụ âm /l/ và /n/, song họ không có sự chuyển đổi linh hoạt Tức là khi đã sử dụng phụ âm /l/ họ sẽ theo đúng quy luật mặc định tất cả dù /n/ hay /l/ thì đều phát âm [l] giống nhau và ngược lại
Xét trong cách đọc bảng từ hay văn bản nói riêng, tất nhiên CTV khi đọc
sẽ có sự tính toán, cẩn thận hơn nhưng khi có quá nhiều các từ, cụm từ gần nhau khiến sự chuyển đổi của họ càng thêm rối ren Lỗi sai họ thường gặp
Trang 3526
phải chủ yếu ở các từ có sự thay đổi từ /n/ sang /l/ và ngược lại hoặc các cụm
từ có chứa cả /n/ và /l/ Vì vậy, đối với cách đọc văn bản, do âm /l/ có sự xuất hiện nhiều hơn (/l/ 27 lần, /n/ 17 lần) nên các CTV hầu hết có xu hướng phát
âm tất cả các từ có chứa phụ âm /l/ và /n/ đều thành [l] dẫn đến tỷ lệ phát âm phụ âm /l/ đúng nhiều hơn Tuy nhiên điều này không phải xảy ra với tất cả các CTV
Bảng 2.3 Việc sử dụng các biến thể của /l/, /n/ ở phong cách nói tự nhiên
Hình 2.3 Sự biến thiên của tình hình sử dụng các biến thể của /l/ và /n/ ở
lời nói tự nhiên
Đến lời nói tự nhiên, ngữ liệu khảo sát này cho ra kết quả khác khá nhiều
so với hai cách đọc bảng từ và đọc văn bản ở trên Tuy nhiên do những điều kiện khách quan cũng như sự thiếu tự tin của rất nhiều CTV mà chúng tôi không thể ghi âm tất cả 58 cuộc trò chuyện với CTV Đồng thời cũng có
Trang 3627
nhiều cuộc nói chuyện diễn ra rất ngắn không bao chứa nhiều các từ có sự xuất hiện phụ âm /l/, /n/ mặc dù chúng tôi cố gắng định hướng Chúng tôi cũng thu âm được một vài cuộc nói chuyện giữa những người trong làng với nhau (chúng tôi là người ngoài cuộc)
Song theo kết quả mà chúng tôi ghi âm được thì ở phong cách lời nói tự nhiên này có một sự thay đổi rất lớn Cụ thể, tỷ lệ sử dụng [l] – 1 là 84.6% và [n] – 1 cùng là 80.3%, trong khi đó tỷ lệ sử dụng [l] – 0 là 15.4% và [n] – 0 chỉ có 19.7% Đây là một sự thay đổi lớn bởi lẽ ở phong cách này, ngữ liệu chủ yếu là các cuộc nói chuyện tự nhiên được ghi âm lại nên kết quả được phản ánh thực tế hơn So với cách đọc bảng từ hay cách đọc văn bản, ngoài khả năng chuyển đổi thiếu linh hoạt trong phát âm hai phụ âm /l/, /n/, chúng tôi còn nhất thấy không ít các từ ngữ người dân nơi đây mặc định là /l/ thay vì
là /n/ và ngược lại, chẳng hạn: “mười lăm năm ” thành “mười năm năm”, “im lặng” thành “im nặng”, “lớn lên” thành “nớn nên”, “ trồng lạc” thành “trồng nạc”, “liên hoan” thành “niên hoan”, “lưu niệm” thành “nưu niệm”…
Ưu điểm của lời nói tự nhiên, theo chúng tôi, mọi thói quen giao tiếp thường ngày của các CTV đều được bộc lộ rõ ràng thay vì thận trọng, tính toán, e dè như cách đọc bảng từ hay đọc văn bản Tất cả những lời nói của người dân đều xuất phát từ thói quen phát âm vốn có Có thể một vài người khi nói chuyện với chúng tôi, đôi chỗ có để ý hơn song thói quen vẫn trở về sau một khoảng thời gian trò chuyện nhất định Điều này càng khẳng định sự ảnh hưởng của các cách đọc khác nhau đối với việc sử dụng ngôn từ là rất đáng chú ý
Nhìn từ các biểu đồ cho thấy khuynh hướng giảm dần tỷ lệ sử dụng các biến thể chuẩn khi phát âm /l/, /n/ ở làng Đại Lộc từ phong cách đọc bảng từ đến phong cách đọc văn bản Khuynh hướng này là một tất yếu Cách đọc bảng từ có sự dè dặt, tính toán nhiều nhất Cách đọc văn bản người đọc có phần thoải mái hơn, dễ khiến người ta lộ rõ nhược điểm trong phát âm /l/, /n/
Trang 37và lớn lên trong môi trường mà tất cả những người xung quanh, gia đình cũng
có sự phát âm nhầm lẫn /l/, /n/ thì thật khó có thể thay đổi Hơn nữa, không ít người không muốn thay đổi nhưng thói quen hình thành lâu đời và môi trường không tạo điều kiện Mặt khác đó còn là sự chuyển đổi thiếu linh hoạt trong tư duy người nói Họ bị ảnh hưởng bởi người cùng tham gia giao tiếp và từ ngữ giao tiếp có chứa /l/ hoặc /n/, từ nào được sử dụng nhiều hơn thì từ còn lại sẽ nhanh chóng bị thay đổi
2.3 Ảnh hưởng của các nhân tố xã hội đến tình hình sử dụng biến thể phát âm của /n/ và /l/ tại làng Đại Lộc, Yên Chính, Ý Yên, Nam Định
Mặc dù sự thu thập dữ liệu về tình hình sử dụng các biến thể của 2 phụ
âm đầu /l/, /n/ được thực hiện trên 2 dạng thức văn bản và lời nói tự nhiên, nhưng khi xem xét ảnh hưởng của các nhân tố xã hội, chúng tôi sẽ chỉ thực hiện dựa trên dữ liệu của văn bản để đảm bảo mức độ trung dung Đây thực
chất là những khảo sát sự phân tầng xã hội của các biến thể trong cộng đồng
nói năng của người dân Đại Lộc, Yên Chính, Ý Yên, Nam Định Vì vậy, chúng tôi đã xem xét ảnh hưởng của từng nhân tố bằng cách phân tích tương quan nhị biến (phân tích tương quan giữa một biến ngôn ngữ và một biến xã hội) Và để tiện cho việc quan sát, so sánh tình hình sử dụng các biến thể ở mỗi nhóm khi phân tầng, chúng tôi sẽ không thực hiện các kết quả dưới dạng tần số mà thay vào đó là các kết quả dưới dạng tỷ lệ sử dụng các biến thể Theo đó, chúng tôi sẽ xem tổng số CTV mỗi nhóm là 100% để dễ quan sát tỷ
lệ sử dụng các biến thể trong mỗi nhóm và dễ cho việc so sánh với các nhóm còn lại
Trang 38Bảng 2.4: Tương quan giữa giới tính với việc sử dụng các biến thể
Chú thích : 0 – biến thể chuẩn của /l/, /n/
1 – biến thể phi chuẩn /l/, /n/
Hình 2.4: Tương quan giới tính với việc sử dụng biến thể của /l/, /n/
Trang 3930
Kết quả phân tích cho thấy sự khác biệt trong sử dụng biến thể của hai phụ âm đầu /l/, /n/ giữa nam và nữ ở làng Đại Lộc, Yên Chính, Ý Yên là hiện hữu Trong khi nam sử dụng biến thể đánh dấu [l]-1 và [n]-1 là khoảng 36% thì nữ sử dụng biến thể đánh dấu này ít hơn, khoảng 24.2% Tuy nhiên, tỷ lệ
sử dụng cách phát âm /l/, /n/ lúc đúng lúc sai trong cộng đồng dân cư Đại Lộc lại chiếm tỷ lệ cao hơn cả Đặc biệt nữ giới phát âm /l/, /n/ lúc đúng lúc sai chiếm tới 57.6%, còn nam giới là 48% Như vậy thì nam giới ở Đại Lộc phát
âm phi chuẩn hoàn toàn nhiều hơn nữ giới khoảng 11.8%, còn nữ giới phát
âm khi đúng khi sai lại nhiều hơn nam giới khoảng 9.6%
Điều này ít nhiều chia sẻ với kết quả nghiên cứu của nhiều người đi trước như Nguyễn Thị Thanh Bình [4], Trịnh Cẩm Lan [16], Dương Thị Hồng Yên [27] Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ, người phụ nữ có xu hướng hướng tới các biến thể chuẩn mực nhiều hơn nam giới như một sự khẳng định vị thế của mình trong xã hội, đó là kết luận của nhiều nghiên cứu đi trước Cũng có thể khi nữ giới đang muốn mở cánh cửa giao lưu cho chính họ thì nam giới vẫn mang đậm tư tưởng “bảo thủ phong kiến” không muốn thay đổi nên việc nam giới có xu hướng dùng biến thể địa phương cao hơn nữ giới Chính vì vậy, người phụ nữ Đại Lộc cũng đang hướng dần tới xu thế đó
Kết quả tương quan trên cũng phản ánh khả năng thích nghi ngôn ngữ của hai giới Điều này được tìm thấy trong nghiên cứu của Fasold năm 1984
và Trudgil năm 1986 tại một số cộng đồng Anh ngữ Các nghiên cứu này cũng đã khẳng định rằng nữ giới có khả năng thích ứng rất nhanh với các hình thái ngôn ngữ có uy tín của tầng lớp cao, đặc biệt là trong những trường hợp
họ có chủ ý Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Bình (2000) về sự khác biệt trong ngôn từ của trẻ em nam và nữ ở hai cộng đồng Hà Nội và Hoài Thị cũng cho thấy kết quả trẻ em gái dùng nhiều biến thể chuẩn hơn trẻ em nam cùng tuổi và việc sử dụng này có sự tương hợp với phong cách ngôn từ của người lớn trong gia đình
Trang 4031
Cứ liệu điều tra phương ngữ của chúng tôi cũng góp phần minh họa thêm rằng: nam giới thường bảo lưu tiếng địa phương nhiều hơn nữ giới Nam thường chú trọng đến công việc làm ăn Nữ giới thường làm nhiệm vụ chăm
lo, dạy bảo con cái học tập, uốn nắn cho chúng cách ăn, nói, nề nếp sống Mặt khác, tâm lý chung của nhiều người là con gái thì phải nề nếp hơn con trai Do vậy, người lớn thường rèn cho con gái cách nói năng tế nhị, cẩn trọng hơn con trai Có thể vì những lẽ đó, trong đời sống giao tiếp hàng ngày, nữ giới vùng quê này thường hướng đến những chuẩn mực ngôn ngữ có uy tín hơn nam giới cả trong ứng xử ngôn ngữ của họ
Nói chung, nghiên cứu sự khác biệt về giới trong ứng xử ngôn từ không thể tách rời hoàn cảnh giao tiếp Hoàn cảnh giao tiếp ở đây theo nghĩa rộng chúng là hoàn cảnh xã hội; theo nghĩa hẹp là những cảnh huống giao tiếp cụ thể, các nhân tố như tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, khả năng ngoại ngữ, vấn đề hôn nhân của những người tham gia giao tiếp
2.3.2 Tuổi
Những nghiên cứu về ngôn từ ở độ tuổi cho thấy có những ứng xử ngôn
từ đặc trung thích hợp với những giai đoạn khác nhau trong cuộc đời mỗi con người Ở Việt Nam những nghiên cứu về ứng xử ngôn từ liên quan đến độ tuổi được bắt đầu qua công trình của Lương Văn Hy năm 2000 Và công trình cũng mới chỉ dừng lại ở mức khảo sát sơ lược về những khác biệt trong ứng
xử ngôn từ giữa ba thế hệ: ông bà, bố mẹ, con cháu trong một số gia đình ở
TP Hồ Chí Minh và bước đầu có một số nhận định về sự khác biệt trong cách xưng gọi và phong cách hội thoại giữa ba thế hệ (trích theo Dương Thị Hồng Yên 20120 – [tr15,28]) Sau đó là công trình nghiên cứu của Trịnh Cẩm Lan
đã đi sâu vào phân tích những ảnh hưởng của yếu tố lứa tuổi và sự khác biệt
về độ tuổi trong sự biến đổi ngôn từ của các cộng đồng chuyển cư đến thủ đô (trường hợp cộng đồng Nghệ Tĩnh ở Hà Nội) Đồng thời trong nghiên cứu của mình, tác giả Trịnh Cẩm Lan cũng phân chia tuổi theo hai phương diện: