1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống trên truyền hình hải phòng (luận văn ths báo chí và truyền thông)

148 277 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kể từ sau khi thực hiện nghị quyết trung ương V khóa 8 về “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” năm 2013 lễ hội chọi trâu Đồ Sơn được công nhận

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRẦN THỊ BÍCH LIÊN

VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG TRÊN TRUYỀN HÌNH HẢI PHÕNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC

Hà Nội - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRẦN THỊ BÍCH LIÊN

VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG TRÊN TRUYỀN HÌNH HẢI PHÕNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn này là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Trần Thị Bích Liên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đã dày công đào tạo em trong suốt thời gian qua

Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn thầy giáo: TS Đỗ Anh Đức đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo cơ quan Đài Phát thanh và Truyền hình Hải Phòng, đồng nghiệp, bạn bè và người thân đã tạo điều kiện giúp đỡ, góp

ý, động viên tác giả luận văn

Trân trọng cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 8

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12

3.1 Mục đích nghiên cứu 12

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: 12

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 13

5 Phương pháp nghiên cứu: 13

5.1 Phương pháp luận: 13

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể: 14

6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 16

6.1 Ý nghĩa lý luận: 16

6.2 Ý nghĩa thực tiễn 16

7 Kết cấu luận văn 17

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ DI SẢN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ TRONG “BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG’ 18

1 Các khái niệm cơ bản 18

1.1 Khái niệm Di sản văn hóa và Di sản văn hóa truyền thống 18

1.2 Tổng quan về hệ thống di sản văn hóa ở Hải Phòng 24

1.3 Vai trò của báo chí với việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống 28

TIỂU KẾT CHƯƠNG I 35

Chương 2: THỰC TRẠNG THÔNG TIN TRÊN SÓNG THP CỦA ĐÀI PT&TH HẢI PHÒNG VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG 36

2.1 Vài nét về Đài PT &TH Hải Phòng 36

Trang 6

2.2 Toàn cảnh di sản văn hóa truyền thống địa phương được phản ánh qua sóng THP của Đài PT&TH Hải Phòng 39 2.3 Thực trạng phản ánh trong « bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống » trên sóng THP trong thời gian khảo sát 45 2.4 Nhận xét, đánh giá hạn chế của chương trình KGVH trên sóng THP trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống thông qua phỏng vấn nhóm

và phỏng vấn sâu 63 2.5 Nguyên nhân của hạn chế 75 TIỂU KẾT CHƯƠNG II 79 Chương 3: GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ TUYÊN TRUYỀN CỦA ĐÀI PT&TH HẢI PHÒNG TRONG VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG ĐỊA PHƯƠNG 81 3.1 Một số bài học kinh nghiệm cần rút ra trong công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống của Hải Phòng 81 3.2 Những vấn đề đặt ra đối với công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống của Hải Phòng 85 3.3 Một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Truyền hình Hải Phòng trong công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống 90 TIỂU KẾT CHƯƠNG III 110

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 114

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

VHTT&DL : Văn hóa Thể thao và Du lịch

VHXH : Văn hóa xã hội

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG

Bảng 1: Mức độ thích đối với chương trình Không gian văn hóa

Bảng 2: Mức độ quan tâm của công chúng đối với các chương trình KGVH Bảng 3: Đánh giá của công chúng về chất lượng nội dung các chương trình KGVH

Bảng 4: : Đánh giá của công chúng về chất lượng hình thức các chương trình, KGVH

Bảng 5: Mức độ tương tác của công chúng với chương trình KGVH

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hải Phòng là vùng đất cổ, con người sinh sống từ lâu đời và là vùng đất lấn biển qua nhiều thế kỷ với lớp lớp cư dân khác nhau ở khắp nơi về sinh sống Sự hình thành và phát triển của Hải Phòng gắn liền với các chứng tích của người tiền sử ở di tích khảo cổ Cái Bèo trên đảo Cát Bà với niên đại cách ngày nay từ khoảng 7000 đến 4000 năm, con người đã sống ở đây, săn bắt và đánh cá

Các chứng tích của con người ở di chỉ khảo cổ học Tràng Kênh huyện Thủy Nguyên, núi Voi huyện An Lão cách ngày nay từ khoảng 3000 đến 2000 năm Các bộ lạc sinh sống trên mảnh đất này còn là cư dân nông nghiệp trồng lúa, qua các hiện vật tìm thấy ở Việt Khê là một trong năm mộ đóng hình thuyền ở Việt Khê có 107 hiện vật, trong đó có 93 hiện vật đồng gồm công cụ sản xuất, vũ khí, nhạc khí

Lịch sử Hải Phòng gắn liền tên tuổi của nữ tướng Lê Chân - người lập trang An Biên vào đầu công nguyên, cái nôi hình thành nên đô thị Hải Phòng ngày nay Khu vực nội thành Hải Phòng cũng là một quá trình chuyển đổi từ vùng đất nằm giữa kênh rạch tạo thành xóm làng rồi trở thành thành phố

Quá trình hội tụ cư dân từ khắp nơi cũng là quá trình hội tụ văn hóa Những nét đặc sắc của văn hóa nhiều miền đã hòa trộn đan xen với nhau tạo nên sắc thái riêng biệt về truyền thống văn hóa phong phú và đa dạng của Hải Phòng Hải Phòng có hệ thống di tích nhiều về số lượng, phong phú đa dạng về loại hình di tích cũng như đa dạng về tín ngưỡng ẩn chứa trong di tích Vùng đất

có đầy đủ bậc nhất cả nước về loại hình di tích mà Luật di sản văn hóa đã phân

ra các loại hình di tích bao gồm: Di tích khảo cổ; di tích lịch sử; di tích kiến trúc nghệ thuật; di tích danh thắng Ở mỗi loại hình di tích của Hải Phòng đều có những di tích tiêu biểu mang đặc trưng nhất của thời kỳ mà nó sinh ra và tồn tại Cho đến nay, các di tích là những minh chứng về đời sống tinh thần, nhu cầu hưởng thụ, sáng tạo nghệ thuật cũng như tinh thần yêu nước, ý chí quật cường

Trang 10

trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm của cha ông trong lịch sử, văn hóa dân tộc Việt Nam

Các làng xã Hải Phòng xưa đều có chùa, đình, đền, miếu… có đền thờ bà Liễu Hạnh ở Thượng Đoạn quận Hải An, có văn chỉ thờ Khổng Tử, vậy là có đủ

cả phật giáo, nho giáo, đạo giáo, thờ mẫu lại hòa trộn với tín ngưỡng dân gian, trong đó có tín ngưỡng thờ thành hoàng Nơi đây cũng còn bảo tồn được nhiều loại hình nghệ thuật văn hóa dân gian Huyện Vĩnh Bảo là quê hương của môn nghệ thuật múa rối nước, rối cạn, rối đèn (đèn kéo quân), thả đèn trời, thi pháo đất Xã Phục Lễ, Phả Lễ huyện Thủy Nguyên có hội xuân hát Đúm Đồ Sơn có hội chọi trâu Kiến Thụy có hội vật cầu, rước lợn ông bồ; hội Minh Thề, huyện Tiên Lãng Cát Hải, An Dương có hội vật, đua thuyền… Đến nay những lễ hội mang đậm chất dân tộc vẫn được duy trì và phát triển, thu hút sự quan tâm của người dân địa phương và du khách thập phương

Kể từ sau khi thực hiện nghị quyết trung ương V (khóa 8) về “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” năm 2013 lễ hội chọi trâu Đồ Sơn được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia-một trong 15 lễ hội lớn nhất của cả nước, quần đảo Cát bà được công nhận là di tích Danh lam thắng cảnh đặc biệt cấp quốc gia, năm 2015 Khu Di tích Đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tại xã Lý học huyện Vĩnh Bảo Hải Phòng được xếp hạng DTLSVH đặc biệt cấp quốc gia, năm 2016 lễ hội Nữ tướng Lê Chân được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, Nhà hát lớn thành phố được công nhận công trình kiến trúc nghệ thuật quốc gia …

Đài Phát thanh & truyền hình ( PT – TH ) Hải Phòng là cơ quan báo chí lớn của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương phải đảm nhiệm vai trò là cầu nối thông tin, truyền tải các giá trị văn hóa của địa phương đến công chúng trong và ngoài nước Những nét đẹp văn hóa, những truyền thống nhân văn có giá trị của thành phố Hoa phượng đỏ cần được truyền bá, lưu giữ và phát huy Tuy nhiên, có thể thấy rằng, sự hiểu biết của du khách, thậm chí của cả người dân địa phương về Hải Phòng phần nhiều chỉ dừng lại ở quần thể danh

Trang 11

lam thắng cảnh biển, những khu nghỉ mát bao gồm Biển Đồ Sơn, Đảo Cát Bà…trong khi đó kiến thức và hình ảnh về di sản văn hóa vật thể: hệ thống di tích LSVH bao gồm đình, chùa, miếu…và di sản văn hóa phi vật thể: các lễ hội văn hóa, các trò chơi dân gian, ẩm thực, làng nghề….vẫn chưa thực sự nhiều và đầy đủ Hiểu biết và yêu thích là một trong những nền tảng cơ bản để bào tồn và phát huy, chính vì vậy, để bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống của địa phương cần sự góp sức rất lớn của các phương tiện truyền thông đại chúng, trong đó báo chí đóng vai trò quan trọng nhất trong việc tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu, cũng như phân tích, phê bình để công chúng có thể nắm bắt được cái hay, cái đẹp, cái đáng quý cần được lưu giữ

Những năm qua, trên sóng THP của Đài Phát thanh và Truyền hình Hải Phòng (PTTH) đã có khá nhiều các chuyên mục, bài viết… liên quan đến vấn

đề bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa truyền thống Thế nhưng, với

sự phát triển đa dạng của các chương trình giải trí, cũng như nhịp sống đô thị với nhiều mối quan tâm như hiện nay, số lượng và chất lượng các bài viết cũng như các chuyên mục đó đã đủ để thu hút và tác động đến nhận thức của người dân đặc biệt là những bạn trẻ - thế hệ tương lai, những người sẽ nối tiếp việc lưu giữ

và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của quê hương hay chưa? Đó là câu hỏi, cũng như băn khoăn của những người làm văn hóa, du lịch và cả những người làm truyền thông, bởi lẽ nếu không làm tốt và có hiệu quả công tác này, các giá trị di sản văn hóa truyền thống của Hải Phòng sẽ có nguy cơ mai một dần, thậm chí biến mất trong dòng chảy của nền kinh tế thị trường và sự thờ ơ của người dân với văn hóa và truyền thống

Nhằm phát huy vai trò của báo chí địa phương trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống, đề ra những kiến nghị, giải pháp để công tác này ngày càng đạt hiệu quả cao, đưa những giá trị này đến gần hơn với công chúng để từ đó sẽ ngày càng có nhiều giá trị văn hóa truyền thống được ghi nhận và

đánh giá cao, đó là lý do tôi lựa chọn “ Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa

truyền thống trên truyền hình Hải Phòng” để làm đề tài luận văn của mình

Trang 12

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Việt Nam là một đất nước có lịch sử 4000 năm xây dựng và phát triển đã

để lại nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trên các vùng miền Tổ Quốc

Đã có rất nhiều công trình, sách nghiên cứu về di sản văn hóa, công tác bảo tồn

và phát triển di sản văn hóa

Trong cuốn “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” [25], các tác giả xuất phát từ sự tiếp cận văn hóa, các yếu tố cấu thành nền văn hóa, những tiền đề lý luận và thực tiễn hoạt động văn hóa hơn nửa thế kỷ qua do Đảng ta lãnh đạo, đã phản ánh rõ những nét chính yếu về tính tiên tiến của nền văn hóa mà nhân dân ta đang xây dựng, về bản sắc văn hóa dân tộc Qua hoạt động thực tiễn và tham khảo kinh nghiệm xử lý vấn đề văn hóa ở một số nước trên thế giới, cuốn sách ghi nhận rõ nét về thực trạng văn hóa Việt Nam, đề xuất một số giải pháp và kiến nghị để xây dựng nền văn hóa Việt Nam đáp ứng yêu cầu của tình hình mới Từ đó, đưa ra những định hướng chiến lược cơ bản cho sự nghiệp xây dựng nền văn hóa “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, để trở thành nền tảng tinh thần xã hội trên con đường thực hiện mục tiêu: “Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” –

Cuốn“Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng, phát triển văn hóa Việt Nam” [28] là kết quả nghiên cứu của hai tác giả tổng hợp qua các bài viết được đăng tải trên các tạp chí về lý luận và thực tiễn xây dựng, phát triển văn hóa Việt Nam trong quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế dưới sự chỉ đạo của Đảng: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm nhuần vào toàn bộ đời sống

xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”

Chu Thái Thành trong bài “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc”

[43] khẳng định từ xưa đến nay, bản sắc văn hóa dân tộc đã làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng đồng người Việt Nam vượt qua biết bao thử thách khắc

Trang 13

nghiệt của lịch sử để không ngừng phát triển và lớn mạnh Nhận thức được tầm quan trọng đó, Đảng ta đã ra nhiều chỉ thị, nghị quyết nhằm động viên tối đa nguồn lực nội sinh và ngoại sinh để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con người trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế

Tác giả Ngô Phương Thảo trong bài “Bảo vệ di sản, cuộc chiến từ những

góc nhìn” [44] đã đề cập trực tiếp đến vấn đề bảo vệ di sản văn hóa hiện nay

Theo tác giả thì “Mỗi ngày, di sản văn hóa càng đối mặt với nhiều nguy cơ, xuất

phát từ những hệ lụy của cuộc sống hiện đại Cũng mỗi ngày, ý thức về trách nhiệm phải gìn giữ các giá trị văn hoá đã tồn tại với thời gian càng lan toả sâu rộng trong toàn xã hội, trong mỗi cộng đồng để dẫn tới những chương trình dự

án ngày càng có hiệu quả hơn trong việc gìn giữ các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể”

Riêng với mảng đề tài báo chí với công tác bảo tồn và phát triển di sản văn hóa cũng đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu Với các tên gọi khác nhau, rất nhiều luận văn, khóa luận của sinh viên ngành báo chí cũng đã tiếp cận đề tài này theo từng mảng khác nhau với các mức độ khác nhau Đa dạng nhất là các công trình khảo sát và nghiên cứu về vai trò và tác động của báo chí với công tác phản ánh văn hóa làng xã, lễ hội truyền thống,…Đáng kể có các công trình sau:

Khóa luận Việc bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc trên báo chí

Việt Nam thời kỳ đổi mới ( báo Văn hóa, Sài Gòn giải phóng 93 – 96) năm 1996

của sinh viên Nguyễn Nguyên Vũ do TSKH Đoàn Hương hướng dẫn; Khóa luận

Báo chí với công tác bảo tồn và phát triển dân ca quan họ của sinh viên Vũ Thị

Thu Thêm năm 1995 do PGS.TS Đinh Văn Hường hướng dẫn; Khóa luận Báo

chí trong việc tuyên truyền và phát triển các giá trị văn hóa dân tộc của sinh

viên Nguyễn Hồng Giang năm 1995 do TSKH Đoàn Hương hướng dẫn; Khóa

luận Báo chí với nghệ thuật sân khấu của sinh viên Nguyễn Thục Hạnh năm

1995 do GS.TS Đỗ Quang Hưng hướng dẫn; Khóa luận Báo chí với vấn đề bảo

tồn văn hóa dân tộc của sinh viên Đào Kim Anh năm 1996 do PGS.TS Đinh

Trang 14

Văn Hường hướng dẫn; Khóa luận Lễ hội truyền thống Việt Nam phản ánh trên

báo chí của sinh viên Trần Ngọc Dung năm 1998 do TSKH Đoàn Hương hướng

dẫn ; Khóa luận Báo chí với vấn đề giới thiệu và giữ gìn các giá trị văn hóa lễ

hội của sinh viên Lê Ngọc Hà năm 1998 do GS Hà Minh Đức hướng dẫn; Khóa

luận Báo chí với nghệ thuật truyền thống dân tộc của sinh viên Trần Thị Liễu năm 2001 do TS Hồ Xuân Sơn hướng dẫn; Khóa luận Báo chí với vấn đề bảo

tồn và phát huy bản sắc văn hóa phi vật thể ở Hà Nội năm 2002 của sinh viên

Nguyễn Thị Lan Hương do Th.s Nguyễn Sơn Minh hướng dẫn; luận văn Báo

chí Thừa Thiên Huế với công tác bảo tồn và phát triển di sản văn hóa Huế của

thạc sĩ Trần Văn Thiện năm 2002 do PGS.TS Đinh Văn Hường hướng dẫn; luận

văn Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam trên

Báo chí của thạc sĩ Lê Vũ Điệp năm 2007 do GS Hà Minh Đức hướng dẫn…

Ở Hải Phòng, cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về văn hóa, bảo tồn di sản văn hóa truyền thống Năm 2006, Sở Văn hóa, Thể thao và Du

lịch triển khai đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố: Nghiên cứu và đề xuất

giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng làng văn hóa ở Hải Phòng do CN Lê

Tất Vinh làm chủ nhiệm Đề tài tiến hành khảo nghiệm làng văn hóa, hệ thống các văn bản tài liệu từ những văn bản do thành phố ban hành có liên quan đến công tác xây dựng làng văn hóa; kinh nghiệm xây dựng làng văn hóa ở một số địa phương; đồng thời xác định những điểm khoa học cơ bản đối với công tác xây dựng làng văn hóa ở Hải Phòng

Năm 2009, Chương trình nghiên cứu khoa học phục vụ triển khai Nghị quyết Đại hội XIII Đảng bộ thành phố đã triển khai nhiều chuyên đề, trong đó Chuyên đề 8: Nghiên cứu đề xuất chủ trương, giải pháp chủ yếu xây dựng và phát triển văn hoá đến năm 2010 và 2020 để văn hoá thật sự là nền tảng tinh thần xã hội là công trình nghiên cứu các giải pháp về việc xây dựng và phát triển văn hóa Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Chuyên đề đã

đề cập đến việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống nhưng mới chỉ nghiên cứu việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa vật thể, đặc biệt là

Trang 15

bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử - văn hóa Năm 2011, Trung tâm Khoa

học xã hội và nhân văn Hải Phòng tiến hành nghiên cứu đề tài: Điều tra xã hội

học về văn hoá - xã hội nông thôn Hải Phòng Đề xuất một số giải pháp chủ yếu phát triển văn hoá - xã hội, góp phần xây dựng mô hình nông thôn mới ở thành phố Hải Phòng

Xuất phát từ việc đánh giá ưu điểm và hạn chế của các công trình trên, tác giả sẽ có tham khảo, kế thừa và vận dụng những điểm cần thiết của các công

trình trước đó, nhưng xin được nêu ra những nét mới của luận văn “ Vấn đề bảo

tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống trên truyền hình Hải Phòng” như

Thứ ba, luận văn sẽ thống kê và đánh giá một cách cụ thể khách quan những ưu điểm và hạn chế của Đài PT&TH Hải Phòng trong công tác tuyên truyền nhằm bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống Từ đó đưa ra những kiến nghị và giải pháp phù hợp với tình hình địa phương để nâng cao vai trò của báo chí địa phương trong công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống

Thứ tư, luận văn có sử dụng phương pháp phỏng vấn nhóm và phỏng vấn sâu để lấy ý kiến của công chúng và các chuyên gia để đánh giá vai trò của Đài PTTH Hải Phòng trong công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống, từ đó cũng cùng tìm ra các giải pháp phù hợp, đáp ứng đầy đủ nhất nhu

Trang 16

cầu thông tin và giải trí của công chúng Phương pháp phỏng vấn nhóm chi theo đội tuổi, công việc và nơi cư trú là phương pháp hết sức cần thiết, bởi công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc không chỉ là việc riêng của một

cơ quan, tổ chức nào mà là vấn đề cần sự chung tay góp sức của cả cộng đồng

và xã hội

Bên cạnh đó, do đề tài chỉ tập trung vào khảo sát công tác tuyên truyền về

di sản văn hóa truyền thống của địa phương từ góc nhìn báo chí nên sẽ đưa ra được những góc nhìn khác hơn, cung cấp những kiến thức mới hơn, phong phú hơn về hệ thống những di sản văn hóa truyến thống cho những người yêu thích

và quan tâm đến văn hóa địa phương Đề tài cũng sẽ giới thiệu tổng quan về Đài PT&TH Hải Phòng, cách thức tuyên truyền thông qua những chương trình chuyên đề văn hóa, góp một phần nhỏ vào kiến thức về hệ thống báo chí địa phương của Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn sẽ phản ánh thực trạng, đưa ra những đánh giá, nhận xét về ưu và nhược điểm trong công tác tuyên truyền của Đài PT&TH Hải Phòng trong việc thực hiện chức năng của mình để bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa truyền thống của Hải Phòng Đồng thời đưa ra những kiến nghị và giải pháp để tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả của Đài PT&TH Hải Phòng trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa truyền thống của địa phương trong các giai đoạn tiếp theo

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt được mục đích trên đây, đề tài chú trọng thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Tìm hiểu hệ thống di sản văn hóa truyền thống đặc trưng của Hải Phòng

- Nghiên cứu về vai trò của báo chí trong truyền thông, làm thay đổi nhận thức của công chúng đối với việc giữ gìn và phát huy những giá trị di sản văn hóa truyền thống trong bối cảnh toàn cầu hóa, lấy dẫn chứng ở Đài PT- TH Hải

Trang 17

Phòng thông qua khảo sát, phân tích thực trạng phát sóng các chương trình

“không gian văn hóa” (KGVH) hiện nay

- Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chương trình” không gian văn hóa” hướng tới mục tiêu “bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống”

trên truyền hình Hải Phòng Luận văn nêu lên những kiến nghị, giải pháp nhằm

nâng cao chất lượng và hiệu quả của báo chí địa phương trong công tác này để đem lại những lợi ích thiết thực cho thành phố Hải Phòng trong việc quảng bá và thúc đẩy ngành du lịch phát triển, bên cạnh đó lưu giữ và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của địa phương, đất nước trong thời kì hội nhập và phát triển hiện nay

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống trên Truyền hình Hải Phòng

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các chương trình “Không gian văn hóa “ phát trên kênh THP Đài PT&TH Hải Phòng trong 2 năm 2015-2016

Đề tài không đi sâu vào nghiên cứu và tìm hiểu di sản văn hóa truyền thống của Hải Phòng mà tập trung vào công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống thông qua kênh truyền hình Hải Phòng

Trong quá trình thực hiện, tác giả cũng sẽ tham khảo các Báo và Đài PT –

TH khác để so sánh và có cái nhìn xâu chuỗi, toàn diện hơn

5 Phương pháp nghiên cứu:

5.1 Phương pháp luận:

Đề tài được thực hiện trên nền tảng khoa học lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng và vận dụng các quan điểm của Đảng, Nhà nước về “Bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa” và vai trò của báo chí nói chung, truyền hình nói riêng về công tác này

Trang 18

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

5.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

Thông qua việc tìm kiếm và tập hợp tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau bao gồm các tác phẩm như: ”Cơ sở văn hóa Việt Nam”( Trần Ngọc Thêm);”Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam”(Phan Huy Lê);”Đề án hoàn thiện cơ chế, chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phục vụ phát triển du lịch tại Hải Phòng”(Sở Văn hóa, Thể thao-Du lịch Hải Phòng); “Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Hải Phòng trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước”(T.S Hoàng Văn Kể-số 1(22) 2008-Lý luận chung-Tạp chí Di sản văn hóa); Đề án”Điều tra xã hội học về văn hóa-xã hội nông thôn Hải Phòng”(Trung tâm Khoa học Xã hội & Nhân văn thành phố Hải Phòng) , tác giả có số liệu tập hợp, nhằm làm rõ cơ sở lý luận về di sản văn hóa truyền thống, khắc họa bức tranh toàn cảnh về di sản văn hóa của địa phương mà đề tài cần đi sâu nghiên cứu

5.2.2 Phương pháp phân tích nội dung:

- Bằng việc đi sâu vào phân tích nội dung chương trình “không gian văn hóa” thông qua quy trình sản xuất tác phẩm, tác giả coi đây là phương pháp chính của luận văn nhằm khảo sát, phân tích, đánh giá nội dung của chương trình trong vòng 2 năm (từ tháng 1/2015-12/2016) Tiến hành mổ xẻ, phân tích từng khâu cụ thể trong quy trình sản xuất tác phẩm, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nội dung tác phẩm như: thể loại, ngôn ngữ hình ảnh, ngôn ngữ văn học, nghệ thuật ánh sáng, âm nhạc, lời bình, chất lượng câu hỏi tọa đàm…Cách thức trên giúp tác giả hoàn thành nhiệm vụ phân tích nội dung, đi sâu vào khảo sát cụ thể chương trình trong vòng 2 năm trở lại đây, các chương trình “Không gian văn hóa” đã tập trung phản ánh ra sao tới các vấn đề liên quan đến di sản văn hóa truyền thống của địa phương, tác động thế nào tới công chúng nhằm đạt được mục tiêu “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống” tại Hải Phòng

Trang 19

5.2.3 Phương pháp so sánh

Sử dụng để làm nổi bật những nét mới trong mô hình truyền thông văn hóa trên sóng THP hiện nay so với trước đây, so sánh chương trình “Không gian văn hóa” của Ban chuyên đề VHXH với chương trình “Hành trình di sản” của kênh VTV (Là những chương trình có nội dung tương đồng và cách thức thể hiện khác nhau…)

-Chọn ra 5 cá nhân tiêu biểu chia làm 2 nhóm;

*Nhóm 1; người đang trực tiếp tham gia làm chương trình Không gian văn hóa tại Đài PT&TH Hải Phòng (Biên tập viên, Phóng viên quay phim, Kỹ thuật dựng)

*Nhóm 2: Chuyên gia nghiên cứu, Lãnh đạo cơ quan báo chí ( 1 chuyên gia công tác trong lĩnh vực văn hóa, Lãnh đạo phụ trách khối nội dung của Đài PT&TH Hải Phòng)

Sau khi áp dụng những phương pháp trên, tác giả đã thiết kế nhóm bao gồm đầy đủ các thành phần: Lãnh đạo Ban chuyên đề VHXH, Biên tập viên, phóng viên quay phim, kỹ thuật viên hậu kỳ, người dẫn chương trình Sau khi thu thập, thống kê cũng như kết thúc việc phỏng vấn nhóm, phỏng vấn sâu, tác giả đã làm việc cùng với nhóm trên để phân tích, đưa ra những ưu điểm và hạn chế cơ bản của chương trình “Không gian văn hóa” phát trên sóng THP của Đài PT&TH Hải Phòng trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống địa phương Từ đó, nhóm cùng nhau thảo luận và đưa ra những kiến nghị và giải pháp tối ưu nhất để nâng cao chất lượng các chương trình giao lưu, chuyên đề, chuyên mục trên Đài PT & TH Hải Phòng để có thể làm tốt hơn nữa công tác

bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống trên sóng truyền hình

Trang 20

6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận:

Không phải đến bây giờ báo chí mới tham gia truyền thông để “Bảo tồn

và phát huy di sản văn hóa truyền thống” song để đáp ứng nhu cầu công chúng thì rất cần có những công trình nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để đúc rút ra thành

lý luận Những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là những tài liệu tham khảo hữu ích, nói rõ về vai trò của báo chí, đặc biệt là ngành truyền hình trong công tác này, làm phong phú thêm hệ thống lý luận về vai trò của báo chí, truyền hình trong “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống”

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Những kiến nghị, đề xuất qua quá trình nghiên cứu sẽ cung cấp cho các cấp, ngành quản lý tại địa phương những giải pháp hữu hiệu góp phần phát huy tốt vai trò của báo chí, truyền thông trong việc “bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống”

Đây sẽ là tài liệu tham khảo cho việc đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo, phóng viên báo chí, những người tâm huyết với văn hóa, truyền thống văn hóa của địa phương, muốn chung tay bảo vệ những di sản văn hóa cho các thế hệ mai sau

Tài liệu cũng là một kênh thông tin hữu hiệu để chính những người làm báo, đội ngũ phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên…soi lại mình trong quá trình tác nghiệp, sản xuất, hoàn thiện tác phẩm, để ngày càng có những chương trình tốt hơn nữa trong lĩnh vực văn hóa phục vụ công chúng Đây cũng là một cầu nối hữu hiệu, phản ánh những thông tin từ khán giả, người xem truyền hình đóng góp để chương trình “không gian văn hóa” nói riêng, truyền thông về văn hóa trên sóng THP đáp ứng mục tiêu”bảo tồn phát huy di sản văn hóa truyền thống “ tại địa phương theo đường lối lãnh đạo của Đảng, chủ trương chính sách của Nhà nước

Trang 21

7 Kết cấu luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn có

Nội dung của luận văn sẽ được trình bày theo thứ tự các chương nói trên

Trang 22

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ DI SẢN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ VAI TRÕ CỦA BÁO CHÍ TRONG “BẢO TỒN VÀ

PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG’

1 Các khái niệm cơ bản

1.1 Khái niệm Di sản văn hóa và Di sản văn hóa truyền thống

1.1.1 Di sản văn hóa

Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, có rất nhiều quan niệm và định nghĩa về văn hóa và di sản văn hóa Theo tác giả Nguyễn Hữu Đang trong

bài Định nghĩa về văn hóa “ Danh từ “ Văn hóa” chúng ta đã mượn ở tiếng Tàu

– Người Tầu lấy hai chữ này ở sách cổ_ bộ Kinh Dịch_ để phô diễn một khái niệm mới của Khoa học hiện đại Cho nên xét theo từ nguyên thì chữ Văn hóa không ngụ được cái ý nghĩa cơ bản là giồng giọt, cầy cấy trong chữ “cultus” của tiếng La- tinh ( tiếng Pháp: culture, tiếng Anh: cultures, tiếng Đức: kultur) Vậy muốn có ý nghĩa xác đáng ta phải công nhận cho chữ “Văn hóa” hiện thời một nghĩa mới nguồn gốc tự Tây Phương” [36, tr 17-19]

Đào Duy Anh trong cuốn Việt Nam văn hóa sử cương đã viết ngay ở bài Tựa của cuốn sách “Theo giới thuyết của Felix Sartiaux thì Văn hóa về phương

diện động là cuộc phát triển tiến bộ mà không ngừng của những tác dụng ấy tuy liên lạc mà vẫn riêng nhau Về phương diện tĩnh thì văn hóa là trạng thái tiến

bộ của những tác dụng ấy ở một thời gian nhất định và tất cả các tính chất mà những tác dụng ấy bầy ra ở xã hội loài người “ [1, tr10]

Tiếp đó trong Thiên Thứ Nhất, phần Tự luận, học giả Đào Duy Anh đã đặt

ngay câu hỏi “Văn hóa là gì?” và ông kết luận : “ Văn hóa chẳng qua là chỉ

chung tất cả các phương tiện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: Văn hóa tức là sinh hoạt” [1, tr 13]

Giáo sư Trần Quốc Vượng đưa ra ý kiến của mình xoay quanh khái niệm

văn hóa và di sản văn hóa Ông cho rằng: Văn hóa là do con người sáng tạo, có

từ thủa bình minh của loài người Khái niệm này được thay đổi theo thời gian trong quá trình sử dụng Giáo sư Trần Quốc Vượng đã chọn đưa ra nhận định

Trang 23

của UNESCO: “ Văn hóa không phải là một lĩnh vực riêng biệt Văn hóa là tổng thể nói chung những giá tị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra Văn hóa là chìa khóa của sự phát triển” [52, tr 72]

GS.TSKH Trần Ngọc Thêm lại định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa là

một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội “[45, Tr10]

Phan Ngọc: “ Không có cái vật gì gọi là văn hóa cả và ngược lại bất kì vật

gì cũng có cái mặt văn hóa Văn hóa là mối quan hệ Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với tộc người khác, cá nhân khác Nét khác biệt giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa khác nhau là độ khúc xạ Tất cả mọi cái mà tộc người tiếp thu hay sáng tạo đều có một độ khúc xạ riêng, có mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc

xạ ở một tộc người khác” [32,tr 19-20]

Như vậy, có thể đưa ra định nghĩa cơ bản về Di sản văn hóa như sau : Di

sản văn hóa là những sản phẩm vật chất và tinh thần do con người tạo ra và được sử dụng phục vụ cho đời sống của con người, từ đó hình thành ,khẳng định các giá trị của chúng về lịch sử, văn hóa, khoa học…

Dựa theo quan điểm của UNESCO, Di sản văn hóa được phân thành hai loại: Di sản văn hóa Vật thể và di sản văn hóa phi vật thể

Di sản văn hóa vật thể: bao gồm những vật thể ( hữu hình – Tangible) có

giá trị đặc biệt về các mặt văn hóa, lịch sử và tự nhiên, do một cộng đồng văn hóa – xã hội nào đó tạo ra Đó là những di vật, di tích như đền đài, cung điện, chùa chiền, lăng mộ, những hiện vật bảo tàng, thư tịch, tài liệu lưu trữ, mẫu vật

tự nhiên, thắng cảnh thiên nhiên, và những hiện vật quý hiếm khác

Di sản văn hóa phi vật thể bao gồm những sản phẩm phi hình thể ( vô hình

– intangible) có giá trị đặc biệt về các mặt văn hóa, lịch sử do một công đồng văn hóa xã hội nào đó tạo ra Nó được lưu truyền và biến tấu theo các phương

Trang 24

thức truyền khẩu, mô phỏng và bắt chước Thuộc về di sản văn hóa phi vật thể, bao gồm có các loại hình văn nghệ dân gian ( âm nhạc, ca múa, sân khấu, truyện

kể, huyền thoại, tạp kỹ…), lễ hội, phong tục tập quán, nghệ thuật chữa bệnh dân gian, nghệ thuật nấu ăn, bí quyết trong sản xuất đồ mỹ nghệ các nghệ nhân, danh nhân văn hóa

1.1.2 Di sản văn hóa truyền thống

Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, mỗi quốc gia đều dần hình thành nên những giá trị truyền thống riêng, thể hiện bản sắc, cốt cách của dân tộc mình Việt Nam vốn được coi là mảnh đất giàu truyền thống lịch sử - văn hóa, đó là truyền thống yêu nước, đoàn kết, tương thân tương ái; truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo; truyền thống uống nước nhớ nguồn; các phong tục tập quán, lễ hội truyền thống Qua mọi thời đại, những truyền thống ấy không hề bị phai nhạt mà ngày càng được bổ sung và phát triển, đồng thời đó cũng chính là tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam, luôn luôn cần được bảo tồn

và phát huy

Đến nay, có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm về giá trị truyền thống Theo GS Trần Văn Giàu, giá trị truyền thống được hiểu là những cái tốt, bởi vì những cái tốt mới được hiểu là giá trị Thậm chí không phải bất cứ cái gì tốt đều được gọi là giá trị; mà phải là cái tốt cơ bản, phổ biến, có nhiều tác dụng tích cực cho đạo đức, cho sự hướng dẫn nhận định, đánh giá và dẫn dắt hành động của một dân tộc thì mới mang đầy đủ ý nghĩa của khái niệm “giá trị truyền thống”

Tác giả Trương Hoài Phương cho rằng: Giá trị truyền thống là tập hợp những nhân tố tích cực, phổ biến về tư tưởng, tình cảm, thói quen, tập quán, lối sống và cách ứng xử của một cộng đồng người nhất định, được hình thành và phát triển trong lịch sử, đã trở nên ổn định và lưu truyền từ thế hệ này sang thế

hệ khác

Đối với dân tộc Việt Nam, trải qua hàng ngàn năm, đã hình thành một hệ giá trị truyền thống Giá trị truyền thống ấy có mối quan hệ mật thiết với toàn bộ

Trang 25

đời sống xã hội của dân tộc Việt Nam Giá trị truyền thống là sự kết tinh tất cả những gì tốt đẹp nhất qua các thời đại lịch sử khác nhau của dân tộc để làm nên bản sắc riêng của dân tộc Nó được truyền lại cho thế hệ sau và cùng với thời gian, cùng với sự tiến triển của lịch sử sẽ được bổ sung bằng các giá trị mới Khi nói đến giá trị truyền thống là nói đến những truyền thống nào đã có sự đánh giá, thẩm định nghiêm ngặt của thời gian, đã có sự chọn lọc, sự phân định

và khẳng định ý nghĩa tích cực của chúng đối với cộng đồng trong những giai đoạn lịch sử nhất định

1.1.3 Khái niệm “Bảo tồn” “ phát huy”; “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống”

Trong “Thập kỷ văn hóa” của UNESCO (1988 - 1998), cơ quan văn hóa, khoa học và giáo dục của Liên hợp quốc đã đưa ra khuyến nghị, đó là cần “bảo

tồn, làm giàu và phát huy ” các giá trị văn hóa truyền thống Từ thập kỷ 70, 80

của thế kỷ XX, ở Việt Nam, khái niệm bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống

đã xuất hiện trong nhiều công trình nghiên cứu cũng như các văn kiện của Đảng

và Nhà nước Việt Nam

Hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống có vai trò, vị trí quan trọng trong việc lưu giữ những giá trị văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của dân tộc Đặc biệt, trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống văn hóa - lịch

sử ngày càng trở nên cấp thiết, đóng vai trò nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân và góp phần vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội

* Bảo tồn (preservation), theo từ điển Tiếng Việt là “giữ lại không để cho

mất đi” Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng

thức vốn có của nó, bảo tồn là không để mai một, không để bị thay đổi, biến hóa hay biến thái

Trong cuốn “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” 2001 GS.TS Trần Ngọc Thêm định nghĩa: Bảo tồn là hoạt động giữ gìn một cách an toàn khỏi sự tồn tại,

sự xuống cấp hoặc phá hoại, hay nói cách khác bảo tồn có nghĩa là bảo quản kết

Trang 26

cấu một địa điểm ở hiện trạng và hãm sự xuống cấp của kết cấu đó

Theo Luật sửa đổi bổ sung Luật Di sản văn hóa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2009, bảo tồn được hiểu là việc sưu tập, thăm dò, khai quật, bảo quản, tu bổ, chống xuống cấp, tôn tạo, phục hồi và sử dụng khai thác

Bảo tồn được hiểu như là những nỗ lực nhằm gìn giữ các giá trị, bản sắc

văn hóa tốt đẹp vốn có của mỗi quốc gia, dân tộc Gần với khái niệm này, người

ta còn hay dùng các mệnh đề khác, như “giữ gìn và phát huy”, “kế thừa và phát

huy” Tuy các tên gọi khác nhau nhưng về ý nghĩa cơ bản giống nhau Song, đó

được hiểu là những nỗ lực nhằm lưu giữ những gì được coi là giá trị và bản sắc truyền thống văn hóa - lịch sử Tuy nhiên, trong những việc làm, hành động nhằm bảo tồn, giữ gìn hay kế thừa, chúng ta nên lựa chọn những gì là giá trị, là bản sắc độc đáo của văn hóa dân tộc, đặc biệt là những giá trị, bản sắc ấy đã và còn tiếp tục tạo nên nội lực, động lực cho sự phát triển văn hóa, xã hội hiện tại

và tương lai

Theo giáo sư Ngô Đức Thịnh trong bài viết”bảo tồn và phát huy văn hóa phi vật thể “đăng trên Tạp chí cộng sản 15/135; 2007, bảo tồn những giá trị truyền thống thường có hai hình thức, đó là bảo tồn tĩnh và bảo tồn động Bảo tồn tĩnh là bảo tồn các hiện tượng văn hóa ở bên dưới hình thức sách vở, bảo tàng, các trưng bày, kho lưu trữ, triển lãm Bảo tồn tĩnh chủ yếu phục vụ cho công tác nghiên cứu, tuyên truyền, khi cần thiết có thể phục chế, tái tạo nó Bảo tồn động là hình thức bảo tồn văn hóa trong chính môi trường xã hội mà nó nảy sinh và tồn tại

* Phát huy (promotion), theo từ điển tiếng Việt là “làm cho cái hay, cái tốt

tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm” Phát huy là việc khai thác, sử dụng sản phẩm một cách có hiệu quả, là những tác động làm cho cái hay, cái đẹp, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở từ ít đến nhiều, từ thấp đến cao Phát huy giá trị

di sản văn hóa mục đích là phục vụ cho sự tiến bộ của xã hội, cho sự phát triển bền vững và góp phần quan trọng vào việc giáo dục truyền thống yêu nước, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời là cầu nối giao lưu với bạn bè quốc tế Từ

Trang 27

khái niệm cho thấy, phát huy bao gồm hoạt động khai thác và sử dụng, tuyên truyền, giáo dục, quảng bá

Khái niệm “phát huy” gắn với “bảo tồn” giá trị truyền thống văn hóa - lịch

sử được hiểu với hai ý nghĩa Thứ nhất, đó là những hành động nhằm đưa văn hóa vào thực tiễn xã hội, coi đó như là nguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối với phát triển xã hội Thứ hai, phát huy còn bao hàm ý nghĩa đó chính là môi trường tốt nhất để bảo tồn và làm giàu chính bản thân văn hóa Nguyên tắc quan trọng của bảo tồn, giữ gìn và phát huy các giá trị phải trên quan điểm phát triển, cho phát triển và vì phát triển

* Khái niệm “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống”

Tuy nhiên, như trên đã nói, giá trị truyền thống là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều nội dung, do đó đề tài chỉ tiếp cận giá trị truyền thống dưới góc độ các giá trị truyền thống văn hóa - lịch sử, chủ yếu và nổi bật nhất bao gồm các giá trị văn hóa vật thể (Di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; Di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia), giá trị văn hóa phi vật thể (Lễ hội truyền thống; Tín ngưỡng tôn giáo và phong tục tập quán; Văn học nghệ thuật và trình diễn dân gian; Nghề thủ công truyền thống); Và giá trị lịch sử được nghiên cứu thông qua các sự kiện lịch sử, bởi đây là những nhân tố dễ bị tổn thương nhất, cần được bảo tồn và phát huy

Như vậy, trong nghiên cứu này, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền

thống được hiểu là việc sưu tập, thăm dò, khai quật, bảo quản, tu bổ, chống xuống cấp, tôn tạo, phục hồi, sử dụng, khai thác, tuyên truyền, giáo dục, quảng

bá những cái tốt, những nhân tố tích cực, phổ biến về di sản văn hóa, được hình thành và phát triển trong lịch sử, đã trở nên ổn định, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, có ý nghĩa đối với đời sống tinh thần của người dân và sự phát triển kinh tế - xã hội

Trang 28

1.2 Tổng quan về hệ thống di sản văn hóa ở Hải Phòng

1.2.1 Nhận diện đặc trưng văn hóa vùng miền của Hải Phòng

Trong cuốn sách nhiều tác giả do PGS.PTS Ngô Đức Thịnh chủ biên “Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam” (Hà Nội :NXB Khoa học xã hội: 1993) PGS.PTS Ngô Đức Thịnh cho rằng: Có thể chia nước ta thành 7 vùng văn hóa Còn trong cuốn sách của nhiều tác giả do giáo sư Đinh Gia Khánh và nhà thơ Cù Huy Cận chủ biên” Các vùng văn hóa Việt Nam”(Hà Nội; NXB Văn học 1995) các tác giả phân đất nước ta thành 9 vùng văn hóa lớn Mỗi vùng văn hóa lớn như trên lại có thể có nhiều vùng văn hóa nhỏ hơn

Nằm trong vùng đồng bằng Bắc bộ nhưng Hải Phòng có những đặc trưng rất riêng của vùng đất miền cửa biển “xứ Đông” hướng biển nhìn từ thủ đô Hà Nội

Trong bài viết “Xứ Đông-Hải Hưng nhìn từ Kẻ Chợ” của GS Trần Quốc Vượng có mô tả” Lấy Thăng Long –Kẻ Chợ làm trung tâm - đời Trần Lê gọi là Trung Đô Phủ - thì có thể chia làm 4 phần còn lại của Đồng Bằng Bắc bộ-tam giác châu sông Hồng và sông Thái Bình thành “Tứ trấn”: Hải Đông trấn lộ tức

xứ Đông, Sơn Tây Trấn (xứ) tức xứ Đoài, Sơn Nam(Thượng hạ trấn xứ)-tức xứ Nam, Kinh Bắc trấn xứ -tức xứ Bắc

“Xứ Đông –Hải Đông thời Lý Trần, Hải Dương thời Lê Nguyễn - ăn sát xuống biến Đông Hải Phòng khi đó là “hải tần phòng thủ” (Đồn biên phòng miệt biển) của trấn /xứ Hải Dương đời Nguyễn.”

Trong bài viết”Xứ Đông nước ta - nơi đầu tiên Phật giáo du nhập” của Nhà

sử học Ngô Đăng Lợi [Kỷ yếu Khai thác di sản văn hóa Phật giáo xứ Đông thúc đẩy phát triển bền vũng du lịch vùng Đồng bằng sông Hồng]

“Xứ Đông cùng với xứ Đoài, xứ Nam, xứ Bắc là 4 trấn chính tạo thành vành đai quanh Đại La-Thăng Long-Đông Đô,trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của đất nước Các trấn khác liền kề gọi là ngoại trấn Xứ Đông thời các vua Hùng dựng nước Văn Lang gọi là Bộ Dương Tuyền (sách Đại Việt sử lược gọi

là Thang Tuyền ) Đến thời Bắc thuộc, nhà Tây Hán(206 Tr.CN-8 Sau CN) đồng

Trang 29

bằng bắc Bộ gọi là quận Giao Chỉ có 10 huyện: Liên Lâu, An Định, Câu Lậu,

Mê Linh, Bắc Đái, Kê Tử, Tây Vu, Long Biên, Chu Diên…Mười huyện này vốn

là địa bàn của các Lạc tướng thời Vua Hùng(Tiểu Hán Thư-Địa lý chí) Đến nay các nhà địa lý học nước ta đã thống nhất Xứ Đông thuộc địa bàn các huyện An Định, Câu Lậu, Kê Từ Họ căn cứ vào phần Kinh trong sách Thủy Kinh của Tang Khâm đời nhà Hán ghi rõ”Sông Diệp Du qua phía Bắc huyện Mê Linh chia làm 5 sông chằng chịt trong quận Giao Chỉ, đến địa giới phía Nam lại hợp làm 3 sông chảy đổ về Đông đổ ra ra biển” Phần chú sách trên Lệ Đạo Nguyên soạn vào thế kỷ thứ VI, lại xác định rõ vị trí các sông lớn đổ ra biển thuộc các huyện ven biển xứ Đông, nay thuộc 6 quận: Ngô Quyền, Hải An, Lê Chân Dương Kinh, Đồ Sơn, Kiến An và 5 huyện: An Lão, Kiến Thụy, Tiên Lãng, Thủy Nguyên, Vĩnh Bảo của Hải Phòng Xứ Đông thời Thuộc Đường là Hồng Châu; thời tự chủ các triều Lý, Trần là Hồng Lộ, thời thuộc Minh là Phủ tân An, thời

Lê sơ thuộc Hồng lộ, Nam Sách Giang Lộ, năm Quang Thuận thứ 7(1496) đặt làm Nam Sách thừa tuyên,đến Năm Quang Thuận thứ 10(1499) đổi thành Hải Dương Thừa tuyên gồm địa bàn tỉnh Hải Dương, thành phố Hải Phòng (trừ 2 huyện đảo) cùng các huyện Đông Triều, một phần huyện Yên Hưng tỉnh Quảng Ninh ngày nay Thời Mạc thuộc Dương Kinh

Lược thuật lại địa giới, vị thế xứ Đông xưa mà tổ tiên đã xác định đây là địa bàn quan trọng, xung yếu bậc nhất trong sư nghiệp dựng nước, giữ nước Tất cả các cuộc xâm lược nước ta của vua chúa Trung Hoa, thực dân Pháp, phát xít Nhật và cả đế quốc Mỹ đều qua cửa bể Xứ Đông, duy nhất chỉ có Chế Bồng Nga là qua cửa Thần Phủ

Đạo Phật du nhập vào nước ta cũng theo đường biển xứ Đông” [Tr32]

1.2.2 Di sản văn hóa truyền thống đặc trƣng của Hải Phòng

Hải Phòng là vùng đất có bề dày lịch sử với những sự kiện, những nhân vật, những thời kỳ phát triển rất sinh động và có nhiều nét độc đáo Đó là vùng đất mà trong suốt tiến trình lịch sử vừa mang những nét cổ xƣa, đồng thời cũng luôn trẻ trung và sôi động Hải Phòng là vùng đất cửa sông, ven biển, có sự giao

Trang 30

thoa đậm nét giữa văn hóa châu thổ sông Hồng và các yếu tố của văn hóa biển Với vị trí địa lý độc đáo, Hải Phòng trong quá khứ cũng như hiện tại và tương lai luôn giữ vai trò là “ đầu mối giao thông” là “cửa chính ra biển” của quốc gia trên địa bàn Bắc bộ- một vùng đất như vậy, lẽ dĩ nhiên sẽ rất giàu có về văn hóa Trong lịch sử phát triển, cư dân Hải Phòng trải qua bao thế hệ đã lưu giữ hệ thống di sản văn hóa nhiều về số lượng, phong phú về nội dung, đa dạng về loại

và hình Theo tài liệu của bảo tàng Hải Phòng và qua các đợt kiểm kê di tích vào các năm 1977- 1978; năm 1996 và năm 2007, đến giữa năm 2013 trên địa bàn thành phố có hơn 1000 di tích bao gồm nhiều loại hình khác nhau, cụ thể được phân loại theo thiết chế tôn giáo - tín ngưỡng như sau:

Theo số liệu đến tháng 5/2014 thì TP Hải Phòng có 436 di tích được xếp hạng trên tổng số lượng hơn 1112 di tích của thành phố Di tích xếp hạng cấp thành phố có 324 di tích, di tích xếp hạng cấp quốc gia có 112 di tích Trong 436

di tích thì có 431 DTLSVH, 05 di tích danh thắng Các di tích phân bố rộng khắp Tp Hải Phòng nhưng không đồng đều về số lượng cụ thể

Bảng phân loại di tích theo thiết chế tôn giáo - tín ngưỡng

Trang 31

Ngoài hệ thống di tích lịch sử văn hóa đa dạng phong phú, mỗi vùng đất của Hải Phòng lại mang trong mình những nét văn hóa lịch sử độc đáo Đảo Cát

Bà - hòn đảo lớn và đẹp nhất trong quần thể Hạ Long có tới 72 di tích khảo cổ học (Khảo cổ học quần đảo Cát Bà-Viện Khảo cổ học), trong đó có những di chỉ nổi tiếng thế giới như Cái Bèo, phản ánh rõ nét đời sống lao động sáng tạo của người Việt cổ xưa Đó là nền văn hóa Hạ Long mang đậm nét biển khơi: GS sử học Trần Quốc Vượng đã gọi đó là “văn hóa Cát Bà”, (Cát Bà đã được công nhận Di tích danh thắng đặc biệt cấp quốc gia vào năm 2013)

Thủy Nguyên vùng đất cổ xưa, nay vẫn còn lưu giữ nhiều di tích văn hóa độc đáo: Di chỉ Tràng Kênh - một công xưởng chế tác đồ đá có quy mô lớn và đạt trình độ kỹ thuật tinh xảo bậc nhất của người xưa, cách ngày nay trên 3000 năm thực sự là một di sản văn hóa có một không hai của Việt Nam Mộ cổ Việt Khê với những đồ đồng đẹp và tinh xảo; cụm di tích Liên Khê với Đền Thụ Khê, chùa Thiểm Khê, chùa Mai Động, thành Dền nơi lưu giữ những dấu tích lịch sử về Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn với chiến thắng Trúc Động nổi tiếng; Đó cũng là nơi lưu giữ những dấu tích của nhà Mạc, của cuộc khởi nghĩa Đốc Tư; Một hội hát Đúm ở Phục Lễ với nét dân ca vừa mãnh liệt, vừa trẻ trung, cũng chứa đựng nhiều bí ẩn…

Vĩnh Bảo, vùng đất nay vẫn còn bảo lưu nhiều nét của nông thôn cổ xưa với những di sản văn hóa đầy ấn tượng như: Đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm - danh nhân văn hóa độc đáo của đất nước (Di tích đã được vinh danh khu di tích LSVH đặc biệt cấp quốc gia vào đầu năm 2016) ; làng nghề tạc tượng Bảo Hà với những gánh rối cạn, rối nước nổi tiếng khắp vùng, đậm nét văn hóa dân gian, một Cổ Am đất học khoa bảng mà nay vẫn tiếp tục như xưa…thật là một địa danh đậm nét văn hóa

Kiến Thụy với một Dương Kinh độc đáo cùng với sự bừng sáng của vương triều Mạc nổi tiếng trong lịch sử; một đền chùa Mõ cổ xưa với những dấu ấn về điền trang thái ấp, về những thân vương, công chúa đầy chất huyền thoại của nhà Trần

Trang 32

Còn nhiều nữa những di sản văn hóa trên các vùng đất Hải An, Đồ Sơn Tiên Lãng, An Lão và các vùng đất nội thành với những nét bản sắc độc đáo và

ấn tượng Một Tháp Tường Long của đời Lý với những nét văn hóa Phật giáo vừa thuần hậu nhưng cũng đầy kiêu hãnh, một lễ hội chọi trâu Đồ Sơn có một không hai: còn đậm nét nguyên thủy, hoang dã và huyền bí; Lễ hội đã được công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào năm 2013; một đình An Biên với kiến trúc nghệ thuật độc đáo, thờ nữ tướng Lê Chân - người khai quốc công thần triều Trưng và cũng là người khai sinh ra trang ấp An Biên, địa bàn chủ yếu của nội thành Hải Phòng ngày nay; Một Từ Lương xâm bề thế với những dấu tích chân thực về người anh hùng dân tộc Ngô Quyền trong chiến thắng Bạch Đằng nổi tiếng - vị thần chủ của vùng đất Hải Phòng vẫn còn đó, những chùa

Dư Hàng, đình Hàng Kênh với kiến trúc độc đáo và lịch sử cổ xưa Hải một địa danh lịch sử, văn hóa trên vùng Duyên Hải Bắc bộ

Phòng-1.3 Vai trò của báo chí với việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống

1.3.1 Chủ trương chính sách của Hải Phòng trong “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa”

Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống văn hóa - lịch sử, kể từ khi Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII ban hành, thành phố đã cụ thể hóa thành các chủ trương chính sách, các chương trình hành động nhằm góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam” tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.”

Nghị quyết số 13-NQ/TU của Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố (khóa XI) ban hành ngày 24/9/1998 về tổ chức thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) Trong đó, đề

ra nhiệm vụ về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, đó là: Thực hiện tốt việc quản lý, bảo vệ, tôn tạo, chống xuống cấp những di tích lịch sử, văn hóa đã được xếp hạng, tiếp tục nghiên cứu, xác định và đề nghị xếp hạng các di tích chưa được xếp hạng

Trang 33

Chương trình hành động số 28-Ctr/TU của Thành ủy Hải Phòng ban hành ngày 27/8/2004 về thực hiện Kết luận Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 10 (khóa IX) đã ra kết luận tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” Chương trình đề ra nhiệm vụ, đó là: Tăng cường quản lý và đầu tư cho công tác bảo tồn và phát huy hiệu quả của hệ thống Nhà Bảo tàng, Nhà truyền thống, giữ gìn, tu bổ, tôn tạo và phát huy hiệu quả của hệ thống di tích lịch sử văn hóa, di tích cách mạng, xây dựng hệ thống tượng đài nhằm đáp ứng yêu cầu công tác giáo dục truyền thống trong tình hình mới, đồng thời thu hút khách tham quan, phát triển du lịch, mở rộng giao lưu văn hóa vùng miền, khu vực trong nước và quốc tế

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 10 của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố khóa XIV về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ở thành phố Hải Phòng đến năm 2020, tầm nhìn 2030 đưa ra định hướng phát triển các lĩnh vực trọng điểm, trong đó về lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, Nghị quyết chỉ rõ: Tiếp tục nghiên cứu, khai thác những giá trị truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc tốt đẹp của Hải Phòng Nghị quyết số 16/NQ-TU của Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng ban hành ngày 18/3/2008 về xây dựng và phát triển văn hóa Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhấn mạnh đến công tác đầu tư cho bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống: Tăng cường đầu tư cho công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa vật thể vốn có của thành phố Đầu tư cải tạo, nâng cấp, đổi mới trưng bày, giới thiệu nhằm khai thác có hiệu quả hệ thống bảo tàng, nhà truyền thống (hoặc phòng truyền thống) Giữ gìn, tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị của hệ thống di tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc và di tích cách mạng

Quyết định số 1491/QĐ-UBND ngày 10/9/2008 về việc phê duyệt chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 16 NQ/TU ngày 18/3/2008 của Ban Thường vụ về phát triển văn hóa Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đưa ra 7 chương trình, trong đó chương trình 6 về vấn đề chống xuống

Trang 34

cấp, tôn tạo, bảo vệ và phát huy tác dụng của các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng; đẩy mạnh việc sưu tầm và phát huy vốn văn hóa, văn nghệ truyền thống của nhân dân Hải Phòng

Chương trình hành động của Ban Thường vụ Thành ủy thực hiện Quyết định số 33-NQ/TW, ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa

XI “Về xây dựng và phát triển văn hóa con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” chỉ ra cần tiếp tục chú trọng đầu tư cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa trên địa bàn thành phố

Bên cạnh đó, trong xây dựng nông thôn mới từ năm 2009 đến nay, một số địa phương trong thành phố đã ban hành nhiều văn bản về bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống văn hóa - lịch sử:

Ngày 24/10/2012 Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Thủy Nguyên ra Nghị quyết số 26-NQ/HU về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa huyện Thủy Nguyên Để cụ thể hóa mục tiêu, nhiệm vụ của nghị quyết trên, Ủy ban nhân dân huyện đã ban hành Quyết định số 5443/QĐ-UBND ngày 18/12/2013 về việc phê duyệt chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 26-NQ/HU ngày 24/10/2012 Theo đó đã triển khai các nhiệm vụ, giải pháp, phân giao cho các phòng ban có liên quan tham thực hiện theo lộ trình cụ thể mà Nghị quyết đã đề

ra

Huyện Vĩnh Bảo ban hành nhiều văn bản liên quan: Đề án số UBND của Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Bảo ngày 30 tháng 12 năm 2011 về bảo tồn và phát huy giá trị một số loại hình văn hóa dân gian truyền thống giai đoạn 2011 - 2015; Chỉ thị số 03/CT-UBND của Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Bảo ngày 19 tháng 3 năm 2012 Về việc tăng cường công tác quản lý lễ hội trên địa bàn huyện Vĩnh Bảo; Kế hoạch số 770/KH-UBND của Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Bảo ngày 20 tháng 8 năm 2012 về khôi phục và phát triển một số trò chơi dân gian truyền thống huyện Vĩnh Bảo đến năm 2015; Kế hoạch số 524/KH-UBND của Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Bảo, ngày 20 tháng 6 năm

927/ĐA-2014 về Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa huyện Vĩnh Bảo giai

Trang 35

đoạn 2014 - 2020

Qua việc ban hành và triển khai các văn bản về bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa cho thấy, trong những năm qua, thành phố Hải Phòng đã không ngừng quan tâm đến vấn đề này, khẳng định sự thống nhất và nâng cao nhận thức trách nhiệm của các cấp, các ngành về công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa - lịch sử trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế

và trong quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới

1.3.2 Vai trò của báo chí nói chung, truyền hình nói riêng trong tuyên truyền ”bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa”

Báo chí có vai trò to lớn trong đời sống xã hội, là phương tiện chủ lực để thông tin, tuyên truyền, giáo dục, tổ chức, vận động quần chúng thực hiện nhiệm

vụ trong thực tiễn Một trong những chức năng quan trọng của báo chí là góp phần nâng cao dân trí, khai sáng dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần cho công chúng Nhiệm vụ đặt ra cho báo chí bao gồm nhiều lĩnh vực, tuy nhiên đối với vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa phi vật thể có thể tập trung vào ba mảng sau:

Giới thiệu, truyền bá các giá trị di sản văn hóa truyền thống

Báo chí có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và gìn giữ những giá trị văn hóa, bởi đây là một công cụ truyền bá văn hoá mang lại hiệu quả cao Trong thời gian qua, các cơ quan báo chí đã chú ý thực hiện tốt chức năng cổ động, tuyên truyền và phát huy, gìn giữ những giá trị văn hoá của dân tộc và nhân loại; góp phần nâng cao dân trí, giáo dục thẩm mỹ, hình thành văn hoá cá nhân cũng như định hướng chuẩn mực văn hoá cộng đồng; đồng thời là phương tiện để giới thiệu về hình ảnh của địa phương thông qua các di sản văn hóa tới các du khách trong và ngoài nước, tạo tiền đề cho các chiến lược du lịch phát triển góp phần tăng trưởng kinh tế - xã hội của địa phương Việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu các di sản văn hóa trên các phương tiện thông tin đại chúng của thành phố, đã góp phần tăng tính hấp dẫn của di tích nhằm thu hút

Trang 36

nhiều hơn nữa khách tham quan, đồng thời hướng tới mục tiêu phục vụ phát triển du lịch bền vững

Sự vào cuộc của các cơ quan báo chí truyền thông đã tích cực trong việc góp phần bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa của dân tộc Báo chí đã tham ra tích cực trong việc truyền bá, lưu trữ làm giàu kho tàng văn hoá nhân loại, có khả năng to lớn trong việc thẩm định, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá, tạo nên việc hình thành những ý thức lịch sử văn hoá của mỗi người dân Thấm

nhuần quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước “ Di sản văn hoá là tài sản vô

giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hoá Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hoá truyền thống (bác học và dân gian), văn hoá cách mạng, bao gồm cả văn hoá vật thể và phi vật thể Nghiên cứu và giáo dục sâu rộng những đạo lý dân tộc tốt đẹp do cha ông để lại”.[12] Trong những năm

qua vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hoá dân tộc đã được các cấp, các ngành, các địa phương thực hiện có hiệu quả, góp phần vào việc thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Chức năng thông tin của báo chí tác động to lớn đến dư luận xã hội Vì vậy, công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng có ý nghĩa hết sức to lớn, người dân hiểu về di sản Văn hóa của đất nước càng ngày càng sâu rộng hơn thông qua lăng kính tuyên truyền của báo chí Không chỉ giới thiệu giá trị độc đáo của di sản mà báo chí truyền thông còn tập trung vào vấn đề trọng tâm làm sao để nhân dân cùng góp phần tôn vinh và bảo tồn di sản Bằng các bài viết, hình ảnh thực tế sinh động để thu hút, đồng thời kêu gọi các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế cùng hỗ trợ cho công tác bảo tồn và phát huy này Công tác tuyên truyền không chỉ giúp mọi người hiểu được bản sắc lâu đời của dân tộc mà còn giúp nét văn hoá cổ truyền lan rộng, qua đó giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc đặc biệt là đối với thế hệ trẻ

Trang 37

Tham gia công tác thẩm định các giá trị di sản văn hóa truyền thống

Cùng với công tác tuyên truyền, báo chí cũng góp phần thẩm định các giá trị di sản văn hóa truyền thống của địa phương Trước hết, mỗi cơ quan báo chí đều có sự tham gia cộng tác của các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực văn hóa, họ chính là người sẽ cùng các cơ quan báo chí tham gia và công tác thẩm định, đánh giá các giá trị di sản văn hóa truyền thống và đưa quá trình thẩm định

đó đến với công chúng

Báo chí cũng theo chân các nhà nghiên cứu, hoặc lần theo dấu vết các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể đã bị mai một theo thời gian để tìm hiểu nguồn gốc của nó Những bài viết, phóng sự mang tính chất điều tra tìm hiểu như vậy xuất hiện ngày càng nhiều trên sóng truyền hình và báo in hiện nay

Bên cạnh đó, với ưu thế của mình, báo chí có đối tượng tiếp nhận khá đa dạng và phong phú Họ là những người thuộc mọi tầng lớp trong xã hội, mọi đối tượng, thành phần và đến từ mọi vùng quê, do đó, bản thân công chúng báo chí cũng có nhiều người đã từng được tiếp cận với các giá trị di sản văn hóa truyền thống, thậm chí gia đình họ là một trong số ít những người còn lưu giữ được các giá trị di sản văn hóa truyền thống mà các nhà nghiên cứu, các tổ chức văn hóa chưa tìm ra Do đó, khi thông tin về các giá trị di sản văn hóa truyền thống xuất hiện trên báo chí, những đối tượng này thông qua các kênh tương tác với báo chí

sẽ cùng các cơ quan báo chí tham gia thẩm định mức độ đúng, sai của các bài nghiên cứu trên báo chí và truyền hình Đây là vai trò rất lớn của báo chí khi thực hiện tốt việc tương tác với công chúng

Phản ánh quá trình bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa truyền thống

Bên cạnh đó, báo chí còn tích cực phát hiện, tuyên truyền các vấn đề bất cập, nảy sinh cần có tiếng nói chung, cái nhìn khách quan, sự ủng hộ, tham gia vào cuộc của các tổ chức đoàn thể để nét đẹp trong văn hóa truyền thống không

bị mai một dẫn đến mất bản sắc

Trang 38

Trong những năm qua, cùng các ngành chức năng các cơ quan báo chí đã tăng cường công tác tuyên truyền đến các tổ chức chính trị - xã hội, các địa phương, các ngành và cán bộ, nhân dân về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc bảo tồn di sản văn hóa Qua đó đã góp phần nâng cao nhận thức của mọi tầng lớp nhân dân trong việc xã hội hóa các hoạt động bảo tồn di sản văn hóa trên địa bàn; quảng bá về ý nghĩa, tầm quan trọng và phát huy giá trị của các di tích di sản trong đời sống văn hóa tinh thần các cộng động cư dân Hải Phòng Đồng thời giới thiệu những nội dung cơ bản trong ngọc phả hoặc truyền thuyết gắn liền với công lao của các anh hùng lịch sử, các danh nhân có công lớn trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; thông qua đó xây dựng lòng tự hào dân tộc, biết ơn các bậc tiền nhân trong tư tưởng và tình cảm của nhân dân, từ đó tự giác tham gia đóng góp xây dựng, bảo tồn, tôn tạo các di tích, di sản văn hóa

Với chức năng định hướng, giáo dục chính trị, tư tưởng và tạo lập dư luận

xã hội, Báo chí truyền thông đã làm tốt chức năng của mình là công cụ sắc bén tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; bên cạnh đó, báo chí truyền thông còn có vai trò quan trọng trong việc khẳng định, phổ biến, giữ gìn và lưu truyền các giá trị văn hóa của dân tộc Đặc biệt lưu ý sự ủng hộ và trách nhiệm của cộng đồng, trong công tác bảo vệ gìn giữ giá trị di sản Không dừng lại đó, báo chí truyền thông còn phát hiện ra những việc làm sai trái như lợi dụng di sản Văn hóa để trục lợi di sản Kinh tế, bất hợp pháp, hay góp phần đưa ra công luận những tổ chức cá nhân vi phạm đến di sản Văn hóa v v Những phát hiện này đã góp cho cơ quan quản lý nhà nước ra các văn bản thích hợp để làm cho mọi người hiểu hơn những giá trị về

di sản, từ đó tạo được những hành lang pháp lý tác động tích cực trong công tác

bảo tồn phát huy di sản

Trang 39

TIỂU KẾT CHƯƠNG I

Di sản văn hóa là những sản phẩm vật chất và tinh thần do con người tạo ra

và được sử dụng phục vụ cho đời sống của con người, từ đó hình thành ,khẳng định các giá trị của chúng về lịch sử, văn hóa, khoa học…Di sản văn hóa bao gồm : Di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể

Hải Phòng là một mảnh đất giàu truyền thống văn hóa, ở Hải Phòng hiện nay tồn tại rất nhiều loại hình di sản văn hóa truyền thống, trong đó, đáng chú ý nhất là Danh lam thắng cảnh đặc biệt cấp quốc gia quần đảo Cát Bà, một phần không thể tách rời của vịnh Hạ Long-một trong 7 kỳ quan thiên nhiên của thế giới; Di tích LSVH đặc biệt cấp quốc gia Đền thờ Trạng Trình Danh nhân văn hóa Nguyễn Bỉnh Khiêm, Khu danh thắng Tràng kênh-Bạch Đằng… Bên cạnh

đó, còn có các di sản văn hóa phi vật thể khác cũng đang được Chính quyền và nhân dân địa phương lưu giữ và phát huy như: các làng nghề truyền thống, lễ hội (Như Lễ hội chọi trâu- Đồ Sơn, Lễ hội Minh Thề- Kiến Thụy, Lễ hội Nữ tướng

Lê Chân ), âm nhạc và văn học truyền thống, tín ngưỡng dân gian, ẩm thực, Hiện nay, công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống đang còn gặp nhiều khó khăn và thách thức xuất phát từ nguyên nhân chủ quan và khách quan Do đó cần có sự chung tay góp sức của nhiều tổ chức cá nhân nhằm lưu giữ những giá trị văn hóa tốt đẹp này, trong đó, báo chí là phương tiện truyền thông đóng vai trò quan trọng nhất

Báo chí có vai trò to lớn trong đời sống xã hội, là phương tiện chủ lực để thông tin, tuyên truyền, giáo dục, tổ chức, vận động quần chúng thực hiện nhiệm

vụ trong thực tiễn Một trong những chức năng quan trọng của báo chí là góp phần nâng cao dân trí, khai sáng dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần cho công chúng Nhiệm vụ đặt ra cho báo chí bao gồm nhiều lĩnh vực, tuy nhiên đối với vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống có thể tập trung vào

ba mảng sau:

- Giới thiệu và truyền bá các giá trị di sản văn hóa truyền thống

- Tham gia vào công tác thẩm định các giá trị di sản văn hóa truyền thống

- Phản ánh quá trình bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống

Trang 40

Chương 2: THỰC TRẠNG THÔNG TIN CỦA ĐÀI PT&TH HẢI PHÕNG

VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG 2.1 Vài nét về Đài PT &TH Hải Phòng

Sự hình thành và phát triển qua các thời kỳ

+ Từ 1956-1965: Từng bước phát triển sự nghiệp truyền thanh phục

vụ phát triển kinh tế-xã hội

Ngày 13/5 năm 1955 đánh dấu bằng sự kiện giải phóng thành phố, cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta

đã thắng lợi Được sự hỗ trợ của bộ đội thông tin, suốt đêm 13/5 tổ Truyền thanh

đã tiến hành trang âm Quảng trường nhà hát, mắc loa ở nhiều đường phố để kịp phục vụ cuộc mitting chào đón quê hương giải phóng

Sáng ngày 1-9-1956, Uỷ ban Hành chính thành phố tổ chức Lễ bàn giao hệ thống truyền thanh nội thành do Liên Xô giúp xây dựng và công bố quyết định thành lập Đài Truyền thanh Hải Phòng Đồng bào, cán bộ và chiến sĩ Hải Phòng phấn khởi chung vui với những người làm công tác truyền thanh thành phố, đưa tiếng nói của Đảng, của chế độ mới đến mọi người, mọi nhà Từ đây, sự nghiệp truyền thanh của Hải Phòng bắt đầu một thời kỳ phát triển mới

+Giai đoạn 1965-1975 Mười năm phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Qua gần 15 năm hoạt động từ 1/9/1956-1/9/1971 Đài Hải Phòng đã có

45 hệ thống truyền thanh; 2872,72 km đường dây; 32.000 loa, 2 xưởng sửa chữa máy tăng âm thu thanh và sản xuất một số phụ tùng, 27 máy tăng âm điện tử công xuất 41.850 W; 2 máy phát sóng 2300 W, 19 máy phát điện công suất tổng cộng 286 KW

30 năm đầu thành lập, Đài Truyền thanh Hải Phòng từng bước phát triển sự nghiệp Truyền thanh rồi Phát thanh phục vụ hiệu quả nhiệm vụ chính trị của thành phố và đất nước, đóng góp tích cực vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Đến cuối năm 1978, Đài Truyền thanh Hải Phòng được đổi tên thành Đài Phát thanh Hải Phòng

Ngày đăng: 26/12/2018, 09:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2014), Việt Nam văn hóa sử cương, Nhà xuất bản Thế giới 2. Đào Duy Anh (2016), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương, "Nhà xuất bản Thế giới 2. Đào Duy Anh (2016)," Đất nước Việt Nam qua các đời
Tác giả: Đào Duy Anh (2014), Việt Nam văn hóa sử cương, Nhà xuất bản Thế giới 2. Đào Duy Anh
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế giới 2. Đào Duy Anh (2016)
Năm: 2016
3. Đặng Văn Bài (2007), Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể từ góc nhìn toàn cầu hóa, Tạp chí Di sản văn hóa số 21/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể từ góc nhìn toàn cầu hóa
Tác giả: Đặng Văn Bài
Năm: 2007
4. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Vụ Giáo dục lý luận chính trị (1994), Tìm hiểu về văn hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về văn hóa
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Vụ Giáo dục lý luận chính trị
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
5. Trần Quốc Bảng (1995), Chính sách văn hóa đối với phát triển, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách văn hóa đối với phát triển
Tác giả: Trần Quốc Bảng
Năm: 1995
6. Nguyễn Duy Bắc (Chủ biên) (2008), Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Nxb Từ điển bách khoa và Viện Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Từ điển bách khoa và Viện Văn hóa
Năm: 2008
7. Nguyễn Chí Bền (2000), Văn hóa Việt Nam - những suy ngẫm, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam - những suy ngẫm, Nxb Văn hóa dân tộc
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc"
Năm: 2000
8. Nguyễn Chí Bền (2007), "Bảo tồn DSVH phi vật thể ở nước ta hiện nay", Tạp chí Cộng sản, (7/127) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn DSVH phi vật thể ở nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Năm: 2007
9. Trần Văn Bính (2010), Văn hóa Việt Nam trên con đường đổi mới những thời cơ và thách thức, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam trên con đường đổi mới những thời cơ và thách thức
Tác giả: Trần Văn Bính
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2010
10. Nguyễn Chí Bền (Chủ biên) (2010), Bảo tồn, phát huy giá trị DSVH vật thể Thăng Long - Hà Nội, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn, phát huy giá trị DSVH vật thể Thăng Long - Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Chí Bền (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2010
12. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Di sản Văn hóa (2006), Một con đường tiếp cận di sản văn hóa, Tập 2, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một con đường tiếp cận di sản văn hóa
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Di sản Văn hóa
Năm: 2006
13. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Di sản Văn hóa (2008), Một con đường tiếp cận di sản văn hóa, Tập 3, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một con đường tiếp cận di sản văn hóa
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Di sản Văn hóa
Năm: 2008
14. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Di sản Văn hóa (2009), Một con đường tiếp cận di sản văn hóa, Tập 4, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một con đường tiếp cận di sản văn hóa
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Di sản Văn hóa
Năm: 2009
15. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Di sản Văn hóa (2010), Một con đường tiếp cận di sản văn hóa, Tập 5, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một con đường tiếp cận di sản văn hóa
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Di sản Văn hóa
Năm: 2010
16. Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng, (2015), Đề án điều chỉnh quy hoạch phát triển du lịch Hải Phòng(2015-2020) tầm nhìn 2030, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án điều chỉnh quy hoạch phát triển du lịch Hải Phòng(2015-2020) tầm nhìn 2030
Tác giả: Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng
Năm: 2015
17. Bộ Văn hoá - Thông tin (2003), Quy định của Nhà nước về hoạt động và quản lý văn hoá thông tin, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định của Nhà nước về hoạt động và quản lý văn hoá thông tin
Tác giả: Bộ Văn hoá - Thông tin
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2003
18. Đề án điều chỉnh quy hoạch bảo tồn phát huy di tích danh lam thắng cảnh đặc biệt cấp quốc gia Cát Bà 2015, Vườn quốc gia Cát Bà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án điều chỉnh quy hoạch bảo tồn phát huy di tích danh lam thắng cảnh đặc biệt cấp quốc gia Cát Bà 2015
19. Trường Chinh (1974), Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1974
20. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên, Đỗ Huy (2002), Giá trị truyền thống trong những thách thức của toàn cầu hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị truyền thống trong những thách thức của toàn cầu hóa
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên, Đỗ Huy
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
21. Nguyễn Trọng Chuẩn (2002), Vấn đề khai thác những giá trị văn hóa truyền thống vì mục tiêu phát triển, Tạp chí Triết học,(2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề khai thác những giá trị văn hóa truyền thống vì mục tiêu phát triển
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 2002
22. Hoàng Chương (2012), "Thực trạng vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc", Báo Nhân Dân, ngày 2/4/2012, tr.5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc
Tác giả: Hoàng Chương
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w