Ban Kinh tế Trung ương trân trọng giới thiệu một số bài tham luận tại Hội thảo chuyên đề 1: Phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững vì một Việt Nam thịnh vượng trong Hội nghị trực tuyến toàn quốc và Triển lãm quốc gia về thành tựu 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Trang 1Chuyên đề : Gắn kết đào tạo nguồn nhân lực với nghiên cứu khoa học phục
vụ phát triển nông nghiệp - kinh nghiệm quốc tế và bài học thực tiễn của Học viện Nông nghiệp Việt Nam
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đang đứngtrước những cơ hội mới nhưng cũng đang phải đối mặt với nhữngthách thức không nhỏ bởi các yếu tố khách quan, đặc biệt là biến đổikhí hậu, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và cạnh tranh về nguồnnhân lực chất lượng cao cũng như giao thương nông sản trong bốicảnh hội nhập quốc tế Nông nghiệp đã và đang là bệ đỡ quan trọngtrong nền kinh tế của Việt Nam nhưng đứng trước thách thức của bốicảnh mới, Việt Nam cần phát triển một nền nông nghiệp thông minh,nền nông nghiệp tri thức, ứng dụng công nghệ cao để sử dụng hiệuquả tài nguyên, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng vàphát triển bền vững
Nhiều nước và vùng lãnh thổ đã và đang phát triển nông nghiệpthông minh: Isarel có chương trình nông nghiệp thông minh về giống,vật liệu, chẩn đoán, dự báo, rôt bốt, nông nghiệp thông minh trên xamạc (giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 120.000-150.000 USD/năm/ha);
Mỹ đã phát triển trí tuệ nhân tạo, công nghệ nano và công nghệ 3Dtrong tạo giống, các trạm quản lý nông nghiệp thông minh, nông trạithông minh; Hà Lan phát triển ngành sản xuất nông nghiệp tuầnhoàn, giảm đầu vào tăng giá trị đầu ra trong sản xuất rau hoa quả,chăn nuôi, chế biến giá trị cao thương mại toàn cầu (GDP đóng góp dolao động nông nghiệp có hiệu quả tương đương với các ngành nghềkhác) Thái Lan đã triển khai Chương trình hành động về nông nghiệpthông minh: hình thành trung tâm cho 4 vùng nông nghiệp với cácnông trại thông minh để sản xuất ra sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế;Trung Quốc thực hiện chương trình Tầm nhìn phát triển nông nghiệpthông minh với các hợp phần Nền nông nghiệp mới, nông dân mới,ruộng vườn nông thôn mới hài hòa với thành thị; Nhật Bản đã đi sâuvào công nghệ robot tự động trong canh tác nông nghiệp, thiết bị bay
và không người lái; Đài Loan đã trở thành trung tâm cung cấp các
Trang 2công nghệ cho nông nghiệp thông minh như công nghệ cảm biến, kếtnối vạn vật, tế bào năng lượng mặt trời, thiết bị không người lái vàđèn LED (Nguyễn Thị Lan và cs, 2017; Phạm S, 2017; Đỗ Kim Chung,2017).
Tại Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, khóa X củaĐảng đã coi "Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước" Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI tiếp tụckhẳng định: Phát triển nông-lâm-ngư nghiệp toàn diện theo hướngcông nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với giải quyết tốt vấn đề nông dân,nông thôn Chính phủ cũng đã ban hành các chủ trương tái cơ cấunông nghiệp theo định hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triểnbền vững đi đôi với chủ trương xây dựng nông thôn mới và đẩy mạnhphát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
Để phát triển nông nghiệp hiện đại và nông thôn văn minh cần
có sự hội tụ của nhiều yếu tố, trong đó, đào tạo nguồn nhân lực chấtlượng cao là vấn đề tiên quyết ở tất cả các quốc gia trên thế giới.Theo quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đãđược Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, sẽ phát triển tỷ lệ nhân lực quađào tạo khối ngành nông, lâm, ngư nghiệp tăng từ mức 15,5% năm
2010 lên khoảng 50% vào năm 2020 Tuy nhiên, dự báo đến năm
2020, nguồn nhân lực khối ngành này sẽ thiếu khoảng 3,2 triệu laođộng qua đào tạo Không những vậy, Lao động nông nghiệp Việt Namđang ở độ tuổi cao và thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân
kỹ thuật bậc cao Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), chấtlượng nguồn nhân lực của Việt Nam hiện chỉ đạt 3,79/10 điểm, xếpthứ 11 trong số 12 nước Châu Á tham gia xếp hạng Chỉ số cạnh tranhcủa nguồn nhân lực Việt Nam đạt 3,39/10 điểm và năng lực cạnhtranh của nền kinh tế xếp thứ 73/133 quốc gia được xếp hạng
Như vậy, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để phát triểnnền nông nghiệp hiện đại và nông thôn văn minh là yêu cầu cấp bách
và là thách thức lớn nhất đối với các cơ sở đào tạo nông nghiệp củanước ta hiện nay Sinh viên tốt nghiệp đại học ngày nay không nhữngphải có kiến thức và trình độ chuyên môn giỏi mà còn phải có những
Trang 3kỹ năng để không bị thay thế bởi robot và trí tuệ nhân tạo, đặc biệt là
kỹ năng sáng tạo, hợp tác, kỹ năng tư duy phản biện Sinh viên tốtnghiệp đại học phải có năng lực tự chủ và thích ứng tốt với môi trườnglàm việc thay đổi nhanh chóng, có ý thức trách nhiệm cao với bảnthân, với gia đình, cộng đồng và đất nước (Trích bài phát biểu của TBTNguyễn Phú Trọng ngày 30/9/2018 tại Học viện Nông nghiệp ViệtNam) Chính vì vậy, việc nâng cao chất lượng đào tạo nhất thiết phải
đi đôi với năng lực tự chủ, tự chịu trách nhiệm, năng lực nghiên cứu
và làm chủ công nghệ để theo kip xu hướng chung của thế giới
2 ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC NÔNG NGHIỆP CHẤT LƯỢNG CAO TRÊN THẾ GIỚI
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy giáo dục - nghiên cứu nông nghiệp4.0 là một cuộc cách mạng để xây dựng các hệ sinh thái: đào tạo -nghiên cứu, doanh nghiệp, người dân hợp tác chặt chẽ tạo ra hệthống nghiên cứu - đổi mới sáng tạo vận hành liên tục, biến các mảnhruộng và người nông dân trở thành các cơ sở và nhà nghiên cứu cungcấp số liệu để các cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp tạo ra sản phẩmnông nghiệp 4.0 Xây dựng được hệ thống thu thập được số liệu lớn(big data) một cách đồng bộ trên nhiều kênh, phân tích số liệu và tạo
ra các gói giải pháp để người dân sử dụng dễ dàng là yếu tố cốt lõi
Để làm được điều này, chính sách giáo dục và đào tạo giữ vai tròquan trọng Đồng thời mỗi quốc gia có định hướng phát triển nôngnghiệp khác nhau, cũng sẽ có các chiến lược giáo dục đào tạo nôngnghiệp riêng Chính vì vậy, tại Việt Nam việc xây dựng được hệ thốnggiáo dục nông nghiệp 4.0 có thể không triển khai ngay lập tức nhưngnhất thiết phải nâng cao trình độ nhận thức, hướng tới một nền giáodục nông nghiệp đổi mới sáng tạo liên tục (Nguyễn Việt Long và cs,2018)
Tại Hoa kỳ: Đạo luật Morill Act (Luật Cấp đất – Land Grant- xây
dựng trường nông nghiệp) từ những năm 1862, được đánh giá là đạoluật quan trọng nhất tạo ra một nền tảng giáo dục nông nghiệp gắnnghiên cứu của hàng trăm trường đại học Land Grant (các đại học nàyhiện nay không chỉ là các đại học mạnh về nông nghiệp mà là các đạihọc đa lĩnh vực hàng đầu thế giới như UC Davis, Cornell, Florida, ĐH
Trang 4Bang Kansas trên toàn bộ nước Mỹ….) với các vùng sản xuất nôngnghiệp trọng yếu Ngay từ những năm 1918, Whitman H Jordan đãphân tích về tương lai của giáo dục nông nghiệp của Mỹ và đăng trêntạp chí uy tín nhất thế giới – Tạp chí Science Trong đó nhấn mạnh vaitrò của nền giáo dục nông nghiệp đại chúng tạo ra từ luật cấp đất màmỗi đại học tạo ra là một trung tâm khuyến nông xuất sắc.
Ngoài việc nghiên cứu các lĩnh vực cơ bản, nghiên cứu phát triểntrong các cuộc cách mạng công nghệ nông nghiệp trước đây Hiệnnay các nhóm nghiên cứu mới đã hình thành để đáp ứng nền nôngnghiệp 4.0 Trong giai đoạn phát triển nông nghiệp 4.0 với việc số hoánông nghiệp trên chính các trang trại của người dân, vai trò nghiêncứu và khuyến nông của các trường đại học Land- Grant tiếp tục làthen chốt tạo ra một nền giáo dục nông nghiệp đổi mới sáng tạo(innovation)
Mô hình thực tiễn: Hiệp hội cây trồng - cầu nối
đào tạo-nghiên cứu, sản xuất và kinh doanh
Tại ĐH Bang Kansas (ĐH Land Grant đầu tiên của Hoa
kỳ), PGS TS Ignacio Ciampitty vừa là trưởngLab nghiên cứu
về sinh lý, dinh dưỡng cây trồng (tập trung vào cây ngô,
đậu tương là hai cây trồng chính tại đây), đồng thời phụ
trách mảng khuyến nông cây trồng của trường Mỗi tuần
TS Ignacio sẽ làm việc tại trụ sở chính và dành thời gian
1-2 ngày/tuần làm công tác khuyến nông tại cơ sở khuyến
nông của trường được bố trí tại chính các vùng sản xuất
quan trọng trong toàn Bang Kansas (Bang Kansas có diện
tích gần bằng Việt Nam) Ngoài các nghiên cứu cơ bản về
sinh lý, dinh dưỡng đã được thiết lập trước đây, từ năm
2013 nhóm nghiên cứu của TS Ignacio bổ sung thêm hướng
nghiên cứu khai thác ảnh vệ tinh và máy bay không người
lái, thu thập số liệu từ các hiệp hội cây trồng, cuộc thi năng
suất cây trồng do Hiệp hội ngô, đậu tương tổ chức để
nghiên cứu mô hình nhằm đưa ra các số liệu và khuyến
nông cập nhật phục vụ sản xuất nông nghiệp
Trang 5Hoạt động khuyến nông của Hoa kỳ không thể thành
công nếu thiếu sự đóng góp của các hiệp hội Hiệp hội Ngô
của Bang Kansas là tổ chức trung gian cầu nối giữa: cơ sở
nghiên cứu- người dân và doanh nghiệp Hiệp hội Ngô có
vai trò quan trọng trong hỗ trợ đào tạo nông nghiệp thông
qua tổ chức các ngày trình diễn công nghệ, ngày STEM cho
học sinh phổ thông, ngày hướng nghiệp cho sinh viên đại
học theo tháng hay quý, tại đó trường đại học trình bày kết
quả nghiên cứu mới và doanh nghiệp trình bày các gói giải
pháp nông học, công nghệ nông nghiệp Kinh phí cho hoạt
động của Hiệp hội thu từ nhiều nguồn nhưng phần lớn là do
đóng góp của người dân tình nguyện (theo TS Ciampitty, ít
nhất 95% nông dân tình nguyện) đóng góp dựa trên sản
lượng cây trồng Hiệp hội tài trợ trở lại cho nghiên cứu của
Trường đại học tạo ra mối liên kết chặt chẽ.
Tại Hà Lan: Khác với mô hình phát triển nông nghiệp của Hoa
kỳ dựa trên diện tích lớn, Hà Lan phát triển của một nền nông thực phẩm phức hợp (food- agri complex) giá trị cao Chiến lược của
nghiệp-Hà Lan là nhập khẩu các loại sản phẩm thông dụng như hạt lươngthực, đậu tương… và xuất khẩu các sản phẩm giá trị cao và các sảnphẩm chế biến (từ sản xuất rau, hoa và sản phẩm chăn nuôi) Chính vìvậy tại Hà Lan kiến thức chuyên sâu và công nghệ cao rất cần ở tất cảcác thành phần và khâu trong chuỗi sản xuất để các chuỗi sản xuấtnày cạnh tranh toàn cầu Xuất khẩu nông sản của Hà Lan đạt khoảng
100 tỷ USD, đứng thứ 2 thế giới chỉ sau Hoa kỳ Trong nhiều nămchính phủ Hà Lan hướng tới một nền giáo dục nông nghiệp tăngcường kiến thức cho từng người nông dân và mỗi hộ nông dân hoạtđộng như những doanh nghiệp, có khả năng sản xuất và đủ trình độquyết định đầu ra cho sản phẩm của mình
Hệ thống giáo dục nông nghiệp của Hà Lan rất khác các nướckhác nơi mà giáo dục nông nghiệp ở phổ thông là môn lựa chọn Ở HàLan học sinh phổ thông có thể lựa chọn môn học nông nghiệp, nhưng
ở tuổi 15-18 Hà Lan có hệ thống trường đào tạo thực hành nôngnghiệp, ngoài ra còn có hệ thống các trường đào tạo giáo viên nông
Trang 6nghiệp và các trường đào tạo bậc đại học hướng nghiệp về nôngnghiệp Ở bậc cao đẳng, đại học, hệ thống giáo dục của Hà Lan tồntại rất rõ hai hình thức đào tạo đại học nông nghiệp hàn lâm(university) và đào tạo nghề nghiệp (vocational training).
Các mô hình đào tạo đổi mới sáng tạo nông nghiệp đẳng cấp thế giới tại Hà Lan:
Với định hướng rõ ràng là phát triển một nền nông nghiệp xuất khẩu sản phẩm cây trồng và chế biến giá trị
cao, Hà Lan đã phát triển hệ thống giáo dục cho thế hệ trẻ
và hệ thống giáo dục hướng nghiệp, giáo dục đại học hàn
lâm có đặc thù riêng Ngoài ra để tạo ra một nền nông
nghiệp dựa vào tri thức và có tính lan toả toàn cầu, Hà Lan
đã xây dựng các thung lũng hạt giống- seed valley, thung
lũng thực phẩm- food valley, trung tâm horticulture toàn
cầu, trung tâm thực phẩm toàn cầu phục vụ đào tạo đổi mới
sáng tạo Đầu mối để xây dựng các trung tâm này là Đại học
Wageningen (www.wur.nl)- trường đại học được xếp hạng số
1 thế giới về nông nghiệp(a tiny country feeds the World,
với doanh nghiệp và các thung lũng công nghệ Trưởng
nhóm nghiên cứu trong trường đại học có thể đồng thời phụ
trách các bộ phận kinh doanh thuộc trường đồng thời có thể
dễ dàng tham gia các doanh nghiệp công nghệ tại thung
lũng Thực phẩm đặt trong thành phố liền kề khuôn viên của
Trường.
Trang 7Để duy trì sự phát triển một nền nông nghiệp- thực phẩm phứchợp với giá trị rất cao về kiến thức và công nghệ Chính phủ Hà Lan
đã tập trung phát triển hệ thống giáo dục nông nghiệp đổi mới sángtạo, gắn giáo dục đào tạo trong nông nghiệp với các ngành nghềkhác Trong nghiên cứu về tương lai giáo dục nông nghiệp của HàLan, Mulder và Kupper 2006 chỉ ra rằng Chính phủ cần tiếp tục duy trì
hệ thống nghiên cứu – đào tạo - khuyến nông, tăng cường trang thiết
bị để hệ thống này tiếp tục gắn kết để tạo ra hệ thống giáo dục đổimới sáng tạo liên tục
Tại Đức: Đức có thể coi là quốc gia được đánh giá cao về đào
tạo nguồn nhân lực có kiến thức cơ bản và kỹ năng nghề nghiệpthành thạo với chất lượng số 1 thế giới Đối với bậc đại học, sự phânhóa thể hiện rõ ở hai loại hình trường đại học, đại học tổng hợp(Universitäten) và đại học chuyên ngành (Fachhochschulen hay theotiếng Anh Universities of Applied Sciences Trong lĩnh vực nôngnghiệp, các trường đại học hàng đầu phải kể đến như Hohenheim,Munich, Bonn, Göttingen, Giessen, Kiel và Kassel Tỉ lệ thực hành ngay
cả trong các trường đại học cũng rất lớn chiếm tỉ trọng tới hơn 40%.Ngoài hệ thống trường đại học, các trường đào tạo nghề của Đức đượccoi là tốt nhất trên thế giới vì phương châm đào tạo để làm nghề Hệthống các trường đào tạo nghề được phân chia rất rõ ràng và khácbiệt giữa từng trường nhằm đào tạo nhân lực có tay nghề chuyênsâu.Với cơ sở hạ tầng đầy đủ và đồng bộ đồng thời gắn chặt với cácdoanh nghiệp nên người học có cơ hội được tiếp xúc thực tế với cácmáy móc, thiết bị nên khi tốt nghiệp người học có thể làm việc thànhthạo
Tại Đức, mô hình đào tạo kép hay song song đã mang lại choquốc gia này nguồn nhân lực kỹ thuật có chất lượng cao Nước Đức đãxây dựng môi trường học tập kết hợp hài hòa giữa đặc thù thực tếdoanh nghiệp và tính hàn lâm của nhà trường cho người học Cáccông ty tập trung vào việc cung cấp kiến thức và kỹ năng thực tế, đặcbiệt là kiến thức và kỹ năng phù hợp với công nghệ sản xuất củadoanh nghiệp trong khi đó cơ sở đào tạo cung cấp khối kiến thức lýthuyết cơ bản và mang tính học thuật Đến nay, hơn 65% người học
đã chọn hình thức đào tạo nghề kép này Với nền tảng là nước có nền
Trang 8công nghiệp phát triển, hầu như tất cả các ngành nghề và lĩnh vựccần thiết cho phát triển nông nghiệp 4.0 của Đức đều thuộc nhóm dẫnđầu thế giới Trong bối cảnh nông nghiệp 4.0 đòi hỏi nguồn nhân lựcphải có chất lượng cao và chuyên môn hóa, các ngành nghề đào tạonhư sinh học, công nghệ sinh học, khoa học sự sống, công nghệ thôngtin, công nghệ chế tạo máy, công nghệ tự động hóa và cơ điện tử đềuđược Đức xếp vào nhóm những ngành nghề cơ bản và được ưu tiênđào tạo Chính vì vậy, nguồn nhân lực được đào tạo ra hoàn toàn phùhợp và đáp ứng được nhu cầu của xã hội về mặt chất lượng Tuynhiên, trong điều kiện hiện nay nguồn nhân lực ở Đức đang bị thiếuhụt, do đó chính phủ đã có các chính sách thu hút nguồn nhân lực trẻđến từ nhiều nước trong cộng đồng Châu Âu (EU) và các nước khác.Hầu hết các lực lượng lao động đều được đào tạo tại Đức sau đó tiếptục làm việc cho các công ty, doanh nghiệp Đức (Nguyễn Đức Bách,2018).
Tại Thái Lan: Thái Lan có nền nông nghiệp tiên tiến, xuất khẩu
giống và sản phẩm nông sản chế biến đến nhiều thị trường giá trị caotrên thế giới Xác định rõ yếu tố quan trọng nhất trong sự phát triểncủa nông nghiệp Thái Lan 4.0 là nhân tố con người Chính phủ đặttrọng tâm mục đích đào tạo người Thái thành những người có nănglực mạnh trong thế kỷ 21 và hòa nhập thế giới thông qua các biệnpháp cải cách hệ thống giáo dục để tạo nguồn nhân lực mới giúp TháiLan trở thành quốc gia dẫn đầu trong khu vực, hội nhập thế giới vàchuyển đổi hệ sinh thái thành học tập có mục đích, học tập dựa trênkết quả và vì tinh thần cá nhân cũng như quốc gia Những thay đổinày sẽ thay đổi trong mục tiêu và quản trị hệ thống giáo dục, kỹ năngcủa giáo viên và mô hình giảng dạy, chương trình giảng dạy vàphương pháp dạy và học
Thái Lan tập trung xây dựng chương trình phát triển kỹ năng chohọc viên, khả năng học tập linh hoạt và chuyển đổi trong chươngtrình Thái Lan xác định nông nghiệp 4.0 sẽ làm mũi nhọn trong tỉtrọng kinh tế, do đó việc đào tạo nhân lực đã định hướng cụ thể vàocác lĩnh vực robot và tự động hóa Chính phủ Thái đã thiết lập một hệthống tích hợp giáo dục, đào tạo và phát triển nghề nghiệp cho ngườiThái để phù hợp với định hướng nghề nghiệp tương lai của người học
Trang 9Các biện pháp hỗ trợ mạnh bao gồm đổi mới hệ thống và thể chế giáodục, tăng cường định hướng phát triển nghề nghiệp, phát triển các kỹnăng đáp ứng nhu cầu của ngành nông nghiệp hoạt động theo địnhdạng công nghiệp 4.0.
3 ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC NÔNG NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển nôngnghiệp theo hướng nông nghiệp thịnh vượng, nông dân giàu có, nôngthôn văn minh là nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm.Trong những năm gần đây, công tác này đã đạt được những thành tựunhất định, thể hiện ở những điểm như sau:
Thứ nhất, các cơ sở đào tạo khối nông lâm ngư đã tích cực tham
gia xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, góp phần thựchiện đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo Được sự chỉ đạocủa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các cơ sở đào tạo đã vàđang tích cực xây dựng, đề xuất định mức kinh tế - kỹ thuật, khốilượng kiến thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực, và xây dựng cơ chế đặthàng, giao nhiệm vụ đào tạo và NCKH gắn với giao kinh phí (thí điểmtại Học viện Nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2018-2020) áp dụngtrong lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực để phát triển nông nghiệp
Thứ hai, các cơ sở giáo dục đã chuyển đổi theo Luật Giáo dục
nghề nghiệp; thực hiện tự chủ, đổi mới quản trị nhà trường Từ đầunăm 2017 đến nay, đã kiện toàn và đổi tên 17 trường cao đẳng nghề,
01 trường trung cấp nghề, 03 trường trung học chuyên nghiệp thànhtrường cao đẳng, trường trung cấp theo Luật Giáo dục nghề nghiệp(được Quốc hội thông qua từ năm 2014) phù hợp với khung thamchiếu ASEAN, tạo thuận lợi cho việc hội nhập quốc tế Mô hình thíđiểm tự chủ theo Nghị quyết 77/NQ-CP đã được Thủ tướng Chính phủcho phép thực hiện tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam2 (Quyết định873/QĐ-TTg ngày 17/6/2015) nhằm chủ động khai thác, sử dụng hợp
lý, hiệu quả các nguồn lực để đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo,đảm bảo các đối tượng chính sách, đối tượng thuộc hộ nghèo có cơhội học tập
Trang 10Thứ ba, các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực phục vụ nông nghiệp
ngày càng đa dạng về cơ cấu đáp ứng nhu cầu nhân lực chất lượngcao phục vụ phát triển nông nghiệp theo hướng nông nghiệp hiện đại
và nông thôn mới Mục tiêu cuối cùng của các trường trung cấpchuyên nghiệp, cao đẳng và đại học là người lao động có học vấntrung bình nhưng có kỹ năng nghề nghiệp giỏi vẫn có thể được coi làngười lao động có chất lượng cao Đến năm 2018, cả nước có 38 cơ sởđào tạo trong ngành, phân bổ rộng khắp cả nước (Đồng bằng sôngHồng: 20 trường; Trung du, miền núi phía Bắc: 4 trường; Bắc Trung Bộ
và Duyên hải miền Trung: 4 trường; Tây nguyên: 2 trường; Đông NamBộ: 6 trường; Đồng bằng sông Cửu Long: 2 trường), với 2 trường bồidưỡng nghiệp vụ, 4 trường trung cấp, 28 trường cao đẳng, 4 trườngđại học, học viện
Cơ cấu ngành nghề, chương trình đào tạo đã được bổ sung, điềuchỉnh phù hợp với nhu cầu sử dụng Đến nay, các CSĐT trong ngành
đã và đang đào tạo 259 ngành nghề, trong đó có 131 ngành nghềnông nghiệp và PTNT (chiếm 51%), gồm: Khối đại học: 24/46 ngànhnghề (52%); Cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp: 50/88 ngành nghề(52%); dạy nghề: 57/125 ngành nghề (46%)
Thứ tư, chất lượng đào tạo ngày càng được nâng cao Kết quả
đào tạo phụ thuộc vào quá trình đào tạo Chất lượng của quá trìnhđào tạo phụ thuộc vào chất lượng của cán bộ, giảng viên, vào nộidung, phương pháp giảng dạy, cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy.Trong thời gian qua, các trường đã có rất nhiều biện pháp nhằm nângcao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, giảng viên.Nhờ đó, năng lực nhiều mặt của cán bộ, giảng viên được nâng caotheo hướng chuẩn hóa Chất lượng của đội ngũ cán bộ, giảng viên cóhọc vị và học hàm cao (thạc sĩ, tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư) trong các
cơ sở đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đều tăng lên Đến năm
2018, đội ngũ giảng viên có học hàm giáo sư, phó giáo sư là 344người, giảng viên có học vị tiến sĩ là 711 người, chiếm 13,8% tổnggiáo viên, giảng viên của các CSĐT trong ngành
Cùng với việc nâng cao trình độ của cán bộ, giảng viên, các cơ
sở đào tạo cũng rất tích cực trong đổi mới nội dung, phương pháp
Trang 11giảng dạy; tích cực đầu tư về cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy Nộidung giảng dạy không ngừng được bổ sung theo hướng hiện đại, có sựcân đối giữa môn chung và môn chuyên ngành, giữa môn học tự chọn
và môn bắt buộc Nhiều cơ sở đào tạo nguồn nhân lực chất lượng caocũng liên kết ngày càng chặt chẽ hơn với đơn vị sử dụng lao động;tham vấn các doanh nghiệp trong xây dựng chương trình đào tạo;đồng thời các doanh nghiệp mời trường đến đào tạo tại chỗ Bên cạnh
đó, các Bộ: Nông nghiệp và PTNT, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
đã thực hiện nhiều Hiệp định hợp tác đào tạo, phái cử sinh viên thamgia các chương trình thực hành kỹ thuật nông nghiệp tại Isael, NhậtBản,… nhằm tăng cường kỹ năng nghề nghiệp, tiếp cận công nghệhiện đại trong nông nghiệp Việc làm này giúp các trường đào tạođược đúng người, đúng việc và có hiệu quả Phương pháp giảng dạycũng không ngừng được đổi mới theo hướng hiện đại Các giảng viênbước đầu đã biết kết hợp thành tựu của khoa học và công nghệ hiệnđại trong giảng dạy nhằm khơi dậy, phát huy tính tích cực của ngườihọc Với những nỗ lực nêu trên, nhiều trường (như Học viện Nôngnghiệp Việt Nam, Trường Đại học Lâm nghiệp) đã đạt chuẩn kiểm địnhchất lượng giáo dục theo Bộ tiêu chuẩn của Bộ GD&ĐT Học viện Nôngnghiệp Việt Nam đã kiểm định thành công 02 Chương trình tiên tiếntheo Bộ Tiêu chuẩn của Mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á(AUN-QA) Hiện tại, Học viện đang tiếp tục thực hiện tự đánh giá cácCTĐT và dự kiến sẽ kiểm định 10 chương trình đào tạo vào năm 2020.Ngoài ra, để hỗ trợ các trường nâng cao chất lượng đào tạo, Đảng vàNhà nước đã thể hiện quyết tâm chính trị và thể chế hóa bằng cácchính sách cụ thể như chính sách về đầu tư phát triển cơ sở vật chất,
cụ thể là Chủ tịch nước đã phê chuẩn Hiệp định tài trợ của dự án
"Nâng cao chất lượng giáo dục đại học" do Ngân hàng Thế giới tài trợcho các trường đại học tự chủ Các trường đã tích cực trong đầu tư cơ
sở vật chất để đảm bảo cho giảng viên và sinh viên những điều kiệntốt nhất
Tuy nhiên, công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ởViệt Nam gặp nhiều thách thức, có thể nêu ra một thách thức chínhsau đây:
Trang 12Thứ nhất, cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao vẫn còn
bất hợp lý, điều này thể hiện ở sự mất cân đối giữa các bậc đào tạovới nhau, giữa các ngành nghề đào tạo với nhau, giữa quy mô đào tạovới sự phân bố nguồn lực phục vụ đào tạo Số lượng sinh viên đượcđào tạo bậc đại học quá nhiều so với số lượng sinh viên được đào tạobậc trung cấp chuyên nghiệp và cao đẳng Năm 2018, số lượng sinhviên nhập học bậc đại học hệ chính quy của 4 trường đại học thuộc BộNN&PTNT là 11.100 sinh viên (chiếm 60% tổng số sinh viên nhập họccủa 3 bậc này), trong khi đó, số lượng sinh viên hệ cao đẳng là 4.979;
hệ trung cấp là 2.434 (chiếm 13,1%) Trong khi trên thế giới, cứ 1người có trình độ đại học thì cần 4 người có trình độ trung học chuyênnghiệp Các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đều hướngtới đào tạo đa ngành nhưng lại chưa cân đối giữa các lĩnh vực trongnông lâm và ngư nghiệp Trong các cơ sở đào tạo của Bộ NN&PTNT, tỷ
lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ giảng dạy trong lĩnh vực nông nghiệp
là 365 người (chiếm 53,1%), trong khi đó, tỷ lệ này giảng dạy tronglâm nghiệp là 21,5%, thuỷ lợi 24,5%, và thuỷ sản 2,25%, đội ngũgiảng viên có trình độ cao tập trung chủ yếu ở các đô thị lớn Như vậy,
sự phân bố giảng viên không đều như trên dẫn đến tình trạng thừa thiếu giảng viên có trình độ cao giữa các ngành đào tạo và các vùngmiền
-Thứ hai, quy mô đào tạo chưa ổn định, chưa cân đối trong cơ cấu
ngành đào tạo: Quy mô đào tạo một số lĩnh vực công nghệ, cơ điệntăng, trong khi một số ngành thuộc lĩnh vực nông lâm ngư là quantrọng đối với phát triển kinh tế xã hội nhưng vị trí việc làm, chế độ đãingộ thấp, không hấp dẫn người học, khó tuyển sinh như ngành sưphạm kỹ thuật nông nghiệp, kỹ thuật công trình biển, kỹ thuật tàinguyên nước,… Năm 2018, cả nước có 2.742.843 nguyện vọng xéttuyển vào đại học hệ chính quy theo 292 ngành; trong đó tỷ lệ đăng
ký vào 10 ngành có nhiều nguyện vọng đăng ký nhất3 chiếm 43,02%.Trong khi tổng số 19 ngành đào tạo khối nông lâm ngư4 chỉ chiếm0,92% số nguyện vọng đăng ký xét tuyển Đây là nguyên nhân kháchquan của những khó khăn về công tác đào tạo nhân lực chất lượngcao phục vụ phát triển nông nghiệp
Trang 13Thứ ba, việc xây dựng cơ chế tự chủ, xã hội hoá cho đào tạo gặp
khó khăn, trở ngại do mức học phí thấp, điều kiện tài chính của ngườihọc gặp nhiều khó khăn Sinh viên theo học tại các trường đại học,cao đẳng, trung cấp nông nghiệp chủ yếu là con em nông dân, vùngnghèo, vùng dân tộc thiểu số, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn Năm
2017, tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, tỷ lệ sinh viên đến từ khuvực 2 và khu vực 3 chỉ đạt 35,4%; còn lại 64,6% thuộc về khu vực 1(25,1%) và khu vực 2 nông thôn (39,5%)
Thứ tư, lao động được đào tạo không về nông thôn do thu nhập,
lương thấp, điều kiện làm việc còn hạn chế.Tâm lý phổ biến của cáclao động đã được đào tạo có chất lượng cao không muốn về nôngthôn, họ bám trụ ở đô thị để có cơ hội việc làm và mức lương cao hơn,
dù phải làm việc trái ngành, trái nghề được đào tạo Tâm lý đó đượctạo ra bởi thực tế khách quan là nông thôn, đa số các cơ sở hợp tác xãchưa có đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật để sử dụng người lao động taynghề cao, các cá nhân ít có cơ hội thăng tiến về nghề nghiệp cũngnhư phát huy được tính năng động sáng tạo
Như vậy, khả năng đào tạo đáp ứng nguồn nhân lực chất lượngcao gặp nhiều trở ngại Theo Quy hoạch phát triển nhân lực ngànhNông nghiệp và Phát triển nông thôn giai đoạn 2011 – 20205, giaiđoạn 2016-2020, ngành nông nghiệp cần đào tạo mỗi năm 185 tiến
sĩ, 2.520 thạc sĩ, 18.000 kỹ sư Tuy nhiên, đến năm 2018, ước tổng sốNCS tuyển được trong năm là 32, đạt 17,3% do thay đổi về điều kiện
dự tuyển6; 2.278 học viên cao học (đạt 90,4%), và 11.100 sinh viên(đạt 61,7%) Đây là thách thức lớn cho đào tạo nhân lực chất lượngcao để phát triển nông nghiệp
Ngoài ra, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để phát triểnnông nghiệp còn gặp một số trở ngại khác như: Quy hoạch mạng lưới
cơ sở đào tạo chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt; số lượng, cơcấu giáo viên, giảng viên ở một số trường vẫn thiếu hụt, nhất là giáoviên, giảng viên trình độ cao giảng dạy các ngành nghề mới; trình độngoại ngữ của giáo viên, giảng viên của một số trường chưa đáp ứngđược chuẩn quy định,…
Trang 144 ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN TẠI HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Hiện tại Học viện NNVN có tổng số 1353 cán bộ (698 cán bộgiảng dạy (51,6%) và 655 cán bộ quản lý và nhân viên (48,4%) Trong
số giảng viên có: 11 Giáo sư (1,6%); 101 Phó giáo sư (14,5%); 78Giảng viên chính (11,2%); 508 Giảng viên (72,8%) Học viện có tổngkhoảng >500 cán bộ giảng dạy và nghiên cứu được đào tạo sau đạihọc tại các nước có nền nông nghiệp tiên tiến trên thế giới Đây lànguồn lực quan trọng trong công tác đào tạo và nghiên cứu của Họcviện và ngành nông nghiệp
Giai đoạn 2008-2018, công tác đào tạo đại học và sau đại họccủa Học viện đã có bước phát triển vượt bậc về quy mô tuyển sinh, sốlượng sinh viên tăng hàng năm và chất lượng đào tạo được nâng cao.Tổng số sinh viên tốt nghiệp trong 10 năm trở lại đây là 41.511 sinhviên (>4000 sinh viên/năm) Tỉ lệ sinh viên có việc làm sau khi tốtnghiệp ra trường 1 năm đạt 93% Để đạt được kết quả trên, Học việncoi chất lượng đào tạo và đổi mới quản lý giáo dục là khâu đột phá, cótính quyết định đến tương lai phát triển của Học viện Cụ thể, Họcviện đã và đang triển khai các giải pháp:
Thứ nhất, đa dạng hóa chương trình đào tạo để đáp ứng nhu cầu
xã hội:
Học viện đã tiến hành đa dạng hóa chương trình đào tạo Đếnnăm học 2017-2018, Học viện đã xây dựng 33 ngành đào tạo đại họcvới 77 chương trình đào tạo đại học, 20 chương trình đào tạo trình độthạc sĩ và 20 chương trình đào tạo trình độ tiến sỹ nhằm đáp ứng nhucầu nguồn nhân lực chất lượng cao cho thị trường lao động đa dạng ởtrong nước và quốc tế
+ Trình độ đại học: Học viện đã hình thành rõ nét 3 hướng đào
tạo chính:
(1) Định hướng hàn lâm (academy), đào tạo bằng tiếng Anh chủyếu theo mô hình của các trường đại học nghiên cứu danh tiếng của