1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Luận văn thông tin đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trên báo chí địa phương (Khảo sát báo Hải Phòng điện tử và Quảng Ninh điện tử từ 32016 đến 32017)

150 98 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 3,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Thực hiện Luận văn “Thông tin đầu tư trực tiếp nước FDI ngoài trên báo chí địa phương Khảo sát báo Hải Phòng điện tử và Quảng Ninh điện tử từ 3/2016 đến 3/2017” tôi đã nhận đư

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG

THÔNG TIN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

(FDI) TRÊN BÁO CHÍ ĐỊA PHƯƠNG

(KHẢO SÁT BÁO HẢI PHÒNG ĐIỆN TỬ VÀ QUẢNG NINH ĐIỆN TỬ

TỪ 3/2016 ĐẾN 3/2017)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC

Hà Nội - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG

THÔNG TIN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) TRÊN BÁO CHÍ ĐỊA PHƯƠNG

(KHẢO SÁT BÁO HẢI PHÒNG ĐIỆN TỬ VÀ QUẢNG NINH ĐIỆN TỬ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu, khảo sát, số liệu công bố trong luận văn là chính xác, trung thực và không trùng lặp với bất kỳ công trình khoa học nào đã được công bố trước đây Nếu sai phạm, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Hà Nội, tháng 9 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Huyền Trang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Thực hiện Luận văn “Thông tin đầu tư trực tiếp nước (FDI) ngoài trên báo chí địa phương (Khảo sát báo Hải Phòng điện tử và Quảng Ninh điện tử từ 3/2016 đến 3/2017)” tôi đã nhận được nhiều sự động viên, quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS Vũ Văn Hà, người thày đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn các thầy/ cô đã giảng dạy lớp Cao học Báo chí khóa

2015 đã truyền dạy, cập nhật những tri thức quý báu, trở thành nền tảng vững chắc

để nghiên cứu về chuyên ngành Báo chí học

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các nhà báo, các chuyên gia, nhà quản lý trong lĩnh vực kinh tế, quản lý FDI, các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài, anh chị em đồng nghiệp đã hỗ trợ, tạo điều kiện giúp tôi có thêm kiến thức, kinh nghiệm và thông tin cần thiết để thực hiện luận văn

Mặc dù đã cố gắng hết sức song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả kính mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy/ cô cùng các bạn đọc quan tâm

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài 8

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 10

4 Đối tượng phạm vi nghiên cứu 10

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 10

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 11

7 Kết cấu bố cục 11

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THÔNG TIN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) TRÊN BÁO CHÍ ĐỊA PHƯƠNG 12

1.1 Thông tin đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 12

1.1.1 Thông tin báo chí 12

1.1.2 Thông tin FDI trên báo chí 16

1.2 Ưu thế của báo chí địa phương và báo mạng điện tử trong thông tin FDI 25 1.2.1 Ưu thế của báo chí địa phương trong thông tin FDI 25

1.2.2 Ưu thế của báo mạng điện tử trong thông tin FDI 26

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nội dung và hình thức thông tin FDI 32

1.3.1 Nội dung và hình thức thông tin FDI 32

1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nội dung và hình thức thông tin FDI 38

Tiểu kết chương 1 44

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THÔNG TIN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) TRÊN BÁO HẢI PHÒNG ĐIỆN TỬ VÀ QUẢNG NINH ĐIỆN TỬ 45

Trang 6

2.1 Khái lược về các cơ quan báo chí địa phương được khảo sát 45

2.1.1 Báo Hải Phòng điện tử (baohaiphong) 45

2.1.2 Báo Quảng Ninh điện tử (baoquangninh) 46

2.2 Thông tin FDI trên báo mạng điện tử 46

2.2.1 Nội dung thông tin FDI 46

2.2.2 Hình thức thông tin FDI 74

2.3 Đánh giá 81

2.3.1 Thành công 81

2.3.2 Hạn chế 85

Tiểu kết chương 2 91

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN BÁO CHÍ ĐỊA PHƯƠNG 92

3.1 Chủ trương thu hút, thúc đẩy FDI của địa phương 92

3.1.1 Quan điểm, định hướng xúc tiến đầu tư của tỉnh Quảng Ninh năm 2017 92

3.1.2 Quan điểm, định hướng xúc tiến đầu tư của thành phố Hải Phòng giai đoạn 2016 - 2020 93

3.2 Một số thách thức đặt ra trong thông tin về FDI 94

3.2.1 Sự khác biệt trong chiến lược ưu tiên FDI của các địa phương 94

3.2.2 Tiếp cận thông tin về các dự án quy hoạch, doanh nghiệp FDI 95

3.2.3 Hạn chế về nguồn lực 97

3.2.4 Vai trò và trách nhiệm xã hội của báo chí địa phương trong thông tin FDI chưa được đánh giá đúng mức 97

3.2.5 Khâu nghiên cứu công chúng vẫn chưa được quan tâm thích đáng 98

3.3 Các giải pháp nâng cao chất lượng thông tin đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trên báo chí địa phương 98

3.3.1 Chú trọng thông tin tuyên truyền nhận thức về FDI 98

3.3.2 Đổi mới nội dung, hình thức tin bài 100

3.3.3 Tăng cường sự hợp tác, cung cấp thông tin giữa báo chí, doanh nghiệp FDI và các ngành quản lý; nâng cao hiệu quả dự án FDI 109

Trang 7

3.3.4 Nâng cao chất lượng đội ngũ người làm báo 110

3.3.5 Tổ chức, kiện toàn lại mô hình tòa soạn báo mạng điện tử 110

3.3.6 Đầu tư nguồn lực tài chính, phương tiện tác nghiệp 111

3.3.7 Đầu tư cho chuyên mục riêng về FDI có phiên bản tiếng nước ngoài 111

3.3.8 Liên kết, hợp tác truyền thông với các cơ quan báo chí trong và ngoài nước 112

Tiểu kết chương 3 113

KẾT LUẬN 114 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: BIÊN BẢN TRẢ LỜI PHỎNG VẤN SÂU

PHỤ LỤC 2: PHIẾU KHẢO SÁT THÔNG TIN FDI

PHỤ LỤC 3: BẢNG HỎI ANKET

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DDDCI: Department and District Competitiveness Index - Chỉ số điều hành cấp sở, ngành, địa phương

FDI : Foreign Direct Investment - Đầu tư trực tiếp nước ngoài

KCN : Khu công nghiệp

KKT : Khu kinh tế

ODA : Official Development Assistance - Hỗ trợ phát triển chính thức

PCI : Province Competitiveness Index - Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

TTHC: Thủ tục hành chính

UBND: Ủy ban nhân dân

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

1/ Biểu đồ 2.1 : Số tin, bài theo các chủ đề chính

2/ Biểu đồ 2.2 : Tỉ lệ thông tin tiềm năng đầu tư vào các lĩnh vực

3/ Biểu đồ 2.3 : Số tin, bài về thông tin môi trường đầu tư

4/ Biểu đồ 2.4 : Các yếu tố quyết định FDI

5/ Biểu đồ 2.5 : Tỉ lệ thông tin chủ trương, chính sách FDI

6/ Biểu đồ 2.6 : Tỉ lệ thông tin giải phóng mặt bằng, tiến độ dự án

7/ Biểu đồ 2.7 : Tỉ lệ nội dung thông tin về lao động - việc làm

8/ Biểu đồ 2.8 : Tỉ lệ tin, bài về xúc tiến đầu tư với các quốc gia,

vùng lãnh thổ 9/ Biểu đồ 2.9 : Tỉ lệ thông tin về bảo vệ môi trường trong thực hiện

FDI 10/ Biểu đồ 2.10 : Tỉ lệ các thể loại thông tin FDI

11/ Biểu đồ 2.11 : Tỉ lệ nguồn đăng tải

12/ Biểu đồ 2.12 : Đánh giá chất lượng nội dung thông tin FDI

13/ Biểu đồ 2.13 : Đánh giá chất lượng hình thức thông tin FDI

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra sâu rộng và mạnh mẽ ở tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ, việc hợp tác kinh tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài đem lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ bổ sung nguồn vốn, khoa học công nghệ, cơ hội hội nhập kinh tế quốc tế cho các nước tiếp nhận đầu tư mà còn tạo ra động lực để nâng cao năng lực con người, kích thích sự phát triển hạ tầng, cải cách thể chế, hệ thống pháp luật theo sự đòi hỏi của quốc tế, thúc đẩy doanh nghiệp trong nước phát triển Song FDI cũng đang nảy sinh không ít vấn đề tiêu cực ảnh hưởng lớn đến sự phát triển bền vững Từ tính hai mặt của FDI đặt trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt về lĩnh vực này giữa các quốc gia, các địa phương thì việc thông tin FDI như thế nào để vừa đảm bảo thu hút FDI vừa đảm bảo phát triển bền vững trở thành vấn đề cấp thiết Do đó, thông tin báo chí về FDI đòi hỏi phải có những bước tiến mới, nhạy bén và sáng tạo hơn Chính vì vậy, việc nghiên cứu về thông tin FDI

trên báo chí ở góc độ địa phương trở thành đề tài có ý nghĩa lý luận sâu sắc

Thời gian qua, báo mạng điện tử địa phương ở Việt Nam đã đóng góp quan trọng vào việc thu hút FDI cho các tỉnh/thành; cùng chính quyền, doanh nghiệp và người dân tại địa bàn giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình thu hút FDI Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thông tin báo chí còn bộc lộ khá nhiều hạn chế Về nội dung, thông tin về môi trường đầu tư, chính sách, hướng dẫn quy trình thủ tục pháp lý dành cho các nhà đầu tư còn chưa thực sự đầy đủ Báo chí chưa có nhiều thông tin tham vấn, phản biện dành cho các nhà quản lý, thông tin liên quan đến người dân như thu hồi đất, đền bù, giải phóng mặt bằng… Những mặt trái của FDI báo chí phản ánh chưa toàn diện, khách quan, đầy đủ Đó là vấn đề: ô nhiễm môi trường (vụ công ty Vedan, Formosa Hà Tĩnh ), chuyển giá, ép giá, hối

lộ, tham nhũng, thất thoát tài nguyên, nhập khẩu công nghệ lạc hậu, đe dọa an ninh quốc gia Nguyên nhân một phần không nhỏ là do hạn chế về nhận thức, năng lực,

Trang 11

lạm dụng chức quyền, lợi ích nhóm, địa phương Về hình thức, bức tranh thông tin FDI trên báo chí chưa thực sự sinh động, rõ nét Đôi khi báo mạng điện tử còn quá nhấn mạnh vào hạn chế của FDI, cách thể hiện chưa khách quan, cơ cấu, bố cục tin bài chưa hợp lý, xây dựng chuyên mục cho FDI chưa thường xuyên Như vậy, việc tiếp cận, nghiên cứu thông tin FDI trên báo mạng điện tử địa phương còn mang cả ý nghĩa thực tiễn rõ rệt

Để nghiên cứu thông tin FDI ở góc độ báo chí địa phương, tác giả lựa chọn khảo sát báo Hải Phòng điện tử và Quảng Ninh điện tử bởi:

Thứ nhất, trong một thập kỉ trở lại đây, làn sóng FDI ở Việt Nam đang có xu

hướng đổ vào khu vực Bắc Bộ vì đây là khu vực có nguồn dân cư - lao động dồi dào và có trình độ; cơ sở hạ tầng với mạng lưới giao thông, điện, nước có chất lượng hàng đầu trong cả nước; thị trường tiêu thụ lớn, cơ sở khai thác lãnh thổ lâu đời Hải Phòng và Quảng Ninh là hai tỉnh thành phía Bắc, thuộc khu vực Đồng bằng sông Hồng; nằm ở khu vực ven biển, vị thế chiến lược đối với sự phát triển kinh tế của khu vực phía Bắc; là một bộ phận quan trọng trong tam giác tăng trưởng kinh tế

Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; là khu vực kinh tế động lực hướng biển có tầm quan trọng đối với sự phát triển chung của cả miền Bắc, trong khu vực hợp tác “hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt - Trung” Nghị quyết số 54- NQ/TƯ, ngày 14

- 9 - 2009 về phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng - an ninh vùng Đồng bằng sông Hồng đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 đã nhấn mạnh vai trò cuả việc hình thành các trung tâm kinh tế lớn tại Hải Phòng và Quảng Ninh

Thứ hai, cả hai địa phương trong thời gian gần đây có những đột phá vượt trội

về thu hút FDI Quảng Ninh luôn đứng top 5 về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, đặc biệt năm 2016 vươn lên vị trí á quân, trở thành “ngôi sao cải cách” với nhiều thành tựu nổi bật trong xúc tiến đầu tư Hải Phòng sau nhiều năm với PCI đứng ở gần cuối bảng xếp hạng thậm chí có lúc chỉ số PCI còn tụt hạng thì bất ngờ năm

2016 trở thành tâm điểm của cả nước bởi việc thu hút FDI đạt tới 2,9 tỉ USD – đứng đầu cả nước Hải Phòng được những nhà đầu tư nước ngoài tên tuổi chọn mặt gửi vàng và thực tế đã làm ăn kinh doanh khá thành công như: Bridgestone, Fuji Xerox,

Trang 12

Rent-A-Port, LG Electronics, LG Display… Mặc dù vậy, so với tiềm năng và lợi thế cạnh tranh động của hai địa phương thì việc thu hút FDI vẫn chưa tương xứng Cho nên việc thông tin quảng bá, xây dựng hình ảnh địa phương trên báo chí cần được khẩn trương nghiên cứu, triển khai khoa học hơn

Thứ ba, cùng khảo sát hai địa phương có nhiều tương đồng về vị trí, tiềm

năng, nội lực và xuất phát điểm gần như ngang nhau trong phát triển kinh tế, du lịch, đô thị để thấy báo chí hai địa phương này sẽ thông tin giống và khác nhau như thế nào, có thành tựu gì để học hỏi và hạn chế nào cần khắc phục trong quá trình thông tin những vấn đề nóng hổi về FDI của địa phương

Thứ tư, chọn khảo sát báo mạng điện tử vì đây loại hình báo chí đang phát

triển mạnh, lượng công chúng trong và ngoài nước tăng nhanh nên các loại hình báo chí khác đều có xu hướng có thêm loại hình báo mạng điện tử FDI là lĩnh vực mang tính toàn cầu mà báo mạng điện tử lại có ưu thế hội nhập quốc tế cao nhất Tựu chung lại, xuất phát từ tầm quan trọng của FDI, thông tin FDI, những hạn chế còn tồn tại về thông tin FDI trên báo chí, những ưu thế, tiềm năng độc đáo của Hải Phòng và Quảng Ninh, sự đóng góp của thông tin báo chí trong phát triển kinh

tế xã hội tại các địa phương, ưu thế của báo mạng điện tử, tác giả lựa chọn vấn đề

"Thông tin đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trên báo chí địa phương (khảo sát báo Hải Phòng điện tử và Quảng Ninh điện tử từ 3/2016 đến 3/2017)"

2 Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài

Sau 30 năm mở cửa, thu hút FDI đến nay lĩnh vực này luôn luôn được giới nghiên cứu quan tâm Một số công trình dưới góc độ báo chí là:

- Vũ Thiên Hương (1996) Thông tin về vấn đề đầu tư nước ngoài tại Việt

Nam trên báo Đầu tư nước ngoài 1994 - 1995, Khóa luận tốt nghiệp, Khoa Báo chí,

Trường Đại học KHXH&NV Khóa luận đã bước đầu làm rõ vai trò FDI, trình bày thực trạng thông tin FDI trên cả phương diện nội dung và hình thức thông tin, nêu một số giải pháp góp phần báo Đầu tư thực hiện tốt hơn thông tin về FDI

- Bùi Phương Thảo (2002) Tình hình đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong

những năm gần đây qua sự phản của Báo chí (Báo Đầu tư, Thời báo Kinh tế Việt

Trang 13

Nam, tạp chí Kinh tế dự báo từ năm 2000 đến nay), Khóa luận tốt nghiệp, Khoa

Báo chí, Trường Đại học KHXH&NV Khóa luận này đã phản ánh được tình hình biến động của nguồn vốn FDI, bước đầu làm rõ được vai trò báo chí thông tin tuyên truyền về vần đề này tuy còn sơ lược

- Vương Tuấn Anh (2002) Thông tin đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trên

báo chí (Khảo sát trên báo Đầu tư, báo Thời báo Kinh tế và Tạp chí Vietnam Economic News 9 tháng cuối năm 2001 - 3 tháng đầu năm 2002), Khóa luận tốt

nghiệp, Khoa Báo chí, Trường Đại học KHXH&NV Trên cơ sở khảo sát các tin bài trên các báo, tác giả khóa luận đã nêu bức tranh tổng thể tuyên truyền về FDI trên báo chí, đề cập mặt được và chưa được và nêu những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng thông tin trên các báo khảo sát

- Nguyễn Thị Hồng Vân (2009), Báo chí với vấn đề đầu tư trực tiếp nước

ngoài tại Việt Nam (Khảo sát Báo Đầu tư, Thời báo Kinh tế Việt Nam và Lao động,

2007 - 2008), Luận văn Thạc sĩ, Khoa Báo chí, Trường Đại học KHXH&NV Luận văn nghiên cứu: Đường lối của Đảng, Nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài và vai trò của báo chí về lĩnh vực này; Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam qua phản ánh của báo chí giai đoạn 2007 – 2008; Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả của báo chí về vấn đề đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Nguyễn Thị Huyền Thương (2013) Hình ảnh truyền thông của doanh

nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy trên báo mạng điện tử Việt Nam, Luận văn

thạc sĩ báo chí học Trường Đại học KHXH&NV Luận văn này khảo sát 3 trang báo mạng điện tử là: VnExpres.net, Vneconomy.vn và Dddn.com.vn (từ 7/2011 đến 6/2012) Đề tài đã làm rõ: Mối quan hệ giữa hình ảnh truyền thông của doanh nghiệp và báo mạng điện tử; Đánh giá chung việc thể hiện hình ảnh truyền thông của doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy trên báo mạng điện tử hiện nay; Cách thức thể hiện thông điệp trên báo mạng điện tử của doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy và đề xuất giải pháp nâng cao hình ảnh truyền thông của các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực ô tô, xe máy

Trang 14

Các công trình nghiên cứu về FDI dưới góc độ báo chí nêu trên ở mức độ nhất định cũng đã nêu được thực trạng thông tin FDI trên các báo thuộc diện khảo sát tại những thời điểm cụ thể Tuy nhiên, các công trình kể trên về thời gian khảo sát đã

cũ và đối tượng, phạm vi khảo sát cũng khác biệt với đề tài mà tác giả sẽ tiến hành Nói cách khác, đề tài luận văn không có sự trùng lặp Như vậy, nghiên cứu về FDI trên báo chí địa phương mà cụ thể là trên báo Hải Phòng điện tử và Quảng Ninh điện tử là vấn đề chưa từng được nghiên cứu Đề tài hứa hẹn sẽ có những đóng góp cho lý luận khoa học báo chí cũng như hoạt động thực tiễn tại các cơ quan báo chí

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Nâng cao chất lượng thông tin FDI, tăng uy tín và

lượng độc giả cho báo chí địa phương; góp phần thu hút FDI chất lượng cao, phát triển bền vững cho các địa phương

Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Làm rõ cơ sở lý luận thông tin FDI trên báo chí, cụ thể là tổng quan về FDI, thông tin báo chí, vai trò của báo chí địa phương và báo mạng điện tử, các yếu tố

quyết định chất định thông tin FDI

- Phân tích thực trạng nội dung và hình thức thông tin về FDI trên báo chí

- Chỉ ra nguyên nhân thành công và hạn chế, thách thức khi thông tin FDI

- Đề xuất biện pháp nâng cao chất lượng thông tin về FDI

4 Đối tượng phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Thông tin về FDI trên báo mạng điện tử địa phương Phạm vi nghiên cứu: Để đảm bảo tính khoa học và khả năng thực tế trong

triển khai vấn đề nghiên cứu, luận văn sẽ tập trung (giới hạn) nội dung vào khảo sát

2 tờ báo mạng điện tử là Hải Phòng điện tử và Quảng Ninh điện tử trong 1 năm (từ 3/2016 đến 3/2017)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận: Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận về báo chí,

kinh tế chính trị, bám sát quan điểm của Đảng và Nhà nước về báo chí và FDI thông

qua Luật báo chí 2016, Luật Đầu tư 2014, các nghị quyết, chỉ thị…

Trang 15

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Chọn lọc và nghiên cứu các tài liệu liên

quan đến báo chí và FDI như: sách, giáo trình, bài phát biểu, tham luận, bài báo, website, nghị định, nghị quyết, các văn bản do Đảng và Nhà nước, UBND tỉnh/thành phố ban hành

- Phương pháp phân tích nội dung: Lập phiếu khảo sát để thống kê, phân

tích, so sánh các dữ liệu tin, bài trên báo Hải Phòng điện tử và Quảng Ninh điện tử dựa trên cơ sở lý luận

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện 8 cuộc phỏng vấn: 2 lãnh đạo cơ

quan quản lý về đầu tư nước ngoài, 2 lãnh đạo cơ quan báo chí, 2 nhà đầu tư nước

ngoài, 2 phóng viên ban kinh tế của báo mạng điện tử

- Phương pháp điều tra xã hội học (bảng hỏi anket): Lập và phát 400 phiếu

cho công nhân làm việc tại khu vực FDI và người dân địa phương tại Hải Phòng và Quảng Ninh

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

- Ý nghĩa lý luận: Đề tài sẽ làm rõ hơn những vấn đề chung về FDI trên báo

chí địa phương như: khái niệm, vai trò, các nhân tố tác động đến việc thông tin FDI

- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có giá trị tham khảo đối với người làm báo ở

địa phương, báo mạng điện tử khi thông tin về FDI; các nhà lãnh đạo, quản lý kinh

tế quan tâm đến truyền thông về FDI

7 Kết cấu bố cục

Luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Những vấn đề chung về thông tin đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trên báo chí địa phương

- Chương 2: Thực trạng thông tin đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trên báo Hải Phòng điện tử và Quảng Ninh điện tử

- Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng thông tin đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trên báo chí địa phương

Trang 16

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THÔNG TIN ĐẦU TƯ TRỰC

TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) TRÊN BÁO CHÍ ĐỊA PHƯƠNG

1.1 Thông tin đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

1.1.1 Thông tin báo chí

1.1.1.1 Thông tin

Lịch sử tồn tại và phát triển của người đã chứng minh thông tin luôn là một phần thiết yếu phục vụ cho cuộc sống Trong xã hội hiện đại, thông tin ngày càng quan trọng, trong một số trường hợp nó có ý nghĩa sống còn với con người Khái niệm thông tin đã được nhắc tới từ những thế kỷ trước trong nhiều ngành khoa học với cách định nghĩa từ đơn giản đến hàn lâm:

- Theo tiếng Latinh - Informatio nghĩa là thông báo, tóm tắt, giải thích

- Theo quan điểm Triết học: Thông tin là một phạm trù triết học, phản ánh sự vận động, tương tác của các hiện tượng, sự vật; là cái đa dạng được phản ánh

- Trong lĩnh vực Tin học: Thông tin là các kích thích có ý nghĩa trong một số ngữ cảnh cho người nhận Khi thông tin được nhập và lưu trữ trong máy tính thì được gọi là dữ liệu Sau khi xử lý (như định dạng, in), dữ liệu đầu ra được hiểu là thông tin

- Nhà điều khiển học Wiener: Thông tin là từ ý tưởng của nó gắn với các vấn

đề của các quyết định, truyền thông và kiểm soát

- Nhà khoa học Claude Shannon: Thông tin như một thước đo thuần túy định lượng trao đổi giao tiếp

- Nhà khoa học E Pietch: Thông tin là một sản phẩm mà với ý nghĩa, công dụng của nó có thể xem ngang hàng với trữ lượng nguyên liệu của nước đó

- Trong lĩnh vực quản lý: Thông tin là hệ thống tri thức được thu thập và xử lý

để phục vụ cho việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá và ra quyết định

- Theo từ điển tiếng Việt: Thông tin (động từ) là truyền tin cho nhau để biết; (danh từ) là điều được truyền đi cho biết, tin truyền đi

Trang 17

- Theo từ điển tiếng Anh: Thông tin là sự chuyển giao tri thức để tăng thêm sự hiểu biết hay điều mà người ta đánh giá hoặc nói đến, là tin tức, tri thức

Ở mỗi ngành khoa học, khái niệm thông tin đem lại những góc nhìn khác nhau Song có thể tiếp cận khái niệm này một cách cơ bản như sau:

Thông tin là tổng thể các tri thức, thông báo, tin tức về sự vật, hiện tượng tồn tại trong các hình thức nhất định, đem lại sự hiểu biết và giúp ra các quyết định

Trong lĩnh vực báo chí, thông tin được coi là chức năng hàng đầu của báo chí Xét theo nghĩa hẹp, “thông tin” được hiểu là các tin tức ngắn gọn chỉ đơn thuần thông báo về các vấn đề sự kiện vừa mới xảy ra mà không bình luận, phân tích, đánh giá vấn đề

Xét theo nghĩa rộng, “thông tin” được bắt nguồn từ toàn bộ nội dung và hình thức tác phẩm báo chí mà công chúng tiếp nhận Từ đó, dưới góc độ cá nhân, công chúng tiếp thu, cảm nhận, nắm bắt được vấn đề rồi đánh giá, chọn lọc, thừa nhận, tạo sự chuyển biến trong nhận thức, tiến tới mức độ cao hơn là tiếp tục sử dụng tin tức để tìm hiểu, mở rộng, đào sâu, phát triển, làm sáng tỏ, phản biện, phổ biến… nhằm hình thành các giá trị về đạo đức, tri thức, nhân sinh quan, thế giới quan ở mức độ khác nhau cho bản thân và xã hội Thông tin báo chí phải hiểu theo nghĩa rộng mới kiến giải được ý nghĩa và tầm quan trọng trong mối quan hệ giữa nhà báo

- tác phẩm - công chúng

Như vậy thông tin là các sự kiện đem lại hiểu biết cho con người thông qua các phương tiện, hình thức biểu diễn thông tin Thông tin ẩn chứa mọi mặt của đời sống xã hội nhưng nó chỉ trở nên có ý nghĩa, giá trị khi nó nhìn nhận thấu đáo, phân tích kỹ lưỡng, được phổ biến rộng rãi, sử dụng đem lại kết quả

1.1.1.2 Thông tin báo chí

Thông tin nói chung và thông tin báo chí nói riêng đều nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người vì sự phát triển và tiến bộ xã hội Trong lĩnh vực báo chí, thông tin được coi là chức năng cơ bản nhất Bởi lẽ, con người tiếp nhận thông tin để thay đổi trạng thái ý thức, tạo sự chuyển biến trong nhận thức Thông tin cùng với sự lớn

Trang 18

mạnh không ngừng hệ thống báo chí đã trở thành quyền lực, sức mạnh trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, có sự ảnh hưởng sâu sắc tới sự phát triển kinh tế xã hội, khoa học công nghệ, làm thay đổi, cải biến con người, làm dung hòa, rút ngắn sự khác biệt về văn hóa, kiến thức, kỹ năng

Ở nước ta, báo chí là phương tiện thông tin có mục đích với khả năng tác động mạnh mẽ, sâu rộng và liên tục đến mọi giai tầng trong xã hội nhằm thuyết phục, hướng dẫn, tập hợp công chúng xã hội giải quyết các vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển, phát huy sức mạnh toàn dân, tích cực tham gia vào sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc Với ý nghĩa đó, nhà báo phải thường xuyên sáng tạo, đón bắt sự kiện, dự báo xu hướng của các hiện tượng trong đời sống xã hội, lựa chọn hình thức, phương pháp truyền tải thông tin phù hợp, hiệu quả nhất để cho ra đời những tác phẩm báo chí được công chúng tiếp nhận và thừa nhận Cho nên, tác phẩm báo chí chỉ trở nên có giá trị khi chứa đựng thông tin chất lượng tốt, mang lại tri thức và được công chúng sử dụng Vậy chất lượng, giá trị của thông tin báo chí được thể hiện qua các yếu tố:

- Tính chân thực, khách quan, có thông điệp rõ ràng, gắn với lợi ích của công chúng Điều kiện tiên quyết để thông tin có giá trị là khi nó phản ánh sự thật, trách nhiệm của nhà báo là tôn trọng cái có thật và tôn trọng công chúng

- Tính thời sự, nhanh chóng, kịp thời: Tốc độ đưa tin được tính từ khi sự kiện vừa xảy ra, trải qua khâu khai thác, xử lý, sản xuất cho tới lúc đăng tải và đến được với công chúng Các cơ quan báo chí luôn cạnh tranh gay gắt về điều này, và người nào đi trước sẽ luôn được công chúng “ưu tiên”, giành phần thắng trong cuộc chạy đua chiếm lĩnh lượng người đọc, người nghe, người xem Chính vì vậy, kỹ thuật và công nghệ làm báo tại bất kỳ cơ quan báo chí nào cũng cần phải đổi mới, cập nhật liên tục để luôn là người đi tiên phong cung cấp những thông tin mới mẻ, nóng hổi, được nhiều người quan tâm, đón đợi

- Tính tường minh, dễ hiểu, hàm súc: Thông tin báo chí hướng tới đối tượng là đông đảo công chúng xã hội, mọi tầng lớp nhân dân ở các trình độ, kiến thức và quan điểm xã hội khác nhau Để tiếp nhận hiệu quả nhất, thông tin đưa ra cần rõ

Trang 19

ràng, dễ nắm bắt, đem lại sự hiểu biết thống nhất cho công chúng Đồng thời, để hiểu tường tận, nhanh chóng, tiết kiệm thời gian, cách thể hiện thông tin phải được

hệ thống một cách trọn vẹn trong một chỉnh thể cô đọng, súc tích nhất Tóm lại là, thông tin cần ngắn gọn mà vẫn đủ ý

- Tính gần gũi, hữu dụng (về không gian địa lý, lợi ích, sự liên đới): Công chúng có xu hướng quan tâm nhiều đến những gì xảy ra ở gần nơi họ sinh sống, làm việc bởi nó thân quen, gắn liền với cuộc sống của họ Do vậy, những thông tin về sự kiện xảy ra tại địa phương thường được người dân ở nơi đó quan tâm trước tiên Trong nhiều trường hợp, những thông tin này liên quan trực tiếp đến lợi ích của bản thân, gia đình và địa phương họ Đó là nhu cầu chung của mỗi cá thể tiếp trong tiếp nhận thông tin: từ gần đến xa, từ tỉnh thành tới trung ương, từ trong nước đến quốc

tế Những thông tin hợp thời là những tin tức làm thỏa mãn nhu cầu, mối quan tâm, chờ đón của công chúng Nhà báo cần quan tâm đến nhu cầu, quyền lợi chính đáng

về thông tin của công chúng để kết hợp hải hòa việc cập nhật các mảng thông tin đa dạng, phong phú, có sự định hướng tới các vấn đề quan trọng, cấp bách, có lợi cho người dân và sự phát triển chung của xã hội

- Tính độc đáo, mới lạ và sáng tạo trong phương thức thể hiện thông tin: Một

sự kiện từ rất nhỏ cho tới vụ việc lớn lao, nổi cộm đều không nằm ngoài sự “nghe ngóng” của báo giới Yếu tố “lạ” luôn tạo sự hứng thú, tò mò cho công chúng Vì thế, cùng một vấn đề được nhiều cơ quan báo chí đưa tin nhưng cách độ tiếp cận lại khác nhau Mở rộng vấn đề ở khía cạnh nào, hướng đến đối tượng tiếp nhận nào lại

là sự linh hoạt, nhạy bén, năng lực riêng của mỗi nhà báo Điều này tạo ra sự khác biệt và góp phần phân chia mức độ uy tín, vị thế của các cơ quan báo chí với công chúng

- Tính nhân văn, hướng thiện: Thông tin phải đảm bảo phù hợp với các giá trị văn hóa quốc gia, tôn trọng đạo lý của dân tộc; biểu dương, tôn vinh cái tốt đẹp, cao cả; phê phán, tẩy chay cái xấu; định hướng con người và xã hội đến cái chân, thiện,

mỹ

Thông tin báo chí thường được khu biệt thành các nhóm sau:

Trang 20

- Thông tin thời sự - chính trị: Loại thông tin này chiếm thời lượng lớn trong thông tin báo chí, hướng tới đối tượng là đông đảo quần chúng nhân dân với mục đích chính trị

- Thông tin tư vấn, chỉ dẫn: Đề cập các vấn đề, sản phẩm, dịch vụ chuyên biệt cho nhóm công chúng nhất định

- Thông tin giải trí: Nhằm thỏa mãn nhu cầu hiểu biết về các lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, thể thao…

- Thông tin quảng cáo: Truyền thông, quảng bá về các loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ dưới nhiều hình thức

1.1.2 Thông tin FDI trên báo chí

1.1.2.1 FDI

a/ Tổng quan về FDI

FDI là một loại hình đầu tư quốc tế dựa trên cơ sở của quá trình dịch chuyển

tư bản giữa các quốc gia Nhiều định nghĩa về FDI được các tổ chức kinh tế quốc tế

và luật pháp các nước đưa ra:

* Tổ chức Thương mại thế giới – WTO (World Trade Organization): Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư)

có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”

* Tổ chức hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển – UNCTAD (United Nations Conference on Trade And Developement): FDI là hoạt động đầu tư bao gồm mối quan hệ dài hạn, phản ánh lợi ích và quyền kiểm soát lâu dài của một thực thể thường trú ở một nền kinh tế (nhà đầu tư nước ngoài hoặc công ty mẹ nước ngoài) đối với một doanh nghiệp thường trú ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế

Trang 21

của nhà đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp FDI), doanh nghiệp liên doanh hoặc chi nhánh nước ngoài [4,tr.20,21]

* Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD): FDI phản ánh mục đích thu được lợi nhuận lâu dài của một thực thể thường trú ở một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) tại một thực thể thường trú ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp) FDI bao gồm mọi giao dịch ban đầu và các giao dịch vốn về sau giữa hai thực thể đó; cũng như giữa các doanh nghiệp liên doanh, kể cả hợp nhất và không hợp nhất [4,tr 22]

* Quỹ Tiền tệ quốc tế - IMF (International Money Fund): đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ lâu dài với một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh thế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp

* Ngân hàng thế giới (World Bank): đầu tư trực tiếp nước ngoài là dòng vốn đầu tư ròng để thu được lợi ích quản lý lâu dài (từ 10% trở lên cổ phiếu có quyền biểu quyết) trong một doanh nghiệp hoạt động trong một nền kinh tế không phải là nhà đầu tư Đây là tổng vốn cổ phần, tái đầu tư thu nhập, vốn dài hạn khác và vốn ngắn hạn như thể hiện trong cán cân thanh toán

* Luật Đầu tư 2005 của Việt Nam: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu

tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư [4,tr 24]

* Luật Đầu tư 2014 khái niệm “đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp” ở nước ta

đã được thay thế bằng khái niệm “đầu tư kinh doanh” Tuy nhiên, các khái niệm về FDI, hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn được sử dụng rộng rãi

Như vậy, có thể hiểu đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư dài

hạn của các tổ chức, cá nhân nước này vào nước khác bằng việc trực tiếp góp vốn, tài sản, công nghệ hoặc bất kỳ tài sản nào để thành lập doanh nghiệp hoặc kiểm soát doanh nghiệp nhằm kinh doanh có lợi nhuận

Đặc điểm chủ yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài:

Trang 22

Một là, FDI gắn liền với việc di chuyển vốn đầu tư (tiền, các tài sản khác giữa

các quốc gia) do đó lượng tiền và tài sản giảm đi ở nền kinh tế nước đi đầu tư và tăng lên ở nước tiếp nhận đầu tư

Hai là, FDI được tiến hành thông qua việc bỏ vốn thành lập doanh nghiệp

mới, hợp đồng hợp tác kinh doanh, mua lại các chi nhánh, doanh nghiệp hiện có, mua cổ phiếu ở mức khống chế hoặc tiến hành các hoạt động hợp nhất và chuyển nhượng doanh nghiệp

Ba là, nhà đầu tư nước ngoài là chủ sở hữu hoàn toàn vốn đầu tư hoặc cùng sở

hữu vốn đầu tư với một tỉ lệ nhất định đủ mức để trực tiếp tham gia quản lý hoạt

động của doanh nghiệp

Bốn là, FDI chủ yếu là hoạt động đầu tư của tư nhân nhằm thu lợi nhuận cao

nhất có thể, chịu sự điều tiết của quan hệ thị trường trên quy mô toàn cầu, ít bị ảnh hưởng bởi các mối quan hệ chính trị giữa các quốc gia

Năm là, nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài tham gia kiểm soát, điều hành quá

trình đầu tư và kinh doanh của doanh nghiệp

Sáu là, FDI chủ yếu do các công ty xuyên quốc gia thực hiện

Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài theo Luật Đầu tư 2014 do Quốc

hội nước CHXHCN Việt Nam ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2014, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2015:

Thứ nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức đầu tư thành lập tổ chức

kinh tế (Điều 22)

Thứ hai, đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ

chức kinh tế (Điều 24)

Thứ ba, đầu tư theo hình thức đối tác công tư (gọi là hợp đồng PPP – Public -

Private Partner) là hợp đồng được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện dự án đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp, mở rộng, quản lý và vận hành công trình kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch vụ công (Điều 27)

Trang 23

Thứ tư, hợp đồng hợp tác kinh doanh (gọi là họp đồng BCC – Business

Cooperation Contract) là hợp đồng được ký giữa các nhà đầu tư nước ngoài với nhà đầu tư trong nước hoặc Chính phủ nước sở tại nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập tổ chức kinh tế (Điều 8)

b/ Tác động của FDI đối với sự phát triển của địa phương

* Đóng góp tích cực của FDI

FDI bổ sung nguồn vốn cho đầu tư phát triển, đóng góp đáng kể vào ngân sách Nhà nước, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế Sự vận động của GDP có sự gắn bó chặt chẽ với vốn FDI Khả năng tăng trưởng kinh tế của nước ta có sự đóng góp đáng kể của FDI Theo Bộ Trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà, khu vực FDI đóng góp 70% vào tốc độ tăng trưởng, 70% kim ngạch xuất khẩu, 59% kim ngạch nhập khẩu của nước ta hiện nay

Kinh tế đầu tư nước ngoài chiếm gần 30% tổng vốn đầu tư phát triển tại Hải Phòng

Nguồn:Cục Thống kê Hải Phòng năm 2017

FDI làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội của nhiều tỉnh thành trong cả nước Bình quân FDI của các địa phương đóng góp khoảng 30 - 40% tốc độ tăng trưởng, một số nơi còn lên tới 70 – 80% Điển hình là Vĩnh Phúc từ một tỉnh nghèo, thuần nông, nông nghiệp chiếm hơn 50% trong cơ cấu kinh tế thì đến 3 tháng đầu năm

2016 tổng thu ngân sách nhà nước từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt gần 6.000 tỉ đồng, chiếm 79% tổng thu trên địa bàn tỉnh

Trang 24

FDI tạo ra một số lượng lớn việc làm cho lao động có kỹ thuật cao với mức lương cao hơn nhiều so với mức trung bình của xã hội Số lượng lao động trong doanh nghiệp FDI ngày càng tăng mạnh Năm 1990 tỉ lệ lao động khu vực FDI chiếm 0,04% lực lượng lao động cả nước thì đến năm 2015 lên tới 4,2% với 2,2 triệu lao động, chưa kể 2,5 triệu lao động gián tiếp Chất lượng lao động cũng tăng lên đáng kể bởi người lao động có điều kiện được đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên

về trình độ khoa học, quản lý… phù hợp với công nghệ và phương thức kinh doanh tiên tiến

FDI thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa -hiện đại hóa, phát triển nhiều ngành công nghiệp và sản phẩm mới (bao gồm cả hàng tiêu dùng thông thường và hàng cao cấp đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng tại thị trường trong nước) giúp ổn định thị trường và giá cả Cụ thể là:

- FDI trong công nghiệp và xây dựng chiếm khoảng hơn 50%, hình thành một

số ngành công nghiệp chủ lực tại địa phương: khai thác dầu khí (liên doanh dầu khí Việt - Xô - Vietsovpetro tại Bà Rịa - Vũng Tàu), công nghiệp ô tô (công ty Honda Việt Nam tại Vĩnh Phúc), điện tử (công ty LG Electronics tại Hải Phòng), dệt may,

Trang 25

Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu phân theo khu vực kinh tế

Nguồn: Tổng Cục thống kê

- FDI nâng cao trình độ công nghệ của nền kinh tế, giúp nước ta có cơ hội, điều kiện để tiếp cận với công nghệ tiên tiến trong các lĩnh vực: dầu khí, viễn thông, tin học, cơ khí chế tạo, quang cơ – điện tử như Công ty TNHH Muto, Nidec, Tosok, Nissei… ; nghiên cứu, phát triển, thiết kế các vi mạch và các chức năng cho IC bán dẫn như Công ty TNHH Renesas…

- Thông qua việc liên kết sản xuất với doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp trong nước được tiếp cận hoạt động chuyển giao công nghệ để tự sản xuất

* Tác động tiêu cực từ FDI

Song song với những kết quả nổi bật trên thì FDI vẫn bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế, cụ thể là:

Vấn đề sử dụng lao động: Lao động trong FDI sử dụng nhân công trình độ

thấp, tuổi đời trẻ, cường độ làm việc cao, chế độ bảo hiểm xã hội còn nhiều bất cập

Mặc dù FDI tạo ra hàng triệu việc làm, cải thiện đời sống của người lao động nhất là lao động vốn xuất phát từ sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, số lượng nhiều nhưng chất lượng và sự ổn định lâu dài lại là điều không dám chắc Việc nâng cao tay nghề, chuyên môn cho người lao động chưa được nhà đầu tư quan tâm đúng mức Lợi nhuận là tối quan trọng nên họ khai thác triệt để lao động trẻ, đóng bảo hiểm xã hội thấp, mức lương so với cường độ lao động chưa hợp lý Người lao động

Trang 26

vẫn chịu thua thiệt khi có tranh chấp xảy ra Vấn đề lao động không được đào tạo khi tuổi ngoài 35 phải bỏ việc do doanh nghiệp có xu hướng chỉ sử dụng lao động trẻ khiến một lực lượng người thất nghiệp trong tương lai là điều nhìn thấy rõ Hệ lụy của điều này sẽ kéo theo nhiều vấn đề xã hội khác như: đời sống không ổn định, đói nghèo, tệ nạn xã hội…

Vấn đề chuyển giá: Lãi thật, báo lỗ giả gây thất thu ngân sách

Hoạt động chuyển giá của doanh nghiệp FDI diễn ra ngày càng tinh vi và phổ biến Đó là việc định giá của những máy móc, thiết bị công nghệ này (vốn lạc hậu hoặc đã hết khấu hao), bản quyền thương hiệu tăng lên gấp nhiều lần so với giá trị thực Hoặc việc bán hàng hóa, nguyên vật liệu cho các bên có quan hệ liên kết với giá thấp hơn với đối tác khác để chuyển nhiều lợi nhuận trước thuế ra ngoài; các công ty mẹ ký hợp đồng với các đối tác nước ngoài với giá gia công sản xuất dịch

vụ cao nhưng lại giao công ty con ở Việt Nam sản xuất gia công dịch vụ với giá thấp; báo lỗ thông qua việc bán hàng hóa dịch vụ xuất khẩu với giá bán thấp hơn giá vốn, tăng chi phí quản lý, vay với lãi suất cao nhằm tăng giá trị đầu vào… Nhiều doanh nghiệp FDI kinh doanh với quy mô lớn như Metro, Big C, Pepsi, Coca Cola… lại đóng thuế rất ít khiến dư luận bất bình Hơn nửa số doanh nghiệp FDI trên cả nước đều báo lỗ Đáng ngờ là việc trong lĩnh vực may mặc, các doanh nghiệp trong nước đều làm ăn có lại thì hầu hết doanh nghiệp FDI lại báo lỗ Con

số hàng nghìn doanh nghiệp FDI có dấu hiệu chuyển giá thực sự là tiếng chuông báo động [66]

Điều này dẫn đến việc những doanh nghiệp FDI chuyển giá mặc dù lãi thật thậm chí lãi nhiều nhưng lại báo lỗ trong nhiều năm để trốn thuế, ngân sách bị thất thu, cạnh tranh thiếu lành mạnh với các doanh nghiệp trong nước và giữa các doanh nghiệp FDI với nhau, gây nên bất ổn trong môi trường đầu tư

Vấn đề ô nhiễm môi trường: Thu hút FDI bằng mọi giá, thiếu kiểm tra, giám

sát đánh giá tác động môi trường của doanh nghiệp, thiếu chế tài xử lý nghiêm minh

Trang 27

Ô nhiễm môi trường là nguy cơ có thể thấy từ rất lâu kể từ khi FDI bắt đầu vào Việt Nam với nhiều lĩnh vực sản xuất, chế biến sử dụng nhiều hóa chất Nhưng dường như những mặt tích cực lại “lấn át” những mặt tiêu cực khiến sự cảnh giác,

đề phòng để chống chọi lại những tác động xấu về môi trường của FDI trở nên yếu

ớt, lơ là Chỉ đến khi quá nhiều vụ việc, thảm họa gây xôn xao, bức xúc như đã kể trên mới khiến chúng ta giật mình, bàng hoàng nhìn nhận lại vấn đề Quá nhiều dự

án được thông qua khi chưa kiểm tra tác động môi trường thực tế, thiếu giám sát thường xuyên và có chế tài xử lý mạnh mẽ, đủ sức răn đe Và hậu quả để lại là tài nguyên bị lãng phí, môi trường bị hủy hoại, sức khỏe con người bị đe dọa và hình ảnh doanh nghiệp FDI trở nên xấu xí hơn bao giờ hết Và khi phát hiện ra một cách khó khăn, tốn nhiều công sức thì sự việc đã đi quá xa, hậu quả để lại nặng nề

Vấn đề chuyển giao công nghệ: chủ yếu là công nghệ trung bình, luật

Chuyển giao công nghệ chưa chặt chẽ

So với các nước trong khu vực và trên thế giới, công nghệ tiếp nhận từ các doanh nghiệp FDI ở nước ta vẫn đang ở mức độ trung bình Hợp đồng chuyển giao công nghệ lại có giá cao hơn nhiều so với việc đi mua công nghệ của các nước phát triển Việc yếu kém về năng lực thẩm định chất lượng dự án ở một số địa phương, lợi ích cục bộ đã tiếp tay cho việc nhập khẩu công nghệ lạc hậu, hao tốn tài nguyên,

đe dọa môi trường Việc đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực, lao động có chất lượng cao đáp ứng việc chuyển giao công nghệ còn gặp nhiều trở ngại Luật chuyển giao công nghệ, chính sách của một số địa phương còn chưa cứng rắn trong việc yêu cầu

và giám sát doanh nghiệp FDI thực hiện chuyển giao công nghệ

1.1.2.2 Thông tin FDI trên báo chí

Thông tin FDI là truyền đi những tin tức tri thức, vấn đề, dữ liệu về FDI tới công chúng (cụ thể là các nhà quản lý, nhà đầu tư, người dân nói chung) nhằm đem lại sự hiểu biết về các vấn đề liên quan đến FDI nhằm mục đích quản lý, tăng cường thu hút FDI để phát triển kinh tế xã hội

Hiện nay thông tin FDI là vấn đề được báo chí phản ánh, cập nhật thường xuyên trên nhiều loại hình báo chí từ trung ương đến địa phương trong các chuyên

Trang 28

trang, chuyên mục về kinh tế, đầu tư Tuy nhiên, tùy theo tôn chỉ mục đích và phạm

vi phản ánh, mỗi cơ quan báo chí lại có những góc độ khai thác thông tin khác nhau FDI là vấn đề thu hút sự quan tâm lớn của mọi quốc gia trên thế giới, có ảnh hưởng sâu sắc tới nền kinh tế của đất nước cho tới đời sống của từng cá nhân Do

đó, FDI là đề tài được phản ánh từ nhiều năm qua và vẫn luôn là vấn đề không thể vắng mặt trong các thông tin về kinh tế xã hội Thông tin FDI hướng tới các nhóm công chúng mục tiêu cụ thể là:

* Đối với nhà quản lý FDI, báo chí thể hiện chức năng giám sát và phản biện

xã hội, cung cấp thông tin phản hồi của nhân dân đối với các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Bằng những bài phân tích sâu có ý kiến của các chuyên gia kinh tế, báo chí giúp nhà quản lý đưa ra những chính sách phù hợp cho FDI, kiến nghị giải pháp hoàn thiện môi trường đầu tư, tinh gọn các thủ tục đầu tư mà vẫn đảm bảo tính khoa học, chặt chẽ

* Đối với doanh nghiệp và nhà đầu tư, báo chí cung cấp các thông tin về đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng về đầu tư nước ngoài, các văn bản luật liên quan đến doanh nghiệp và đầu tư, thông tin kịp thời những mô hình kinh tế mới, những xu hướng, chiến lược hay, cơ hội mới trong kinh doanh, hợp tác Đồng thời báo chí giúp doanh nghiệp phản hồi, kiến nghị những bất cập, khó khăn trong việc thực hiện các quy định của Nhà nước; kết nối giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước; làm vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng, người lao động… Nhà đầu tư có thể tìm nhiều nguồn thông tin trong quá trình khảo sát đầu tư, tuy nhiên để thấy được sự khách quan nghĩa là thấy cả mặt tích cực và tiêu cực thì báo chí có ưu thế hơn những nguồn như các trang web, cổng thông tin của chính phủ hoặc của chính quyền địa phương

* Đối với người dân, báo chí đem lại nhận thức chung về đầu tư nước ngoài, nhằm tạo sự đồng thuận, ủng hộ của nhân dân đối với các chủ trương của Nhà nước

về phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Ví dụ, khi xây dựng cơ sở vật chất cho doanh nghiệp, cơ sở hạ tầng phục vụ cho FDI, báo chí giúp nhân dân có hiểu biết đúng đắn về việc đền bù, giải phóng mặt bằng, tạo điều kiện

Trang 29

thuận lợi cho các đơn vị thi công công trình Đồng thời báo chí còn khuyến khích, kêu gọi người dân trở thành “tai mắt” để giám sát hoạt động tại khu vực FDI để kịp thời cung cấp thông tin kiến nghị, phản hồi Ngoài ra, báo chí đưa ra các dự báo xu hướng phát triển của các doanh nghiệp FDI tại địa phương cũng như nhu cầu về lao động có tay nghề trong từng lĩnh vực chuyên môn Do vậy, báo chí góp phần định hướng cho công tác giáo dục đào tạo và dạy nghề nhằm đón đầu, đáp ứng phù họp với nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp Trong lao động sản xuất, báo chí giúp người lao động phản ánh và hỗ trợ nhằm giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong các vấn đề như: lao động tiền lương, chế độ, mối quan hệ giữa người lao động

và nhà quản lý doanh nghiệp…

Có thể nói, báo chí đã và đang đóng vai trò “người bạn đồng hành” của FDI trong việc quảng bá mạnh mẽ hình ảnh đất nước, con người Việt Nam với những lợi thế, tiềm nămg, sự phát triển, tiến bộ xã hội cũng như khách quan nhìn nhận những khó khăn, tồn tại trong xây dựng và phát triển kinh tế cũng; mở rộng cửa, nồng nhiệt đón chào và tạo điều kiện hết sức cho các cơ hội đầu tư kinh doanh tại Việt Nam Xuất phát từ tầm quan trọng và lợi ích thiết thực kể trên, từ nhà quản lý, đến doanh nghiệp và người dân đều rất quan tâm đến thông tin FDI Do đó, đây là nhóm thông tin có sức hút lớn trên báo chí

1.2 Ưu thế của báo chí địa phương và báo mạng điện tử trong thông tin FDI

1.2.1 Ưu thế của báo chí địa phương trong thông tin FDI

Báo chí có vai trò rất lớn đối với hoạt động và sự phát triển của kinh tế đất nước nói chung và của địa phương nói riêng, là người bạn đồng hành trong quá trình thu hút FDI Báo chí địa phương với ưu thế là cơ quan báo chí chính thống, đại diện cho tiếng nói của chính quyền và người dân, khả năng cung cấp các thông tin sâu mang tính đặc trưng đã góp phần tích cực vào việc truyền thông về đầu tư nước ngoài Như vậy, phản ánh những vấn đề FDI tại địa phương là điều cấp thiết, đáng quan tâm hiện nay

Trang 30

Báo địa phương có những ưu thế trong việc khai thác nguồn thông tin trực tiếp thông qua các cuộc gặp gỡ, làm việc của các các lãnh đạo cao nhất của trung ương, địa phương với các nhà đầu tư nước ngoài; được nắm thông tin có hệ thống từ đầu tạo điều kiện cho việc tuyên truyền có kế hoạch.Phóng viên báo địa phương có cơ hội, được tạo thuận lợi đi công tác cùng các đoàn xúc tiến đầu tư thương mại, đoàn làm việc tại nước ngoài, được tìm hiểu về doanh nghiệp FDI về cơ sở hạ tầng, quy

mô và công nghệ sản xuất, quá trình hoạt động của họ Nhờ đó, phóng viên thu thập được nhiều tư liệu quý, làm chất liệu cho tác phẩm thêm sinh động, thuyết phục Khi có các dự án FDI được cấp phép đầu tư hay các buổi đánh giá, sơ kết, tổng kết của các ngành quản lý FDI, cơ quan báo chí chính thống của địa phương luôn được mời dự để thông tin, cập nhật kịp thời và trở thành một bộ phận không thể thiếu được trong các cuộc khởi công, khánh thành, lễ ký kết… Một số nhà đầu tư nước ngoài nhiệt tình, cởi mở, ủng hộ sự góp mặt của báo chí, luôn tạo điều kiện tốt để nhà báo tác nghiệp đồng thời thông qua báo chí, họ cũng nhận được sự hỗ trợ thông tin, kết nối hiệu quả

Tựu chung lại, báo chí địa phương là nơi thể hiện quan điểm chính thức cảu địa phương trước những thông tin chưa chuẩn xác hoặc thông tin không đúng bản chất; có cơ hội tốt để có được những tác phẩm báo chí với thông tin độc, bản sắc, có hệ thống, nhiều dữ liệu để tạo thành hồ sơ thông tin về từng vấn

đề, nội dung cụ thể mà các báo trung ương khó có được Nhờ vậy, báo chí địa phương là một nguồn cung cấp thông tin chi tiết, nhiếu dẫn chứng cụ thể, đáng tin cậy cho các cơ quan báo chí trung ương

1.2.2 Ưu thế của báo mạng điện tử trong thông tin FDI

1.2.2.1 Báo mạng điện tử

Tháng 5/1992 tờ báo mạng Chicago Tribune ra đời, khai sinh ra một loại hình báo chí mới tích hợp các ưu thế của 3 loại hình báo chí trước đó là báo in, phát thanh và truyền hình với quy trình sản xuất và truyền tải thông tin dựa trên môi trường internet Đến năm 1997 tạp chí Quê hương được xuất bản lên mạng, ghi dấu

ấn của báo chí Việt Nam trên mạng internet toàn cầu Và đây được coi là báo mạng

Trang 31

điện tử đầu tiên của nước ta Đến nay, sau 30 năm liên tục đổi mới, tiếp thu, ứng dụng các phương pháp sản xuất hiện đại, báo mạng điện tử đã lớn mạnh không ngừng về cả số và chất lượng Nếu như thời kỳ đầu, một số người còn sự hoài nghi, băn khoăn về sự tồn tại của nó thì nay nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, hành lang pháp lý phù hợp đã tạo điều kiện, kích thích sự phát triển vượt bậc của báo mạng điện tử

Giống như các loại hình báo chí ra đời trước vẫn đang được gọi bằng nhiều tên khác nhau (ví dụ như loại hình báo in được gọi là báo viết, báo giấy), loại hình báo chí này đang tồn tại dưới nhiều tên gọi và định nghĩa khác nhau về nó như: báo điện

tử (electronic journal), báo trực tuyến (online newspaper), báo mạng (cyber newspaper), báo chí internet (internet newspaper), và báo mạng điện tử [26, tr.9] Cách gọi “Báo trực tuyến” khá phổ biến trên thế giới và ở cả Việt Nam, gắn liền với tên gọi của một số báo như: Tuổi trẻ Online, Tin tức Online Còn “Báo điện tử” là cách gọi được nhắc đến trong các văn bản về báo chí

Luật Báo chí 2016 đưa ra định nghĩa “Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện

tử và tạp chí điện tử” [30, tr.5]

Mỗi cách gọi đều mang những đặc điểm và biểu đạt riêng song nhiều nhà nghiên cứu báo chí ở nước ta đang chọn cách gọi “báo mạng điện tử” bởi nó thống nhất các quan điểm trên và có khả năng bao quát nhất

Như vậy, báo mạng điện tử là một loại hình báo chí, phát hành và tiếp nhận

trên mạng internet, có ưu thế hơn tất cả các loại hình báo chí trước đó về tốc độ, khả năng đa phương tiện và tương tác

Tuy nhiên, không phải các tác phẩm báo chí trên các trang mạng được gọi là

tờ báo mà cần phân biệt báo mạng điện tử với trang thông tin điện tử tổng hợp Luật Báo chí [30, tr.20] quy định: “Trang thông tin điện tử tổng hợp là sản phẩm thông tin có tính chất báo chí của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cung cấp thông tin tổng hợp trên cơ sở đăng đường dẫn truy cập tới nguồn tin báo chí hoặc trích dẫn nguyên văn, chính xác nguồn tin báo chí theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ”

Trang 32

Ở nước ta hiện nay đang tồn tại hai dạng trang tin trên môi trường internet, đó

là báo điện tử độc lập được cấp phép hoạt động như vietnamnet.vn, dantri.com.vn, vnexpress.net…, hai là, báo điện tử thuộc các cơ quan báo in hoặc đài phát thanh truyền hình như: báo điện tử Tiền phong – tienphong.vn, báo Nhân dân điện tử - nhandan.org.vn, báo điện tử Đài truyền hình Việt Nam – vtv.org.vn… Nhiều báo in địa phương hiện nay đang có các trang thông tin điện tử với nội dung lấy từ báo in hoặc dẫn nguồn báo khác, không sản xuất tin bài mới thì nay cũng tăng cường nhân lực và cơ sở vật chất để nâng cấp trở thành một tờ báo mạng điện tử độc lập như: báo Quảng Ninh điện tử, báo Hải Phòng điện tử Đây là hướng đi chung của nhiều

tờ báo in trên thế giới khi muốn mở rộng địa hạt của mình, vươn xa tới các vùng miền khác một cách nhanh chóng Việc này hoàn toàn khác với việc “mạng hóa” báo in, đưa báo giấy lên mạng mà ngôn ngữ thể hiện vẫn y nguyên hoặc có chăng là cắt gọn, thêm bớt không đáng kể Cho ra đời một tờ báo mạng điện tử đồng nghĩa với đội ngũ làm báo, quy trình sáng tạo và sản xuất sẽ phải theo các nguyên tắc và các đặc trưng riêng

1.2.2.2 Sức mạnh của thông tin trên báo mạng điện tử

- Thông tin nhanh nhất: Là quán quân về tốc độ lan truyền thông tin, lại kế thừa những đặc trưng nổi bật của các loại hình báo chí truyền thống, từ khi ra đời đến nay báo mạng điện tử đã và đang thực hiện tốt vai trò thông tin mang tính thời

sự cao

- Thông tin dễ tìm kiếm, tra cứu nhất: Khi độc giả có nhu cầu về thông tin, tìm kiếm thông tin về vấn đề sự kiện họ quan tâm thì chỉ cần một thiết bị nghe nhìn kết nối mạng internet là tất cả mọi thông tin toàn cầu đều nằm trong tầm tay của công chúng

- Thông tin mang tính phi định kỳ, được bổ sung, cập nhật liên tục, tạo thành gói tin tức trọn vẹn, trở thành một câu chuyện hoàn thiện đa diện, đa chiều Các loại hình báo chí truyền thống chỉ cho công chúng thấy từng thời điểm khác nhau của sự kiện Để có thông tin bổ sung hay cái nhìn bao quát, toàn cảnh hơn thì phải chờ đến

số báo sau, chương trình phát thanh truyền hình sau mới biết thông tin tiếp theo

Trang 33

Chính vì thế, sự kiện, vấn đề phần nào bị “nguội”, giảm đi sức hút Trong khi đó, báo mạng điện tử thường xâu chuỗi các khía cạnh khác nhau của cùng một vấn đề,

sự kiện thành chùm tác phẩm, chuyên mục hay chuỗi tin tức giúp cho người đọc có cái nhìn tổng thể, toàn cảnh Vì vậy, công chúng dễ tiếp nhận, đánh giá, so sánh, nhận thức về thông tin một cách đầy đủ, khách quan

- Thông tin được liên kết, mở rộng, kết nối với các kênh thông tin khác thông qua các siêu liên kết (hyperlink), bài này được gắn kết với bài kia theo mức độ liên quan (về nội dung, thời điểm đăng tải…)

- Thông tin báo mạng điện tử có khả năng tương tác (interactive) đa chiều giữa bạn đọc, tòa soạn, chuyên gia tư vấn, phản hồi (feedback), chia sẻ (share) thuận lợi Chưa bao giờ công chúng lại trở thành “ban giám khảo” được chấm điểm (rating), thăm dò ý kiến (vote), đặt câu hỏi với cơ quan báo chí như với loại hình báo chí này Vừa đọc xong là công chúng có thể đánh giá ngay dưới bài viết, trao đổi, bàn luận theo ý chủ quan của mình Tác phẩm báo chí càng nhận được nhiều phản hồi, chia sẻ, bình luận càng chứng tỏ thông tin báo chí có giá trị, lôi cuốn, hấp dẫn bạn đọc, chạm vào được cảm xúc, tâm lý, nhu cầu của họ Mặc dù vậy, đây vẫn còn là vấn đề gây nhiều tranh cãi khi việc quản lý, kiểm soát bình luận tự do là khá nhạy cảm và tốn thời gian, công sức Song nếu không có phản hồi thì báo mạng điện tử mất đi một thứ vũ khí lợi hại

Mạng xã hội (social network) đang ngày tỏ rõ quyền lực trên toàn cầu và ảnh hưởng đến cả nền giới báo chí chính thống 47% số người trưởng thành trả lời phỏng vấn cho biết họ đọc báo chí chính thống trên Facebook (khảo sát của Pew Research Center) “Những người dùng mạng xã hội thường có thói quen đọc báo đặc biệt là báo mạng điện tử” [24,tr.130] Điều này dẫn đến việc báo chí chính thống thay vì coi mạng xã hội là “đối thủ” thì chuyển sang làm “đối tác”, cùng chung sống, hợp tác để phát triển Cùng tồn tại trên môi trường internet, báo mạng điện tử sẽ thuận lợi hơn khi “lấn sân” sang mạng xã hội

- Dung lượng thông tin trên báo mạng là khổng lồ, không bị hạn chế bởi giới hạn trang đối với báo in, thời lượng phát sóng đối với phát thanh truyền hình Nhờ

Trang 34

đó, độc giả thu nhận được nhiều thông tin cụ thể, chi tiết hơn với cấu trúc rộng về không gian, dài về thời gian Tuy nhiên, theo các nghiên cứu về tâm lý, thói quen bạn đọc của báo mạng điện tử cho thấy họ muốn đọc những bài ngắn, đi thẳng vào câu chuyện ngay lập tức và thường chỉ là “lướt mắt”, chú ý bài báo đó trong 20 giây Nhưng dù ở quan điểm nào, muốn viết dài, nhiều cho tỉ mỉ hay ngắn gọn súc tích thì điều không thể chối cãi là khối lượng thông tin đăng tải vô cùng lớn, cập nhật tới từng giây, từng phút

1.2.2.3 Mối quan hệ giữa báo mạng điện tử và FDI

“Từ khi ra đời, báo điện tử nước ta đã góp phần quan trọng vào việc phổ biến, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước;

mở rộng hiệu quả thông tin đối ngoại; nâng cao dân trí và thỏa mãn nhu cầu thông tin, hưởng thụ văn hóa của nhân dân” (Chỉ thị số 52- CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về phát triển và quản lý báo điện tử)

Sau hơn ba thập kỉ mở cửa nền kinh tế, FDI trở thành một chủ đề nóng và cho đến nay sức hấp dẫn vẫn chưa hề suy giảm đối với báo chí Số lượng tin bài về FDI ngày càng tăng trên các báo chuyên ngành về kinh tế lẫn các chuyên trang, chuyên mục trên báo chí địa phương Thậm chí thông tin FDI còn luôn hiện diện trong các bài báo cáo chính trị, xã luận, bài phát biểu về tình hình kinh tế xã hội của các địa phương Với tầm quan trọng và sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của đất nước, vấn đề FDI ngày càng thể hiện nhiều khía cạnh tích cực lẫn tiêu cực Do đó,

sự góp mặt của báo chí giúp thông tin về FDI được nhìn nhận một cách đầy đủ, khách quan và đúng định hướng

Với ưu thế thấy rõ là nhanh, mạnh, cập nhật, hợp thời, tiện dụng, khả năng lưu trữ thông tin tư liệu vô cùng lớn, chi phí sản xuất phát hành không quá tốn kém, khả năng ứng dụng công nghệ mới linh hoạt và triển khai nhanh, báo mạng điện tử là ứng cử viên sáng giá đảm nhận nhiệm vụ thông tin về vấn đề FDI “Xu hướng phát triển báo mạng điện tử sẽ như vũ bão trong thời gian tới, số lượng người truy cập ngày càng tăng lên nhanh chóng khi cước phí Internet rẻ đến mức bất cứ ai cũng có thể đăng ký được” [10,tr.96]

Trang 35

Để đưa một thông tin lên báo mạng điện tử, các khâu sản xuất, đăng tải thường chỉ mất từ 5 phút cho tới 1 giờ đồng hồ, như vậy là nhanh hơn gấp vài lần so với phát thanh truyền hình, gấp hàng chục lần so với báo in Do đó, khi cần thông tin về các nội dung có tính chất cấp bách hay nóng hổi, được dư luận chú ý như các cuộc khánh thành, khởi công, hoạt động giao lưu hợp tác, các cuộc hội họp, hội nghị, hội thảo, chương trình giao lưu xúc tiến thương mại thì báo mạng điện tử sẽ là sự lựa chọn tối ưu nhất Đồng thời, những vấn đề quan trọng liên quan như: phổ biến, lưu trữ để tra cứu các chủ trương chính sách, nghị quyết mới nhất của trung ương đến địa phương xoay quanh vấn đề FDI thì báo mạng điện tử với tư cách là thư viện số khổng lồ và thông minh sẽ đảm nhiệm tốt công việc này

Báo mạng điện tử phản ánh nhanh nhạy những vấn đề mới đang xuất hiện

Đó là các câu chuyện về lao động - việc làm, ô nhiễm môi trường, vi phạm pháp luật, biểu hiện tiêu cực của khu vực FDI…; vận động người dân ủng hộ và tin tưởng vào những chủ trương quyết sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, chính quyền địa phương trong xây dựng và phát triển kinh tế có sự tham gia của khối đầu tư trực tiếp nước ngoài

Bắt nguồn từ những ưu thế vượt trội của mình và những hiệu quả đã được thực tế minh chứng, báo mạng điện tử được nhiều người lựa chọn là kênh tìm hiểu

về thông tin FDI đồng thời là kênh hỗ trợ cho người dân, người lao động, các doanh nghiệp được đóng góp ý kiến, đề xuất, kiến nghị lên các cơ quan chức năng Từ đó, báo mạng điện tử trở thành một mạch chảy thông tin hai chiều liên tục, thông suốt

từ hai phía Theo khảo sát bước đầu của tác giả, 77% công chúng được lấy ý kiến đều cho rằng muốn tiếp cần thông tin FDI tích hợp nhiều yếu tố: văn bản, tranh, ảnh, đồ họa, audio, video do đó chỉ có báo mạng điện tử là đáp ứng tốt nhu cầu này Điều này một lần nữa khẳng định các báo địa phương muốn thông tin FDI có sức lan truyền rộng khắp và nâng cao tính hấp dẫn phải chú trọng loại hình báo mạng điện tử

Tuy vậy, bên cạnh những hiệu quả tuyên truyền FDI thì báo mạng điện tử cũng còn một số hạn chế như: thông tin chưa sâu sát, trọng tâm, nhiều biểu hiện tiêu

Trang 36

cực chưa được phản ánh đúng mức, đưa tin thiếu chính xác, khách quan trung thực, hình thức tin, bài chưa đầu tư công phu…

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nội dung và hình thức thông tin FDI

1.3.1 Nội dung và hình thức thông tin FDI

1.3.1.1 Nội dung thông tin FDI

Căn cứ vào thực tiễn của lĩnh vực FDI và nhu cầu thông tin của công chúng, thông

tin về FDI trên báo chí thường tập trung vào 5 nội dung cụ thể sau:

Thứ nhất, thông tin tiềm năng đầu tư, hình ảnh địa phương

Tiềm năng của địa phương chính là những nguồn lực có thể được khai thác đem lại lợi ích cho nhà đầu tư và cộng đồng Chẳng hạn tiềm năng về du lịch, tiềm năng về sức lao động…Báo chí thông tin về tiềm năng của địa phương để nhà đầu

tư nhìn thấy được các cơ hội cho mình

Hình ảnh, thương hiệu địa phương đang trở thành một khái niệm phổ biến trên

thế giới dưới nhiều tên gọi: city branding, destination branding, place branding,

local images Hình ảnh địa phương là tạo dựng, quảng bá những dấu ấn độc đáo,

đặc trưng khác biệt, tạo ấn tượng tốt để tăng năng lực cạnh tranh, thu hút sự đầu tư

từ nước ngoài Hình ảnh đó do chính quyền và cộng đồng địa phương gây dựng Một chính quyền minh bạch, tư duy đổi mới, trách nhiệm cao; người dân thân thiện, cần cù, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật sẽ là điểm đến an toàn, đáng sống, đáng tin cậy cho các nhà đầu tư; đồng thời mang lại vô vàn lợi ích cho sự phát triển bền vững của địa phương

Giáo sư người Mỹ Philip Kotler - “cha đẻ” của marketing hiện đại cho rằng:

“Tương lai phát triển của các địa phương ngày nay không tùy thuộc vào vị trí địa

lý, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên Tương lai phát triển của địa phương tùy thuộc vào chuyên môn, kỹ năng đóng góp, phẩm chất của con người và tổ chức tại địa phương”

Thứ hai, thông tin môi trường đầu tư

Trang 37

“Môi trường đầu tư là tổng thể các bộ phận mà ở đó chúng tác động qua lại lẫn nhau và chi phối mạnh mẽ đến các hoạt động đầu tư, buộc các nhà đầu tư phải tự điều chỉnh mục đích, hình thức và phạm vi hoạt động cho thích hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và đưa đến hiệu quả cao trong kinh doanh” [4, tr.96] “Môi trường đầu tư không phải là cố định mà luôn luôn biến đổi

do sự thay đổi của các yếu tố cấu thành Do đó, khi phân tích, đánh giá môi trường đầu tư đòi hỏi phải đứng trên quan điểm động” [4, tr.99]

Thông tin môi trường đầu tư là thông báo về các yếu tố, môi trường thành phần trong sự phân tích đánh giá mối quan hệ giữa chúng Có nhiều căn cứ, tiêu chí

để đưa ra các môi trường thành phần tạo nên môi trường đầu tư Dựa trên cách thông tin của báo chí cùng với vấn đề FDI cụ thể ở nước ta và trong khuôn khổ của

đề tài luận văn, tác giả chọn 3 yếu tố cơ bản là: “Chủ trương, chính sách về FDI”,

“Kết cấu hạ tầng, giải phóng mặt bằng, tiến độ dự án”, “Lao động -Việc làm” Đây

là các thông tin rõ ràng trên báo địa phương về FDI đồng thời là mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư nước ngoài

Thứ ba, xúc tiến đầu tư, thành tựu của FDI

Thực chất của hoạt động xúc tiến là nhằm thu hút đầu tư Các hoạt động này

có thể thông qua triển lãm, hội thảo gặp gỡ… Báo chí phản ánh về các hoạt động xúc tiến đầu tư chính là đưa thông tin về địa phương, nêu rõ các cơ hội đầu tư Đồng thời báo chí tham gia vào chính quá trình xúc tiến để nâng cao hiệu quả và chất lượng các hoạt động này

Tuyên truyền về thành tựu FDI là rất cần thiết Đó chính là thông tin về số lượng và chất lượng các dự án, sự đóng góp của các hoạt động trong lĩnh vực FDI vào tạo việc làm, thu nhập và đóng góp ngân sách chung

Thứ tư, thông tin về tình trạng và việc bảo vệ môi trường trong thực hiện FDI

Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên Môi trường là không gian sống của

Trang 38

con người và các loài sinh vật; là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống

và hoạt động sản xuất của con người; là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình; là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất và cũng chính

là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người

Các hoạt động của các dự án FDI đương nhiên sẽ tác động đến môi trường Nếu tuân thủ đúng các quy định về tiêu chuẩn bảo vệ môi trường, sẽ không gây ô nhiễm đến môi trường sống Tuy nhiên trên thực tế, các hoạt động các dự án FDI đã gây ra sự ô nhiễm môi trường ở nhiều địa phương, có những nơi rất trầm trọng Do

đó, trong tuyên truyền về FDI, báo chí cần đưa các thông tin về tình trạng môi trường, các hướng dẫn và quy định về bảo vệ môi trường đến nhà đầu tư, thậm chí

tham gia đấu tranh với các hành vi vi phạm luật bảo vệ môi trường

Thứ năm, thông tin về việc chuyển giao công nghệ trong quá trình thực hiện đầu tư

Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển khác, việc thu hút FDI không chỉ nhằm khai thác các tiềm năng, thúc đẩy tăng trưởng trên cơ sở nguồn vốn của các nhà đầu tư nước ngoài, mà thông qua các dự án FDI, còn nhận được kinh nghiệm trong quản lý cũng như các công nghệ kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất Đây

là mục tiêu của những nước tiếp nhận đầu tư và thường được thỏa thuận ghi trong chương trình hợp tác đầu tư về việc chuyển giao công nghệ Song trong thực tế quá trình này nhiều khi không được thực hiện Cho nên thông tin về chuyển giao công nghệ thực chất là phản ánh kết quả thực hiện dự án, đồng thời cũng nêu trách nhiệm của các bên trong thực hiện cá dự án FDI

1.3.1.2 Hình thức thông tin FDI

Trong phạm vi khảo sát của đề tài là báo mạng điện tử bởi các ưu thế đã nêu, với tính đa phương tiện trong hình thức thể hiện, hình thức thông tin FDI trở nên đa dạng nhất

Thông tin FDI được thể hiện qua các thể loại báo chí chủ yếu là: tin và bài (bài tường thuật, phỏng vấn, bài phản ánh, phóng sự điều tra)

Trang 39

Tin là thể loại thuộc nhóm thông tấn báo chí, được sử dụng nhiều nhất trong báo mạng điện tử bởi tính cô đọng, súc tích, sản xuất nhanh, dễ tiếp cận Khi thông tin về FDI với các con số, kết quả thu hút FDI, sự kiện đầu tư mới diễn ra, hoạt động triển khai dự án…thì thể loại này tỏ ra thích hợp hơn cả Đối với tin sâu (tin tường thuật, tin tổng hợp) “Ít khi nó vượt quá 350-400 từ” [10,tr.71], “Không nên dài quá 200 từ” [10,tr.76]

Bài tường thuật trên báo mạng điện tử có chức năng trình bày sự kiện một cách rõ ràng, chi tiết, tỉ mỉ thường theo trình tự thời gian hay quá trình, diễn biến của sự kiện, cách viết thể hiện rõ yếu tố thuật kết hợp với yếu tố bình Sự kiện về FDI thường gây nhiều sự chú ý, quan tâm của dư luận, nhất là nơi diễn ra sự kiện

đó Độc giả muốn biết tường tận, diễn biến của sự kiện quan trọng vì vậy phóng viên sẽ sử dụng thể loại này kết hợp các yếu tố của báo mạng điện tử như ảnh, audio, video nhằm cụ thể hóa, minh chứng rõ cho lời viết Với nhiều sự kiện long trọng, có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của vùng, từng địa phương, sử dụng cách tường thuật trực tiếp sẽ phát huy được sức mạnh của báo mạng điện tử, làm sự kiện càng trở nên nóng hổi, cuốn hút

Thể loại phỏng vấn là một thể loại báo chí sử dụng kiến thức, quan điểm, ý kiến của người có uy tín, vai trò quan trọng trong xã hội về các vấn đề thời sự đang được nhiều người quan tâm Với loại thông tin về kinh tế mà cụ thể là vấn đề FDI cần những kiến thức chuyên ngành, những nhận định sâu sắc, những quan điểm chính trị vững chắc của các chuyên gia kinh tế, các nhà lãnh đạo, quản lý; ý kiến và thông tin từ phía những người trong cuộc (nhà đầu tư, nhà hoạch định chính sách, người lao động…) thì thể loại phỏng vấn đáp ứng được tính chân thực, khách quan

và cụ thể nhất Thông tin đưa ra sẽ có tính thuyết phục cao vì được bộc lộ từ những kinh nghiệm, công việc thực tế của người trả lời phỏng vấn Nhờ cách dẫn dắt khéo léo, uyển chuyển của phóng viên thông tin không còn bị cứng nhắc, khuôn mẫu mà trở nên mềm mại, có đặc trưng riêng của cá nhân, tạo ấn tượng với bạn đọc

Bài phản ánh là những bài thông tin mang đặc điểm của một tác phẩm báo chí song lại không thể hiện rõ đặc trưng của thể loại báo chí nào và thường được hiểu là

Trang 40

“bài báo” Bài phản ánh thường đi sâu vào những vấn đề, sự kiện, con người, tình trạng, câu chuyện… gần gũi với cuộc sống đời thường do đó các vấn đề như lao động - việc làm, ô nhiễm môi trường trong FDI… thông qua các bài phản ánh sẽ đem lại cái nhìn cụ thể, chi tiết hơn cả

Về ngôn ngữ thông tin FDI, các tin, bài được biểu đạt bằng văn tự (chữ viết – text), hình ảnh tĩnh - động (still picture - animation), file âm thanh (audio), file hình

và tiếng (video clip), biểu đồ, đồ thị, đồ họa (graphic) Bổ trợ thông tin cho các tin, bài còn là các đường dẫn tới thông tin liên quan (link), các ứng dụng kèm theo như: các bình luận (comments), đánh giá cảm xúc - thích hoặc không (like/dislike), chia

sẻ (share), tạo diễn đàn để bàn luận, tranh luận, tương tác (interactive program) nhằm mở rộng thông tin, giải quyết vấn đề

- Tít (Đầu đề/tiêu đề)

Tít đảm nhiệm vai trò giới thiệu chủ đề, “cô đọng’ lại nội dung hàng trăm chữ trong khoảng 1 dòng Nhiệm vụ của tít rất quan trọng, thậm chí là tiên quyết đối với việc bạn đọc có xem tiếp đến phần sau hay không

Tít càng súc tích, ngắn gọn càng gây ấn tượng và “Không nên dài quá một dòng” [16,tr.125]

- Mào đầu (Sapô/Lead/Teaser)

Mào đầu tên gọi quen thuộc là Sapô là đoạn văn bản ngắn nằm ngay dưới tít

và trên phần chính văn Sapô (từ của tiếng Pháp: chapeau là “chiếc mũ”) được coi là tiểu văn bản tóm tắt toàn bộ nội dung bài báo Sapô thường được in đậm, nghiêng

để thu hút chú ý và phân biệt rõ với chính văn Lead là lời dẫn dắt vào chính văn Teaser (một khái niệm thường dùng trong điện ảnh chỉ đoạn quảng cáo cực ngắn gây tò mò) thường gắn với các website Nhiệm vụ của nó là tạo ra lực hút lôi kéo, thậm chí gây “sốc”, kích thích sự tò mò, thắc mắc từ phía bạn đọc khiến họ nhất định phải tìm hiểu thông tin, vấn đề

- Chính văn/Nội dung bài báo (Text)

Ngày đăng: 25/12/2018, 09:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w