1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn xuôi ngọc giao trong tiến trình văn học hiện đại việt nam

173 123 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 173
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, nghiên cứu, tìm hiểu, phát hiện những giá trị văn chương trong từng tác giả với hệ thống các tác phẩm của họ luôn là việc làm cần thiết và hữu ích trong quá trình tiếp cận một nề

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGHIÊM THỊ HỒ THU

VĂN XUÔI NGỌC GIAO TRONG TIẾN TRÌNH

VĂN HỌC HIỆN ĐẠI VIỆT NAM

Ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 9 22 01 21

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1.GS Phong Lê

2 PGS.TS Lưu Khánh Thơ

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu của luận án là trung thực và chưa được công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả luận án

Nghiêm Thị Hồ Thu

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6

1.1 Tổng quan về văn học hiện đại Việt Nam và sự xuất hiện của nhà văn Ngọc Giao 6

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về tác giả Ngọc Giao 20

CHƯƠNG 2 VĂN XUÔI NGỌC GIAO TRONG BỐI CẢNH XÃ HỘI THẾ KỈ XX 32

2.1 Cơ sở hình thành văn xuôi Ngọc Giao 32

2.2 Quá trình sáng tác của nhà văn Ngọc Giao 40

2.3 Quan niệm nghệ thuật Ngọc Giao 55

CHƯƠNG 3 ĐỀ TÀI VÀ NHÂN VẬT VĂN XUÔI NGỌC GIAO TRONG TIẾN TRÌNH VĂN HỌC HIỆN ĐẠI VIỆT NAM 61

3.1 Những đề tài chính trong văn xuôi Ngọc Giao 61

3.2 Thế giới nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong văn xuôi Ngọc Giao 77

CHƯƠNG 4 NGƯỜI KỂ CHUYỆN, NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU VĂN XUÔI NGỌC GIAO TRONG TIẾN TRÌNH VĂN HỌC HIỆN ĐẠI VIỆT NAM 107

4.1 Người kể chuyện trong văn xuôi Ngọc Giao 107

4.2 Đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật trong văn xuôi Ngọc Giao 121

4.3 Giọng điệu trong văn xuôi Ngọc Giao 131

KẾT LUẬN 148

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 151

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

PHỤ LỤC 163

Trang 4

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Văn học Việt Nam thế kỷ XX đã trải qua một thời kỳ vận động và phát triển gắn liền với những thăng trầm của lịch sử dân tộc và đạt được nhiều thành tựu rực rỡ Đó là giai đoạn văn học dân tộc đứng trước hai yêu cầu là cách mạng hóa và hiện đại hóa Thực hiện được những yêu cầu đó, văn học thế kỷ XX đã tiếp tục đưa nền văn học nước nhà vươn đến những tầm cao mới với một quy mô ngày càng phong phú, đa dạng trong những năm cuối thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI

Sự phát triển của các trào lưu, xu hướng văn học, nhất là trong giai đoạn 1930-1945

đã đem đến những “mùa gặt” và tạc vào lịch sử văn chương Việt Nam “một thế hệ vàng” Làm nên diện mạo và khẳng định vị thế của văn học, yếu tố quan trọng và tiên quyết đó chính là đội ngũ tác giả - lực lượng sáng tác Vì vậy, nghiên cứu, tìm hiểu, phát hiện những giá trị văn chương trong từng tác giả với hệ thống các tác phẩm của họ luôn là việc làm cần thiết và hữu ích trong quá trình tiếp cận một nền văn học.Việc đánh giá lại một số tác giả tiêu biểu của văn học hiện đại có đóng góp cho tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam là điều cần thiết

1.2 Là một tác giả có vị trí quan trọng trong tòa soạn Tiểu thuyết thứ Bảy - tờ

báo phổ thông ra hàng tuần trong đời sống văn học trước 1945, Ngọc Giao là một cây bút sung sức và quen thuộc với độc giả đương thời Với một khối lượng tác phẩm tương đối lớn và phong cách văn chương giàu mỹ cảm, hướng tới lý tưởng nhân văn đậm chất trữ tình mà cũng giàu chất hiện thực, Ngọc Giao xứng đáng là nhà văn hiện đại góp phần tạo dựng diện mạo văn học nước nhà thế kỷ XX, nhất là giai đoạn 1930-1945 cũng như bộ phận văn học khu vực đô thị Hà Nội tạm chiếm 1947-1954 Do đó, sự nghiệp văn chương của nhà văn Ngọc Giao cần được tìm hiểu

và nghiên cứu nhằm làm sáng rõ hơn về một phong cách tác giả đã góp phần làm cho văn học hiện đại Việt Nam thêm phong phú Đó cũng là cơ sở để rút ra những nhận định mang tính chất lý luận về một thời kỳ văn học, một giai đoạn văn học

1.3 Mặc dù Ngọc Giao là một cây bút đã đem đến cho độc giả những giá trị văn học không thể phủ nhận nhưng do cách nhìn nhận, sự đánh giá đôi khi còn chủ quan, phiến diện, số phận văn chương Ngọc Giao đã phải trải qua nhiều thăng trầm, sóng gió Có một quá trình sáng tác xuyên suốt thế kỷ nhưng giai đoạn 1945 -1985 những đóng góp của ông hoàn toàn bị khuất lấp bởi những quy kết và phê phán khắc

Trang 5

2

nghiệt Đó cũng là lý do Ngọc Giao gác bút trong một khoảng thời gian khá dài và người đọc dần quên lãng, xa lạ với nhà văn Đặc biệt là nhà văn có đời văn trải dài dọc thế kỷ XX, Ngọc Giao là một trong số ít các tác giả nổi danh từ trước 1945 và vẫn tiếp tục cống hiến chút sinh lực cuối đời cho nghiệp viết như một sự hồi sinh mãnh liệt Đứng trong hàng ngũ những nhà văn cùng thời như Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Nguyên Hồng, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng có thể nói Ngọc Giao

là nhà văn có sức sống và sức viết tiềm tàng đáng ngưỡng mộ Nếu như trước 1945, bạn đọc từng xúc động, ám ảnh với những trang truyện ngắn đầy tính nhân văn của Ngọc Giao thì vì những lý do riêng của hoàn cảnh lịch sử mà những đóng góp đáng quý của Ngọc Giao trong giai đoạn sáng tác 1947 - 1954 với nhiều tác phẩm có giá trị của văn học ở Hà Nội bị tạm chiếm đã bị lãng quên, kéo theo đó là sự thờ ơ, phủ nhận, quy chụp về nội dung, tư tưởng của tác phẩm khiến cho tên tuổi Ngọc Giao bị khuất lấp và cũng là hệ lụy cho quãng đời trầm lặng của Ngọc Giao cho đến những năm 90 của thế kỷ XX Cũng chính bởi "sự quên" đó, điểm lại lịch sử nghiên cứu về tác giả Ngọc Giao, chúng tôi thấy số lượng các bài viết chưa nhiều, một số công trình nghiên cứu chưa được chỉnh thể, hệ thống, đầy đủ về văn xuôi Ngọc Giao Vì vậy, việc nghiên cứu và đánh giá để phục dựng một chân dung văn học đã có những đóng tích cực cho dòng văn xuôi hiện đại Việt Nam trong bối cảnh hiện trạng nghiên cứu hiện nay về Ngọc Giao là một việc cần thiết để bù lấp khoảng trống văn học sử giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về tác giả và diện mạo nền văn học nước nhà

Luận án hoàn thành hy vọng sẽ góp phần phục dựng một chân dung văn học không thể không nói đến trong nền văn học Việt Nam hiện đại và góp thêm một tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập văn học nói chung và tìm hiểu tác giả Ngọc Giao nói riêng

Vì những cơ sở lý luận và thực tế trên, theo chúng tôi, việc thực hiện đề tài

Văn xuôi Ngọc Giao trong tiến trình văn học hiện đại Việt Nam là cần thiết và mang tính khả thi

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện đề tài này chúng tôi hướng đến mục đích:

- Đặt văn xuôi Ngọc Giao trong tiến trình phát triển văn học Việt Nam hiện đại để thấy được văn nghiệp của tác giả với những thành công và giới hạn cũng như bước

Trang 6

và ký từ đó rút ra những đặc điểm cơ bản của văn xuôi Ngọc Giao trên các phương diện cơ bản như: đề tài, thế giới nhân vật, người kể chuyện, ngôn ngữ, giọng điệu

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất: Tập hợp, thống kê, phân loại các tác phẩm của Ngọc Giao theo giai

đoạn sáng tác và thể loại

Thứ hai: Tìm hiểu tình hình chính trị, xã hội, những giao lưu, tiếp biến và tác

động của các yếu tố chủ quan và khách quan đến quá trình sáng tác và đặc trưng bút pháp của nhà văn

Thứ ba: Đi sâu phân tích lý giải các khía cạnh giá trị nội dung và nghệ thuật

của các tác phẩm văn học cụ thể để rút ra những nhận xét khái quát về từng thể loại chính yếu trong từng giai đoạn sáng tác của tác giả nói riêng và đặc điểm văn xuôi Ngọc Giao nói chung

Thứ tư: Khẳng định những nét đặc trưng trong nội dung và nghệ thuật tác

phẩm Ngọc Giao Đánh giá về phong cách và vị trí, đóng góp của nhà văn trong tiến trình vận động của lịch sử văn học Việt Nam hiện đại thế kỷ XX

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Tác phẩm văn xuôi của Ngọc Giao trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu là tất cả các tác phẩm văn xuôi của Ngọc Giao, đặc biệt tập trung vào các tác phẩm thuộc thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết và ký tiêu biểu đã được xuất bản, tái bản Trong quá trình thực hiện luận án, nghiên cứu sinh có sử dụng các tác phẩm của các nhà văn hiện đại Việt Nam để làm tài liệu tham khảo, đối sánh

4 Phương pháp nghiên cứu của luận án

Trong quá trình thực hiện luận án, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

- Phương pháp nghiên cứu văn học sử: Sử dụng phương pháp nghiên cứu này,

người viết đặt tác phẩm của Ngọc Giao trong bối cảnh lịch sử của sự vận động và

Trang 7

4

phát triển của văn xuôi Ngọc Giao nói riêng và của văn xuôi Việt Nam hiện đại nói chung để tìm ra những nét khu biệt và giống nhau trong đặc điểm sáng tác của ông với các tác giả khác cũng như những đóng góp của Ngọc Giao với văn học sử

- Phương pháp tiếp cận thi pháp: Vận dụng những hiểu biết về thi pháp học để

phân tích tác phẩm cụ thể qua đó rút ra những đặc trưng thể loại và tư tưởng nghệ thuật của nhà văn

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Phương pháp nhằm phân tích, lý giải rõ

hơn mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa văn hóa, lịch sử, xã hội đến quá trình sáng tác và hình thành đặc điểm văn xuôi của Ngọc Giao

- Phương pháp so sánh: Nhằm rút ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa

các tác phẩm, các giai đoạn sáng tác của nhà văn, sự độc đáo và tương hợp trong phong cách sáng tác với các tác giả cùng thời

- Phương pháp nghiên cứu hệ thống: Giúp người nghiên cứu có cái nhìn hệ

thống, toàn diện, thống nhất để thực hiện quá trình đánh giá, định vị tác giả trong tiến trình vận động và phát triển của văn học

Ngoài ra, chúng tôi kết hợp vận dụng các phương pháp, thao tác khác khi cần thiết như phương pháp loại hình, thao tác thống kê – phân loại và các lý thuyết có liên quan như: lí thuyết tự sự học, thuyết hiện sinh, văn hóa học, phê bình sinh thái,

nữ quyền luận, hậu thực dân

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Luận án là công trình khoa học nghiên cứu một cách hệ thống đặc điểm văn xuôi Ngọc Giao trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại

- Kế thừa kết quả nghiên cứu của những nhà nghiên cứu đi trước, luận án tiếp tục chỉ ra và làm rõ quan niệm nghệ thuật của nhà văn, những giá trị nổi bật, những dấu ấn sáng tạo và đóng góp, vị trí của văn xuôi Ngọc Giao trong nền văn học Việt Nam hiện đại

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa lí luận

- Luận án góp phần đánh giá đầy đủ và toàn diện hơn về đặc điểm, thành tựu văn xuôi Ngọc Giao nói chung và phong cách Ngọc Giao nói riêng trong dòng chảy văn học Việt Nam hiện đại

Trang 8

5

- Luận án là minh chứng cho những đóng góp của nhà văn Ngọc Giao với nền văn xuôi Việt Nam hiện đại và cũng là những bổ khuyết cho việc nghiên cứu về một tác giả trong một giai đoạn văn học còn chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều

7 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận án được triển khai trong 4 chương:

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Văn xuôi Ngọc Giao trong bối cảnh xã hội thế kỷ XX

Chương 3: Đề tài và nhân vật văn xuôi Ngọc Giao trong tiến trình văn học hiện đại Việt Nam

Chương 4: Người kể truyện, ngôn ngữ và giọng điệu văn xuôi Ngọc Giao trong tiến trình văn học hiện đại Việt Nam

Trang 9

6

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan về văn học hiện đại Việt Nam và sự xuất hiện của nhà văn Ngọc Giao

1.1.1 Giới thuyết về hiện đại và văn học hiện đại Việt Nam

*Một số khái niệm

Tìm hiểu và nghiên cứu về văn học Việt Nam hiện đại, trước hết cần xác định

rõ khái niệm "hiện đại", "hiện đại hóa", "văn học hiện đại" và "hiện đại hóa văn học"

Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 2000," hiện đại" là thuộc về thời đại ngày nay, có áp dụng những phát minh,

những thành tựu mới nhất của khoa học và kỹ thuật ngày nay "Hiện đại hóa" là làm cho mang tính chất của thời đại ngày nay, làm cho trở thành có đầy đủ mọi trang thiết bị của nền công nghiệp hiện đại "Văn học hiện đại" hiểu một cách chung nhất

đó là "nền văn học tương thích với thời hiện đại, mới mẻ, khác biệt so với các thời đại văn học trước đó"[42; 1] "Hiện đại hóa văn học" có thể hiểu là quá trình biến đổi làm cho văn học mang tính chất hiện đại, mới mẻ khác với văn học cũ

Khái niệm hiện đại được sử dụng rộng rãi và phổ biến trong nhiều lĩnh vực kinh

tế, văn hóa, chính trị và cả trong đời sống thường nhật ngày nay Khái niệm này nhằm thể hiện trình độ, đặc điểm hoặc ngầm ý nói đến những giá trị và cái mới trong tương quan so sánh với cái trước đó Để xác định một phạm trù nào đó là hiện đại hay không, thông thường "hiện đại" được xác định qua hai tiêu chí thời gian và trình

độ phát triển Đối với khoa học nhân văn nói chung và văn học nói riêng, tính hiện đại có thể xuất hiện ngay từ trong những giá trị truyền thống Mặt khác, theo Trần Đình Sử, "tính hiện đại là sự thay đổi hệ hình tư duy, hệ thống giá trị, sự hình thành một giai đoạn văn hóa mới trong đời sống dân tộc và nhân loại, tùy theo bối cảnh của mỗi nền văn hóa mà tính hiện đại có nội dung khác nhau" [154; 255- 256] Đi liền với khái niệm hiện đại là tính hiện đại Tính hiện đại gắn với độ mở của tư duy và có thể là những dự phóng của thời đại Và theo đó, nói đến hiện đại cũng là nói đến cái mới, cái khác với cái cũ Đó cũng là những nhân tố cách mạng, kết tinh, thúc đẩy sự phát triển của lịch sử

*Vấn đề phân kì văn học hiện đại Việt Nam

Vấn đề phân kì văn học Việt Nam thế kỷ XX là vấn đề khá phức tạp bởi có nhiều

ý kiến khác nhau dựa trên những tiêu chí khác nhau Đó vẫn là vấn đề còn có những điểm chưa được các nhà nghiên cứu đồng thuận và vẫn tiếp tục nghiên cứu Song nhìn tổng thể, các nhà nghiên cứu đều cho rằng tiến trình văn học Việt Nam là sự tiếp nối từ văn học cổ trung đại đến hiện đại và hậu hiện đại

Trang 10

7

Nhìn tiến trình văn học theo trục thời gian, về mốc thời gian bắt đầu của văn học cận đại và văn học hiện đại có nhiều ý kiến khác nhau Nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ Chi cho rằng: văn học cận đại từ 1907 đến 1945, văn học hiện đại tính từ sau 1945 Theo nhà nghiên cứu Phong Lê, giai đoạn văn học cận đại rất mờ nhạt và có tính trung chuyển giữa văn học trung đại và hiện đại Nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ lại cho rằng văn học hiện đại bắt đầu từ 1862 đến 1945 Các tác giả Trần Đình Hượu và

Lê Trí Dũng lại cho giai đoạn 1900 - 1930 là giai đoạn giao thời, sau 1930 là văn học hiện đại Các tác giả của một số giáo trình văn học ở miền Bắc cũng phần lớn cho rằng văn học hiện đại Việt Nam bắt đầu sau những năm ba mươi của thế kỷ XX với mốc 1930 hoặc 1932 Có một số nhà nghiên cứu như Trần Nho Thìn, Phan Cự Đệ có cách hình dung gián tiếp chia tiến trình văn học theo thế kỷ Theo đó, văn học trung đại từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX, văn học hiện đại bắt đầu từ thế kỉ XX Các nhà nghiên cứu này cũng lưu tâm năm 1900 không phải là dấu mốc rạch ròi giữa văn học trung đại và văn học hiện đại

Nhìn sự vận động của văn học từ những bước chuyển hệ hình, đi sâu khai thác khái niệm văn học hiện đại, các nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Đình Chú, Phong Lê, Trần Đình Sử, Đỗ Đức Hiểu, Vương Trí Nhàn, Đỗ Lai Thúy, Trần Nho Thìn, Nguyễn Đăng Điệp đều cho rằng văn học hiện đại là nền văn học đã thoát khỏi hệ thống thi pháp văn học trung đại để xác lập nên hệ thống thi pháp mới, thi pháp văn học hiện đại Văn học hiện đại thoát khỏi hệ thống ước lệ, sùng cổ, quan niệm phi ngã và tình trạng văn, sử, triết bất phân để đề cao cá tính sáng tạo trong sáng tác văn học

Từ những góc nhìn khác nhau, mỗi nhà nghiên cứu đều có những kiến giải riêng

về văn học hiện đại Tuy nhiên, để xác định nội hàm khái niệm này các nhà khoa học đều quan tâm đến sự khác nhau giữa mô hình văn học trung đại và hiện đại Các nhà nghiên cứu cũng chú ý đến việc nhìn văn học hiện đại trong sự dịch chuyển và tiếp xúc với văn học khu vực và thế giới để tìm ra tính quy luật và đặc thù của quá trình hiện đại hóa văn học Điểm khác biệt giữa văn học hiện đại và văn học trung đại biểu hiện rõ nét ở quan niệm và thi pháp nghệ thuật

* Những tiền đề, điều kiện xuất hiện văn học hiện đại Việt Nam

Văn học hiện đại Việt Nam là sản phẩm của quá trình giao lưu văn hóa từ khu vực đến thế giới Sự dịch chuyển trong tiếp xúc với văn hóa, văn học Tây Âu trong

đó có văn hóa, văn học Pháp vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã khiến cho văn học Việt Nam hòa nhập dần vào quỹ đạo chung của văn học thế giới Trong bối cảnh lịch sử bấy giờ, ban đầu đó là sự tiếp xúc mang tính bắt buộc nhưng với sự tiếp nhận nhạy bén của những nghệ sĩ, trí thức đương thời, nó đã trở thành quy luật tự nhiên để

Trang 11

8

góp phần hiện đại hóa văn học Nhiều nhà văn, nhà thơ đã nhận thấy những gò bó và

bế tắc bởi những quy phạm của văn học trung đại và họ đã tiếp nhận những yếu tố hiện đại từ phương Tây nhưng không hoàn toàn đánh mất bản sắc văn hóa Việt Nhưng do đặc điểm văn hóa và tâm lý mỗi dân tộc khác nhau, quá trình hiện đại hóa, phương Tây hóa cũng tạo nên những đứt gãy văn hóa, đứt gãy quan niệm, tư duy và văn tự Theo nhiều nhà nghiên cứu, đến năm 1945 văn học Việt Nam đã cơ bản hoàn tất quá trình hiện đại hóa Quá trình hiện đại hóa theo đó diễn ra trong ba chặng: Từ đầu thế kỷ XX đến 1920, những năm 20, từ 1930-1945 Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp và một số ý kiến khác, "đến năm 1945, đúng là văn học Việt Nam đã nằm trong quỹ đạo nghệ thuật hiện đại, nhưng quá trình hiện đại hóa văn học dân tộc vẫn tiếp tục diễn ra trong suốt thế kỷ XX" [42; 21] Vì vậy, quá trình hiện đại hóa diễn ra theo ba chặng Chặng 1: Từ đầu thế kỷ XX đến 1945 gắn liền với sự giao lưu văn hóa Pháp và phương Tây Chặng 2 từ 1945 đến 1985 gắn với sự giao lưu văn hóa Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa diễn ra chủ yếu ở miền Bắc

và giao lưu, tiếp nhận văn hóa phương Tây, lối sống Mỹ ở miền Nam Chặng 3 từ

1986 đến nay gắn với quá trình dịch chuyển, giao lưu toàn diện, quy mô, sâu sắc hơn với văn học thế giới Như vậy, "đầu thế kỷ XX, hiện đại hóa chủ yếu đồng nghĩa với phương Tây hóa, Pháp hóa Từ sau 1945, hiện đại hóa đã trở nên đa dạng hơn và sự

đa dạng ấy càng trở nên rõ nét từ sau 1986 khi Việt Nam xác lập nền kinh tế thị trường và tham gia hội nhập thế giới đa phương"[42; 24] Từ nội hàm khái niệm

"hiện đại hóa", hiện đại hóa văn học là quá trình tiến đến tính hiện đại của văn học với những gì mới mẻ, hợp thời, có tính chất tinh xảo và mang tính thời đại mới Bản chất của hiện đại hóa chính là sự đổi mới văn học Và vì vậy, bắt đầu đổi mới theo hướng hiện đại từ đầu thế kỷ XX cho đến nay văn học Việt Nam đã và đang được hiện đại hóa trong suốt tiến trình văn học qua những chặng khác nhau và mang những đặc trưng khác nhau đưa nền văn học Việt Nam hòa nhập vào dòng chảy chung của văn học thế giới Mỗi chặng đường hiện đại hóa gắn liền với đặc điểm lịch

sử, xã hội và những mối giao lưu văn hóa khác nhau tạo nên những khu biệt và đặc sắc của quá trình hiện đại hóa văn học

* Các bình diện của văn học hiện đại Việt Nam

Chủ thể sáng tạo là nhân tố khác biệt đầu tiên và là tiền đề cho sự thay đổi diện

mạo văn học hiện đại Nếu như chủ thể sáng tạo của văn học trung đại là trí thức phong kiến và tầng lớp nhà sư có học thì chủ thể sáng tác của văn học hiện đại không còn là những nhà Nho mà là những trí thức Tây học với tinh thần thời đại mới Đội ngũ sáng tác của văn học hiện đại không ngừng phát triển về số lượng và có sự tiếp nhận nhanh nhạy với tư duy, mỹ cảm phương Tây hiện đại Không chỉ có những cây

Trang 12

9

bút nam mà những cây bút nữ cũng sáng tác mạnh dạn với số lượng ngày càng nhiều

và bản lĩnh thể hiện cá tính sáng tạo

Công chúng văn học mới của văn học hiện đại được mở rộng đến nhiều tầng lớp

chứ không còn bó hẹp như văn học trung đại Bước sang thời kì hiện đại, chữ Quốc ngữ được sử dụng phổ biến, trình độ dân trí được dần nâng cao, hoạt động xuất bản

và báo chí nở rộ, môi trường hưởng thụ văn hóa được mở rộng cả về lượng và chất, quan niệm, thị hiếu thẩm mĩ của các tầng lớp nhân dân được thay đổi theo hướng hiện đại ngày càng phong phú Do đó, công chúng văn học ngày càng đa dạng và phong phú Sự nhạy bén của người thưởng thức cùng sự sáng tạo với quan niệm nhân sinh, quan niệm nghệ thuật mới đã khiến cho công chúng văn học sôi nổi, háo hức đón nhận những món ăn tinh thần văn chương mới phù hợp với thời đại Đặc biệt, sự xuất hiện của cái Tôi cá nhân trong văn học đã tạo nên những cấu trúc nghệ thuật mới đa dạng, phong phú trong sáng tác và hấp dẫn, thu hút thêm nhiều độc giả Công chúng văn học như tìm thấy mình trong văn chương bởi những cái tôi được gửi gắm trong mỗi tác phẩm Trường tri thức mới và những quan niệm mới mẻ về cái tôi cá nhân đã được các trí thức Tây học, những nhà Nho thức thời giới thiệu nhằm mở mang hiểu biết và nâng cao dân trí góp phần chuyển đổi ý thức hệ trung đại sang hiện đại

Nền kinh tế thị trường bắt đầu hình thành từ đầu thế kỉ XX đã kích thích văn học

phát triển theo hướng hiện đại Văn chương viết ra không chỉ để giải trí, tiêu sầu mà trở thành hàng hóa, nhà văn là nhà sản xuất, viết văn trở thành một nghề, người đọc văn chương là người tiêu thụ sản phẩm Theo đó giá trị tác phẩm văn chương gắn liền với tiền tệ Đó là điểm khác biệt với văn học trung đại Cũng từ đó một thị trường văn hóa và văn học được hình thành.Và xuất bản, báo chí vừa là nguồn cung vừa kích thích tiêu thụ Đó cũng là cơ sở để mở rộng thị trường văn học và thúc đẩy

sự phát triển của văn học Gắn với sự phát triển của thị trường, cảm quan đô thị trong văn học cũng trở thành tiêu chí giúp ta phân biệt văn học trung đại và văn học hiện đại Ý thức về đô thị và kinh tế thị trường trong văn học hiện đại đã trở thành thường trực trong xã hội hiện đại chứ không chỉ dừng ở mức độ cá biệt như trong văn học trung đại Trong thời kì kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, miền Bắc không tồn tại kinh tế thị trường Những năm 1954 - 1975, miền Nam tuy có thị trường nhưng báo chí và xuất bản tư nhân chưa thực sự là lực lượng vật chất thực sự như tính chất vốn có của nó Sau khoảng giữa những năm 80 của thế kỷ XX, do hệ quả của công cuộc Đổi mới sau đó một thời gian nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa được xác lập Theo đó, hoạt động xuất bản được mở rộng và các công ty truyền thông phát triển Thị trường văn học sôi động, cởi mở, đa dạng hơn với nhiều

Trang 13

10

loại hình và có sự phân hóa mạnh mẽ Đó cũng là cơ hội và thách thức cho người sáng tác cùng sự tồn tại của tác phẩm văn học

Biểu hiện cơ bản phân biệt văn học hiện đại và văn học trung đại là sự hiện đại về

thi pháp nghệ thuật Thi pháp văn học hiện đại hoàn toàn thoát khỏi những nét quy

phạm của văn học trung đại Về quan niệm nghệ thuật, văn học hiện đại gắn liền với cảm quan cá nhân, khuyến khích sự sáng tạo chứ không còn hướng đến mục đích cao nhất là giáo huấn, tải đạo, nói chí, phi ngã Tư duy nghệ thuật trung đại tuân theo những quy phạm nghệ thuật có sẵn, nghiêm ngặt, nguyên tắc Tư duy nghệ thuật hiện đại đã giải phóng tính quy phạm và đề cao cá nhân trong một môi trường xã hội dân chủ Nhà văn có cơ hội thể hiện những sáng tạo trên cơ sở trí tưởng tượng của cá nhân để tạo nên tính đối thoại, cởi mở, phong phú trong tác phẩm nghệ thuật Nếu như văn học trung đại thường chủ yếu giấu kín những gì thuộc về con người cá nhân, cái nhìn về thế giới và con người chịu sự chi phối của quan niệm thiên nhân hợp nhất thì văn học hiện đại hướng đến phơi bày thể hiện tự nhiên tất cả những gì thuộc về cá tính, cá nhân trong mỗi con người Ngôn ngữ văn học trung đại dựa trên những quy tắc định sẵn, ước lệ, tượng trưng, dùng nhiều điển cố điển tích Văn học hiện đại sử dụng hệ thống ngôn ngữ phong phú, đa dạng, gần với đời sống và giàu cá tính Quá trình hiện đại hóa gắn với sự thay thế chuyển đổi từ việc sáng tác bằng chữ Hán sang chữ Nôm và từ chữ Nôm tiến đến dùng chữ Quốc ngữ Ngôn ngữ báo chí đã có nhiều tác động tích cực đến ngôn ngữ văn học Vì vậy, nhiều nhà văn cũng là những nhà báo cự phách Giọng điệu văn học trung đại thiên về trữ tình của điệu ngâm và mang tính độc thoại còn giọng điệu văn học hiện đại thuộc phạm trù điệu nói mang tính đối thoại Văn học trung đại mang tính chức năng với tư duy văn - sử - triết bất phân Thơ phú được đề cao hơn tiểu thuyết và kịch Đến thời kì hiện đại, văn xuôi phát triển tạo nên sự thay đổi quan trọng trong tư duy nghệ thuật hiện đại khiến cho văn học dần thoát khỏi tính ước lệ để hướng đến thực tại Vì vậy, văn học hướng đến việc phản ánh cuộc sống đời thường thay vì chỉ miêu tả đời sống cao quý như trong văn học truyền thống Văn chương coi trọng sự thực ở đời với cái nhìn chân xác về thực tế chứ không chỉ đề cao những vấn đề lý tưởng, cao xa Văn học hiện đại coi trọng truyền thống văn hóa dân tộc nhưng không phụ thuộc và noi gương thi học Trung Hoa Tác phẩm văn học hiện đại được sáng tác giản dị, tự nhiên nhưng dễ đi vào lòng người không cần đến lời văn hoa

mĩ hay giàu điển cố điển tích Thể loại văn học hiện đại đã phát triển nhanh chóng và phong phú Các thể loại văn học trung đại như hịch, cáo, chiếu, biểu đã dần mất đi, xuất hiện nhiều thể loại văn học mới như thơ tự do, thơ văn xuôi, kịch, tiểu thuyết, kí , một số thể loại truyền thống được cải biến, đổi mới

Trang 14

11

Hoạt động dịch thuật là phương thức phổ biến và lưu truyền văn hóa hữu hiệu

Các tác phẩm văn học Trung Hoa, Pháp, phương Tây được dịch ra Quốc ngữ đã cung cấp những hiểu biết mới cho người đọc và góp phần hoàn chỉnh thể loại, đổi mới ngôn ngữ, mở rộng kiến thức văn chương cho đội ngũ sáng tác và độc giả Sự tiếp nhận các văn bản dịch thuật góp phần tích cực cho quá trình hiện đại hóa văn học

Lý luận và phê bình văn học là hoạt động góp phần hoàn thiện diện mạo hiện đại

cho văn học dân tộc Sự tự ý thức về văn học bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ XX thông qua tiếp xúc với những yếu tố văn hóa, văn học phương Tây đã giúp cho mầm mống của lý luận, phê bình văn học mới xuất hiện Từ những công trình có tính chất

mở đầu như Khảo cứu về tiểu thuyết (1919) của Phạm Quỳnh, các bài báo tranh luận

về Truyện Kiều, về thơ Mới, tranh luận giữa hai phái nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh đưa đến sự xuất hiện một đội ngũ lý luận, phê bình tài năng Bộ môn lý luận, phê bình văn học hiện đại đã được xác lập khiến cho đời sống văn chương ngày càng sôi động với các tác giả tiêu biểu như: Dương Quảng Hàm, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Trương Tửu, Trần Thanh Mại, Đinh Gia Trinh, Đặng Thai Mai Từ sau 1945, lý luận, phê bình văn học ngày càng phát triển mạnh mẽ

Do đó, các lý thuyết phê bình mới cùng thực tiễn sáng tác được cập nhật và có sự tác động hai chiều góp phần thúc đẩy sự phát triển của văn học Giai đoạn 1945 - 1954,

lý luận, phê bình ở miền Bắc tập trung nghiên cứu lý luận Mác - Lenin về văn học nghệ thuật, đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng, coi trọng mối quan hệ giữa văn học nghệ thuật và chính trị Hoạt động lý luận, phê bình một mặt nỗ lực hướng đến chuyên môn mặt khác phải gắn với yêu cầu phục vụ cách mạng Giai đoạn 1954 -

1975, lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Nam sôi nổi và phong phú, chịu ảnh hưởng và giao lưu với văn hóa Mỹ và phương Tây Một số tư tưởng lý thuyết mới đã được du nhập như thuyết hiện sinh, phân tâm học, cấu trúc luận Sau 1975, đặc biệt

là sau 1986, lý luận phê bình văn học phát triển ngày càng phong phú trong xu thế hội nhập toàn cầu Nhiều trường phái, lý thuyết mới được giới thiệu như: thi pháp học, kí hiệu học, cấu trúc luận, phân tâm học, văn hóa học, nữ quyền luận, phê bình sinh thái, lý thuyết diễn ngôn, hậu thực dân Đó là cơ sở cho nhiều hướng nghiên cứu, tiếp cận văn học và cũng là động lực cho các xu hướng sáng tác văn học

Bước sang phạm trù văn học hiện đại, văn học Việt Nam đã vượt thoát ra khỏi hệ thống thi pháp văn học trung đại chịu sự chi phối và ảnh hưởng của văn hóa, văn học Trung quốc và dần bước vào quỹ đạo hòa nhập với nền văn học hiện đại thế giới Từ nửa đầu thế kỷ XX, văn học đã bước vào quỹ đạo hiện đại và tiếp tục phát triển mạnh

mẽ hơn, hiện đại hơn, cởi mở hơn trong mối giao lưu và đối thoại văn hóa dân chủ

Trang 15

12

với toàn cầu ở nửa sau thế kỷ XX Văn học ngày càng có điều kiện tiếp cận và biến đổi theo hướng hiện đại và có nhiều cơ hội để hội nhập quốc tế

1.1.2 Tiến trình văn học hiện đại Việt Nam và sự xuất hiện của nhà văn Ngọc Giao

Nhìn tiến trình văn học hiện đại Việt Nam trong sự thay đổi và bước chuyển hệ hình văn học gắn với các cuộc giao lưu, ảnh hưởng văn hóa, văn học Việt Nam hiện đại có thể hình dung qua ba chặng: 1900 - 1945; 1945 - 1985;1986 - nay Đồng thời, đặt nhà văn Ngọc Giao trong tiến trình vận động của văn học hiện đại Việt Nam, luận án bước đầu xác định môi trường văn học của tác giả làm cơ sở cho hệ quy chiếu nhằm tiếp tục tìm hiểu văn xuôi của ông trong những chương tiếp theo của luận án

1.1.2.1 Văn học hiện đại Việt Nam giai đoạn 1900-1945

Trước sự thay đổi của lịch sử, văn hóa, xã hội, tiếp thu, ảnh hưởng tư tưởng học thuật và văn hóa, văn học phương Tây, văn học Việt Nam đã có sự vận động biến đổi từ mô hình văn học trung đại chịu ảnh hưởng văn học Trung Quốc sang mô hình văn học hiện đại chịu ảnh hưởng văn học phương Tây Dựa trên những nền tảng của văn học truyền thống, kết hợp với luồng gió mới của văn học phương Tây và tâm thế sáng tạo, chủ động của lực lượng sáng tác là những trí thức mới được đào tạo và tiếp thu có bài bản văn hóa, văn học phương Tây, văn học đã chuyển mình hiện đại hóa Ba mươi năm đầu thế kỷ XX, văn học tồn tại đan xen cái cũ và mới, Đông và Tây, truyền thống và hiện đại Các nhà văn đã bước đầu có những rung động thẩm

mỹ mới nhưng chưa được chuẩn bị đầy đủ về nhận thức, lý luận và học thuật Từ những bước đi tiên phong của các nhà Nho chí sĩ yêu nước tiến bộ đến những trí thức trẻ mới được đào tạo ở trường Tây đã tạo cho văn học 1900-1930 một dấu ấn giao thời giữa hình thức cũ và nội dung mới, nội dung cũ và hình thức mới, nội dung và hình thức vừa cũ vừa mới Trong giai đoạn chuyển đổi hệ hình văn học này, cái cũ có

xu hướng ngày càng ít đi và dần được thay thế bằng cái mới

Sang thời kì 1930-1945, văn học đã phát triển khẩn trương mau lẹ theo hướng hiện đại hóa trên các lĩnh vực của đời sống văn học: Quan niệm nghệ thuật thay đổi, văn học trở thành lĩnh vực chuyên biệt, không còn quá chú trọng tính đạo lý giáo huấn mà trở thành phương tiện tự biểu hiện của nhà văn, để nhận thức và khám phá thế giới, đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ và nhận thức của công chúng Lực lượng sáng tác ngày càng đông đảo và tiến bộ nhất là tác giả trí thức Tây học Phương tiện sáng tác được thay đổi từ chữ Hán, Nôm sang chữ Quốc ngữ Ngôn từ văn học bớt hẳn tính ước lệ tượng trưng, gần hơn với đời sống có khả năng diễn đạt tinh tế mọi phương diện đời sống và con người Câu văn xuôi mới hình thành nhưng phát triển nhanh chóng và đạt đến trình độ hiện đại với những phong cách độc đáo Thơ chuyển mạnh

từ điệu ngâm sang điệu nói, diễn đạt tinh tế sáng tạo cái tôi trữ tình Phương thức lưu

Trang 16

13

hành ngày càng nhanh chóng, tiện lợi với sự ra đời của nhiều nhà xuất bản, nhà in Công chúng văn học ngày càng đông đảo mở rộng tới các tầng lớp thị dân Và đặc biệt là sự biến đổi về thi pháp sáng tác để thoát ra khỏi phạm trù văn học trung đại phá vỡ tính quy phạm, sùng cổ, ước lệ, tượng trưng, phi ngã Văn học mở ra nhiều khả năng mới trong khám phá nghệ thuật Quá trình hiện đại hóa diễn ra trên mọi thể loại và phát triển mau lẹ trên các thể loại văn xuôi như tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự, ký Thơ hiện đại hóa sâu sắc với phong trào Thơ Mới, xuất hiện những thể loại mới như kịch nói, phê bình văn học Trong một thời gian ngắn, văn học đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ với nhiều khuynh hướng, trào lưu sáng tác, nhiều cá tính sáng tạo nở rộ Tiêu biểu là khuynh hướng văn học lãng mạn với phong trào văn xuôi Tự lực văn đoàn và phong trào thơ Mới; khuynh hướng văn học hiện thực với trào lưu văn học hiên thực phê phán 1930-1945 và khuynh hướng văn học yêu nước

và cách mạng

Trong quá trình hiện đại hóa nền văn học 1900-1945, văn học phương Tây có ảnh hưởng và chi phối văn học Việt Nam ở phương diện tư tưởng và hình thức Nhiều tác phẩm của các tác giả Pháp và phương Tây được dạy trong trường Pháp -Việt, được dịch và lưu truyền trong giới trí thức Sự tiếp nhận ấy đã làm bừng tỉnh ý thức cá nhân, thay đổi quan niệm thẩm mĩ ngày càng mở rộng, phong phú mang tính hiện đại Quan niệm về cái đẹp gắn với quan niệm cá nhân, cái đẹp hiện diện mọi nơi, mọi lúc, trong mọi người, nó vừa quen vừa lạ, có sự hài hòa giữa cái đẹp bên trong và cái đẹp bên ngoài Tư tưởng khoa học và tinh thần dân chủ của văn hóa phương Tây đã chi phối nhiều mặt của đời sống tinh thần trong đó có văn học Đó là biểu hiện của thái độ tôn trọng hiện thực khách quan hướng tới khám phá và miêu tả hiện thực Con người trở thành trung tâm được các nhà văn chú ý khám phá tìm hiểu trong nhiều góc cạnh và tư thế trên nền hiện thực phong phú, đa dạng và chân thực

Đó là cơ sở kết tinh nhiều phong cách sáng tác lớn trong thời kỳ này Trước sự thay đổi nhiều mặt của xã hội, văn hóa truyền thống không còn phù hợp để đáp ứng nhu cầu của kết cấu xã hội mới với những tình cảm mới, thị hiếu mới, tư tưởng mới Sự tác động của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh giai cấp trong đó có phong trào Mặt trận dân chủ (1936-1939) đã hối thúc nhà văn dùng văn học để đấu tranh cho quyền lợi của các giai cấp tầng lớp trong xã hội Vì thế, bên cạnh nội dung phản ánh là cái tôi cá nhân với những tình cảm mới, nội tâm phong phú, văn học tăng cường chất hiện thực cả ở chiều sâu và chiều rộng Cũng từ đó những đề tài mới, chủ

đề mới và những sắc thái mới trong nghệ thuật sáng tác xuất hiện dưới ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ và lãng mạn của văn hóa tư tưởng phương Tây

Trang 17

14

Quá trình hiện đại hóa văn học giai đoạn 1900-1945 đã diễn ra khẩn trương, mau lẹ để rồi bắt đầu từ 1930 trở đi, văn học Việt Nam đã vượt qua hệ hình văn học trung đại để bước vào quỹ đạo văn học hiện đại Sự gặp gỡ và tiếp xúc văn hóa phương Tây và văn hóa Pháp đã tạo nên một sự chuyển đổi toàn diện trong đời sống văn học từ đội ngũ sáng tác đến tư duy nghệ thuật, thi pháp văn học Và đặc biệt những người làm nên diện mạo mới của văn học hiện đại là đội ngũ các nhà văn, nhà thơ mới với phong cách đa dạng, số lượng không ngừng phát triển Trên cơ sở đó, sự xuất hiện của các nhóm phái văn học với những tôn chỉ, hướng đi, hoạt động khác nhau đã góp phần làm nên bức tranh sinh động của nền văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 Đó là các nhóm văn học bao gồm tập hợp một số nhà văn, nhà thơ, phê bình khảo cứu hoạt động trong lĩnh vực văn học cùng làm việc với nhau với một mục đích, tư tưởng chung nhằm đưa ra những hướng đi mới cho hoạt động văn học Với những đặc thù riêng khác với nhóm văn học đã có ở văn học trung đại, sau năm

1932, có nhiều nhóm văn học được thành lập như: Tự lực văn đoàn (1933), Xuân Thu nhã tập (1939), Hàn Thuyên (1941), Thanh Nghị ( 1941), Tri Tân (1941) và nhóm Tân Dân (1934) Các nhóm văn học này đều có những đặc điểm riêng mang dấu ấn của nhóm và thời đại với những đóng góp tích cực tới tư tưởng, văn hóa, xã hội Các nhóm phái cũng đều có nhà xuất bản và các sách, tạp chí được phát hành với những đặc trưng riêng của từng nhóm Trong khuôn khổ luận án, chúng tôi chỉ giới thiệu về nhóm Tân Dân bởi đây là nhóm văn học gắn liền với quá trình hiện đại hóa văn học giai đoạn này và có liên quan trực tiếp đến đối tượng nghiên cứu là nhà

văn Ngọc Giao - thành viên của Tiểu thuyết thứ Bảy và cũng là cây bút quen thuộc

trên các ấn phẩm của Tân Dân

Nhóm Tân Dân còn được gọi dưới các tên khác như nhóm Tiểu thuyết thứ Bảy

và Tạp chí Tao Đàn, nhóm Ích Hữu, nhóm Phổ thông bán nguyệt san Đó là nhóm gồm các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình hoạt động văn hóa nghệ thuật tập hợp xung quanh

Nhà xuất bản Tân Dân với các ấn phẩm báo và tạp chí: Tiểu thuyết thứ Bảy, Phổ thông

bán nguyệt san, Ích Hữu, Tao Đàn, Truyền bá và các tủ sách Tao Đàn, tủ sách Những tác phẩm hay Trong đối trọng với nhóm Tự lực văn đoàn, Tân Dân có sự mở rộng và

phát triển với rất nhiều cơ quan ngôn luận và quy tụ được nhiều cây bút nổi tiếng với nhiều dấu ấn sáng tạo khác nhau Dưới sự chỉ đạo, dẫn dắt của ông chủ báo Vũ Đình Long tài năng và tâm huyết, năm 1934, xuất bản phẩm đầu tiên của Tân Dân ra đời là

Tiểu thuyết thứ Bảy và dần mở rộng, phát triển với 5 tờ báo và tạp chí nổi tiếng cùng hai

tủ sách Sự phong phú, hấp dẫn trong các ấn phẩm của Tân Dân đã tạo ra môi trường hoạt động văn học lành mạnh, hấp dẫn cho giới văn nghệ sĩ và giới nghiên cứu đương thời Nhóm Tân Dân đã phát triển mạnh mẽ nhờ sự dung nạp rộng rãi những cách tiếp

Trang 18

15

cận hiện thực theo hướng cả mới và cũ, cả khuynh hướng lãng mạn và khuynh hướng hiện thực với một tình yêu nước kín đáo và mạnh mẽ Với những hoạt động phong phú, nhóm Tân Dân đã trở thành một nhóm văn học lớn tạo nên một môi trường văn học chuyên nghiệp sôi động và cũng là nơi đào tạo nên nhiều nhà văn nổi tiếng, kích thích tạo động lực cho văn học phát triển theo hướng hiện đại

Trong số các cây bút nổi tiếng của nhóm Tân Dân, Ngọc Giao là tác giả tiêu biểu trong vai trò là một trong những người tham gia hoạt động điều hành tổ chức

hoạt động của Tiểu thuyết thứ Bảy với vị trí thư kí tòa soạn và cũng là cây bút sáng

tác sung sức nhiều tác phẩm in trên các ấn phẩm của Tân Dân Giai đoạn đầu làm thư

kí tòa soạn Tiểu thuyết thứ Bảy, với một tờ báo bán chạy được xuất bản số lượng rất lớn trong đối chọi với Phong hóa của Tự lực văn đoàn, vai trò thư kí của Ngọc Giao

giữ vị trí khá quan trọng trong việc sắp xếp, đăng duyệt, chỉnh sửa để tạo nên sức hấp dẫn của tờ báo Theo đuổi đam mê sáng tác, tác phẩm của Ngọc Giao thời kì này đã tạo được hiệu ứng tốt với bạn đọc qua số lượng lớn đăng trên ấn phẩm của Tân Dân như là một cây bút truyện ngắn và kí tài năng, có dấu ấn đặc sắc Lịch sử truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945 không thể không nhắc đến sự xuất hiện của những cây bút tiêu biểu của Tân Dân như Nguyễn Công Hoan và Ngọc Giao

1.1.2.2 Văn học hiện đại Việt Nam giai đoạn 1945 - 1985

Văn học 1945-1975 gắn liền với những sự kiện quan trọng của bước đường lịch sử dân tộc Thời kỳ 1945-1954, văn học đã tìm nguồn cảm hứng mới gắn liền với công cuộc xây dựng xã hội ở miền Bắc, quá trình nhân dân cùng Đảng thực hiện các chính sách cách mạng và ổn định cuộc sống Tình yêu quê hương, tình đồng bào, đồng chí, được thể hiện phong phú, giản dị mà xúc động Mặc dù chưa có kết tinh nghệ thuật nhưng các tác phẩm thời kỳ này đã phản ánh diện mạo của nền văn học trong buổi đầu độc lập và tiếp tục đối diện với những cam go thử thách mới của chiến tranh Thời kì 1945 - 1954, gắn với cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc, tình thế cài răng lược của cuộc chiến đấu dẫn đến hình thành hai bộ phận văn học

Bộ phận chủ đạo với một đội ngũ lớn viết ở vùng tự do và chiến khu Việt Bắc Một

bộ phận nhỏ sáng tác ở vùng địch hậu trong đó có Hà Nội và Sài Gòn là hai địa bàn quan trọng Bộ phận văn học công khai và không công khai ở Hà Nội tạm chiếm vẫn tồn tại trong bối cảnh lịch sử mới đầy cam go, khốc liệt nhưng phong phú với nhiều giá trị nhân văn Các tác giả tiêu biểu của bộ phận này là Vũ Hoàng Chương, Lê Văn Trương, Nguyễn Cao Củng, Sơn Nam, Nguyễn Tường Phượng, Lê Văn Hòe, Lê Đình Chân, Sao Mai, Hoàng Công Khanh, Nguyễn Bắc, Vũ Bằng, Ngọc Giao, Giang Quân, Băng Hồ, Thế Phong, Băng Sơn, Nam Xương, Tuyết Lan, Mộng Sơn Trong điều kiện kinh tế khó khăn, chế độ kiểm duyệt gắt gao, các văn nghệ sĩ đã phải cố

Trang 19

vì những tác phẩm văn chương cứu rỗi và nâng đỡ con người

Thời kỳ 1955 đến 1964, nền văn học có sự phát triển mạnh mẽ, khá toàn diện Các nhà văn gắn kết với chủ đề xây dựng cuộc sống mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa Các thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ trữ tình phát triển bước đầu có tác phẩm xuất sắc Các tác phẩm đã mở rộng đề tài và khả năng khái quát hiện thực Tiêu biểu là ba hướng đề tài chính: Tái hiện cuộc kháng chiến chống Pháp, cuộc đấu tranh cách mạng thời kì trước 1945, cuộc sống mới cùng cách mạng xã hội chủ nghĩa

ở miền Bắc và cuộc đấu tranh thống nhất đất nước Một số tác phẩm đã phản ánh được những vấn đề của đời sống tư tưởng tình cảm của con người bên cạnh những tác phẩm có tính thời sự Thể loại văn học phát triển khá phong phú Một số nhà Thơ Mới hồi sinh, nhiều nhà thơ kháng chiến và nhà thơ trẻ xuất hiện với nhiều tập thơ có giá trị Truyện ngắn với đề tài và bút pháp khá đa dạng, tiểu thuyết phong phú có nhiều vượt trội so với thời kỳ trước Các thể loại kí, tùy bút, kịch bản sân khấu có số lượng nhiều hơn nhưng chưa có nhiều kết tinh Phê bình và nghiên cứu văn học có sự phát triển cả về đội ngũ và chất lượng tác phẩm

Từ 1964-1975, cuộc kháng chiến chống Mĩ mở rộng trên phạm vi cả nước Cuộc kháng chiến đặt ra cho dân tộc ta nhiều cam go thử thách Văn học có bước chuyển mình mạnh mẽ và thống nhất cao từ đề tài, chủ đề, cảm hứng, giọng điệu để hướng về

Tổ quốc, nhân dân, người anh hùng, cổ động niềm tin, tinh thần chiến đấu, khơi dậy lòng yêu nước Văn học cả hai miền có sự phát triển toàn diện ở các thể loại Thơ ca có nhiều thành tựu sáng tạo, văn xuôi phát triển khá đều, kịch gây được tiếng vang, phê bình văn học hướng vào biểu dương tác phẩm đáp ứng được nhu cầu cuộc kháng chiến chống Mĩ Văn học đã làm tốt nhiệm vụ cổ vũ chiến đấu, nêu cao chủ nghĩa yêu nước,

Trang 20

17

động viên tích cực cho công cuộc giải phóng đất nước Bộ phận văn học đô thị miền Nam trước 1975 là một thực thể phức tạp nhưng cũng có những cây bút hoạt động trong vùng địch kiểm soát, bộ phận văn học cách mạng gắn với phong trào đấu tranh của dân tộc thể hiện sự dấn thân, dũng cảm để sáng tác những tác phẩm giàu chất hiện thực, giá trị nhân văn và hiện thực với những cách tân, sáng tạo

Với sứ mạng lịch sử của mình, văn học 1945-1975 mang đặc điểm của một nền văn học đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản nhằm phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu Đó là nền văn học hướng về đại chúng, đại chúng vừa là đối tượng phản ánh vừa là công chúng văn học và là nguồn bổ sung cho lực lượng sáng tác Nền văn học mang cảm hứng sử thi và khuynh hướng lãng mạn, trữ tình là liều thuốc tinh thần định hướng toàn dân tộc đoàn kết quyết tâm đánh thắng kẻ thù, tin tưởng ở tương lai tốt đẹp

Sự nghiệp cách mạng dân tộc và xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta giai đoạn này đòi hỏi nền văn học nước ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và vì vậy việc giao lưu, học tập kinh nghiệm sáng tác với văn học Xô Viết và các nước xã hội chủ nghĩa được ưu tiên Các sáng tác và công trình lí luận văn học Nga Xô Viết và các nước xã hội chủ nghĩa được dịch sang tiếng Việt và trở thành hình mẫu cho các nhà văn Việt Nam Văn học Nga Xô Viết với ở mức độ nhất định được tiếp nhận gắn liền với thực tiễn cách mạng Việt Nam Phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa được nhiều nhà văn hưởng ứng

Ở miền Nam, văn học đô thị chịu ảnh hưởng của tư tưởng triết học, mỹ học và văn học hiện sinh của phương Tây Những lí thuyết mới này đã chi phối đến văn học với một cách nhìn khác văn học ở miền Bắc Mặc dù thời gian tiếp cận chưa nhiều và sâu sắc nhưng nó cũng đã ít nhiều tác động đến thực tiễn sáng tác và lí luận, phê bình văn học với những dấu ấn manh nha, khác lạ và trở lại trong văn học sau 1986

Với nhà văn Ngọc Giao, đây là giai đoạn cầm bút đầy sóng gió nhưng cũng là giai đoạn nhà văn có những bứt phá và vận động trong tư tưởng và bút pháp sáng tác Không hoàn toàn đi theo tiếng gọi của cách mạng như các nhà văn Nam Cao, Nguyễn Tuân, Tô Hoài nhưng văn chương Ngọc Giao giai đoạn này vẫn là tiếng nói yêu nước thầm kín với những khám phá trong quá trình tự vận động hiện đại hóa văn học Từ thể loại đến ngôn ngữ, giọng điệu, nội dung hiện thực được nói đến trong tác phẩm của ông đều chứng minh cho những đóng góp tích cực của Ngọc Giao với vị trí của một nhà văn sống ở vùng tạm chiếm giai đoạn 1947-1954 Với cái nhìn ít nhiều có tính chất hiện sinh, tác phẩm của Ngọc Giao giai đoạn này đã dũng cảm tái hiện lại những góc khuất trong tâm hồn con người với bao uẩn khúc mang vấn đề nhân loại, nhân văn

Trang 21

18

1.1.2.3 Văn học hiện đại Việt Nam giai đoạn 1986 đến nay

Văn học Việt Nam 1945-1975 đã làm tròn sứ mệnh lịch sử của một nền văn học phục vụ cách mạng, tuyên truyền và vận động cách mạng, cổ vũ chiến đấu vì sự nghiệp chung của dân tộc Đặc điểm này còn chi phối đến văn học nửa đầu những năm 1980 Sau 1986, trước những chuyển biến của xã hội, tư tưởng, văn hóa, văn học cũng có thay đổi trong nhu cầu và quan điểm thẩm mĩ để từng bước được đổi mới Nhu cầu nhìn lại nền văn học chiến tranh để đánh giá đúng những thành công

và hạn chế đã được quan tâm Nhiều vấn đề cốt lõi của văn học được đưa ra xem xét lại, bàn thảo sôi nổi như vấn đề: Văn học và hiện thực, văn nghệ và chính trị, chủ nghĩa hiện thực và hiện thực xã hội chủ nghĩa Nhờ chính sách mở cửa, nhiều trào lưu, khuynh hướng và lí luận văn học hiện đại trên thế giới đã được giới thiệu rộng rãi chi phối sự sáng tạo của nhà văn và văn hóa tiếp nhận của độc giả

Văn học giai đoạn này đã vận động và biến đổi trong một sự tiếp nối có tính liên tục, kế thừa và phát triển Từ 1975 đến 1985, văn học chuyển tiếp từ văn học chiến tranh sang nền văn học thời kì hậu chiến trên các phương diện đề tài, cảm hứng

và phương thức nghệ thuật Từ 1986 đến đầu thập kỉ 90 là thời kì văn học đổi mới mạnh mẽ, gắn liền với công cuộc đổi mới đất nước Văn học đổi mới theo hướng đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật Khuynh hướng nhận thức lại hiện thực với cảm hứng phê phán mạnh mẽ trên tinh thần nhân bản, tiếp cận đời sống trên bình diện thế

sự đời tư được các nhà văn tập trung hứng thú khám phá và khai thác Đội ngũ sáng tác phong phú với nhiều thế hệ như: lớp nhà văn tiền chiến, những cây bút mới thuộc thế hệ nhà văn trẻ và đặc biệt là sự xuất hiện của những cây bút nữ Các thể loại văn học đều có những biến đổi và phát triển đa dạng, sôi nổi nhất là văn xuôi Tư duy văn học mới đã hình thành làm thay đổi các thành tố của văn học đặc biệt là phát huy chiều sâu khám phá hiện thực xã hội và con người, khả năng sáng tạo và cá tính, phong cách của mỗi nhà văn Từ sau những năm 1990, văn học trở về với đời sống thường nhật và ngày càng ý thức hơn về đổi mới nghệ thuật Thơ thời kì này đi sâu khai thác bản thể con người Văn xuôi nổi lên hai mảng đáng chú ý với nhiều ấn tượng là hồi kí- tự truyện và tiểu thuyết lịch sử Tiểu thuyết được viết với những cách tân thể nghiệm sáng tạo mới

Như vậy, tồn tại và phát triển trong điều kiện lịch sử khác trước, văn học Việt Nam sau 1985 mang những đặc điểm phù hợp với nhu cầu thẩm mĩ và bối cảnh xã hội mới phù hợp quy luật khách quan Nền văn học đang vận động theo hướng dân chủ hóa Văn học không chỉ là tiếng nói chung mà còn là tiếng nói của mỗi cá nhân Văn học không những là vũ khí tinh thần để đấu tranh xã hội mà còn được nhấn mạnh ở sức khám phá thực tại, thức tỉnh ý thức về sự thực, vai trò dự báo và dự cảm

Trang 22

19

Đó cũng là một phương tiện cần thiết để tự biểu hiện tư tưởng, quan niệm, chính kiến của người nghệ sĩ về xã hội và con người Nhà văn vừa là nhà tư tưởng, nhà hoạt động xã hội có tác dụng định hướng tư tưởng, khơi gợi cho người đọc những vấn đề

để cùng đọc, suy ngẫm và đồng sáng tạo Hiện thực phản ánh ngày càng mở rộng và toàn diện Hiện thực ấy không chỉ là hiện thực cách mạng với những biến cố của lịch

sử và cộng đồng mà còn là hiện thực đời thường với những mối quan hệ phức tạp, cuộc đời đa sự, đa đoan, thế giới nội tâm, số phận các nhân vật với muôn mặt phong phú và bí ẩn Hiện thực đa dạng ấy đã mở ra chiều kích vô tận để văn học chiếm lĩnh

và khám phá Các phong cách sáng tác nở rộ, nhà văn được bộc lộ hết mình cá tính sáng tạo và vận dụng những yếu tố trường phái nghệ thuật hiện đại phương Tây Theo đó, tinh thần nhân bản và sự thức tỉnh ý thức cá nhân là nền tảng tư tưởng và cảm hứng chủ đạo của văn học giai đoạn này Con người trở thành đối tượng khám phá chủ yếu, vừa là đích đến của văn học vừa là hệ quy chiếu, thước đo giá trị cho mọi vấn đề xã hội Con người được nhìn nhận trong mối quan hệ đa chiều, với nhiều bình diện và tầng bậc với những giá trị đa diện, lưỡng phân, phức tạp Văn học hướng đến sự cảm thông, thấu hiểu, nâng đỡ con người và đánh thức sự tự ý thức thanh lọc tâm hồn con người để vươn đến những điều chân, thiện, mĩ Hai đặc điểm trên cũng dẫn đến đặc điểm văn học phát triển phong phú đa dạng và hiện đại Đó là

sự phong phú về đề tài, thể loại, nhiều thể nghiệm về thủ pháp nghệ thuật, đa dạng về phong cách và khuynh hướng thẩm mĩ Sự đa dạng trong xu hướng dân chủ hóa cũng gắn liền với tính phức tạp và không ổn định Hơn nữa, trong bối cảnh giao lưu hội nhập ngày càng mở rộng, văn học luôn biến đổi theo hướng tiếp thu cái mới sao cho phù hợp với hoàn cảnh mới Do đó, các yếu tố nghệ thuật như nghệ thuật tự sự với những yếu tố điểm nhìn, xây dựng nhân vật, độc thoại nội tâm và dòng ý thức, kết cấu, tính đa thanh của giọng điệu luôn có những điểm mới Thơ được thể nghiệm theo hướng hiện đại chủ nghĩa với những cách tân về nghệ thuật vượt ra khỏi khuôn khổ và thói quen thơ cũ để mở ra con đường mới

Như vậy, sau 1986, tiến trình hội nhập quốc tế diễn ra sâu rộng với sự kết nối chặt chẽ hơn so với hai giai đoạn trước Sự toàn cầu hóa và thâm nhập của Internet cùng với tiếng Anh trở thành ngôn ngữ quan trọng đã góp phần hình thành một thế giới đương đại với văn hóa hiện đại và hậu hiện đại xuất hiện ở Việt Nam Văn học Việt Nam mở ra một chân trời mới với nhiều cơ hội và thách thức Đội ngũ sáng tác ngày càng đông đảo, gồm nhiều thế hệ với sự đa dạng về phương pháp sáng tác và phong cách sáng tác với nhiều thể nghiệm mới Văn học phát triển phong phú nhưng cũng rất phức tạp với nhiều trào lưu tư tưởng và lý thuyết mới được giới thiệu Văn học có nhiều cách tân đổi mới sôi nổi nhất kể từ 1986-1990 và âm thầm diễn ra mạnh

Trang 23

20

mẽ ở những năm sau đó Bộ phận văn học hải ngoại trừ một số cây bút cực đoan, chống cộng, phần lớn các nhà văn Việt sống ở nước ngoài vẫn mong muốn hòa hợp dân tộc và đóng góp cho nền văn học Việt thêm phong phú, hiện đại

Những cách tân, đổi mới trong tư tưởng văn học giai đoạn này đã tạo điều kiện thuận lợi cho cảm hứng sáng tác của Ngọc Giao giai đoạn 1986-1997 được hồi sinh Mặc dù chỉ còn hòa nhập và tiếp tục sáng tác trong khoảng 10 năm khi tuổi đã cao sức đã yếu nhưng sự xuất hiện của nhà văn cùng các tác phẩm của ông vẫn cho thấy một sự nhanh nhạy, cập nhật của một lối viết không quá xa lạ, thậm chí còn cung cấp cho người đọc những tiếp nhận xúc động bất ngờ về những gì nhà văn chiêm nghiệm, lưu giữ và truyền đạt trong mỗi tác phẩm

Như vậy, trong khoảng thời gian từ đầu thế kỉ XX đến nay, văn học Việt Nam đã không ngừng vận động và biến chuyển trên đường hội nhập với nền văn học thế giới Giai đoạn đầu thế kỉ XX văn học bắt đầu bước vào quỹ đạo của văn học hiện đại và tiếp tục mở rộng, phát triển mạnh mẽ hơn trong các cuộc giao lưu văn hóa ở cuối thế kỉ Trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam sự xuất hiện và đóng góp của mỗi tác giả ở mỗi chặng đường là điều kiện cần thiết và cũng là minh chứng cho sự vận động và thay đổi của công cuộc hiện đại hóa văn học Với Ngọc Giao, nhà văn có hành trình sáng tác trong gần như trọn vẹn thế kỉ XX, những dấu ấn trong sáng tác của ông trong hai chặng đầu hiện đại hóa văn học và sự trở lại trong thời gian ngắn ở giai đoạn ba cũng

đủ cho thấy đời văn của ông gắn với diễn trình hiện đại hóa văn học Việt Nam

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về tác giả Ngọc Giao

Tổng hợp tình hình nghiên cứu trong nước về sự nghiệp văn chương của nhà văn Ngọc Giao, theo tài liệu đến nay chúng tôi thu thập được, hiện chưa có một công trình nào nghiên cứu đầy đủ, hệ thống, cụ thể và dày dặn về sự nghiệp văn chương của ông Thậm chí, số người biết và viết về Ngọc Giao còn ít Phần lớn đó là những bài nhận định mang tính chất phác thảo khái quát về cuộc đời và sự nghiệp hoặc những lời giới thiệu ngắn gọn về nhà văn hoặc giới thiệu tác phẩm của Ngọc Giao trong các lần xuất bản Chúng tôi chia việc nghiên cứu tác giả Ngọc Giao ra các giai đoạn sau:

1.2.1 Giai đoạn trước 1945

Sau khi xuất hiện trên văn đàn với nhiều tác phẩm được đăng trên Tiểu thuyết

thứ Bảy và các tờ báo, tạp chí khác cùng thời như: Tao đàn, Ngọ báo, Ích Hữu, Truyền bá, Cậu ấm cô chiêu , độc giả đã dần quen thuộc và dành một sự ưu ái nhất

định với tác giả Ngọc Giao Đặc biệt, sau khi ba tập truyện ngắn Một đêm vui (1936),

Phấn hương (1939) và Cô gái làng Sơn Hạ (1942) được xuất bản, Ngọc Giao đã trở

thành một trong những nhà văn hiện đại góp phần phong phú thêm cho dòng văn xuôi hiện đại đầu thế kỉ XX và nhận được sự chú ý của độc giả cũng như các nhà

Trang 24

21

nghiên cứu nhiều hơn Trong đó có thể kể đến một số bài viết sau đã thấy được giá

trị hấp dẫn và độc đáo của văn xuôi Ngọc Giao

Một đêm vui là tập truyện quan trọng cho thấy những nét cơ bản về văn phong

Ngọc Giao trong thời kì đầu sáng tác Tập Một đêm vui có ghi lời nhận xét đầu sách của

Phùng Tất Đắc trong lần đầu xuất bản năm 1936: “Giới thiệu tập này của ông Ngọc Giao, tôi chỉ muốn chú ý đến một đặc tính của hầu hết các truyện ông Ngọc Giao

viết: đặc tính về luân lý” [90, 26] Bên cạnh đó, lời bạt này cũng cho rằng Ngọc Giao là

một nhà viết truyện muốn chuyên về tình cảm và ưa tìm tòi trong khám phá tâm lí

Khi tập Phấn hương được xuất bản lần đầu năm 1939, Trúc Đường đã có

những cảm nhận đánh giá cao về đặc điểm nghệ thuật độc đáo và giá trị nội dung của văn xuôi Ngọc Giao Ông cho rằng văn xuôi Ngọc Giao có những lời văn dịu dàng, được gọt giũa nhưng cũng rất đơn sơ, giản dị và cảm động, giàu chất lãng mạn và

hiện thực Đọc Phấn hương, người ta sẽ thấy "những ý tình rất cao thượng, rất tha

thiết, những hi sinh rất thiêng liêng, những bài học luân lí rất thiết thực, nó khiến tác

giả Phấn hương có thể bắt chước thi hào Victo Hugo mà trả lời mọi câu hỏi chất vấn:

"Tôi là một lương tâm" "[90, 30] Từ đó, Trúc Đường cũng cho rằng: "Ngọc Giao là văn sĩ của Đau khổ, của Tình thương"[90, 31]

Bài nhận xét, giới thiệu của nhà văn Vũ Ngọc Phan trong bộ sách Nhà văn

hiện đại (tập 2) xuất bản năm 1942 đã có đánh giá những nét đặc trưng của văn

chương Ngọc Giao nhưng còn chưa thực sự đầy đủ Bài viết chủ yếu đưa ra những nhận xét khái quát về đặc điểm nội dung và nghệ thuật truyện ngắn Ngọc Giao giai đoạn trước 1945 Với các tác phẩm truyện ngắn đương thời của Ngọc Giao, Vũ Ngọc Phan đã đánh giá “Trong hầu hết truyện ngắn của ông, thứ tình cảm ông diễn đạt đều

là thứ tình sầu, tình uất nhưng hay hơn cả đều là những truyện gợi mối thương tâm người đọc Ngọc Giao là một nhà văn sở trường về lối văn đạo tình ”[150,1129] Tuy nhiên trong bài viết này, Vũ Ngọc Phan cũng chỉ ra những sự chưa đồng tình về

tư tưởng hoài niệm, bi quan khi viết về những cái chết và cách diễn đạt đôi khi quá gọt giũa làm mất tự nhiên trong truyện ngắn Ngọc Giao Trong công trình nghiên cứu sớm này, có lẽ cũng do diện bao quát rộng rãi đời sống văn học hiện đại mới hình thành,Vũ Ngọc Phan mới phác qua mà chưa đánh giá hết những giá trị nghệ thuật và giá trị tư tưởng sự nghiệp văn chương của Ngọc Giao

Như vậy, nhìn một cách khái quát, các bài viết đánh giá, nhận xét trước 1945

đã có những ghi nhận về tính nhân văn, giàu chất trữ tình và hiện thực trong tác phẩm của Ngọc Giao ở chặng đường đầu sáng tác

Trang 25

22

1.2.2 Giai đoạn 1945 - 1985

Trong bối cảnh đất nước phải đối diện với hai cuộc kháng chiến trường kỳ cứu nước, văn học trước 1945 - 1975 hướng đến mục tiêu cao cả là phục vụ cách mạng Quan niệm tư tưởng và nghệ thuật cũng như cách nhìn nhận đánh giá tác phẩm văn học và vị trí, đóng góp của nhà văn chịu sự chi phối, ảnh hưởng của lập trường tư tưởng cách mạng hướng đến mục đích văn học trực tiếp phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng Với thực tế sống và viết của Ngọc Giao giai đoạn này,

dù luôn hướng về lẽ phải với tình thương người sâu sắc, lòng yêu nước thầm kín nhưng do quan điểm, lập trường của thời kì lịch sử bấy giờ, nhà văn Ngọc Giao cùng tác phẩm của ông không dễ gì được chấp nhận và phải chịu nhiều dư luận trái chiều

Số ít ý kiến ghi nhận những giá trị tác phẩm Ngọc Giao giai đoạn này là lời

giới thiệu tiểu thuyết Đất Bài giới thiệu của nhà văn Tam Lang về tiểu thuyết Đất

khi tác phẩm được in năm 1950 tại nhà xuất bản Cây thông, Hà Nội có viết:“ Đất, ở đây, trong những dòng chữ bỏng cháy này sẽ tiết ra, sẽ dựng lên cả một cuộc đời gai lửa, nghẹn uất của những con người mong được sống, thiết tha sống, thấy lẽ sống chỉ khi nào họ được bám vào đất, ghì chặt lấy đất Bạn đọc đi, để được gửi lòng mình vào lòng Đất Việt muôn thuở mạnh”[58,2] Bài viết này chủ yếu đánh giá ngắn gọn

về nội dung của tác phẩm Đất với những ý hướng tích cực của một tác giả dũng cảm

nói lên hiện thực cuộc sống khổ cực của người dân vùng tề với biết bao tâm trạng

Bên cạnh đó cũng có ý kiến đi ngược lại, trong đó phải kể đến bài viết về văn

học Hà Nội tạm chiếm của ông Nguyễn Bắc, Giám đốc Sở văn hóa Hà Nội năm 1963

dưới nhan đề Mấy nét về tình hình văn học trong lòng Hà Nội thời kỳ kháng chiến

Bài viết có những nhận xét còn mang tính quy chụp, phiến diện về các tiểu thuyết Ngọc Giao giai đoạn 1947- 1954 Tác giả chủ yếu bàn đến mục đích và tư tưởng của tác giả Ngọc Giao với kháng chiến và cách mạng thông qua các tác phẩm của ông chứ không bàn nhiều đến giá trị văn chương với những đóng góp tích cực cho văn học nghệ thuật Đó là cách nhìn nhận của nhà phê bình nhìn tác phẩm văn học như một công cụ phục vụ chính trị đơn thuần Cách nhìn nhận đó chưa thực sự toàn diện

và đúng đắn, khách quan về giá trị văn chương của Ngọc Giao và chịu sự chi phối của hoàn cảnh lịch sử xã hội Cũng kể từ sau bài viết này, sự mặc cảm cùng những quan điểm riêng rất cá tính trong sáng tạo nghệ thuật đã khiến nhà văn ngậm ngùi xa dần nghiệp viết và bạn đọc

Như vậy, giai đoạn 1945 -1985, mặt tích cực trong tác phẩm Ngọc Giao chưa được quan tâm và đánh giá cao, số lượng bài viết ít, góc nhìn để đánh giá tác giả và tác phẩm còn phiến diện, một chiều Do những giới hạn của hoàn cảnh lịch sử xã hội,

Trang 26

23

các tác phẩm Ngọc Giao không được phổ biến, kéo theo đó là sự ngưng bút của nhà

văn, sự lãng quên của độc giả và các nhà nghiên cứu

1.2.3 Giai đoạn sau 1986

Dưới ánh sáng của công cuộc Đổi mới, những giá trị đích thực của tác phẩm văn học nghệ thuật trong đó có tác phẩm Ngọc Giao đã dần được soi tỏ Giá trị tác phẩm và đóng góp của Ngọc Giao với văn học đã được nhìn nhận khách quan, đúng mực hơn Mặc dù số lượng bài viết chưa nhiều nhưng đã phần nào cho thấy những phác thảo tích cực về chân dung một nhà văn, một nghệ sĩ nhân hậu Những bài viết giới thiệu về tác giả, tác phẩm Ngọc Giao trong những lần xuất bản, tái bản và một

số công trình nghiên cứu chuyên biệt dưới đây phần nào thể hiện điều đó

Khi tái bản tập truyện ngắn Cô gái làng Sơn Hạ của Ngọc Giao năm 1989,

Nhà xuất bản Văn học đã đánh giá: “Tác giả có sức sáng tạo phong phú và đa dạng, góp vào nền văn học hiện đại của chúng ta những trang viết hấp dẫn”[59,6] Bài viết cũng đã có những nhận định khái quát về đặc trưng bút pháp văn xuôi Ngọc Giao nói

chung và giá trị của tập truyện ngắn Cô gái làng Sơn Hạ nói riêng

Ngoài ra phải kể đến sự cảm nhận về tác phẩm của nhà văn Ngọc Giao trong

tập Phấn hương qua bài viết Ngọc Giao - Phấn hương còn đó của tác giả Hoài Anh đăng trên Tạp chí Văn số 15(6-2001) với lời khẳng định: “Không thể nói Ngọc Giao

là hay mua não trác sầu, vì chỉ trừ những người tầng lớp trên, sống dư dật, phong lưu trong xã hội cũ ra, không ai không nhận thấy xã hội cũ là buồn thảm, những người tầng lớp dưới luôn chết một cách vô lý và vô nghĩa Ngọc Giao là một cây bút giàu lòng thương người Ông thường đứng về phía những người nghèo khổ, bị đàn áp, bóc lột, đối xử bất công”[2,80] Đó là sự khẳng định về giá trị nhân đạo và tâm hồn cao đẹp của ngòi bút Ngọc Giao

Sau một thời gian bị quên lãng, những năm cuối của thế kỷ XX, tên tuổi nhà văn được nói đến và đánh giá công bằng, khách quan hơn Đặc biệt là qua các bài viết của nhà nghiên cứu Phong Lê:

Mở đầu cho loạt bài viết về nhà văn Ngọc Giao của nhà nghiên cứu Phong Lê

là bài Ngọc Giao, người khỏi bị lãng quên vào cuối thế kỷ viết năm 1999 Sau đó được chỉnh sửa và bổ sung thay cho lời giới thiệu cuốn Hà Nội cũ nằm đây của Ngọc Giao xuất bản năm 2010 và in lại trong cuốn Trăm năm trong cõi Về một thế hệ

vàng văn chương Việt hiện đại (2014) Theo ông, "ngòi bút Ngọc Giao cơ bản vẫn là

ngòi bút nghiêng về phía hoài cảm, trữ tình Tránh né, hoặc làm nhòa mờ những nét thô tục, trần trụi của hiện thực trong một hơi văn êm ái, suôn sẻ"[63,10] Đó là những nhận định đánh giá khơi nguồn, thức tỉnh và cho phép bạn đọc thoát khỏi sự lãng quên một văn nhân đáng kính cùng những giá trị văn chương trân quý

Trang 27

24

Bài viết giới thiệu tập truyện ngắn Phấn hương tái bản năm 2010 với những đánh

giá có tính chất khẳng định về giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm Qua tập truyện, nhà nghiên cứu Phong Lê nhận xét: “Đứng ở chỗ giao nhau hoặc nơi giáp ranh giữa lãng mạn và hiện thực, thế giới truyện của Ngọc Giao dường như có phần nới rộng ra về hai phía trong một cảm quan có màu sắc u buồn về hiện thực mà ông không muốn tìm đến nguyên nhân; thế nhưng đâu đó vẫn ẩn chứa khát vọng về một cuộc sống

trong sạch và lương thiện cho con người, cho loài người”[61,12]

Trong bài viết giới thiệu tập Quan báo xuất bản năm 2010, tác giả cũng đã

khẳng định “Ngọc Giao như một chân dung tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại, với các giá trị có ý nghĩa bổ sung và khẳng định bên cạnh các tên tuổi quen thuộc trong hai dòng trữ tình và hiện thực thời kỳ 1930-1945, và cũng là giá trị chung cho

cả thế kỷ”[62,11]

Cùng với những nhận xét đã bàn đến trong các bài viết trên, bài viết giới thiệu

cuốn Hà Nội cũ nằm đây xuất bản năm 2010, nhà nghiên cứu Phong Lê đã khẳng

định thêm về giá trị đạo lý và đề tài Hà Nội trong sáng tác của Ngọc Giao, nhất là các tác phẩm ký viết những năm cuối đời

Với bài giới thiệu tác phẩm Xóm Rá xuất bản năm 2011, nhà nghiên cứu Phong

Lê đã có những đánh giá ghi nhận về sự đổi mới và đóng góp của Ngọc Giao thể hiện qua tác phẩm Đó là “những bổ sung về một bút pháp mới, bút pháp phóng sự, khảo tả chi tiết những điều tai nghe mắt thấy Một tiểu thuyết - phóng sự trong kết hợp và bổ sung giữa hai thể viết, trong tương ứng với chất liệu và chủ định của tác giả, ghi nhận

cái mới, cái lạ trong văn Ngọc Giao ”[64,14] Cũng viết về tác phẩm này, trong lần tái bản năm 2015, trang 217, Trần Ngọc Hiếu đã đánh giá: "Xóm Rá đáng được coi là tác

phẩm khốc liệt nhất trong di sản văn chương Ngọc Giao" Đó cũng là tác phẩm có sự kết hợp ăn ý giữa chất tiểu thuyết và phóng sự Tác giả đã thành công khi mô tả thực trạng

xã hội phức tạp, gai góc và đặc biệt hơn bởi nó chứa những "vấn đề nhân loại" Với những gì đã viết, nhà nghiên cứu cho rằng cuốn sách có thể kích thích sự phiêu lưu của nhiều cách đọc và không chỉ có giá trị của một tư liệu

Bên cạnh đó là những bài viết giới thiệu 2 cuốn tiểu thuyết Nhà quê và Cầu

Sương được tái bản năm 2011 với những giá trị của thế giới văn thơ tiền chiến và văn

học ở vùng tạm chiếm Phong Lê cũng khẳng định trong bài viết này:“Tiểu thuyết của Ngọc Giao cần được nhận thức và đánh giá lại Để qua đó, cho ta một cách tiếp cận khác, bao dung hơn trước các định kiến khắc nghiệt của một thời; cũng đồng thời cho ta một nhận thức bao quát hơn về cuộc sống và con người trong mọi góc khuất của nó”[65,10]

Trang 28

Trong bài Tác phẩm về Sài Gòn của nhà văn Ngọc Giao đăng trên diễn Tuổi

trẻ online ngày 6/5/2011, nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên đã giới thiệu ngắn gọn

về việc tác phẩm Xóm Rá được xuất bản và giá trị hiện thực của tác phẩm Từ đó một

lần nữa khẳng định:“Ngọc Giao là một tác gia văn học cần được nghiên cứu, tìm

hiểu, sau một thời gian dài im lặng, chìm khuất” [148]

Bàn về con người và văn chương Ngọc Giao, trong bài viết Khoảng im lặng

của bác Ngọc Giao, tác giả Trịnh Lữ trên trang blog cá nhân đã nhận xét: "Những

khắc họa của bác Ngọc Giao, dù là bằng ngôn từ, đều như những nét vẽ cụ thể, thường thoáng đạt như ký họa, mà lúc nào cũng có những điểm nhấn, có sáng tối, đậm nhạt, khi cần thì làm kĩ một hai chi tiết, khiến cho bức tranh có chính có phụ rõ ràng, ai xem cũng phải có cảm xúc Đó là nhờ tố chất hội họa sẵn có trong con người

của nhà văn"[118] Đó là cá tính sáng tạo cần được quan tâm để khai thác thêm

những giá trị nghệ thuật trong văn xuôi Ngọc Giao

Trong bài giới thiệu về tác phẩm Ngọc Giao nhân dịp xuất bản tuyển chọn 3

tập sách Bến đò rừng, Đốt lò hương cũ và Mưa thu với nhan đề Di cảo sau hơn nửa

thế kỷ nhà văn Ngọc Giao đăng trên báo điện tử Hà Nội mới ngày 12/4/2012, tác giả

T.Minh đã tiếp tục giới thiệu những nét chính trong văn nghiệp Ngọc Giao và khẳng định vị trí của nhà văn:“Đọc Ngọc Giao, dẫu chỉ với bốn tập truyện mới in lại gần

đây, cùng với tiểu thuyết Nhà quê, Xóm Rá, Cầu sương vừa được xuất bản, ta vẫn có

thể yên tâm khi xếp ông vào đội ngũ những tác gia quen thuộc về Hà Nội, có vị trí xứng đáng bên cạnh Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Vũ

Bằng ”[132] Đó là sự khẳng định cho những đóng góp và vị trí không thể không

nhắc đến của Ngọc Giao trong dòng văn học lãng mạn Việt Nam

Đặc biệt trong bài giới thiệu bộ sách Bến đò rừng, Đốt lò hương ấy và Mưa

thu xuất bản năm 2012, nhà nghiên cứu Phong Lê đánh giá khái quát toàn diện về

những gì Ngọc Giao để lại cho đời mà theo giáo sư “phải đến bây giờ tôi mới có thể

yên tâm đặt tên bài viết của mình về ông là Sự nghiệp viết của Ngọc Giao” Bài viết

này một lần nữa khẳng định tên tuổi và sự nghiệp của Ngọc Giao trong nền văn học nước nhà sau một thời gian dài các tác phẩm của Ngọc Giao được tái bản và độc giả đương thời cũng đã ít nhiều biết đến nhà văn Đó là một sự khẳng định chắc chắn,

Trang 29

của Ngọc Giao Trong đó phải kể đến luận văn thạc sĩ Truyện ngắn Ngọc Giao trong

bối cảnh truyện ngắn Việt Nam trước 1945 của tác giả Nguyễn Thị Ngân hoàn thành

năm 2012 tại Đại học Vinh Luận văn đã đặt truyện ngắn Ngọc Giao trong bối cảnh truyện ngắn Việt Nam trước 1945 để chỉ ra một số đặc điểm nổi bật trên các phương diện đề tài, nhân vật, cảm hứng Đồng thời tác giả đã chỉ ra đặc điểm giọng điệu, ngôn ngữ, kết cấu truyện ngắn Ngọc Giao Tiếp đó, năm 2015, tại Đại học Đà Nẵng,

luận văn thạc sĩ Đặc điểm truyện ngắn Ngọc Giao của Huỳnh Thị Hai với những

khám phá tiếp tục về hình tượng nhân vật, người kể chuyện, không gian và thời gian nghệ thuật, cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ và giọng điệu Cả hai tác giả luận văn đều đặt Ngọc Giao trong tiến trình vận động của văn học Việt Nam hiện đại trước 1945, đặc biệt là trong dòng truyện ngắn trữ tình trước 1945 để khẳng định sự có mặt của Ngọc Giao góp phần làm phong phú cho đời sống văn học 1930-1945 Đọc truyện ngắn Ngọc Giao, chúng ta bắt gặp một thế giới nhân vật phong phú đa dạng với hiện thực được soi chiếu dưới nhiều góc độ trên những trang văn sâu lắng, tha thiết, nhiều giọng điệu, giàu chất thơ Tuy nhiên các công trình trên còn có nhiều điểm trùng lặp, luận văn có những đặc điểm mới chỉ mang tính chất lược thuật cốt truyện chưa đi sâu giải quyết vấn đề đặt ra Nhưng đó cũng chính là những tiền đề đáng quý để chúng tôi tiếp tục tìm hiểu trong luận án của mình

Trong bài Nhà văn Ngọc Giao: Như hoa mai nở hai lần đăng trên báo điện tử

Tạp chí Sông Hương ngày 10/11/2014, tác giả Anh Chi tiếp tục ghi nhận những đóng

góp của Ngọc Giao với nền văn học nước nhà Với những trang văn giàu mỹ cảm, tràn đầy tình thương đời và thương người, Ngọc Giao là một nhà văn thành danh đã viết thêm những giá trị nhân vãn sâu sắc cho lịch sử văn học hiện đại Việt Nam Đặc

biệt với tuyển tập các tác phẩm hoàn thành trong những năm cuối đời “Hà Nội cũ

nằm đây”, tác giả Anh Chi nhận xét: “Trong lần nở hoa thứ hai, cây lão mai Ngọc

Giao dường như dâng cả cho Hà Nội, mảnh đất thân yêu đã nuôi dưỡng ông suốt đời Tác phẩm văn chương này đẹp lạ thường, nó như đợt hoa cuối cùng cây lão mai Ngọc Giao đem trút hết cả cho Hà Nội”[20]

Quý I năm 2016, nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh

cho ra mắt bạn đọc tuyển tập truyện thiếu nhi của Ngọc Giao với tiêu đề Úm ba la

hang thuồng luồng Trong lời giới thiệu sách, Phương Nam book đã khẳng định:

"Phong phú về thể loại, đa dạng về đề tài, cùng cách viết mới mẻ, linh hoạt, truyện

Trang 30

27

của Ngọc Giao đã góp phần làm giàu kho tàng truyện thiếu nhi nước nhà Và dù chọn

đề tài nào, đưa các em vào không gian sống hiện thực hay huyền ảo, xưa hay nay, truyện Ngọc Giao vẫn luôn hàm chứa những món quà đẹp cho các em nhỏ trên hành

trình hướng thiện."[70,6] Bình luận về tập truyện này tác giả Lê Nhật Ký trên báo

Bình Định online cũng viết: "Với tuổi thơ, đó thực là một thế giới nghệ thuật đầy thú

vị, mở ra nhiều cơ hội trải nghiệm và thâu nhận bài học làm người Sức hấp dẫn của những truyện này chính là niềm đau khổ của con người và sự chiến thắng của cái đẹp, cái thiện Chính cái đẹp, cái thiện ấy đã cảm hóa Trời, Phật, đã thức tỉnh lương tâm, khiến người ngay không bị xô ngã trên đường dây mong manh của số

phận"[95] Đó là những đánh giá thích đáng về giá trị nhân văn giản dị, cao đẹp mà

nhà văn Ngọc Giao dành cho trẻ em

Năm 2016, trong hai bài viết Một di sản văn chương cần được nghiên cứu thêm của Việt Phong đăng trên Quân đội nhân dân online và bài Viết trong Hà Nội thời 1947-

1954 của Vũ Quần Phương đăng trên Văn nghệ số 42, các tác giả cũng đều khẳng định

trong thời kì 1947-1954, Ngọc Giao là nhà văn vẫn duy trì được lối viết nhịp nhàng, giàu bút lực với nhiều tác phẩm có giá trị cả ở truyện ngắn và tiểu thuyết Đồng thời,

trong cuốn Văn nghệ Hà Nội những năm 1947-1954 xuất bản năm 2017, tác giả Lê Văn

Ba đã phục dựng diện mạo và những chân dung văn nghệ sĩ thời kì 1947-1954 sáng tác trong lòng Hà Nội với những đóng góp và thành tựu văn học đáng kể Đặc biệt, tác giả cũng cho rằng: Ngọc Giao là "cây bút giàu nghị lực, có trách nhiệm với xã hội, thời đại

mình đang sống"[8;155] Đó là nhà văn yêu nghề với sức đi, sức viết đáng bái phục Trong thời gian này, Đất và Xóm Rá được coi như những tác phẩm đặc sắc nhất mà nói

như Nguyễn Đình Thi "Ngọc Giao đã đưa được vào văn học những thân phận rơm rác nhất của con người khi ấy"[8;155].Với sự ghi nhận này, Ngọc Giao xứng đáng là cây bút tiêu biểu cần được nghiên cứu cùng rất nhiều các tác giả khác viết trong lòng Hà Nội những năm 1947-1954, một giai đoạn văn chương, nghệ thuật có nhiều thành tựu nhưng chưa được quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu

Tác giả Lê Tú Anh trong bài Phê bình văn học nhìn từ đầu thế kỉ XX đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn học tháng 8/2017 cũng đã nhận thấy tình yêu Ngọc Giao

dành cho văn chương thật mãnh liệt vô cùng với một sự nỗ lực không ngừng nghỉ và vận động tích cực trong tiến trình lao động nghệ thuật Tác giả cũng cho rằng tiểu thuyết là bộ phận quan trọng trong sáng tác của Ngọc Giao Với cách tiếp cận hiện thực từ góc nhìn đời tư mang tinh thần khách quan, dân tộc và nhân bản sâu sắc, tiểu thuyết Ngọc Giao tuy dung lượng không nhiều nhưng đậm chất tiểu thuyết, đem lại sức hấp dẫn bền lâu và đặc biệt thành công với nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật

Trang 31

Đặng Thị Ngọc Phượng trên Tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 402, tháng 12/2017 có bài Sắc thái giọng điệu trong truyện ngắn Ngọc Giao Tác giả cho rằng,

trong truyện ngắn Ngọc Giao nổi bật lên ba giọng điệu: trữ tình, cảm thương; lạnh lùng, mỉa mai; suy ngẫm, triết lí Tác giả đã chỉ ra một số biểu hiện của giọng điệu qua các ví dụ trong truyện ngắn Ngọc Giao và hiệu quả thẩm mĩ của nó trong việc thể hiện thế thái nhân tình và tái hiện chân dung, số phận nhân vật Qua đó, tác giả cũng khẳng định, tác phẩm của Ngọc Giao đã trao cho bạn đọc nhiều bài học, cảm thức và suy nghiệm với một vai trò, vị thế không thể thiếu trong dòng truyện ngắn

trữ tình nói riêng cũng như trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học nước nhà

Trong cuốn kỉ yếu Hội thảo Phê bình sinh thái: Tiếng nói bản địa, tiếng nói

toàn cầu do Viện văn học tổ chức năm 2017, tác giả Lê Tú Anh có bài viết Sáng tác của Ngọc Giao từ góc nhìn phê bình sinh thái Tác giả cho rằng, Ngọc Giao là nhà

văn có sức viết bền bỉ và có nhiều băn khoăn về môi trường sinh thái của con người

Đặc biệt qua hai tiểu thuyết Nhà quê và Đất, tác giả cho thấy những cảm thức sinh

thái hiện lên khá rõ: Thôn quê là một nơi chốn đáng sống; Chiến tranh không chỉ hủy diệt sinh thái tự nhiên mà còn tàn phá cả sinh thái tinh thần của con người Hai tiểu thuyết góp phần đánh thức nhân tính con người trong ứng xử với môi trường tự nhiên

và xã hội Bài viết đã minh chứng cho một vấn đề đến hôm nay vẫn còn mang tính thời sự, là giá trị bền lâu và nhân văn sâu sắc của văn xuôi Ngọc Giao

Nhà văn Ngọc Giao có cuộc đời và nghiệp viết trải dài theo thế kỷ XX Qua nhiều thăng trầm cùng với số phận và lịch sử nhưng ông không viết hồi ký riêng để lại cho đời mà các sáng tác văn chương cùng những lời tự bạch của ông có thể coi là những trang hồi ký tự nhiên, chân thực và thành tâm nhất Những riêng tư, chuyện hậu trường văn nghiệp của ông có lẽ chỉ có thể biết được ít nhiều qua những bức thư

tay, những lời kể của bạn bè ông và đặc biệt là bài ký Cha tôi, nhà văn Ngọc Giao

của con trai nhà văn - ông Nguyễn Tuấn Khanh - đăng tải trên trang web của nhà văn Triệu Xuân ngày 09/3/2012 cùng tài liệu do chính tác giả bài viết cung cấp với những lời giới thiệu, suy tư, hoài niệm ân tình về con người, cuộc đời, sự nghiệp của người cha đáng kính với một số phận văn chương thăng trầm Năm 2017, bút kí này

cũng đã được nhà xuất bản Hà Nội đưa vào tuyển tập dưới tiêu đề Ngọc Giao - đời

Trang 32

29

văn, đời người Tuyển tập là công trình do chính con trai nhà văn là Tuấn Khanh

tuyển chọn, tập hợp khá phong phú các bài viết giới thiệu về cuộc đời, con người tác giả Ngọc Giao cùng những kỉ niệm và nhận định về các tác phẩm của ông Ðây cũng

là một kênh thông tin đáng tin cậy để độc giả và các nhà nghiên cứu có cơ sở để hiểu hơn về quan niệm sáng tác và giá trị văn chương của nhà văn Ngọc Giao

Có thể nói sau 1986, tên tuổi của nhà văn Ngọc Giao đã dần được bạn đọc biết đến Những đánh giá khách quan, toàn diện hơn về tác phẩm của Ngọc Giao đã trở thành cây cầu nối giá trị nhân văn của tác phẩm Ngọc Giao đến với độc giả Bên cạnh đó theo tìm hiểu của chúng tôi, chỉ có đánh giá của tác giả Văn Tâm trong cuốn

Từ điển Văn học (bộ mới - 2004) khi nhận xét về tác phẩm Ngọc Giao còn có những

điểm chưa được nhà văn đồng thuận: Nhìn chung, trừ một số truyện ngắn hay, "số còn lại không hẳn đã tác động mạnh đến tâm trí của người đọc, nguyên nhân chủ yếu

là do cốt truyện thường đơn sơ, lại thiếu sự hỗ trợ cần thiết với một tỷ lệ thích đáng của tính triết lý hoặc chất thơ".[145;1064] Chính lời nhận xét này cũng đã nhận được phản hồi của tác giả Ngọc Giao với sự không đồng tình Và theo chúng tôi, đây cũng là ý kiến cần nhìn nhận khách quan và đầy đủ hơn Mặc dù vậy, công trình này cũng đã ghi nhận những nét khái quát, cơ bản trong giá trị nội dung và nghệ thuật trong sáng tác Ngọc Giao

Hơn nữa, một sự kiện quan trọng cần nhắc đến trong lịch sử nghiên cứu và tìm hiểu về nhà văn Ngọc Giao đó là ngày 5/5/2011, Hội Nhà văn Việt Nam phối hợp với gia đình Ngọc Giao đã tổ chức long trọng lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của nhà văn Buổi lễ diễn ra ấm áp, chân tình với nhiều bài tham luận và phát biểu sâu

sắc cùng những dòng hồi ức sinh động Trong buổi lễ ngoài bài tham luận Sự nghiệp

viết của Ngọc Giao do GS Phong Lê trình bày còn có các bài viết của nhà thơ Thụy

Kha với tiêu đề Ngọc Giao - nhà văn làm báo; nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên với bài viết Một sự đau của nhà văn Ngọc Giao Buổi hội thảo đã tạo nên một dấu ấn

đặc biệt trong việc đánh giá và nhìn nhận để khẳng định lại một cách nghiêm túc, công bằng và khách quan những đóng góp của nhà văn Ngọc Giao Nhờ đó công chúng văn học thời nay ít nhiều đã biết đến cái tên Ngọc Giao và các tác phẩm của

ông Tiếp đó là cuộc tọa đàm "Nhận diện thành tựu văn chương 1947-1954 trong Hà

Nội tạm chiếm" do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức ngày 6/10/2016 đã khẳng định và

gợi mở những giá trị văn chương Hà Nội thời tạm chiếm cho đến nay vẫn bị "bỏ quên" Các nhà nghiên cứu và các tác giả tham dự tọa đàm đều nhất trí cho rằng cần nhanh chóng bổ khuyết các tác phẩm và nghiên cứu các tác phẩm của các tác giả sáng tác trong giai đoạn 1947-1954 để trả lại vị trí xứng đáng của bộ phận văn học này trong văn học sử Việt Nam Trong số các nhà văn được nhắc tên trong buổi tọa

Trang 33

30

đàm và được đánh giá cao trong cuốn sách của nhà nghiên cứu Lê Văn Ba như đã nói

ở trên, Ngọc Giao cũng là một tác giả tiêu biểu cần được quan tâm nghiên cứu Đây cũng là cơ sở đáng tin cậy và thuyết phục, là động lực để chúng tôi tiếp tục triển khai nội dung nghiên cứu trong luận án này

Như vậy, nhìn lại hệ thống các bài viết giới thiệu và đánh giá về Ngọc Giao, chúng ta thấy nhìn chung các tác giả đã bước đầu đưa ra những đánh giá khái quát về

vị trí, đóng góp của nhà văn cùng các giá trị nội dung và nghệ thuật của các tuyển tập trong các lần xuất bản, tái bản Tuy nhiên, những nhận định này mới chỉ dừng lại ở những bao quát bước đầu định hướng cảm nhận chứ chưa đi sâu phân tích lý giải các chiều kích của các tác phẩm và các phương diện cụ thể của văn xuôi Ngọc Giao Sau những lần xuất bản các tác phẩm của Ngọc Giao cũng đã có những đề tài nghiên cứu

về truyện ngắn Ngọc Giao và một số bài nghiên cứu về một phương diện nội dung và nghệ thuật trong văn xuôi Ngọc Giao Tuy nhiên, đó chưa phải là những công trình nghiên cứu toàn diện về văn xuôi Ngọc Giao

Mặc dù có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau nhưng tựu chung phần lớn các nhà nghiên cứu phê bình đều ghi nhận Ngọc Giao là chân dung văn học tiêu biểu của nền văn học Việt Nam hiện đại Ông có một sức sáng tạo nghệ thuật khá phong phú, đặc sắc và hấp dẫn Ngọc Giao là một trường hợp đặc biệt, thừa hưởng lối miêu tả, nhận biết chân xác khoa học của ngôn ngữ Pháp mà ông thông thạo, với một quan niệm nhân văn bản năng, có kế thừa tinh thần của văn học lãng mạn Pháp, là người

vẽ chân dung hiện thực xã hội, chân dung con người sinh động và khách quan” [89] Các tác phẩm của Ngọc Giao ít nhiều đều mang giá trị có ý nghĩa bổ sung và khẳng định bên cạnh những tên tuổi quen thuộc trong hai dòng văn học trữ tình và hiện thực thời kỳ 1930-1945 và cũng là giá trị chung cho cả thế kỷ

Các bài viết và công trình nghiên cứu cũng đã bước đầu chỉ ra những đặc điểm về văn phong, ngôn từ, thế giới nhân vật, cảm hứng, không thời gian đặc biệt

là đặc điểm truyện ngắn Ngọc Giao Tuy nhiên ở một chừng mực nhất định các bài viết và công trình nghiên cứu đã thực hiện mới dừng lại ở phạm vi định hướng thẩm

mỹ, khái quát một số phương diện nghệ thuật của thể loại truyện ngắn Ngọc Giao trước 1945 Những khuyết thiếu này tạo nên khoảng trống để chúng tôi có thể triển khai đề tài nghiên cứu một cách có định hướng khả thi, hệ thống và toàn diện hơn

Kế thừa, tiếp thu những gợi ý, định hướng từ những nghiên cứu đi trước, chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu văn xuôi Ngọc Giao nhằm hướng đến một hình dung

cụ thể, đầy đủ và hệ thống về sự nghiệp sáng tác của nhà văn Ngọc Giao

Trang 34

31

Tiểu kết chương 1

Thông qua việc khái lược về văn học Việt Nam hiện đại và đặt nhà văn Ngọc Giao trong tiến trình văn học hiện đại Việt Nam để xác định tọa độ văn học sử của nhà văn, chúng tôi nhận thấy Ngọc Giao là nhà văn tiêu biểu và có nhiều đóng góp trong giai đoạn 1930-1945 và 1947-1954 Do nhiều nguyên nhân, các tác phẩm của Ngọc Giao còn chưa được sưu tầm đầy đủ song với những văn bản tác phẩm hiện có của Ngọc Giao, bước đầu chúng tôi nhận thấy, đó cũng là những tư liệu tiêu biểu thể hiện được những giá trị nổi bật của văn xuôi Ngọc Giao và cũng là minh chứng cho một lối viết đam mê, trách nhiệm cùng với quan niệm nghệ thuật tiến bộ, thống nhất Văn xuôi Ngọc Giao gắn liền với quá trình phát triển của văn học hiện đại Việt Nam nhưng các công trình đi trước chưa nghiên cứu để thấy rõ điều đó Việc nghiên cứu

về những giá trị nghệ thuật trong văn xuôi Ngọc Giao còn chưa cụ thể, hệ thống và sâu sắc Tìm hiểu diễn biến chính về tình hình nghiên cứu tác giả Ngọc Giao qua ba chặng: trước 1945, 1945-1985 và sau 1986, chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu văn xuôi Ngọc Giao trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại là vấn đề cần được nghiên cứu hệ thống và sâu sắc hơn

Trang 35

2.1 Cơ sở hình thành văn xuôi Ngọc Giao

2.1.1 Hoàn cảnh lịch sử xã hội

Nhà văn Ngọc Giao tên thật là Nguyễn Huy Giao, sinh ngày 5-5-1911, mất ngày 08-7-1997 Tám mươi sáu năm cuộc đời, nhà văn đã trải qua những thăng trầm cùng những biến thiên của lịch sử và xã hội Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh đất nước những năm dài chịu sự thống khổ, đau thương, mất mát nhưng cũng tràn đầy những vinh quang, chiến thắng và đổi mới, nhà văn như một nhân chứng sống của lịch sử xã hội Việt Nam trong gần trọn thế kỷ XX Bằng sự cảm nhận tinh tế, tài năng văn chương và tình người sâu nặng, nhà văn đã cho người đọc thấy được những khúc xạ của lịch sử, xã hội phản ánh lên mỗi cuộc đời nhân vật, mỗi số phận, mỗi tính cách và đặc biệt qua tư tưởng, tâm hồn của nhà văn

Tạm biệt những năm tháng tuổi thơ bình yên, thơ mộng ở quê ngoại Huế, Ngọc Giao cùng gia đình về sống ở quê cha - thôn Đào Viên, xã Nguyệt Đức, chốn Kinh Bắc Sự thay đổi này cũng chính là nguyên cớ cho những câu chuyện mang tính hồi tưởng, hoài cảm về một miền quê đã xa và những khám phá với một miền quê mới trong vùng kháng chiến

Đầu thế kỷ XX đất nước ta đã trải qua " một phen thay đổi sơn hà" với nhiều biến đổi về kinh tế, văn hóa, xã hội Sau thất bại của phong trào Cần Vương, thực

Trang 36

33

dân Pháp đã thiết lập chế độ chính trị nhằm biến nước ta thành nước thuộc địa Hình thái chính trị xã hội biến đổi từ nhà nước phong kiến sang thực dân nửa phong kiến Chúng thẳng tay đàn áp, bóc lột và khai thác tài nguyên, nhân lực, nhân dân ta rơi vào tình cảnh khốn khổ khôn cùng Diện mạo đô thị, giao thông, kinh tế, cơ sở hạ tầng có nhiều thay đổi theo hướng hiện đại nhưng với mục đích chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho thực dân Pháp khai thác thuộc địa Cơ cấu giai cấp, tầng lớp cũng

có biến đổi theo hình thái xã hội mới Bên cạnh những tầng lớp, giai cấp cũ như nông dân, trí thức, lực lượng công nhân ngày càng phát triển, nông dân nghèo ra thành thị kiếm sống trở thành tầng lớp thị dân ngày càng nhiều, xuất hiện giai cấp tiểu tư sản thành thị với nhiều thành phần như: tiểu thương, viên chức, thợ thủ công, học sinh, trí thức mới Một bộ phận dân nghèo ra thành thị kiếm sống với những công việc vất

vả nhưng đời sống vô cùng khổ cực trở thành tầng lớp người dưới đáy như: con sen, anh bồi, cậu bếp, vú em, phu xe, phu đồn điền, đào nương, kép hát, cô đầu, gái mại dâm Tầng lớp tư sản ra đời nhưng yếu ớt và phụ thuộc vào tư bản Pháp Bên cạnh

đó, bộ máy phong kiến làng xã vẫn được duy trì với các tầng lớp địa chủ, cường hào

là tay sai đắc lực của chính quyền thực dân Trước sự phân hóa sâu sắc của các tầng lớp và giai cấp trong xã hội, các mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt và quyết liệt Năm 1940, phát xít Nhật vào Đông Dương khiến cho tình cảnh nhân dân càng thêm khốn khổ dẫn đến nạn đói kinh hoàng năm 1945 Dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, tinh thần đấu tranh đoàn kết của nhân dân ta đã làm nên thắng lợi vẻ vang của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, lật đổ chế độ phong kiến, mở ra một thời kì mới cho dân tộc với sự kiện ngày 2-9-1945- nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời

Bên cạnh những mặt hạn chế từ những cuộc chiến do chế độ thuộc địa gây ra, tận dụng những lợi thế văn minh mà người Pháp đã đem đến, nhân dân Việt Nam nói chung và nhà văn nói riêng đã có thêm những tiền đề để hiện đại hóa cuộc sống và văn học Hệ thống giao thông hiện đại, sự tuyên truyền phổ biến khoa học và văn hóa, văn học phương Tây, sự nở rộ của nhà xuất bản và báo chí cùng những cơ chế hoạt động của nền kinh tế hiện đại theo khuynh hướng thị trường đã ảnh hưởng đến văn hóa xã hội nói chung và văn học nói riêng Cũng từ đây một thế hệ thanh niên có tri thức mới hình thành, đội ngũ công chức xuất hiện, văn hóa tinh thần phong phú, mới mẻ Đó là luồng gió mới thổi bùng những điều kiện hiện đại hóa văn học trong giai đoạn 1900-1945

Cùng với sự biến đổi về chính trị xã hội, văn hóa, tư tưởng Việt Nam giai đoạn này cũng có sự thay đổi sâu sắc Trước thế kỷ XX, văn hóa Việt Nam chịu sự chi phối, ảnh hưởng chủ yếu của văn hóa Hán, gắn liền với hệ tư tưởng văn hóa phương Đông Sang đầu thế kỷ XX với chính sách nô dịch, đồng hóa, văn hóa phương Tây, cụ thể là văn hóa Pháp đã lan tỏa vào đời sống Việt Nam ban đầu bằng

Trang 37

34

con đường bị động, cưỡng ép và sau đó dần được tiếp nhận chủ động, sáng tạo qua những người dân yêu nước và tiến bộ Sự giao lưu giữa hai luồng văn hóa Đông - Tây như một tất yếu của lịch sử đã tạo nên một giai đoạn mang tính giao thời trong văn học, văn hóa và dần hoàn thiện quá trình hiện đại hóa vào những năm 40 của thế

kỷ XX Bên cạnh đó, sự tồn tại của tư tưởng phong kiến cộng với luồng gió mới của

tư tưởng tư sản phương Tây qua con đường chủ nghĩa thực dân và hệ tư tưởng vô sản vào Việt Nam theo con đường đấu tranh giải phóng dân tộc cùng những giá trị văn hóa cũ và mới đã tạo một môi trường và động lực mới để văn học có những bước chuyển động theo xu hướng hiện đại, dân chủ, toàn cầu

Dưới ách thống trị của thực dân và đế quốc, trong những năm 1930-1954, dân tộc ta đã chứng kiến và chịu sự áp bức bóc lột nặng nề của kẻ thù với những tội ác về kinh tế, văn hóa, xã hội Cuộc sống người dân rơi vào cảnh khốn khổ, bần hàn, cơ cực trăm điều Con người thậm chí có lúc bị dồn vào bước đường cùng với sự tàn tạ

về thể xác, héo mòn tâm hồn và tha hóa về nhân cách Sự khốc liệt của cuộc chiến khiến cho con người không được sống đúng với quyền làm người và có những biến đổi trong tư tưởng, hành động theo cả hướng tích cực và tiêu cực Sản phẩm của xã hội nô lệ, thuộc địa ấy đã được nhà văn chắp bút dựng lên những cảnh đời loạn li, cảnh người ngang trái, bi thương với rất nhiều kiểu loại nhân vật đặc biệt là những lớp người dưới đáy xã hội

Chiến tranh khốc liệt diễn ra trong một khoảng thời gian dài, dưới con mắt của một người dân yêu nước, tinh thần dân tộc của Ngọc Giao không phải là việc cầm súng chiến đấu hay xây dựng lên những chân dung, hình tượng người anh hùng lí tưởng Phảng phất trong tư tưởng và tác phẩm của ông là sự phản kháng chế độ xã hội thông qua việc lên án tố cáo một cách nhẹ nhàng những thói hư tật xấu, những văn minh rởm, những sa đọa của lương tri, những cảnh nghèo bần hàn, những bi kịch tinh thần Bên cạnh đó, ông cũng không quên những con người mang tinh thần thượng võ, những nhân vật vẫn còn giữ được nếp nhà, hồn cốt của dân tộc, những con người gắn bó sâu nặng với tổ tiên, quê hương làng xóm đất đai Mặt khác, Ngọc Giao cũng nhận ra những nét tích cực và đổi thay của một xã hội đang vận động theo chiều văn minh, hiện đại

Như vậy, những năm đầu của thế kỷ XX, đất nước chứng kiến một cuộc cách mạng trong tư tưởng văn hóa Thực dân Pháp đã áp dụng những chính sách mới trong bộ máy chính quyền và thực hiện văn hóa nô dịch Người tiến bộ, yêu nước thì tiếp nhận chủ động sáng tạo đem văn minh về cho dân tộc, kẻ hủ bại vong bản, thiếu lập trường thì sa cơ lỡ vận, nhắm mắt đưa chân đánh mất mình trở thành u nhọt của

xã hội Thực tế đó là những cái gai trước mắt nhà văn và mỗi người đã tiếp nhận một cách khác nhau để dựng lên bức tranh đầy hỉ, nộ, ái, ố của cuộc đời Ngọc Giao cũng

Trang 38

35

không thờ ơ trước thực trạng đau xót ấy Không ồn ào, xỉa xói, phẫn uất như Vũ Trọng Phụng hay thống khổ như Nguyên Hồng, những nhân vật của Ngọc Giao mang một phiên bản mới cũng không kém phần da diết, nao lòng trong bối cảnh xã hội thuộc địa dần được đô thị hóa

Thời kì 1945-1975, đất nước diễn ra nhiều biến cố lịch sử quan trọng tác động đến mọi mặt của đời sống và con người đặc biệt là tư tưởng của nhà văn Sau khi nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ra đời, thực dân Pháp quay trở lại chiếm nước ta Năm 1946, theo lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Hồ chủ tịch, cả dân tộc tiếp tục tiến hành cuộc kháng chiến cứu quốc đầy gian khổ, hi sinh Sau 60 ngày đêm chiến đấu kiên cường, đêm 17-2-1947, trung đoàn Thủ đô rút lên rừng núi, Hà Nội rơi vào tay quân Pháp Thời kì 1947-1954, thủ đô bị kẻ thù chiếm đóng trở thành vùng tạm chiếm Nền kinh tế, xã hội có nhiều biến động dưới ách cai trị, đàn áp khốc liệt Từ sau Hiệp định Giơnevơ, đất nước ta bị chia cắt thành hai miền Nam - Bắc với hai thể chế chính trị, xã hội, kinh tế khác nhau Nhưng với tinh thần dân tộc thiêng liêng, nhân dân ta đã quyết tâm chiến đấu, hi sinh vì tổ quốc, đồng sức đồng lòng đoàn kết dành lại độc lập, hòa bình thống nhất đất nước với thắng lợi ngày 30-4-

1975 Hoàn cảnh, thực tế đó là nguồn tư liệu dồi dào cho một nền văn học cách mạng

cả ở vùng địch hậu và tiền tuyến

Với các văn nghệ sĩ, Đề cương văn hóa Việt Nam (1943) của Đảng cộng sản Đông Dương và báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam của Trường Chinh trình

bày trong Hội nghị văn hóa toàn quốc (7-1948) là những văn kiện quan trọng có tác động ảnh hưởng đến tư tưởng và ngòi bút Các nhà văn từ chỗ mông lung không định hướng trong tư tưởng đã dần lột xác và thể hiện rõ hơn vai trò chiến sĩ trong sự nghiệp cách mạng Dù ở góc nhìn này hay góc nhìn khác, nhà văn đều có ý hướng tích cực cho một nền văn nghệ dân tộc, khoa học và đại chúng Chủ nghĩa Mác- Lênin, chủ nghĩa yêu nước, lí tưởng xã hội chủ nghĩa, tinh thần cộng đồng trở thành sức mạnh tinh thần của cuộc kháng chiến cứu nước, là nền tảng tư tưởng cho văn học và văn sĩ

Sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, lịch sử dân tộc đã bước sang trang mới với những thời cơ thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn do hậu quả chiến tranh để lại Cùng với đó cuộc chiến ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc khiến cho nền kinh tế vốn lạc hậu và bị các thế lực thù địch cô lập càng trở nên khủng hoảng Với sức sống bền bỉ và tinh thần dân tộc, đường lối đổi mới đã hình thành đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng và dần ổn định về kinh tế, văn hóa, xã hội Tư tưởng đổi mới từ sau Đại hội Đảng lần thứ 6 năm 1986 đã góp phần làm biến đổi sâu sắc, toàn diện hình ảnh của đất nước, mở rộng tăng cường giao lưu và hội nhập quốc tế

Trang 39

36

Thời kì đổi mới, đất nước có những chuyển biến mới về xã hội, văn hóa, tư tưởng Kinh tế được chuyển từ kinh tế tập trung bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, từ khép kín chuyển sang hội nhập, giao lưu kéo theo

sự thay đổi về mặt xã hội Thành thị ngày càng có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế Trong chiến tranh, tinh thần dân tộc, ý thức cộng động phát huy cao độ, con người cá nhân riêng tư, đời thường, ý thức cá nhân không được quan tâm Thời đại mới nhiều giá trị xã hội, đạo đức, nhân cách không còn phù hợp, những chuẩn mực mới đang dần hình thành Trên con đường hướng tới mục tiêu công bằng, dân chủ, văn minh, văn hóa, xã hội có khi rơi vào tình trạng lưỡng nan, phức tạp trước những mặt trái của

cơ chế thị trường và những khó khăn trong công tác quản lý, chỉ đạo

Thăng trầm cùng nhân dân với những chuyến tản cư rồi về thành trong những năm chiến tranh, hân hoan, hồ hởi sống trong những tháng ngày đất nước hòa bình sau 1976, đặc biệt là chứng kiến đất nước đổi mới từ sau 1986, nhà văn Ngọc Giao

đã có những vận động trong tư tưởng và vùng thẩm mỹ sáng tác Không sở trường ở vùng phản ánh hiện thực vĩ mô, nhà văn quan tâm đến những ngõ ngách của đời sống tâm hồn và hiện thực cuộc sống để phản ánh những biến thái vi diệu, trắc ẩn của cuộc sống Những đau thương, nước mắt, trái ngang, cái chết trong bối cảnh chiến tranh trước 1975 dần được thay thế bằng những hoài niệm nhẹ nhàng gợi nhớ, gợi thương, giàu tin yêu và nội lực với một niềm tin vào xã hội mới

Có thể nói, hoàn cảnh lịch sử xã hội đất nước là hoàn cảnh lớn mà nhà văn không thể đứng ngoài cuộc Trước 1975, sự tàn phá của chiến tranh với chế độ đàn

áp bóc lột dã man của thực dân, đế quốc và tay sai đã chi phối ảnh hưởng đến cuộc sống, con người và cảm quan của mỗi nhà văn trong đó có Ngọc Giao Những số phận, những con người, những cảnh sống trong những năm tháng ấy phần nào được ghi lại trên những trang văn của Ngọc Giao theo cách cảm nhận của riêng ông Sau

1986, trước những vận hội mới của đất nước cùng những chính sách mới, tiến bộ của đất nước độc lập, tự do, nhà văn không khỏi mừng vui, tha thiết hơn với cuộc đời Tất cả đã chi phối đến tâm tư tình cảm và nội dung phản ánh trong tác phẩm của Ngọc Giao một cách tự nhiên, logic và hợp tình, hợp lý

2.1.2 Hoàn cảnh gia đình, môi trường sống và hoạt động văn học

Trong hoàn cảnh lớn của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, hoàn cảnh riêng tư gia đình và môi trường sống, lập nghiệp lại là hoàn cảnh nhỏ tác động trực tiếp đến sự hình thành và biến đổi của các nhà văn Đó cũng là điều kiện tiên quyết tạo nên "cái tạng" của mỗi nhà văn sẽ in hình lên tác phẩm như thế nào

Sinh ra và trưởng thành trong một gia đình viên chức, có dòng dõi quý tộc Ngọc Giao được gia đình tạo điều kiện cho ăn học đỗ tú tài trường Bưởi Ông thông

Trang 40

37

thạo tiếng Pháp, văn hóa Pháp đặc biệt là văn chương Tây Âu Do vậy, nhà văn cũng chịu ảnh hưởng và tiếp thu di sản văn học lãng mạn và hiện thực cùng những phương pháp sáng tác của văn học phương Tây, cụ thể là văn học Pháp Đó cũng là tiền đề cho những trang viết mang tính hiện đại góp phần đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa văn học nước nhà trong những năm đầu thế kỷ XX

Cha Ngọc Giao là ông Nguyễn Huy Bình quê ở thôn Đào Viên, xã Nguyệt Đức, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Sau khi tốt nghiệp trường thông ngôn đã làm sếp ga Đồng Giao (Quảng Bình), với cá tính mạnh mẽ, bản lĩnh, cha ông đã viết đơn tình nguyện đến miền rừng núi âm u này để khám phá và làm việc Sau đó, ông làm sếp ga ở Huế Mẹ nhà văn là bà Hoàng Thị Dư sinh ra trong một gia đình hoàng tộc Huế đã sa sút Cũng bởi thế văn chương Ngọc Giao có cái tình đằm thắm, kín đáo, duyên dáng, trữ tình của xứ Huế lãng mạn, có chút gì đó mạnh mẽ, thâm sâu, kì bí của núi rừng Yên Thế lại pha chút hiền hòa, dí dỏm, thơ mộng của vùng quê Kinh Bắc

Tuy nhiên, tuổi thơ êm đềm nơi vùng đất kinh kì không được bao lâu, gia đình Ngọc Giao chuyển ra Bắc và mẹ ông qua đời tại Quảng Yên (Quảng Ninh) khi ông mới lên 7 tuổi Hình ảnh người mẹ hiền thục, yêu chồng thương con và nhan sắc hơn người đã để lại một ấn tượng sâu sắc trong tâm trí nhà văn Tuổi thơ ông hụt hẫng, ám ảnh bởi sự ra đi quá sớm của mẹ và bơ vơ, thiếu thốn tình cảm khi cha thường xuyên bận việc đi công tác xa bên Lào, Miên phải gửi con ở quán trọ, hàng cơm Hơn nữa, khoảng cách cha con ngày càng xa cách khi con lo việc học hành, cha

lo công việc không quan tâm săn sóc, dì ghẻ lại đối xử thờ ơ, lãnh đạm Vì vậy, hình ảnh người mẹ thân yêu luôn vẫn đi theo suốt cuộc đời ông từ những tác phẩm đầu tay

như Bến đò rừng, Một chuyện của lòng, Những hình bóng cũ, Những ngày thơ ấu,

Hoa gạo ven sông, Quán gió Người mẹ của ông cũng đã được hóa thân thành

những nhân vật nữ khác nhau trong các tác phẩm của Ngọc Giao với một sự thương cảm và trân trọng da diết Và đặc biệt hơn, hình ảnh mẹ chính là căn cốt hình thành nên con người đa sầu đa cảm, nhân hậu của Ngọc Giao và hình thành chủ nghĩa nhân đạo trong tác phẩm của ông

Thời gian từ 1930 - 1945, Ngọc Giao được gắn bó với môi trường làm việc

mang tính hiện đại của văn chương qua công tác thư ký cho tờ Tiểu thuyết thứ Bảy và cộng tác với các báo, tạp chí Tao đàn, Ngọ báo, Ích hữu, Phổ thông bán nguyệt san,

Sinh lực, Truyền bá, Tri tân, Thế kỷ, Lẽ sống, Lên đường, Công tội Qua đó, ông có

mối quan hệ giao lưu với đông đảo giới văn nghệ sĩ đương thời như các tác giả Nguyễn Công Hoan, Lan Khai, Thanh Châu, Tchya Đái Đức Tuấn, Vũ Bằng, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Triệu Luật, Leiba Thái Can, Lê Văn Trương, Nguyên Hồng, Trần Huyền Trân, Thâm Tâm, Nam Cao, Nguyễn Bính, Tô Hoài Sau này, họ đều là

Ngày đăng: 24/12/2018, 15:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w