Đối với DSVHPG mang tính đặc thù riêng biệt thì sư trụ trì phải có nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng trong việc bảo vệ, phát huy giá trị DSVHPG, đặt trong mối quan hệ phân chia vai trò, tr
Trang 1Hà Nội - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Nguyễn Thanh Bình
SƯ TRỤ TRÌ TRONG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ
DI SẢN VĂN HÓA PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Trang 2PGS.TS Lương Hồng Quang
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Nguyễn Thanh Bình
SƯ TRỤ TRÌ TRONG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ
DI SẢN VĂN HÓA PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý văn hóa
Mã số: 9319042
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Người hướng dẫn khoa học:
Hà Nội - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận án Tiến sĩ Sư trụ trì trong bảo tồn và phát huy giá
trị di sản văn hóa Phật giáo ở Việt Nam là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới
sự hướng dẫn của PGS.TS Lương Hồng Quang Các trích dẫn, số liệu và kết quả của Luận án là trung thực và có xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận án
Nguyễn Thanh Bình
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN iii
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN iv
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 9 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9
1.2 Cơ sở lý luận 26
Tiểu kết 53
Chương 2 SƯ TRỤ TRÌ TRONG VIỆC BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ VÀ DI SẢN TƯ LIỆU 54
2.1 Bảo tồn, phát huy giá trị di tích 54
2.2 Bảo tồn, phát huy giá trị các di vật, cổ vật, bảo vật tại cơ sở thờ tự 63
2.3 Bảo tồn, phát huy giá trị di sản tư liệu 71
Tiểu kết 76
Chương 3 SƯ TRỤ TRÌ TRONG VIỆC BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 78
3.1 Bảo vệ và phát huy đạo đức Phật giáo 78
3.2 Tổ chức các nghi lễ Phật giáo và lễ hội chùa 88
Tiểu kết 100
Chương 4 ĐỊNH HƯỚNG NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA SƯ TRỤ TRÌ TRONG BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA PHẬT GIÁO 102
4.1 Những vấn đề về vai trò của sư trụ trì trong việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo 102
4.2 Các nguyên tắc trong việc nâng cao vai trò của sư trụ trì 111
4.3 Các giải pháp trong việc nâng cao vai trò của sư trụ trì 123
Tiểu kết 134
KẾT LUẬN 136
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 141
TÀI LIỆU THAM KHẢO 142
PHỤ LỤC 160
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN
Số trang
Bảng 1 Nấc thang mô tả mức độ tham gia của người dân của
Arnstein
44
Bảng 2 Mô hình hóa các bên liên quan có tác động đến di sản
văn hóa Phật giáo
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Di sản văn hóa (DSVH) là những tài sản văn hóa có giá trị, được thẩm định, lắng đọng qua hàng ngàn năm sáng tạo và thực hành văn hóa của con người, “là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế
hệ này qua thế hệ khác” [138, tr 8] Ngày nay, DSVH còn là nguồn lực cho phát triển du lịch, đặt trong mối quan hệ hữu cơ, tương hỗ với hoạt động du lịch: DSVH
là lý do và động lực hút khách du lịch; du lịch là phương tiện để khai thác lợi nhuận, cung cấp việc làm cho người dân địa phương, thúc đẩy kinh tế địa phương nơi có DSVH; góp phần nâng cao ý thức người dân trong bảo vệ di sản và tăng cường hỗ trợ nguồn lực tài chính cho công tác bảo tồn, phát huy giá trị DSVH
Phật giáo là một tôn giáo lớn, được truyền bá vào Việt Nam những năm đầu của Công nguyên Với tính phù hợp trong hệ tư tưởng, giáo lý và con đường truyền đạo, Phật giáo đã nhanh chóng được tiếp nhận, biến đổi và dần thâm nhập vào đời sống văn hóa, tín ngưỡng người dân bản địa Gắn liền với lịch sử phát triển của đất nước, cũng có lúc thịnh, suy như một sự vận động tự nhiên của thời cuộc, nhưng có một điều có thể khẳng định, Phật giáo Việt Nam luôn sống và được nuôi dưỡng trong cộng đồng làng xã Đặc biệt, dưới thời Lý - Trần, Phật giáo trở thành quốc giáo, ảnh hưởng và chi phối sâu sắc tới tình hình chính trị, văn hóa, xã hội Đại Việt thế kỷ XI-XIV Với những giá trị văn hóa, đạo đức, khả năng gắn đạo với đời và sự thích ứng nhuần nhuyễn với văn hóa Việt Nam, Phật giáo Việt Nam đã chứng tỏ được khả năng trường tồn và đồng hành cùng sự phát triển của xã hội
Trải qua quá trình lịch sử lâu dài, văn hóa Phật giáo đã tạo dựng được những giá trị riêng và trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống DSVH dân tộc, góp phần tạo nên bản sắc, tính đa dạng, phong phú, độc đáo của văn hóa Việt Nam Nói đến di sản văn hóa Phật giáo (DSVHPG) là nói đến hệ thống các DSVH vật thể (ngôi chùa, tượng Phật, bảo vật, cổ vật tại chùa…), DSVH phi vật thể (đạo đức Phật giáo, nghi lễ, âm nhạc Phật giáo, lễ hội chùa…), di sản tư liệu (mộc bản kinh Phật,
hệ thống các văn bia tại chùa…)
Trang 8Từ sau đổi mới đến nay, việc bảo tồn, phát huy các giá trị DSVHPG nhận được sự quan tâm của Nhà nước, Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN), cộng đồng, các nhà khoa học Thực tế cũng cho thấy, rất nhiều những thành tố thuộc hệ thống DSVHPG đang được bảo tồn, phát huy một cách tích cực, phục vụ đời sống kinh tế, văn hóa, bao gồm cả những hoạt động về du lịch, phục vụ nhu cầu tín ngưỡng, tâm linh của các cộng đồng Nhiều điểm du lịch văn hóa nổi tiếng gắn liền với các cơ sở thờ tự của Phật giáo, mang lại những hiệu quả cao về mặt kinh tế cho đơn vị quản lý và cộng đồng địa phương Tuy nhiên, trên mặt bằng chung, công tác bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG còn chưa đạt được tính hiệu quả như sự kỳ vọng dựa trên tiềm năng vốn có
Hiện nay, một vấn đề được đặt ra đó là câu chuyện xoay quanh vai trò của
chủ sở hữu, chủ thể quản lý các DSVH Điều 10, Luật Di sản văn hóa quy định:
“Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ và phát huy giá trị DSVH” [138, tr 12] Đối với DSVHPG mang tính đặc thù riêng biệt thì sư trụ trì phải có nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng trong việc bảo vệ, phát huy giá trị DSVHPG, đặt trong mối quan hệ phân chia vai trò, trách nhiệm với các cơ quan quản lý nhà nước, cộng đồng địa phương, khách du lịch…
Vai trò của sư trụ trì đối trong hoằng dương Phật pháp, điều hành công việc của ngôi chùa cũng như quản lý đệ tử là những yêu cầu bắt buộc cũng như những yêu cầu về kiến thức, đạo hạnh của vị trụ trì Tuy nhiên, trong việc phát huy giá trị
di sản của chùa hiện nay, vai trò của sư trụ trì được thể hiện như thế nào? Sự tương tác về vai trò với chính quyền và cộng đồng ra sao? Cần cơ chế, chính sách gì đối với sư trụ trì trong bảo tồn và phát huy giá trị DSVHPG để vừa tạo ra sự quản lý DSVHPG hiệu quả, vừa để di sản tham gia tích cực vào phát triển kinh tế, xã hội bền vững của các địa phương Thông qua đó, trụ trì có thể thay mặt Giáo hội Phật giáo (GHPG) kiến thiết mối quan hệ với cộng đồng và chính quyền, đồng thời, thực hiện công việc quản trị nội bộ, tham gia vào hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG
Trang 9Cho đến nay, chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu về vai trò của chủ
cơ sở thờ tự, trong trường hợp này là các vị trụ trì với việc bảo tồn và phát huy giá trị DSVHPG Vì thế, việc khảo sát, tìm hiểu, đưa ra những nhận định, đánh giá và
đề xuất những gợi ý về mô hình, chính sách để sư trụ trì có thể phát huy hiệu quả vai trò của mình đối với DSVHPG trong đời sống đương đại là một công việc hết sức cần thiết Trước thực trạng và sự cấp thiết của vấn đề nghiên cứu, trên cơ sở khoa học, thực tiễn, những công trình khoa học trước đây làm tài liệu tham thảo,
nghiên cứu sinh (NCS) đã lựa chọn đề tài Sư trụ trì trong bảo tồn và phát huy giá
trị di sản văn hóa Phật giáo ở Việt Nam làm nội dung nghiên cứu
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu các hoạt động của sư trụ trì - một chủ thể văn hóa trong mối liên hệ với các bên liên quan khác, đề tài đi sâu phân tích vai trò của sư trụ trì trong việc bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG, trên các khía cạnh của DSVH vật thể, DSVH phi vật thể và di sản tư liệu Từ đó, đề tài đề xuất các giải pháp quản
lý nhằm nâng cao vai trò của sư trụ trì trong việc bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG trong bối cảnh xã hội Việt Nam đương đại
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan cơ sở lý luận về bảo tồn, phát huy giá trị di sản cùng lý thuyết
về vai trò và các bên liên quan trong bảo tồn và phát huy giá trị DSVHPG
- Nghiên cứu thực trạng hoạt động của các sư trụ trì trong việc bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG, cụ thể: DSVH vật thể; DSVH phi vật thể; di sản tư liệu
- Đề xuất các giải pháp, chính sách nhằm nâng cao vai trò của sư trụ trì trong việc bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu các hoạt động thực tiễn của sư trụ trì trong việc bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG Khách thể nghiên cứu là 11 nhà sư đang trụ trì, quản lý
11 ngôi chùa ở miền Bắc Việt Nam
Trang 103.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Nghiên cứu khảo sát một số ngôi chùa tại miền Bắc thông qua
những tiêu chí về tính vấn đề, như: những ngôi chùa mà sư trụ trì có đóng góp tích cực vào hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG; cũng như những ngôi chùa với tính hạn chế về vai trò của sư trụ trì Cụ thể, NCS lựa chọn khảo sát 11 sư trụ trì đang quản lý 11 ngôi chùa ở miền Bắc Việt Nam Các đối tượng khảo sát được lựa chọn dựa trên tính đa dạng về đặc điểm cơ sở tu hành và thực tiễn hoạt động trong bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG
Thứ nhất, về cơ sở tu hành là các ngôi chùa có tính đa dạng, gồm sư trụ trì
các ngôi chùa thuộc sở hữu của sơn môn (chùa Bổ Đà - Bắc Giang), chùa thuộc sở hữu của cộng đồng làng xã (chùa Vĩnh Nghiêm - Bắc Giang; chùa Đồng Vàng, chùa Quýt, chùa Diên Phúc, chùa Hương, chùa Tảo Sách, chùa Trăm Gian, chùa Bằng A
- Hà Nội; chùa Đồng Kỵ, chùa Phật Tích - Bắc Ninh) Tại ngôi chùa của sơn môn,
sư trụ trì là người có vai trò chủ thể, quyết định toàn bộ việc quản lý, điều hành các hoạt động của chùa Trong khi đó, sư trụ trì tại các ngôi chùa của cộng đồng thì ngôi chùa không thuộc sở hữu của nhà sư, đó là nơi nhà sư tu hành, có trách nhiệm cùng cộng đồng quản lý, bảo vệ ngôi chùa
Mặt khác, trong 11 cơ sở tu hành của các sư trụ trì được lựa chọn đặt trong các bối cảnh không gian khác nhau: chùa ở vùng trung du (Bổ Đà, Vĩnh Nghiêm), ở ven đô thị (chùa Đồng Vàng, chùa Quýt, chùa Đồng Kỵ, chùa Phật Tích, chùa Diên Phúc, chùa Hương, chùa Trăm Gian), chùa đô thị (chùa Tảo Sách, chùa Bằng A) Trong số các cơ sở chùa này cũng có sự phân biệt dựa trên các tiêu chí về chùa đã được xếp hạng di tích cấp Quốc gia đặc biệt (chùa Bổ Đà, Vĩnh Nghiêm, chùa Hương, chùa Phật Tích), di tích quốc gia (chùa Tảo Sách, chùa Bằng A, chùa Diên Phúc, chùa Đồng Kỵ, chùa Trăm Gian), chùa chưa được xếp hạng (chùa Đồng Vàng, chùa Quýt) Thực tế cho thấy, tại các ngôi chùa đã được xếp hạng di tích, các hoạt động bảo tồn, trùng tu đa dạng hơn với nhiều chương trình, dự án của Nhà nước, các nguồn xã hội hóa… Vì thế, vai trò của sư trụ trì các ngôi chùa cũng có sự khác biệt, để đối chiếu với các nhà sư đang trụ trì tại các ngôi chùa chưa được xếp hạng di tích
Trang 11Thứ hai, việc lựa chọn 11 sư trụ trì làm đối tượng khảo sát cũng có tính đa
dạng về vai trò trong thực tiễn: có những sư trụ trì đã làm tốt, phát huy được vai trò tích cực của mình; ngược lại có sư trụ trì còn có những hạn chế trong việc bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG Thông qua việc tìm hiểu các mâu thuẫn, xung đột trong việc xác định vai trò chủ sở hữu, quản lý, bảo vệ, phát huy tại các cơ sở thờ tự này của các sư trụ trì để từ đó có cái nhìn tổng thể, toàn diện về vai trò của các sư trụ trì trong bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG
- Thời gian: Đề tài nhấn mạnh vai trò của sư trụ trì với bảo tồn, phát huy giá
trị DSVHPG trong bối cảnh xã hội Việt Nam đương đại Mốc thời gian được xác định là từ sau năm 1986 đến nay Mặt khác, để có cái nhìn đầy đủ hơn, đề tài kết hợp so sánh, phân tích những đóng góp của sư trụ trì với việc bảo tồn, phát huy giá
trị DSVHPG trong lịch sử
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên góc độ tiếp cận Phật giáo là một bộ phận của DSVH dân tộc, Luận án
sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính gồm: phương pháp điền dã, phương pháp chuyên gia, phương pháp mô hình hóa, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích tài liệu, cụ thể:
Phương pháp điền dã: Do các dữ liệu thu thập ngoài tài liệu lưu trữ còn có các tài liệu liên quan đến thực tiễn bảo tồn và phát huy giá trị DSVHPG, liên quan tới vai trò của các bên mà trọng tâm của luận án là sư trụ trì Phương pháp này giúp cho NCS có cái nhìn trực quan nhất đối với hệ thống DSVHPG tại các chùa, các địa phương, trên các khía cạnh về loại hình, hiện trạng, vị trí không gian, tiềm năng phát triển
Để có một cái nhìn khách quan, đa chiều đối với vấn đề nghiên cứu, đề tài triển khai thâm nhập thực tế, quan sát và phỏng vấn đối với các chủ thể, như: nhà quản lý, cộng đồng, nhà khoa học và sư trụ trì Phương pháp này giúp cho tác giả với những thông tin có chiều sâu dựa trên quan điểm, suy nghĩ của các chủ thể, đặc biệt là các sư trụ trì đối với vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG hiện nay Cụ thể, tác giả đã trực tiếp đến các ngôi chùa nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trang 12để quan sát tham dự các hoạt động thường nhật của các trụ trì cũng như các bước chuẩn bị cho các nghi lễ nhà Phật Bên cạnh đó, tác giả tiến hành phỏng vấn sâu các
sư trụ trì về những hoạt động trong việc trùng tu, tu bổ di tích, bảo vệ chùa, cổ vật trong chùa, phát triển an sinh xã hội
Phương pháp chuyên gia: Tham khảo xin ý kiến chuyên gia về các vấn đề
có liên quan đến bảo tồn và phát huy giá trị DSVH, sản phẩm văn hóa, sản phẩm du lịch gắn liền với sản phẩm văn hóa, bao gồm chuyên gia của tỉnh và trung ương
Phương pháp thống kê: Phương pháp này được tác giả sử dụng để thu thập các số liệu, tài liệu cần thiết làm cơ sở để chứng minh cho một số giả thuyết nghiên cứu của luận án
Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: Các tài liệu sử dụng gồm các tài liệu liên quan đến bảo tồn và phát huy giá trị di sản, tài liệu liên quan đến địa bàn nghiên cứu Các tài liệu này được thu thập, khai thác từ hệ thống thư viện, các cơ sở lưu trữ khác, tài liệu tại địa phương; Các tài liệu là các văn bản quản lý, chính sách của Nhà nước liên quan đến vấn đề tôn giáo cũng như Phật giáo hiện nay Bên cạnh
đó, đề tài khai thác một lượng thông tin hữu ích thông qua các trang thông tin điện
tử, báo mạng đã từng đưa những vấn đề, những câu chuyện thực tiễn liên quan đến nội dung nghiên cứu
5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra gồm:
- Sư trụ trì đã có những hoạt động thực tiễn như thế nào trong việc bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG?
- Các nhân tố nào đã tác động đến hoạt động của sư trụ trì trong việc bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG?
- Cần có những định hướng, giải pháp như thế nào để nâng cao vai trò của sư
trụ trì trong việc bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG?
DSVHPG là một bộ phận quan trọng của DSVH dân tộc Việt Nam Hiện nay, việc bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG đã nhận được sự quan tâm của các bên liên quan khác nhau bao gồm Nhà nước, GHPGVN, các tăng ni, Phật tử, các nhà
Trang 13nghiên cứu, các nhà khoa học Từ thực tế đó, luận án đặt ra giả thuyết nghiên cứu
là: Trong việc bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG, bên cạnh những hoạt động tích cực, nhiều sư trụ trì chưa nhận thức được vai trò, vị trí của mình, dẫn đến những hạn chế trong việc quản lý, sử dụng, tổ chức các hoạt động làm ảnh hưởng tiêu cực đến các DSVHPG Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, đánh giá thực tiễn, cần có những định hướng, giải pháp nhằm nâng cao vai trò của sư trụ trì trong việc bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG
6 Đóng góp khoa học và thực tiễn của đề tài
- Trên phương diện lý luận: Luận án đóng góp, làm hoàn thiện hơn hệ thống
lý thuyết về vai trò của các bên liên quan, cụ thể ở đây là sư trụ trì với vai trò là chủ thể quản lý tại các cơ sở thờ tự Đánh giá được vai trò khác nhau giữa các bên liên quan trong việc bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG Từ đó, Luận án tiếp tục củng cố,
hệ thống và bổ sung cơ sở lý luận về di sản, quản lý di sản, bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong quản lý DSVH
- Trên phương diện thực tiễn:
+ Luận án khẳng định được sư trụ trì có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn, phát huy các giá trị DSVHPG nói chung, tại các ngôi chùa là mẫu nghiên cứu nói riêng;
+ Luận án đưa ra được các giải pháp về mặt chính sách nhằm phát huy hơn nữa vai trò của các sư trụ trì;
+ Những thông tin trong luận án có thể trở thành tài liệu tham khảo để các cấp các ngành xây dựng các kế hoạch, chương trình hành động cụ thể trong công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị DSVHPG, trong đó có nhiệm vụ quan trọng là nâng cao vai trò của sư trụ trì
Trang 14Chương 2: Sư trụ trì trong việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật
thể và di sản tư liệu (24 trang)
Chương 3: Sư trụ trì trong việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi
vật thể (24 trang)
Chương 4: Định hướng nâng cao vai trò của sư trụ trì trong bảo tồn và phát
huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo (34 trang)
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Văn hóa Phật giáo và những vấn đề xoay quanh nó vẫn luôn là đề tài có sức hút lớn đối với các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn dưới những góc độ tiếp cận khác nhau như lịch sử, tôn giáo, văn hóa, triết học Trong phạm vi đề tài này, NCS không có tham vọng tiếp cận tất cả các nghiên cứu về văn hóa Phật giáo Việt Nam mà chỉ tổng quan trên một số phương diện phù hợp với mục đích nghiên cứu đặt ra
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về lịch sử và vai trò của Phật giáo Việt Nam
Lịch sử Phật giáo Việt Nam là đối tượng nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều học giả trong và ngoài nước Trước năm 1975, ở Việt Nam
có một số công trình nghiên cứu về lịch sử Phật giáo tiêu biểu như: Việt Nam Phật giáo sử lược của tác giả Thích Mật Thể [156], Việt Nam Phật giáo đấu tranh sử của Tuệ Giác [50], Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỉ XIII của Trần Văn
Giáp [55] Các công trình này đã giới thiệu sơ lược lịch sử Phật giáo Việt Nam từ thời kỳ du nhập, trải qua các giai đoạn phát triển với những thăng trầm, thịnh suy của Phật giáo gắn liền với tiến trình lịch sử dân tộc
Từ sau năm 1975 đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam dưới nhiều góc nhìn và cách tiếp cận khác nhau Về lịch sử Phật giáo có
Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang [98], Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Tài Thư [167], Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Đăng Thục [163], Lược sử Phật giáo Việt Nam của Thích Minh Tuệ [183]… đã tiếp cận dưới góc độ
lịch sử, trình bày bao quát toàn bộ tiến trình lịch sử Phật giáo từ khi du nhập cho đến thời hiện đại, góp phần làm sống lại không khí cũng như diện mạo cụ thể của sinh hoạt Phật giáo trong tiến trình lịch sử Việt Nam
Cùng một chủ đề lớn như các công trình trên, Lê Mạnh Thát (2001) có Lịch
sử Phật giáo Việt Nam [152], [153], [154] gồm 3 tập đã hệ thống tư liệu từng niên
đại, từng nhân vật, từng sự kiện tiêu biểu của Phật giáo trong suốt hơn 2.000 năm
Trang 16tồn tại và phát triển ở Việt Nam Tác giả nhìn nhận lịch sử Phật giáo như một bộ phận của cuộc vận động chung của dân tộc, gồm các thời kỳ: thời kỳ Phật giáo quyền năng, thời kỳ Phật giáo vận động độc lập, thời kỳ Phật giáo thế sự, thời kỳ Phật giáo cư trần lạc đạo và thời kỳ Phật giáo quần chúng Tác giả cũng đã đề cập đến một số thiền sư tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển của Phật giáo Việt Nam như thiền sư Vạn Hạnh, Pháp Loa, Huyền Quang… không chỉ là những cố vấn cho triều đình phong kiến những vấn đề về chính trị, ngoại giao, quân sự, văn hóa mà còn có những đóng góp tích cực trong việc xây dựng chùa tháp, phát triển tư tưởng, đạo đức Phật giáo…
Nguyễn Duy Hinh là một tác giả có nhiều công trình nghiên cứu về Phật giáo
Việt Nam, trong đó Lịch sử đạo Phật Việt Nam là công trình đặc sắc, giới thiệu các
giai đoạn phát triển của Phật giáo từ thời kỳ truyền nhập đến thời kỳ canh tân (thế
kỷ XX) [68] Tác giả cũng đã làm rõ một số đóng góp của các thiền sư trong việc phát triển tông phái, văn hóa, xã hội trong các giai đoạn phát triển khác nhau của Phật giáo Việt Nam
Đạo Phật Việt Nam là công trình tập hợp một số bài nghiên cứu về Phật giáo
Việt Nam của Hòa thượng Thích Đức Nghiệp, được xuất bản năm 1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh [116] Tác giả đã nêu lên một số khía cạnh của Phật giáo như: sự phát triển của đạo đức Phật giáo, ảnh hưởng của Phật giáo đến văn hóa, nghệ thuật, lối sống của con người Việt Nam
Vai trò, tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu Tác giả Hà Văn Tấn có một số bài viết như “Chùa Việt Nam”, “Về ba yếu tố của Phật giáo Việt Nam: thiền, tịnh, mật”, “Vấn đề văn bản học, các tác phẩm văn học Phật giáo Việt Nam”, “Chùa Vua và tín ngưỡng Đế
Thích”… in trong Đến với lịch sử văn hóa Việt Nam [147] Nhà nghiên cứu Nguyễn Duy Hinh và Lê Đức Hạnh trong công trình Phật giáo trong văn hóa Việt Nam xuất
bản năm 2011 đã trình bày những vấn đề lịch sử tư tưởng Phật giáo Việt Nam qua kinh sách; Bồ Tát Quán thế âm - một hình tượng thể hiện tư tưởng Phật giáo trong
Trang 17văn hóa Việt Nam; về Phật giáo trong văn hóa Việt Nam; Phật giáo và vấn đề hiện đại hóa Phật giáo hiện nay [69]
Phật giáo nhập thế và phát triển là công trình tập hợp hơn 20 bài viết của
nhiều tác giả nhìn nhận về tinh thần nhập thế của Phật giáo trong giai đoạn hiện nay [155], khẳng định Phật giáo không tách mình khỏi thế sự mà còn dấn thân một cách tích cực vào cuộc đời, vào nếp sống của con người ở từng địa phương để chuyển hóa, xây dựng cuộc sống con người cao đẹp hơn, thánh thiện hơn, hoàn hảo hơn Đó
là đặc tính nhập thế của Phật giáo trong mọi thời đại, mọi không gian Cùng chủ đề
về tinh thần nhập thế của Phật giáo, tác giả Nguyễn Thị Minh Ngọc có bài viết
“Phật giáo dân gian: Con đường nhập thế của Phật giáo Việt Nam” Theo tác giả, thông qua các hình thức cúng lễ như cúng cầu an, cúng sao giải hạn, cúng cầu siêu,
lễ bán khoán, cúng cắt tiền duyên…, Phật giáo dân gian đã biểu hiện tính nhập thế của mình, đi sâu vào đời sống tâm linh, góp phần “điều chỉnh hành vi xã hội và xã hội hóa”, “làm thay đổi một vài thói quen, nếp sống truyền thống của người Việt Nam” [119, tr 32]
Tác giả Bồ đề Tân Thanh - Nguyễn Đại Đồng với công trình Phật giáo Việt Nam (từ khởi nguyên đến 1981) đã giới thiệu một cách khái quát về lịch sử Phật
giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến năm 1981 nói chung và các danh tăng, cư sĩ tiêu biểu nói riêng Tác giả cho rằng:
Ngay từ khi xuất hiện, đạo Phật đã được người Việt chấp nhận và nhanh chóng phát triển, đến nửa cuối thế kỷ thứ II, ở Việt Nam đã hình thành những trung tâm Phật giáo Với tư tưởng “nhập thế”, “phật pháp bất ly thế gian giác” và “đại hùng, đại lực, đại từ bi”, giáo lý đạo Phật đã hòa quyện với tín ngưỡng văn hóa bản địa, là cơ sở, động lực để Phật giáo gắn bó, đồng hành với dân tộc và có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam [47, tr 5]
Tác giả Hà Thúc Minh trong nghiên cứu Lịch sử tư tưởng Việt Nam và vấn
đề Phật giáo khẳng định trong tiến trình lịch sử của mình, Phật giáo Việt Nam đã
gắn liền với vận mệnh của dân tộc qua từng thời kỳ lịch sử Tại những thời kỳ khó
Trang 18khăn nhất khi đất nước đối diện với những thách thức ngoại xâm thì “nhiều tăng ni, Phật tử sẵn sàng “cởi cà sa, khoác chiến bào” cùng toàn dân đánh tan mọi âm mưu xâm lược của kẻ thù” [110, tr 47] Lý giải về sự tham gia của các thiền sư vào công cuộc chống ngoại xâm nói riêng, vào các vấn đề khác của đời sống xã hội nói chung, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Lang, có 4 lý do chính: Thứ nhất, họ là những người có học, có ý thức quốc gia, sống gần gũi với quần chúng và biết được những khổ đau của người dân bị đô hộ và bóc lột hà khắc; Thứ hai, họ không muốn tranh ngôi vua, không giành quyền bính và địa vị ngoài đời nên được vua tin tưởng; Thứ
ba, họ không cố chấp vào thuyết trung quân, nên họ có thể cộng tác với bất cứ ông vua nào đem lại hạnh phúc cho dân; Thứ tư, các vua cần sức học của họ, nhất là trong thời Đinh - Tiền Lê, các vua đều không phải thuộc giới trí thức Nho sĩ cũng không có mấy người, lại chỉ trung thành được với một triều đại [98, tr 185-186]
Bài viết “Những ảnh hưởng của Phật giáo đối với xã hội ta trước đây” [16]
của nhà nghiên cứu Minh Chi đã luận giải về sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với xã hội Việt Nam trong lịch sử, đặc biệt là trong thời đại Lý - Trần Theo tác giả, trong tiến trình lịch sử, Phật giáo đã ảnh hưởng đến văn hóa, đến tư duy của cộng đồng thông qua lối sống, hành vi ứng xử hàng ngày của tăng ni, Phật tử Tác giả nhấn mạnh đến vai trò của thiết chế tăng đoàn, ni đoàn, Phật tử tại gia và cho rằng
“những tư tưởng cơ bản của đạo Phật, mà chúng ta vốn ca ngợi là cao đẹp nhân từ,
từ bi, trí dũng, vô ngã, vị tha sẽ chỉ là từ ngữ suông nếu không có những tăng, ni, Phật tử biến chúng thành thực tế sống động trong sinh hoạt và việc làm thường nhật của họ” [16, tr 74]
Dưới triều đại nhà Lý - Trần, Phật giáo đã có nhiều đóng góp tích cực không chỉ đối với sự ổn định, thống nhất của quốc gia - dân tộc trong bối cảnh phải chống lại sự xâm lược của các đế chế phương Bắc mà còn trên nhiều phương diện khác
của đời sống xã hội Tác giả Tăng Xuân Dẫn trong công trình nghiên cứu Vai trò của các thiền sư trong văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần và ý nghĩa đối với Việt Nam hiện nay [24] đã phân tích vai trò của các thiền sư trong xây dựng và phát triển văn
hóa Đại Việt thời Lý - Trần trên một số lĩnh vực chính như: chính trị - xã hội, tư
Trang 19tưởng tôn giáo, đạo đức, văn học, nghệ thuật, và rút ra ý nghĩa đối với Việt Nam hiện nay Tác giả cho rằng:
Không chỉ trong thời Lý - Trần, mà trong mọi thời đại, với sự phát triển của Phật giáo, các thiền sư đều có những đóng góp đáng kể cho sự nghiệp xây dựng văn hóa, kinh tế, xã hội, phát triển đất nước Các thiền
sư với vị thế là những nhà tu hành, chức sắc tôn giáo, đã luôn là những người chăm lo cho nhân dân trong cả việc “đạo” và việc “đời” Vừa hướng đạo nhưng đồng thời cũng giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống văn hóa và đạo đức, lối sống cho quần chúng nhân dân [24, tr 7] Tác giả Đỗ Ngây đã bàn về triết lí nhập thế của Phật giáo trong công trình
Triết lí nhập thế của Phật giáo Việt Nam thời Lý - Trần [114] Tác giả khẳng định,
trong thời đại Lý - Trần, thông qua hoạt động của các thiền sư đạt đạo, “bằng sự giác ngộ và tài năng xuất chúng, họ đã có những cống hiến lớn lao trong việc phát triển Phật giáo nói riêng và cho nền độc lập dân tộc nói chung Nơi họ không còn chỗ cho cái ta vị kỷ mà chỉ có tấm lòng phụng sự trọn vẹn cho tha nhân, mọi hành
động của họ hoàn toàn vì dân, vì nước” [114, tr 153-154] Luận án Vai trò của Phật giáo đối với tín ngưỡng người Việt (qua thời Trần), tác giả Nguyễn Thúy Thơm
[161] đã làm rõ vai trò của Phật giáo với tín ngưỡng người Việt thời Trần ở hai phương diện: Tín ngưỡng triều đình và tín ngưỡng dân gian, góp phần tạo nên bản sắc của văn hóa riêng biệt của dân tộc Việt Nam
Trong giai đoạn hiện nay, Phật giáo vẫn đóng vai trò quan trọng trên các phương diện văn hóa, đạo đức, lối sống…, góp phần hoàn thiện đạo đức cá nhân, lành mạnh hóa quan hệ xã hội của con người Việt Nam Luận điểm này được tác giả Nguyễn Khắc Đức đề cập trong bài viết “Vai trò của Phật giáo ở Việt Nam hiện nay”, phân tích vai trò của Phật giáo ở Việt Nam trên một số phương diện chủ yếu, như: vai trò của Phật giáo đối với đạo đức; vai trò của Phật giáo đối với văn hóa dân tộc; vai trò của Phật giáo đối với chính trị tư tưởng [48] Bên cạnh đó, tác giả cũng nhấn mạnh về một số những khó khăn cần phải giải quyết của Phật giáo Việt Nam hiện nay như vấn đề lợi dụng Phật giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động
Trang 20chính trị, vấn đề hiện đại hóa Phật giáo hay tình trạng sa sút phẩm hạnh của một số tăng ni [48, tr 48]
Vấn đề này tiếp tục được tác giả Nguyễn Thị Thúy Hằng bàn sâu hơn trong
công trình nghiên cứu Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần cư dân đồng bằng sông Hồng hiện nay [64] Tác giả đã chỉ ra sự ảnh hưởng
của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần của cư dân đồng bằng sông Hồng, góp phần hình thành những tình cảm, tri thức đạo đức, lẽ sống, lối sống,
cả cách sáng tạo và thụ hưởng những giá trị văn hóa nghệ thuật theo lý tưởng sống cao cả của đức Phật Tuy nhiên, theo tác giả, mặt trái của kinh tế thị trường
đã tác động đến làm biến đổi đạo đức, văn hóa truyền thống của người dân nơi đây
Và để khắc phục những mặt trái đó, chúng ta có thể:
Khai thác nhiều hơn nữa những giá trị tâm linh của các tôn giáo và triết thuyết phương Đông, đặc biệt là Phật giáo với quan niệm nhân sinh sâu sắc, tinh túy vốn đã chiếm một phần không nhỏ trong đời sống tinh thần của cư dân ở đây Phát triển ảnh hưởng tích cực của nhân sinh quan Phật giáo trong việc giáo dục và giúp đỡ người dân đồng bằng sông Hồng, nhất là thanh thiếu niên hiểu và sống hướng thiện, khoan dung với tinh thần từ bi, hỉ xả là một việc cần thiết [64, tr 6]
Theo quy luật vận động, phát triển, Phật giáo không nằm ngoài những thách thức của quá trình hội nhập và toàn cầu hóa Tác giả Đỗ Quang Hưng trong nghiên cứu “Bước đầu suy nghĩ về Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu
hóa”, in trong Nghiên cứu tôn giáo - Nhân vật và sự kiện đã chỉ ra sự tác động của
quá trình toàn cầu hóa đến mọi mặt của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, bao gồm
cả yếu tố tôn giáo [79] Theo tác giả, vấn đề bản sắc tôn giáo là thành tố quan trọng bậc nhất của bản sắc tộc người, tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa đang đặt ra những vấn đề làm mất bản sắc tôn giáo Tác giả đã phân tích, chỉ ra những kinh nghiệm của Phật giáo Nhật Bản và Phật giáo Trung Quốc trước những tác động, thách thức của toàn cầu hóa Đối với Phật giáo Việt Nam, tác giả khẳng định về một
“lợi thế riêng” của Phật giáo đối với các tôn giáo khác, bởi tiến trình lịch sử hình
Trang 21thành, thay đổi và phát triển, Phật giáo Việt Nam “luôn gắn bó với dân tộc, tạo ra những yếu tính cơ bản cho văn hóa Việt Nam và về phương diện tôn giáo là thành
tố quan trọng bậc nhất trong tâm thức tôn giáo của người Việt” [79, tr 495] Tuy nhiên, đứng trước những sự biến đổi đó, Phật giáo Việt Nam hiện nay phải đối diện với các vấn đề như: vị thế của Phật giáo Việt Nam được khẳng định; những di sản của phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam (1920-1963) là khá lớn và có giá trị lâu dài; vấn đề xuất thế và nhập thế của Phật giáo Việt Nam Tác giả khẳng định Phật giáo đã trở thành một bộ phận quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc Chính
vì vậy, vấn đề đặt ra với Phật giáo Việt Nam hiện nay là “không chỉ khẳng định tính cách dân tộc” mà còn phải “có những nỗ lực to lớn hơn, góp phần tạo ra một không gian tâm linh thích hợp với xã hội trong đó bản sắc tâm linh của chính Phật giáo được phát huy, cập nhật và hiện đại hóa” [79, tr 498]
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về di sản văn hóa Phật giáo, bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm và đã nhanh chóng được bản địa hóa Trong lịch sử phát triển của mình, Phật giáo đã để lại cho dân tộc nhiều DSVH vật chất và tinh thần có giá trị đặc sắc Nghiên cứu về DSVHPG phải kể đến tác giả Đặng Văn Bài với nhiều bài viết có giá trị như: “Về việc tu bổ chùa Cầu ở Hội An” [6], “Nhận diện để phát huy DSVHPG Việt Nam” [4], “DSVHPG trong xã hội
đương đại Việt Nam” [203]… Nhận diện về DSVHPG, tác giả khẳng định
DSVHPG Việt Nam là một thành tố trong chỉnh thể văn hóa dân tộc Bàn về DSVH phi vật thể của Phật giáo, theo tác giả, trước hết phải đề cập giá trị văn hóa, đạo đức Đạo đức Phật giáo thể hiện ở mục tiêu “muốn đưa lại hạnh phúc và an lạc cho nhân sinh… Phật giáo luôn khuyến khích chúng sinh “tự độ độ tha, tự giác giác tha”, không phân biệt giữa ngã nhân và tha nhân” [4, tr 8] Đạo đức Phật giáo “có khả năng điều chỉnh hành vi đạo đức của con người, cũng tức là đóng góp vào việc đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng để phục vụ cho sự phát triển đất nước” [4, tr 9] Tác giả cũng cho rằng, các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của Phật giáo còn được kết tinh trong không gian văn hóa truyền thống của ngôi chùa - một thiết chế
Trang 22văn hóa đặc thù… Trong nhiều ngôi chùa đã hình thành những không gian văn hóa truyền thống điển hình - nơi diễn ra những sinh hoạt văn hóa Phật giáo, các nghi thức tôn giáo như: Lễ Vu Lan, Đại lễ Phật Đản, đàn trai giải oan… Cùng với đó, lễ hội chùa “còn là nơi tích hợp các mặt giá trị văn hóa phi vật thể rất phong phú và đa dạng…” [4, tr 9] Ngoài ra, âm nhạc hay mỹ thuật Phật giáo tại nhiều ngôi chùa rất xứng đáng được tôn vinh Trong một nghiên cứu khác là “DSVHPG trong xã hội
đương đại Việt Nam” [203], nhà nghiên cứu Đặng Văn Bài tiếp tục làm rõ các
thành tố vật thể (chùa, hệ thống tượng Phật), phi vật thể (đạo đức, lễ hội, nghi lễ) của DSVHPG Theo tác giả “các vị thiền sư nổi tiếng với tư tưởng nhân văn và tấm gương đạo đức là DSVHPG quý giá của Việt Nam” [203]
Tác giả Hà Siêu với bài viết “DSVHPG tạo sức hấp dẫn cho sản phẩm du
lịch” được trình bày tại Hội thảo DSVH xứ Đông (2015) đưa ra 5 khía cạnh tiêu
biểu để nhận diện DSVHPG là giáo lý Phật giáo; giá trị văn hóa, đạo đức; ngôi chùa; lễ hội Phật giáo; nghệ thuật âm nhạc và mỹ thuật Phật giáo [231] Đây là những yếu tố quan trọng để tạo các sản phẩm du lịch gắn với Phật giáo, góp phần tích cực vào việc hình thành và định vị thương hiệu du lịch Việt Nam
Bên cạnh đó, có nhiều công trình đi sâu tìm hiểu các khía cạnh cụ thể của DSVHPG Những giá trị văn hóa nghệ thuật của các ngôi chùa - di sản vật thể đặc trưng của Phật giáo là mảng đề tài phổ biến, được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
hơn cả, tiêu biểu là các công trình nghiên cứu Chùa Việt Nam [146], Một số giá trị văn hóa nghệ thuật của ngôi chùa truyền thống vùng đồng bằng sông Hồng [10], Chùa Việt [11], Nghiên cứu một số ngôi chùa thuộc thiền phái Trúc Lâm, những giá trị lịch sử văn hóa [171], Kiến trúc Phật giáo Việt Nam [99], Tìm hiểu văn hóa Phật giáo và lịch sử các ngôi chùa ở Việt Nam [103], “Bảo tồn những ngôi chùa và
những ngôi đình ở đồng bằng Bắc bộ Việt Nam” [172]… Nhiều nghiên cứu sâu về
các chùa riêng lẻ như công trình Chùa Dâu và hệ thống chùa Tứ Pháp [22], về chùa Mía [82], về Chùa Tây Phương [106], về Chùa Bút Tháp [170], về “Chùa Phật Tích trong nghiên cứu DSVH dân tộc” [223], Màu sắc chùa Việt ở châu thổ Bắc Bộ
[21]… đã khắc họa và nhấn mạnh lịch sử hình thành, những giá trị độc đáo của các
Trang 23ngôi chùa Việt với tư cách là một DSVH quý báu của người Việt cần được bảo vệ
và phát huy
Ngoài ra, hệ thống tượng thờ Phật, có các nghiên cứu của Đinh Viết Lực với
công trình Pháp tu Tịnh độ và tượng Phật A Di Đà trong các ngôi chùa Việt ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ [107], Giá trị nghệ thuật tượng thờ thế kỷ XVII trong chùa Việt ở Bắc Bộ của Triệu Thế Việt [197], “Góp bàn thêm đối tượng thờ phụng trong các ngôi chùa Việt truyền thống ở miền Bắc” của Lê Tâm Đắc [42], Bài trí tượng Phật - một ngôi chùa tiêu biểu của Thích Hạnh Tùy [185]…
Về đạo đức Phật giáo, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam có công trình
Đạo đức học Phật giáo (năm 1995), gồm 34 bài tham luận của nhiều tác giả, là kết
quả của hội thảo “Ðạo đức Phật giáo trong thời hiện đại” Trong đó có bài viết “Một
số đặc sắc của đạo đức Phật giáo” của nhà nghiên cứu Minh Chi đã đưa ra 3 vấn đề: Tính dứt khoát, minh bạch trong sự phân chia thiện ác; tính liên tục nhất quán của nội dung đạo đức Phật giáo; đạo đức Phật giáo dựa trên quy luật nhân quả nghiệp báo, để từ đó nhấn mạnh sự cần thiết trong việc bảo tồn, phát huy đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam trong thời đại ngày nay [122]
Công trình Đạo đức Phật giáo với đạo đức con người Việt Nam của Đặng
Thị Lan đã đề cập đến ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đến ý thức đạo đức, hành
vi đạo đức của con người Việt Nam trong bối cảnh cảnh phát triển kinh tế thị trường
và hội nhập quốc tế [95] Ngoài ra, một số bài viết về đạo đức Phật giáo được bàn trên các báo, tạp chí như: “Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thiện và ác” của tác giả Lê Thanh Hà [57], “Ý nghĩa xã hội và nhân văn cao cả của Phật giáo” của Trịnh Thanh Hà [60], “Góp phần tìm hiểu một số vấn đề về đạo đức Phật giáo trong xã hội Việt Nam hiện nay” của Hoàng Thị Lan [96], “Đạo đức Phật giáo với kinh tế thị trường” và “Đạo đức Phật giáo với vấn đề xây dựng nhân cách con người Việt Nam” [159], [160] của Hoàng Thị Thơ, “Bàn thêm về ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay” của Lê Văn Đính [43]… cùng một số
luận văn, luận án Tiến sĩ Triết học như: Ảnh hưởng của giới luật Phật giáo trong giáo dục đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay của tác giả Hoàng Văn Nam [113];
Trang 24Luận án Tiến sĩ Triết học của tác giả Lê Hữu Tuấn (1998) với đề tài Ảnh hưởng của
tư tưởng triết học Phật giáo trong đời sống văn hóa tinh thần ở Việt Nam [178]; Đạo đức Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đạo đức con người Việt Nam (nghiên cứu vai trò của Phật giáo đối với đời sống xã hội và con người Việt Nam) [94]; Ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo trong đời sống đạo đức của xã hội Việt Nam hiện nay
(phân tích một cách hệ thống về đạo đức Phật giáo và đưa ra một số nhận định khách quan về ảnh hưởng tích cực cũng như một số hạn chế của đạo đức Phật giáo
đối với con người Việt Nam hiện đại) [72]; Phạm trù ‘Tâm” trong Phật giáo với việc xây dựng đời sống đạo đức ở nước ta hiện nay (nghiên cứu về cái “Tâm” Phật
giáo và những ảnh hưởng nhất định của nó đến ý thức đạo đức, thực tiễn đạo đức và quan hệ đạo đức, trong đó có cả những ảnh hưởng tích cực lẫn những hạn chế nhất định) [1] là những tài liệu quan trọng, để trên cơ sở đó tác giả có thể tham khảo, tìm hiểu về đạo đức Phật giáo với tư cách là một thành tố của DSVHPG
Lễ hội, nghi lễ Phật giáo cũng là một nội dung được đề cập đến khá nhiều
trong các công trình nghiên cứu như: Nghệ thuật diễn giảng và xướng ngôn lễ hội Phật giáo [37], Lễ hội Phật giáo Việt Nam hiện nay (Qua nghiên cứu trường hợp một số chùa tại thành phố Hà Nội) [26] … Đề cập đến nghi lễ Phật giáo, tác giả Trương Bội Phong có nghiên cứu Nghi lễ Phật giáo đã khái quát những nội dung cơ
bản của nghi lễ Phật giáo bao gồm thời khóa biểu, hành lễ, dâng hương, cúng hoa, cúng đèn, ngôn ngữ trong nhà Phật [128]… Theo tác giả, “nghi lễ Phật giáo Việt Nam tuy có tiếp thu và chọn lọc những cái hay, cái đẹp của nhiều nguồn nhưng vẫn
có bản sắc riêng, từ pháp cụ, pháp phục cho đến pháp âm… hài hòa với tinh thần giáo lý của Đức Phật, tạo niềm tin của Phật tử vào ngôi Tam Bảo, góp phần xây dựng một xã hội hoàn thiện với nguồn sống tâm linh lành mạnh” Ngoài ra còn có
các công trình Phong tục dân gian nghi lễ thờ Phật [129], Nghi lễ thờ cúng của Phật giáo ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay [144], Âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo ở
Hà Nội [100], “Nghi lễ Phật giáo một DSVH cần được bảo trọng và tịnh tấn” [189],
“Công tác nghi lễ của GHPGVN” [40]… đã phân tích, mô tả về nghi lễ Phật giáo trên nhiều khía cạnh khác nhau
Trang 25Công tác bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG cũng là nội dung được nhiều nhà
nghiên cứu quan tâm Nhà nghiên cứu Đặng Văn Bài cho rằng, “bảo tồn và phát
huy giá trị DSVHPG là góp phần tôn vinh văn hóa dân tộc” và muốn bảo tồn, phát huy các mặt giá trị DSVHPG Việt Nam, trước hết “phải quan tâm bảo tồn không gian văn hóa - nơi thường xuyên diễn ra những sinh hoạt Phật giáo, là những ngôi chùa thờ phật ở các làng quê Việt Nam” [4, tr 10] Tác giả chỉ ra các bên liên quan trong việc bảo vệ DSVHPG là cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị
- xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp… tuy nhiên đối với DSVHPG thì nhiệm vụ bảo vệ chính trước hết thuộc về các vị sư trụ trì và cộng đồng Phật tử từng ngôi chùa cụ thể [4, tr 11]
Luận điểm này tiếp tục được tác giả Đặng Văn Bài khẳng định trong đề tài
khoa học cấp Nhà nước Bảo tồn và phát huy các giá trị DSVHPG Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế do tác giả làm chủ nhiệm đề tài [5] Nội dung chính của đề tài là phân tích những tác động phức tạp, đa chiều của
bối cảnh hội nhập quốc tế đến việc bảo tồn, phát huy DSVHPG; thực trạng hoạt động bảo tồn, phát huy DSVHPG của Việt Nam hiện nay
Tác giả Lưu Trần Tiêu với bài viết “Bảo tồn những ngôi chùa và những ngôi đình ở đồng bằng Bắc bộ Việt Nam”, đã giới thiệu tóm tắt về quá trình xây dựng các ngôi chùa, đình ở đồng bằng Bắc bộ, chỉ ra những đặc trưng của loại hình di tích này gắn với những định hướng giải pháp bảo tồn những di tích đó; chỉ ra những yếu tố về tự nhiên và xã hội tác động lên di tích Theo tác giả “chùa và đình được coi như bảo tàng của làng quê” Đây là những tác phẩm điêu khắc có nhiều giá trị
về lịch sử, văn hóa cần được bảo tồn và phát huy [172, tr 516] Việc bảo tồn và phát huy những giá trị đó phải đi kèm với những điều kiện cụ thể của cộng đồng địa phương; khuyến khích phát triển các làng nghề liên quan và gắn liền với môi trường cảnh quan xung quanh
Tại Việt Nam, cùng với những thăng trầm của biến cố lịch sử, Phật giáo đã đồng hành với lịch sử dân tộc, tác giả Triệu Thế Việt cho rằng “Phật giáo vừa phổ
độ giáo lý chân, thiện, mỹ, vừa nương theo văn hóa bản địa, dung hòa với khát vọng
Trang 26của thế gian để hoằng truyền khá thành công của Phật pháp và trở thành một thành
tố không tách rời của văn hóa Việt” [198, tr 30] Ngôi chùa Việt chính là biểu hiện cho sự gắn kết không tách rời đó Trong tâm thức người Việt Nam, ngôi chùa vừa linh thiêng, vừa hết sức gần gũi Và “trong nhịp vận động của ngôi chùa Việt, những nghi thức Phật giáo được kết hợp với lễ hội truyền thống, đã dùng hòa với nhịp mùa màng của đời sống nông nghiệp Các lễ hội làng, hội chùa vùng Bắc Bộ thường vào dịp mùa xuân và mùa thu” [198, tr 31] Tương tự, các nghi lễ Phật giáo cũng được điều chỉnh nhằm phù hợp hơn với tập quán, đời sống văn hóa, tín ngưỡng của cộng đồng làng xã “Lễ Phật Đản (mùng 8 tháng 4 Âm lịch) vốn là đại
lễ của Phật giáo, nhằm kỷ niệm ngày Đức Thích Ca xuất thế, nhưng thường gắn với
lễ cầu mưa (lễ hội Tứ Pháp) Dân gian thường tin rằng, trong dịp lễ Phật Đản có mưa để tắm Phật liên quan đến mưa cho vụ lúa” [198, tr 31]
Tác giả Thân Quang Huy giới thiệu một cách khái quát về ngôi cổ tự này và một số di tích liên quan đến Phật phái Trúc Lâm phía Tây Yên Tử (tỉnh Bắc Giang) qua bài viết “Chùa Vĩnh Nghiêm và một số di tích liên quan đến Phật phái Trúc Lâm phía Tây Yên Tử” Theo tác giả, trong lịch sử, hệ thống quần thể di tích và danh thắng Yên Tử thì chùa Vĩnh Nghiêm có vai trò quan trọng và là một bộ phận không tách rời, gắn với Phật giáo Trúc Lâm, một dòng thiền mang đậm bản sắc Việt Tác giả cho rằng: “Bảo vệ và phát huy giá trị di sản này trong xu thế hội nhập, phát triển hiện nay là một việc làm cần thiết, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, thúc đẩy công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội vùng Đông Bắc của Tổ quốc” [76, tr 22]
Liên quan đến cổ vật, giá trị cổ vật Phật giáo, như trường hợp “mộc bản” của chùa Vĩnh Nghiêm, thông qua bài viết “Công tác bảo tồn giá trị di sản mộc bản
chùa Vĩnh Nghiêm”, tác giả Nguyễn Thế Chính đã khái quát về giá trị DSVH chùa
Vĩnh Nghiêm thông qua hệ thống tượng thờ, văn bia, nghệ thuật kiến trúc Trong
đó, tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến giá trị kho di sản mộc bản của chùa:
Kho mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm là bảo vật vô giá của quốc gia Qua kho bảo vật này, người ta có thể khai thác lượng thông tin phong phú, đa lĩnh
Trang 27vực, như: lịch sử Phật giáo, tư tưởng văn hóa hành đạo, nhập thế của dòng thiền Trúc Lâm, lịch sử nghề khắc in mộc bản, thân thế sự nghiệp một số vị cao tăng có nhiều cống hiến cho sự phát triển nền văn hóa truyền thống của dân tộc [17, tr 10]
Cũng với chủ đề mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm, tác giả Trần Trọng Dương có nghiên cứu “Về di sản mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang” trên cơ sở khảo sát, nghiên cứu kho mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang), bước đầu đưa ra một số nhận diện, đánh giá tổng quan về giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học của kho mộc bản này, đồng thời, góp bàn về hướng nghiên cứu, bảo vệ và phát huy giá trị của kho mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm [32]
Với nghiên cứu “Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Phật giáo”, tác giả Nguyễn Văn Thủy khẳng định bề dày lịch sử hình thành và phát triển của Phật giáo Việt Nam qua hơn 2.000 năm qua “đã giao thoa và dung hòa với các tập tục địa phương, với các thần linh bản địa có trước, làm cho Phật giáo Việt Nam mang nhiều sắc thái” Cũng theo tác giả, sự sâu rộng trong văn hóa Phật giáo được thể hiện rõ nét qua ngôn ngữ Phật giáo, pháp phục Phật giáo, kiến trúc Phật giáo, lễ hội Phật giáo Với “vai trò là một hình thái ý thức xã hội, Phật giáo có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tư tưởng, văn hóa, đạo đức, lối sống và góp phần hình thành đặc trưng, bản sắc văn hóa dân tộc Văn hóa Phật giáo Việt Nam là một thành tố quan trọng trong chỉnh thể văn hóa dân tộc Việt Nam, giữ gìn và phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam” [236] Chính vì vậy, việc duy trì, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Phật giáo là đặc biệt cần thiết
Bài viết “Về xây dựng quy hoạch tổng thể các di tích lịch sử - văn hóa Phật giáo” của tác giả Nguyễn Hữu Toàn đã chỉ ra đặc điểm của ngôi chùa Việt Nam là yếu tố gắn kết với cộng đồng “ngôi chùa từ lâu đã không phải là địa điểm sinh hoạt tôn giáo biệt lập, mà hòa nhập và là một phần quan trọng không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt văn hóa tinh thần của người dân làng Việt, của nhân dân Việt Nam” [174, tr.18] Trên tinh thần đó, các ngôi chùa trong cộng đồng làng xã đã nhận được
sự quan tâm của chính quyền nhà nước, cộng đồng địa phương trong công tác trùng
Trang 28tu, tôn tạo Tuy nhiên “không phải địa phương nào cũng có điều kiện thuận lợi để tôn tạo, tu bổ di tích, nên còn rất nhiều ngôi chùa đang ở tình trạng hoang phế hoặc xuống cấp nghiêm trọng; hiện tượng mất cắp tượng Phật, cổ vật, đồ thờ tự vẫn xảy
ra ở nhiều di tích…” [174, tr 18] Từ đó, tác giả đặt ra vấn đề hàng đầu hiện nay là
tổ chức nghiên cứu quy hoạch tổng thể các di tích lịch sử văn hóa Phật giáo nhằm bảo vệ và phát huy hiệu quả nhất các giá trị của hệ thống di tích này Các nguyên tắc xây dựng quy hoạch là đảm bảo yếu tố gốc cấu thành di tích cũng như phát huy các giá trị DSVH phi vật thể gắn với di tích; đảm bảo sự hài hòa mối quan hệ giữa chức năng vốn có của di tích gắn với nhu cầu của đời sống xã hội hiện đại; đặc biệt, cần coi trọng giải quyết mối quan hệ giữa trách nhiệm và lợi ích của nhân dân nơi
có di tích Phật giáo vì đây vốn là công trình tôn giáo tín ngưỡng của làng xã, do nhân dân làng xã xây dựng, phục vụ đời sống cộng đồng [174, tr 20]
Xung quanh việc bảo tồn, phát huy DSVHPG nói riêng, DSVH tôn giáo nói
chung, có nhiều hội thảo khoa học đã được tổ chức Hội thảo Bảo tồn và phát huy DSVHPG xứ Đông (2013 - Hải Phòng) đã đề cập đến việc bảo tồn và phát huy
DSVHPG đang đặt ra những vấn đề cần quan tâm như: trùng tu di tích không đúng nguyên gốc, thiếu vốn đầu tư trùng tu và tôn tạo các di tích xuống cấp, việc trùng tu
di tích không đúng bố cục các hạng mục công trình truyền thống, sự quá tầm của cả phía chính quyền lẫn phía GHPGVN trong quản lý, khai thác và phát huy các
DSVHPG trong phát triển du lịch,… Hội thảo Bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG Trúc Lâm (2016 - Hà Nội) nhằm giới thiệu, đánh giá các DSVH, các di tích lịch sử,
phân tích, làm rõ thêm giá trị của hệ thống các di tích liên quan đến Phật hoàng Trần Nhân Tông, qua đó nêu lên các quan điểm và giải pháp nhằm bảo tồn, phát
huy giá trị các DSVH của Phật giáo Trúc Lâm Hội thảo Văn hóa Phật giáo Việt Nam - thống nhất trong đa dạng (2016 - Hà Nội) thuộc đề án “Định hướng đặc
trưng văn hóa Phật giáo Việt Nam qua pháp phục, kiến trúc, ngôn ngữ và di sản” đã được triển khai từ năm 2014 Chủ đề hội thảo được tập trung vào các nội dung: những vấn đề chung, lý luận về Phật học, văn hóa Phật giáo Việt Nam; tìm hiểu,
Trang 29bảo tồn và phát huy đặc trưng văn hóa Phật giáo Việt Nam thông qua: pháp phục,
ngôn ngữ, kiến trúc và di sản
Trên các báo, tạp chí chuyên ngành cũng có nhiều bài viết tập trung nghiên cứu vấn đề bảo tồn văn hóa Phật giáo như: Nguyễn Quế Hương và Nguyễn Ngọc Quỳnh (2005) “Về công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích Phật giáo trong những năm gần đây” [83], Nguyễn Hữu Oanh (2009) “Bảo vệ, phát huy văn hóa Phật giáo một nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết” [127]… Các bài viết trên đều thống nhất về quan điểm bảo tồn văn hóa Phật giáo một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, ở các mức
độ và khía cạnh khác nhau, từng bước nhận diện và đánh giá sự cấp thiết trong việc gìn giữ, phát huy những giá trị của văn hóa Phật giáo
1.1.3 Các công trình nghiên cứu về vai trò của sư trụ trì trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo
Vai trò của các sư tăng nói chung, sư trụ trì nói riêng trong lịch sử phát triển Phật giáo Việt Nam và trong việc kiến thiết, bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG là
chủ đề nhận được sự quan tâm của một số nhà nghiên cứu Thiền sư Việt Nam của
Hòa thượng Thích Thanh Từ [186] là công trình nghiên cứu về lịch sử cuộc đời các thiền sư tiêu biểu của Việt Nam trước thế kỷ XVIII, nêu lên những đóng góp tích cực của các thiền sư trong việc phát triển tư tưởng, đạo đức Phật giáo Việt Nam
Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ XX gồm 2 tập, tập hợp các nghiên cứu về
lịch sử cuộc đời các danh tăng tiêu biểu của Việt Nam trong giai đoạn cận đại, những nhân vật có những đóng góp trong việc chấn hưng và phát triển Phật giáo Việt Nam Trong mỗi tiểu sử của các danh tăng đều trình bày đầy đủ về danh hiệu, tục tính, nơi sinh, nơi chùa trụ trì, ngày tháng năm thị tịch, tuổi thọ, hạ lạp, tháp hiệu và tổng quan về sự nghiệp hoằng đạo, truyền đạo, góp phần giúp người đọc có thể hình dung về toàn cảnh mạch sống của Phật giáo Việt Nam thế kỷ XX [13]
Công trình Văn minh Đại Việt của Nguyễn Duy Hinh đã giới thiệu một số
thiền sư tiêu biểu qua các thời kỳ Lý, Trần, Lê, Nguyễn như: Vạn Hạnh, Trần Cảnh, Trúc Lâm Đệ nhất Tổ Trần Khâm, Thủy Nguyệt… để nhấn mạnh sự phát triển của
Phật giáo Đại Việt [67] Tác giả Nguyễn Bích Ngọc trong các nghiên cứu Nhà Lý
Trang 30trong văn hóa Việt Nam [117] và Nhà Trần trong văn hóa Việt Nam [118] cũng đã
khái quát vai trò của các thiền sư với tư cách là những nhà văn hóa lớn trong giai đoạn Lý - Trần
Các công trình Phật giáo đời Lý [195], và Phật giáo đời Trần [196] của Viện
Nghiên cứu Phật học Việt Nam đều là tập hợp những bài viết về Phật giáo thời Lý
và Trần, giới thiệu về thân thế, sự nghiệp của các thiền sư Việt Nam; Vai trò của Phật giáo trong các triều đình với các chức danh chính thức như Quốc sư, Tăng lục
và Ký lục được đặt trong triều Lý; Sự tham gia của các thiền sư vào các công việc triều chính; Các chuyến du hành sang Ấn Độ và Trung Quốc tìm Phật pháp của các thiền sư; Biên soạn lại và truyền bá trong nước các sách kinh điển Phật giáo; Những
tư tưởng thế giới quan, nhân sinh quan, đạo đức của Phật giáo và sự nội địa hóa những tư tưởng đó cho phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam; Xây dựng chùa chiền, kiến trúc, âm nhạc và văn hóa Phật giáo ở Việt Nam
Lược sử Phật giáo Việt Nam của Thích Minh Tuệ đã khái quát một bức tranh
tổng quan về lịch sử Phật giáo Việt Nam, trong đó đề cập đến các thiền sư có vai trò nổi bật, có nhiều đóng góp cho lịch sử Việt Nam Tác giả cho rằng: “Với tinh thần
“nhập thế”, thiền sư tham dự các mặt hoạt động của đất nước, nhân dân Kể từ các triều đại từ Đinh, Lê, Lý, Trần trở về sau, tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam vô cùng rõ nét Các nhà tu vừa là thiền sư, vừa là nghệ sĩ, vừa là nhà chính trị ngoại giao, vừa là người nông dân chít khăn mỏ quạ, xuống đồng cày cấy…” [183,
tr 476-477]
Trong giai đoạn hiện nay, các nội dung về sư trụ trì cũng được nghiên cứu
trên nhiều khía cạnh khác nhau Công trình GHPGVN từ 1986 đến nay, tác giả
Nguyễn Thị Minh Ngọc đã có những thống kê về số lượng bổ nhiệm, bồi dưỡng trụ trì qua các nhiệm kỳ của GHPGVN Theo tác giả: “Lựa chọn bổ nhiệm trụ trì cho các chùa là một trong những nhiệm vụ quan trọng… Hiện tượng tranh giành trụ trì những chùa ở những thành phố lớn, vị trí giao thông thuận tiện, những chùa danh tiếng, những chùa có khả năng mang lại nguồn lợi kinh tế cao… vẫn còn xảy ra” [120, tr 148-149]
Trang 31Sự tham gia của Phật giáo vào công tác xã hội là đề tài nghiên cứu cấp Đại
học Quốc gia Hà Nội do tác giả Nguyễn Hồi Loan làm Chủ nhiệm (2013) [102] Đề tài đã thực hiện khảo sát công tác tham gia làm từ thiện của sư trụ trì một số địa phương ở Hà Nội, Hải Dương, Bắc Ninh Ngoài ra, vai trò của sư trụ trì nói riêng, chức sắc tôn giáo nói chung cũng được đề cập khái quát trong các luận văn, luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành tôn giáo học với đề tài Đạo đức Phật giáo đối với văn hóa đạo đức người dân quận Long Biên, Hà Nội của tác giả Phan Thị Lan (Thích
Đàm Lan) đã đề cập đến các hoạt động của sư trụ trì trong việc tổ chức các nghi lễ,
đại lễ Phật Đản, Vu Lan, các hoạt động từ thiện, nhân đạo [97] Các luận văn: Hoạt động từ thiện xã hội của GHPGVN hiện nay (2010) [130], Vai trò của sư sãi Phật giáo Nam tông trong đời sống xã hội của người Khmer ở thành phố Cần Thơ hiện nay (2014) [73], Hoạt động của chức sắc Phật giáo tỉnh Quảng Nam hiện nay (2015) [166], Công tác vận động sư sãi Phật giáo Nam Tông Khmer trên địa bàn tỉnh Trà Vinh hiện nay (2014) [91], Công tác vận động chức sắc tôn giáo ở tỉnh Phú Yên hiện nay (2015) [182] …; Đề tài độc lập cấp Nhà nước: Phật giáo Việt Nam trong đời sống văn hóa và xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ đổi mới
của tác giả Nguyễn Phúc Đàn (2017) đều có những sự tiếp cận khái quát về các hoạt động của chức sắc Phật giáo nói chung, sư trụ trì nói riêng trong việc bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG [33]
Về vai trò của sư trụ trì trong bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG, trong nghiên cứu của mình, nhà nghiên cứu Đặng Văn Bài đưa ra vấn đề là sự nhầm lẫn trong việc phân biệt chủ sở hữu thực sự của các ngôi chùa Phật, và vấn đề này cần được làm rõ Theo tác giả, chùa thờ Phật thuộc sở hữu của toàn dân, sau nữa là của cộng đồng cư dân địa phương Nhà sư trụ trì là người được cộng đồng trao cho coi sóc ngôi chùa mà không phải chủ sở hữu [4, tr 11] Thực tế hiện nay đang tồn tại hai hiện tượng trái ngược nhau trong thái độ ứng xử với ngôi chùa thờ Phật Ở một
số địa phương, tăng ni, Phật tử không chủ động tham gia bảo vệ và phát huy DSVHPG mà còn ỷ lại, trông chờ ngân sách Nhà nước Ngược lại, ở những nơi vận động được công đức do Phật tử đóng góp, lại tự ý sửa chùa không theo hướng dẫn
Trang 32chuyên môn của cơ quan quản lý Nhà nước về văn hóa, dẫn đến làm sai lệch, biến dạng yếu tố gốc, giá trị cơ bản của ngôi chùa Đó là một thiếu sót cần được khắc phục ngay một cách nghiêm túc [4, tr 12] Thứ hai, muốn bảo vệ và phát huy giá trị DSVHPG cần có kế hoạch cụ thể đào tạo nguồn nhân lực bảo tồn di sản mà trước hết là đào tạo các tăng ni, Phật tử Những người thực hành Phật đạo không chỉ cần nắm vững giáo lý đạo Phật, biết cách hướng dẫn tu tập cho Phật tử mà còn phải được đào tạo, có đủ những năng lực cần thiết để làm lành mạnh các sinh hoạt Phật giáo [4, tr 12]
Thông qua quá trình tổng quan tài liệu nghiên cứu, chúng ta nhận thấy Phật giáo là một đề tài hấp dẫn, thu hút các nhà quản lý và nhà khoa học Trong nhiều năm trở lại đây, cùng với DSVH nói chung, thì việc nghiên cứu và xác định giá trị DSVHPG đặt trong bối cảnh đương đại cũng nhận được nhiều sự quan tâm Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây về nội dung này vẫn thiếu một cái nhìn quản lý về vai trò của các chủ thể, đặc biệt, vai trò của sư trụ trì đối với vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị DSVHPG đặt trong mối tương quan với các chủ thể khác Cùng với đó,
từ việc xác định vai trò của sư trụ trì đến việc xác định trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi về mặt quản lý cũng chưa được đề cập đến Những vấn đề này các công trình đi trước chưa tiếp cận sẽ được NCS tiếp tục tìm hiểu, phân tích trong phạm vi của luận
án Các nghiên cứu của những học giả đi trước sẽ là nguồn tư liệu quan trọng, có nhiều ý nghĩa để NCS tham khảo, kế thừa nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu của luận án
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Các khái niệm công cụ
1.2.1.1 Di sản văn hóa
Luật DSVH (ban hành năm 2001, bổ sung năm 2009) đã khẳng định DSVH
là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của DSVH nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta;
là “sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu
Trang 33truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [138, tr 8]
DSVH bao gồm DSVH phi vật thể và DSVH vật thể DSVH phi vật thể, theo Điều 4 của Luật này là “sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức
về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc
và những tri thức dân gian khác” [138, tr 8-9]; DSVH vật thể là “sản phẩm vật chất
có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [138, tr 9]
Cùng với DSVH vật thể, DSVH phi vật thể, trong hệ thống DSVH còn có một loại hình DSVH quan trọng nhưng chưa được đề cập đến trong Luật DSVH của
Việt Nam là di sản tư liệu Di sản tư liệu, theo định nghĩa của UNESCO, một tư liệu
là những thông tin được lưu giữ lại với giá trị về mặt trí tuệ có chủ đích Một tư liệu được đề cập gồm hai thành phần: nội dung thông tin và sự xác nhận về sự ghi chép thông tin đó Cả hai yếu tố này có thể bao gồm nhiều loại hình khác nhau và chúng
có tầm quan trọng như nhau của những ký ức [240] Được tạo ra trong các khuôn khổ hoạt động của con người, những tư liệu có thể là những biểu tượng/ký hiệu có những điểm đặc trưng liên quan đến tập hợp ký ức của một cộng đồng, quốc gia, dân tộc hoặc xã hội Thông qua sự xác nhận về mặt thông tin và nội dung thông tin, các tư liệu đã phản ánh sự đa dạng của dân tộc, văn hóa và ngôn ngữ, và trở thành một bộ phận của di sản nhân loại Theo sự hướng dẫn của chương trình Ký ức thế giới, những di sản tư liệu bao gồm những thành phần sau: sự cơ động/lưu động; gồm: những ký hiệu/mật mã, âm thanh và/hoặc hình ảnh; Có thể tái sản xuất/mô phỏng lại
và vận chuyển; là kết quả của quá trình tư liệu hóa có chủ đích Cách phân loại này đã loại bỏ những yếu tố là một phần của một cấu trúc cố định (như di tích công trình hoặc tự nhiên), những hiện vật là những ký hiệu/mật mã nhưng là thành phần thứ yếu
Trang 34trong chức năng của các yếu tố đó hoặc một phần/mảnh được coi là nguyên bản nhưng không thể phục hồi, như tác phẩm nghệ thuật [240]
1.2.1.2 Di sản văn hóa Phật giáo
Phật giáo là một tôn giáo lớn và có vị trí đặc biệt đối với lịch sử dân tộc cũng như đời sống văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm (khoảng thế kỷ thứ III TCN), qua con đường hòa bình Tư tưởng của Phật giáo có nhiều nét phù hợp với đời sống văn hóa dân gian của người Việt Bên cạnh đó, Phật giáo Việt Nam gắn bó sâu sắc với lịch sử dân tộc: các nhà thiền sư có vai trò quan trọng cho việc sáng lập vương triều Lý; Phật giáo cũng phát triển tới đỉnh cao và trở thành bệ đỡ tư tưởng xã hội vào thời đại Lý - Trần (thế kỷ
XI - XIV); Các tăng ni, Phật tử đóng vai trò to lớn đối với sự nghiệp đấu tranh chống giặc ngoại xâm, đặc biệt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Tuy nhiên, theo khách quan, Phật giáo khi vào xã hội Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng của văn hóa bản địa và biến đổi một số mô thức nhằm phù hợp với đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của người Việt Điều này, đã làm cho Phật giáo càng tạo ra được sợi dây gắn kết, gần gũi với văn hóa Việt Nam và trở thành một bộ phận quan trọng của DSVH dân tộc
Căn cứ theo các khái niệm đã được nêu ở trên, chúng ta có thể xác định được DSVHPG là loại hình DSVH hỗn hợp bao gồm các sản phẩm vật thể, phi vật thể, tư liệu có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học; gắn với quá trình hình thành, phát triển của Phật giáo ở Việt Nam DSVHPG của Việt Nam gồm những yếu tố sau: về DSVH vật thể (ngôi chùa, hệ thống tượng Phật, cổ vật của ngôi chùa/cơ sở thờ tự…); về DSVH phi vật thể (hệ thống tư tưởng; nghi lễ, lễ hội; âm nhạc, nghệ thuật…); về di sản tư liệu (mộc bản, văn bia…)
Trang 35những đóng góp to lớn cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam… [45] Phật giáo với hệ thống giáo lý “Tứ diệu đế”, “Lục hòa”, “Bát nhã” góp phần hướng con người đến các giá trị chân - thiện - mỹ
+ Về nghi lễ Phật giáo: Có khá nhiều các nghi lễ tồn tại, gắn bó với văn hóa Việt Nam nằm trong hệ thống văn hóa Phật giáo như: các nghi lễ hàng ngày, các đại
lễ Phật giáo (lễ Phật Đản, lễ Vu Lan…); các nghi lễ theo nhu cầu của Phật tử (cầu
an, giải hạn, gửi vong lên chùa, lễ hằng thuận, cầu siêu…)
+ Lễ hội chùa: tại một số làng quê, địa phương có tổ chức hội chùa, nổi tiếng như: lễ hội chùa Hương, lễ hội chùa Yên Tử, lễ hội chùa Keo, lễ hội chùa Thầy, lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm, lễ hội chùa Bổ Đà…
+ Về di tích và hệ thống tượng Phật: Di tích, chủ yếu là ngôi chùa thờ Phật trở thành một bộ phận quan trọng trong cấu trúc văn hóa của làng quê Việt Nam Bên cạnh chức năng phục vụ nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân, ngôi chùa Việt còn là một sản phẩm thuộc về tâm thức, tình cảm của người dân làng xã Đặc biệt, nhiều ngôi chùa được xây dựng ở những vị trí có cảnh quan đẹp, tạo sự hấp dẫn về mặt không gian, phục vụ nhu cầu tham quan, thưởng lãm của du khách Cùng với đó, hệ thống tượng Phật trong những ngôi chùa ở Việt Nam vô cùng sinh động, bất kỳ pho tượng nào cũng là một tác phẩm điêu khắc nghệ thuật, phản ánh suy nghĩ, tâm tưởng của chúng sinh
Ở khu vực phía Bắc, trong lịch sử phát triển của các ngôi chùa, có 3 trường hợp: Thứ nhất, chùa làng (do làng gom góp mời sư trụ trì, chủ sở hữu là làng, đồng quản lý là sư trụ trì và làng); Thứ hai, chùa của sơn môn, hệ phái (chùa hệ phái xây dựng, theo phương pháp kế truyền, quản lý là sư trụ trì, không liên quan đến làng, cộng đồng không phải là người quản lý, sở hữu của chùa); Thứ ba, chùa do sư trụ trì
tự xây dựng dựa vào công quả của Phật tử, nhà hảo tâm, sư trụ trì vừa là chủ, vừa là quản lý ngôi chùa
+ Ngoài ra, chúng ta cũng có thể chỉ ra một số DSVH thuộc về Phật giáo khác, như: âm nhạc Phật giáo, kiến trúc nghệ thuật, hệ thống tri thức của nhà Phật, giá trị về cổ vật… Tất cả những yếu tố DSVHPG này đều có ý nghĩa quan trọng
Trang 36trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng của làng xã, các tín đồ Mặt khác, hệ thống DSVHPG có thể trở thành một nguồn lực phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương nếu chúng ta có kế hoạch, xây dựng chính sách bảo tồn, phát huy một cách
có hiệu quả
Di sản văn hóa Phật giáo thuộc các ngôi chùa đề tài khảo sát
Nhìn nhận DSVHPG gồm các yếu tố văn hóa vật thể, phi vật thể và tư liệu như trình bày ở trên thì tại 11 ngôi chùa ở miền Bắc Việt Nam: gồm các chùa Vĩnh Nghiêm, Bổ Đà (tỉnh Bắc Giang); chùa Phật Tích, Tây Am (tỉnh Bắc Ninh); chùa Hương, chùa Bằng, chùa Tảo Sách, chùa Diên Phúc, chùa Trăm Gian, chùa Đồng Vàng, chùa Quýt (Hà Nội) - nơi các nhà sư đang trụ trì có một hệ thống DSVHPG phong phú, đa dạng
Về DSVH vật thể: Ngôi chùa là DSVH vật thể tiêu biểu của DSVHPG, được
biểu hiện qua kiến trúc, cảnh quan, không gian chùa… Chùa Vĩnh Nghiêm thuộc địa phận xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, được xây dựng thế kỷ XIII,
là trung tâm Phật giáo lớn nhất vào thời Trần, nơi ba vị Trúc Lâm Tam tổ là Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang từng trụ trì và mở trường thuyết pháp Kiến trúc chùa gồm các hạng mục chính: tam quan, tiền đường, thượng điện, nhà tổ đệ nhất, gác chuông, nhà tổ đệ nhị, tăng phòng, các công trình phụ, vườn tháp Năm
2015, chùa được Nhà nước công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt
Chùa Bổ Đà thuộc địa phận xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang có kiến trúc độc đáo và khác biệt so với các ngôi chùa ở miền Bắc Việt Nam, đó là kiến trúc “nội thông ngoại bế” tạo vẻ u tịch, thanh vắng, xung quanh được bao bọc bởi núi đồi, làng xóm, cách biệt với không gian bên ngoài Chùa có gần một trăm gian liên hoàn được xây dựng bằng các vật liệu như gạch nung, ngói, tiểu sành Các bức tường, cổng và một số công trình khác được làm hoàn toàn bằng đất nện theo lối trình tường Vườn tháp chùa Bổ Đà được bố trí theo những quy định riêng
và rất chặt chẽ của thiền môn, với gần 100 ngôi tháp lưu xá lị, tro cốt của các vị tăng ni Năm 2016, chùa được Nhà nước công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt
Trang 37Chùa Phật Tích thuộc huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, được xây dựng từ thời
Lý Chùa có lối kiến trúc “nội công ngoại quốc”, gồm 7 gian tiền đường, 5 gian tam bảo, 8 gian nhà tổ và 7 gian thờ thánh Mẫu Sau sân nền của chùa có các ngọn tháp được xây dựng từ thế kỷ XVII, nơi cất giữ xá lị của các nhà sư từng trụ trì tại chùa Năm 2014, chùa Phật Tích được Nhà nước công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt
Chùa Hương nằm ở xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội với nhiều công trình kiến trúc dọc suối Yến, trong đó tiêu biểu có chùa Thiên Trù, chùa Hương Tích… Năm 2018, chùa được Nhà nước công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt
Chùa Tây Am thuộc phường Đồng Kỵ, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, là ngôi
chùa nổi tiếng vùng Kinh Bắc gắn với nhiều sự kiện lịch sử của Việt Nam Chùa
gồm có các công trình như: Gác chuông, tam bảo, hậu đường, nhà tổ, nhà khách, vườn tháp, hệ thống tượng thờ phong phú Đây cũng là cơ sở hoạt động cách mạng quan trọng trong thời kỳ Tiền khởi nghĩa (1940-1945), với sự tham gia tích cực của
sư trụ trì
Chùa Bằng thuộc phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai (Hà Nội) được xây
dựng từ thời Hậu Lê, gồm một số công trình kiến trúc nghệ thuật như tòa tam bảo, nhà Tổ, nhà Mẫu, Khu Tháp Tổ Đặc biệt, trong khuôn viên chùa có tháp Báo Ân với chiều cao 54,66m (tính từ mặt tháp lên ngọn tháp), đạt kỷ lục Tháp Phật giáo cao nhất Việt Nam năm 2007 Năm 2010, tháp xác lập kỷ lục Việt Nam lần hai với tiêu chí tháp có nhiều tượng Phật bằng đồng nhất Việt Nam (có 104 tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni bằng đồng ngồi trên bệ đá)
Chùa Trăm Gian thuộc xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, Hà Nội Theo một số tài liệu, chùa được xây dựng từ thời Lý Cao Tông (1176-1210) Chùa có 3 cụm kiến trúc chính: Cụm thứ nhất ở cửa vào, gồm 2 quán; Cụm thứ hai là tòa gác chuông có hai tầng mái, tầng trên treo quả chuông đồng đúc năm Cảnh Thịnh thứ hai (1794); Cụm thứ ba là ngôi chùa chính, gồm bái đường, nhà thiêu hương và thượng điện Ngoài ra các ngôi chùa khác như chùa Tảo Sách, chùa Diên Phúc, chùa Đồng Vàng, chùa Quýt… cũng là những công trình kiến trúc đặc sắc, góp phần tạo nên diện mạo đa dạng, phong phú của di tích Phật giáo Việt Nam
Trang 38Mặt khác, các ngôi chùa kể trên hiện còn lưu giữ được nhiều hiện vật, cổ vật quý có giá trị lớn về mặt văn hóa, lịch sử, kiến trúc và mỹ thuật, phản ánh lịch sử phát triển của Phật giáo Việt Nam Tiêu biểu tại chùa Phật Tích có tượng đức Phật bằng đá thời nhà Lý lớn nhất Việt Nam còn được lưu giữ tới ngày nay Ngoài ra, nhiều tác phẩm điêu khắc thời nhà Lý còn được giữ tại chùa cho đến nay như 10 tượng thú bằng đá cao 10m, gồm sư tử, voi, tê giác, trâu, ngựa, mỗi loại hai con, nằm trên bệ hoa sen tạc liền bằng những khối đá lớn Ở chùa còn có những di vật thời Lý khác như đá ốp tường, đấu kê trên đó chạm khắc các hình Kim Cương, Hộ pháp, thần điểu, các nhạc công, vũ nữ… Tại chùa Bổ Đà có hệ thống tượng Phật, cây đèn bằng gỗ thời Lê; 1 choé cao 0,60m, 1 lọ độc bình, 1 quả chuông đồng cao 1m, đường kính 0,60m có niên hiệu Tự Đức… Chùa Bằng có 18 pho tượng La Hán thẳng hàng được kiến trúc theo dáng mẫu của các vị La Hán chùa Tây Phương (Hà Nội) Tiếp đó là Quan Âm viên, được tôn trí bởi 45 pho tượng được làm bằng đá trắng cùng kích cỡ, thể hiện tinh hoa văn hóa của nghệ thuật tạc tượng Việt Nam;
Chùa Trăm Gian có hơn 150 pho tượng, phần lớn bằng gỗ, một ít đắp bằng đất…
thể hiện sự phong phú, đa dạng về DSVH vật thể của Phật giáo Việt Nam
Về DSVH phi vật thể tiêu biểu nhất là các lễ hội chùa Chùa Hương khai hội
vào ngày mồng sáu tháng Giêng và kéo dài đến hạ tuần tháng 3 âm lịch, là một trong những lễ hội chùa kéo dài và lớn nhất nước ta Vào dịp lễ hội, hàng triệu phật
tử cùng du khách khắp cả nước về trẩy hội chùa Hương - nơi được lưu truyền trong dân gian là có Bồ Tát Quan Thế Âm ứng hiện tu hành Tại lễ hội chùa Hương còn diễn ra các sinh hoạt văn hóa như bơi thuyền, leo núi, hát chèo, hát văn… Lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm được tổ chức vào ngày 14 tháng 2 âm lịch hàng năm tại chùa Vĩnh Nghiêm Đây là một lễ hội lớn trong vùng, với nhiều làng, xã tham gia; phản ánh ảnh hưởng to lớn của Phật giáo trong đời sống xã hội, đặc biệt là sự sùng bái của nhân dân địa phương đối các vị tam Tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là Giác hoàng Điều ngự Trần Nhân Tông - Thiền sư Pháp Loa và Thiền sư Huyền Quang Hội chùa Bổ Đà được tổ chức từ ngày 16 đến ngày 18 tháng 2 âm lịch hàng năm, thu hút sự tham gia đông đảo của người dân quanh vùng và du khách thập
Trang 39phương Hội chùa Phật Tích diễn ra từ ngày mồng 4 đến mồng 5 tháng Giêng âm lịch, gắn với huyền tích về câu chuyện Từ Thức gặp tiên…
Về di sản tư liệu: Hiện nay, tại các ngôi chùa còn lưu giữ được nhiều di sản
tư liệu quý giá, có ý nghĩa lớn về mặt lịch sử, văn hóa Trong đó, tiêu biểu là kho mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm và chùa Bổ Đà Kho mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm gồm
34 đầu sách với gần 3.000 bản khắc, mỗi bản có hai mặt, mỗi mặt 2 trang sách (âm bản) khoảng 2.000 chữ Nôm, chữ Hán, thể hiện tư tưởng của Phật phái Trúc Lâm
Kho mộc bản chùa Bổ Đà gồm 2.000 bản khắc, nội dung đề cập đến nét đặc trưng
của Phật giáo Trung Quốc khi truyền vào Việt Nam kết hợp với văn hóa bản địa đã
có những sự thay đổi để thích nghi Trọng tâm của bộ kinh nói đến nỗi khổ của con người và sự giải thoát Phần nội dung trong kinh Tứ Diệu Đế có nêu rõ 4 chân lý kỳ diệu của đạo Phật gồm: Khổ đế, Nhân đế, Diết đế và Đạo đế… Trên các mộc bản không chỉ có văn tự mà còn có nhiều hình ảnh chạm khắc rất tinh xảo như hình ảnh Đức Phật Thích Ca tọa trên đài sen, Quán Thế Âm Bồ Tát, các vị La Hán… Năm
2012, mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm đã được UNESCO vinh danh là di sản tư liệu khu vực châu Á - Thái Bình Dương Năm 2017, mộc bản chùa Bổ Đà được nhà nước công nhận là bảo vật Quốc gia
1.2.1.3 Giá trị và giá trị di sản văn hóa Phật giáo
Khái niệm giá trị, “theo cách mô tả chúng ta có thể nói rằng, tất cả những gì
ích lợi, đáng ham chuộng hoặc đáng kính phục đối với con người hoặc nhóm, đều là
có một giá trị” [88, tr 173]; “là những quan niệm thầm kín hay bộc lộ về các điều
ao ước riêng của cá nhân hay của nhóm Những quan niệm ấy chi phối sự lựa chọn các phương thức, phương tiện và mục tiêu của hành động” [49]; “là cái quy định mục đích của hoạt động và động cơ thúc đẩy hoạt động đạt được mục đích đó” [61]
Bên cạnh đó, cũng có thể hiểu:
Giá trị là hệ thống những đánh giá mang tính chủ quan của con người
về bất cứ một hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy theo hướng những cái đó là cần, là tốt, là hay, là đẹp, nói theo cách của các nhà triết học phương Tây một thời, đó chính là chân, thiện, mỹ, giúp khẳng định và
Trang 40nâng cao bản chất người Một khi những nhận thức giá trị ấy đã hình thành và định hình thì nó chi phối cách suy nghĩ, niềm tin, hành vi, tình cảm của con người [157, tr 22]
Giá trị DSVH:
Là một bộ phận của giá trị văn hóa, là yếu tố cốt lõi của một DSVH được sáng tạo và kết tinh trong quá trình lịch sử của mỗi cộng đồng, tương ứng với môi trường tự nhiên và xã hội nhất định Cũng như giá trị văn hóa, giá trị DSVH hướng đến thỏa mãn những nhu cầu và khát vọng của cộng đồng về những điều tốt đẹp (chân, thiện, mỹ), từ đó bồi đắp và nâng cao bản chất người, góp phần điều tiết sự phát triển xã hội [157, tr 23]
Nói đến giá trị DSVH chính là nói tới yếu tố nội tại, tổng hòa, định hình nên đặc điểm, tính đặc thù của DSVH đó, bao gồm cả giá trị về mặt vật thể và phi vật thể Bên cạnh đó, văn hóa luôn vận động, biến đổi với xã hội, chính vì vậy, hệ giá trị của văn hóa nói chung cũng cần được nhìn nhận một cách tương đối, không phải
là một thứ “bất biến” Mọi sự vật đều có thể có những giá trị riêng khi được cá nhân, xã hội thừa nhận, gắn với nhu cầu trong đời sống của họ Theo cách hiểu này thì giá trị của một sự vật, hiện tượng mang tính chủ quan của con người và xã hội cụ thể, ngược lại, khi những hệ giá trị đó được hình thành (được con người, xã hội thừa nhận) thì nó sẽ chi phối trở lại về suy nghĩ, hành vi, niềm tin của con người trong xã hội đó
Từ đây ta có thể hiểu, giá trị DSVHPG là một bộ phận của giá trị DSVH dân tộc gắn liền trực tiếp với những cộng đồng cụ thể là những chức sắc, tín đồ của Phật giáo nói riêng, cộng đồng nói chung Ngoài ra, Phật giáo Việt Nam có sự gắn kết chặt chẽ với tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam, văn hóa Phật giáo hòa đồng, giao thoa với văn hóa dân tộc Chính vì lẽ đó, nhiều giá trị tốt đẹp của văn hóa Phật giáo trở thành một phần trong giá trị văn hóa dân tộc Trong bối cảnh xã hội hiện nay, văn hóa Phật giáo vẫn đang đóng góp những giá trị, đồng hành với sự phát triển chung của xã hội Việt Nam