1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Sự kế thừa và phát triển nghệ thuật chèo truyền thống của tào mạt trong bộ ba chèo bài ca giữ nước

189 158 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 189
Dung lượng 2,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệm vụ nghiên cứu - Tổng quan những công trình nghiên cứu về nghệ thuật Chèo nói chung, về Tào Mạt và tác phẩm sân khấu của ông nói riêng, trong đó nêu bật những đặc trưng cơ bản của

Trang 1

Nguyễn Thị Thanh Nga

SỰ KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN NGHỆ THUẬT CHÈO TRUYỀN THỐNG CỦA TÀO MẠT

TRONG BỘ BA BÀI CA GIỮ NƯỚC

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT

Hà Nội – 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

-

Nguyễn Thị Thanh Nga

SỰ KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN NGHỆ THUẬT CHÈO TRUYỀN THỐNG CỦA TÀO MẠT

TRONG BỘ BA BÀI CA GIỮ NƯỚC

Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Sân khấu

Mã số: 9210221

Người hướng dẫn khoa học: GS TS Lê Thị Hoài Phương

Hà Nội – 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ Sự kế thừa và phát triển nghệ thuật

Chèo truyền thống của Tào Mạt trong bộ ba Bài ca giữ nước là công trình

nghiên cứu do tôi viết dưới sự hướng dẫn của GS.TS Lê Thị Hoài Phương Các kết quả nghiên cứu được trích dẫn trong luận án là trung thực và có xuất

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Viết tắt Viết đầy đủ

Trang 5

QUY ƯỚC VỀ CÁCH GỌI TÊN TÁC PHẨM BÀI CA GIỮ NƯỚC

Tác phẩm sân khấu Bài ca giữ nước của cố NSND Tào Mạt bao gồm ba

vở Chèo liên hoàn, được sáng tác từ cuối năm 1979, đến 1985 có sửa chữa

Từ khi ra đời cho đến nay, tác phẩm Bài ca giữ nước được viết, nói đến với nhiều cách có khác nhau: “bộ ba vở Chèo Bài ca giữ nước”, “bộ Chèo ba

vở Bài ca giữ nước”, “bộ ba Chèo Bài ca giữ nước”, “bộ ba Bài ca giữ nước”, có người chỉ gọi đơn giản là “Bài ca giữ nước” Về cách viết, có

người để tên tác phẩm trong ngoặc kép “Bài ca giữ nước” (in nghiêng hoặc

không in nghiêng), có người chỉ viết Bài ca giữ nước (không có ngoặc kép, in nghiêng) Tất cả cách viết và nói này không có gì sai, và dù theo cách nào thì người đọc, người nghe đều hiểu đây là tác phẩm Chèo Bài ca giữ nước của

tác giả Tào Mạt, bao gồm ba vở:

- Lý Thánh Tông chọn người tài (tên khác là: Lý Thánh Tông tuyển hiền);

- Ỷ Lan coi việc nước (tên khác là: Nhiếp chính Ỷ Lan);

- Lý Nhân Tông học làm vua (tên khác là: Lý Nhân Tông kế nghiệp)

Để phù hợp với quy cách trình bày của một luận án tiến sĩ, cần có cách gọi thống nhất, tác giả luận án xin chọn cách dùng như sau

1 Về tên của tác phẩm: Tác giả luận án sử dụng thống nhất cụm từ:

“bộ ba Chèo Bài ca giữ nước”, bởi các lý do sau:

- Tên gọi “bộ ba Chèo” do chính tác giả Tào Mạt đã dùng, được Thanh

Mai ghi lại trong bài “Mấy điều tâm sự”, in trong tập Tào Mạt - Những lời tâm huyết, do Nxb Sân khấu in năm 1992 [34, tr 94 – 98]

- Năm 1995, Nxb Sân khấu xuất bản sách Tào Mạt – Tác phẩm chọn

lọc [35], cũng dùng cụm từ “Bộ ba Chèo”

- Năm 2003, Nxb Sân khấu xuất bản cuốn Tác phẩm được Giải thưởng Hồ Chí Minh Tào Mạt, Đỉnh cao phía trước, Bộ ba Chèo Bài ca giữ nước [36]

Trang 6

Riêng trong tên của luận án, để tránh sự trùng lặp phải dùng chữ

“Chèo” hai lần, nên tác giả luận án phải viết là “ bộ ba Bài ca giữ nước”

2 Về tên gọi của ba vở trong bộ ba Chèo Bài ca giữ nước

Tên gọi của ba vở trong bộ ba Chèo Bài ca giữ nước được in trong các

sách xuất bản năm 1995 và 2003 là những tên gọi ban đầu, do chính tác giả Tào Mạt đặt tên Đó là các vở:

1 Lý Thánh Tông chọn người tài

2 Ỷ Lan coi việc nước

3 Lý Nhân Tông học làm vua

Sau khi ra mắt, vì lý do nhạy cảm chính trị, tác giả và lãnh đạo Đoàn Nghệ thuật Tổng cục Hậu cần phải đổi tên (là những tên khác, đã ghi ở trên)

để đi tham gia Hội diễn Sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc 1980 và 1985 Vở diễn đi tham dự Hội diễn Sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc 1980 là tập 1 và

tập 2 gộp lại, lấy tên là Nhiếp chính Ỷ Lan Vở tham dự Hội diễn Sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc 1985 là tập 3 – Lý Nhân Tông học làm Vua, nhưng đổi tên là Lý Nhân Tông kế nghiệp

Nhưng đến khi xuất bản năm 1995, cũng như sau khi tác phẩm được Giải thưởng Hồ Chí Minh và in thành sách thì tên của 3 vở trong bộ ba Chèo

Bài ca giữ nước được lấy lại tên ban đầu do tác giả đặt

Vì những lý do trên, trong luận án này, tác giả luận án thống nhất sử dụng các tên gọi ban đầu của 3 vở, do tác giả Tào Mạt đặt và như các sách đã xuất bản Chỉ trong trường hợp cần thiết, để đảm bảo tính lịch sử của sự kiện, thì sẽ tùy bối cảnh mà sử dụng tên gọi nào cho phù hợp, hoặc khi trích dẫn của tác giả nào đó, thì tác giả luận án phải tôn trọng văn bản gốc, trích nguyên văn

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii

QUY ƯỚC VỀ CÁCH GỌI TÊN TÁC PHẨM BÀI CA GIỮ NƯỚC iii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 13

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 13

1.2 Cơ sở lý luận của đề tài 27

1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài 42

Tiểu kết 58

Chương 2 TÀO MẠT SÁNG TÁC VÀ DÀN DỰNG BỘ BA CHÈO BÀI CA GIỮ NƯỚC TRÊN CƠ SỞ KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN NGHỆ THUẬT CHÈO TRUYỀN THỐNG 60

2.1 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện và sắp trò trong kịch bản Chèo 60

2.2 Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật Hề 72

2.3 Sáng tác và sử dụng các làn điệu Chèo 80

2.4 Phương thức sáng tác, dàn dựng và nghệ thuật biểu diễn 90

Tiểu kết 98

Chương 3 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA TÀO MẠT VÀ BỘ BA CHÈO BÀI CA GIỮ NƯỚC 101

3.1 Những đóng góp về mặt chính trị - xã hội 101

3.2 Những đóng góp về mặt nghệ thuật cho sân khấu kịch hát Việt Nam 113

Tiểu kết 128

KẾT LUẬN 131

DANH MỤC NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 135

TÀI LIỆU THAM KHẢO 136

PHỤ LỤC 145

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong kho tàng NTBD vô cùng phong phú của Việt Nam, nghệ thuật Chèo và Tuồng là hai loại hình NTSKTT có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời từ hàng trăm năm trước Trải qua bao biến thiên thăng trầm của lịch sử dân tộc, cả nghệ thuật Tuồng và Chèo đều đã có những thời kỳ phát triển rực

rỡ cũng như có những giai đoạn bế tắc, mai một Theo quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội, cũng giống như mọi sự vật, hiện tượng, NTSKTT Tuồng và Chèo luôn có sự vận động để thích ứng với con người và xã hội ở các thời kỳ khác nhau Trong sự vận động ấy, có những yếu tố nghệ thuật được gìn giữ, lưu truyền và bồi đắp từ thế hệ này qua thế hệ khác, trở thành truyền thống tốt đẹp; song song với đó, có những yếu tố dần dần bị mai một,

bị thất truyền, hoặc bị biến đổi đến mức mất gốc do những cố gắng “cách tân” của các nghệ sĩ nhưng thiếu phương pháp khoa học Lịch sử tồn tại và phát triển của sân khấu Tuồng, Chèo cho thấy nhiều cuộc “thử nghiệm”, “cách tân” Tuồng, Chèo không đem lại kết quả như mong muốn

Riêng về nghệ thuật Chèo, ngay từ đầu thế kỷ XX đã có hai cuộc cách tân Chèo cổ: Lần cách tân thứ nhất bắt đầu vào khoảng năm 1907, 1908, kéo dài đến 1922, được người đương thời gọi là phong trào “Chèo Văn minh”; Lần cách tân thứ hai vào quãng năm 1924, được gọi là phong trào “Chèo Cải lương”, gắn với tên tuổi của “chủ soái” Nguyễn Đình Nghị Người ta ghi nhận một số thành công của Nguyễn Đình Nghị trong việc đã cố gắng đưa Chèo đến gần hơn với công chúng mới lúc bấy giờ, là tầng lớp tiểu tư sản và thị dân

ở các đô thị lớn Song, vì nhiều lý do, những cố gắng đó vẫn chưa làm cho Chèo có thể tồn tại và phát triển lâu dài ở đô thị được

Trang 9

Sau Cách mạng tháng Tám, nhất là đầu những năm 1960, với chủ trương phục hồi vốn cổ của Đảng và Nhà nước, NTSKTT được đặc biệt quan tâm, nhiều vở diễn truyền thống được phục hồi, chỉnh lý, nâng cao; bên cạnh

đó, nhiều vở mới được sáng tác, lấy đề tài phản ánh cuộc sống mới, con người mới Thực tế cho thấy, so với sân khấu Tuồng thì sân khấu Chèo có lợi thế hơn trong việc tiếp cận với công chúng mới, trong việc phản ánh cuộc sống hiện đại

Những năm 70, 80 của thế kỷ XX sân khấu Chèo xuất hiện xu hướng ra đời khá nhiều vở được gọi là “Chèo mới”, “Chèo hiện đại” Trong số những

vở “Chèo mới” ấy có một số vở thành công ở một số phương diện nào đó, bên cạnh đó có một số vở được gọi là “Kịch cắm ca” chứ không còn là Chèo nữa Trong quá trình tìm tòi hướng đi cho NTSKTT trong xã hội đương đại, có người đã đánh mất những giá trị quý báu của nghệ thuật truyền thống mà các thế hệ cha ông đã dày công tích lũy; Cũng có người có tâm, cố gắng tìm tòi một hướng đi, với mong muốn cải tiến để đem Chèo đến gần hơn với lớp khán giả mới, nhưng chưa thực sự có kết quả Trong bối cảnh của đất nước sau ngày thống nhất (1975), khi sân khấu truyền thống đứng trước sự cạnh tranh khốc liệt của nhiều loại hình nghệ thuật giải trí khác, sân khấu Chèo rơi vào khủng hoảng, mất phương hướng Hơn bao giờ hết, vấn đề bảo tồn, kế thừa và phát triển nghệ thuật Chèo như thế nào càng trở nên bức thiết

Trong bối cảnh ấy của sân khấu nước nhà, sự ra đời của bộ ba Chèo Bài

ca giữ nước của Tào Mạt (được ông sáng tác trong khoảng thời gian từ năm

1979 đến năm 1985) là một hiện tượng đáng mừng của những người làm Chèo và của công chúng khán giả yêu Chèo Mừng vì đây là một thành công rất đáng trân trọng, rất có giá trị trong công cuộc kế thừa và phát huy những giá trị đẹp đẽ của nghệ thuật Chèo cổ trong đời sống xã hội Việt Nam hiện

đại Bộ ba Chèo Bài ca giữ nước là sự minh chứng hùng hồn cho cái điều mà

Trang 10

nhiều người làm Chèo Việt Nam còn nghi ngờ, rằng: hoàn toàn có thể sáng tác và dàn dựng những vở “Chèo mới” vừa phản ánh được những vấn đề của thời đại, phù hợp với tư tưởng và thị hiếu thẩm mỹ của con người Việt Nam hiện đại, mà vẫn đậm đà chất Chèo truyền thống của cha ông, thậm chí làm cho nó hay hơn, hấp dẫn hơn

Bộ ba Chèo Bài ca giữ nước ra đời đã trở thành một hiện tượng trong

đời sống chính trị - xã hội và sân khấu của đất nước lúc bấy giờ Nhiều cuộc tọa đàm, hội thảo khoa học được tổ chức để giới chuyên môn bàn luận, đánh

giá, đúc rút kinh nghiệm từ bộ ba Chèo Bài ca giữ nước để lấy đó làm bài học

kinh nghiệm làm nghề, nhằm phát triển nghệ thuật Chèo trong xã hội Việt Nam hiện đại Cho đến nay, sau gần 30 năm đã trôi qua, nhu cầu nghiên cứu,

nhận định, đánh giá một cách toàn diện bộ ba Chèo Bài ca giữ nước hầu như

vẫn là điều được giới sân khấu, nhất là những người trong ngành Chèo, không ngừng quan tâm Đấy là lý do chính thôi thúc tác giả luận án chọn vấn đề

nghiên cứu Sự kế thừa và phát triển nghệ thuật Chèo truyền thống của Tào Mạt trong bộ ba Bài ca giữ nước làm đề tài luận án tiến sĩ của mình

Bên cạnh lý do trên, còn có một lý do mang tính chất cá nhân của tác giả luận án - vốn là một diễn viên từng có trên 18 năm (1991 – 2010) công tác tại Đoàn Chèo Tổng cục Hậu cần (nay là Nhà hát Chèo Quân đội) Năm 2002,

theo chủ trương của Bộ Quốc phòng, Nhà hát phục hồi cả 3 vở trong Bài ca giữ nước, tác giả luận án may mắn có cơ hội được phân công đóng vai cô Trinh (trong tập 1- Lý Thánh Tông chọn người tài), vai Hề Hoạn (trong tập 2:

Ỷ Lan coi việc nước), và vai hề Nhỡ (trong tập 3 – Lý Nhân Tông học làm vua) Tuy không có cơ may được làm việc trực tiếp với NSND Tào Mạt,

nhưng tác giả luận án đã được nghe rất nhiều câu chuyện thú vị và cảm động

do các nghệ sĩ đàn anh, đàn chị - thế hệ đầu tiên đã từng tham gia biểu diễn

trong Bài ca giữ nước, là những người đã được tác giả, đạo diễn Tào Mạt trực

Trang 11

tiếp rèn dạy, kể cho nghe về những ngày tháng tập luyện và biểu diễn bộ ba

Chèo Bài ca giữ nước dưới sự chỉ đạo của tác giả, đạo diễn Tào Mạt Nhờ đó,

tác giả luận án có cơ hội hiểu biết khá kỹ lưỡng về cách nghĩ, cách làm của

ông khi dàn dựng các vở Chèo trong bộ ba Bài ca giữ nước Những bài học

nghề nghiệp quý báu mà tác giả luận án đã lĩnh hội được ngày đó đã giúp NCS hình thành tư duy nghiên cứu, chắc chắn sẽ rất bổ ích cho tác giả luận án

khi thực hiện đề tài Sự kế thừa và phát triển nghệ thuật Chèo truyền thống của Tào Mạt trong bộ ba Bài ca giữ nước Tác giả luận án tâm niệm rằng,

việc thực hiện đề tài luận án tiến sĩ này là một sự tri ân của tác giả luận án đối với cố NSND Tào Mạt và với Nhà hát Chèo Quân đội, là đơn vị mà tác giả

luận án đã từng có nhiều năm gắn bó

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục tiêu cụ thể

Khẳng định những thành công của tác giả, đạo diễn Tào Mạt trong việc

kế thừa và phát triển nghệ thuật Chèo truyền thống, thể hiện cụ thể trong bộ

ba Chèo Bài ca giữ nước trên các phương diện sau:

+ Kế thừa và phát triển nghệ thuật Chèo truyền thống trong xây dựng cốt truyện và sắp trò;

Trang 12

+ Kế thừa và phát triển nghệ thuật Chèo truyền thống trong xây dựng hình tượng nhân vật Hề;

+ Kế thừa và phát triển nghệ thuật Chèo truyền thống trong sáng tác và

sử dụng các làn điệu Chèo;

+ Kế thừa và phát triển nghệ thuật Chèo truyền thống trong phương thức sáng tác, dàn dựng và nghệ thuật biểu diễn

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan những công trình nghiên cứu về nghệ thuật Chèo nói chung, về Tào Mạt và tác phẩm sân khấu của ông nói riêng, trong đó nêu bật những đặc trưng cơ bản của nghệ thuật Chèo truyền thống cần được kế thừa

và phát huy trong việc sáng tạo những vở Chèo hiện đại

- Hệ thống hóa một số vấn đề lịch sử và lý luận cơ bản của NTSK

Chèo Việt Nam

- Phân tích, đánh giá những đóng góp về lý luận và thực tiễn của tác

giả, đạo diễn Tào Mạt và Đoàn Chèo Tổng cục Hậu cần qua bộ ba Chèo Bài

ca giữ nước

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là những sáng tạo của tác giả, đạo diễn Tào Mạt trong việc kế thừa và phát triển nghệ thuật Chèo truyền

thống trong bộ ba Chèo Bài ca giữ nước

3.2 Phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Phạm vi vấn đề nghiên cứu

Trọng tâm nghiên cứu của luận án là sự kế thừa và phát triển nghệ thuật

Chèo truyền thống của Tào Mạt trong sáng tác và dàn dựng bộ ba Bài ca giữ nước, thể hiện trên các phương diện cơ bản: xây dựng cốt truyện; xây dựng

nhân vật Hề Chèo; sáng tác và sử dụng các làn điệu Chèo; phương pháp dàn

Trang 13

dựng và nghệ thuật biểu diễn

3.2.2 Phạm vi đối tượng khảo sát

Phạm vi khảo sát của luận án là tác phẩm bộ ba Chèo Bài ca giữ nước

trên hai bình diện: Kịch bản văn học và vở diễn

Về kịch bản, tác giả luận án sẽ dựa theo sách: Tào Mạt, Tác phẩm được

Giải thưởng Hồ Chí Minh (Đỉnh cao phía trước, Bộ ba Chèo Bài ca giữ nước:

Lý Thánh Tông chọn người tài, Ỷ Lan coi việc nước, Lý Nhân Tông học làm vua), do Nxb Sân khấu xuất bản năm 2003 [35]

Về vở diễn, tác giả luận án sẽ nghiên cứu bản diễn đầu tiên của Đoàn Chèo Tổng cục Hậu cần (nay là Nhà hát Chèo Quân đội), được tác giả, đạo diễn Tào Mạt trực tiếp chỉ đạo và dàn dựng; bên cạnh đó có tham khảo thêm vở diễn phục hồi năm 2002, cũng của Đoàn Chèo Tổng cục Hậu cần

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận án với đề tài Sự kế thừa và phát triển nghệ thuật Chèo truyền thống của Tào Mạt trong bộ ba Bài ca giữ nước thuộc loại đề tài nghiên cứu

tác giả và tác phẩm, đánh giá những thành quả sáng tạo của một người nghệ sĩ vừa là tác giả, vừa là đạo diễn – cố NSND Tào Mạt, với cả quá trình tìm tòi, thử nghiệm phương pháp nghệ thuật mới và đã thành công

Vì đối tượng nghiên cứu của luận án thuộc lĩnh vực sân khấu, nên tác giả luận án cần vận dụng những vấn đề lý luận và phương pháp của nghệ thuật học, trong đó cơ bản là sân khấu học Tuy nhiên, khởi nguồn của nghệ thuật Chèo truyền thống là Chèo sân đình - là một hiện tượng văn hoá dân gian Việt Hơn nữa, luận án nghiên cứu vấn đề kế thừa và phát triển nghệ thuật Chèo truyền thống, trên hai bình diện là kịch bản và vở diễn Như vậy,

để có thể thực hiện công việc nghiên cứu, tác giả luận án cần sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành, bao gồm: lý luận văn học, sân khấu học, văn hoá học (chú trọng văn hoá dân gian), sử học, phương pháp nghiên cứu điền dã,

Trang 14

v.v Một số phương pháp nghiên cứu cơ bản được vận dụng cụ thể trong luận

án như sau:

- Phương pháp nghiên cứu của lý luận văn học

Để phân tích và đánh giá bộ ba Chèo Bài ca giữ nước của Tào Mạt

dưới góc độ kế thừa và phát triển nghệ thuật Chèo truyền thống, trước hết tác giả luận án cần nghiên cứu thân thế (xuất xứ, hoàn cảnh xuất thân, truyền thống gia đình, quá trình trưởng thành, học vấn, v.v ) của cố NSND Tào Mạt; đồng thời cần nghiên cứu về sự nghiệp sáng tác của ông cùng với tư tưởng, nhân sinh quan của tác giả thể hiện trong các tác phẩm Kết quả nghiên cứu này sẽ mang lại cái nhìn khái quát về thân thế và sự nghiệp của cố NSND Tào Mạt, từ đó sẽ có được sự lý giải cho những việc làm, những mong muốn và ý tưởng mà tác giả Tào Mạt đã gửi gắm vào các tác phẩm sân khấu

của mình, nhất là trong bộ ba Chèo Bài ca giữ nước

- Phương pháp nghiên cứu của sân khấu học

Đây là phương pháp trọng tâm, chủ đạo của luận án, đáp ứng đúng yêu cầu của mã ngành luận án Vận dụng những vấn đề lý luận cơ bản của sân khấu học, tác giả luận án tìm hiểu và bàn luận về các vấn đề cốt yếu của nghệ thuật Chèo truyền thống nói chung (như cốt truyện, kết cấu, hình tượng nhân vật, các nguyên tắc nghệ thuật, nghệ thuật biểu diễn, v.v ) và của bộ ba Chèo

Bài ca giữ nước nói riêng Mỗi tác phẩm sân khấu (kịch bản và vở diễn) là

một thể thống nhất, có kết cấu chặt chẽ, các thành tố có mối liên kết mật thiết với nhau, tương hỗ lẫn nhau, cốt truyện diễn biến như một câu chuyện kể theo nguyên tắc tự sự của nghệ thuật Chèo Khi nghiên cứu về sự kế thừa và phát triển nghệ thuật Chèo truyền thống của Tào Mạt trong quá trình ông sáng tác

và dàn dựng bộ ba Chèo Bài ca giữ nước, trong phạm vi nghiên cứu của luận

án, tác giả luận án đã xác định bốn phương diện cơ bản nhất, nổi bật nhất để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu

Trang 15

- Phương pháp nghiên cứu văn hóa dân gian

Nghệ thuật Chèo vốn xuất phát là nghệ thuật dân gian, là sản phẩm của nền văn hóa lúa nước vùng châu thổ Bắc bộ Chủ thể sáng tạo nên nghệ thuật Chèo buổi ban đầu là những người nông dân đích thực Vì vậy, những vở diễn của sân khấu Chèo cổ, Chèo truyền thống là những tác phẩm nghệ thuật đậm đặc chất văn hóa dân gian, được sáng tác với phương thức tập thể và truyền nghề với phương pháp truyền khẩu

Nghiên cứu vấn đề Tào Mạt kế thừa và phát triển nghệ thuật Chèo

truyền thống để vận dụng vào công việc sáng tác và dàn dựng bộ ba Chèo Bài

ca giữ nước, tác giả luận án cần sử dụng phương pháp nghiên cứu văn hóa

dân gian để tìm hiểu, phân tích các nguyên tắc và phương pháp của nghệ thuật Chèo truyền thống, từ đó đối chiếu, so sánh với công việc sáng tạo của Tào Mạt và các cộng sự của ông trong quá trình sáng tác, dàn dựng bộ ba Chèo

Bài ca giữ nước

- Phương pháp lịch sử - hồi cố

Tác giả Tào Mạt sáng tác tác phẩm bộ ba Bài ca giữ nước trong khoảng

thời gian từ năm 1979 – 1985 và ông mất vào năm 1993 Để nghiên cứu về tác giả và tác phẩm của ông cần vận dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp hồi cố, phương pháp lịch sử; tác giả luận án cần đặt đối tượng nghiên cứu vào đúng môi trường xã hội và môi trường nghệ thuật mà Tào Mạt

đã sống và sáng tạo với các điều kiện lịch sử cụ thể, đồng thời phải nhìn nhận

nó trong sự vận động không ngừng nghỉ của cuộc sống, với những biến cố của đất nước Có như vậy mới có thể đánh giá một cách khách quan những thành công hay hạn chế của tác giả và tác phẩm

- Phương pháp nghiên cứu điền dã

Để tìm hiểu quá trình sáng tác và dàn dựng bộ ba Chèo Bài ca giữ nước

của tác giả, đạo diễn Tào Mạt và ê kíp sáng tạo của Đoàn Chèo TCHC, tác giả

Trang 16

luận án đã thực thiện các chuyến đi nghiên cứu điền dã để thu thập tài liệu và gặp gỡ các nghệ sĩ - những người đã từng trực tiếp làm việc với cố NSND

Tào Mạt thời kỳ dàn dựng bộ ba Chèo Bài ca giữ nước Thông qua các cuộc

phỏng vấn sâu đối với các nghệ sĩ, tác giả luận án đã thu thập được khá nhiều thông tin bổ ích, giúp cho tác giả luận án hiểu sâu hơn, kỹ hơn về phương pháp làm việc của tác giả, đạo diễn Tào Mạt với phương thức “sáng tác đồng thời bốn khâu”: (văn - kịch bản, nhạc - hát, múa, diễn, họa) vô cùng độc đáo Nhờ đó, luận án có thêm nhiều chi tiết sinh động, có cái nhìn toàn diện hơn, sâu hơn về công trình nghệ thuật đặc sắc của Tào Mạt và tập thể nghệ sĩ Đoàn Chèo TCHC Đây là một trong những đóng góp mới của luận án, vì hầu

như chưa có công trình nghiên cứu đi trước nào về bộ ba Chèo Bài ca giữ nước khai thác sâu về phương diện này

5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

5.1 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi khái quát, bao trùm lên toàn bộ các vấn đề nghiên cứu của luận

án là: Tào Mạt đã kế thừa và phát triển những yếu tố gì của nghệ thuật Chèo truyền thống và đã vận dụng như thế nào vào sáng tác và dàn dựng bộ ba

Chèo Bài ca giữ nước?

5.2 Giả thuyết nghiên cứu

Từ câu hỏi nghiên cứu trên, luận án có hai giả thuyết nghiên cứu là:

Thứ nhất, Tào Mạt đã kế thừa và phát triển nghệ thuật Chèo truyền thống trong bộ ba Chèo Bài ca giữ nước trên bốn phương diện cụ thể:

- Trong việc xây dựng cốt truyện và sắp trò;

- Trong việc xây dựng nhân vật Hề Hoạn – Hề Già;

- Trong việc sử dụng chất liệu ca dao, dân ca để sáng tác các làn điệu, lời ca mới;

- Trong phương thức sáng tác, dàn dựng và nghệ thuật biểu diễn

Trang 17

Thứ hai, phương thức “sáng tác đồng thời 4 khâu” của Tào Mạt và các

cộng sự là một trong những nhân tố cơ bản tạo nên thành công của bộ ba

Chèo Bài ca giữ nước

6 Cở sở lý luận vận dụng trong nghiên cứu đề tài

Một tác phẩm sân khấu tồn tại dưới hai dạng: Kịch bản văn học và vở diễn sân khấu Hai dạng này vừa tồn tại độc lập, vừa có mối quan hệ chặt chẽ

với nhau Nghiên cứu bộ ba Chèo Bài ca giữ nước của Tào Mạt, tác giả luận

án đặt nhiệm vụ vừa nghiên cứu kịch bản văn học, vừa nghiên cứu cả ba vở diễn sân khấu – bản diễn của Đoàn Chèo Tổng cục Hậu cần (nay là Nhà hát Chèo Quân đội) Để thực hiện nhiệm vụ này, luận án cần áp dụng những quan điểm lý luận của nghiên cứu văn học, đồng thời của Sân khấu học

Lý luận văn học chỉ ra rằng, khi nghiên cứu một tác giả và tác phẩm của tác giả đó thì trước hết cần tìm hiểu thân thế (hoàn cảnh xuất thân, giáo dục, học vấn, tư tưởng chính trị ) của tác giả từ thời niên thiếu cho đến khi trưởng thành, vì đây là những yếu tố có ảnh hưởng quyết định đến việc hình thành tính cách, nhân sinh quan, tư tưởng chính trị của tác giả, là những điều sau này sẽ được phản ánh trong tác phẩm của ông ta Tiếp đến là cần tìm hiểu toàn bộ sự nghiệp sáng tác của tác giả để thấy được quá trình định hình phong cách, bút pháp, tìm ra những đặc điểm nổi bật hay những hạn chế về tư tưởng,

về nghệ thuật, v.v Trên cơ sở đó, đến bước nghiên cứu tác phẩm cụ thể (đối tượng nghiên cứu), cần đặt tác phẩm trong bối cảnh lịch sử, xã hội mà nó ra đời để phân tích, đánh giá; đồng thời đặt tác phẩm cụ thể đó trong mối tương quan với các tác phẩm khác trong cái tổng thể sự nghiệp sáng tác của chính tác giả Có như vậy mới có thể đánh giá được chính xác và khách quan về tác phẩm cụ thể đó

Để nghiên cứu về Tào Mạt và bộ ba Chèo Bài ca giữ nước, tác giả luận

án đã thực hiện đúng các bước như phương pháp nghiên cứu văn học yêu cầu

Trang 18

Với đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự kế thừa và phát triển nghệ

thuật Chèo truyền thống của Tào Mạt trong bộ ba Chèo Bài ca giữ nước, tác

giả luận án cần vận dụng lý thuyết về “kế thừa” và “phát triển” vào trường

hợp cụ thể trong Bài ca giữ nước của Tào Mạt để phân tích và chứng minh

ông đã kế thừa và phát triển Chèo truyền thống như thế nào

Thông thường, trong một số trường hợp nghiên cứu nào đó, có thể tách hai quá trình “kế thừa” và “phát triển” để phân tích riêng rẽ Tuy nhiên, với trường hợp cụ thể của luận án này, Tào Mạt đã sử dụng phương thức tiến hành đồng bộ bốn khâu (văn, nhạc, diễn, vẽ) thì sự “kế thừa” và “phát triển” (nghệ thuật Chèo truyền thống) đã hòa quyện vào làm một, làm thành một quá trình sáng tạo đầy ngẫu hứng của các nghệ sĩ Đây là lý do tác giả luận án không tách rời công việc “kế thừa” và “phát triển”, cũng như không thể tách rời công việc của sáng tác của tác giả Tào Mạt với công việc dàn dựng của đạo diễn Tào Mạt để xem xét

Việc áp dụng một số quan điểm và phương pháp nghiên cứu văn học, của sân khấu học, lý thuyết về kế thừa và phát triển sẽ giúp NCS hoàn thành mục đích nghiên cứu của luận án Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là lời giải đáp cho các giả thuyết nghiên cứu mà tác giả luận án đã đặt ra

7 Đóng góp của luận án

7.1 Đóng góp về mặt lý luận

Nghiên cứu bộ ba vở Chèo Bài ca giữ nước của Tào Mạt, luận án

khẳng định, khái quát một cách có hệ thống những thành công xuất sắc của tác giả, đạo diễn Tào Mạt trong việc kế thừa và phát triển nghệ thuật Chèo truyền thống để xây dựng tác phẩm Chèo hiện đại, từ đó nâng lên thành các vấn đề mang tính lý luận của nghệ thuật sân khấu kịch hát dân tộc trên phương diện sáng tác, dàn dựng và biểu diễn

Trang 19

7.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Qua việc phân tích, khẳng định những thành công của bộ ba vở Chèo

Bài ca giữ nước của Tào Mạt, luận án nêu những bài học kinh nghiệm về sự

kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo các giá trị nghệ thuật đặc sắc của Chèo truyền thống vào việc sáng tác và dàn dựng các tác phẩm Chèo trong thời hiện đại; luận án có thể là tài liệu tham khảo hữu ích cho các tác giả, đạo diễn, diễn viên của sân khấu Chèo, đồng thời là tài liệu tham khảo trong nhà trường đào tạo các chuyên ngành nghệ thuật sân khấu kịch hát dân tộc

Chương 2: Tào Mạt sáng tác và dàn dựng bộ ba Chèo Bài ca giữ nước

trên cơ sở kế thừa và phát triển nghệ thuật Chèo truyền thống (41 trang)

Chương 3: Những đóng góp của Tào Mạt và bộ ba Chèo Bài ca giữ nước (30 trang)

Trang 20

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ

THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Sau khi thu thập và nghiên cứu các nguồn tài liệu có liên quan đến đề tài luận án, NCS nhận thấy có thể phân loại các tài liệu này theo ba nhóm chính:

- Nhóm các công trình nghiên cứu về nghệ thuật Chèo truyền thống;

- Nhóm các công trình nghiên cứu về sự kế thừa và cách tân nghệ thuật Chèo truyền thống;

- Nhóm các công trình nghiên cứu về Tào Mạt và tác phẩm Chèo

Trong mỗi nhóm lớn này, NCS phân thành các nhóm nhỏ hơn có cùng

một vấn đề nghiên cứu, ví dụ như nghiên cứu về lịch sử và lý luận chung, hay nghiên cứu chuyên sâu các yếu tố nghệ thuật trong Chèo truyền thống như: kịch bản Chèo, âm nhạc trong Chèo, múa Chèo, Hề Chèo, v.v

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về nghệ thuật Chèo truyền thống

Trong nhóm này, NCS chia thành hai nhóm nhỏ: nhóm các công trình nghiên cứu tổng hợp về lịch sử và lý luận nghệ thuật Chèo truyền thống, và nhóm các công trình nghiên cứu chuyên sâu về các yếu tố nghệ thuật trong Chèo truyền thống

1.1.1.1 Các công trình nghiên cứu tổng hợp về lịch sử và lý luận nghệ thuật Chèo truyền thống

Trước hết cần kể tới công trình Bước đầu tìm hiểu sân khấu Chèo của

hai tác giả Trần Việt Ngữ và Hoàng Kiều [52] Công trình nghiên cứu bao

gồm bốn phần lớn Tại phần I, các tác giả dành để nói về Quá trình hình thành và phát triển của nghệ thuật Chèo Phần II bàn về Tính chất sân khấu Chèo cổ Trong phần III với tiêu đề Nghệ thuật sân khấu Chèo cổ, các tác giả

Trang 21

lần lượt bàn về các bộ phận cơ bản cấu thành nên nghệ thuật Chèo, đó là: Văn Chèo; Nhạc Chèo; Múa Chèo Phần IV là Tổng luận, trong đó các tác giả tổng kết, khái quát lại các nội dung đã bàn luận ở các phần trước

NCS nhận thấy công trình nghiên cứu trên có một số mục rất gần gũi

hoặc liên quan trực tiếp đến đề tài luận án như: Tính tập thể và truyền miệng, Phương pháp sân khấu và xây dựng nhân vật, Giá trị trào lộng và vai hề, Nghệ thuật sử dụng lời văn, bởi vì chúng có liên quan đến vấn đề kế thừa

và phát triển nghệ thuật Chèo truyền thống của Tào Mạt khi ông sáng tác và

chỉ đạo dàn dựng bộ ba Bài ca giữ nước

Về các công trình nghiên cứu đậm tính lý luận về nghệ thuật Chèo, cần

kể tới công trình Chèo – một hiện tượng sân khấu dân tộc của Trần Bảng [1] Năm 1999, tác phẩm này đã được Viện Sân khấu in lại, lấy tên là Khái luận

về Chèo [2] Với công trình này, GS NSND Trần Bảng đã đóng góp cho công

tác nghiên cứu lý luận và thực tiễn sân khấu Chèo nhiều ý kiến sâu sắc, giúp cho người đọc hiểu thêm về loại hình nghệ thuật độc đáo của dân tộc Nhiều nhận định, đánh giá của ông về vấn đề bảo tồn, kế thừa và phát huy nghệ thuật Chèo truyền thống vào Chèo hiện đại là ý kiến quý báu để NCS tham khảo và vận dụng trong luận án

Trong công trình Lịch sử nghệ thuật Chèo đến giữa thế kỷ XX [12], tác giả Hà Văn Cầu đã bàn về Các yếu tố cấu thành chèo, trong đó các yếu tố như Nghệ nhân, Trò nhại, Thơ ca, Các bài hát chèo là những yếu tố cấu thành cơ bản nhất của trò diễn và vở diễn Chèo Tác giả còn viết về Quá trình hình thành

và phát triển chèo, bắt đầu “từ thời sơ sử đến buổi đầu độc lập thời Đinh Lê”,

qua các thời Lý Trần, thời Lê, đến thời Nguyễn, dừng lại ở năm 1945 với sự kiện lịch sử là cuộc Cách mạng tháng Tám

Chuyên luận này giúp cho NCS hiểu thêm về hoạt động của sân khấu Chèo trong quá khứ xa xưa, hiểu thêm về cách thức, phương pháp sáng tạo của

Trang 22

các nghệ nhân Chèo trong các thế kỷ trước, từ đó liên hệ tới phương pháp sáng

tạo của Tào Mạt trong bộ ba Chèo Bài ca giữ nước

Là một nhà viết Chèo nổi tiếng đã cống hiến cho sân khấu Chèo nhiều kịch bản hay, tác giả TS Trần Đình Ngôn đồng thời còn là nhà nghiên cứu Chèo có uy tín, đóng góp cho công tác nghiên cứu lịch sử và lý luận về nghệ thuật Chèo truyền thống có giá trị khoa học và thực tiễn

Trong cuốn Đường trường phải chiều [42], tác giả Trần Đình Ngôn khái

quát quá trình hình thành nên kịch bản văn học của NTSK Chèo, bàn về phương pháp nghệ thuật của Chèo với “những nguyên tắc tương đối ổn định” và “những yếu tố luôn luôn phát triển trong Chèo” , bàn luận về các khía cạnh khác của

NTSK Chèo như: Đặc trưng ngôn ngữ của Chèo, Văn học Chèo, Nghệ thuật biểu diễn trong Chèo, Trang trí và đạo cụ trong Chèo, Hề Chèo, v.v

Trong cuốn Con đường phát triển của Chèo [50] tác giả Trần Đình Ngôn

đã đề cập tới một số khuynh hướng mà NTSK Chèo đã trải qua như “Chèo Văn minh”, “Chèo Cải lương”, “Chèo cải tiến”, “Chèo cách tân”, “kịch Chèo” ,

nhưng đáng chú ý là “khuynh hướng phát triển trên cơ sở kế thừa những nguyên tắc cơ bản và đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật của chèo cổ” [50, tr 80] Đây là

một vấn đề có liên quan trực tiếp đến đề tài của luận án, bởi đây cũng chính là khuynh hướng mà Tào Mạt luôn tuân thủ trong sự nghiệp làm Chèo của ông,

nhất là trong quá trình sáng tác và dàn dựng bộ ba Bài ca giữ nước

Đóng góp cho công tác nghiên cứu lý luận về NTSK nói chung, về

nghệ thuật Chèo nói riêng, PGS Tất Thắng có hai công trình: Sân khấu truyền thống - Từ chức năng giáo huấn đạo đức [80], và Nghệ thuật Chèo - nhận thức từ một phía [81] Cuốn Diện mạo sân khấu – nghệ sĩ và tác phẩm [82] là

tập hợp các bài viết của PGS Tất Thắng về các tác giả, đạo diễn sân khấu Việt Nam, về các vấn đề của sân khấu Cách mạng Việt Nam suốt 50 năm trưởng thành và phát triển

Trang 23

PGS TS Trần Trí Trắc đã có một số sách nghiên cứu về NTSK, trong

đó có một số bài viết về Chèo Đặc biệt, trong cuốn Sân khấu và nghệ sĩ sáng tạo (Phê bình và tiểu luận) [85], có bài Góp bàn về nghệ sĩ Nguyễn Đình Nghị,

thể hiện những đánh giá của ông về vai trò của Nguyễn Đình Nghị trong phong trào “Chèo Văn minh”, “Chèo Cải lương” Đây là vấn đề NCS quan tâm và sẽ bàn luận trong luận án của mình

Ngoài ra, còn có các bài viết nghiên cứu của nhiều tác giả được tổng hợp lại trong một số cuốn sách hoặc kỷ yếu hội thảo Về loại này tiêu biểu có

cuốn Tổng luận nghệ thuật Chèo nửa sau thế kỷ 20 [22], trong đó có chuyên luận Quá trình hình thành và phát triển nghệ thuật Chèo của GS Hà Văn Cầu, khảo luận Tìm hiểu sân khấu Chèo của GS Vũ Khắc Khoan, khảo luận Hát Chèo của dân tộc Việt Nam là các công trình nghiên cứu có giá trị khoa học

về nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển của NTSK Chèo, về cấu trúc

vở diễn và các yếu tố nghệ thuật trong Chèo

1.1.1.2 Các công trình nghiên cứu chuyên sâu về các thành tố nghệ thuật trong Chèo truyền thống

Nghiên cứu vấn đề sáng tác kịch bản Chèo

Cho đến nay đã có 6 công trình (được in thành sách) bàn về phương

pháp sáng tác kịch bản Chèo, đó là các cuốn: Bước đầu viết Chèo của Tú Mỡ [37]; Tìm hiểu phương pháp viết Chèo [7] và Mấy vấn đề trong kịch bản Chèo [9] của Hà Văn Cầu; Cách viết một vở Chèo của Trần Việt Ngữ [53]; Kịch bản Chèo từ dân gian đến bác học [43] và Nghệ thuật viết Chèo [47] của Trần

Đình Ngôn

Cuốn Tìm hiểu phương pháp viết Chèo của NNC Hà Văn Cầu được coi

là một công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên về phương pháp viết Chèo Trong công trình này tác giả đã bàn luận đến các thành tố cơ bản nhất của một

tác phẩm Chèo như về Thể loại và cốt truyện của Chèo, về Nhân vật chèo,

Trang 24

hay về Lời trò Cùng với những nhận định xác đáng về nghệ thuật Chèo như

“Trong Chèo yếu tố tự sự chiếm ưu thế hơn yếu tố trữ tình”, hay “lời trò trong các vở chèo mang phong vị ngôn ngữ dân gian rất đậm đà, đặc biệt là phong

vị của ca dao, tục ngữ và tiếu lâm truyện cười”, điều khiến NCS đặc biệt quan tâm là nhận định của ông về nhân vật Chèo Viết về các nhân vật trong Chèo, tác giả Hà Văn Cầu so sánh với nhân vật trong kịch nói: “Nhân vật trong chèo

là những nhân vật định hình, khác với nhân vật trong kịch nói là những nhân vật phát triển”, và ông giải thích rằng: “Đối với nhân vật phát triển thì khi màn sân khấu mở lên, nhân vật bước ra sân khấu, khán giả chưa thể nào biết

rõ tính cách của nhân vật đó như thế nào, tâm trạng họ ra sao Nhân vật phát triển dần dần từng bước Trái lại, nhân vật trong chèo lại bộc lộ tính cách ngay từ phút đầu bước ra sân khấu” [7, tr 39]

Năm 1977, NNC Hà Văn Cầu cho ra đời cuốn Mấy vấn đề trong kịch bản Chèo Nhìn tổng thể, các nhận định mang tính quan điểm học thuật của

tác giả Hà Văn Cầu trong hai công trình nghiên cứu này (cách nhau 13 năm)

là thống nhất, không có gì thay đổi

Năm 1984, có thêm một cuốn sách bàn về kịch bản Chèo, đó là cuốn

Cách viết một vở Chèo [53] của tác giả Trần Việt Ngữ Cuốn sách bao gồm

bảy chương, nhưng bàn luận trực tiếp vào vấn đề “cách viết một vở Chèo” chỉ

tập trung ở ba chương, là chương ba - Bố cục của bản trò; chương bốn - Xây dựng nhân vật, và chương năm – Văn chương Chèo Bên cạnh đó, tác giả Trần Việt Ngữ có nói kỹ hơn về phần Giáo đầu và Vãn trò

TS Trần Đình Ngôn đã có hai công trình nghiên cứu chuyên sâu về kịch

bản Chèo và phương pháp viết Chèo: Cuốn Kịch bản Chèo từ dân gian đến bác học [43] và cuốn Nghệ thuật viết Chèo.Trong cuốn Nghệ thuật viết Chèo, NCS đặc biệt quan tâm đến chương bốn với tiêu đề Xây dựng nhân vật trong kịch bản Chèo truyền thống Tại đây tác giả Trần Đình Ngôn đã thể hiện rõ quan

Trang 25

điểm của mình khi cho rằng “nhân vật trong Chèo đã đi từ một nét tính cách định hình tiến tới nhân vật có nhiều nét tính cách và có sự phát triển thậm chí đổi thay tính cách” [47, tr.76] Tác giả cho rằng “nhân vật Chèo được xây dựng theo phương pháp mô hình hóa và chuyển hóa mô hình” [47, tr.78]

Tóm lại, những công trình nghiên cứu trên là tài liệu quý để NCS tham khảo, giúp cho NCS hiểu biết thêm về cách thức sáng tác một vở Chèo mà xưa kia các nghệ nhân Chèo dân gian vẫn làm, từ đó đối chiếu với cách làm các vở Chèo mới ngày nay, trong đó có cách làm của tác giả - đạo diễn Tào

Mạt với bộ ba Chèo Bài ca giữ nước, chỉ ra cái gì Tào Mạt kế thừa của các

nghệ nhân đi trước, cái gì là của ông bổ sung thêm, phát triển lên

Nghiên cứu về Hề Chèo

Trong các cuốn sách bàn về kịch bản Chèo của các tác giả Hà Văn Cầu, Trần Đình Ngôn mà NCS vừa giới thiệu ở trên, các tác giả đều ít nhiều có nói tới nhân vật Hề Chèo Bên cạnh đó, có một số công trình nghiên cứu lấy đối tượng

nghiên cứu chính là Hề Chèo Có thể điểm tên các công trình chính: Bước đầu tìm hiểu tiếng cười trong Chèo cổ [52]; Hề Chèo (chọn lọc) [8]; Tiếng cười trên sân khấu truyền thống [57]; Sự kế thừa, phát triển nghệ thuật xây dựng nhân vật Hề từ chèo cổ đến chèo hiện đại [15]

Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu tổng hợp về nghệ thuật Chèo nhưng có dành riêng một mục viết về Hề Chèo, ví dụ như trong cuốn

Bước đầu tìm hiểu sân khấu chèo [51] có mục Giá trị trào lộng và vai hề (từ

tr 125 – 135); hay trong cuốn Đường trường phải chiều [42] có mục Hề Chèo (từ tr 153 – 166); trong cuốn Đường trường chông chênh [44] có mục Học tập Hề Chèo – tục mà thanh (từ tr 174 – 182)

Các công trình nghiên cứu Hề Chèo đều thống nhất quan điểm khi đánh giá về Hề Chèo trên các phương diện sau:

Trang 26

- Trào lộng là một đặc tính vốn có và không thể thiếu trong nghệ thuật Chèo cổ; Trong các vở Chèo cổ không thể thiếu các vai Hề - người làm nên tiếng cười đặc sắc cho Chèo cổ

- Là sản phẩm sáng tạo của người nông dân Việt Nam, nghệ thuật Chèo nói chung, Hề Chèo nói riêng, vốn là tiếng nói phản kháng của người nông dân đối với giai cấp phong kiến thống trị, đồng thời đả kích, châm biếm những thói hư tật xấu của bọn tham quan, những kẻ xấu xa, hợm hĩnh trong

xã hội Như vậy, tiếng cười của Hề Chèo có nhiều cung bậc khác nhau, nhắm vào các đối tượng khác nhau, nên cũng mang ý nghĩa khác nhau

- Phương tiện gây cười của Hề Chèo được sử dụng một cách tổng hợp tất cả các yếu tố ngôn ngữ (nói), lời ca, điệu múa và hóa trang, phục trang

Nói theo ngôn ngữ của Chèo, đó là sự kết hợp giữa “trò nhời và giễu hình” (hay giữa “trò diễn và trò nhời”)

- Từ góc độ nội dung cốt truyện thì các nhân vật Hề trong Chèo cổ thuộc hệ thống nhân vật phi cốt truyện (ngoài cốt truyện)

- Các NNC cũng chỉ ra những điểm hạn chế của Hề Chèo về nội dung

và nghệ thuật NNC Hà Văn Cầu cho rằng, các lớp Hề Chèo còn nặng tự nhiên chủ nghĩa, nhiều khi Hề còn nhại cả những cái thô tục, kệch cỡm, thiếu

tế nhị đối với khán giả; Do tàn dư của lối ứng diễn, tính tùy tiện nhiều khi làm cho Hề trở nên lê thê, không có nội dung, không có mục đích [8, tr 51] Các tác giả Trần Việt Ngữ, Hoàng Kiều cũng nhận xét rằng “Hề chèo có những hạn chế nghiêm trọng về nội dung” như một số đoạn Hề “quá lạm dụng cái tục để gây cười đã rơi vào chủ nghĩa tự nhiên, nghe vừa thô lỗ, vừa sống sượng”; có đoạn lại “sử dụng yếu tố gây cười quá nhiều - thường vẫn lấy cái tục làm phương tiện” Những kiểu gây cười như thế thì “giá trị trí tuệ và nghệ thuật không có mấy” [52, tr 70 – 73]

Trang 27

Các công trình nghiên cứu Hề Chèo là tài liệu vô cùng cần thiết để NCS tham khảo, từ đó có thể so sánh, đối chiếu trong khi phân tích vai Hề

Hoạn – Hề Già trong Bài ca giữ nước, để thấy được tác giả - đạo diễn Tào

Mạt đã tiếp thu nghệ thuật xây dựng Hề Chèo của các NNDG xưa như thế nào, và đã có đóng góp gì mới cho sân khấu Chèo qua nhân vật Hề này

Nghiên cứu về làn điệu và ca hát trong Chèo

Trước hết cần kể đến 2 cuốn sách của nhạc sĩ Hoàng Kiều: cuốn Sử dụng làn điệu Chèo [26] và cuốn Tìm hiểu các làn điệu Chèo cổ [27] Thực

ra, cuốn thứ hai là tái bản có bổ sung và nâng cao của cuốn thứ nhất, trong đó tác giả cho thấy rõ mối quan hệ giữa phần lời và phần nhạc của ca khúc Chèo, chỉ ra những điều mà người sáng tác nhạc (đúng ra là phổ thơ) cần phải hiểu, phải biết để lồng điệu, viết các ca khúc cho một vở Chèo

Từ những vấn đề mang tính lý luận mà nhạc sĩ Hoàng Kiều đã nêu

trong công trình nghiên cứu của mình, NCS sẽ soi chiếu vào bộ ba Chèo Bài

ca giữ nước để phân tích và nhận diện những thành công của tác giả Tào Mạt

trong việc sáng tác các làn điệu Chèo trong tác phẩm này

Ngoài ra, rải rác trong nhiều công trình nghiên cứu về Chèo của các tác giả quen thuộc cũng có phần nói về các bài hát, làn điệu trong Chèo Ví dụ

như trong cuốn Bước đầu tìm hiểu sân khấu Chèo của hai NNC Trần Việt Ngữ - Hoàng Kiều các tác giả có bàn về Lời chèo và hát chèo; Hình thức cấu tạo giai điệu Trong cuốn Mấy vấn đề trong kịch bản Chèo của NNC Hà Văn Cầu có mục Các bài hát trong Chèo [8, tr 97 – 133]; hay trong cuốn Đường trường phải chiều của NNC Trần Đình Ngôn có mục Hát và Múa trong Chèo

[42, tr 121 – 132] Vì đây chỉ là các mục nhỏ trong một cuốn sách nói về nhiều khía cạnh khác nhau của nghệ thuật Chèo nên nội dung các mục này cũng chỉ nói sơ lược, mang tính chất giới thiệu khái quát về ca hát (và múa) trong Chèo

Trang 28

Nghiên cứu về múa Chèo

Chỉ có một vài công trình viết về múa Chèo như: Nghệ thuật múa Chèo [5] của Lê Ngọc Canh, Nghệ thuật múa trong Chèo truyền thống [25] của Trần Lan Hương Ngoài ra, trong các cuốn sách như cuốn Đường trường phải chiều của Trần Đình Ngôn, cuốn Bước đầu tìm hiểu sân khấu Chèo của Trần

Việt Ngữ - Hoàng Kiều, đều có mục nói về múa Chèo

Đánh giá vai trò của múa trong NTSK Chèo các NNC đều nhận định rằng, cùng với âm nhạc và ca hát, múa Chèo cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc thể hiện tính cách và tình cảm của nhân vật, mặc dầu trong NTSK Chèo, so với phần ca hát thì rõ ràng múa không quan trọng bằng và không phong phú như phần hát Chèo

Một số NNC Chèo cũng đã cố gắng phân loại múa Chèo Cách phân loại phổ biến hơn cả, được nhiều người làm nghề chấp nhận là cách cho rằng múa Chèo gồm có ba loại: Múa trang trí, múa minh họa và múa tính cách Ba loại múa này khác nhau về hình thức biểu hiện, về tính chất, và tất nhiên vì thế cũng khác nhau về ý nghĩa trong một vở diễn Chèo

Tuy nhiên, cùng với thời gian, NT Chèo có những biến đổi về nội dung cũng như hình thức, các yếu tố nghệ thuật trong nó cũng có sự thay đổi, trong

đó có nghệ thuật múa Đúng như NNC Trần Đình Ngôn nhận xét:

Trong các vở Chèo mới múa trang trí đã bớt dần đi vì không còn thích hợp với những nhân vật mới của Chèo; múa minh họa thì phát triển thành những điệu, những “tổ khúc” diễn tả các sinh hoạt tập thể hay lao động sản xuất hay chiến đấu Trong khi đó múa tính cách và tâm trạng thì lại không thừa kế được ở Chèo truyền thống không thể bén gót được Súy Vân, Thị Mầu, Đào Huế Nguyên nhân chính của sự yếu kém, lạc hướng trong múa ở các vở diễn mới là ở chỗ các vở diễn đó chưa thực sự là Chèo, không được sáng tạo từ

Trang 29

những nguyên tắc cơ bản của Chèo, không tuân thủ cấu trúc mang đặc trưng Chèo [42, tr 131-132]

Trong bộ ba Chèo Bài ca giữ nước, tuy múa không nhiều nhưng cũng

là một yếu tố nghệ thuật mà NCS cần phải khảo sát, đánh giá

Nghiên cứu về nghệ thuật biểu diễn Chèo truyền thống

Nghiên cứu về NTSK Chèo không thể không nghiên cứu về NTBD của diễn viên Trong các công trình nghiên cứu về Chèo mà NCS đã đề cập, hầu hết các NNC đã có bàn về một hoặc nhiều bình diện trên của NTBD Chèo

Còn viết riêng, tập trung nói về NTBD Chèo, thì có các công trình: Bình diện

kỹ thuật trong diễn xuất Chèo [11] của Hà Văn Cầu, Nghệ thuật biểu diễn Chèo truyền thống [49] của Trần Đình Ngôn, Về nghệ thuật biểu diễn Hề chèo truyền thống [83] của Lương Thị Hoàng Thi

Có lẽ cuốn Bình diện kỹ thuật trong diễn xuất Chèo (chỉ bàn về các yếu

tố mang tính kỹ thuật) là tài liệu tham khảo hữu ích cho các sinh viên theo học ngành diễn viên SKKH và các diễn viên trẻ khi mới vào nghề

Trong cuốn Nghệ thuật biểu diễn Chèo truyền thống tác giả Trần Đình

Ngôn đã khái quát những chặng đường mà NTBD Chèo đã trải qua, bàn luận đến các vấn đề cốt lõi của NTSK Chèo truyền thống, trong đó có bàn về các

kỹ năng mà người diễn viên Chèo cần có, v.v

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về sự kế thừa và cách tân nghệ thuật Chèo truyền thống

Năm 1994 Viện Sân khấu xuất bản cuốn Nguyễn Đình Nghị và Chèo Cải lương của Trần Việt Ngữ, với nhiều tư liệu rất phong phú và những nhận xét, đánh giá về Nguyền Đình Nghị và phong trào Chèo Cải lương

Vào trung tuần tháng 1 năm 1995, tại Hải Hưng, Viện Sân khấu, Cục Nghệ thuật biểu diễn, Nhà hát Chèo Việt Nam và Sở Văn hóa Thông tin tỉnh

Hải Hưng đã tổ chức Hội thảo khoa học Nguyễn Đình Nghị với sự phát triển

Trang 30

nghệ thuật Chèo Sau đó các tham luận hội thảo đã được Nxb Sân khấu in

thành Kỷ yếu [91] Nhìn chung, các ý kiến đều có hai ý chủ đạo: một mặt, đánh giá cao những đóng góp, mặt khác, chỉ rõ những hạn chế của Nguyễn Đình Nghị và Chèo Cải lương trong tiến trình phát triển của NTSK Chèo từ truyền thống đến hiện đại Hội thảo đã khẳng định “Chèo Cải lương là một gạch nối không thể thiếu được Nó là nhịp cầu nối giữa chèo cổ với chèo xã hội chủ nghĩa (hay chèo cách mạng).” [93, tr 234]

Cũng trong năm 1995 còn có một cuộc hội thảo quan trọng nữa, đó là

hội thảo Thực trạng Chèo hôm nay, do Viện nghiên cứu Sân khấu tổ chức

Nhìn chung các ý kiến đều thể hiện sự thống nhất với quan điểm: Chèo hiện đại cần phải đổi mới cho phù hợp với cuộc sống mới, với đối tượng khán giả mới, đổi mới là phù hợp với quy luận vận động của xã hội, nhưng chèo hiện đại đang có khuynh hướng tách khỏi những nguyên tắc nghệ thuật cơ bản của nghệ thuật Chèo truyền thống, nên đã cho ra đời nhiều vở “kịch Chèo”, “kịch cắm ca”, Hề không ra Hề, hài không ra hài Các ý kiến tại hội thảo đều khẳng định: muốn đổi mới Chèo thì trước hết phải nắm vững cái cốt lõi của

NT Chèo truyền thống, lấy đó làm cơ sở để phát triển, để đổi mới Chèo [62]

Trong cuốn Con đường phát triển của Chèo [50], tác giả Trần Đình

Ngôn có bài “Nhìn lại cuộc cách tân Chèo của Nguyễn Đình Nghị” Tác giả

đã bàn luận khá đầy đủ về những đóng góp cũng như hạn chế của Nguyền Đình Nghị - chủ soái của phong trào Chèo Cải lương, trên các phương diện: phương thức quản lý, phương thức sáng tác, phương pháp nghệ thuật

Các công trình nghiên cứu trên là tài liệu tham khảo rất có giá trị, vì chúng đã mang tới cho người đọc cái nhìn hệ thống mang tính lịch sử về quá trình phát triển của nghệ thuật Chèo

Nghiên cứu về sự kế thừa nghệ thuật Hề Chèo của Chèo truyền thống

còn có công trình NCKH cấp Viện Sự kế thừa, phát triển nghệ thuật xây dựng

Trang 31

nhân vật Hề từ chèo cổ đến chèo hiện đại [15] của Phạm Việt Hà thực hiện,

năm 2006 Đóng góp mới của công trình nghiên cứu này là ở chỗ đã trình bày một cách tương đối có hệ thống những thành tựu cũng như điểm yếu của việc xây dựng nhân vật Hề trong các vở chèo hiện đại; đặc biệt, tác giả đã nói đến

giá trị đặc sắc của vai Hề Già trong bộ ba Chèo lịch sử Bài ca giữ nước của

Tào Mạt

Nghiên cứu về sự kế thừa NTSK Chèo truyền thống còn có công trình

Nghệ thuật Chèo hiện đại – kế thừa và biến đổi của Đinh Quang Trung [87] NCS đặc biệt quan tâm đến một số nội dung trong công trình này như: sự kế

thừa và biến đổi về phương thức sáng tác kịch bản Chèo, cấu trúc tích Chèo, xây dựng nhân vật trung tâm, xây dựng nhân vật Hề Chèo, sự kế thừa và biến đổi về âm nhạc, về NTBD (nói, ca hát, múa ), v.v Tuy đề tài luận án của NCS và công trình này của PGS.TS Đinh Quang Trung về căn bản là khác nhau (về đối tượng và phạm vi nghiên cứu ), nhưng giữa chúng cũng có một

số vấn đề nghiên cứu rất gần gũi (nhất là nghiên cứu sự kế thừa nghệ thuật Chèo truyền thống của chèo hiện đại), vì vậy đây là một tài liệu tham khảo bổ ích, sẽ bổ trợ cho NCS trong quá trình thực hiện luận án

1.1.3 Các công trình nghiên cứu về Tào Mạt và tác phẩm Chèo

Nghiên cứu về Tào Mạt và các tác phẩm sân khấu của ông tuy chưa có nhiều công trình lớn, nhưng đã có không ít những bài viết về nhà soạn Chèo tài ba Tào Mạt và tác phẩm bộ ba Chèo lịch sử xuất sắc của ông Đó là các

tham luận hội thảo về Chèo Tào Mạt, là các bài báo đăng trên tạp chí Sân khấu hoặc công bố rải rác ở các báo ngày, trên mạng Internet Những bài viết này ra đời chủ yếu sau khi các vở Chèo trong Bài ca giữ nước của Tào

Mạt và Đoàn Chèo Tổng cục Hậu cần lần lượt ra đời và công diễn, tạo nên

“một hiện tượng lạ” trong đời sống sân khấu Việt Nam ở vài thập kỷ cuối của thế kỷ XX Dẫu không phải là các bài viết chuyên sâu nghiên cứu, mỗi bài chỉ

Trang 32

viết về một vài khía cạnh nào đó, nhưng tựu chung lại chúng đều có một điểm chung, đó là tất cả đều toát lên lòng kính trọng trước một nhân cách nghệ sĩ ngay thẳng, bộc trực, khiêm tốn, giản dị, một con người có tư chất thông minh, ham học hỏi, thông tuệ, và trên hết là có một niềm đam mê đặc biệt đối với NT Chèo,

đã cống hiến cho sân khấu dân tộc một bộ ba Chèo Bài ca giữ nước xứng đáng

là đỉnh cao của NTSK hiện đại Việt Nam

Có một số bài báo đã có đóng góp về mặt học thuật, nêu lên những bài học kinh nghiệm về sự kế thừa nghệ thuật Chèo truyền thống để tìm hướng đi cho sân khấu Chèo hiện đại Đó là các bài như: “Nghệ thuật sử dụng hát trong chèo Tào Mạt” [84] của Đỗ Tính, “Tào Mạt, người đem lại sức sống mới cho nghệ thuật chèo” của Trần Đình Ngôn, đăng trên báo Nhân dân, ngày 2/7/1997, “Ca từ trong chèo Tào Mạt” [30] của Mai Văn Lạng, bài “Về những làn hát dành cho nhân vật Hề già ” [72] của Nguyễn Thị Thanh Phương

Vào dịp kỷ niệm 10 năm ngày mất của cố tác giả, đạo diễn Tào Mạt,

Đoàn Chèo TCHC kết hợp với Viện Sân khấu tổ chức Hội thảo Tào Mạt và Bài ca giữ nước, vào ngày 12 tháng 8 năm 2003 Hầu như tất cả các ý kiến

đều đồng thuận trong việc đánh giá những thành công đầy thuyết phục của tác giả, đạo diễn Tào Mạt và tập thể nghệ sĩ Đoàn Chèo TCHC trong công trình

bộ ba Chèo Bài ca giữ nước, khẳng định những sáng tạo vô cùng tài ba của

tác giả, đạo diễn Tào Mạt trong việc kế thừa và phát triển nghệ thuật Chèo truyền thống, ở tất cả các khâu: sáng tác kịch bản, dàn dựng, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn Đặc biệt, mọi ý kiến đều khẳng định sự sáng tạo tuyệt vời của Tào Mạt trong việc xây dựng nhân vật Hề Hoạn – Hề già

Trong thập niên đầu của thế kỷ XXI rải rác vẫn có một số bài báo và một số luận văn chuyên ngành Nghệ thuật Sân khấu viết về Tào Mạt và tác

phẩm Chèo của ông, như luận văn tốt nghiệp đại học của Mai Tú Lệ: Sự phát triển nghệ thuật Chèo qua bộ ba vở diễn Bài ca giữ nước [31], luận văn thạc

Trang 33

sĩ của Nguyễn Thị Thanh Nga (2014): Từ vai Hề Chèo truyền thống đến nhân vật Hề trong Bài ca giữ nước của Tào Mạt [38] Nhìn chung các bài viết và

công trình nghiên cứu trên viết về tài năng của nhà soạn Chèo Tào Mạt và về

những thành công của bộ ba Chèo Bài ca giữ nước, trong đó nổi bật lên hình

tượng Hề Hoạn – Hề Già, một sáng tạo xuất sắc của tác giả và của nghệ sĩ thể hiện Ngọc Viễn

Công trình nghiên cứu chuyên sâu nhất và đầy đủ nhất về Tào Mạt và

tác phẩm Bài ca giữ nước chính là công trình Tào Mạt và Chèo của TS Trần

Đình Ngôn [45] Trong công trình này, tác giả Trần Đình Ngôn đã phân tích, đánh giá khá toàn diện về nội dung, về nghệ thuật, về bút pháp trong các vở

Chèo của Tào Mạt, đặc biệt là trong bộ ba Chèo Bài ca giữ nước

Tuy nhiên, cuốn sách Tào Mạt và Chèo của Trần Đình Ngôn không nói nhiều về quá trình dàn dựng bộ ba Chèo Bài ca giữ nước tại Đoàn Chèo Tổng

cục Hậu cần, tuy tác giả đánh giá cao phương thức “sáng tác đồng thời bốn khâu” mà Tào Mạt và các nghệ sĩ đã thực hiện Hơn nữa, tác giả cuốn sách hầu như chỉ tập trung vào viết về Tào Mạt và các tác phẩm sân khấu của ông,

ít có liên hệ, đối chiếu, so sánh với những tác giả, tác phẩm Chèo cùng thời

với Tào Mạt và khi Bài ca giữ nước công diễn Đây là một trong những nội

dung sẽ được bổ sung trong luận án

Ngoài việc tham khảo các công trình nghiên cứu về nghệ thuật Chèo truyền thống, về Tào Mạt và tác phẩm Chèo của ông thì NCS còn cần phải tham khảo cả những bài viết hay những phát ngôn của Tào Mạt thể hiện tư tưởng, quan niệm, quan điểm của ông về NTSK, nhất là về nghệ thuật Chèo Một tài liệu vô cùng quan trọng giúp NCS thực hiện được nhiệm vụ này là

cuốn Tào Mạt – những lời tâm huyết [34], do Nxb Sân khấu ấn hành năm

1992, không lâu trước ngày người nghệ sĩ tài ba Tào Mạt đi xa

Trang 34

Nghiên cứu điền dã, điều tra thực địa, sử dụng phương pháp hồi cố thông qua việc phỏng vấn các nghệ sĩ của Đoàn Chèo TCHC – thế hệ nghệ sĩ đầu tiên được trực tiếp làm việc với tác giả, đạo diễn Tào Mạt khi dựng bộ ba

Chèo Bài ca giữ nước, sẽ bổ sung một số yếu tố mới mẻ vào công việc nghiên cứu về Tào Mạt và các tác phẩm Chèo của ông nói chung, với Bài ca giữ nước nói riêng NCS hy vọng rằng đây chính là những đóng góp mới của luận

án vì chưa có công trình nghiên cứu đi trước nào làm việc này

1.2 Cơ sở lý luận của đề tài

Cơ sở lý luận của đề tài là những vấn đề cơ bản nhất thuộc phạm trù lý luận, dựa vào đó có thể giải quyết các vấn đề nghiên cứu mà đề tài đặt ra một cách khoa học, hiệu quả Với đề tài luận án này, tác giả luận án sẽ xem xét một số khái niệm chuyên ngành, cũng như các nguyên tắc nghệ thuật cơ bản, liên quan trực tiếp đến đối tượng nghiên cứu là nghệ thuật sân khấu Chèo

truyền thống nói chung, bộ ba Bài ca giữ nước của tác giả Tào Mạt nói riêng

1.2.1 Một số khái niệm liên quan

1.2.1.1 Khái niệm Chèo cổ / Chèo truyền thống

Đề tài luận án có liên quan trực tiếp đến thuật ngữ - danh xưng “Chèo truyền thống”, vì vậy, trước hết tác giả luận án muốn làm rõ khái niệm này để thống nhất một cách hiểu về cụm từ này trong luận án

Cho đến nay, không phải ai cũng có thể hiểu đúng hoặc có thể phân biệt được hai cụm từ “Chèo cổ” và “Chèo truyền thống” Có một số người cho rằng chúng là hai khái niệm khác nhau, chỉ hai danh xưng khác nhau, ngược lại, một số người khác thì cho rằng “Chèo cổ” và “Chèo truyền thống”

là một Qua tham khảo các công trình nghiên cứu về NT Chèo, nhất là tham

khảo công trình Nguyên tắc cơ bản trong nghệ thuật Chèo của soạn giả, NNC

Chèo Trần Đình Ngôn, tác giả luận án nhất trí với ý kiến cho rằng: trong di sản của người xưa để lại, chúng ta không có vở diễn Chèo cổ, chỉ có kịch bản

Trang 35

Chèo cổ Đó là những kịch bản Chèo do các nghệ sĩ Chèo xưa sáng tác được lưu truyền qua nhiều thế hệ Đến thời chúng ta, các kịch bản Chèo cổ được sưu tầm, được các học giả NT Chèo hiệu đính, lược bỏ những câu chữ do các nghệ sĩ đầu thế kỷ XX thêm thắt vào chứ không phải là ngôn ngữ của thời xưa Còn “các vở diễn theo tích cổ chỉ là những vở diễn “phục chế” Chèo cổ

và “phục chế” không nguyên vẹn mà thôi” [46, tr 86] Vì các lý do trên, NNC Trần Đình Ngôn đã giải thích khái niệm “Chèo truyền thống” như sau

Chèo truyền thống là Chèo cổ được kế thừa và phát triển trên

nguyên tắc bảo tồn những nguyên tắc cơ bản trong phương pháp nghệ thuật của Chèo cổ Các vở diễn Chèo truyền thống trước hết là các vở diễn theo các tích Chèo cổ được tiếp nhận từ việc truyền nghề của các nghệ nhân, được chỉnh lý nâng cao qua diễn xuất của các nghệ sĩ đương đại [46, tr 87]

Cho đến nay, chúng ta còn có được bảy kịch bản Chèo cổ, tất cả đã

được tập hợp lại và in thành sách Tuyển tập Chèo cổ, do Nxb Sân khấu xuất

bản năm 1999 [89] Còn các vở diễn như Quan Âm Thị Kính, Lưu Bình Dương Lễ, Trương Viên, Chu Mãi Thần, v.v mà ngày nay chúng ta được xem chỉ có thể gọi là Chèo truyền thống, chứ không thể gọi là Chèo cổ

Với nội hàm khái niệm “Chèo truyền thống” và “Chèo cổ” như trên, đây cũng sẽ là hàm ý mà tác giả luận án sử dụng trong luận án này

Trang 36

Cũng với ý đó nhưng diễn đạt một cách khác, theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng [91], tự sự là “hình thức sáng tác văn học trong đó nhà văn phản

ánh thế giới bên ngoài bằng cách kể lại sự việc, miêu tả tính cách nhân vật, thông qua một cốt truyện tương đối hoàn chỉnh” [91, tr 893]

Nói một cách ngắn gọn nhất, “tự sự” tức là kể chuyện

Sân khấu Việt Nam có hai dòng khác biệt: dòng sân khấu kịch hát truyền thống gồm Tuồng, Chèo, và dòng sân khấu kịch du nhập từ phương Tây (kịch dram) là Kịch nói Xét về cách thức tái hiện hiện thực đời sống thì tương ứng với hai dòng sân khấu trên người ta phân ra dòng sân khấu “tự sự”

và dòng sân khấu “kịch tính” Sân khấu kịch hát truyền thống Tuồng, Chèo thuộc dòng sân khấu “tự sự”, tức là sân khấu kể chuyện

Tuy nhiên, thuật ngữ “kể chuyện” được hiểu theo hai nghĩa: thứ nhất,

“kể chuyện” là chỉ thể văn chương là văn kể, văn trần thuật; thứ hai, “kể chuyện” là chỉ cách cấu trúc như một câu truyện kể Khi ta nói một tác phẩm kịch tự sự, tức là nói về dạng cấu trúc của kịch bản như một câu truyện; vở diễn sân khấu là diễn một câu truyện, chứ không phải là kể một câu truyện; thể văn không phải là văn kể, văn trần thuật, mà là văn đối thoại, độc thoại Còn trong sân khấu kịch hát thì thể văn là sự kết hợp của văn kể, nói lối và ca hát

1.2.1.3 Khái niệm ước lệ và ước lệ nghệ thuật

Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng, “ước lệ” là “quy ước biểu trưng

trong biểu hiện nghệ thuật” [91, tr 906]

Khái niệm “ước lệ nghệ thuật” trong Từ điển Thuật ngữ văn học được

giải thích là “một thuộc tính bản chất nhằm phân biệt sự miêu tả nghệ thuật với khách thể mà nó tái hiện [90, tr 268] Cũng theo từ điển này thì:

Mĩ học hiện đại phân biệt hai thứ ước lệ 1) Một là tính không đồng nhất giữa hình tượng nghệ thuật với thực tại đời sống Với ý nghĩa này, tất cả mọi yếu tố của ngôn ngữ nghệ thuật, hình tượng nghệ

Trang 37

thuật như không gian, thời gian, người trần thuật, lời đối thoại, v.v đều mang tính ước lệ 2) Ước lệ theo nghĩa thứ hai (hoặc ước lệ trong quan niệm hiện đại và trong cách dùng phổ biến) là sự phá vỡ

cố ý và lộ liễu tính giống thực trong phong cách tác phẩm Có nhiều ngọn nguồn và kiểu dạng thể hiện Ước lệ này phát sinh do chuyển hóa của ước lệ theo nghĩa thứ nhất, khi được dùng như những thủ pháp công nhiên vạch trần ảo giác nghệ thuật (v.d nguyên tắc kịch

tự sự của B Brext) hoặc khi sử dụng hình tượng huyền thoại, truyền thuyết, cổ tích v.v vào những mục đích nghệ thuật mới Việc phá

vỡ các tỉ lệ, việc phối hợp và nhấn mạnh những thành tố nào đó của thế giới nghệ thuật, làm cho hư cấu của tác giả trở nên lộ liễu – tạo nên những thủ pháp phong cách chứng tỏ “trò chơi” có ý thức của tác giả đối với ước lệ coi nó như một phương thức thẩm mĩ nhằm làm biến dạng thực tại [90, tr 268-269]

Từ sự diễn giải trên về ước lệ nghệ thuật, có thể rút ra một số luận điểm chính: Ước lệ là một đặc điểm phổ biến của mọi hình thức văn học nghệ thuật khi tái hiện hiện thực cuộc sống vào tác phẩm, bởi lẽ không gian và thời gian trong tác phẩm văn học nghệ thuật là có giới hạn nhất định, chứ không thể đồng nhất với không gian và thời gian thực ở ngoài đời Sự ước lệ trong tác phẩm văn học nghệ thuật (thể hiện cảm quan, phong cách và phương thức sáng tạo của tác giả) dẫn đến sự ước lệ trong tiếp nhận tác phẩm của người đọc, người xem, như một sự quy ước rất tự nhiên giữa người sáng tạo và người thưởng thức Nói cách khác, “ước lệ là một nguyên tắc đầu tiên và căn bản của việc sáng tạo và tiếp nhận các tác phẩm nghệ thuật” [46, tr 152]

Trong tác phẩm văn học nghệ thuật tính tự sự và ước lệ có mối liên hệ gắn bó mật thiết, đi liền với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau

Trang 38

Trong văn học nghệ thuật, tùy thuộc vào các loại hình, loại thể khác nhau mà tính ước lệ có các cấp độ khác nhau Cụ thể như trong nghệ thuật sân khấu, mặc dù mọi hình thức sân khấu đều có tính ước lệ, nhưng mức độ ước

lệ trong sân khấu truyền thống Tuồng, Chèo (sân khấu tả ý) cao hơn, được sử dụng triệt để hơn so với trong sân khấu kịch nói (sân khấu tả thực) Điều này thể hiện sự khác nhau về phương thức phản ánh hiện thực giữa các hình thức nghệ thuật

Ước lệ là một nguyên tắc cơ bản trong nghệ thuật Chèo, nó hiện diện trong tất cả các bộ phận của nghệ thuật Chèo và chi phối các phương tiện diễn

tả của Chèo

1.2.1.4 Khái niệm “trò” và “trò nhời”

Trong tiếng Việt, “trò” có nhiều nghĩa khác nhau, tùy thuộc vào ngữ cảnh và cụm từ có từ “trò” mà được hiểu rất khác nhau (như: trò chơi, giở trò,

chiêu trò, bày trò, diễn trò, học trò ) Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng,

“trò” còn có nghĩa là “hoạt động diễn ra trước mặt người khác, trước đám đông để mua vui” [91, tr 858] Trong nghệ thuật Chèo, ta hay nghe những cụm từ “mảnh trò”, “diễn trò”, hay “trò diễn” chính là với nghĩa này

Nhà nghiên cứu Trần Đình Ngôn khái quát: “Trò ở trong Chèo truyền thống có thể chia ra làm hai dạng: Trò Diễn và Trò Nhời Trò diễn là những mảnh trò mà trong đó diễn là chính, kể (bằng lời) là phụ Còn Trò Nhời thì nhời (lời kể) là chính, diễn (minh họa, phụ họa) là phụ” Ông cho rằng, trò diễn thường có sức hấp dẫn hơn trò Nhời vì nó phối hợp với các động tác, đường nét trong hành động của nhân vật, lại kết hợp với cả múa và hát; hơn nữa, trò diễn thường có nhiều nhân vật tham gia nên dễ tạo không khí sôi động, có sức hút đối với người xem Còn trò Nhời, tuy lấy lời thoại, lời kể làm chính, diễn chỉ để phụ họa hoặc minh họa, nhưng vẫn có sức hấp dẫn

Trang 39

riêng của nó, bởi những cái hay độc đáo của nghệ thuật ngôn từ, nghệ thuật đài từ [46, tr 134 - 135]

1.2.1.5 Khái niệm phương pháp hiện thực tả ý và bút pháp tả thần Trong công trình nghiên cứu Nguyên tắc cơ bản trong nghệ thuật Chèo,

tại chương II của công trình với tiêu đề “Phương pháp sáng tác của Chèo truyền thống”, tác giả Trần Đình Ngôn đã giải thích khá kỹ càng về các khái niệm “phương pháp hiện thực tả ý” và “bút pháp tả thần” Tác giả luận án nhận thấy những kết quả nghiên cứu của TS Trần Đình Ngôn là những luận điểm có giá trị khoa học và là tài liệu tham khảo đáng tin cậy, vì vậy tác giả luận án sẽ vận dụng những kết quả nghiên cứu của công trình này trong quá trình thực hiện luận án của mình

Phương pháp hiện thực tả ý

Trước khi giải nghĩa khái niệm “phương pháp hiện thực tả ý”, TS Trần Đình Ngôn lần lượt giải nghĩa các cụm từ: “phương pháp”, “phương pháp hiện thực”, “tả ý” Trong trường hợp cụ thể này, khi chúng ta đang bàn đến khái niệm “phương pháp hiện thực tả ý”, thì khái niệm “phương pháp” được

hiểu là “cách thức tiến hành một công việc”; còn “phương pháp hiện thực” được hiểu là “cách thức phản ánh hiện thực (trong Chèo truyền thống)”

Còn khái niệm “tả ý”, theo TS Trần Đình Ngôn, là một cách thức phản ánh hiện thực “chỉ cốt nói lên cái bản chất của hiện thực chứ không nhất thiết

phải tái tạo lại hiện thực như đã từng tồn tại”; khái niệm “tả ý” được các NNC

sân khấu dân tộc Việt Nam nửa cuối thế kỷ XX đưa ra để phân biệt với “tả chân” là cách thức phản ánh hiện thực bằng việc tái tạo lại như thực các hiện tượng của đời sống hiện thực TS Trần Đình Ngôn đã chỉ ra sự khác nhau của hai cách thức “tả chân” và “tả ý” là ở chỗ: cách thức “tả chân” buộc người nghệ sĩ phải tái tạo trên sàn diễn những sự kiện tình tiết như thực, có thể diễn

ra trong đời sống thực, trái lại, cách thức “tả ý” cho phép người nghệ sĩ có thể

Trang 40

sáng tạo ra những tình tiết, sự kiện, những tính cách nhân vật không có thực, mang tính kỳ để phản ánh sâu sắc hơn, gây ấn tượng mạnh hơn về cái bản chất của hiện thực [46, tr 88 – 89]

Cuối cùng, TS Trần Đình Ngôn đi đến giải thích trọn vẹn khái niệm

“Phương pháp hiện thực tả ý”:

Phương pháp hiện thực tả ý chính là cách thức phản ánh hiện thực

chỉ coi việc phản ánh sâu sắc cái bản chất của hiện thực là cốt lõi, không nhất thiết phải thông qua các tình tiết sự kiện như thực trong đời sống, người nghệ sĩ có thể hư cấu sáng tạo ra những “hiện tượng” không thực để nói rõ, tô đậm cái bản chất của hiện thực, dùng cái giả để nói lên điều thực [46, tr 89]

Bút pháp tả thần

Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng thì bút pháp là “cách dùng các

phương tiện biểu hiện (ngôn ngữ hoặc đường nét, màu sắc, hình khối, v.v.)

để phản ánh hiện thực, thể hiện tư tưởng trong tác phẩm nghệ thuật” [91, tr 79] Theo logic của vấn đề, chúng ta có thể khẳng định, phương pháp hiện thực tả chân đòi hỏi phải dùng bút pháp tả chân, và phương pháp hiện thực tả

ý đòi hỏi phải dùng bút pháp tả ý

1.2.1.6 Khái niệm kế thừa, phát triển

Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng, kế thừa là “thừa hưởng, giữ gìn và

tiếp tục phát huy (cái có giá trị tinh thần) [91, tr 373], còn “phát triển” là

“biến đổi hoặc làm cho biến đổi theo chiều hướng tăng, từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” [91, tr 624] Như vậy, kế thừa, phát triển (và kể cả biến đổi) đều thể hiện xu thế vận động của mọi sự vật, hiện tượng, phù hợp quy luật khách quan của tự nhiên và xã hội Cũng giống như nhiều hình thức nghệ thuật khác, quá trình hình thành và phát triển của nghệ thuật Chèo là một quá trình kế thừa, biến đổi và phát triển

Ngày đăng: 24/12/2018, 15:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w