Vì thế, cần phải nghiên cứu Oribatida ở nhiều vùng miền, nhiều hệ sinh thái khác nhau, đặc biệt là các nghiên cứu tổng hợp cấu trúc quần xã Oribatida về thành phần loài, mật độ quần thể,
Trang 1
Đất là một hệ sinh thái hoàn chỉnh, trong đất có chứa các nhân tố vô sinh
và hữu sinh Nhân tố hữu sinh bao gồm: Sinh vật sản xuất là các loài thực vật; sinh vật tiêu thụ và phân huỷ là các loài động vật đất, nấm và vi sinh vật Động vật đất có vai trò quan trọng trong tự nhiên, là thành phần không thể thay thế trong các quá trình sinh học xảy ra trong đất và trong sinh quyển nói chung Nhóm động vật đất tham gia vào mọi chu trình tự nhiên và quyết định nhiều hoạt tính sinh học của môi trường nơi chúng sống Chúng có quan hệ mật thiết đến các quá trình tạo đất và làm gia tăng quá trình khoáng hóa, mùn hóa phân hủy xác thải và rác hữu cơ, làm tăng độ phì, cải tạo và bảo vệ môi trường đất Vì thế động vật đất được đánh giá như yếu tố chỉ thị sinh học môi trường, chỉ thị các đặc điểm lí hóa của đất
Trong quần xã sinh vật đất, ve giáp (Acari: Oribatida) do có kích thước
cơ thể nhỏ từ 0,1 - 0,2 đến 1,0 - 2,0 mm, nên được xếp chung vào nhóm động vật Chân khớp bé (Microarthropoda) cùng với các nhóm Ve bét khác: Rết tơ (Chilopoda:Symphyla) và các nhóm côn trùng bậc thấp như Bọ nhảy, Đuôi nguyên thuỷ, Hai đuôi và Ba đuôi (Insecta: Aptergota: Collembola,Protura, Dipplura và Thysanura) Oribatida luôn chiếm khoảng trên 50% trong tổng số Chân khớp bé, chúng tham gia tích cực vào mọi chu trình tự nhiên, vào các quá trình sinh học của đất, quá trình vận chuyển năng lượng và vật chất, quá trình làm sạch đất khỏi bị ô nhiễm bởi các chất thải (hữu cơ và hoá học), chất phóng xạ Thông qua các hoạt động sống của mình, chúng làm gia tăng độ màu mỡ của đất Mặt khác chúng lại rất nhạy cảm với môi trường sống về đặc điểm đất, hàm lượng mùn hoá, khoáng hoá N, P, K trong đất, độ pH, nhiệt độ, đặc điểm cấu tạo đất, thổ nhưỡng đất Cấu trúc quần xã Oribatida ở đất, bao
Trang 2gồm đa dạng thành phần loài và dạng sống, mật độ quần xã, đặc điểm phân bố thẳng đứng và bề mặt , có liên quan chặt chẽ đến điều kiện khí hậu và môi trường, với loại đất, kiểu thảm phủ thực vật và cây trồng, hay chế độ canh tác đất và phân bón Vì vậy cấu trúc này được nghiên cứu như yếu tố chỉ sinh học (Bioindicator), chỉ thị các biến đổi tự nhiên và nhân tác của môi trường đất
Ở Việt Nam, Oribatida đã được nghiên cứu từ khá lâu, các công trình nghiên cứu khá đa dạng và bao quát ở nhiều lĩnh vực như nghiên cứu về dạng thành phần loài, nghiên cứu về sinh thái học, về vai trò chỉ thị sinh học… Tuy nhiên các nghiên cứu phần lớn mới chỉ tập trung vào việc tìm hiểu thành phần loài và được tiến hành chủ yếu ở các vùng lãnh thổ phía Bắc của đất nước, cũng đã có một vài nghiên cứu ở miền Nam, khu vực Tây Nguyên nhưng chưa thấy có công trình nghiên cứu nào về Oribatida ở khu vực Bắc miền Trung Đối với nhóm động vật vốn rất đa dạng và phong phú như Oribatida thì những nghiên cứu như thế là chưa đủ Vì thế, cần phải nghiên cứu Oribatida ở nhiều vùng miền, nhiều hệ sinh thái khác nhau, đặc biệt là các nghiên cứu tổng hợp cấu trúc quần xã Oribatida về thành phần loài, mật độ quần thể, độ đa dạng loài, độ đồng đều quần xã để đánh giá đúng và đầy đủ vai trò của chúng trong hệ sinh thái đất
Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình có diện tích rừng nguyên sinh vô cùng lớn với tính đa dạng sinh học cao điều đó được thể hiện qua sự đa dạng về sinh cảnh: Núi đá vôi, núi đất, sinh cảnh trong các thung lũng, sinh cảnh hang động… Sự đa dạng đó đã được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm với những nghiên cứu tương đối đồng đều về khu hệ động, thực vật của VQG như: Cá, lưỡng cư, bò sát, chim, thú nhưng riêng khu hệ động vật chân khớp bé chưa được quan tâm nghiên cứu
Trang 3Từ thực tế trên, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu “Thành phần và cấu trúc quần xã ve giáp (Acari: Oribatida) ở vườn quốc gia Phong Nha -
2 2 Ý g ĩ ực tiễn
Đề tài luận án bổ sung tư liệu về thành phần loài Oribatida, góp phần đánh giá tài nguyên đa dạng động vật đất của Việt Nam, và khảo sát cấu trúc quần xã Oribatida góp phần dự đoán ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên và nhân tác tác động đến hệ sinh thái đất nói chung và đến quần xã Oribatida nói riêng
Số liệu thu được của đề tài luận án góp phần cung cấp dẫn liệu, phục vụ giảng dạy và nghiên cứu động vật học, đặc biệt theo hướng chuyên sâu về khu
hệ và sinh thái động vật đất nói chung và Oribatida ở hệ sinh thái đất nói riêng
Trang 43 Mục ích nghiên cứu c a tài
Mục đích của đề tài luận án là nghiên cứu thành phần loài và cấu trúc quần xã Ve giáp (Acari: Oribatida) liên quan đến sự thay đổi theo mùa khí hậu, theo sinh cảnh và tầng sâu thẳng đứng trong đất ở hệ sinh thái rừng của VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình; từ đó làm cơ sở khoa học cho việc sử dụng quần xã động vật đất nói chung và Oribatida nói riêng trong nghiên cứu quản lý bền vững hệ sinh thái đất rừng Việt Nam
4 Nhiệm vụ nghiên cứu c a tài
1 Điều tra phát hiện và lập danh sách thành phần loài, cấu trúc và phân
bố của quần xã Oribatida ở VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình, thuộc vùng địa lý tự nhiên Bắc Trung bộ của Việt Nam
2 Phân tích đặc điểm cấu trúc phân loại học của quần xã Oribatida ở vùng nghiên cứu
3 Khảo sát so sánh sự tương đồng thành phần loài của quần xã Oribatida
ở VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình với VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ (vùng đồi núi Tây bắc Việt Nam) và vùng đồng bằng sông Hồng
4 Nghiên cứu đánh giá sự biến đổi đa dạng thành phần loài và cấu trúc định lượng của quần xã Oribatida liên quan đến các yếu tố (1) thay đổi thời tiết mùa, (2) sinh cảnh và (3) tầng sâu thẳng đứng trong hệ sinh thái đất ở vùng nghiên cứu
g g ứ ạm vi nghiên cứu
5.1 g g ứ
Các loài thuộc bộ Ve giáp (Acari: Oribatida), phân lớp Ve bét (Acari), lớp Hình nhện (Arachnida), phân ngành Chân khớp có kìm (Chelicerata), ngành Chân khớp (Arthropoda), của Giới Động vật (Animalia)
Trang 55.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và cấu trúc quần xã Oribatida ở VQG Phong Nha – Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình, liên quan đến: 7 loại sinh cảnh, 2 mùa khí hậu và tầng sâu thẳng đứng trong hệ sinh thái đất
g g g ớ
Thành phần loài và cấu trúc quần xã Oribatida của VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình lần đầu tiên được khảo sát và đã xác định được 107 loài (bao gồm 106 loài và 01phân loài), thuộc 73 giống và 40 họ, trong đó có
25 taxon phân loại mới xác định đến giống (sp.)
Về cấu trúc phân loại học của quần xã Oribatida đã xác định được: có 3
họ có số loài từ 9 đến 13 loài/ họ; có 3 họ có 6 loài; có 8 họ có 3 loài; 7 họ có
2 loài và 19 họ chỉ có 1 loài Kết quả nghiên cứu xác định được 3 giống có 5 -
6 loài; 4 giống có 3 loài; có 13 giống có 2 loài và 53 giống chỉ có 1 loài
Kết quả nghiên cứu đã bổ sung mới 8 họ, 36 giống và 78 loài cho khu hệ Oribatida Việt Nam
Đặc điểm tương đồng thành phần loài của khu hệ Oribatida ở VQG Phong Nha - Kẻ Bàng (vùng Bắc Trung bộ) so với vùng đồng bằng sông Hồng và VQG Xuân Sơn (vùng đồi núi Tây Bắc) không lớn, đạt giá trị từ 9,38% đến 25,26% Khu hệ Oribatida ở VQG Phong Nha - Kẻ Bàng gần với vùng Đồng bằng sông Hồng hơn so với vùng đồi núi Tây Bắc, tương ứng chỉ
số J đạt 21,68 và 9,38%
Lần đầu tiên, cung cấp các dẫn liệu về cấu trúc định lượng của quần xã Oribatida (số lượng loài, chỉ số đa dạng loài H’, chỉ số đồng đều J’) và sự thay đổi giá trị các chỉ số trên theo sinh cảnh, theo mùa và theo tầng phân bố ở VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình
Trang 6Kết quả nghiên cứu xác định được có 4 loài Oribatida ưu thế ở VQG
Phong Nha - Kẻ Bàng là các loài: Tectocepheus cuspidentatus; Xylobates lophotrichus; Arcoppia arcualis; và Scheloribates praeincisus Đã xác định
được 9 loài Oribatida có phân bố rộng ở VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, xuất
hiện ở cả 7 sinh cảnh nghiên cứu, vào hai mùa trong năm, bao gồm Liodes theleproctus, Tectocepheus cuspidentatus, Arcoppia arcualis, Perxylobates
heterodactylus, Scheloribates praeincisus và Galumna discifera
7 C
uận án gồm 147 trang được chia thành 3 chương với: 10 bảng số liệu, 1 bản đồ, biểu đồ, 2 hình vẽ, 1 2 tài liệu tham khảo tiếng việt và tiếng nước ngoài Phần phụ lục 47 trang gồm các bảng số liệu và ảnh minh họa
Trang 7CHƯƠ G ỔNG QUAN
g ứ Ve giáp (Acari: Oribatida) trên th giới
1.1.1 Nghiên cứu v thành phần loài và c u trúc quần xã Oribatida
Việc nghiên cứu về Oribatida trên thế giới được bắt đầu từ rất sớm Từ cuối thế kỷ XIX, các nhà khoa học nghiên cứu về sinh vật đã bắt đầu quan tâm và tiến hành tìm hiểu Cho đến nay, khu hệ Oribatida thế giới hiện biết
thực tế có thể vào khoảng từ 0.000 loài đến 100.000 loài [129], [145] Theo các chuyên gia nghiên cứu, thì số loài Oribatida hiện biết trên thế giới mới chỉ bao gồm khoảng 20% tổng số lượng loài thực tế hiện đang tồn tại Khu hệ động vật phong phú này luôn được bổ sung bởi số lượng loài mới được tìm thấy tăng thêm mỗi năm [46], [4 ] Hoá thạch đầu tiên của Oribatida được phát hiện trong trầm tích kỉ Devon, được bảo tồn cách đây ít nhất 380 triệu
năm (Heethoff et al, 2006) [6 ] Nhưng nguồn gốc của nhóm này, niên đại có thể được suy đoán là cách ngày nay từ 400 - 440 triệu năm (Heethoff et al, 2006; Norton et al, 1986, 1990, 1994; Shear et al, 1984; Wunderle, 1991…)
[65], [87], [88], [89], [100], [120], [146]
Nhà khoa học người Italia, A.Berlese (1905) là một trong số người quan tâm nghiên cứu về Chân khớp bé trong đó có Oribatida sớm nhất ở châu Âu Một đóng góp rất quan trọng và có ý nghĩa của ông là phát hiện ra phương pháp dùng hệ thống phễu lọc để phân tích động vật chân khớp bé trong đất [16]
Ở iên Xô (cũ), nghiên cứu đầu tiên về Oribatida bắt đầu vào những năm cuối và đầu thế kỷ XIX – XX cho đến những năm 30 của thế kỷ XX, ở
Trang 8Oribatida sống trên cây, cũng được quan tâm từ cách đây mấy chục năm
(Ermilov S.G et al, 2007) [136]
Canada là một trong số các quốc gia có những nghiên cứu khá kỹ, từ rất
sớm về khu hệ Oribatida [51], [52], [124] Tuy vậy, theo Behan- Pelletier et
al, (2000) [53], số loài Oribatida được biết ở Canada chỉ chiếm khoảng 25%
số loài có trong thực tế
Khu hệ Oribatida của avia, trước năm 1943 mới ghi nhận được 10 loài theo công bố của Graube, 1943 Đến 1943, Eglitis đã thu thập thêm và công
bố 0 loài (Eglitis, 1943) Năm 19 4, khu hệ này bao gồm 120 loài và đến
200 đã ghi nhận 200 loài thuộc 58 họ [152]
Các nghiên cứu về Oribatida ở Oxtrâylia, cho thấy rằng thành phần loài Oribatida không những được thu thập ở môi trường đất mà còn từ thảm mục,
có 15 giống với rất nhiều loài chưa được mô tả (Walter et al, 1993) [116]
Walter đã ước tính rằng có ít nhất 102 loài Oribatida sống trong các tán cây
của rừng mưa ở Oxtrâylia Theo O’Dowd et al, (1991) thì quần hợp giữa
Oribatida với tán cây có từ thời cổ xưa, và theo nhiều tài liệu, có tới 85 giống thuộc 35 họ Oribatida đã được biết là sống trên cây (Norton, 1986; Travé,
1963; Walter et al, 1993; 1995) [87], [116], [117], [144] Nghiên cứu về
Oribatida ở trên cây cúc xạ hương trong rừng mưa Oxtrâylia, phát hiện thấy
có 28 loài Oribatida, chỉ có 7 loài được ghi nhận ở trong lớp lá rụng dưới gốc
cây (Behan-Pelletier et al., 1998) [52] Theo Walter et al, 1995, Oribatida là
nhóm sinh vật có số lượng đông đảo hơn bất kì các chân khớp khác sống trên cây, kể cả côn trùng và chúng thường rất nhiều loài Các tác giả ước tính vòm
lá của 1cây cao 10m ở vùng mưa cận nhiệt đới nuôi dưỡng được gần 400.000
Ve bét, mà chủ yếu Oribatida (Walter et al, 1995) [117]
Trang 9Theo nhiều tài liệu, có tới 85 giống thuộc 35 họ Oribatida đã được biết là sống trên cây Hầu hết những loài thuộc nhóm Brachypylina, 2 giống của nhóm Desmononata và một giống của Mixonomata cũng được thu thập từ các tán cây Một vài taxon Oribatida có nguồn gốc phát sinh sớm cũng có đại diện
ở đây (Norton, 1986; Walter et al, 1993; Travé, 1963) [87], [116], [144]
Ở khu vực Trung Châu Mỹ, Schatz (2002), trên cơ sở các kết quả nghiên cứu mình kết hợp với các công trình của các tác giả khác đã tổng hợp và công bố bảng mục lục các loài Oribatida đã biết Danh sách gồm 543 loài Oribatida thuộc
87 họ Ngoài ra, ông còn liệt kê số lượng Oribatida ở các quốc gia và vùng lãnh thổ khác cũng thuộc Trung Mỹ như: Cuba (22 loài), Antilles (38 loài), asser Antilles (172 loài), Jamaica (28 loài), Dominica (21 loài) (Schatz, 2002) Số lượng loài Oribatida của Trung Mỹ, bao gồm cả Mexico là 978 loài, nếu cộng thêm cả Antilles nữa, con số này 1238 loài (Schatz, 2002) [128]
Ở Nhật Bản, có thể kể đến các công trình của Aoki nghiên cứu về quần
xã Oribatida ở các đảo [40], [41] S.Karasawa, 2004 đã nghiên cứu ảnh hưởng của sự đa dạng vi sinh cảnh (microhabitat) và sự phân cắt địa lý đến quần xã Oribatida ở rừng ngập mặn tại đảo Ryukyu (Nhật Bản) Oribatida được thu thập từ lá, vỏ cây (ở 3 độ cao 0-50, 5-100 và 100-150cm cách mặt đất), rễ cây, đất nền và từ tảo biển ở 2 hòn đảo cách nhau 470 km Kết quả cho thấy: Thành phần loài quần xã Oribatida ở vỏ rễ cây và vỏ thân cây có sự sai khác với ở lá cây, đất nền và tảo biển; quần xã Oribatida của cùng một kiểu sinh cảnh ở các địa điểm khác nhau có khuynh hướng giống nhau hơn là những quần xã ở các sinh cảnh khác nhau nhưng cùng một địa điểm Điều này có nghĩa là cùng một thành phần loài Oribatida ở rừng ngập mặn giống nhau do
bị ảnh hưởng của nhân tố đa dạng về vi sinh cảnh (đặc trưng đặc biệt bởi các cây ngập nước thủy triều) lớn hơn là do bị phân cách về địa lý (Karasawa, 2004) [68]
Trang 10Krivolutsky et al, (2004) đã thực hiện công trình nghiên cứu sự cư trú
của Oribatida trong lông các loài chim ăn thịt, chim cú…và đã thu thập được
180 loài Oribatida từ bộ lông của hơn 2100 cá thể chim thuộc 150 loài chim với các nhóm sinh thái khác nhau Một số loài Oribatida thường xuyên sống
trong lông chim (Krivolutsky et al, 2004) [73]
Các nghiên cứu về cấu trúc quần xã Oribatida có thể kể đến: Lindo et al,
(2007), nghiên cứu độ phong phú, độ giàu loài và thành phần quần xã Oribatida ở dưới mặt đất và trên tán cây của 12 cây thông đỏ ở rừng Thông-Độc (British Columbia, Canada), các mẫu được thu từ tán lá, từ 3 nhóm địa y chức năng khác nhau (địa y dạng lá, địa y dạng sợi và địa y dạng thùy) và dưới gốc cây Kết quả cho thấy: Oribatida là nhóm chân khớp ưu thế ở tất cả các kiểu sinh cảnh Số lượng chân khớp và Oribatida phong phú nhất ở đất rừng và trong mẫu địa y dạng lá so với các sinh cảnh khác (tán cây, địa y dạng
sợi, dạng thuỳ) (Lindo et al., 2007) [75]
Mối quan hệ giữa cấu trúc của quần xã Oribtida đối với sự quản lý đất như
sự thay đổi độ giàu hoặc, độ phong phú, chỉ số đa dạng loài đã được lượng hoá và được kiểm tra phạm vi rộng như sinh cảnh, thậm chí trong một số
trường hợp, ở phạm vi vùng đã được nghiên cứu (Maraun et al., 2000) [80]
Năm 2006, Zaitsev và Wolters đã thực hiện các đợt điều tra thu mẫu Oribatida theo một lát cắt ngang Châu Âu, từ Hà an đến Matxcơva (liên bang Nga) trong cùng một kiểu sinh cảnh (rừng rụng lá theo mùa) với mục đích đánh giá tác động của khí hậu lục địa đến cấu trúc và độ đa dạng quần xã Oribatida Kết quả nghiên cứu cho thấy: khí hậu lục địa có ảnh hưởng rõ ràng đến cấu trúc chức năng và độ đa dạng của các quần thể Oribatida như làm gia tăng độ phong phú (mật độ trung bình) của các loài sống trên bề mặt thảm lá, theo chiều từ phía Tây sang phía Đông và làm giảm độ phong phú của các
Trang 11loài sống trong lớp thảm Mặt khác, cũng có những dấu hiệu chỉ thị cho sự thay đổi cấu trúc khu hệ dần dần, dọc theo lát cắt từ Tây sang Đông Kiểu đất đóng vai trò điều chỉnh thành phần loài và độ giàu loài của quần xã Oribatida
(Zaitsev et al, 2006a,b) [122], [123]
Shen Jing et al, 200 đến điều tra sự khác nhau trong quần xã chân khớp
ở ba vị trí thuộc ba đai cao khí hậu (3837m, 4105m và 5050m) ở núi Shergyla, phía đông Tây Tạng, Trung Quốc và cho biết: Độ phong phú của các bậc taxon côn trùng đạt giá trị cao nhất ở đai cao thấp hơn Theo chiều thay đổi từ độ cao thấp (383 m) đến độ cao hơn ( 0 0m), các nhóm ưu thế thay đổi từ Prostigmata đến Mesostigmata và sau cùng là Oribatida (Shen Jing
et al., 2005) [101] Wu et al (200 ), đã có các nghiên cứu về đặc điểm của
cấu trúc quần xã Oribatida ở giữa vùng đồng bằng phía Tây, tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc Kết quả đã ghi nhận 96 giống, trong đó Oppia và Scutaracus là các nhóm chi phối chiếm 24,12% tổng số cá thể [121]
Chachaj et al, 2006 nghiên cứu động thái mùa độ phong phú của
Oribatida ở các đồng cỏ vùng đất thấp và các bãi chăn thả cừu, trâu bò ở một
số địa phương Bắc Ba Lan Kết quả cho thấy: Động vật chăn thả đã làm thay đổi động thái mùa của mật độ Oribatida ở bãi chăn thả khi so sánh với đồng
cỏ khô, chủ yếu do độ phong phú của một vài loài Oribatida, hầu hết
Oribatida đều nhạy cảm với động vật chăn thả (Chachaj et al., 2006) [56]
Năm 200 , Va’squez nghiên cứu đa dạng của các nhóm ve bét sống trong đất ở 2 sinh cảnh đất cây bụi và đất rừng rụng lá theo mùa ở Nam Mỹ
đã xác định: ở đất rừng rụng lá theo mùa có các giá trị của chỉ số định lượng như số lượng loài, chỉ số đa dạng loài H’, chỉ số đồng đều J’ đều cao hơn so
với đất cây bụi (Va’squez et al, 2007) [111]
Trang 12Minor et al (2004, 200 ) đã có các nghiên cứu về các ảnh hưởng của loại
đất canh tác, phân bón hữu cơ, phân ure, màng che ánh sáng…tới cấu trúc quần xã Oribatida ở khu vực New York Kết quả cho thấy loại đất ảnh hưởng
rõ rệt tới quy mô và sự đang dạng của quần xã Oribatida, phân bón hữu cơ làm gia tăng độ đa dạng và phong phú của quần xã Oribatida, phân bón ure không có ảnh hưởng lâu dài trong khi màng che ánh sáng gây nên mức độ ảnh hưởng nặng nề và lâu dài tới cấu trúc quần xã Oribatida [82], [83]
Lindo et al, (2007) thực hiện nghiên cứu thành phần và cấu trúc quần xã
Oribatida ở dưới mặt đất và trên tán cây thông đỏ (British Columbia, Canada) với 36 mẫu thu từ tán lá, 36 mẫu thu từ 3 nhóm địa y chức năng khác nhau (địa y dạng lá, địa y dạng sợi và địa y dạng thùy) và 36 mẫu dưới gốc cây Kết quả cho thấy: Oribatida là nhóm chân khớp ưu thế ở tất cả các kiểu sinh cảnh
Số lượng chân khớp và Oribatida phong phú nhất ở đất rừng và trong mẫu địa
y dạng lá so với các sinh cảnh khác (tán cây, địa y dạng sợi, dạng thuỳ) Địa y khí sinh là sinh cảnh ưu thế cho quần xã Oribatida sống trên cây ở vùng
nghiên cứu (Lindo et al, 2007) [75]
Demos et al (2007), trên các kết quả nghiên cứu đã xác định Oribatida là
nhóm chân khớp chiếm đa số sống trong đất, ăn nấm và ăn chất thối rữa, chúng
có vòng đời kéo dài hơn nhiều so với Astigmate (Demos et al, 2007) [60]
Ở Đông Dương, trước năm 194 , đã có một số công trình nghiên cứu về động vật đất trong đó có Oribatida như Berlese (1913) và Sellnick (192 ) nghiên cứu ở Inđônêxia Năm 19 0 trở lại đây, xuất hiện hàng loạt các công trình nghiên cứu của các tác giả như: J.Aoki 1973, 1974, 1988, 2009…, ở Nhật Bản [38], [39], [40], [41]; S.Mahunka, 1968 tại Indonêxia; Balogh và
S.Mahunka 1974 tại Malaixia; năm 19 6 tại Hồng Kông [16]; Aoki et al,
Trang 131993 tại Trung Quốc [42]; Ohkubo et al, 1995 [93]; LA.Corpus Rasos (1979,
1980, 1991, 1992…) và Tapas et al (2003), tại Philippin [108]
1.1.2 Nghiên cứu v sinh học và sinh thái học Oribatida
Nghiên cứu về sinh học và sinh thái học của Oribatida trên thế giới hiện nghiên cứu về các vấn đề: vai trò của Oribatida trong sự phân hủy và chu trình dinh dưỡng; nghiên cứu về quy luật và các yếu tố phát tán Oribatida; nghiên cứu về môi trường sống Oribatida; nghiên cứu về sự đa dạng và phân
bố của Oribatida trên toàn cầu…
Các nghiên cứu về vai trò của Oribatida trong sự phân hủy và chu trình
Các nghiên cứu của Krantz, 1978; Petersen et al, 1982 đã xác định
Oribatida tham gia tích cực trong sự phân huỷ vật chất hữu cơ, trong chu trình nitơ và trong quá trình tạo đất [70], [96] Tất cả các giai đoạn trong chu kỳ sống của chúng đều ăn với một phổ thức ăn rộng, bao gồm thực vật sống và chết, nấm, rêu, địa y và thịt thối rữa Nhiều loài là vật chủ trung gian của sán dây (sán sơ mít), một vài loài là động vật ăn thịt, không có loài nào sống ký sinh
(Krantz, 1978; Norton et al, 19 6) [ 0], [91] Ruseck, 1986 đã nghiên cứu cấu
trúc phân của Oribatida và phân bố trong cấu trúc đất (Ruseck, 1986) [98] Walter (1987), đã lưu ý rằng nhiều loài Oribatida được xem như nhóm ăn nấm, nhưng cũng ăn cả tảo và đóng vai trò như nhóm ăn Nematoda, nghiên cứu
đã xác định những loài này là bọn ăn tạp-Polyphagous (Walter, 1987) [115] Norton (1990), đã chỉ ra rằng Oribatida là động vật ăn hạt, chân kìm và các cấu tạo khác của phần phụ miệng được sử dụng cùng với nhau để cắt hay
xé hạt thành các tiểu phần có kích thước phù hợp để ăn (Norton, 1990) [88] Nghiên cứu một số loài thực nghiệm trong phòng thí nghiệm cho thấy nấm là
thức ăn được ưa thích hơn cả (Klironomos et al, 1995) [69]
Trang 14Các nghiên cứu của Mone et al (1988), cho thấy Oribatida là nhóm quan
trọng nhất trong số các động vật thuộc lớp hình nhện có ảnh hưởng cả trực tiếp và gián tiếp đến sự hình thành và duy trì cấu trúc đất, tham gia vào quá trình phân huỷ mùn và cấu trúc đất bằng cách nghiền nát các hợp chất hữu cơ
(Mone et al., 1988) [84] Oribatida góp phần phân tán vi khuẩn và nấm (bám
bên ngoài bề mặt cơ thể) hay ăn trực tiếp bào tử nấm, sau đó thải ra qua đường tiêu hóa Nhiều loài tích luỹ canxi và một số muối khoáng khác trong
lớp vỏ dạ dày của mình (Norton et al, 1991) [90]
Trong các giai đoạn sống thì tập tính dinh dưỡng có thể khác nhau giữa con non và con trưởng thành của chính 1 loài (Siepel, 1994) [102] Thời gian phát triển từ giai đoạn trứng đến giai đoạn trưởng thành khá dài, từ một vài tháng đến 2 năm trong điều kiện ở đất vùng ôn đới (Luxton, 1979) [76] Trong điều kiện khí hậu lạnh, có những loài Oribatida xác định có chu kỳ sống kéo
dài đến năm (Cannon et al, 1988) [55] Oribatida nhìn chung có tốc độ trao
đổi chất chậm, phát triển chậm, sinh sản chậm (Crossley, 1977) [57]
Norton (1994), cho rằng chưa có bằng chứng xác nhận mối liên quan giữa sinh lý tiêu hoá của Oribatida và sự tiến hóa thích nghi với điều kiện sống của môi trường (Norton, 1994) [89]
Đã có nhiều nghiên cứu về phản ứng sinh thái và sinh sản của các loài Oribatida đối với những biến đổi của môi trường (Behan-Pelletier, 1999;
Berch et al.,2007; Denneman et al., 1991; Lebrum et al., 1995; Nakamura et
al 2003, 2004; Taylor et al 2005 ) [50], [54], [59], [74], [85], [86], [109] Archaux et al (2006) [44], nghiên cứu đánh giá tác động của nạn hạn hán
mùa hè đến tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái và kết quả cho thấy những loài có tốc độ sinh sản chậm hay có sự vận động hạn chế là những loài bị tổn thương nhiều hơn Tuy nhiên, vẫn có những loài riêng biệt được điều chỉnh
Trang 15bởi những cơ cấu cho phép đề kháng lại sự khô hạn Mặc dù độ phong phú của nhiều loài nhìn chung là bị suy giảm trong thời kỳ khô hạn nhưng cũng có một vài taxon có thể gia tăng số lượng trong hoặc ngay sau thời kỳ khô hạn Các kết quả nghiên cứu của Krivolutsky trong nhiều năm về vai trò chỉ thị sinh học của Oribatida cho thấy rằng những thay đổi của môi trường sống thường dẫn đến phản ứng khá nhạy cảm và rõ rệt của cấu trúc quần xã động vật chân khớp bé ở đất Đối với mỗi kiểu đất, các nhóm chân khớp bé có nhiều mối quan hệ đặc trưng ở mức độ tập hợp các loài và mối tương quan số lượng Chính vì vậy, chân khớp bé (mà đại diện là Colembola, Oribatida) là nhóm động vật ở đất thích hợp làm sinh vật kiểm tra ở mức độ tổ hợp loài [71], [72], [137], [138]
Siepel (1996), đã đề xuất phương pháp so sánh ảnh hưởng của thực tiễn quản lý theo một lát cắt dọc qua các kiểu cảnh quan và giữa các vùng địa lý khác nhau trên cơ sở những hiểu biết về chu kỳ sống của các loài trong một tập hợp loài bất kỳ và so sánh chu kỳ sống “ linh động – tactics” của các loài trong tập hợp này giữa các địa điểm khác nhau (Behan-Pelletier, 1998; Siepel, 1996ab) [50], [103], [104]
sinh học đòi hỏi phải có sự hiểu biết về phân loại và sinh thái của loài trong quần xã (Behan-Pelletier, 1998; Day, 1990) [50], [58]
Theo Behan-Pelletier (1999), Oribatida là loài đông đảo xuất hiện chiếm
ưu thế trong những môi trường sống đặc trưng hay trong các quần hợp đặc trưng, nghiên cứu cấu trúc quần thể, độ giàu loài và đặc điểm sinh sản của
Gulvik M (2007) [63], nêu tổng quan các nghiên cứu về cấu trúc quần
xã động vật chân khớp bé ở đất nói chung và Oribatida nói riêng trong việc
Trang 16đánh giá mức độ tác động của con người đến hệ sinh thái đất Kết quả nghiên cứu đã nhận định sự thay đổi trong cấu trúc quần xã Oribatida có trở thành yếu tố chỉ thị cho sự thay đổi của môi trường đất
Trong hệ sinh thái đất, Oribatida chịu ảnh hưởng bởi các tác nhân sinh thái, mỗi loài Oribatida riêng biệt phản ứng một cách có chọn lọc với các loại thuốc bảo vệ thực vật (Behan-Pelletier, 1998) [52] Chúng tỏ ra “trơ” hay không nhạy cảm với thuốc trừ sâu Thí dụ như với chlorpyrifos (Stark, 1992) [89], phản ứng dương tính với thuốc trừ dịch hại và phản ứng âm tính với azadirachtin (Stark, 1992) [105] Tuy nhiên các nghiên cứu về ảnh hưởng của các loại thuốc bảo vệ thực vật đến Oribatida còn rất ít, cần được quan tâm và
bổ sung nhiều hơn (Van Straalen et al., 1998) [110]
Một số nghiên cứu cho thấy Oribatida là nhóm động vật nhạy cảm với sự
thay đổi chất lượng không khí (André et al, 1984; Steiner, 1995; Weigmann, 1991; Weigmann et al., 1992; André, 1976) [43], [107], [119], [130], [142]
Theo Steiner (1995), ô nhiễm không khí, đặc biệt trong trường hợp nồng độ
quần xã đơn điệu nhiều hơn Steiner cho rằng nhiều loài bị ảnh hưởng mạnh hơn bởi đặc trưng của vi sinh cảnh (microhabitat) hơn là bởi mức độ ô nhiễm
và sự thay đổi trong các cấu trúc quần thể [107]
Hasegawa M et al (2006) [64], nghiên cứu cấu trúc quần xã Oribatida
liên quan đến độ cao (700, 1700, 2700 và 3100 m so với mực nước biển) và nền địa chất sườn núi Kinabalu, Sabah, Malaysia cho thấy tổng mật độ hoặc
sự phong phú của quần xã oribatida bị ảnh hưởng bởi cả hai yếu tố địa chất và
độ cao, và cấu trúc thành phần loài bị ảnh hưởng mạnh bởi độ cao Nghiên
cứu của Illig J et al (2008), cũng chỉ ra rằng hoạt động sinh học của động vật
chân khớp bé bị ảnh hưởng rõ rệt bởi độ cao địa lý [66]
Trang 17Palacios-Vargas et al (2007), nghiên cứu thành phần và sự đa dạng động vật chân khớp bé trong hệ sinh thái đất rừng nhiệt đới khô ở Tây Mexico, kết quả thấy các nhân tố nhiệt độ và lượng mưa có mối quan hệ tương quan đáng
kể với mật độ cá thể động vật chân khớp bé [94]
Kết quả nghiên cứu của Migge-Kleian S et al (200 ), đã chỉ ra rằng với
mức độ tác động ngày càng tăng của con người đến các khu rừng nhiệt đới nhằm chuyển đổi rừng vào hoạt động canh tác nông lâm kết hợp làm suy giảm nghiêm trọng mật độ và độ phong phú loài Thay đổi độ pH của đất, giảm môi trường sống, xả rác và xáo trộn do con người gây ra thông qua các biện pháp canh tác đã làm suy giảm số lượng loài Collembola và Oribatida [81]
Nhìn chung, ngoài những nghiên cứu về thành phần và cấu trúc quần xã Oribatida, sinh học và sinh thái học của Oribatida, các nhà khoa học trên thế giới còn quan tâm nghiên cứu về các phương diện: nguồn gốc phát sinh Oribatida; lịch sử hình thành loài, hướng tiến hóa của Oribatida …
1.2 g ứ Ve giáp (Acari: Oribatida) ệ
Việt Nam nằm ở vị trí địa lý trung gian và chuyển tiếp của nhiều trung tâm phát sinh và phát tán, di cư của nhiều nhóm động vật trong đó có hệ động vật Oribatida Thêm vào đó là, lãnh thổ phía Bắc Việt Nam, theo Vũ Tự Lập (2006), có thể phân biệt làm 3 đai cao khí hậu chính, với một số á đai phụ, như đai nhiệt đới hơi ẩm đến ẩm ướt chân núi, ở độ cao 0-600 mét trên mặt biển; đai á nhiệt đới hơi ẩm đến ẩm ướt trên núi, cao 600-2600 mét; và đai ôn đới hơi ẩm đến ẩm ướt, ở độ cao từ trên 2600 mét (Vũ Tự Lập, 2006) [6] Như vậy, đặc điểm có đến 4/5 diện tích là vùng đồi núi ở lãnh thổ phía Bắc Việt Nam, với những đai cao khí hậu khác nhau có thể có ý nghĩa đến tính chất địa động vật của khu hệ Oribatida, cũng cần được chú ý [23] Vì thế các kết quả nghiên cứu về khu hệ và địa động vật Oribatida có ý nghĩa góp phần
Trang 18đánh giá đặc điểm khu hệ, nguồn gốc phát sinh và quan hệ tiến hoá của khu
hệ động vật Việt Nam nói riêng và của vùng nói chung [18]
Khu hệ Ve giáp Việt Nam mang tính chất Ấn Độ - Mã Lai rõ rệt, thuộc vùng địa động vật Đông Phương và mang tính đặc hữu cao Khu hệ có nhiều loài chung với khu hệ động vật Thái Lan, Philippin, Nhật Bản và các đảo vùng nam Thái Bình Dương [18]
1.2.1 Nghiên cứu v thành phần loài và c u trúc quần xã Oribatida
Năm 196 , trong công trình “New oribatids from Viet Nam” hai tác giả người Hungari là Balogh J và Mahunka S lần đầu tiên nghiên cứu và giới thiệu khu hệ, danh pháp đặc điểm phân bố của 33 loài Oribatida, trong đó mô
tả 29 loài và 4 giống mới Tiếp theo là nghiên cứu của hai tác giả Tiệp Khắc,
trước đây là Rajski và Szudrowicz (Balogh et al, 1967; Rajski et al, 1974)
[48], [97]
Sau năm 19 , Oribatida Việt Nam bắt đầu được các tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu chuyên sâu Các công trình nghiên cứu của
các tác giả nước ngoài như Balogh J et al (1967); Jeleva M et al (1987),
Mahunka (1987, 1988, 1989); Pavlitchenco P., 1991; Golosova L., 1983, 1984) [48], [67], [77], [78], [79], [95], [133], [134]; Nghiên cứu của tác giả Stary, 1993 [106] và Krivolutsky, 1997 [140], [141]
Vũ Quang Mạnh và cs, 1985, 1987 nghiên cứu về Oribatida bậc thấp ở
miền Bắc Việt Nam; đã đưa ra được thành phần loài Oribatida ở khu vực
nghiên cứu (Tsonev et al, 198 ; Vũ Quang Mạnh và cs, 1985, 1987) [125],
[126], [127], [132]
Từ sau 1975, các tác giả trong nước bắt đầu nghiên cứu độc lập về Oribatida Đầu tiên, phải kể đến công trình nghiên cứu của tác giả Vũ Quang Mạnh, 1980 nghiên cứu thành phần, phân bố và biến động số lượng của các
Trang 19nhóm Ve bét Cryptostigmata, Mesostigmata, Prostigmata (Acarina) và Bọ
nhảy Collembola (Insecta) ở một số sinh cảnh Tây Nguyên và ngoại thành Hà Nội Các loài có sự thay đổi về số lượng thành phần loài ở mỗi sinh cảnh khác nhau (Vũ Quang Mạnh, 1980) [7] Tiếp theo Vũ Quang Mạnh, 1984 dẫn liệu
về nhóm chân khớp bé (Microarthropoda) ở đất Cà Mau (Minh Hải) và Từ Liêm (Hà Nội) [8] Vũ Quang Mạnh, (1985) nghiên cứu về Oribatida ở các hệ sinh thái tự nhiên và ĐCT của miền Bắc Việt Nam [126] Năm 198 , Vũ Quang Mạnh công bố dẫn liệu về ve giáp (Acari: Oribatei) ở miền Bắc Việt Nam, các giống ve giáp bậc thấp [22] Đến năm 1989, Vũ Quang Mạnh công
bố kết quả nghiên cứu về cấu trúc quần xã oribatida dưới ảnh hưởng của một
số yêu tố tự nhiên và nhân tác chính ở miền Bắc Việt Nam [9] Sau đó Cao Văn Thuật, 1990 [25] công bố về Oribatida ở đất rừng đồi núi Đông Bắc của Bắc Việt Nam và Vương Thị Hoà về Oribatida và Bọ nhảy ở hệ sinh thái rừng của vùng thị trấn Tam Đảo [20], [21]
Vũ Quang Mạnh, 1990 đã tổng kết tất cả các công trình nghiên cứu Chân khớp bé ở Việt Nam cho đến thời điểm đó Tác giả đã rút ra kết luận về thành phần, đặc điểm phân bố và số lượng Chân khớp bé, nêu lên một số quy luật sinh thái quyết định sự hình thành cấu trúc của quần xã Oribatida ở đất Tác giả đã đưa ra danh sách 11 loài Oribatida đã biết ở Việt Nam cho đến thời điểm đó, cùng với đặc điểm phân bố của chúng theo vùng địa lý, loại đất và
hệ sinh thái (Vũ Quang Mạnh, 1990) [10]
Vũ Quang Mạnh, 1993 [11], trong kết quả nghiên cứu Oribatida ở vùng đồi núi Tây Bắc Việt Nam đã thêm một số loài đóng góp cho khu hệ Oribatida
đến thời điểm đó vẫn còn hạn chế
Trang 20Vũ Quang Mạnh, 1994 đã giới thiệu danh sách 28 loài Oribatida sống ở vùng đất ven biển Yên Hưng (Quảng Ninh), đảo Cát Bà (Hải Phòng) và đồng bằng sông Hồng (Từ Liêm, Hà Nội), đồng thời cũng đã nêu lên mối liên hệ giữa Oribatida vùng ven biển và vùng đảo so với Oribatida sống trong đất liền [12] Năm 199 , Vũ Quang Mạnh đã giới thiệu đặc điểm phân bố, mật độ và thành phần Chân khớp bé (Microarthropoda), trong đó có Oribatida ở hệ sinh thái đất ven biển Việt Nam Đã giới thiệu danh sách 146 loài và phân loài Oribatida ở Việt Nam cùng với đặc điểm phân bố của chúng [13]
Năm 1996, Vũ Quang Mạnh dựa trên công trình nghiên cứu quần xã động vật đất chân khớp bé (Microarthropoda) và động vật đất cỡ trung bình (Mesofauna) liên quan đến việc sử dụng thuốc trừ cỏ cho lúa đã đưa ra sự thay đổi thành phần các loài khác nhau cũng như mật độ nhóm chân khớp bé
ở sinh cảnh có thuốc diệt cỏ Sofit và không có đã có sự thay đổi tăng lên và giảm xuống hoặc không có ở một số loài (Vũ Quang Mạnh và cs, 1996) [32] Krivolutsky, 199 đã phát hiện thấy, khu hệ vùng núi cao Phanxipăng gồm có 7 họ không những là đại diện đặc trưng của miền Bắc Việt Nam mà còn là đặc trưng của hệ động vật mang tính Ấn Độ - Mã Lai, với yếu tố khí hậu ôn đới (Krivolutsky, 1997) [140]
Vũ Quang Mạnh, (2000) [14] đã tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu, các hướng nghiên cứu động vật đất và tổng kết vai trò của nhóm sinh vật đất nói chung và Oribatida nói riêng đối với sự phát triển bền vững của hệ sinh thái đất
Vũ Quang Mạnh, (2002) [1 ] đã đánh giá về đa dạng quần xã Oribatida vùng đồi núi Đông Bắc và Bắc Kạn; đưa ra nhận định độ phong phú các loài ở các sinh cảnh khác nhau do tình trạng cấu trúc của vi sinh cảnh thấp, tính đề kháng sự khô hạn thấp và nguồn thức ăn kém
Trang 21Vũ Quang Mạnh, (2004) khi giới thiệu về họ Oribatida Otocepheidae Balogh, 1961 của khu hệ động vật Việt Nam đã đóng góp thêm cho Việt Nam một họ mới [17]
Phan Thị Huyền và cs, (2004) đã nghiên cứu và xác định được 25 loài Oribatida thuộc 12 họ trong cấu trúc quần xã Ve bét ở hệ sinh thái vùng rừng Vườn Quốc gia Ba Vì [5]
Vũ Quang Mạnh và cs (200 ) đã công bố khu hệ Oribatida Việt Nam;
bao gồm 158 loài, thuộc 46 họ, khu hệ này mang yếu tố Ấn Độ - Mã Lai và thuộc vùng địa động vật Đông Phương Tuy nhiên khu hệ Oribatida Việt Nam
có tính chất chuyên biệt cao, có tới 76 loài chỉ mới phát hiện được ở Việt Nam Đồng thời, cũng có một số loài mang đặc điểm chung của khu hệ Thái
an, Inđônêxia, Malaixia, Philipin, Nhật Bản và các đảo Nam Thái Bình Dương Tại một số khu hệ Oribatida vùng núi phía Bắc mang yếu tố động vật
Cổ Bắc thuộc các giống Nothrus C.L Koch, 1836; Metabelba Grandjean, 1956; Tectocepheus Berlese 1913; Oppia C.L Kock, 1836; Xylobates Jacot, 1929; Scheloribates Berlese, 1908; Orbatella Bank, 1895; Achipteria Berlese,
1885 và Galumna Heyden, 1826 [24], [28]
Vũ Quang Mạnh và cs (2006) đã công bố Oribatida họ Oppidae Grandjean, 1954; phân họ Oppiinae Grandjean, 1951 và Mulltioppiinae Balogh, 1983 ở Việt Nam [2 ] Vũ Quang Mạnh và cs., 2006 [34], tiếp tục nghiên cứu và giới thiệu các phân họ Pulchroppiinae, Oppiellinae, Mystrppiinae, Brachyoppiinae, Arcoppiinae ở Việt Nam
Vũ Quang Mạnh và cs (200 ) đã công bố 3 loài Oribatida thuộc giống
Perxylobates Hammer 1972, hiện có ở Việt Nam [31] Vũ Quang Mạnh đã
tổng kết và giới thiệu toàn bộ các loài Oribatida đã phát hiện được từ trước tới nay ở Việt Nam của các tác giả trong và ngoài nước trong công trình Động
Trang 22vật chí Việt Nam Tác giả đã giới thiệu hệ thống phân loại và danh pháp đầy
đủ nhất của 150 loài trong khoảng 180 loài Oribatida đã biết của khu hệ động
Kết quả phân tích đặc điểm địa động vật của khu hệ Oribatida Việt Nam
đã phát hiện thấy, khu hệ vùng núi cao Phăngxipăng gồm có 7 họ, là những đại diện đặc trưng của vùng Cổ Bắc (Palearctic) Đáng chú ý là ở vùng núi cao phía bắc Việt Nam đã phát hiện thấy đại diện của nhiều giống như
Nothrus C L Koch, 1836; Metabelba Grandjean, 1956; Tectocepheus Berlese, 1913; Oppia C L Koch, 1836; Xylobates Jacot, 1929; Scheloribates Berlese, 1908; Oribatella Bank, 1895; Achipteria Berlese, 1885 và Galumna
Heyden, 1826 là những cư dân phổ biến của vùng Cổ Bắc (Palearctic)
Krivolutsky (1998) đã phát hiện được 3 loài mới cho khoa học, là Nothrus baviensis, N montanus và N shapensis, phân bố ở vùng núi cao Phăngxipăng
(Lào Cai) và Ba Vì (Hà Tây), thuộc giống đặc trưng cho vùng Cổ Bắc [18] Nhận xét này cũng tương tự như phân tích rút ra từ kết quả điều tra của Mahunka (1987) về khu hệ Oribatida Việt Nam và các vùng liên quan; là vùng lãnh thổ phía bắc có thể được xem như phần chuyển tiếp của vùng địa động vật miền Nam Trung Hoa, nơi có sự pha trộn một số yếu tố địa động vật
1961 Riêng giống Ve giáp Papillacarus Kunst, 1959 hiện biết ở Việt Nam có
3 loài, là Papillacarus aciculatus (Berlese, 1905), Papillacarus arboriseta Vu
et Jeleva, 1987 và Papillacarus undrirostrarus Aoki, 1964
Trang 23Năm 2008, Vũ Quang Mạnh và cộng sự đã nghiên cứu cấu trúc quần xã Chân khớp bé trong đó có Oribatida, về ảnh hưởng và vai trò của chúng đối với các loại đất và đặc điểm của thảm cây trồng và loại đất ở vùng đồng bằng Sông Hồng Tác giả đã chỉ rõ, thành phần loài Oribatida xác định được phong phú nhất ở sinh cảnh bãi cỏ hoang, với 15 loài Số lượng loài Oribatida giảm dần từ sinh cảnh RTN và vườn quanh nhà, đều có 9 loài; đến RNT và đất trồng cây gỗ lâu năm, với 7 loài; thấp nhất ở ruộng lúa cạn, với 2 loài (Vũ Quang Mạnh và cs, 2008) [29], [30]
Đào Duy Trinh và cs (2010) [36] nghiên cứu về thành phần loài và cấu trúc quần xã Ve giáp ở VQG Xuân Sơn, Phú Thọ đã xác định được 102 loài
và 1 phân loài Oribatida, thuộc 48 giống và 28 họ
Năm 2011, Emilov et al đã công bố thêm 1 loài Oribatida mới cho khoa học
và khu hệ Oribatida Việt Nam là loài Galumna (Cosmogalumna) tenensis n.sp
[62]
1.2.2 Nghiên cứu v sinh học và sinh thái học Oribatida
Vũ Quang Mạnh và cs, (1990) đã đưa ra đặc điểm nhóm động vật Microarthropoda, đặc biệt là nhóm Oribatida có vỏ cơ thể cứng, mật độ cá thể lớn tương đối ổn định, thành phần loài phong phú, phân bố rộng, dễ dàng thu bắt nên chúng được chú ý như đối tượng nghiên cứu mẫu trong nhiều nghiên cứu sinh thái học, động vật hoặc phân vùng địa lý Chỉ riêng Oribatida đã có trên 60 loài là vật chủ trung gian của sán dây họ Anoplocephadae (Cestoda),
ký sinh và gây bệnh cho gia súc [25]
Vũ Quang Mạnh và cs (2000, 2002) [21], [113] đã đưa ra dẫn liệu về vai trò và cấu trúc quần xã chân khớp bé (Oribatida và Collembola) ở vùng rừng Tam Đảo (Vĩnh Phúc); có nhận xét cấu trúc quần xã Oribatida ở hệ sinh thái đất có liên quan rõ rệt với sự suy giảm của cây gỗ rừng Nó có thể được xem
Trang 24xét và đánh giá như một đặc điểm sinh học, chỉ thị quá trình diễn thế của rừng Tam Đảo nói riêng và của Việt Nam nói chung
Phan Thị Huyền và cs, (2004) [5] dựa trên những nghiên cứu cấu trúc quần xã Ve bét trong hệ sinh thái rừng VQG Ba Vì, Việt Nam đã xác định được mối liên hệ giữa đai cao khí hậu ảnh hưởng tới cấu trúc quần xã Oribatida
Trong báo cáo tại hội nghị Techmart tại Tây Nguyên vào tháng 4/2008, nhóm tác giả: Vũ Quang Mạnh và cộng sự nghiên cứu cấu trúc quần xã động vật đất - yếu tố chỉ thị sự phát triển bền vững của hệ sinh thái đất đã cho thấy cấu trúc quần xã Microarthropoda và Mesofauna ở hệ sinh thái đất là một chỉ thị sinh học đa dạng và thay đổi linh hoạt Trong cấu trúc quần xã động vật đất, Ve giáp là nhóm Microarthropoda ưu thế, chiếm đến 40-50% tổng số lượng, ở 5/6 nhóm sinh cảnh nghiên cứu; bao gồm sinh cảnh ruộng lúa cạn, RNT, TCCB, đất trồng cây gỗ lâu năm, sinh cảnh RTN Mật độ quần xã Oribatida đạt cao nhất ở TCCB, RNT, RTN, và thấp nhất ở sinh cảnh VQN
Vì vậy chúng là những đại diện quan trọng cần được nghiên cứu trong hệ sinh thái đất (Vũ Quang Mạnh và cs, 2008) [33]
Vũ Quang Mạnh và cs, (2008) nghiên cứu cấu trúc quần xã Oribatida, về ảnh hưởng và vai trò của chúng đối với các loại đất và đặc điểm của thảm cây trồng ở vùng đồng bằng Sông Hồng đã nhận định cấu trúc quần xã nhóm Microarthropoda ở đất rất đa dạng và thay đổi theo đặc điểm thảm thực vật và cây trồng, nên nó có thể được khảo sát như một chỉ tiêu sinh học đánh giá biến đổi của môi trường đất [29], [30]
Những nghiên cứu về vai trò chỉ thị sinh học của các quần xã động vật đất, trên cơ sở khoa học với các phương pháp chuẩn đã được thực hiện ở nước
ta trong khoảng thời gian dài Các kết quả nghiên cứu cấu trúc quần xã động
Trang 25vật chân khớp và giun, chỉ thị cho kiểu thảm phủ thực vật, cho loại đất, cho nhóm loài địa phương và nhập nội, chỉ thị cho mức độ thay đổi của cảnh
quan, cho diễn thế thảm thực vật (Tsoner et al, 198 , Vũ Quang Mạnh, 1989,
2004 ) [9], [104], [112] Ngoài ra còn có thể kể 1 số nghiên cứu dùng cấu trúc quần xã bọ nhảy và Oribatida như chỉ thị sinh học cho biến đổi cảnh quan
và mức độ ô nhiễm môi trường đất, sử dụng thuốc trừ sâu trong sản xuất nông nghiệp, cho sự biến đổi môi trường và cảnh quan đô thị, biến đổi khí hậu… (Vương Thị Hoà và cs, 200 ; Vũ Quang Mạnh, 2000; Vũ Quang Mạnh và cs, 1996; Nguyễn Trí Tiến và cs, 1988 ) [4], [14], [32], [92], [114]
Như vậy, Oribatida ở Việt Nam đã có thời gian nghiên cứu khá lâu dài, các công trình nghiên cứu khá đa dạng trên nhiều lĩnh vực như nghiên cứu về
đa dạng thành phần loài, nghiên cứu về sinh thái học, về vai trò chỉ thị sinh học… Các nghiên cứu hầu hết đều tập trung tìm hiểu thành phần loài và được tiến hành nhiều ở lãnh thổ phía bắc của đất nước, cũng đã có một vài nghiên cứu ở miền Nam, và khu vực Tây Nguyên và chưa thấy có công trình nghiên cứu nào về Oribatida ở khu vực Bắc miền Trung- khu vực có tọa độ địa lý trải dài và chịu ảnh hưởng của điều kiện khí hậu gió mùa Tây Nam khô, nóng Đối với nhóm động vật có sự đa dạng và phong phú rất cao như Oribatida thì những nghiên cứu như thế vẫn là chưa đủ Vì thế, việc nghiên cứu Oribatida ở nhiều vùng miền, nhiều hệ sinh thái khác nhau là cần thiết, đặc biệt là các nghiên cứu tổng hợp cấu trúc quần xã Oribatida về thành phần loài, mật độ quần thể, độ đa dạng loài, độ đồng đều quần xã và việc đánh giá vai trò của chúng trong hệ sinh thái đất Các nghiên cứu như vậy có ý nghĩa thiết thực, giúp hiểu biết đầy đủ về tài nguyên đa dạng sinh học Việt Nam, là cơ sở khoa học cho việc quản lý và khai thác bền vững hệ sinh thái đất, cải tạo, bảo vệ và phục hồi tài nguyên môi trường đất
Trang 26Cho đến nay, đã có những nghiên cứu khá đồng bộ về động, thực vật ở Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình, nhưng chưa thấy có một công trình nghiên cứu nào về thành phần và cấu trúc quần xã OribatidaCó thể coi những nghiên cứu của đề tài luận án là những nghiên cứu đầu tiên về thành phần và cấu trúc quần xã Oribatida ở VQG Phong Nha - Kẻ Bàng Chính vì vậy, việc tiến hành nghiên cứu, cũng như phân tích tổng hợp về thành phần và cấu trúc quần xã Oribatida ở VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình là thực sự cần thiết
Trang 27CHƯƠNG 2 ỊA IỂM, THỜI GIAN, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG
thuộc 2 huyện Minh Hoá và Bố Trạch, đó là các xã Dân Hoá, Hoá Sơn, Trung Hoá, Thượng Hoá (huyện Minh Hoá), Xuân Trạch, Thượng Trạch, Tân Trạch, Phúc Trạch, Sơn Trạch (huyện Bố Trạch) Các xã giáp ranh gồm: Hưng Trạch (huyện Bố Trạch), Phú Định (huyện Bố Trạch) và Trường Sơn (huyện Quảng Ninh), tỉnh Quảng Bình [148] VQG Phong Nha - Kẻ Bàng có tọa độ địa lý:
Địa hình khu vực VQG là một vùng núi đá vôi chiếm hầu hết diện tích, phi Karst chiếm một diện tích nhỏ ở các phạm vi giáp ranh, có độ cao trung bình khoảng 600 - 700 m, tạo thành một dải dài khoảng 50 km dọc biên giới Việt - Lào Nhìn tổng quát trong khu vực có 3 kiểu địa hình chính:
Địa hình phi Karst: đồi núi thấp, đỉnh tròn, các bề mặt san bằng, các thềm mài mòn- tích tụ dọc thung lũng sông Son, sông Chày và phân bố ven rìa khối đá vôi trung tâm Địa hình chuyển tiếp, có sự xen kẽ phức tạp giữa các khối đá vôi và địa hình lục nguyên Địa hình Karst đặc trưng cho Karst cổ nhiệt đới được hình thành chủ yếu trong Kainozoi chiếm khoảng 2/3 diện tích
Trang 28VQG Phong Nha – Kẻ Bàng tạo nên một hoang mạc đá vôi lớn nhất thế giới [3], [147]
Địa chất: Cấu trúc địa chất thể hiện tính đa dạng và lịch sử phát triển lâu dài của vỏ Trái Đất: có đầy đủ các giai đoạn phát triển chính (từ kỷ Ordovic) đến nay, trải qua 5 chu kỳ kiến tạo lớn, tương ứng với giai đoạn tiến hoá địa chất của thế giới [3], [147]
Thổ nhưỡng: Kết quả của quá trình vận động địa chất đã hình thành sự
đất chỉ chiếm 37,3% diện tích toàn vùng; phần còn lại là đá vôi (phụ lục 2)
2.1.1.2 Khí h u và th y ă
C Do ảnh hưởng của khối núi đá vôi rộng lớn nên nhiệt độ dao động khá lớn, cực đại
trong năm vào các tháng 12, 1, 2 Các tháng nóng nhất trong năm vào các
thường chịu ảnh hưởng của gió " ào" khô và nóng Đó là kết quả của dãy núi
đá vôi cao gần 1000m chắn dọc biên giới Việt - Lào Nhiệt độ cao tuyệt đối
VQG Phong Nha – Kẻ Bàng là một vùng núi đá vôi rộng lớn nên ảnh hưởng đến sự dmao động giữa ngày và đêm, biên độ nhiệt trong ngày rất lớn
VQG Phong Nha - Kẻ Bàng nằm trong vùng có lượng mưa lớn, bình quân từ 2000m đến 2500mm/ năm Khu vực núi cao giáp biên giới Việt - Lào lượng mưa còn lên tới 3000mm/ năm (Minh Hoá) Tổng lượng mưa trong mùa mưa (từ tháng đến tháng 12) rất cao, chiếm tới 88% tổng lượng mưa
Trang 29năm Số ngày mưa vùng ven biển chỉ có 135 ngày, lên miền núi số ngày mưa tăng dần hơn 160 ngày Biến trình mưa năm có 2 cực đại: chính vào tháng 10 (500-600mm) và phụ vào tháng 5 hoặc tháng 6 (trên 100mm); một cực tiểu vào tháng 2 hoặc tháng 3 (30-40mm) [3], [147]
Độ ẩm không khí ở mức trung bình (83-84%) Mùa khô có độ ẩm thấp hơn nhiều, chỉ còn ở mức 66-68%, cá biệt có ngày xuống tới 28% Đây là những ngày “gió ào” thổi mạnh, thời tiết rất khô, nóng [3], [147]
Chế độ gió: Có 2 mùa gió chính là mùa đông và mùa hè Gió mùa đông:
từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau, thịnh hành hướng gió Đông Bắc xen giữa các đợt gió Đông Bắc là những ngày gió Đông hoặc Đông Nam
Gió mùa hè: Do yếu tố địa hình nên các ngọn núi cao ngăn chặn hướng gió Tây Nam và đổi hướng thành gió Tây Bắc từ tháng đến tháng 8 Gió này khô nóng gây không ít khó khăn cho sản xuất nông nghiệp và công tác bảo vệ rừng Ngoài ra còn gió Đông và Đông Nam thổi từ biển vào thịnh hành từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau, thường thổi đan xen với gió mùa Đông Bắc Nhìn chung gió Đông Nam có tốc độ thấp, trừ trường hợp giông bão, sức gió mạnh nhất có thể lên tới cấp 10,11 [3], [147]
2.1.1.3 Tài nguyên ự v ộ g
Khu hệ thực vật: Hệ quả của các đặc điểm địa hình, khí hậu, đất, thủy văn đã hình thành một khu hệ thực vật phong phú và độc đáo Khu hệ thực vật Phong Nha - Kẻ Bàng phong phú và đa dạng gồm 2.651 loài thuộc 193 họ,
906 chi của 6 Ngành thực vật khác nhau Có nhiều loài đặc hữu và quý hiếm nằm trong sách đỏ Việt Nam và sách đỏ thế gới (IUCN) [1], [148]
Hệ thực vật đa dạng còn thể hiện là nơi giao lưu của 2 khu hệ thực vật Nam và Bắc Việt Nam Đây là ranh giới tận cùng phía nam của một số loài
thực vật phía bắc như: nghiến (Burretiodendron hsienmu), chò nước
Trang 30(Platanus kerrii) và cũng là ranh giới tận cùng phía bắc của một số loài thực vật phía nam như: dầu ke (Dipterocarpus kerrii), dầu đọt tím (Dipterocarpus grandiflorus) [147]
Khu hệ thực vật Phong Nha - Kẻ Bàng thực sự phong phú và đa dạng Được xem như là một "Kho lưu trữ các nguồn gen hoang dại" đặc trưng của
hệ sinh thái rừng nhiệt đới trên núi đá vôi lớn nhất tại Việt Nam [1], [147] Khu hệ động vật: mang tính hỗn hợp của các yếu tố địa lý động vật ôn đới cao, cận nhiệt đới, nhiệt đới và đặc hữu, là hệ quả của sự phong phú về thành phần loài Nhiều loài đặc hữu hẹp, nhiều loài thú lớn là đối tượng bảo
vệ cấp thiết toàn cầu; đặc biệt tại đây phát hiện ra nhiều loài mới; Sao La, Mang lớn, Mang Trường Sơn; một số loài cá mới Về động vật, sơ bộ đã ghi nhận được 802 loài động vật có xương sống bao gồm: Lớp thú: 140 loài thuộc
64 giống, 31 hộ, 10 bộ; Lớp chim: 356 loài thuộc 137 giống, 52 họ, 18 bộ; Lớp cá: 162 loài thuộc 85 giống, 31 họ, 11 bộ; Lớp bò sát: 97 loài, thuộc 43 giống, 14 họ, 2 bộ; ưỡng cư: 4 loài, thuộc 9 giống, 6 họ, 1 bộ [1], [148]
2.1.1.4 ặ ể dân sinh và sả x kinh
Dân số và dân tộc trong VQG Phong Nha – Kẻ Bàng: Trong vùng trung tâm VQG Phong Nha – Kẻ Bàng có hai bản định cư gồm: Bản 39 thuộc xã Tân Trạch, huyện Bố Trạch và bản Yên Hợp (gồm các xóm Ón, Rục Làn, ồ
Hầu hết các dân tộc thiểu số của tỉnh Quảng Bình đều có mặt và sinh sống tập trung trong vùng đệm của VQG Ngoài người Kinh chiếm phần đông đảo, trong khu vực có hai dân tộc thiểu số được xếp hạng trong số 54 dân tộc Việt Nam là: dân tộc Vân Kiều và dân tộc Chứt Dân tộc Vân Kiều bao gồm các tộc người: Vân Kiều, Khùa, Ma Coong và Trì Dân tộc Chứt gồm các tộc người: Sách, Mày, Rục và Arem [3], [147]
Trang 31Sản xuất nông nghiệp là lĩnh vực sản xuất chủ yếu của nhân dân vùng đệm khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng Ngoài kinh tế nông nghiệp và lâm nghiệp, trong khu vực vùng đệm Phong Nha - Kẻ Bàng còn tồn tại một số loại hình kinh tế khác nữa như xây dựng cơ bản, giao thông vận tải, khai thác vật liệu, chế biến nông lâm sản, buôn bán các sản phẩm từ rừng và du lịch [3], [147]
2 2 ị ể g ứ
Nghiên cứu được tiến hành ở VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình, trong các sinh cảnh: RTN là sinh cảnh khá ổn định, gồm chủ yếu các loài thân cây gỗ, có độ che phủ cao, với cấu trúc nhiều tầng Trong rừng ánh sáng ít khi rọi tới mặt đất, do đó độ ẩm cao, nhiệt độ thấp và ít biến đổi hơn so với các sinh cảnh khác Đặc trưng quan trọng của sinh cảnh rừng là sự đa dạng về điều kiện sinh thái, đặc biệt là ánh sáng, độ ẩm và gió theo các tầng
mà các loài sinh vật khác nhau có thể cùng chung sống, tạo ra mức độ đa dạng sinh học và đa dạng sinh thái cao, thể hiện trước hết ở các loài thực vật [2], [35], [37], [147]
RNT là sinh cảnh có nguồn gốc trực tiếp từ kiểu rừng tự nhiên sau khi chịu tác động của con người với mức độ nhiều hoặc ít, trong thời gian lâu hoặc
hầu như đã bị chặt Tầng tán lá thường bị đứt đoạn với các khoảng trống lớn Ánh sáng dễ dàng lọt xuống mặt đất, làm cho đất rừng bị nóng lên, độ bốc hơi tăng là điều kiện làm cho các cây ưa sáng phát triển [2], [35], [37], [147]
TCCB là sinh cảnh có phần lớn diện tích, là dấu tích để lại của các hoạt động sử dụng rừng và đất rừng Lớp cây gỗ lớn chỉ có ít cây rải rác, cự li cách nhau hàng chục mét Chúng phần lớn là những cây gỗ tạp như đa, trâm, sảng, mắn đỉa, gáo có phẩm chất kém (thân hình ít thẳng, u bướu, mục gốc, mục thân ) Tầng tán chính của kiểu sinh cảnh này được cấu tạo bởi các cây bụi
Trang 32thân gỗ như sòi tía, cò ke, hu, mần tang, thầu tấu, đom đóm, hoa dẻ, thao kén,
cỏ trấu, cỏ tranh, cỏ Lào hoặc lau lách Trên trảng cây bụi, hầu hết các cây
gỗ to không còn và nếu có thì rất thưa thớt Ánh sáng chiếu thẳng xuống mặt đất nên đất khô và nóng, làm cho tầng nước ngầm tụt xuống thấp Đất ở đây thường bị sói mòn mạnh, bị dẫm đạp nhiều và bị đốt cháy thường xuyên [2], [35], [37], [147]
ĐCT là sinh cảnh bao gồm trồng các cây ngắn ngày trong 1 vụ như lúa,
phù sa bồi hàng năm được khai phá từ lâu để trồng lúa và cây màu (ngô, khoai, lạc, đậu) và đất sườn đồi hoặc thung lũng được khai phá làm nương rẫy[2], [35], [37], [147]
ĐBT là loại sinh cảnh được cấu tạo bởi nhóm loài cây ưa ẩm có khả năng chịu ngập không thường xuyên tập trung ven bờ các sông, suối [2], [35], [37], [147]
2 ờ g g ứ
Nghiên cứu Oribatida ở VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình được tiến hành từ năm 2008 đến năm 2011
2.2 V t liệu nghiên cứu
Tổng số 440 mẫu định lượng (đất, thảm lá, rêu) và 150 mẫu định tính thu được ở bảy sinh cảnh (RTN NĐV, RNT NĐV, RTN NĐ, RNT NĐ, TCCB, ĐCT, ĐBT) vào 2 mùa trong năm: mùa khô và mùa mưa
Dụng cụ thu mẫu ngoài thực địa: Hộp cắt kim loại hình khối hộp chữ nhật cỡ (5x5x10) cm Túi nilon đựng mẫu, bút dạ không xóa, sổ ghi chép, … Dụng cụ nghiên cứu trong phòng thí nghiệm: Hệ thống lọc mẫu đất (rây lọc, phễu lọc,…)
Trang 33Hình 2.1: Bản đồ các điểm thu mẫu ở vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình
Trang 34Dụng cụ tách mẫu, phân tích mẫu và làm tiêu bản: đĩa petri, lam kính, lamen, ống hút, bút tách mẫu, giấy thấm, bông
Kính lúp Olympus SZ40; Kính hiển vi Olympus CH2; Chụp ảnh Oribatida ở kính Olympus có độ phóng đại từ 40 - 100 lần
2 g g ứ
Phương pháp thu mẫu đất, tầng rêu và thảm lá rừng, tách lọc và phân tích
xử lý mẫu Oribatida được sử dụng theo phương pháp chuẩn chuyên ngành và
đã được áp dụng đồng bộ ở Việt nam (Krivolutsky, 1975; Edwards, 1991;
Schinner et al, 1996 và Vũ Quang Mạnh, 2004) [16], [61], [99], [135]
2 g ẫu
Chuẩn bị dụng cụ đi thực địa: Bản đồ, túi nilon, giấy can, nhãn, bút kim,
sổ ghi nhật ký, máy ảnh, dụng cụ đào đất, dao cạo rêu…
Thu mẫu đất, thảm lá xác vụn thực vật trên mặt đất và tầng rêu bám trên thân cây:
Mẫu đất được lấy ở độ sâu 0-10cm (ký hiệu -1) và 11-20cm (ký hiệu -2) với kích thước của mỗi mẫu thu là 5x5x10cm thực hiện ở cả 7 sinh cảnh Đối với thảm lá và xác vụn thực vật trên mặt đất (ký hiệu 0), chúng tôi tiến hành gom tất cả lá mục, cành cây, xác hữu cơ phủ trên mặt đất có diện
núi đá vôi và trên nền núi đất
Đối với các mẫu thảm rêu (ký hiệu +1) chỉ thực hiện ở 4 kiểu sinh cảnh RTN và RNT trên nền núi đá vôi và trên nền núi đất: cạo rêu bám trên thân cây gỗ rừng ở độ cao từ 0 + 100cm của thân cây so với mặt đất với khối lượng mẫu 200-300 gram
Trang 35Tất cả các mẫu (rêu, thảm lá, đất) sau khi thu được đều phải cho ngay vào túi nilon riêng, đem cân khối lượng mẫu, bên ngoài túi dùng bút không thấm nước ghi các thông số cần thiết như: ngày, tháng, sinh cảnh, loại mẫu, tầng đất… Dùng dây chun cột chặt mẫu Tất cả các mẫu trong cùng một sinh cảnh để vào một túi nilon to, tránh nhầm lẫn và đều được ghi vào sổ nhật ký thực địa Mẫu được đem về phòng thí nghiệm để phân tích trước 5 - 7 ngày sau khi thu mẫu, càng sớm càng tốt
2 2 g ọc mẫu Oribatida
Các mẫu đất sau khi thu ở thực địa về, sẽ tiếp tục tiến hành tách động vật chân khớp bé ra khỏi đất theo phương pháp phễu lọc “Berlese- Tullgren”, dựa theo tập tính hướng đất dương và hướng sáng âm của động vật đất, trong thời gian ngày đêm, ở điều kiện nhiệt độ phòng thí nghiệm
Phương pháp xử lý mẫu, bảo quản và định loại: Các ống nghiệm chứa động vật thu được nhờ phễu “Berlese- Tullgren” sẽ được đổ trên giấy lọc đặt sẵn trong đĩa petri để dưới kính lúp 2 mắt để nhặt riêng từng nhóm Oribatida Các mẫu Oribatida không làm tiêu bản, sẽ được cho vào trong ống nghiệm chứa dung dịch định hình là formol 4% Các ống nghiệm đều được gắn nhãn ghi đầy đủ ngày thu mẫu, địa điểm Mẫu vật nghiên cứu được bảo quản tại Trung tâm Đa dạng sinh học (CEBRED), Đại học sư phạm Hà Nội
2 g ịnh loại Oribatida
Mẫu Oribatida, trước khi được định loại cần được tẩy màu, làm trong vỏ kintin cứng Quá trình làm trong màu có thể diễn ra trong một vài ngày hoặc lâu hơn nên cần nhặt Oribatida riêng ra một lam kính lõm Đưa lam kính quan sát dưới kính lúp: dựa vào đặc điểm hình dạng ngoài, dùng kim tách sơ bộ chúng thành nhóm có hình thù giống nhau riêng Đặt lamel ở bên trái lam kính sao cho chỉ phủ một phần chỗ lõm Nếu dung dịch axit nhỏ vào chỗ lõm
Trang 36dưới lamel chưa đầy cần bổ sung cho đầy Dùng kim chuyển từng Oribatida vào chỗ lõm dưới lamel để quan sát ở các tư thế khác nhau theo hướng lưng, bụng và ngược lại Khi mẫu ở đúng tư thế quan sát, ta chuyển sang ở kính hiển vi
Sau khi định loại xong, các loài được đo kích thước và chụp ảnh; tất cả các cá thể cùng một loài để chung vào một ống nghiệm, dùng dung dịch định hình bằng formol 4% Dùng giấy can ghi các thông số tên loài cần thiết bằng bút chì rồi nút bằng bông không thấm nước; tất cả các ống nghiệm được đặt chung vào lọ thuỷ tinh lớn chứa formol 4% để bảo quản lâu dài Ghi tất cả các tên loài đã được định loại vào nhật ký phòng thí nghiệm
Đặc điểm hình thái phân loại Ve giáp (Acari: Oribatida):
H 2 2 S ồ c ể c a Oribatida ( ũ Q ang Mạnh, 2007) [18]
Ghi chú: Prosoma là phần đầu ngực bao gồm cả 4 đôi đôi chân I, II, III và
IV
Proterosoma là phần trước đầu ngực chỉ bao gồm 2 đôi chân trước
Trang 37Hysterosoma là phần thân bao gồm cả vùng giáp hậu môn (AN), giáp
sinh dục (G) và 2 đôi chân sau
Prodorsum là tấm giáp đầu ngực; Notogaster là tấm giáp lưng
Gnathosoma là phần hàm miệng
Propodosoma là phần thân trước mang đôi chân I và II
Metapodosoma là phần thân giữa mang đôi chân III và IV
Podosoma là phần ngực bao gồm cả 4 đôi chân
Hình 2.3 C u ể và c u tạo q a Oribatida ( ũ Quang Mạnh, 2007) [18]
a Mặ g, b ặt bụng, c Mặt bên
Ghi chú: ro: Chóp đỉnh rostrum: ro, lm: Lông rostrum; tấm lamella
le, in, ss: Lông mọc trên lamella, lông interlamela, lông sensilus
Trang 38Bothridium: Gốc của lông sensilus
Exa và Exp: ông trước gốc bothridium và lông sau gốc bothridium tutorium: Tấm ki tin chìa ra nằm dưới và chạy song song với lamella cuspis: phần đỉnh của tấm lamela chìa lên bề mặt cơ thể
prolamela: Phần tấm kéo dài ở trước lamella, không chìa lên trên bề mặt
cơ thể
c1, c2, c3, cp, d1, d2, e1, e2, f1, f2, h1, h2, h3, ps1, ps2, ps3: Các lông notogaster ở ve giáp bậc thấp; gla: Tuyến dầu nhờn; h: ông dưới miệng; 1a, 1b, 1c, và 2a, 3a, 3b, 3c, và 4a, 4b, 4c, 4d: Các lông của epimeres 1, 2, 3 và 4; ap1, ap2, ap3, ap4, ap5, ap sej., ap.st.: Các mấu lồi trong apodemes; ep1, ep2, ep3, ep 4: Các gân cơ epimeres của gốc chân; pd1, pd2, pd3, pd4: Các tấm pedotecta phủ mặt trên của gốc các chân; ia, ih, im, ips, iad, ian: Các khe cắt lyrifissures
G, AG: Giáp sinh dục và giáp quanh sinh dục; g và ag: Các lông sinh dục
và lông quanh sinh dục
Danh sách các loài Oribatida được sắp xếp theo hệ thống phân loại của Balogh J và Balogh P., 1963, 1992, 2002 [45], [46], [47] Các loài trong một giống được sắp xếp theo vần a, b, c Định loại tên loài theo các tài liệu phân loại, các khóa định loại của các tác giả: Vũ Quang Mạnh, 2007; Baker E et al., 1952; Norton R A., 1990; Willmann, 1931; Ghilarov M., et al, 1975; Grandjean, 1954; [18], [49],[88], [131], [135], [143]
2.3.4 g x ịnh sự g ồng thành phần loài và c u trúc quần xã Oribatida
Mức độ tương đồng về thành phần loài giữa các khu vực nghiên cứu hay giữa các dạng sinh cảnh ngay trong một khu vực nghiên cứu cho phép hình
Trang 39dung được mức độ gần gũi hay xa cách về các điều kiện sống của các sinh
cảnh nghiên cứu Để đánh giá về chỉ số này, dùng công thức Jaccard kết quả
tính toán được thể hiện qua phương pháp biểu đồ lưới (Wallwork J 19 6, Vũ
b - số loài có trong sinh cảnh B
Phân tích các chỉ s ị ng: tiến hành phân tích 4 chỉ số định lượng cơ
bản của quần xã Oribatida bao gồm: Số lượng loài, chỉ số đa dạng loài H’ (chỉ
số Shannon- Waever) và chỉ số đồng đều J’(chỉ số Pielou), các loài ưu thế và
cấu trúc ưu thế Đồng thời phân tích sự thay đổi các giá trị của 4 chỉ số định
lượng này theo sinh cảnh, theo mùa và theo độ sâu đất
S ng loài:
Số lượng loài được tính bằng tổng số loài có mặt trong điểm nghiên cứu
ở tất cả các lần thu mẫu theo sinh cảnh, theo mùa và theo tầng phân bố
Phân tích chỉ s dạng loài Shannon- Weaner (H’):
Chỉ số (H’): được sử dụng để tính sự đa dạng loài hay số lượng loài
trong quần xã và tính đồng đều về sự phong phú cá thể của các loài trong
quần xã Chỉ số này thuận lợi là xem xét số loài và mức độ đồng đều của các
loài Chỉ số này tăng khi quần xã có nhiều loài và số lượng của các loài tương
đối đồng đều nhau
n
s i
i
ln'
1
Trang 40ni - số lượng cá thể của loài thứ i
N - tổng số lượng cá thể trong sinh cảnh nghiên cứu
Giá trị H’ dao động trong khoảng 0 đến ∞
Phân tích chỉ s ồ g (J’) – Chỉ s Pielou
S
H J
ln
' '
S - số loài có trong sinh cảnh
Giá trị J’ dao động trong khoảng từ 0 đến 1
N - tổng số cá thể của toàn bộ mẫu theo sinh cảnh, theo mùa hay theo
tầng phân bố
Theo Krivolutsky, 1994 [139], độ ưu thế được phân ra 4 mức sau (tính
theo giá trị %):
Rất ưu thế: > 10,00% tổng số cá thể của sinh cảnh nghiên cứu
Ưu thế tiềm tàng: 2- 4,99% tổng số cá thể của sinh cảnh nghiên cứu
Không ưu thế: < 2,00% tổng số cá thể của sinh cảnh nghiên cứu
oài ưu thế là loài có số lượng cá thể riêng chiếm từ 5% trong tổng số cá
thể chung của quần xã trở lên
2.3.5 g o ng kê s liệu
Sử dụng phương pháp thống kê trong tính toán và xử lý số liệu, trên
nền phần mềm Microsoft Excell 2010