nghệ mới có đặc điểm nổi bật đó là: hình thành và phát triển ở học sinh 4 kỹnăng nghe, nói, đọc, viết; 4 kỹ năng đó là nền tảng của Tiếng Việt lớp 1 và đặcbiệt là học sinh vận dụng kiến
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
*Khái quát về lý luận:
Đất nước ta đã bước vào thế kỉ XXI, thế kỉ mở đầu một thiên niên mới, thời
kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá Đây là một quá trình đầy gian khổ, kéo dàivài chục năm, dẫn đến sự thay đổi quan trọng trong cơ cấu xã hội, thu nhập quốcdân… sự công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi phải đào tạo những conngười lao động mới: Văn kiện Đại hội Đảng lần VIII (6/1996) nhấn mạnh: Nângcao dân trí, bồi dưỡng nhân tài và phát huy nguồn lực to lớn của con người ViệtNam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá - hiện đạihóa, phải chăm lo phát triển nguồn lực con người lao động có một hệ thống giátrị phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong thời kì mới đó là những conngười và thế hệ thiết tha gắn bó với ý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,
có đạo đức trong sáng, có ý trí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn
và phát huy những giá trị văn hoá dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoánhân loại, phát huy tiềm năng nội lực của dân tộc và con người Việt Nam, có ýthức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức và khoahọc công nghệ hiện đại, có tính tổ chức và kỷ luật, có sức khoẻ là những ngườithừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa¸ đất nước và những thách thứccủa hội nhập quốc tế đòi hỏi phải khẩn trương đổi mới giáo dục đào tạo, trong
đó đổi mới chương trình dạy học, phương pháp dạy học, cách thức dạy học Đểđáp ứng yêu cầu về đào tạo con người lao động mới Một con người phát triểntoàn diện về năng lực, phẩm chất, trí tuệ cũng như thẩm mĩ
Trong chương trình tiểu học từ trước đến nay môn Tiếng Việt vẫn giữ vị tríđặc biệt quan trọng, nó là môn học có chức năng "kép" và là môn học chiếm thờilượng lớn nhất (riêng ở lớp 1 chiếm đa số thời lượng dạy học 10 tiết / tuần) sovới cuốn sách giáo khoa Tiếng Việt cũ thì sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1 công
Trang 2nghệ mới có đặc điểm nổi bật đó là: hình thành và phát triển ở học sinh 4 kỹnăng nghe, nói, đọc, viết; 4 kỹ năng đó là nền tảng của Tiếng Việt lớp 1 và đặcbiệt là học sinh vận dụng kiến thức kỹ năng Tiếng Việt để đưa vào hoạt động lờinói, chữ viết trong giao tiếp, vì vậy việc rèn kỹ năng viết chữ cỡ nhỏ, cỡ nhỡ,viết đúng và đều nét các tiếng, từ, câu, viết đúng chính tả các cặp từ có vần khóhoặc dễ lẫn phụ âm đầu, phụ âm cuối hay dấu thanh, do cách phát âm địaphương, bước đầu viết đúng chính tả một đoạn văn hoặc một bài viết khoảng 30chữ (tiếng) viết được những đoạn văn, đoạn thơ ngắn Qua một thời gian tìmhiểu nội dung này, bản thân tôi gặp rất nhiều khó khăn, hơn nữa tôi nhận thấyrèn kỹ viết đúng chính tả, giữ vở sạch, viết chữ đẹp trong phân môn Tiếng Việtlớp 1 công nghệ là hết sức quan trọng và cần thiết.
Ngày nay trong giáo dục, cả người trong và ngoài ngành đều coi trong việcrèn chữ viết cho học sinh Bởi vì chữ viết gây được thiện cảm cho người đọc,chữ viết đẹp phản ánh được ý thức rèn luyện, óc thẩm mĩ và tính nết của ngườiviết Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói:“Chữ viết cũng là một biểu hiện củanết người, dạy học sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyệncho các em tính cẩn thận, tính kỷ luật, lòng tự trọng đối với mình cũng như đốivới thầy cô và bạn đọc bài viết của minh’’
Năm học 2014-2015 Trường Tiểu học Kim Đồng cùng với một số trườngNguyễn Bá Ngọc, trường Bản Mỏ, trường Lả Nhì Thàng, trường Sin Súi Hồ I,Sin Súi Hồ II Tổ chức thực hiện chuyên đề cụm với chủ đề : Giữ vở sạch, viếtchũ đẹp Nhằm thúc đẩy phong trào Vở sạch - Chữ đẹp của học sinh, nâng caochất lượng dạy tập viết của người giáo viên, tạo cho học sinh tính cẩn thận, lòngkiên trì, khướu thẩm mĩ, lòng quý trọng và gìn giữ tiếng nói chữ viết của dântộc, phát huy vai trò trách nhiệm của người giáo viên chăm lo luyện chữ viết chohọc sinh
Mặt khác, đối với bậc tiểu học, yêu cầu tối thiểu đối với học sinh là đọcthông viết thạo Chữ viết còn liên quan đến tất cả các môn học khác như: toán,Tiếng Việt, Đạo đức, Tự nhiên và xã hội Do đó nếu học sinh viết đúng ,
Trang 3nhanh, đẹp thì việc học các môn học khác sẽ có nhiều thuận lợi.
Về mặt thực tiễn:
Năm học 2014-2015 tôi được ban giám hiệu nhà trường phân công chủnhiệm lớp 1A trung tâm Là giáo viên lớp 1, ngay từ khi nhận lớp qua kiểm trachữ viết tôi thật sự lo về chất lượng viết chữ của các em, tỉ lệ học sinh biết viết
là rất thấp, đồ dùng học tập của các em đa số còn thiếu Điều kiện kinh tế nhàcác em còn rất khó khăn.Trong nhiệm vụ năm học 2014-2015 có nhiều chỉ tiêuthi đua về chất lượng đạo đức, văn hoá Trong đó có một chỉ tiêu không thểthiếu đó là lớp chủ nhiệm có 90 % học sinh trong lớp đạt giữ vở sạch viết chữđẹp trở lên, chính vì thế mà bản thân tôi rất lo lắng làm thế nào để đưa ra cácbiện pháp thiết thực giúp các em rèn chữ viết, giữ vở sạch đẹp sao cho có hiệuquả
Việc rèn cho học sinh tiểu học giữ vở sạch viết chữ đẹp là một việc làm cầnthiết vì người thầy không chỉ dạy cho các em những kiến thức trong sách vở đơnthuần mà còn dạy cho học sinh nhân cách qua việc rèn chữ viết hàng ngày Nhưcha ông ta vẫn nói: “Nét chữ thể hiện nết người” Thông qua chữ viết để dạy các
em biết hướng tới cái đẹp, tình yêu quê hương đất nước, tình đoàn kết thân ái,trung thực, hướng các em đến cái thiện Trong việc rèn vở sạch, viết chữ đẹpthật là khó khăn và vô cùng nan giải và lâu dài thông qua các tiết dạy, ngày nàysang ngày khác, tháng này sang tháng khác, xuyên suốt trong quá trình dạy học
cả một năm
Bản thân tôi thiết nghĩ đây là một việc làm tương đối khó và mất nhiều thờigian, nhưng là một giáo viên tâm huyết với nghề nghiệp bản thận tôi quyết tâm
vừa học hỏi đồng nghiệp vừa làm và tự rút ra những kinh nghiệm cho bản thân.
Chính vì thế tôi đã chọn đề tài này
2 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
2.1.Phạm vi
Tìm hiểu thực trạng về việc giữ vở sạch viết chữ đẹp của lớp 1A trong Trường Tiểu học Kim Đồng mà tôi chủ nhiệm, nghiên cứu và tìm hiểu để nắm
Trang 4được nguyên nhân học sinh không giữ được vở sạch, không viết chữ đẹp Tìm rahuớng khắc phục về việc rèn: “Giữ vở sạch -viết chữ đẹp” cho học sinh
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Vấn đề này đối tượng nghiên cứu của tôi là việc rèn: “Giữ vở sạch viết chữđẹp” cho học sinh lớp 1A Trường Tiểu học Kim Đồng
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu và tìm hiểu để nắm được nguyên nhân học sinh không giữđược vở sạch, không viết được chữ đẹp Qua đó tìm ra huớng khắc phục và tậpchung vào việc rèn: “Giữ vở sạch viết chữ đẹp” cho học sinh, tạo điều kiện giúpcác em nắm vững cấu tạo các con chữ, nắm vững các luật chính tả, giúp học sinhviết đúng mẫu chữ, cỡ chữ, viết đúng chính tả, trình bày bài viết khoa học sạchđẹp, biết giữ gìn sách vở sạch đẹp
4 Điểm mới trong kết quả nghiên cứu
Từ thực tế các buổi dạy học cho học sinh và học hỏi kinh nghiêm của đồngnghiệp, sự nghiên cứu tìm tòi của bản thân để đúc kết những kinh nghiệm quýbáu về việc rèn “ Giữ vở sạch- viết chữ đẹp’’ cho học sinh
PHẦN NỘI DUNG Chương I: Cơ sở của việc rèn giữ vở sạch viết chữ đẹp
1.1 Cơ sở lí luận
Chữ viết có tầm quan trọng đặc biệt ở tiểu học, nhất là đối với các lớp đầucấp Nếu viết đúng, viết đẹp, tốc độ nhanh thì học sinh có điều kiện ghi chépbài học tốt, nhờ vậy kết quả học tập sẽ cao hơn Viết xấu, chậm sẽ ảnh hưởngkhông nhỏ tới chất lượng học tập của bản thân cũng như các bạn trong một lớphọc và mất nhiều thời gian của giáo viên
Đối với học sinh lớp 1 công nghệ các em mới làm quen với chữ thường,chữ hoa qua hình thức tập tô, tập viết Trong giai đoạn học cuối tập hai và tập basách Tiếng Việt học sinh được hướng dẫn viết chữ hoa cỡ nhỏ và cỡ nhỡ mà chữhoa thì rất khó viết Chính vì vậy khi viết chính tả chữ hoa của các em mới dừng
ở mức độ gần giống với hình dáng theo mẫu chữ quy định
Trang 5Còn một lý do nữa là trong giờ dạy tập viết, còn nhiều giáo viên chưa chú
ý và coi trọng tính luyện tập, thực hành của học sinh, mà đi sâu quá vào việcgiải thích quy trình viết chữ, nên học sinh không được luyện viết nhiều vàluyện viết còn mang tính hình thức
Học sinh lớp 1 thường hiếu động, thiếu kiên trì, khó thực hiện các độngtác khéo léo, cẩn thận, các em thường có thói quen viết được vài chữ lại mấttập chung
Hiện nay việc rèn cho học sinh lớp 1 viết được đúng chính tả là rất khókhăn vì đây là năm đầu tiên các em được làm quen với chữ viết Và do ảnhhưởng của phương ngữ nên các em còn dễ viết sai Nhiều em còn có thói quenviết hoa tuỳ tiện, viết chữ in, trình bày thiếu khoa học Nhiều em còn viết rất cẩuthả chỉ muốn nhanh viết xong bài để chạy đi chơi Các em viết chữ như là tập vẽchữ Các nét còn run rẩy, đứt khúc Học sinh chưa sử dụng thành thạo bút, chưanắm rõ tư thế ngồi viết, bút viết nhiều khi bị hỏng nên các em tô đi tô lại nhiềulần làm quyển vở nhoe nhoét, ra chơi các em nô nghịch nhiều ra mồ hôi nếudính vào vở bút sẽ không ra mực, chân tay các em dây bẩn làm sách vở cũng bẩntheo, đa số học sinh không biết giữ gìn sách làm sách quăn mép
Chính vì vậy bản thân tôi băn khoăn trăn trở luôn muốn tìm ra hướng khắcphục để giúp các em viết đúng, đẹp hơn và giữ gìn được vở sạch Bởi vì bảnthân tôi nghĩ rằng các em lứa tuổi tiểu học, đặc biệt là các em vừa bước vào lớp
1 như cây non dễ uốn dễ đi vào nề nếp, mỗi ngày uốn nắn một chút, thườngxuyên uốn nắn dần dần các em sẽ cố gắng viết đúng đẹp hơn, biết giữ gìn sách
vở sạch đẹp
1.2 Các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện:
+ Theo quyết định số 31/2002/QĐ-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và đào tạo về mẫu chữ viết trong trường tiểu học và đặc biệt theo chương trìnhsách giáo khoa mới ở tiểu học thì tính chất quan trọng của luyện viết chữ đẹpcàng được thể hiện rõ Qua việc thực hành của học sinh, người giáo viên lạimột lần nữa rèn cho học sinh tính cẩn thận và khiếu thẩm mỹ của các em
Trang 6+ Công văn số 903/ SGD&ĐT-GDTH ra ngày8 2/9/2010 của Sở GD&ĐTLai Châu về việc hướng dẫn đánh giá xếp loại Vở sạch - chữ đẹp trong cáctrường tiểu học.
+ Công văn số 330/ HD PGD&ĐT huyện Phong Thổ ra ngày 4/10/2010 vềviệc hướng dẫn đánh giá xếp loại vở sạch chữ đẹp cho giáo viên và học sinh
Chương 2: Thực trạng việc rèn giữ vở sạch viết chữ đẹp
2.1 Vài nét về địa bàn thực hiện sáng kiến
Trường Tiểu học Kim Đồng gồm 5 điểm bản và một điểm trung tâm Tất cảhọc sinh ở đây đều là dân tộc Dao Cha mẹ các em học sinh hầu hết là nông dân.Đời sống của họ còn nhiều khó khăn, tỉ lệ hộ nghèo còn nhiều nên điều kiệnchăm lo đến việc học hành, đặc biệt là việc quan tâm đến rèn chữ viết cho con
em còn nhiều hạn chế, cha mẹ học sinh chưa thực sự chú trọng quan tâm đếncon cái Nhân dân ở đây còn nhiều phong tục tập quán lạc hậu như cấm bản,kiêng chim, kiêng gió, tổ cải Trong những ngày đó học sinh không được đihọc còn giáo viên cũng không được dạy Đường đi lại giữa các bản còn khókhăn Nhiều hộ gia đình còn chưa thật sự quan tâm đến việc học tập của con cái.Chất lượng chữ viết của nhà trường trong những năm gần đây đã đượcnâng lên nhưng chưa ổn định, chưa đáp ứng được yêu cầu Học sinh chưa có ýthức rèn chữ viết, các em ngại khó, ngại khổ, chưa có ý thức coi trọng chữ viết,thường chỉ quan tâm đến đọc, làm toán Mặc dù nhà trường cũng luôn nhắc nhởcông tác rèn giữ vở sạch viết chữ đẹp Nhưng tỉ lệ học sinh viết chữ đẹp vẫn cònthấp vở viết của nhiều em vẫn còn dây bẩn, thậm trí có những quyển vở viếtbằng nhiều thứ mực trông rất xấu
2.2 Thực trạng vấn đề giữ vở sạch viết chữ đẹp của học sinh lớp 1A.
* Thuận lợi:
Ban giám hiệu nhà trường quan tâm, tạo điều kiện và chỉ đạo sát sao việcdạy học và việc rèn vở sạch- chữ đẹp cho học sinh
Lớp học nhận được sự quan tâm của phụ huynh học sinh
Đội ngũ giáo viên trong trường luôn nhiệt tình giảng dạy, yêu nghề, mếntrẻ, có tinh thần trao đổi và học hỏi lẫn nhau
Trang 7Nhìn chung các em học sinh đều ngoan, có ý thức vươn lên trong học tập.
* Khó khăn
Lớp 1A có 20 học sinh, trong đó có 1 học sinh khuyết tật, 100% học sinh làdân tộc Dao Cha mẹ các em học sinh hầu hết là nông dân Đời sống của họ còn nhiều khó khăn, nên điều kiện kinh tế còn khó khăn, tỉ lệ hộ nghèo còn nhiều( 8/20 hộ học sinh nghèo), nên điều kiện chăm lo đến việc học hành, đặc biệt làviệc quan tâm đến rèn chữ viết cho con em còn nhiều hạn chế và chưa thực sựđược chú trọng Nhiều hộ gia đình còn chưa thật sự quan tâm đến việc học tậpcủa con cái Không thường xuyên kiểm tra bài vở của con em, một số em đồdùng như vở viết, bút, thước kẻ còn thiếu
Năm học 2013-2014 lớp mẫu giáo lớn không phải học tô chữ mà chỉ họcthuộc bảng chữ cái và các con số, giới thiệu về bản thân, nhận biết các con vật Chính vì thế khi bước vào lớp 1 các em còn chưa biết tô và viết như ở những nơi
có điều kiện
Tiếng Dao là tiếng mẹ đẻ, còn Tiếng Việt chỉ là ngôn ngữ thứ hai của các
em Chính vì vậy vốn Tiếng Việt của các em còn nhiều hạn chế
Cơ sở vật chất như SGK, vở em tập viết còn nhiều thiếu, lớp học ngay cạnhđường đi lại cũng ảnh hưởng không ít đến việc học tập của các em
Lớp tôi chủ nhiệm là lớp đầu cấp nên các em chưa có ý thức giữ vở sạch,viết chữ đẹp Phần lớn các em chưa thật chú ý giữ vở sạch viết chữ đẹp, bài viếtcủa các em còn viết cẩu thả, bẩn, miễn là có bài viết
2.3 Nguyên nhân học sinh chưa giữ được vở sạch- viết chữ đẹp.
*Về phía học sinh:
+ Chứa có ý thức giữ vở sạch- viết chữ đẹp
+ Còn cẩu thả khi viết bài
+ Tay còn ngượng khi viết bởi bước đầu học tập và làm quen với cách cầmbút viết
+ Ngồi viết còn chưa đúng tư thế, hay quay ngang quay ngửa, thậm chí có
em học yếu không theo được các bạn nên phải ngó bài bạn
Trang 8+ Các em còn chứa có ý thức giữ gìn vệ sinh cá nhân dẫn đến việc giữ vởsạch còn khó khăn.
*Về phía gia đình:
+ Chứa thực sự quan tâm đến việc học tập của con em mình
+ Chuẩn bị đồ dùng học tập cho con em còn thiếu
+ Trình độ văn hoa của học còn thấp, mặc dù họ muốn dạy cho con emcũng không biết dạy như thế nào, họ chỉ phó mặc việc học của con cho các thầycác cô
* Về phía giáo viên:
+ Đây là năm đầu tiên nhà trường áp dụng dạy tiếng việt giáo dục côngnghệ lớp 1 nên giáo viên còn nhiều bỡ ngỡ khi giảng dạy
Chương III: Các biện pháp rèn
kĩ năng giữ vở sạch viết chữ đẹp cho học sinh.
3.1 Các biện pháp rèn giữ vở sạch viết chữ đẹp cho học sinh
Biện pháp 1: Rèn chữ viết, cách trình bày bảng của giáo viên.
Mục tiêu: Giúp giáo viên có được cách trình bày bảng khoa học, chữ viết
đẹp để cho các em học sinh học tập và noi theo
Nội dung: Học tập nắm chắc các mẫu chữ viết thường, viết hoa theo quy
định của bộ giáo dục Từ đó giúp giáo viên viết bảng được đẹp và đúng mẫu.Trình bày bảng khoa học
Biện pháp thực hiện:
Giáo viên phải luôn ý thức được rằng chữ viết của mình là rất quan trọng
nó là mẫu để các em học tập và noi theo Vì vậy giáo viên phải học tập nămvững mẫu chữ cỡ chữ, rèn chữ viết cho rõ ràng, đúng mẫu, đều và đẹp bằng cáchthường xuyên luyện viết theo vở em tập viết 1 và luyện viết các chữ cái theo quyđịnh của bộ giáo dục và đào tạo
Giáo viên viết trên bảng hay nhận xét vở cho học sinh chữ viết phải rõ ràngđúng mẫu chữ quy định
Trang 9Thường xuyên nghiên cứu tìm hiểu các tài liệu tham khảo, tham quan, quansát học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp Giáo viên nắm chắc các nét của cácchữ thường và chữ hoa cỡ nhỡ và cỡ nhỏ để khi trình bầy bảng sao cho đẹp khoahọc và chính xác cho học sinh học hỏi Kẻ lại bảng lớp cho dễ trình bày.
Biện pháp 2: Họp phụ huynh để thống nhất biện pháp giáo dục
Mục tiêu: Giúp học sinh có đầy đủ đồ dùng học tập theo đúng quy định.
Thống nhất một số nội dung giáo dục
Nội dung: Phổ biến sau rộng cho phụ huynh về quy định sắm đồ dùng học
tập cho học sinh Đưa ra một số biện pháp giáo dục học sinh
Biện pháp thực hiện:
Ngay từ đầu năm học tôi họp phụ huynh học sinh triển khai phổ biến chophụ huynh học sinh chuẩn bị đồ dùng học tập cho con em đúng quý định như: + Mua cho con em cùng một loại bút, cùng một màu mực để tránh tìnhtrạng học sinh dùng hai ba màu mực trong khi viết
+ Phổ biến phụ huynh mua đủ số vở viết quy định theo các môn học
+ Bọc vở cho sạch đẹp, vở phải có nhãn vở, trong nhãn vở phải ghi đầy đủtên trường, lớp, vở, họ tên, năm học
+ Cả lớp dùng một loại vở 48 trang - 4 ô ly
+ Nhắc phụ huynh nên mua sắm cho các em học sinh cặp sách đúng kích
cỡ để các em có thể bảo quản sách vở tốt hơn
+ Chuẩn bị đầy đủ phấn, bảng con 25x30 cm, khăn lau bảng, cục tẩy
+ Làm cho các em góc học tập riêng ở nhà
Thường xuyên vệ sinh thân thể, quần áo cho học sinh
Không tùy tiện hướng dẫn các em viết ở nhà
Thường xuyên trao đổi thông tin hai chiều giữa gia đình và nhà trường
Tạo mọi điều kiện cho con em đến lớp, đến trường đẩy đủ
Thường xuyên nhắc nhở con em có ý thức tự giác học tập ở lớp,ở trường
Trang 10Biện pháp 3: Rèn chữ viết đẹp cho học sinh
Mục tiêu: Học sinh viết được đúng mẫu chữ quy đinh, chữ viết đều, đẹp,
+ Viết chữ đúng, rõ ràng cùng cỡ chữ không viết tắt, viết hoa tùy tiện
+ Chữ viết phải liền mạch không rời rạc như chữ in
+ Viết đúng quy định chữ viết, đúng chữ viết thường chữ viết hoa
+ Viết đúng độ cao, độ rộng quy định của các con chữ
+ Khoảng cách giữa các nét, các tiếng phải đều đặn
+ Không mắc lỗi chính tả khi viết
Ngay từ đầu năm học tôi dạy kĩ cho các em các thao tác viết chữ từ đơn giản đến phức tạp, dạy cho em kỹ năng viết các nét cơ bản như nét ngang, nét
sổ, nét móc ngược, nét mọc xuôi, nét mọc hai đầu, nét khuyết trên, nét khuyếtdưới, nét cong hở phải, nét cong hở trái, nét cong kin, nét thắt, cách lia bút vàcách nối nét một cách thuần thục
Vào mỗi buổi học trong giờ tập viết, tôi thường dạy cho em nắm được các khái niệm về dòng kẻ (đường kẻ), tương đương với bao nhiêu ô li ? Đặt bút ở đường kẻ nào? Dừng bút ở đường kẻ nào? Chữ cái đó có mấy nét ? Tên gọi củacác nét ? Vị trí dấu phụ và dấu thanh đặt ở đâu ? Cách nối nét như thế nào ?
Từ đó, hình thành cho em những biểu tượng về hình dáng, độ cao, sự cân đối,tính thẩm mỹ của chữ viết
Ví dụ: Khi dạy học sinh viết chữ b, tôi chohọc sinh quan sát kĩ chữ mẫu rồihỏi: Đây là chữ gì? ( chư b) Chữ b gồm mấy nét? ( một nét khuyết trên nối liềnvới một nét thắt) Điểm đặt bút viết là điểm nào, khi viết thì viết như thế nào? ( điểm đặt bút bắt đầu từ đường kẻ 2 viết nét khuyết trên cao 5 ô ly nối liền vớinét thăt cao 2 ô ly) Sau khi hướng dẫn xong, giáo viên cho học sinh viết nhiều