Và trong đó hạng mục khối nhà chính là hạng mục chính trong dự án xây dựng trường học, chiếm kinh phí nhiều nhất, và là hạng mục xây dựng phòng học cho học sinh, phòng làm việc của giáo
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Mã số: 60.48.01.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS ĐỖ VĂN NHƠN
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
Trang 2Tôi xin cam đoan:
Những nội dung trong khóa luận này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy PGS.TS Đỗ Văn Nhơn
Mọi tham khảo dùng trong khóa luận đều được trích dẫn rõ ràng và trung thực tên tác giả, tên công trình, thời gian, địa điểm công bố
Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, hay gian trá, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
NGƯỜI CAM ĐOAN
Hồ Văn Linh
Trang 3 Bằng tất cả lòng chân thành và sự kính phục, tôi xin trân trọng cảm ơn Thầy PGS.TS Đỗ Văn Nhơn Mặc dù rất bận rộn với công việc nghiên cứu, giảng dạy và công việc gia đình, tuy nhiên trong suốt thời gian hướng dẫn đề tài, bất kể thời gian nào dù thời gian ngoài giờ làm việc hay trong các ngày nghỉ, lễ, Thầy vẫn luôn sẵn sàng nhiệt tình sắp xếp thời gian để định hướng, hướng dẫn, động viên và giúp đỡ rất tận tình giúp tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi xin gửi lời chân thành cảm ơn đến Ban Chủ nhiệm trường Đại học Công nghệ thông tin TP HCM, Quý thầy và cô thuộc phòng Đào tạo sau đại học đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành chương trình cao học này Cám ơn Ban Giám đốc, lãnh đạo các phòng ban và cán bộ công chức, viên chức của Công ty TNHH một thành viên dịch vụ công ích Phú Nhuận, TP.HCM đã cung cấp các tài liệu liên quan tới dự toán về các trường học cho tôi và tư vấn giải thích về chuyên môn trong thời gian tôi làm khóa luận
Xin cảm ơn gia đình, người thân đã luôn khích lệ, động viên, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, đã tạo nên sức mạnh to lớn để tôi hoàn thành kết quả học tập này
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót, tôi kính mong Quý thầy, cô và bạn bè hướng dẫn, góp ý để nội dung nghiên cứu này ngày càng hoàn thiện hơn và được ứng dụng thực tiễn
Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn!
Tp HCM, tháng 11 năm 2016
HỌC VIÊN
Hồ Văn Linh
Trang 4Số trang TRANG PHỤ BÌA
Chương 1 - GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Tìm hiểu về dự toán 1
1.1.1 Tìm hiểu về qui trình lập dự toán 1
1.1.2 Một số vấn đề còn hạn chế 2
1.1.3 Vấn đề cần được giải quyết 2
1.1.4 Nhận xét và hướng giải quyết 2
1.1.5 1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 3
Mục tiêu 3
1.2.1 Đối tượng phục vụ 3
1.2.2 Sơ lược qui trình hỗ trợ ra quyết định của ứng dụng 3
1.2.3 1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4
Đối tượng nghiên cứu: 4
1.3.1 Phạm vi: 4
1.3.2 1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 5
Chương 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6
2.1 LÝ THUYẾT TẬP MỜ VÀ LOGIC MỜ 6
Tổng quan về lý thuyết tập mờ và logic mờ 6
2.1.1 Khai niệm tập mờ (Fuzzy set) 6
2.1.2 Định nghĩa tập mờ (Fuzzy set) 7 2.1.3
Trang 52.2 TỔNG QUAN VỀ MẠNG NƠ – RON NHÂN TẠO 28
Giới thiệu 282.2.1
Mạng lan truyền (Feed Forward) 302.2.2
Mạng Hopfield 312.2.3
Mạng Perceptron 312.2.4
Mạng lan truyền ngược (back propagation) 342.2.5
Tóm tắt giải thuật mạng lan truyền ngược (back propagation) 352.2.6
Một số chú ý trong việc huấn luyện mạng ba lớp 362.2.7
Ưu và nhược điểm của mô hình mạng đa lớp 372.2.8
2.3 CHUẨN HÓA DỮ LIỆU 38
Giới thiệu 382.3.1
Chuẩn hóa min-max 392.3.2
Chuẩn hóa z-score 392.3.3
Chuẩn hóa tỉ lệ thập phân (decimal scaling) 392.3.4
Chương 3 – VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP 413.1 VẤN ĐỂ 41
Phát biểu bài toán 413.1.1
Thông tin về dữ liệu lập dự toán của hạng mục khối nhà chính 423.1.2
Xác định các thuộc tính ảnh hưởng lớn đến chi phí xây dựng hạng 3.1.3
mục khối nhà chính 48Thu thập dữ liệu cho tập mẫu và tập kiểm tra 503.1.4
Chuyển đổi các thuộc tính mờ 523.1.5
Phát sinh dữ liệu từ tập dữ liệu gốc 12 mẫu 553.1.6
Chuẩn hóa dữ liệu đầu vào 563.1.7
Trang 6Nền tảng công nghệ 69
4.2.1 Tổ chức giao diện 70
4.2.2 4.3 KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 75
Kiểm tra sự làm việc của mạng qua tập dữ liệu gốc 12 mẫu: 75
4.3.1 Kiểm tra sự làm việc của mạng qua tập 33 mẫu phát sinh: 77
4.3.2 Đánh giá kết quả thực nghiệm 78
4.3.3 Chương 5 - KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN 80
5.1 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 80
5.2 HẠN CHẾ 80
5.3 HƯỚNG PHÁT TRIỂN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 7 Viết tắt Mô tả
MLP Multilayer perceptron
API Application Programming Interface - Giao diện chương trình ứng
dụng
ANN Artificial Neural Network
M-P McCulloch and Pitt
RMS Root mean square error
MSE Mean square error
Err Error
Trang 8
Bảng 3.1 Các thuộc tính ảnh hưởng đến ước lượng chi phí khối nhà chính 49
Bảng 3.2 Tổng hợp các mẫu khối nhà chính dùng trong xây dựng mô hình 52
Bảng 3.3 Tổng hợp các mẫu khối nhà chính dùng trong xây dựng mô hình sau khi chuyển đổi thuộc tính mờ 54
Bảng 3.4 Tổng hợp các mẫu khối nhà chính dùng trong xây dựng mô hình với 33 mẫu phát sinh 55
Bảng 3.5 Dữ liệu đầu vào mạng nơ - ron nhân tạo sau khi chuẩn hóa z-score 57
Bảng 3.6 Các thành phần dữ liệu thực nghiệm trên tập dữ liệu gốc 62
Bảng 3.7 Các thành phần dữ liệu thực nghiệm trên 33 tập dữ liệu phát sinh 63
Bảng 3.8 Dữ liệu huấn luyện trên tập dữ liệu gốc 64
Bảng 3.9 Dữ liệu kiểm thử trên tập dữ liệu gốc 65
Bảng 3.10 Kết quả huấn luyện và bình phương lỗi trên tập dữ liệu gốc 65
Bảng 3.11 Dữ liệu huấn luyện trên tập dữ liệu phát sinh 66
Bảng 3.12 Dữ liệu kiểm thử trên tập dữ liệu phát sinh 67
Bảng 3.13 Kết quả huấn luyện và bình phương lỗi trên tập dữ liệu phát sinh 67
Bảng 4.1 Kết quả ước lượng khối nhà chính Trường Mầm Non Khu Công Nghiệp Vĩnh Lộc, Quận Tân Bình 75
Bảng 4.2 Kết quả ước khối nhà chính Trường THCS Trần Huy Liệu, Quận Phú Nhuận, TP.HCM 76
Bảng 4.3 Kết quả ước lượng khối nhà chính của mẫu phát sinh (*28) 77
Bảng 4.4 Kết quả ước lượng khối nhà chính của mẫu phát sinh (*33) 78
Trang 9
Hình 2.1 Một sự biểu diễn tập mờ cho số "integer nhỏ” 7
Hình 2.2 Một sự biểu diễn tập mờ cho các tập người đàn ông thấp, trung bình và cao 8
Hình 2.3 Hàm thuộc của các tập mờ “young”, “middle-age”, “old” 20
Hỉnh 2.4 Hàm thuộc của các số mờ đặc trưng cho biến ngôn ngữ 20
Hình 2.5 Cấu trúc tế bào của một thần kinh sinh học 29
Hình 2.6 Cấu tạo một đơn vị thần kinh nhân tạo 29
Hình 2.7 Mô hình mạng nơ – ron một lớp 30
Hình 2.8 Mô hình mạng nơ – ron tổng quát 30
Hình 2.9 Mạng lan truyền (Feed Forward) 30
Hình 2.10 Mạng Hopfield 31
Hình 2.11 Mô hình mạng nơ - ron perceptron 31
Hình 2.12 Perceptron đơn lẻ 32
Hình 2.13 Mạng lan truyền ngược (back propagation) 34
Hình 3.1 Các bước thực hiện chọn thuộc tính ảnh hưởng lớn đến chi phí 48
Hình 3.2 Biểu diễn tập mờ cho một tập mật độ dân cư 53
Hình 3.3 Qui trình giải quyết vấn đề cho bài toán 58
Hình 3.4 Mô hình ANN xác định ban đầu của bài toán 61
Hình 3.5 Cấu hình ANN tốt nhất 62
Hình 3.6 Quá trình huấn luyện mạng 63
Hình 3.7 Biểu đồ lỗi sai số toàn phương của quá trình huấn luyện ANN có cấu hình tốt nhất 68
Hình 4.1 Giao diện chính chương trình 70
Hình 4.2 Màn hình huấn luyện 71
Hình 4.3 Màn hình hiền thị dữ liệu đã chuẩn hóa 72
Hình 4.4 Màn hình hiển thị biểu đồ lỗi trong quá trình huấn luyện 73
Hình 4.5 Màn hình kiểm thử 73
Trang 10 Ước lượng chi phí đầu tư cho dự án là một nhiệm vụ rất quan trọng của công tác quản lý xây dựng Cùng với sự phát triển đô thị hóa và sự gia tăng dân số ngày càng nhanh, các dự án xây dựng trường học, chung cư đang xuất hiện ngày càng nhiều Việc ước lượng chi phí xây dựng nhờ đó có thể dự trù được lợi nhuận do dự
án xây dựng mang lại là vấn đề sống còn của các chủ đầu tư, các doanh nghiệp xây dựng Ước lượng chi phí là một nhiệm vụ quan rất trọng trong công tác quản lý các
dự án xây dựng
Chất lượng của công tác quản lý cũng phụ thuộc rất nhiều vào mức độ chính xác của việc ước lượng này Mặc dù cũng có các qui định của Nhà nước về công tác này, nhưng hiện nay phần lớn việc ước lượng kinh phí vẫn là một công việc phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm của các nhà quản lý, của những người lập dự toán,…và do đó nó còn mang rất nhiều yếu tố chủ quan
Thực tế hiện nay, khi lập dự toán cho một dự án xây dựng trường học tốn rất nhiều thời gian và công sức, tùy theo mức độ dự án mà một người có kinh nghiệm
về lập dự toán phải mất từ mười lăm đến ba mươi ngày mới có thể lập xong dự toán cho một dự án xây dựng trường học, và tính ra được chi phí xây dựng cho dự án trường học đó
Trong một dự án xây dựng trường học thì cần phải lập dự toán cho nhiều hạng mục, như hạng mục khối nhà chính, hạng mục căn - tin, hạng mục nhà giữ xe,…
Và trong đó hạng mục khối nhà chính là hạng mục chính trong dự án xây dựng trường học, chiếm kinh phí nhiều nhất, và là hạng mục xây dựng phòng học cho học sinh, phòng làm việc của giáo viên, công nhân viên, phòng thư viện,…
Vấn đề đặt ra là làm sao có được ứng dụng để hỗ trợ việc ước lượng về chi phí xây dựng thật nhanh, và tương đối chính xác cho các nhà đầu tư
Tự động hóa quá trình ước lượng chi phí xây dựng dựa trên các số liệu khách quan không chỉ để làm tăng hiệu quả tính toán mà còn để loại trừ các yếu tố do chủ quan Hiện nay trí tuệ nhân tạo mà đặc biệt là ANN được ứng dụng rất rộng rãi trong quản lý xây dựng với khả năng „học‟ từ các kinh nghiệm tập hợp trong quá khứ
Trang 11trưởng phòng kế hoạch đầu tư, các chủ đầu tư, những người lập dự toán có thể ước lượng nhanh chi phí, khắc phục các hạn chế hiện tại Vì vậy tôi quyết định thực hiện
nghiên cứu việc này và đặt tên đề tài là: “Ứng dụng hỗ trợ ra quyết định chi phí của hạng mục khối nhà chính cho dự án xây dựng trường học” và bám sát yêu
cầu thực tiễn của cơ quan
Trang 12Chương 1 - GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
Chương 1 giới thiệu tổng quan về đề tài bao gồm các nghiên cứu khảo sát tình hình ứng dụng công nghệ thông tin của Công ty TNHH một thành viên dịch vụ công ích Phú Nhuận, TP.HCM Phân tích đánh giá thực trạng, hạn chế và xác định các nhu cầu mà hệ thống ứng dụng cần đáp ứng, từ đó đề xuất nghiên cứu phát triển giải pháp và phát triển ứng dụng
Lập dự toán cho mỗi công trình xây dựng là một công việc rất quan trọng Mục đính để tính ra chi phí cho từng hạng mục và tổng chi phí cho dự án xây dựng nói chung và dự án xây dựng trường học nói riêng
Thực tế hiện nay, khi lập dự toán về một dự án xây dựng trường học tốn rất nhiều thời gian và công sức, tùy theo mức độ dự án mà một người có kinh nghiệm
về lập dự toán phải mất từ mười lăm đến ba mươi ngày mới có thể lập xong dự toán cho một dự án xây dựng trường học, và tính ra được chi phí xây dựng cho dự án trường học đó
Trong một dự án xây dựng trường học, thường thì cần phải lập dự toán cho những hạng mục sau: hạng mục khối nhà chính, hạng mục căn - tin, hạng mục nhà giữ xe,… Và trong đó hạng mục khối nhà chính, là hạng mục quan trọng nhất, chiếm kinh phí nhiều nhất, tốn thời gian nhiều nhất, và là hạng mục xây dựng phòng học cho học sinh, phòng làm việc của giáo viên, công nhân viên, phòng thư viện,…
Tìm hiểu về qui trình lập dự toán
1.1.2
Người lập dự toán phải thực hiện các bước sau:
- Đọc bản vẽ xây dựng và đo bóc tách khối lượng trên công trình phần móng
- Đọc bản vẽ xây dựng và đo bóc tách khối lượng trên công trình phần thô
Trang 13- Đọc bản vẽ xây dựng và đo bóc tách bóc khối lượng trên công trình phần
hoàn thiện, phần đường, điện nước, phòng cháy chữa cháy,
Vấn đề cần được giải quyết
1.1.4
Tạo ra một ứng dụng giúp chủ đầu tư có thể ước lượng chi phí nhanh và tương đối chính xác, để chủ đầu tư biết được xây dựng công trình này có lợi nhuận hay không, có nên đấu thầu hay không
Nhận xét và hướng giải quyết
1.1.5
Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu ứng dụng ANN trong việc quản lý xây dựng như: dự trù chi phí xây dựng đường cao tốc (Wilmot [12]) với các biến đầu vào là giá cả vật tư, máy móc, khối lượng công việc, dự đoán quá trình thực hiện các dự án thiết kế-thi công ở Singapore (Ling [14]) trong đó các biến đầu vào là tầm quan trọng của dự án, tốc độ xây dựng, tốc độ giải quyết vấn đề khó khăn, sự luân phiên thay thế công nhân nghỉ việc và chất lượng của hệ thống thiết bị; ảnh hưởng của các yêu cầu thay đổi đến năng suất lao động (Moselhi [15])
Ở Việt Nam trong mười năm trở lại đây đã nở rộ các nghiên cứu ứng dụng ANN trong quản lý xây dựng: ứng dụng ANN tối ưu hóa tiến độ mạng (Đăng [8]), ước lượng chi phí phần Cơ – Điện (M&E) của các dự án chung cư bằng mạng trí tuệ nhân tạo (Anh [9]), xác định chi phí xây dựng với mạng nơ – ron-mờ (Bách [10]), Ước lượng chi phí xây dựng chung cư bằng mạng nơ – ron nhân tạo (Khoa [4]),… Tuy nhiên các nghiên cứu trước đây chưa ai nghiên cứu đến việc ứng dụng
Trang 14ANN cho việc ước lượng về chi phí xây dựng hạng mục khối nhà chính cho dự án xây dựng trường học
1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn rất lớn về việc ước lượng nhanh và tương đối chính xác về chi phí xây dựng trường học nói chung và ước lượng chi phí hạng mục khối nhà chính nói riêng, để giúp trưởng phòng kế hoạch đầu tư nhanh chóng quyết định có thầu công trình đó hay không
Đề tài sẽ nghiên cứu xây dựng một giải pháp tổng thể, mang tính hệ thống cho việc ước lượng nhanh và tương đối chính xác về chí phí xây dựng hạng mục khối nhà chính của dự án xây dựng trường học, theo phương pháp máy học, bao gồm các
mô hình, vấn đề, thuật giải, kỹ thuật, thiết kế qui trình xử lý và cài đặt ứng dụng
Mục tiêu
1.2.1
Ứng dụng các giải pháp được nghiên cứu, và viết ứng dụng ước lượng nhanh chí phí hạng mục khối nhà chính của dự án xây dựng trường học trong phạm vi của của công ty dịch vụ công ích Phú Nhuận TP.HCM, với sai số ước lượng của ứng dụng so với thực tế là dưới 5.0% Theo chuyên gia về dự toán thì đây là mức sai số thấp, đáp ứng được yêu cầu thực tế
Ứng dụng sẽ cung cấp cho Trưởng phòng kế hoạch đầu tư hai chức năng chính:
Chức năng huấn luyện
Đầu vào:
Là tập vector của bước trích chọn các thuộc tính đặc trưng của hạng mục khối nhà chính của các dự án xây trường học đã được xây dựng trước đây
Chi phí các hạng mục khối nhà chính của các dự án xây trường học
đã được xây dựng trước đây
Trang 15 Số lần lặp và tỉ lệ lỗi mong muốn
Các đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là:
- Nghiên cứu các vấn đề cơ bản của mạng nơ-ron
- Nghiên cứu các vấn đề cơ bản về lý thuyết mờ
- Nghiên cứu các vấn đề cơ bản về chuẩn hóa dữ liệu
- Phương pháp lập dự toán và các dự toán của các công trình trường học trước đây
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu
Đi từ việc phân tích nhu cầu thực tiễn, tìm hiểu nghiên cứu các phương pháp và
kỹ thuật đã có, trên cơ sở đó tìm cách vận dụng, phối hợp và cải tiến sao cho phù
Trang 16hợp với yêu cầu thực tế của ứng dụng mà đề tài đang hướng tới Bên cạnh đó đưa ra những đóng góp phát triển và đề xuất mới về mặt mô hình và kỹ thuật, tận dụng ưu điểm của từng phương pháp, kỹ thuật trong các mô hình mới với khả năng biểu diễn tri thức rộng và sâu hơn, khả năng xử lý chính xác và hiệu quả hơn Một số phương pháp nghiên cứu được thực hiện trong đề tài:
Phương pháp thu thập thông tin: thu thập các tài liệu liên quan tới mạng nơ-ron
và logic mờ, các phương pháp biểu diễn tri thức, các khái niệm trong lĩnh vực xây dựng, thu thập dữ liệu dự toán về các dự án trường học đã được xây dựng trước đây
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: phân tích và tổng hợp tài liệu: nghiên cứu các
tài liệu về mạng nơ-ron và logic mờ; các phương pháp biểu diễn và xử lý tri thức
Từ đó đề xuất mô hình, phương pháp, kỹ thuật thích hợp để áp dụng vào đề tài
Phương pháp chuyên gia: tham vấn từ các chuyên gia về cách dự toán cho dự
án xây dựng nói chung và dự án xây dựng trường học nói riêng, các yếu tố liên quan tới chí phí xây dựng, từ đó hoàn thiện các giải pháp đã đề xuất
Phương pháp so sánh:
So sách kết quả đạt được với cách sử dụng phương pháp hiện tại của người lập
dự toán và So sánh kết quả đạt được với các công trình liên quan
1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Hiện nay các công ty xây dựng khi tham gia đấu thầu xây dựng các dự án trường học, chung cư,… phải có các chuyên gia lập dự toán tốn rất nhiều thời gian mới ước lượng được chi phí cho dự án
Trong lĩnh vực Khoa học Máy tính có một sự chuyển hướng dần đến hướng hỗ trợ ra quyết định
Liên quan tới bài toán hỗ trợ ra quyết định về chi phí cho hạng mục khối nhà chính của dự án xây dựng trường học thì vẫn chưa có ứng dụng hỗ trợ về việc ước lượng chi phí khối nhà chính
Việc tìm lời giải cho bài toán hỗ trợ ra quyết định về chi phí hoàn thành khối nhà chính cho dự án xây dựng trường học là rất cần thiết
Trang 17Chương 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết của Khóa luận liên quan đến vấn đề về lý thuyết mờ, mạng nơ – ron và chuẩn hóa dữ liệu để làm cơ sở vận dụng giải quyết các vấn đề mà Khóa luận đã đề cập
Ngày nay, xã hội càng phát triển thì nhu cầu con người ngày càng cao Do đó,
sự tiến bộ của khoa học cũng rất cao Suy luận logic mệnh đề (tạm gọi là logic nguyên thủy hay logic rõ) với hai giá trị đúng, sai hay 1, 0 đã không giải quyết được hết các bài toán phức tạp nảy sinh trong thực tế
Một cách tiếp cận mới đã mang lại nhiều kết quả thực tiễn và đang tiếp tục phát triển đó là cách tiếp cận của lý thuyết tập mờ (FUZZY SET THEORY), do giáo sư Lotfi Zadeh của trường đại học California - Mỹ đề ra năm 1965 Công trình này thực sự đã khai sinh một ngành khoa học mới là lý thuyết tập mờ và đã nhanh chóng được các nhà nghiên cứu công nghệ mới chấp nhận ý tưởng Một số kết quả bước đầu và hướng nghiên cứu tiếp theo góp phần tạo nên những sản phẩm công nghiệp đang được tiêu thụ trên thị trường Lý thuyết tập mờ ngày càng phong phú
và hoàn chỉnh, đã tạo nền vững chắc để phát triển logic mờ Có thể nói logic mờ (Fuzzy logic) là nền tảng để xây dựng các hệ mờ thực tiển, ví dụ trong công nghiệp sản xuất xi măng, sản xuất điện năng, các hệ chuyên gia trong y học giúp chuẩn đoán và điều trị bệnh, các hệ chuyên gia trong xử lý tiếng nói, nhận dạng hình ảnh, Công cụ chủ chốt của logic mờ là tiền đề hóa và lập luận xấp xỉ với phép suy diễn mờ
Khai niệm tập mờ (Fuzzy set)
2.1.2
Như chúng ta đã biết, tập hợp thường là kết hợp của một số phần tử có cùng một số tính chất chung nào đó Ví dụ : tập các sinh viên Ta có :
- T = { t / t là sinh viên }
Trang 18Vậy, nếu một người nào đó là sinh viên thì thuộc tập T, ngược lại là không thuộc tập T Tuy nhiên, trong thực tế cuộc sống cũng như trong khoa học kỹ thuật
có nhiều khái niệm không được định nghĩa một cách rõ ràng Ví dụ, khi nói về một
"nhóm sinh viên khá", thì thế nào là khá ? Khái niệm về khá không rõ ràng vì có thể sinh viên có điểm thi trung bình bằng 8.4 là khá, cũng có thể điểm thi trung bình bằng 6 6 cũng là khá (điểm khá có thể từ 6.5 đến 8.5), Nói cách khác, "nhóm sinh viên khá" không được định nghĩa một cách tách bạch rõ ràng như khái niệm thông thường về tập họp Hoặc, khi chúng ta nói đến một "lớp các số lớn hơn 10" hoặc " một đống quần áo cũ", , là chúng ta đã nói đến những khái niệm mờ, hay những khái niệm không được định nghĩa một cách rõ ràng Các phần tử của nhóm trên không có một tiêu chuẩn rõ ràng về tính "thuộc về" ( thuộc về một tập họp nào đó) Đây chính là những khái niệm thuộc về tập mờ Trong đối thoại hàng ngày chúng ta bắt gặp rất nhiều khái niệm mờ này Ví dụ, một ông giám đốc nói: " Năm qua chúng
ta đã gặt hái được một số thành tích đáng khen ngợi Năm tới đây chúng ta phải cố gắng thêm một bước nữa" Đây là một câu chứa rất nhiều khái niệm mờ
Định nghĩa tập mờ (Fuzzy set)
2.1.3
Cho Ω là không gian nền, một tập mờ A trên ? tương ứng với một ánh xạ từ ? đến đoạn [0,1]
A : Ω →,1] được gọi là hàm thuộc về (membership function)
Kí hiệu A = {(a, μA(a)) / a∈ Ω }
Trong đó, μA(a) ∈ [0,1] chỉ mức độ thuộc về (membership degree) của phần tử
a vào tập mờ A
Khoảng xác định của hàm μA(a) là đoạn [0, 1], trong đó giá trị 0 chỉ mức độ không thuộc về, còn giá trị 1 chỉ mức độ thuộc về hoàn toàn
Ví dụ 1: Một sự biểu diễn tập mờ cho số "integer nhỏ"
Hình 2.1 Một sự biểu diễn tập mờ cho số "integer nhỏ”
Trang 19Ví dụ 2: Một sự biểu diễn tập mờ cho các tập người đàn ông thấp, trung bình và cao
Từ định nghĩa trên chúng ta có thể suy ra:
- Tập mờ A là rỗng nếu và chỉ nếu hàm thuộc về μA(a)= 0 ,∀a∈ Ω
- Tập mờ A là toàn phần nếu và chỉ nếu μA(a) = 1 ,∀a∈ Ω
- Hai tập mờ A và B bằng nhau nếu μA(x) = μB(x) với mọi x trong Ω
Ví dụ 4: Cho Ω = {1, 2, 3, 4, 5}, tập mờ A trên Ω tương ứng với ánh xạ μA như
Trang 20Cho Ω = {P1, P2, } với P1, P2, là các mệnh đề Tập mờ A trên Ω tương ứng với ánh xạ v như sau:
- v(NOT P) chỉ phụ thuộc vào v(P)
- Nếu v(P1) < v(P2) thì v(NOT P1) > v(NOT P2)
- v(NOT P) phụ thuộc liên tục vào v(P)
- v(NOT (NOT P)) = v(P)
Định nghĩa 2 (Phần bù của một tập mờ):
Trang 21Cho n là hàm phủ định, phần bù Ac của tập mờ A là một tập mờ với hàm thuộc
về đƣợc xác định bởi :
μAC(a) = n(μA(a)) , với mỗi a∈ Ω
Đồ thị của hàm thuộc về có dạng sau:
Hình a : Hàm thuộc về của tập mờ A
Hình b : Hàm thuộc về của tập mờ Ac
Ví dụ : với n(x) = 1 - x thì ta có :
μAC(a) = n(μA(a)) = 1-μA(a) , với mỗi a∈ ?
Cho Ω = {1, 2, 3, 4, 5}, và A là tập mờ trong Ω nhƣ sau:
Phép hội AND trong logic kinh điển là cơ sở để định nghĩa phép giao của 2 tập
mờ AND thoả các tính chất sau :
- v(P1 AND P2) chỉ phụ thuộc vào v(P1), v(P2)
Trang 22- Nếu v(P1)=1 thì v(P1 AND P2) = v(P2) , với mọi P2
- Giao hoán v(P1 AND P2) = v(P2 AND P1)
- Nếu v(P1) ≤ v(P2) thì v(P1 AND P3) ≤ v(P2 AND P3), với mọi P3
- Kết hợp v(P1 AND (P2 AND P3 )) = v((P1 AND P2 )AND P3 )
Định nghĩa 5:
Hàm T : [0,1]2 → [0,1] là phép hội (t-chuẩn) khi và chỉ khi thỏa các điều kiện sau:
- T(1, x) = x, với mọi 0≤ x ≤1
- T có tính giao hoán, nghĩa là : T(x,y) = T(y,x), với mọi 0≤ x,y ≤1
- T không giảm theo nghĩa : T(x,y) ≤ T(u,v), với mọi x ≤ u, y ≤ v
- T có tính kết hợp : T(x,T(y,z)) = T(T(x,y),x), với mọi 0≤ x,y,z ≤1
μAB(a) = min(μA(a), μB(a))
Với T(x,y) = x.y ta có:
μAB(a) = μA(a).μB(a) (tích đại số)
Trang 23- S có tính giao hoán, nghĩa là : S(x,y) = S(y,x), với mọi 0≤ x,y ≤1
- S không giảm theo nghĩa : S(x,y) ≤ S(u,v), với mọi x ≤ u, y ≤ v
- S có tính kết hợp : S(x,S(y,z)) = S(S(x,y),x), với mọi 0≤ x,y,z ≤1
cho bởi :
μA?B(a) = = S(μA(a), μB(a)) , ∀a∈ Ω
Với S(x,y) = max(x,y) ta có :
μA?B(a) = max(μA(a), μB(a))
Với S(x,y) = min(1, x+y)
μA?B(a) = min(1, μA(a) + μB(a))
Với S(x,y) = x + y + x.y
μA?B(a) = μA(a) + μB(a) - μA(a).μB(a)
Một số qui tắc
Trong logic rõ với hai giá trị đúng, sai, có nhiều qui tắc đơn giản mà chúng ta thường sử dụng xem như tính chất hiển nhiên
Ví dụ : với bất kỳ tập rõ A ⊂ Ω , ta có: A?Ac = ∅ và A ?Ac = Ω
Trang 24Thực ra, những qui tắc này có được là nhờ vào sự xây dựng toán học trước đó Chuyển sang lý thuyết tập mờ thì hai tính chất quen dùng này đã không còn đúng nữa Do đó, chúng ta cần xem xét lại một số tinh chất
• Tính lũy đẳng (demportancy)
Chúng ta nói T là lũy đẳng nếu T(x,x) = x, ∀x∈[0,1]
Tương tự, S là lũy đẳng nếu S(x,x) = x, ∀x∈[0,1]
• Tính hấp thu (absorption)
Có hai dạng hấp thu :
- T(S(x,y),x) = x , ∀x,y∈[0,1]
- S(T(x,y),x) = x , ∀x,y∈[0,1]
• Tính phân phối (distributivity)
Có hai biểu thức xác định tính phân phối:
- S(x,T(y,z)) = T(S(x,y), S(x,z)), ∀x,y,z∈[0,1]
- T(x,S(y,z)) = S(T(x,y), T(x,z)), ∀x,y,z∈[0,1]
Trang 25v(P1→ P2) = I(v(P1), v(P2))
Định nghĩa 9:
Phép kéo theo của một hàm số I : [0,1]2
→ [0,1] thỏa các điều kiện sau :
- Nếu x ≤ z thì I(x,y) ≥ I(z,y), ∀y∈[0,1]
- Nếu y ≤ u thì I(x,y) ≤ I(z,y), ∀x∈[0,1]
Trang 26a Độ đo khả năng
Cho một tập tham chiếu X, ta coi mỗi sự kiện xác định trên X như là một tập con của X Gán cho mỗi sự kiện xác định trên X, có nghĩa cho mỗi phần tử của tập P(X) (hay 2X, là tập tất cả những tập con thông thường của X), một hệ số nằm giữa
0 và 1, để đánh giá sự kiện đó có khả năng xảy ra tới mức nào Hàm Π : P(X) → [0, 1] được gọi là một độ đo khả năng trên X, và được định nghĩa hình thức như sau: Định nghĩa 1
Một độ đo khả năng trên X là một ánh xạ Π : P(X) → [0, 1] ( là một hàm xác định trên tập P(X), lấy giá trị trên miền [0, 1]) sao cho:
mà một sự kiện có thể xảy ra, tuy nhiên, độ đo khả năng của một sự kiện không phải
là xác suất của sự kiện đó
Có thể thấy một vài sự khác biệt giữa khả năng và xác suất của một sự kiện là:
- Sự kiện có khả năng cao không kéo theo có xác suất cao,
- Sự kiện có xác suất thấp không kéo theo có khả năng thấp,
Tuy nhiên giữa khả năng và xác suất có sự tương đồng (theo một chiều): nếu giảm khả năng của sự kiện thì cũng làm giảm xác suất, và nếu một sự kiện có khả năng bằng không thì cũng không thể xảy ra, tức là có xác suất bằng không
Thí dụ 1: Với một chiếc xe 4 chỗ chạy trên đường thì sự kiện có 2 người ngồi trên xe là có khả năng bằng 1 (hoàn toàn có khả năng) nhưng xác suất của sự kiện này thì có thể nhỏ hơn nhiều (khoảng 0.2, tức là trung bình cứ 5 chiếc xe 4 chỗ chạy trên đường thì mới có 1 xe chở 2 người), sự kiện 7 người ngồi trên chiếc xe 4 chỗ
có khả năng bằng không thì xác suất của sự kiện này cũng bằng không
Trang 27b Phân bố khả năng
Một độ đo khả năng là hoàn toàn đƣợc xác định nếu ta gán một hệ số khả năng cho mọi tập con của tập tham chiếu X Nếu X có lực lƣợng |X| = n, số các hệ số cần phải xác định để biết đầy đủ một độ đo khả năng là 2n Nó đƣợc xác định đơn giản hơn nếu ta chỉ ra các hệ số đƣợc gán chỉ cho các bộ phận sơ cấp của X, tức những tập con một phần tử của X, vì một tập con bất kỳ của X có thể đƣợc xem nhƣ hợp của những tập một phần tử mà nó chứa Số các hệ số phải biết để xác định hoàn toàn độ đo khả năng khi đó bằng n Một định nghĩa nhƣ vậy dựa trên việc cho một hàm khác, gọi là phân bố khả năng, gán các hệ số giữa 0 và 1 cho mọi phần tử của
sẽ đƣợc dùng để xác định một phân bố khả năng trên X
Tức là phân bố khả năng π có thể đƣợc xác định từ độ đo khả năng Π nhƣ sau:
∀ x ∈ X, π(x) = Π({x}) (1)
Ngƣợc lại, một phân bố khả năng π trên X sẽ gán cho mỗi phần tử của X một hệ
số khả năng, khi đó độ đo khả năng Π có thể đƣợc xây dựng bằng cách với mỗi tập con của X xác định một hệ số dựa trên các hệ số khả năng của các phần tử trong tập con này
Tức là độ đo khả năng Π có thể đƣợc xác định từ phân bố khả năng π nhƣ sau:
∀ A ∈ P(X), Π(A) = supx ∈Aπ(x) (2)
Trang 28Thí dụ 2: Cho X là tập các ngày trong một tuần, X = {Mon, Tues, Wed, Thurs, Fri, Sat, Sun} Bạn đang chờ một bưu kiện, giả sử “hoàn toàn có khả năng” là bưu kiện đến vào ngày thứ hai hoặc thứ ba, “tương đối có khả năng” là bưu kiện đến vào ngày thứ tư, “ít có khả năng” đến vào ngày thứ năm và “không có khả năng” đến vào các ngày cuối tuần
- Như vậy ta sẽ có một độ đo khả năng trên X: với mọi tập con của X, khả năng bưu kiện sẽ đến vào những ngày trong tập này như sau:
Π(Ø) = 0, Π(X) = Π({Mon, Tues, Wed, Thurs, Fri, Sat, Sun}) = 1
Π({Mon, Tues}) = 1, Π({Wed}) = 0.8, Π({Thurs}) = 0.2, Π({Fri, Sat, Sun}) = 0, Với các tập con khác ta có thể tính được:
Π({Wed, Thurs}) = max[Π({Wed}) , Π({Thurs})] = max(0.8 ; 0.2) = 0.8 v.v Một phân bố khả năng trên X là tập các giá trị sau:
ΠX={π(Mon) = 1, π(Tues) = 1, π( Wed) = 0.8, π(Thurs) = 0.2, π(Fri) = 0, π(Sat)
= 0, π(Sun) = 0}
Rõ ràng nếu biết phân bố khả năng trên X, ta có thể tính được độ đo khả năng trên X, tức là ∀ A ∈ P(X), ta tính được Π(A) theo công thức (2)
c Tập con mờ và phân bố khả năng
Lý thuyết khả năng và lý thuyết tập mờ có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, bổ xung và hỗ trợ nhau trong việc biểu diễn và xử lý các thông tin mờ, bao gồm cả thông tin không chính xác, không đầy đủ và thông tin không chắc chắn Từ một phân bố khả năng có thể xác định một tập con mờ, và ngược lại, từ một tập con mờ với hàm thuộc đã biết, có thể cảm sinh một phân bố khả năng
Chẳng hạn, ta có một phân bố khả năng trên X ở thí dụ 2: ΠX = {π(Mon) = 1, π(Tues) = 1, π( Wed) = 0.8, π(Thurs) = 0.2, π(Fri) = 0, π(Sat) = 0, π(Sun) = 0} Nếu gọi F là tập những ngày trong tuần bưu kiện có thể đến, thì F là một tập con mờ trên X, và ta có ngay hàm thuộc của tập con mờ này là π(u), ∀ u ∈ X , tức là
ta xác định được tập con mờ :
F = {1/Mon ; 1/Tues , 0.8/Wed ; 0.2/Thurs}, những giá trị khác là hoàn toàn không thuộc F
Trang 292.1.5.2 Biến ngôn ngữ và hạng từ mờ
Tất cả những biến cổ điển chúng ta đã biết, lấy các giá trị duy nhất trong miền xác định của chúng, thường là những số thực liên quan đến một đại lượng thường gặp trong vật lý hay trong kinh tế, xã hội ở một tình huống cụ thể Chẳng hạn, một biến x lấy giá trị là 232 mét (chỉ khoảng cách), hay y = 253215 đồng (chỉ giá thành một sản phẩm), tuổi của anh ta là z = 22 đó là những biến nhận giá trị chính xác và duy nhất Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, do hạn chế về điều kiện quan sát hay dụng cụ đo cho nên ta chỉ nhận được những giá trị gần đúng, chẳng hạn trong những quan sát trên, thay vì biết khoảng cách chính xác từ ngôi nhà tới bãi biển, ta chỉ biết được khoảng cách là “giữa 200 và 250 mét”, hay khoảng cách tới bãi biền
là “gần”, giá của chiếc áo sơ mi là “khoảng 250000đồng” hay giá chiếc áo là “vừa phải”, tuổi của anh ta “khoảng trên 20”, hay anh ta là người “trẻ”…Trong thực tế,
có rất nhiều biến có thể vừa nhận những giá trị chính xác là các số, các đại lượng (ngôn ngữ nhân tạo), vừa có thể nhận những giá trị là những từ hoặc những câu của ngôn ngữ tự nhiên Những biến như thế được gọi là biến ngôn ngữ
a Khái niệm biến ngôn ngữ
Biến ngôn ngữ dùng để mô hình hóa những tri thức không chính xác hay mơ hồ
về một biến mà giá trị chính xác có thể chưa biết Zadeh định nghĩa một biến ngôn ngữ là một biến mà giá trị của nó là những từ ngữ hoặc những câu trong ngôn ngữ
tự nhiên hoặc ngôn ngữ nhân tạo Ví dụ nếu giá trị của “age” là những từ như: young, middle, old,… và những số như: 20, 21, 22,… thì “age” là một biến ngôn ngữ Ta có định nghĩa hình thức cho biến ngôn ngữ như sau:
Định nghĩa 3
Một biến ngôn ngữ V được xác định bởi bộ ba <V, U, TV >, trong đó V là một biến xác định trên tập tham chiếu U, TV = {V1 , V2 , …} gồm hữu hạn hay vô hạn các tập con mờ chuẩn hóa của U, dùng để đặc trưng V
Có thể mô tả biến ngôn ngữ một cách cụ thể hơn: Một biến ngôn ngữ xác định trên tập tham chiếu U thường được đặt tên là các từ ngữ, và nhận giá trị là các từ ngữ xác định các tập con mờ chuẩn hóa trên U, khi U là tập số thực, các tập V1, V2
…là các đại lượng mờ
Trang 30Thí dụ 3: Xét biến ngôn ngữ cho bởi bộ ba <V, U, TV > , trong đó V = „age‟ (tuổi) là tên biến, U là tập các số nguyên dương U = {1, 2,…20, 100,…150}, còn
T = {„young‟, „middle-ege‟, „old‟}, với „young‟, „middle-age‟, „old‟ là các tập con
mờ trên U Khi đó V là một biến ngôn ngữ trên U
Các tập con mờ “young”, “middle-age” và “old” được định nghĩa bởi hàm thuộc fyoung , f midd-age , fold như sau:
Các hàm thuộc của các tập con mờ “young”, “middle-age”, “old” được biểu diễn ở hình 2.3 dưới đây
Trang 31Các tập con mờ này đều là các tập mờ chuẩn hóa, vậy đó là các đại lượng mờ
Hình 2.3 Hàm thuộc của các tập mờ “young”, “middle-age”, “old”
Thí dụ 4: Xét bộ ba <V, U, TV > , trong đó biến V = „diện tích‟ chỉ độ rộng của một căn hộ, U là tập các số nguyên dương, còn T = {„nhỏ xíu‟, „bé‟, „trung bình‟,
„lớn‟, „mênh mông‟} là tập các đặc trưng của V, hàm thuộc của các tập con mờ này được cho trong hình 2.4 , đó là các tập con mờ lồi được chuẩn hóa Vậy „diện tích‟ cũng là một biến ngôn ngữ trên U, được đặc trưng
bởi tập các số mờ T = {„nhỏ xíu‟, „bé‟, „trung bình‟, „lớn‟, „mênh mông‟}
Hỉnh 2.4 Hàm thuộc của các số mờ đặc trưng cho biến ngôn ngữ
Từ đồ thị các số mờ đặc trưng của biến ngôn ngữ „diện tích‟, giả sử căn hộ có diện tích chính xác là 53 m2, thì nó được coi là căn hộ bé (với độ thuộc 0,7), cũng
có thể coi là căn hộ trung bình,với độ thuộc 0,3
Khi ta cần xác định một diện tích chính xác, ta có thể đưa vào T tập mờ gồm 1 phần tử, chẳng hạn:‟115m2‟, khi đó tập T = {„nhỏ xíu‟, „bé‟, „trung bình‟,
„lớn‟,‟115m2‟, „mênh mông‟}
Trang 32Tùy theo mục đích ứng dụng của biến ngôn ngữ V, tập TV có thể gồm nhiều hay ít phần tử, tập này càng nhiều phần tử thì việc mô tả V càng „mịn‟, trái lại mô tả này là „thô‟
b Hạng từ mờ và các gia tử ngôn ngữ
Những đại lượng mờ đặc trưng cho các biến ngôn ngữ, có vai trò như là các toán hạng trong các biểu thức số học mờ hay logic mờ gọi là các hạng từ mờ Chẳng hạn trong các thí dụ trên ta có các hạng từ mờ “young”, “middle-age”, “old” ứng với biến ngôn ngữ “age”, còn các hạng từ mờ „nhỏ xíu‟, „bé‟, „trung bình‟, „lớn‟,
„mênh mông‟ ứng với biến ngôn ngữ “diện tích”…
Định nghĩa 4:
Cho biến ngôn ngữ V được xác định bởi bộ ba <V, U, TV >, trong đó TV là tập các đặc trưng của V Các đại lượng mờ Vi∈TV gọi là các hạng từ mờ (fuzzy term) ứng với biến ngôn ngữ V
Những hạng từ mờ trên đây được gọi là các “hạng từ mờ đơn” (simple fuzzy term), với mỗi hạng từ mờ đơn, ta xây dựng thêm những đặc trưng trung gian mới cho biến ngôn ngữ V nhằm tăng cường hoặc giảm nhẹ các tính chất mà các hạng từ
mờ đơn đã mô tả Như vậy, những đặc trưng dùng để mô tả cho biến ngôn ngữ V sẽ gồm những hạng từ mờ đơn trong tập T hoặc là những hạng từ mờ đã được biến đổi Chẳng hạn, với hạng từ mờ “bé” ứng với biến ngôn ngữ “diện tích” (của các căn hộ), ta muốn nhấn mạnh thêm tính chất “bé” bằng việc thêm vào một trợ từ để
có mô tả là “rất bé” (nhưng chưa đến mức “nhỏ xíu”, tức là “rất bé” là một đặc trưng trung gian giữa “nhỏ xíu” và “bé”), hay để giảm nhẹ mức độ bé, ta có thể mô
tả thêm là “ít nhiều là bé” (nhưng vẫn nhỏ hơn mức “trung bình”), những hạng từ
mờ có thêm sự tăng cường hay giảm nhẹ như vậy gọi là những hạng từ mờ sửa đổi (modified fuzzy term), những trợ từ làm biến đổi mức độ đặc trưng của các hạng từ được gọi là các gia tử ngôn ngữ
Định nghĩa 5:
Một gia tử ngôn ngữ là một toán tử modify cho phép từ mọi hạng từ mờ A (là một đặc trưng mờ của V) tạo ra một hạng từ mờ sửa đổi của A, ký hiệu là modi(A) Hàm thuộc của hạng từ mờ sửa đổi modi(A) nhận được từ hàm thuộc của A nhờ một phép toán T-modi liên kết với gia tử ngôn ngữ
Trang 33Gọi M là tập các gia tử , TV là tập các hạng từ mờ đặc trưng cho biến ngôn ngữ
V thì tập các hạng từ mờ sửa đổi của TV được ký hiệu là M(TV)
Chẳng hạn, với những hạng từ mờ đơn như: young, middle, old của biến ngôn ngữ “age”, tập các gia tử là M = {very, more or less}, thì tập các hạng từ mờ sửa đổi sẽ là: M(TV) = {very young, (rất trẻ), more or less young (ít nhiều là trẻ)…} Gia tử ngôn ngữ làm tăng cường tính chất đặc trưng của hạng từ mờ được gọi là các gia tử thu hẹp, trái lại, các gia tử có tính giảm nhẹ các tính chất đặc trưng của hạng từ mờ được gọi là các gia tử mở rộng Chẳng hạn gia tử “very” đối với các hạng từ mờ của biến ngôn ngữ “age” là các gia tử thu hẹp, còn gia tử “more or less”
là gia tử mở rộng Ta có thể định nghĩa cho các khái niệm gia tử thu hẹp hay mở rộng thông qua các phép toán liên kết với nó:
Thí dụ 5: Xét hạng từ mờ đơn “young” của biến ngôn ngữ “age”
1 Ta có các hạng từ mờ sửa đổi thu hẹp “very young” (tăng cường đặc trưng
„young‟), khi đó phép toán liên kết với “very” là T-very(u) = u2
Hàm thuộc của hạng từ mờ sửa đổi “very young” nhận được từ hàm thuộc của hạng từ mờ đơn ”young” nhờ kết hợp phép toán T-very(u) = u2 như sau:
Trang 342 Ta có các hạng từ mờ sửa đổi mở rộng “more or less young” (giảm nhẹ đặc trưng „young‟), khi đó phép toán liên kết với “very” là T-more or less(u) = u1/2 Hàm thuộc của hạng từ mờ sửa đổi “more or less young” nhận được từ hàm thuộc của hạng từ mờ đơn ”young” nhở kết hợp phép toán T-more or less(u) = u1/2như sau:
2.1.5.3 Suy luận theo Logic mờ
Logic cổ điển nghiên cứu các phương pháp suy luận trên các mệnh đề có giá trị tuyệt đối đúng (được gán giá trị 1) hoặc tuyệt đối sai (được gán giá trị 0) Những mệnh đề như thế phải được xác định với các tri thức rõ ràng
Những phát biểu trong thực tế, bằng ngôn ngữ tự nhiên, thường chứa những thông tin không chính xác và không đầy đủ, chúng ta phải chấp nhận những mệnh
đề chỉ đúng một phần và xây dựng những phương pháp suy luận mềm dẻo hơn trên các tri thức không đầy đủ, điều mà logic cổ điển không thể thực hiện được Ta nhắc lại một số yếu tố liên quan đến logic cổ điển mà không thể áp dụng được trong môi trường các tri thức “mờ”, đó chính là những hạn chế của logic cổ điển:
1 Các mệnh đề trong logic cổ điển có hai giá trị chân lý là đúng (ký hiệu 1, hay
„T‟) và sai (ký hiệu 0 hay „F‟), trong khi trong môi trường mờ thì các mệnh đề có thể nhận nhiều giá trị trong miền [0, 1]
Trang 352 Có hai lượng từ trong logic cổ điển: lượng từ vạn năng “với mọi” (∀) mà với
nó phát biểu (mệnh đề) thỏa mãn với mọi tình huống, và lượng từ “tồn tại” (∃) chỉ
ra rằng có ít nhất 1 tình huống thỏa mãn mệnh đề Với tri thức mờ, cần có các lượng
từ mờ để mô tả các tình huống trung gian trong đó phát biểu chỉ thỏa một số tình huống (“trong hầu hết các trường hợp ”)
3 Một quy tắc suy diễn chỉ được áp dụng khi tiền đề của nó phải đúng hoàn toàn (hoặc sai hoàn toàn), trong khi với môi trường mờ cần có những quy tắc suy diễn áp dụng được khi tiền đề chỉ đúng một phần Chẳng hạn quy tắc suy diễn modus ponens:
“nếu p → q đúng và p đúng thì q đúng”, hay có thể ký hiệu { p → q ; p }├ q , trong đó nếu tiền đề { p → q ; p }là đúng thì suy diễn ra q đúng Nếu các mệnh đề của tiền đề không hoàn toàn đúng thì không thể kết luận được điều gì
Tương tự với quy tắc modus tollens: “nếu p → q đúng và q sai thì p sai”: { p →
q ; ¬q }├ ¬p cũng không áp dụng được khi p → q chỉ đúng một phần, hoặc q không hoàn toàn sai
Như vậy, cần thiết phải mở rộng logic cổ điển, và xây dựng những quy tắc suy luận mới để có thể áp dụng được với các mệnh đề có nhiều hơn hai giá trị chân lý
a Logic ba trị
Mở rộng đầu tiên của logic cổ điển là “logic ba trị” (của Lukasiewicz), trong đó các mệnh đề chấp nhận thêm một giá trị trung gian giữa đúng và sai, tức là một mệnh đề có thể có giá trị “nghi ngờ” giữa đúng và sai Như vậy mỗi mệnh đề trong logic ba trị có thể nhận ba giá trị chân lý biểu diễn bởi 0 (sai), 1 (đúng) và 0.5 (nghi ngờ) Như vậy, có thể coi logic ba trị là cách tiếp cận trung gian giữa logic cổ điển
và logic mờ, logic ba trị chưa thực sự là logic mờ, bởi vì các mệnh đề trong logic ba tri chưa thực sự là mệnh đề mờ
Dưới đây ta tóm tắt các phép toán chủ yếu trong logic cổ điển và đưa ra định nghĩa các phép toán tương ứng trong logic ba trị
Cho các mệnh đề sơ cấp p, q có thể nhận các giá trị 1 (đúng) và 0 (sai) trong logic cổ điển, và nhận các giá trị 1 (đúng) , 0 (sai) và 0.5 (nghi ngờ) trong logic ba trị khi đó các phép toán trên các mệnh đề được ký hiệu và định nghĩa như sau
Trang 37nhƣng nhiều tính chất của logic cổ điển đã bị mất đi do sự mở rộng của logic ba trị
Vì vậy, nói chung không thể chuyển tất cả các công thức của logic cổ điển sang logic ba trị
Ví dụ 6:
1 Công thức p → p là một công thức luôn luôn đúng trong logic cổ điển, tức là với mọi giá trị của p là 0 hay 1 thì p → p luôn nhận giá trị đúng Chuyển sang logic
ba trị, khi p nhận cả giá trị 0.5 thì công thức này vẫn đúng
2 Trong logic cổ điển ta có phép kéo theo p → q là đồng nhất với ¬p∨q , tức là
ta có hai công thức đồng nhất bằng nhau p → q ≡ ¬p∨q (bạn đọc có thể chứng minh bằng việc tính bảng chân lý của 2 công thức ở 2 vế, để thấy rằng với mọi cách chọn giá trị của p và q thì giá trị chân lý của 2 công thức là nhƣ nhau) Tuy nhiên, chuyển sang logic ba trị thì khi p = q = 0.5, thì giá trị chân lý của p → q là 1, còn của ¬p∨q
là 0.5, vậy hai công thức không phải là đồng nhất bằng nhau trong logic ba trị Sau logic ba trị, nhiều logic đa trị khác (với các mệnh đề chấp nhận nhiều hơn hai giá trị nhƣ trong logic cổ điển) đã đƣợc đƣa ra, với các giá trị chân lý thuộc đoạn [0, 1], trong đó 0 ứng với giá trị tuyệt đối sai, và 1 ứng với giá trị tuyệt đối đúng
Tuy nhiên, những sự mở rộng nhƣ vậy của logic cổ điển là không đủ để xử lý các tri thức không chính xác, vì chúng chỉ chấp nhận một thang bậc của các giá trị chân lý, mà không cho phép một mệnh đề có thể đƣợc phát biểu một cách không chính xác
b Các mệnh đề mờ sơ cấp
- Mệnh đề mờ sơ cấp
Một mệnh đề sơ cấp, có thể hiểu là một phát biểu, một tuyên bố (statement), phát biểu đó có thể sử dụng ngôn ngữ tự nhiên hoặc các ngôn ngữ nhân tạo (các công thức toán, ngôn ngữ lập trình…) Khi các phát biểu đó chắc chắn đúng hoặc chắc chắn sai, ta có một mệnh đề sơ cấp theo nghĩa cổ điển (mệnh đề “rõ”), còn khi các phát biểu đó không thể xác định đƣợc chắc chắn là đúng hay sai, nhƣng có thể đúng đến bao nhiêu phần trăm, tức là mức độ đúng hay sai là một giá trị thuộc đoạn [0, 1] thì ta nhận đƣợc các mệnh đề mờ Có nhiều loại mệnh đề mờ sơ cấp, trong chuyên đề này ta chỉ xét các mệnh đề mờ sơ cấp liên kết với các biến ngôn ngữ
Trang 38Định nghĩa 7:
Cho một biến ngôn ngữ V xác định bởi bộ ba <V, U, TV >, một mệnh đề mờ sơ cấp xác định trên V là một phát biểu dạng: “V là A”, trong đó A là một hạng từ mờ đơn hay hạng từ mờ sửa đổi, đặc trưng cho V Giá trị chân lý của mệnh đề “V là A” được xác định bởi hàm thuộc fA của A
Thí dụ 7:
Xét biến ngôn ngữ “diện tích” (của căn hộ) trong thí dụ 2, với tập các đặc trưng
mờ TV = {„nhỏ xíu‟, „bé‟, „trung bình‟, „lớn‟, „mênh mông‟}, khi đó ta có một mệnh
đề mờ sơ cấp:
p: “diện tích” là “trung bình”,
giá trị chân lý của mệnh đề này là giá trị của hàm thuộc fA, với A là tập con mờ của hạng từ mờ “trung bình” Như vậy, giá trị chân lý của p sẽ là bằng 1 khi diện tích của một căn hộ lấy giá trị trong miền [60, 80], càng xa hai đầu đoạn này thì giá trị chân lý của mệnh đề p càng giảm, khi diện tích nhỏ hơn 50, hoặc lớn hơn 90 giá trị chân lý của p bằng 0 (xem thí dụ 4)
- Một số phép toán trên các mệnh đề mờ
Với các mệnh đề mờ sơ cấp, ta có thể xác định các mệnh đề mới nhờ các phép toán „hội‟, „tuyển‟ „phủ định‟ và „kéo theo‟ Có nhiều cách định nghĩa cho các phép toán này, dưới đây trình bày các định nghĩa đơn giản nhất cho các phép toán nói trên Những định nghĩa này là mở rộng của các phép toán tương ứng trong logic cổ điển, tức là khi các mệnh đề mờ chỉ nhận hai giá trị 1 và 0, thì các phép toán được đinh nghĩa dưới đây trùng với các phép toán tương ứng trong logic cổ điển
Định nghĩa 8:
Cho mệnh đề mờ sơ cấp p: “V là A”có giá trị chân lý là fA và mệnh đề q: “W là B” có giá trị chân lý là fB , trong đó V và W là các biến ngôn ngữ xác định trên các tập tham chiếu X và Y
+ Hội của hai mệnh đề mờ p và q là một mệnh đề mờ xác định trên tập tham chiếu X × Y với giá trị chân lý được xác định bởi hàm thuộc fp∧q trên X × Y như sau:
∀(x, y)∈ X × Y, fp∧q (x, y) = min[fA(x), fB(y)]
Trang 39+ Tuyển của hai mệnh đề mờ p và q là một mệnh đề mờ xác định trên tập tham chiếu X × Y với giá trị chân lý được xác định bởi hàm thuộc fp∧q trên X × Y như sau:
∀(x, y)∈ X × Y, fp∨q (x, y) = max[fA(x), fB(y)]
+ Phủ định của mệnh đề p là một mệnh đề mờ xác định trên tập tham chiếu X với giá trị chân lý được xác định bởi hàm thuộc f¬p trên X như sau:
Chẳng hạn, ta có luật mờ: “nếu V là A thì W là B”, là một phép kéo theo “V là A” →”W là B”, trong thực tế luật này có thể là một phát biểu: “nếu diện tích (căn hộ) là lớn thì giá là cao” Cũng có thể phần điều kiện của luật là một hội của các mệnh đề mờ sơ cấp, chẳng hạn có luật: “khoảng cách (tới bãi biển) là nhỏ và diện tích là lớn thì giá là rất cao”
2.2 TỔNG QUAN VỀ MẠNG NƠ – RON NHÂN TẠO
Giới thiệu
2.2.1
Mạng nơ – ron là thuật ngữ nói đến một phương pháp giải quyết vấn đề – bài toán trên máy tính mô phỏng theo hoạt động của các tế bào thần kinh trong não bộ Mạng nơ – ron nhân tạo là sự mô phỏng cấu trúc của mạng nơ – ron sinh học Mạng nơ – ron nhân tạo được tạo thành bởi sự nối kết giữa rất nhiều đơn vị thần kinh gọi là perceptron
Trang 40Hình 2.5 Cấu trúc tế bào của một thần kinh sinh học Cấu tạo một đơn vị thần kinh nhân tạo (nhƣ hình 2.6)
Giá trị đầu ra y của một perceptron đƣợc tính bằng công thức sau:
y = f((xnwn+ xn-1wn-1 + … + w2n2 + w1n1 + w0) - )
( đƣợc gọi là ngƣỡng kích hoạt của nơ -ron )
Hàm f đƣợc gọi là hàm truyền Một hàm truyền cần phải có tính chất sau :
(
f
x x
1)(
h
x x
x x e e
e e
tanh