Tôi xin trân trọng cảm ơn các nhà báo hiện đang công tác tại Đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Đài Phát thanh và Truyền hình Hải Phòng, các nhà quản lý trong lĩnh vực báo
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3Công trình này được nghiên cứu và triển khai từ tháng 9/2016 đến 9/2017, do tác giả Lưu Thị Thanh Hà (học viên lớp Cao học Báo chí K19 - Hải Phòng, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội), hiện đang công tác tại Ban Thời sự, Đài Phát thanh và Truyền hình Hải Phòng thực hiện
Tôi xin cam đoan luận văn “Vấn đề phát triển kinh tế biển đảo Hải Phòng trên
sóng truyền hình” (khảo sát Đài Phát thanh và Truyền hình Hải Phòng, VTV1,
Truyền hình Thông tấn từ 6/2016 - 3/2017) là công trình khoa học của tôi, với sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Xuân Thạch Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong luận văn này độc lập và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây
Luận văn có tham khảo và trích dẫn một số sách, báo và tài liệu được thể hiện trong phần tài liệu tham khảo
Tác giả
Lưu Thị Thanh Hà
Trang 4Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Phạm Xuân Thạch đã tận tình và nhiệt tâm hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn tất cả cán bộ, giảng viên Khoa Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và triển khai luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn các nhà báo hiện đang công tác tại Đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Đài Phát thanh và Truyền hình Hải Phòng, các nhà quản lý trong lĩnh vực báo chí của thành phố Hải Phòng; các nhà khoa học, lãnh đạo các doanh nghiệp, các chuyên gia, chuyên viên trong kĩnh vực kinh tế biển đã
tư vấn và cung cấp thông tin liên quan đến đề tài luận văn
Mặc dù đã cố gắng, song do trình độ và điều kiện nghiên cứu còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết
Tôi chân thành mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp quý báo để luận văn này có thể hoàn chỉnh hơn và đó cũng là kinh nghiệm quý báu để tôi có thể triển khai những công trình nghiên cứu sau này
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ 4
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do lựa chọn đề tài 5
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu 12
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 14
7 Kết cấu luận văn 14
Chương 1: VAI TRÕ CỦA TRUYỀN HÌNH ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN ĐẢO HẢI PHÕNG 16
1.1 Những khái niệm cơ bản 16
1.2 Tiềm năng phát triển kinh tế biển đảo của Hải Phòng 22
1.3 Quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước và thành phố Hải Phòng về phát triển kinh tế biển đảo Hải Phòng 31
1.4 Truyền thông về phát triển kinh tế biển đảo 34
Chương 2: THỰC TRẠNG THÔNG TIN TRUYỀN HÌNH VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN ĐẢO HẢI PHÕNG 39
2.1 Tổng quan thông tin về phát triển kinh tế biển đảo Hải Phòng trên sóng truyền hình 39
2.2 Nội dung thông tin về phát triển kinh tế biển đảo Hải Phòng 40
2.3 Hình thức thông tin phát triển kinh tế biển đảo Hải Phòng 58
2.4 Đánh giá nội dung và hình thức các tác phẩm về phát triển kinh tế biển đảo Hải Phòng 60
2.5 Hiệu quả các thông tin về phát triển kinh tế biển đảo Hải Phòng trên sóng truyền hình 69
Trang 6Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THÔNG TIN PHÁT TRIỂN
KINH TẾ BIỂN ĐẢO HẢI PHÕNG TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH 77
3.1 Tuyên truyền về phát triển kinh tế biển đảo Hải Phòng trong bối cảnh hiện hiện nay 77
3.2 Yêu cầu đổi mới thông tin về phát triển kinh tế biển đảo Hải Phòng trên sóng truyền hình 81
3.3 Giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về phát triển kinh tế biển đảo Hải Phòng trên sóng truyền hình 84
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 109
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GRDP : Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố
HĐND : Hội đồng nhân dân
UNESSCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
STT Bảng, biểu đồ Trang
1 Biểu đồ 2.1: Số lƣợng tác phẩm về phát triển kinh tế biển đảo
2 Bảng 2.1: Số lƣợng tác phẩm truyền hình theo từng ngành
3 Bảng 2 2: Số lƣợng tác phẩm về phát triển kinh tế biển đảo
4 Biểu đồ 2.2: Cơ cấu nội dung thông tin về phát triển kinh tế
5 Biểu đồ 2.3: Đánh giá của công chúng về chất lƣợng nội
6 Biểu đồ 2.4: Đánh giá của công chúng về hình thức thông tin
7 Biểu đồ 2.5: Hiệu quả thông tin phát triển kinh tế biển đảo
8 Biểu đồ 3.1: Mức độ quan tâm của khán giả đối với các
9 Biểu đồ 3.2: Nhu cầu thông tin về phát triển kinh tế biển đảo
Trang 9
MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Với trên 3.260 km đường bờ biển và trên 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, bao gồm 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có lợi thế và tiềm năng to lớn về tài nguyên biển và hải đảo Hiện cả nước
có đến 28 tỉnh, thành phố ven biển, chiếm 42% diện tích đất liền và 45% dân số toàn quốc Nhờ khai thác những lợi thế về đường bờ biển dài trên 3.260km, kinh tế biển và vùng ven biển Việt Nam hiện đang đóng góp khoảng 50% GDP cả nước
Với những tiềm năng to lớn kể trên, vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam có vai trò to lớn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nhưng đồng thời luôn là mục tiêu nhòm ngó của các thế lực nước ngoài, tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định do những tranh chấp trên biển Tình hình đó đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần nâng cao cảnh giác; thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm công dân trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo; đồng thời, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học biển, đẩy mạnh tuyên truyền góp phần "đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển" theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa X, "tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả với tầm nhìn dài hạn", hướng tới đạt mục tiêu kinh tế trên biển và ven biển đóng góp 53 - 55% GDP cả nước vào năm 2020 Nghị quyết Đại hội X của Đảng chỉ rõ: "Phát triển kinh tế biển toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, sớm đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển trong khu vực, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế”; Nghị quyết về Chiến lược biển Việt Nam xác định: “Chiến lược biển phải kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh” Nghị quyết Đại hội XII của
Đảng chỉ rõ: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hoá, xã hội với quốc phòng, an ninh và
quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hoá, xã hội trong từng chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo” .
Trang 10Là địa phương có vùng bờ biển và đảo rộng lớn, nằm trong chiến lược biển của cả nước, với 126 km bờ biển và hơn 4.000 km2 diện tích mặt biển, Hải Phòng
có nhiều tiềm năng, thế mạnh và giữ vị trí trọng yếu trong phát triển kinh tế- xã hội của miền Bắc và giao thương quốc tế, là cửa chính ra biển của các tỉnh phía Bắc Với những lợi thế trên, Hải Phòng có điều kiện thuận lợi để phát triển tổng hợp kinh
tế biển, từng bước trở thành trung tâm kinh tế biển mạnh của vùng, là một trong 3 trung tâm kinh tế biển lớn nhất cả nước đồng thời làm bàn đạp để phát triển mạnh khai thác các vùng biển khơi Tại Nghị quyết số 01/2009/NQ-HĐND về "Phát triển kinh tế biển thành phố Hải Phòng đến năm 2015, định hướng đến năm 2020", Hải
Phòng xác định rõ mục tiêu "Phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế, xây dựng Hải
Phòng trở thành địa phương mạnh về biển, giàu từ biển, một trọng điểm thực hiện Chiến lược biển Việt Nam, một trung tâm kinh tế biển của khu vực kinh tế Vịnh Bắc
Bộ và cả nước Kinh tế biển là động lực, là 'hạt nhân' tạo sự chuyển biến cơ bản và toàn diện kinh tế thành phố để xây dựng thành phố Hải Phòng hiện đại, phát triển bền vững" Từ năm 2013, sau nhiều năm gặp khó khăn về phát triển kinh tế biển
trong đó trong khó khăn nổi bật là sự sa sút của các ngành vận tải biển, đóng tàu; luồng vào cảng không được khơi thông làm ảnh hưởng tới năng lực bốc xếp của các cảng; tình trạng ách tắc hàng hóa qua cảng do hạ tầng sau cảng yếu kém , với quyết tâm của Đảng bộ, chính quyền, nhân dân thành phố và được sự quan tâm, giúp đỡ của trung ương, kinh tế biển đảo của Hải Phòng bắt đầu khởi sắc và phát triển với tốc độ mạnh mẽ hơn
Trong bối cảnh cả nước tập trung cao cho phát triển kinh tế biển và trước những diễn biến ở Biển Đông hiện nay, cộng đồng quốc tế, báo chí thế giới đã và đang tham gia tích cực vào quá trình đấu tranh để thực hiện nghiêm các công ước quốc tế về Luật biển Báo chí Việt Nam nói chung và báo chí Hải Phòng nói riêng cần thực hiện tốt vai trò của mình trong việc định hướng dư luận xã hội, cổ vũ tinh thần quyết tâm trong thực hiện các mục tiêu của Chiến lược biển Việt Nam đến năm
2020 và những mục tiêu của thành phố Hải Phòng trong phát triển kinh tế biển đồng
Trang 11thời góp phần cực vào nhiệm vụ tuyên truyền bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền trên biển của Việt Nam
Nhiệm vụ tuyên truyền về kinh tế biển đảo là hết sức quan trọng Truyền thông về biển đảo nói chung, kinh tế biển đảo nói riêng được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm Tuy nhiên, mảng đề tài này mới chủ yếu được phản ánh sâu trên các loại hình báo in và báo điện tử Là loại hình báo chí có nhiều ưu thế trong việc tuyên truyền đưa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống, truyền hình ngày càng phát huy vai trò trong công tác tuyên truyền về phát triển kinh tế biển đảo của cả nước nói chung và của thành phố Hải Phòng nói riêng, trong
đó Đài Truyền hình Việt Nam, Truyền hình Thông tấn và Đài Truyền hình Hải Phòng là những kênh kết sức quan trọng Với vùng phủ sóng rộng lớn, những kênh thông tin này có thể chuyển tải nhanh và sinh động các vấn đề về phát triển kinh tế biển đảo của thành phố đến đông đảo công chúng Thực tế hiện nay, việc tuyên tuyền về phát triển kinh tế biển đảo Hải Phòng trên sóng truyền hình tuy đã được một số Đài Truyền hình quan tâm song chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, chưa có tác động, thúc đẩy rõ nét sự phát triển kinh tế biển đảo của thành phố Hải Phòng Do vậy, nghiên cứu vấn đề phát triển kinh tế biển đảo trên sóng truyền hình trên cơ sở chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu sẽ gợi mở những giải pháp để thúc đẩy công tác tuyên truyền về kinh tế biển đảo Hải Phòng một cách hiệu quả hơn
Từ các vấn đề đã phân tích trên đây, có thể khẳng định: việc nghiên cứu
"Vấn đề phát triển kinh tế biển đảo Hải Phòng trên sóng truyền hình" là một nội
dung mới, có ý nghĩa thiết thực Luận văn thuộc chuyên ngành Báo chí học là một nghiên cứu có hướng ứng dụng, tìm hiểu về vấn đề báo chí mà cụ thể là báo hình đã làm gì, có thể làm được gì và nên làm gì để góp phần vào sự phát triển kinh tế biển đảo ở Hải Phòng? Từ đánh giá thực trạng, luận văn sẽ đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng tuyên truyền về kinh tế biển đảo Hải Phòng trong thời gian tới, qua
đó, phát huy ngày càng hiệu quả vai trò của truyền hình đối với sự phát triển kinh tế
- xã hội của thành phố Hải Phòng
Trang 122 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Biển đảo là vấn đề lớn trong tổng thể phát triển kinh tế xã hội của cả nước,
do vậy, có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này, nhất là từ khi Chính phủ ban hành "Chiến lược biển quốc gia đến năm 2020" và vấn đề tranh chấp trên Biển Đông ngày càng trở nên căng thẳng Khối lượng các luận văn, tiểu luận, sách, bài báo khoa học, bài viết đăng trên các báo, tạp chí, bài tham luận tại các hội thảo liên quan đến chủ đề biển đảo có thể lên đến hàng ngàn Riêng trong lĩnh vực nghiên cứu tuyên truyền về biển đảo trong những năm gần đây cũng có rất nhiều nghiên cứu đề cập lĩnh vực này Qua khảo sát của chúng tôi, hiện đã có một số luận văn thạc sỹ liên quan đến vấn đề tuyên truyền biển đảo như sau:
Luận văn "Tuyên truyền về biển đảo trên báo điện tử Việt Nam hiện nay"
(khảo sát Dangcongsan.vn, Tuoitre.vn và VNexpress.net từ tháng 1-12/2013) của
tác giả Vương Thị Hà và luận văn "Vấn đề chủ quyền biển, đảo Việt Nam qua một
số báo điện tử Anh ngữ" của tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Nga cùng để cập đến nhiệm
vụ tuyên truyền biển đảo của báo điện tử Tuy nhiên, đây là những đề tài có phạm vi rộng, nghiên cứu chung về các vấn đề biển đảo trên loại hình báo điện tử, phần nội dung thông tin liên quan đến kinh tế biển rất hạn chế
Luận văn "Nâng cao chất lượng chương trình về biển đảo trên sóng phát
thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Hòa đề cập đến toàn bộ
các vấn đề về biển đảo trên sóng phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam, phần kinh
tế biển đảo chỉ là một nội dung nhỏ trong luận văn này
Luận văn "Vai trò của báo chí ngành giao thông vận tải thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước" của tác giả Vũ Hồng Nhung Trong luận
văn, tác giả có nghiên cứu về lĩnh vực kinh tế biển đảo trên báo chí của ngành, tuy nhiên, phần nghiên cứu này cũng rất hạn chế
Luận văn "Báo chí với phát triển kinh tế biển đảo miền Trung" của tác giả
Hồ Dũng đề cập khá toàn diện các vấn đề tuyên truyền cho lĩnh vực kinh tế biển đảo Luận văn có phạm vi nghiên cứu là các cơ quan báo in và kinh tế biển đảo
miền Trung Cùng đề tài này, luận văn "Báo in tuyên truyền phát triển bền vững
Trang 13ngành thủy sản" của tác giả Trần Thị Thu Hiền thu hẹp phạm vi nghiên cứu ở lĩnh
vực thủy sản
Luận văn "Truyền thông về biển đảo trên báo chí Cà Mau" của tác giả Phạm Thị Hồng Vân và luận văn "Báo chí Kiên Giang với vấn đề phát triển kinh tế biển
đảo hiện nay" của tác giả Vũ Thanh Tú đề cập vấn đề phát triển kinh tế biển đảo ở
các địa phương có biển, phạm vi nghiên cứu rộng trên nhiều loại hình truyền thông, nhiều cơ quan báo chí
Liên quan đến nghiên cứu thông tin truyền hình về phát triển kinh tế biển
đảo có luận văn "Tuyên truyền phát triển kinh tế biển của các kênh truyền hình khu
vực Bắc Trung Bộ" của tác giả Bùi Ngọc Toản; luận văn "Truyền hình với vấn đề tuyên truyền về biển đảo" của tác giả Hồ Thị Giang và luận văn "Đài Phát thanh- truyền hình Quảng Ninh với vấn đề tuyên tuyền phát triển kinh tế biển trên địa bàn tỉnh" Các luận văn trên đã khảo sát khá cụ thể, chi tiết để đưa ra bức tranh toàn
cảnh về tuyên truyền phát triển kinh tế biển đảo, đề xuất những vấn đề cần đổi mới trong thông tin tuyên truyền về phát triển kinh tế biển đảo trên truyền hình nói chung, trên các kênh truyền hình khu vực Bắc Trung Bộ và truyền hình Quảng Ninh nói riêng Tuy nhiên, đây là những luận văn nghiên cứu thông tin phát triển kinh tế biển hoặc có tính chất bao quát, hoặc có tính chất khu biệt vào kênh truyền hình khu vực, địa phương và đều không liên quan đến thành phố Hải Phòng
Trên đây là những thống kê chưa đầy đủ về số công trình luận văn thạc sỹ nghiên cứu về tuyên truyền kinh tế biển đảo trong khoảng 10 năm trở lại đây Có thể thấy, biển đảo đã và đang là vấn đề lớn thu hút sự quan tâm tuyên truyền của các cơ quan báo chí trong cả nước Trong các luận văn trên, từ phân tích, đánh giá thực trạng tuyên truyền về kinh tế biển đảo trên từng loại hình báo chí, từng cơ quan báo chí, hầu hết các tác giả đều đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền về kinh tế biển đảo phù hợp với xu thế phát triển của loại hình báo chí và yêu cầu thực tiễn đặt ra của ngành, địa phương, đơn vị Như vậy, tuy cùng hướng đến một đề tài chung là tuyên truyền về kinh tế biển đảo nhưng ở mỗi cơ quan báo chí, mỗi địa phương lại có một cách đặt vấn đề và giải quyết vấn đề khác nhau xuất phát
Trang 14từ đặc thù hoạt động của từng loại hình báo chí và tiềm năng, thế mạnh về kinh tế biển đảo của từng địa phương Riêng mảng tuyên truyền về kinh tế biển đảo của thành phố Hải Phòng hiện chưa có công trình nghiên cứu khóa học nào được chính thức công bố, trong khi đây là mảng tuyên truyền lớn, có vai trò quan trọng đối với việc thúc đẩy kinh tế, xã hội của thành phố
Từ phân tích những tác động của truyền hình đối với việc phát triển kinh tế biển, qua đó khẳng định, làm rõ hơn vai trò của truyền hình đối với phát triển kinh
tế xã hội thành phố Hải Phòng cũng là điểm mới của luận văn này so với các luận văn của các tác giả trên đây Luận văn đảm báo tính thời sự và độc lập
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu thực trạng thông tin về phát triển kinh tế biển đảo của thành phố Hải Phòng trên sóng truyền hình, từ đó đề xuất các giải pháp để phát huy hơn nữa vai trò của truyền hình đối với nhiệm vụ thông tin về phát triển kinh tế biển đảo của thành phố
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn đi sâu nghiên cứu các vấn đề sau:
- Lý luận về truyền hình và vai trò của truyền hình đối với xã hội, đi sâu phân tích vai trò cầu nối của truyền hình đối với chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng ở địa phương
- Nghiên cứu vấn đề phát triển kinh tế biển đảo của thành phố Hải Phòng, trong đó chỉ rõ tiềm năng, lợi thế, những quan điểm, chủ trương của Đảng, nhà nước và của thành phố về phát triển kinh tế - xã hội biển đảo; những thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra đối với nhiệm vụ phát triển kinh tế biển đảo của thành phố trong thời gian tới
- Nghiên cứu thực trạng thông tin về phát triển kinh tế biển đảo trên các chương trình, bản tin thời sự, chuyên đề kinh tế, các chương trình tọa đàm, phỏng vấn, phim tài liệu .từ tháng 6/2016 đến tháng 3/2017 trên VTV1, Truyền hình Thông tấn và Truyền hình Hải Phòng, chỉ rõ ưu điểm, hạn chế về nội dung và hình
Trang 15thức thể hiện tác phẩm, qua đó đánh giá thành công và hạn chế của truyền hình đối với nhiệm vụ thông tin về kinh tế biển đảo của thành phố Hảỉ Phòng
- Nghiên cứu những vấn đề đặt ra đối với công tác thông tin về kinh tế biển đảo của cả nước nói chung và thành phố Hải Phòng nói riêng; những thuận lợi và khó khăn của truyền hình trong nhiệm vụ tuyên truyền về biển đảo từ đó đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng các tác phẩm truyền hình về đề tài phát triển kinh
tế biển đảo, nâng cao vai trò của truyền hình đối với phát triển kinh tế của thành phố Hải Phòng
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế biển đảo của Hải Phòng (quan điểm của Đảng và nhà nước, cơ chế chính sách về biển đảo của cả nước và thành phố Hải Phòng, các lĩnh vực phát triển hệ thống cảng, dịch vụ hàng hải, vận tải biển; xây dựng khu kinh tế, các khu công nghiệp, các khu đô thị ven biển; công nghiệp đóng mới, sửa chữa tàu thuỷ và phương tiện nổi; kinh tế thuỷ sản; du lịch biển; phát triển các huyện đảo; bảo vệ an ninh biên giới biển, hải đảo; nhân lực phục vụ các ngành kinh tế biển) thể hiện trong các tác phẩm truyền hình về đề tài kinh tế biển đảo trên kênh truyền hình VTV1, Truyền hình Thông tấn và Truyền hình Hải Phòng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các tác phẩm truyền hình (tin, phóng sự, chuyên đề, chuyên mục, tọa đàm, phim tài liệu) về đề tài phát triển kinh tế biển, đảo trên VTV1, Truyền hình thông tấn và Truyền hình Hải Phòng từ tháng 6/2016 đến tháng 3/2017
Tác giả chọn khảo sát nghiên cứu đối với các tác phẩm thực hiện từ tháng 6/2016 đến tháng 7/2017 vì các lý do sau: Năm 2016 là thời điểm ngành kinh tế biển của Hải Phòng đứng trước nhiều vấn đề lớn cần tập trung giải quyết, trong đó nổi bật là yêu cầu đẩy mạnh đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cảng biển Hải Phòng được trung ương đầu tư xây dựng Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng tại Lạch Huyện,
Trang 16tạo cú hích cho ngành dịch vụ cảng phát triển phát triển mạnh mẽ hơn Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng khởi công hai cầu cảng đầu tiên Cùng với đó, nhiều dự án phát triển cảng biển khu vực Đình Vũ đi vào hiện thực Luồng vào cảng Hải Phòng được nạo vét duy tu, tạo thuận lợi cho sự phát triển của ngành kinh tế biển Hải Phòng đã xây dựng được cơ chế đặc thù cho nạo vét, duy tu luồng Hải Phòng Ngành đóng tàu sau nhiều năm sa sút đầu được các cấp, ngành tập trung tháo gỡ khó khăn Ngành du lịch biển của Hải Phòng có nhiều lợi thế song chưa phát triển đúng với tiềm năng Vấn đề tranh chấp trên Biển Đông ngày càng căng thẳng Thực tiễn đòi hỏi thành phố Hải Phòng cần tập trung cao, quyết liệt chỉ đạo để thúc đẩy kinh tế biển đảo của thành phố phát triển mạnh mẽ Báo chí cần đẩy mạnh tuyên truyền để góp phần đưa các chủ trương của Đảng, nhà nước và của thành phố về phát triển kinh tế biển đảo đi vào thực tiễn một cách hiệu quả
Việc lựa chọn 3 kênh truyền hình để khảo sát gồm VTV1, Truyền hình Thông tấn và Truyền hình Hải Phòng nhằm bảo đảm tính đại diện cho cơ quan báo hình ở cả trung ương và địa phương VTV1 là kênh truyền hình chính thống của trung ương, có quá trình xây dựng và phát triển lâu dài Truyền hình Thông tấn tiêu biểu cho các kênh truyền hình được thành lập trong sự bùng nổ của các kênh truyền hình những năm gần đây Truyền hình Hải Phòng hiện là cơ quan báo hình duy nhất
ở Hải Phòng cũng là cơ quan báo chí chính thống, cơ quan ngôn luận của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Hải Phòng Việc lựa chọn khảo sát ở 3 kênh truyền hình trên sẽ giúp chúng tôi nắm bắt khá toàn diện bức tranh tuyên truyền về phát triển kinh tế biển đảo Hải Phòng
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên quan điểm của học thuyết Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng; quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước đối với báo chí, nhất là quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về đẩy mạnh tuyên tuyền phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội vùng biển đảo; quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước và thành phố Hải Phòng về phát
Trang 17triển kinh tế biển và hải đảo Cơ sở lý luận của đề tài là lý luận về báo chí, truyền thông và lý luận về chuyên ngành truyền hình
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và các nhiệm vụ nghiên cứu trên đây, tác giả sẽ sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Thông qua việc tìm kiếm và tập hợp tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau, tác giả làm rõ lý luận về vai trò của truyền hình đối với phát triển kinh tế - xã hội địa phương; hệ thống quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước và thành phố Hải Phòng về phát triển kinh tế biển đảo
- Phương pháp phân tích nội dung
Được dùng để nhận diện, phân tích thực trạng các tác phẩm truyền hình về
đề tài phát triển kinh tế biển đảo Hải Phòng trong hệ thống chương trình, bản tin thời sự, chương trình chuyên đề, tọa đàm, phim tài liệu của VTV1, Truyền hình Thông tấn, Đài Phát thanh và Truyền hình Hải Phòng Từ phân tích, so sánh, tác giả làm nổi bật những ưu việt của việc thực hiện các giải pháp đổi mới hình thức, nội dung các tác phẩm truyền hình về đề tài kinh tế biển đảo Hải Phòng so với các tác phẩm thực hiện trong giai đoạn trước Phương pháp này còn được dùng để thu thập
ý kiến, quan điểm, đánh giá của chuyên gia, nhà báo, người xem truyền hình về các tác phẩm truyền hình liên quan đến đề tài phát triển kinh tế biển đảo Hải Phòng trên VTV1, Truyền hình Thông tấn và Truyền hình Hải Phòng
- Phương pháp thống kê, điều tra xã hội học
Phương pháp này được sử dụng nhằm mục đích thu nhận các nhận xét, đánh giá của khán giả về chất lượng, ý nghĩa, tác động của các tác phẩm truyền hình về
đề tài phát triển kinh tế biển đảo Hải Phòng và nhu cầu, mong muốn của công chúng đối với các thông tin trên làm cơ sở để xây dựng các giải pháp đổi mới thông tin phù hợp Trong quá trình khảo sát, tác giả sử dụng phương pháp này kết hợp với phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá để rút ra các thông số về hệ thống tin, phóng sự, chương trình, chuyên đề, tọa đàm, phim tài liệu cũng như thông số về
Trang 18mức độ quan tâm của khán giả tới các tác phẩm truyền hình về đề tài kinh tế biển đảo Hải Phòng trên VTV1, Truyền hình thông tấn, Truyền hình Hải Phòng
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phương pháp này nhằm thu thập các quan
điểm, nhận định, đánh giá, đề xuất dưới các góc nhìn khác nhau của các chuyên gia, nhà báo, công chúng…để có sự so sánh, đối chiếu, từ đó đề xuất các giải pháp đổi mới nội dung và hình thức các tác phẩm truyền hình về đề tài kinh tế biển đảo cũng như nâng cao vai trò của truyền hình với phát triển kinh tế biển đảo của Hải Phòng trong thời gian tới
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn sẽ góp phần củng cố lý luận về vai trò của truyền hình với phát triển kinh tế biển đảo nói chung và phát triển kinh tế biển đảo Hải Phòng nói riêng Kết quả khảo sát các tác phẩm truyền hình về đề tài phát triển kinh tế biển đảo Hải Phòng là nguồn tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu tiếp theo về chủ
đề báo chí thông tin về kinh tế biển đảo
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có tính hữu dụng cao đối với VTV1, Truyền hình Thông tấn, Đài Phát thanh và Truyền hình Hải Phòng trong việc tìm giải pháp để tái cấu trúc các chương trình, bản tin thời sự, các chương trình chuyên đề, tọa đàm, phim tài liệu của từng Đài truyền hình Bên cạnh đó, việc đưa ra những giải pháp nâng cao chất lượng các tác phẩm truyền hình về đề tài phát triển kinh tế biển đảo còn có ý nghĩa trong việc đem lại nguồn thu, nâng cao hình ảnh, thương hiệu của các Đài trong môi trường báo chí đầy cạnh tranh hiện nay Việc đánh giá đúng vai trò của truyền hình trong công tác thông tin, tuyên truyền về kinh tế biển đảo cũng sẽ giúp các nhà quản
lý xây dựng chương trình, kế hoạch tuyên truyền về kinh tế biển đảo một cách khoa học, hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tiễn, thực sự là khâu "mở đường" trong việc đưa chủ trương của Đảng và nhà nước về phát triển kinh tế biển đảo vào cuộc sống
7 Kết cấu luận văn
Trang 19Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Mục lục, Phụ lục, Luận văn có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Vai trò của truyền hình đối với phát triển kinh tế biển đảo Hải
Phòng
Chương 2: Thực trạng thông tin truyền hình về phát triển kinh tế biển đảo
Hải Phòng
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thông tin về phát triển kinh tế biển
đảo Hải Phòng trên sóng truyền hình
Trang 20Chương 1: VAI TRÕ CỦA TRUYỀN HÌNH ĐỐI VỚI
PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN ĐẢO HẢI PHÕNG
1.1 Những khái niệm cơ bản
1.1.1 Truyền hình
Theo định nghĩa của PGS.TS Nguyễn Văn Dững, "Truyền hình là kênh truyền thông chuyển tải thông điệp bằng hình ảnh động với nhiều màu sắc vốn có từ cuộc sống cùng với lời nói, âm nhạc, tiếng động" [33, tr.118] Truyền hình xuất hiện vào đầu thế kỷ XX và phát triển với tốc độ như vũ bão nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, tạo ra một kênh thông tin quan trọng trong đời sống xã hội Ngày nay, truyền hình là một phần thiết yếu trong đời sống của mỗi gia đình, mỗi quốc gia, dân tộc cũng như toàn nhân loại Truyền hình trở thành công cụ sắc bén trên mặt trận tư tưởng, văn hóa cũng như các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh
Truyền hình đã trở thành phương tiện truyền thông quen thuộc trong mỗi gia đình, hiện nay chiếc ti vi được người ta sáng chế theo chiều hướng màn hình rộng
ra, mỏng lại (LCD) và loại màn hình nhỏ gọn (ví dụ: xem truyền hình trên điện thoại di động) Sự tiện dụng theo hướng tích hợp truyền thông đa phương tiện đang làm cho truyền hình có những hướng phát triển mới Việc phát sóng truyền hình qua
vệ tinh đã làm không gian trái đất “thu nhỏ”, hàng nghìn kênh truyền hình đan xen trong không gian xung quanh ta Có nhiều quan niệm về truyền hình được nhìn nhận cả tích cực và tiêu cực nhưng vai trò của truyền hình trong xã hội thì khó có thể phủ nhận
Là một loại hình truyền thông đại chúng, tác phẩm báo chí truyền hình mang những đặc điểm chung của tác phẩm báo chí, ngoài ra còn có một số đặc điểm mang tính đặc thù:
Tính thời sự: Tính thời sự là đặc điểm chung của báo chí nhưng truyền hình
với tư cách là phương tiện thông tin đại chúng hiện đại có khả năng thông tin nhanh chóng, kịp thời hơn so với các loại phương tiện khác Với truyền hình, sự kiện được
Trang 21phản ánh ngay lập tức khi nó vừa mới diễn ra, thậm chí khi nó đang diễn ra, người xem có thể quan sát một cách chi tiết, tường tận qua truyền hình trực tiếp và cầu truyền hình Truyền hình có khả năng phát sóng 24/24h trong ngày, luôn mang đến cho người xem những thông tin nóng hổi nhất về các sự kiện diễn ra, cập nhật các tin tức mới nhất Đây là ưu thế đặc biệt của truyền hình so với các loại hình báo chí khác
Ngôn ngữ truyền hình là ngôn ngữ hình ảnh và âm thanh: ưu thế của truyền
hình là chuyển tải cả hình ảnh và âm thanh cùng một lúc
Tính phổ cập và quảng bá: Do những ưu thế về hình ảnh và âm thanh, truyền
hình có khả năng thu hút hàng tỉ người xem cùng một lúc Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, truyền hình ngày càng mở rộng phạm vi phủ sóng Tính quảng bá của truyền hình còn thể hiện ở chỗ: một sự kiện xảy ra ở bất kỳ đâu được đưa lên vệ tinh sẽ truyền đi khắp thế giới, được hàng tỉ người biết đến Ngày nay, ngồi tại một địa điểm nhưng người ta vẫn có thể nắm bắt được sự kiện diễn ra khắp thế giới
Khả năng thuyết phục công chúng: Truyền hình đem đến cho khán giả cùng
lúc 2 tín hiệu cơ bản là hình ảnh và âm thanh có độ tin cậy, thông tin cao cho công chúng, có khả năng tác động mạnh vào nhận thức của con người Truyền hình có khả năng truyền tải một cách chân thực hình ảnh của sự kiện đi xa nên đáp ứng yêu cầu chúng kiến tận mắt của công chúng Đây là lợi thế của của truyền hình so với các loại hình báo in và phát thanh
Khả năng tác động dư luận xã hội mạnh mẽ và trở thành diễn đàn của nhân
dân: Các chương trình truyền hình mang tính thời sự, cập nhật, nóng hổi, hấp dẫn
người xem bằng cả hình ảnh, âm thanh và lời bình, vừa cho người xem thấy được thực tế của vấn đề vừa tác động vào nhận thức của công chúng Vì vậy, truyền hình
có khả năng tác động vào dư luận mạnh mẽ Ngày nay, do sự phát triển của khoa học công nghệ, công chúng của truyền hình ngày càng đông đảo nên sự tác động của dư luận ngày càng rộng rãi Chính vì thế, truyền hình có khả năng trở thành diễn đàn của nhân dân
Trang 22Với những thế mạnh đặc thù của mình, truyền hình ngày càng khẳng định vai trò trong sự phát triển của đời sống xã hội Truyền hình đã trở thành phương tiện truyền thông quen thuộc trong mỗi gia đình, với mỗi người Sự phát triển của truyền hình phản ánh những bước tiến của nhân loại và cũng cho thấy sự vận động để thích ứng với nhu cầu của khán giả và những tiến bộ của khoa học kỹ thuật
Theo Luật biển Việt Nam, vùng biển Việt Nam bao gồm nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam, được xác định theo luật Việt Nam, điều ước quốc tế về biên giới lãnh thổ mà Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 Cụ thể:
- Nội thủy là vùng nước tiếp giáp với bờ biển, ở phía trong đường cơ sở và là
bộ phận lãnh thổ của Việt Nam
- Lãnh hải là vùng biển có chiều rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở ra phía biển Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới quốc gia trên biển Việt Nam
- Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, có chiều rộng 12 hải lý tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải
- Thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền,
Trang 23các đảo và quần đảo của Việt Nam cho đến mép ngoài của rìa lục địa Trong trường hợp mép ngoài của rìa lục địa này cách đường cơ sở chưa đủ 200 hải lý thì thềm lục địa nơi đó được kéo dài đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở Còn nếu mép ngoài của rìa lục địa này vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở thì thềm lục địa nơi đó được kéo dài không quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc không quá 100 hải lý tính từ đường đẳng sâu 2.500 mét
- Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, hợp với lãnh hải thành một vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường
cơ sở
1.1.2.2 Đảo
Theo Điều 121 của Công ước 1982 của Liên Hợp Quốc về biển, "Đảo là một vung đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên, vùng đất này vẫn ở trên mặt nước"
Quần đảo là một tập hợp các đảo, bảo gồm cả bộ phận của các đảo, vùng nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan chặt chẽ với nhau
Để được coi là đảo thì cần phải hội tụ các điều kiện sau đây:
- Nền nổi này phải gắn liền với đáy biển
- Nền nổi này phải là nền đất và như đất liền
- Đảo phải có nước bao bọc Vì vậy, một đảo nối liền với bán đảo khi thủy triều xuống thấp có thể làm mất tính đảo trong khi mộ đảo nối liền bởi một cây cầu hay một đường hầm không làm mất tính đảo
- Khi thủy triều lên, vùng đất này vẫn ở trên mặt nước Điều này có nghĩa loại bỏ tất cả các bãi cạn nửa chìm, nửa nổi khỏi các định nghĩa về đảo
1.1.3 Kinh tế biển đảo
Cho đến nay, việc xác định nội dung của kinh tế biển đảo vẫn còn là vấn đề
để ngỏ Về cơ bản, kinh tế biển đảo là khái niệm mang tính thực tiễn, nghĩa là người
ta có thể không tranh cãi nhiều về bản thân các ngành nghề thuộc kinh tế biển đảo
mà phần phải bàn luận nhiều hơn thuộc về các lĩnh vực liên quan và không phải diễn ra trên biển Do tính đặc thù của môi trường biển đảo, mọi hoạt động của kinh
Trang 24tế biển đảo đều liên quan mật thiết và được quyết định từ trong đất liền nên không thể nói về kinh tế biển đảo mà không tính tới những hoạt động kinh tế liên quan đến biển đảo
Tuy nhiên, để có một khái niệm mang tính quy ước, có thể định nghĩa kinh tế
biển đảo như sau: Kinh tế tiển đảo là toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên
biển, đảo và các hoạt động kinh tế diễn ra trên đất liền nhưng trực tiếp liên quan đến khai thác biển đảo
Từ đó rút ra, kinh tế biển đảo bao gồm:
- Các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển, đảo: kinh tế hàng hải (vận tải biển
và dịch vụ cảng biển); hải sản (đánh bắt và nuôi trồng hải sản); khai thác dầu khí ngoài khơi; du lịch biển; làm muối; dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; kinh tế đảo
- Các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển, tuy không phải diễn ra trên biển nhưng những hoạt động kinh tế này nhờ vào yếu tố biển hoặc trực tiếp phục vụ cho các hoạt động kinh tế biển ở dải đất ven biển, bao gồm: Dịch vụ đóng và sửa chữa tàu biển; Công nghiệp chế biến dầu khí; Công nghiệp chế biến thủy, hải sản; Cung cấp dịch vụ biển; Thông tin liên lạc biển; Nghiên cứu khoa học
- công nghệ biển; Đào tạo nhân lực phục vụ phát triển kinh tế biển; Điều tra cơ bản
về tài nguyên - môi trường biển
Từ phân tích trên, có thể rút ra những đặc điểm của kinh tế biển đảo là:
+ Kinh tế biển đảo là một lĩnh vực kinh tế đa ngành, đa lĩnh vực, bao gồm nhiều ngành, nghề khác nhau, có quan hệ và tác động lẫn nhau
+ Quá trình phát triển của kinh tế biển đảo phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện
về vị trí địa lý, tiềm năng tài nguyên biển và vùng ven biển, thời tiết và khí hậu Kinh tế biển đảo chịu sự tác động rất lớn của thiên nhiên, bão lũ
+ Kinh tế biển đảo là ngành kinh tế chủ yếu nhờ vào việc khai thác tài nguyên, khoáng sản là chính, ví dụ như khai thác dầu khí, đánh bắt thủy sản, du lịch
+ Kinh tế biển đảo là ngành kinh tế mà ở đó mọi hoạt động diễn ra trên biển
và ven biển, do vậy, tác động rất lớn đến môi trường sinh thái biển
Trang 25+ Trong kinh tế biển đảo, doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò đầu tàu ở một
số ngành quan trọng như: tìm kiếm, khai thác, chế biến dầu khí; khai thác khoáng sản biển và ven biển, cảng biển Với vốn đầu tư lớn, sử dụng lao động và công nghệ chất lượng cao, đóng góp cho ngân sách nhà nước, nhiệm vụ mở đường, hỗ trợ cho các ngành kinh tế phát triển, khai thác có hiệu quả tài nguyên biển
+ Hoạt động kinh tế biển đảo mang tính liên vùng, biểu hiện thông qua vận tải biển, khai thác, đánh bắt thủy sản không chỉ dừng lại trong phạm vị vùng biển của địa phương mà diễn ra trên phạm vi thềm lục địa thuộc chủ quyền Việt Nam
1.1.4 Phát triển kinh tế biển đảo Hải Phòng
Để hiểu rõ về khái niệm "phát triển kinh tế biển đảo Hải Phòng", trước hết cần nắm bắt khái niệm "phát triển" Theo GS Bùi Đình Thanh, có thể định nghĩa về
"phát triển" như sau: " Phát triển là một quá trình tiến hóa của mọi xã hội, mọi cộng
đồng dân tộc, trong đó, các chủ thể lãnh đạo và quản lý, bằng các chiến lược và chính sách thích hợp với những đặc điểm về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của xã hội và cộng đồng dân tộc mình, tạo ra, huy động và quản lý các nguồn lực tự nhiên và con người nhằm đạt được những thành quả bền vững và được phân phối công bằng cho các thành viên trong xã hội vì mục đích không ngừng nâng cao
chất lượng cuộc sống của họ" [Bài "Về khái niệm phát triển" - Trang nghiên cứu
của Viện nghiên cứu truyền thống và phát triển, số thứ sáu ngày 20/3/2015] Trong
khái niệm về phát triển, cần phân định "phát triển bền vững" và "phát triển không
bền vững" Theo Bách khoa Toàn thư mở, "phát triển bền vững" là một khái
niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong xã hội hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa Và như vậy, phát triển không bền vững là phát triển không bảo đảm các tiêu chí đó
Hải Phòng là thành phố biển có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế biển đảo của cả nước Từ định nghĩa trên, có thể hiểu: phát triển kinh tế biển đảo Hải Phòng là quá trình vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện các hoạt động kinh tế trên biển, đảo và các hoạt động
Trang 26kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển, đảo ở các dải đất liền ven biển trong một giai đoạn nhất định
1.2 Tiềm năng phát triển kinh tế biển đảo của Hải Phòng
Biển đảo giữ vị trí quan trọng đối với mỗi quốc gia và mỗi địa phương ven biển Muốn phát triển kinh tế biển Hải Phòng một cách bền vững thì cùng với nắm bắt vị trí địa lý của Hải Phòng cần hiểu rõ những tiềm năng, lợi thế của thành phố trong lĩnh vực kinh tế biển
1.2.1 Vị trí địa lý
Hải Phòng là thành phố duyên hải nằm ở hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình thuộc đồng bằng sông Hồng, có vị trí nằm trong khoảng từ 20035’ đến 21001’ vĩ độ Bắc và từ 106029’ đến 107005’ kinh độ Đông; phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây Bắc giáp tỉnh Hải Dương, phía Tây Nam giáp tỉnh Thái Bình
và phía Đông là Biển Đông với đường bờ biển dài 125km, nơi có 5 cửa sông lớn là Bạch Đằng, Cửa Cấm, Lạch Tray, Văn Öc và sông Thái Bình
Với diện tích tự nhiên là 1.507,57 km2, tính đến tháng 12/2016, dân số Hải Phòng là 1.987.716 người, trong đó dân cư thành thị chiếm 48,3% và dân cư nông thôn chiếm 51,7%, là thành phố đông dân thứ 3 ở Việt Nam, sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
Hải Phòng ngày nay là thành phố trực thuộc Trung ương - là đô thị loại 1 cấp quốc gia gồm 7 quận (Ngô Quyền, Hồng Bàng, Lê Chân, Dương Kinh, Đồ Sơn, Kiến An và Hải An), 6 huyện ngoại thành (Thuỷ Nguyên, Hải An, An Lão, Kiến Thụy, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo) và 2 huyện đảo (Cát Hải, Bạch Long Vĩ) với 228 phường và thị trấn (70 phường, 10 thị trấn và 148 xã)
Hải Phòng từ lâu đã nổi tiếng là một cảng biển lớn nhất ở miền Bắc, một đầu mối giao thông quan trọng với hệ thống giao thông thuỷ, bộ, đường sắt, hàng không trong nước và quốc tế, là cửa chính ra biển của thủ đô Hà Nội và các tỉnh phía Bắc; là đầu mối giao thông quan trọng của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, trên hai hành lang - một vành đai hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc Chính vì vậy, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vùng châu thổ sông Hồng, Hải
Trang 27Phòng được xác định là một cực tăng trưởng của vùng kinh tế động lực phía Bắc (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh); là trung tâm kinh tế - khoa học - kĩ thuật tổng hợp của Vùng duyên hải Bắc Bộ và là một trong những trung tâm phát triển của
Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước [Quyết định 1448 /QĐ-TTg ngày
16/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ]
1.2.2 Tiềm năng phát triển kinh tế biển đảo
Hải Phòng là thành phố ven biển có khoảng 125 km đường bờ biển và trên
Phòng có khoảng 700 đảo, đá ven bờ, chiếm khoảng 5.4% diện tích, đặc biệt có đảo Bạch Long Vĩ nằm ở trung tâm Vịnh Bắc Bộ Điều này đã tạo cho Hải Phòng các lợi thế trong phát triển kinh tế biển đảo
Trong khoảng 10 năm trở lại đây, kinh tế vùng ven biển đã đóng góp khoảng 30% vào GRDP toàn thành phố GRDP vùng biển Hải Phòng chiếm hơn 30% GDP dải ven biển cả nước và có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế chung của vùng ven biển cả nước Đặc biệt trong những năm gần đây, Hải Phòng đầu tư khá hoàn thiện về cơ sở hạ tầng theo hướng hiện đại, đồng bộ Với đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng rút ngắn thời gian di chuyển từ Hà Nội về Hải Phòng chỉ trong 1 giờ; Cảng hàng không quốc tế Cát Bi với hàng chục đường bay đến các trọng điểm kinh tế, văn hóa, du lịch ở trong nước và quốc tế; hệ thống đường sắt đang được đầu tư, nâng cấp; đường biển ngày càng được củng cố, mở rộng; đường thủy thuận lợi do có hệ thống sông ngòi dày đặc; hệ thống cảng biển phát triển mạnh cơ sở hạ tầng đang hỗ trợ tích cực để Hải Phòng khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế của thành phố ven biển Vì vậy, khai thác tiềm năng, thế mạnh của Hải Phòng để phát triển kinh tế biển có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với kinh tế Hải Phòng mà còn đối với kinh tế cả nước
1.2.2.1 Nguồn lợi hải sản
Hải Phòng là địa phương giàu về tài nguyên biển và vùng ven biển Hải Phòng có nguồn tài nguyên thủy, hải sản quý, hiếm với gần 1.000 loài tôm, cá và
Trang 28hàng chục loài rong biển có giá trị kinh tế cao như tôm rồng, tôm he, của bể, đồi mồi, sò huyết, cá heo, ngọc trai, tu hài, bào ngư là những hải sản được thị trường thế giới ưa chuộng Biển Hải Phòng có nhiều bãi cá, lớn nhất là bãi cá quanh đảo Bạch Long Vĩ với trữ lượng cao và ổn định Tại các vùng triều ven bờ, ven đảo và các vùng bãi triều ở các vùng cửa sông rộng tới trên 12.000 ha vừa có khả năng khai thác, vừa có khả năng nuôi trồng thủy sản nước mặn và nước lợ có giá trị kinh tế cao
Ngư trường Bạch Long Vỹ: Đây là ngư trường khai thác truyền thống của
nghề lưới kéo đáy Năng suất khai thác cao tập trung chủ yếu ở vùng biển phía Đông và Đông Bắc đảo Bạch Long Vỹ, độ sâu ngư trường từ 30 - 50m Ở mùa gió Đông Bắc, các đàn cá thường tập trung với mật độ cao hơn so với ở mùa gió Tây Nam Các loài chiếm sản lượng cao trong sản lượng khai thác ở ngư trường Bạch Long Vỹ là: cá miễn sành hai gai, cá nục sồ, cá mối, cá lượng, cá phèn khoai Ngoài
ra, các loài cá hồng, cá trác, cá bạc má cũng là những đối tượng thường xuyên xuất hiện trong sản lượng khai thác
+ Ngư trường Cát Bà - Bắc Long Châu: Ở khu vực này đối tượng khai thác
chính là các loài tôm, trong đó tôm he, tôm sắt và tôm rảo là những đối tượng chiếm
tỉ lệ cao trong sản lượng tôm khai thác được Ngoài ra, đây cũng là ngư trường khai thác cá hồng, cá song và một số loài cá kinh tế khác
+ Ngư trường Nam Long Châu: Đây là ngư trường khai thác chính của các
loài cá trích, cá hồng, cá mối và cá phèn Ngư trường này kéo dài suốt từ phía Nam đảo Long Châu đến cửa Ba Lạt Nghề lưới vây và nghề vó mành được sử dụng để khai thác cá nổi, chủ yếu là nhóm cá trích, cá cơm Nghề lưới kéo đáy được sử dụng
để khai thác cá mối, cá phèn
Với nguồn lợi thủy, hải sản phong phú như trên là điều kiện thuận lợi để Hải Phòng phát triển ngành nuôi trồng thủy, hải sản ở biển và ven bờ với quy mô lớn và hiện đại, qua đó tạo ra nguồn hàng ổn định, có tính cạnh tranh cao
Trang 291.2.2.2 Dịch vụ cảng
Với vị trí cửa chính ra biển của khu vực phía Bắc, Hải Phòng có hệ thống cảng biển đứng thứ nhất nhì cả nước với bề dày hơn 100 năm hình thành và phát triển Lợi thế cảng biển đã định hình tên gọi Hải Phòng là thành phố Cảng trong nhiều thập kỷ qua Theo thống kê của Cảng vụ hàng hải Hải Phòng, hiện trên địa bàn thành phố có
44 bến cảng xếp dỡ hàng hóa với chiều dài cầu tàu 10,7km, trong đó có 22 bến tổng hợp, 11 bến xăng dầu - hóa lỏng, 11 bến container Cảng biển Hải Phòng được Bộ Giao thông Vận tải xếp trong nhóm cảng biển loại 1A quốc gia, trong đó Cảng Hải Phòng được xếp vào nhóm các cảng quan trọng nhất trong 536 cảng biển của khu vực Đông Nam Á
Luồng tàu vào cảng biển Hải Phòng dài hơn 91 km, nơi có độ sâu nhất là luồng Lạch Huyện đạt -7,2m Khi dự án Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng đi vào hoạt động, luồng tàu vào cảng này đạt sâu -14m Dự kiến năm 2017, sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển Hải Phòng đạt 90 triệu tấn Đến năm 2020, khả năng đạt từ
104 - 120 triệu tấn hàng, đưa mức tăng trưởng từ 10 -15%/năm, cao nhất cả nước
Ngoài ra, trên địa bàn thành phố hiện có 109 tổ chức đang sử dụng đất vào mục đích phát triển cảng và dịch vụ liên quan; trong đó có 45 tổ chức thuộc đối tượng được giao đất không thu tiền và thuê lại đất các khu công nghiệp; 64 tổ chức
ký hợp đồng thuê đất; đơn giá thuê trung bình từ 2,4 - 15 triệu đồng/năm
Dịch vụ cảng đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của thành phố Không chỉ mang lại nguồn thu ngân sách khoảng gần 1000 tỷ đồng/năm, dịch vụ cảng phát triển còn thúc đẩy hàng loạt dịch vụ hậu cần sau cảng và tạo việc làm cho hàng vạn lao động địa phương
Tuy nhiên, hệ thống cảng ở Hải Phòng còn nhiều hạn chế: mạng lưới cảng manh mún, phân tán, hiệu quả sử dụng đất đai thấp; luồng lạch dài và độ sâu không tốt, nên phải phụ thuộc nhiều vào các cảng trung chuyển quốc tế khác; chưa có cảng trung chuyển và cảng cửa ngõ cho toàn khu vực; kết nối đường sắt, đường bộ và đường thủy với hệ thống cảng còn thiếu đồng bộ, hệ thống cảng cạn (ICD) chưa đầy
đủ để hỗ trợ tăng cường hiệu quả; trang thiết bị của các cảng hầu hết còn cũ kỹ, lạc
Trang 30hậu, năng suất xếp dỡ thấp, sức cạnh tranh kém; năng lực quản lý còn hạn chế; hệ thống kho bãi chưa tốt, thiếu đồng bộ Dịch vụ cảng tuy là lợi thế của Hải Phòng nhưng chưa đóng góp tương xứng vào thu ngân sách thành phố
1.2.2.4 Dịch vụ logistics
Lượng hàng hóa thông qua các cảng Hải Phòng tăng nhanh, số lượt tàu biển cập cảng để bốc dỡ hàng hóa nhiều hơn, tạo điều kiện cho các hoạt động dịch vụ hàng hải có điều kiện phát triển mạnh Hai loại hình dịch vụ hàng hải thu hút nhiều doanh nghiệp tham gia hoạt động nhất là dịch vụ đại lý tàu biển và dịch vụ đại lý vận tải đường biển Các hoạt động dịch vụ hàng hải tại Hải Phòng ngày càng phát triển nhanh, đa dạng về chủng loại và có nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia
Tỷ trọng dịch vụ hàng hải so với nhu cầu phục vụ tương đối cao so với các địa phương khác trong cả nước
Mặc dù vậy, số doanh nghiệp tham gia đầy đủ dịch vụ logistics còn ít (chỉ chiếm khoảng 10% số doanh nghiệp), dịch vụ chưa phong phú, hiệu quả chưa cao Trên địa bàn thành phố hiện có duy nhất một trung tâm logistics Green với diện tích 7,5 ha và công suất 100.000 TEU/năm trong khu công nghiệp Đình Vũ Ngoài
ra còn một số doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics khác, chủ yếu đóng vai trò cung ứng một số dịch vụ đơn lẻ cho các công ty logistics nước ngoài, như làm thủ tục hải quan, vận chuyển hàng hóa, cho thuê kho bãi… với quy mô nhỏ lẻ, manh mún Nhiều doanh nghiệp năng lực yếu, không đủ sức cạnh tranh; thị trường một số
Trang 31loại dịch vụ hàng hải chưa lớn, dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh Hệ thống giao thông sau cảng cũng đang là vấn đề bức xúc do cơ sở hạ tầng thiếu đồng bộ và
tổ chức vận tải không hợp lý: gần 80% lượng hàng qua cảng thực hiện bằng đường
bộ, đường sông chiếm 18% và đường sắt chỉ chiếm 3% Điều này dẫn đến thường xuyên ùn tắc giao thông và liên quan đến các tàu bị phạt vì chậm xếp dỡ hàng, hệ thống kho bãi dồn tắc đã cản trở phát triển dịch vụ logistics
1.2.2.5 Tiềm năng du lịch
Thành phố cảng Hải Phòng là một trọng điểm kinh tế của Việt Nam với hệ thống giao thông đường biển, các hàng hóa du nhập vào Việt Nam phần lớn đều đi qua cảng Hải Phòng Là một thành phố giáp biển nên Hải Phòng có tiềm năng rất lớn trong du lịch sinh thái biển với các bãi biển tuyệt đẹp và các quần đảo Ngoài ra, tại đây cũng có nhiều công trình kiến trúc đền, chùa cổ kính tạo ra nét văn hóa du lịch tâm linh vô cùng đặc sắc Các lễ hội tại các làng nghề truyền thống cũng là nét hấp dẫn đối với du khách trong nước và quốc tế đến với Hải Phòng
thành phố khoảng 20 km về hướng Đông Nam, hiện là một khu nghỉ mát gồm nhiều bãi biển với phong cảnh đẹp Đồ Sơn là một bán đảo nhỏ do dãy núi Rồng vươn dài ra biển, với hàng chục mỏm cao từ 25 - 130m, nơi đây có bãi cát mịn, bên bờ biển rợp bóng phi lao Đồ Sơn hội tụ các điều kiện: cơ sở vật chất là nhà cửa, khách sạn, nhà hàng, đường xá, điện nước khá hoàn chỉnh Trước đây, Đồ Sơn là nơi lui tới nghỉ ngơi, hưởng thụ của vua chúa, quan lại thời phong kiến Nơi đây còn ngôi nhà bát giác kiên cố của Bảo Đại – ông vua cuối cùng của chế
độ phong kiến Việt Nam Ngày nay, đây là điểm du lịch hấp dẫn của cả miền Bắc
Cùng với Đồ Sơn, Hải Phòng còn có một địa điểm du lịch lớn là quần đảo Cát Bà Nơi đây đã được công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới vào năm 2004
và là di tích đặc biệt cấp quốc gia Cát Bà đang được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch lập hồ sơ cùng với Vịnh Hạ Long đề nghị UNESSCO công nhận di sản thiên nhiên mới "Vịnh Hạ Long - quần đảo Cát Bà" Không chỉ nổi bật với nhiều bãi biển
Trang 32đẹp mà Cát Bà còn có tiềm năng du lịch sinh thái với hệ thống rừng ngập mặn, nhiệt đới xanh quanh năm Du lịch Cát Bà hấp dẫn du khách bởi vịnh Lan Hạ, động Trung Trang, động Trung Sơn, động Phù, vườn quốc gia Cát Bà và nhiều chương trình khám phá khác như chèo thuyền kayak, lặn biển, khám phá rừng quốc gia Cát
Bà, nơi có loài voọc đầu vàng cực kì quý hiếm trên thế giới chỉ còn tồn tại ở Cát Bà
Du lịch Cát Bà đã đón vị khách Việt Nam thứ 2.000.000 và vị khách quốc tế thứ 450.000 vào tháng 10/2017
Với di chỉ khảo cổ Cái Bèo (Cát Bà) chứng tỏ mảnh đất này cách đây trên 6.000 năm đã có người sinh sống Hiện nay, Hải Phòng còn giữ được nhiều di tích lịch sử, nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều đền, chùa, lăng miếu và đặc biệt là lễ hội Chọi trâu - một lễ hội độc đáo, nổi tiếng của Đồ Sơn đã được cấp bằng di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia
Thực tế những năm qua, doanh thu du lịch biển chiếm hơn 42% doanh thu của toàn ngành du lịch thành phố Doanh thu du lịch biển tuy tăng nhanh nhưng đầu
tư du lịch còn thiếu quy hoạch và nhất là đầu tư tư nhân còn tự phát, quy mô nhỏ, manh mún, ít các dịch vụ bổ trợ; phương tiện vận chuyển khách du lịch chất lượng thấp, hạ tầng du lịch còn thiếu; sản phẩm du lịch mang tính đặc sắc của Hải Phòng còn nghèo nàn; doanh nghiệp lữ hành chưa mạnh, năng lực cạnh tranh yếu, chưa đủ sức vươn ra các thị trường khác; hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch chưa hệ thống, thiếu bài bản; du lịch biển chưa gắn kết được với các khu bảo tồn biển độc đáo của Hải Phòng; lao động ngành du lịch chưa đáp ứng được yêu cầu; công tác quản lý nhà nước còn nhiều hạn chế
1.2.2.6 Đóng mới, sửa chữa tàu
Công nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu biển được xem là thế mạnh của Hải Phòng và đã được đầu tư lớn về thiết bị, công nghệ nhằm nâng cao năng lực sản xuất Từ năm 2001 đến nay, ngành đóng mới và sửa chữa tàu biển đã có bước phát triển đột biến, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm là 48,2% Hải Phòng đã xuất khẩu được tàu biển sang các nước như Sing-ga-po, Nhật Bản, Đan Mạch, Hy Lạp, I-rắc và đặc biệt là xuất khẩu sang Anh Tuy nhiên, mức độ đầu tư còn thấp,
Trang 33trang thiết bị và trình độ công nghệ còn lạc hậu; tỷ lệ nội địa hoá thấp làm hạn chế sức cạnh tranh; trình độ chuyên môn hoá, đa dạng hoá sản phẩm còn thấp, năng lực tài chính thiếu vững chắc làm chậm tốc độ phát triển 5 năm qua, ngành đóng tàu Hải Phòng đối mặt với những thử thách khắc nghiệt và đang phải gồng mình để trụ vững trong cơ chế thị trường
1.2.2.7 Đánh bắt hải sản
Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu Hải sản Việt Nam, trữ lượng hải sản ở vùng biển Hải Phòng đạt gần 160 nghìn tấn, chiếm đến 20% tổng trữ lượng hải sản
vùng Vịnh Bắc Bộ [Bài "Thủy sản Hải Phòng tìm hướng đột phá" - Báo mới, số
ngày 19/1/2016] Đến nay, tổng số tàu thuyền khai thác thủy sản của Hải Phòng
khoảng 3.365 chiếc Con số này đang giảm dần bình quân 0,47%/năm Nhưng trong
10 năm qua, tổng công suất tàu tăng từ hơn 93 nghìn CV lên gần 123 nghìn CV
Cơ cấu tàu thuyền theo nhóm công suất có sự thay đổi theo hướng tăng nhóm tàu công suất lớn, giảm nhóm tàu công suất nhỏ Nhóm tàu có công suất dưới 90
CV giảm nhanh, nhóm tàu có công suất trên 250 CV tăng với tổng số tàu hiện có là hơn 140 tàu Điều này thể hiện xu hướng phát triển lĩnh vực khai thác theo hướng đẩy mạnh khai thác xa bờ
Dịch vụ hậu cần nghề cá 5 năm gần đây của Hải Phòng phát triển mạnh, bước đầu đã đáp ứng được nhu cầu xăng, dầu, nước đá, ngư lưới cụ, thiết bị thông tin hàng hải, phụ tùng máy thủy, sửa chữa tàu thuyền, bến bãi neo đậu…cho khoảng 12.000 lượt tàu mỗi năm
Hiện thành phố đã xây dựng được 12 khu neo đậu tránh trú bão, bảo đảm chỗ neo đậu tránh trú bão cho hơn 4.000 tàu thuyền các loại Các cơ sở dịch vụ nghề cá hiện đại dần hình thành và phát triển như cảng cá Bạch Long Vỹ, Cát Bà, Ngọc Hải, bến cá Mắt Rồng
1.2.2.8 Chế biến thủy sản
Mỗi năm, sản lượng nguyên liệu phục vụ chế biến thủy sản xuất khẩu của Hải Phòng đạt khoảng 70 nghìn tấn, trong đó có khoảng 17.500 - 18.000 tấn có chất lượng tốt và giá trị kinh tế cao
Trang 34Nguồn nguyên liệu chế biến chủ yếu từ các nguồn chính gồm: từ khai thác hải sản, nuôi trồng thủy sản tại Hải Phòng và từ các địa phương khác đến Nguồn nguyên liệu từ khai thác hải sản có biến động không lớn, nhưng các loại thủy sản có giá trị xuất khẩu như tôm, mực… thường xuyên phải cạnh tranh với các tư thương Trung Quốc thu mua ngay tại các ngư trường Nguồn nguyên liệu từ nuôi trồng thủy sản của địa phương tuy khá dồi dào nhưng giá trị kinh tế chưa cao Nguồn nguyên liệu từ các địa phương khác được thu mua về Hải Phòng khoảng 4000 - 5000 tấn, chủ yếu là chượp cá cơm phục vụ sản xuất nước mắm và rong câu để chế biến a-ga Sản phẩm thủy sản chế biến xuất khẩu của Hải Phòng là nước mắm, cá khô, chả tôm, chả cá và nem thủy sản…hầu hết được tiêu thụ cho thị trường khu vực các nước châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Theo Quy hoạch phát triển kinh tế thủy sản giai đoạn 2016 - 2025, định hướng đến năm 2030 vừa được HĐND thành phố thông qua, Hải Phòng sẽ đầu tư trên 7.000 tỷ đồng để phát triển ngành thủy sản từ nay đến năm 2030 Thành phố hướng tới mục tiêu trở thành trung tâm nghề cá lớn, đưa thủy sản thành ngành sản xuất hàng hóa lớn có khả năng cạnh tranh, phát triển bền vững Với mục tiêu đó, thành phố sẽ hình thành các cảng cá loại 1, loại 2 làm động lực cùng với các nhà tập kết, phân loại sản phẩm thủy sản, khu mặt nước, luồng, kho lạnh, khu phi thuế quan, xăng dầu, dịch vụ thương mại Cảng cá Bạch Long Vỹ sẽ trở thành cảng cá loại 1
Cùng với Trung tâm hậu cần nghề cá ở xã Trân Châu (huyện Cát Hải) đã xây dựng, thành phố tiếp tục phát triển một số cảng cá ở huyện Thủy Nguyên, quận Đồ Sơn là cảng cá loại 2 và một số bến cá, khu neo đậu khác ở huyện Kiến Thụy, quận Dương Kinh, quận Hải An Đồng thời sẽ xây dựng hệ thống các cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá Trong đó, hình thành cơ sở chế biến quy mô công nghiệp thu hút nguồn nguyên liệu của các địa phương khác Phát triển các cơ sở đóng sửa tàu cá lớn, các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực chuyên ngành thủy sản
Trang 351.2.2.9 Các khu, cụm công nghiệp
Trên địa bàn thành phố Hải Phòng hiện có Khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải với diện tích 22.540 ha, có thể mở rộng thêm 600 ha Đây là khu kinh tế ven biển tổng hợp, đa ngành, đa lĩnh vực, trong tương lai sẽ trở thành một trung tâm kinh tế biển lớn của vùng Bắc Bộ và là động lực quan trọng để Hải Phòng phát triển Cùng với đó, 19 khu công nghiệp của thành phố có diện tích 9.112 ha và 33 cụm công nghiệp có diện tích 2.284 ha Một số khu, cụm công nghiệp ven biển trên địa bàn thành phố đã phát triển kết cấu hạ tầng tương đối hiện đại, góp phần thu hút nguồn
vốn đầu tư của các thành phần kinh tế, đặc biệt là nguồn vốn FDI Những khu công
nghiệp phát triển nhanh và điển hình là các khu công nghiệp Nomura - Hải Phòng, Đình Vũ, Đồ Sơn
Mặc dù vậy, quy hoạch các khu, cụm công nghiệp của thành phố còn một số bất cập, điều kiện hạ tầng ngoài hàng rào còn khó khăn; việc triển khai xây dựng kết cấu hạ tầng nhiều khu công nghiệp còn chậm; kết quả thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp, nhất là các khu công nghiệp ven biển chưa tương xứng với tiềm năng
và lợi thế; chưa thu hút được nhiều dự án có hàm lượng công nghệ cao; các công trình hạ tầng thiếu đồng bộ, chắp vá, nguy cơ ô nhiễm môi trường cao do thiếu các công trình xử lý
1.2.2.10 Một số tiềm năng, lợi thế khác
Với ngành kinh tế biển là mũi nhọn, hiện nay, Hải Phòng phát triển khá mạnh mẽ các loại hình dịch vụ đi kèm, trong đó phải kể đến dịch vụ đào tạo, cung cấp nhân lực cho ngành kinh tế biển Trên địa bàn thành phố hiện có Trường Đại học Hàng hải Việt Nam là cơ sở uy tín đào tạo nhân lực cho ngành kinh tế biến Bên cạnh đó còn có hàng chục doanh nghiệp cung ứng thuyền viên cho các chủ tàu trong nước và nước ngoài
1.3 Quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước và thành phố Hải Phòng về phát triển kinh tế biển đảo Hải Phòng
Trang 36Phát triển kinh tế biển đảo là vấn đề luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm, trong đó vùng ven biển, hải đảo luôn được Đảng, nhà nước xác định là mũi nhọn trong phát triển kinh tế
1.3.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế biển đảo
Về phát triển kinh tế biển đảo, Văn kiện Đại hội VIII của Đảng nhấn mạnh:
"Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển và hải đảo, phát huy thế mạnh đặc thù
thực địa; phát triển tổng hợp kinh tế biển và ven biển, khai thác lợi thế của các khu vực cửa biển, hải cảng để tạo thành vùng phát triển cao, thúc đẩy các vùng khác" Đến Đại hội X, Đảng chủ trương phát triển mạnh, đi trước một bước một số vùng ven biển và hải đảo Đặc biệt, trong "Chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội Việt Nam 2011 - 2020", Đảng xác định: phát triển nhanh một số khu kinh
tế, khu công nghiệp ven biển, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp năng lượng, đóng tàu, xi măng, chế biến thủy sản chất lượng cao ; phát triển kinh tế đảo phù hợp với vị trí, tiềm năng và lợi thế của từng đảo; phát triển mạnh các đô thị ven biển; lựa chọn một số địa bàn có lợi thế vượt trội, nhất là ở ven biển để xây dựng một số khu kinh tế làm đầu tàu phát triển Từ đường lối này, có thể thấy Hải Phòng với lợi thế của thành phố ven biển trở thành trọng điểm về phát triển kinh tế biển của cả nước
Đối với Hải Phòng, phát triển kinh tế biển đảo là mảng hoạt động được Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ quan tâm với nhiều chủ trương cụ thể Tại Kết luận số 72 ngày 13/9/2013 của Bộ Chính trị về "Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 32 của Bộ Chính trị khóa IX về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước", Bộ Chính trị nêu rõ mục tiêu từ nay đến năm 2020, Hải Phòng cần phát triển theo hướng "Phát huy tối
đa các nguồn lực, lợi thế để xây dựng Hải Phòng trở thành thành phố Cảng xanh văn minh, hiện đại, trung tâm công nghiệp lớn có sức cạnh tranh cao; là trọng điểm phát triển kinh tế biển của cả nước ; là đầu mối giao thông quan trọng của cả nước,
Trang 37cửa chính ra biển của các địa phương phía Bắc và hành lang kinh tế Việt Nam - Trung Quốc"
Trong phát triển kinh tế biển đảo Hải Phòng, Đảng và Nhà nước chú trọng gắn phát triển kinh tế biển đảo với bảo vệ chủ quyền biển đảo Tại buổi làm việc với Thành ủy Hải Phòng ngày 15/4/2017, Thượng tướng Võ Trọng Việt - Chủ nhiệm
Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội đề nghị thành phố có chính sách, giải pháp đột phá để phát triển, khẳng định vai trò trung tâm nghề cá của cả nước; đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức các cấp, ngành, nhân dân về tình hình biển đảo, chủ quyền, an ninh biển đảo và bảo vệ chủ quyền biển đảo Thành phố cần
“mở cửa” để tranh thủ sự tham gia của các chuyên gia, giới nghiên cứu, nhằm đưa
ra giải pháp phát triển kinh tế thủy sản; kêu gọi các nhà đầu tư trong lĩnh vực kỹ thuật để nâng cao hiệu quả sản xuất gắn với bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền trên biển của Việt Nam
1.3.2 Quan điểm, chủ trương của Thành ủy Hải Phòng về phát triển kinh
tế biển đảo Hải Phòng
Trong suốt chiều dài xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng, sự phát triển của nền kinh tế Hải Phòng luôn xoay quanh trục kinh tế biển, mặc dù ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn lịch sử, vai trò của kinh tế biển đảo được đặt ở vị trí khác nhau Tuy nhiên, trong những năm gần đây, vai trò của kinh tế biển đảo đối với Hải Phòng và với cả nước ngày càng được khẳng định rõ hơn thông qua các chủ trương lớn của Thành ủy Hải Phòng
Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ thành phố Hải Phòng xác định mục tiêu, phát triển thành phố trong nhiệm kỳ 2015 - 2020 là: “Phát huy hiệu quả các tiềm năng, lợi thế, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh, đẩy mạnh thu hút đầu tư, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo sự phát triển nhanh, đột phá để xây dựng Hải Phòng trở thành trung tâm dịch vụ, công nghiệp lớn có sức cạnh tranh cao; là trọng điểm phát triển kinh tế biển của cả nước , hướng tới xây dựng Hải Phòng trở thành thành phố cảng xanh, văn minh, hiện đại”
Trang 38Để cụ thể hóa mục tiêu trên, các nhiệm vụ, giải pháp được Thành ủy chỉ ra là: "Phát triển hệ thống cảng biển Hải Phòng theo hướng hiện đại, đồng bộ, ưu tiên phát triển cảng ra khu vực Lạch Huyện, phấn đấu đến năm 2020, sản lượng hàng qua cảng đạt 110.000 tấn Xây dựng và phát triển Hải Phòng trở thành trung tâm logistics tầm quốc gia và khu vực vào năm 2020 Đến năm 2025, du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố, đồng thời từng bước đưa Hải Phòng trở thành trung tâm du lịch lớn của cả nước Đẩy mạnh khai thác thủy sản xa bờ; ưu tiên lĩnh vực sản xuất giống, thức ăn, chế biến, xuất khẩu thủy sản và dịch vụ hậu cần nghề cá Phấn đấu Hải Phòng trở thành địa phương mạnh về biển, giàu từ biển,
một trọng điểm thực hiện Chiến lược biển Việt Nam" [Nghị quyết Đại hội XV,
Đảng bộ thành phố Hải Phòng]
Cũng theo Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ thành phố, huyện đảo Cát Hải là một hướng phát triển kinh tế hướng biển của thành phố với Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng, các dự án phát triển du lịch tầm cỡ quốc gia và khu vực Huyện đảo tiền tiêu Bạch Long Vĩ được quan tâm đầu tư đồng bộ về cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, từng bước phát huy lợi thế trong lĩnh vực nuôi trồng hải sản, đánh bắt xa bờ
Trong định hướng phát triển kinh tế hướng biển, Hải Phòng phải làm tốt vai trò phên dậu, lá chắn cho thủ đô Hà Nội, một pháo đài bất khả xâm phạm về quốc phòng an ninh
1.4 Truyền thông về phát triển kinh tế biển đảo
Để kinh tế biển đảo phát triển bền vững, đóng góp hiệu quả vào nền kinh tế của đất nước thì công tác truyền thông đóng vai trò hết sức qu an trọng Đây là khâu
có tính chất "mở đường" đưa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và thành phố Hải Phòng về phát triển kinh tế biển đảo đi vào cuộc sống
1.4.1 Các loại hình truyền thông về phát triển kinh tế biển đảo
Theo PGS.TS Dương Xuân Sơn, truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kinh nghiệm kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn
nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức ["Các loại hình báo chí
truyền thông" - tr11] Để thực hiện tốt công tác truyền thông về phát triển kinh tế
Trang 39biển đảo, có thể sử dụng 2 loại hình truyền thông đại chúng là: báo chí (báo in và các ấn phẩm in ấn, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử) và phương tiện truyền thông khác (sách, quảng cáo, nhiếp ánh, báo chí công dân, blog ) Trong các loại hình trên có thể thấy vai trò trung tâm, vị trí nền tảng của báo chí trong hệ thống các phương tiện truyền thông Báo chí có vai trò chi phối, quyết định sức mạnh, tính chất và khuynh hướng của truyền thông đại chúng
Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã sử dụng khá hiệu quả các loại hình truyền thông vào công tác tuyên truyền về phát triển kinh tế biển đảo, tạo thành sức mạnh to lớn trong việc đưa chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế biển đảo vào cuộc sống Nhờ sự đóng góp tích cực của truyền thông, kinh tế biển đảo đã phát huy tốt hơn vai trò của mình trong nền kinh tế quốc dân và phát triển phù hợp với định hướng của Đảng, cơ chế, chính sách, pháp luật của nhà nước, thực
sự trở thành mũi nhọn kinh tế của đất nước
1.4.2 Cách thức truyền thông về phát triển kinh tế biển đảo
là: phấn đấu đến năm 2020, kinh tế biển đóng góp 53 - 55% GDP, 55 - 60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước Để thực hiện thành công mục tiêu này thì công tác truyền thông về biển đảo có ý nghĩa hết sức quan trọng Để truyền thông hiệu quả
về phát triển kinh tế biển đảo, yêu cầu đặt ra là phải tập trung tuyên truyền phổ biến kịp thời, sâu rộng đường lối chủ trương, quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng
và Nhà nước ta về các vấn đề liên quan tới phát triển kinh tế biển, đảo; tăng cường, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo, ý chí, quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc giải quyết, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam trên biển; tuyên truyền để người dân hiểu đúng, đầy đủ, sâu sắc và nghiêm túc thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước và thành phố Hải Phòng về phát triển kinh tế biển, đảo Đẩy mạnh tuyên truyền về xây dựng và phát triển kinh tế biển, về các cá nhân và tập thể tiên tiến, điển hình trong phát triển kinh tế biển, các hoạt động phát triển kinh tế gắn với bảo
vệ chủ quyền; về hoạt động thực hiện quy hoạch, quản lý, bảo vệ và phát triển tài
Trang 40nguyên biển; chú trọng tuyên truyền phát triển các ngành công nghiệp dầu khí, đánh bắt xa bờ và hậu cần nghề cá, kinh tế hàng hải, du lịch biển đảo, bảo vệ môi trường biển; về tìm kiếm, cứu nạn trên biển.
1.4.3 Truyền hình với nhiệm vụ tuyên truyền phát triển kinh tế biển đảo Hải Phòng
Là một loại hình báo chí nhiều thế mạnh, thông tin trên truyền hình có tác động quan trọng tới sự phát triển của kinh tế biển đảo Hải Phòng
Một là, thông tin trên truyền hình cho thấy vị trí, vai trò của biển đảo; phổ
biến, giải thích các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước và của thành phố Hải Phòng về phát triển kinh tế biển đảo nói chung, biển đảo Hải Phòng nói riêng, cụ thể là chính sách phát triển đánh bắt hải sản, hỗ trợ khai thác, nuôi trồng và chế biến hải sản trên các vùng biển xa; về các giải pháp phát triển vận tải biển; phát triển cảng biển và dịch vụ hàng hải; hỗ trợ vốn, đóng tàu công suất lớn, đóng tàu vỏ thép, lắp đặt các thiết bị thông tin liên lạc; các hình thức chế biến, hướng dẫn bảo quản, cảnh báo về vệ sinh an toàn thực phẩm; cơ sở hạ tầng, sản phẩm du lịch, liên kết phát triển du lịch vùng, thương hiệu du lịch biển đảo; vấn đề được mùa, mất mùa; vấn đề đầu ra, giống, giá cả, dịch bệnh; vấn đề lọc hóa
trương, chính sách đó để chủ động xây dựng các chiến lược sản xuất, kinh doanh; điều chỉnh các chính sách của doanh nghiệp một cách hiệu quả Từ việc phản ánh những thuận lợi, khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp trong thực hiện các chủ trương chính sách đó sẽ có tác động trở lại đối với các nhà hoạch định chính sách về phát triển kinh tế biển đảo Hải Phòng
Hai là, thông tin trên trên truyền hình đóng vai trò cầu nối giữa doanh
nghiệp, doanh nhân với khách hàng, với các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế biển đảo Hải Phòng Truyền hình phản ánh hoạt động của người dân trong cách chế biến, nuôi trồng, đánh bắt hải sản; những kiến thức về luật biển; thông tin về các lực lượng hải quân, hải giám, cảnh sát biển; thời tiết biển; cứu hộ cứu nạn; khai thác và bảo vệ nguồn tài nguyên biển Đây là những thông tin quan trọng, cần thiết giúp