ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- HOÀNG MINH TRANG THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TRẦM CẢM Ở BÀ MẸ CÓ TRẺDƯỚI 6 TUỔI BỊ KHUYẾT TẬT TẠI
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
HOÀNG MINH TRANG
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TRẦM CẢM Ở BÀ MẸ CÓ TRẺDƯỚI 6 TUỔI
BỊ KHUYẾT TẬT TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
HOÀNG MINH TRANG
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TRẦM CẢM Ở BÀ MẸ CÓ TRẺ DƯỚI 6 TUỔI
BỊ KHUYẾT TẬT TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC Chuyên ngành : Tâm lý học
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS NGUYỄN SINH PHÚC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến trầm cảm ở bà mẹ có trẻ dưới 6 tuổi bị khuyết tật tại khoa Phục hồi chức năng, Bệnh viện Nhi Trung ương” là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS TS Nguyễn Sinh Phúc
Các số liệu, tài liệu trong luận văn có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày 16 tháng 11 năm 2017
Tác giả
Hoàng Minh Trang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học; các Thầy, Cô giáo khoa Tâm lý học - Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ em trong hai năm học vừa qua
Với tất cả tình cảm sâu sắc nhất, em xin bày tỏ lòng biết ơn đến PGS.TS Nguyễn Sinh Phúc đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để em hoàn thành luận văn này
Em xin trân trọng cảm ơn các thành viên trong Hội đồng đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu để em hoàn thành đề cương, tiến hành nghiên cứu đề tài
Em cũng xin gửi lời cám ơn chân thành nhất tới:
Ban Giám đốc, Khoa Phục hồi chức năng, Phòng Truyền thông và Chăm sóc khách hàng Bệnh viện Nhi Trung ương đã tạo những điều kiện tốt nhất cho em trong suốt quá trình thu thập thông tin – xác định vấn đề nghiên cứu đến quá trình hoàn thiện đề cương, tiến hành thu thập số liệu và hoàn thành đề tài
Tác giả xin dành tình cảm đặc biệt và sự cảm ơn chân thành đến 203 bà
mẹ, mặc dù còn rất nhiều khó khăn, bận rộn nhưng đã tự nguyện, nhiệt tình tham gia nghiên cứu để tôi có đựợc bộ số liệu của đề tài này
Mặc dù đã rất cố gắng song đề tài không tránh khỏi những mặt còn hạn chế, sai sót rất mong nhận được sự tham gia, góp ý của thầy cô, bạn bè để đề tài được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 16 tháng 11 năm 2017
Tác giả
Hoàng Minh Trang
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1 Tổng quan các nghiên cứu về trầm cảm và trầm cảm ở bà mẹ có con khuyết tật 6
1.1.1 Các nghiên cứu ở Việt Nam 6
1.1.2 Các nghiên cứu ở nước ngoài 9
1.2 Lý luận về trầm cảm 15
1.2.1 Khái niệm về trầm cảm 15
1.2.2 Biểu hiện lâm sàng của rối loạn trầm cảm: 16
1.2.3 Nguyên nhân dẫn đến trầm cảm 20
1.2.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm và phân loại trầm cảm theo ICD-10 24
1.3 Một số lí thuyết tâm lí học về trầm cảm 28
1.3.1 Thuyết phân tâm học của Freud về trầm cảm 28
1.3.2 Trầm cảm theo học thuyết nhận thức 29
1.3.3 Trầm cảm theo thuyết gắn bó 33
1.3.4 Theo tâm lý học hành vi 34
1.3.5 Chủ nghĩa hiện thực trầm cảm 35
1.3.6 Sự tuyệt vọng tập nhiễm 35
1.4 Trầm cảm ở người mẹ có con bị khuyết tật và các yếu tố liên quan 36
1.4.1 Khái niệm trẻ khuyết tật 36
Trang 61.4.2 Trầm cảm ở bà mẹ có con khuyết tật 37
1.4.3 Các biểu hiện trầm cảm của người mẹ có con bị khuyết tật 37
1.4.4 Các yếu tố liên quan đến trầm cảm của người mẹ có con bị khuyết tật 39
Tiểu kết chương 1 41
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43
2.1 Địa bàn nghiên cứu: 43
2.2 Đối tượng nghiên cứu: 44
2.3.1 Nghiên cứu lý luận và xây dựng công cụ nghiên cứu 44
2.3.2 Điều tra thực trạng 44
2.4 Phương pháp nghiên cứu 45
2.4.1.Thiết kế nghiên cứu: 45
2.4.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: 45
2.4.3 Phương pháp thu thập số liệu: 46
2.4.4 Thông tin và các yếu tố trong nghiên cứu: 48
2.4.5 Phương pháp phân tích số liệu 52
2.5 Đạo đức trong nghiên cứu 53
2.6 Hạn chế của nghiên cứu, các sai số có thể gặp và cách khắc phục 53
Tiểu kết chương 2 54
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 55
3.1.Thông tin chung: 55
3.1.1 Các yếu tố nhân khẩu xã hội học của bà mẹ 55
3.1.2 Tuổi của bà mẹ khi sinh con bị khuyết tật 56
3.1.3 Lựa chọn hình thức chăm sóc PHCN cho trẻ khuyết tật 57
3.1.4 Tuổi của trẻ bị khuyết tật 58
3.1.5 Các yếu tố thuộc về gia đình 59
3.1.6 Yếu tố thuộc về môi trường xã hội 60
Trang 73.2.Tỷ lệ trầm cảm ở bà mẹ có con khuyết tật 61
3.2.1 Tỷ lệ có hay không bị trầm cảm ở bà mẹ theo thang điểm BECK 61 3.2.2 Tỷ lệ trầm cảm theo mức độ 62
3.2.3 Tỷ lệ trầm cảm theo số con và tình trạng khuyết tật của trẻ 64
3.2.4 Tỷ lệ trầm cảm theo thời gian chăm sóc trẻ/ngày của các bà mẹ 65 3.3 Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm ở bà mẹ có con khuyết tật 66
3.3.1 Phân tích 2 biến 66
3.3.2 Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm ở bà mẹ (Kiểm định đa biến - Hồi quy Logistic) 75
Tiểu kết chương 3 79
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 83
I KẾT LUẬN 83
1 Về mặt lý luận 83
2 Về mặt thực tiễn 83
II KHUYẾN NGHỊ 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC 1 93
PHỤ LỤC 2 94
PHỤ LỤC 3 95
PHỤ LỤC 4 103
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT
BAI : Thang đánh giá lo âu của Beck
BDI : Thang đánh giá trầm cảm của Beck
CCTT : Cung cấp thông tin
CDC : Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật Hoa Kỳ CNVC : Công nhân viên chức
CSSKBD : Chăm sóc sức khoẻ ban đầu
ĐHYTCC : Đại học y tế công cộng
DSM IV : Chẩn đoán và đo lường sức khoẻ tâm thần
ĐTNC : Đối tượng nghiên cứu
ĐTSĐH : Đào tạo sau đại học
DVYT : Dịch vụ y tế
ICD 10 : Tiêu chuẩn phân loại bệnh tật quôc tế
NNDC : Người nuôi dưỡng chính
TTYTDP : Trung tâm y tế dự phòng
UNICEF : Quỹ nhi đồng liên hợp quốc
WHO : Tổ chức y tế thế giới
VSKTT : Viện sức khoẻ tâm thần
YHCT : Y học cổ truyền
Trang 9DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 3.1 Yếu tố nhân khẩu – xã hội học 55
Bảng 3.2 Lựa chọn dịch vụ PHCN 57
Bảng 3.3 Yếu tố thuộc về gia đình 59
Bảng 3.4 Yếu tố môi trường xã hội 60
Bảng 3.5 Tỷ lệ trầm cảm theo thang BECK 62
Bảng 3.6 Yếu tố thuộc về con của bà mẹ 64
Bảng 3.7 Thời gian chăm sóc trẻ 65
Bảng 3.8 Mối liên quan nhân khẩu – xã hội học 67
Bảng 3.9 Mối liên quan với các yếu tố về trẻ khuyết tật 68
Bảng 3.10.Mối liên quan với các yếu tố đặc thù của mẹ 69
Bảng 3.11 Mối liên quan với yếu tố gia đình 73
Bảng 3.12.Sự liên quan với các yếu tố môi trường xã hội 74
Bảng 3.13 Mô hình hồi quy Logistic các yếu tố nhân khẩu xã hội học 76
Bảng 3.14.Mô hình hồi quy Logistic các yếu tố về trẻ khuyết tật 77
Bảng 3.15 Mô hình hồi quy Logistic các yếu tố đặc thù của bà mẹ 78
Biểu đồ 3.1 Tuổi của mẹ khi sinh con 56
Biểu đồ 3.2 Tuổi của trẻ bị khuyết tật 58
Biểu 3.3 Tỷ lệ có hay không bị trầm cảm 61
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xã hội hiện đại ngày càng phát triển sẽ kéo theo nhiều áp lực từ cuộc sống, công việc Căn bệnh trầm cảm đang có dấu hiệu gia tăng trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng.Trầm cảm hiện là một vấn đề sức khỏe về tâm thần nghiêm trọng.
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới(WHO) có xấp xỉ 298 triệu người mắc trầm cảm trong năm 2015 (chiếm 4,3% dân số toàn cầu), riêng tại Việt Nam có khoảng 3,6 triệu người bị rối loạn trầm cảm, chiếm 4% trên tổng dân số Một số người nghĩ trầm cảm là một căn bệnh tâm lý không quá nghiêm trọng Nhưng thực tế, nếu không được điều trị kịp thời và đúng cách, trầm cảm có thể ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe về tinh thần và thể chất Những căng thẳng kéo dài sẽ gây hại tới các bộ phận trong cơ thể, đặc biệt là hệ thống tim mạch Theo Tổ chức y tế thế giới tới năm 2020, trầm cảm chỉ đứng sau các bệnh lý tim mạch về gánh nặng bệnh tật và nguyên nhân gây tử vong [60]
Trầm cảm ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống của tất cả chúng ta, ảnh hưởng tới mối quan hệ của cá nhân với các thành viên trong gia đình, với bạn bè; ảnh hưởng đến các mối quan hệ xã hội, năng suất lao động cũng như sự phát triển cá nhân nói chung Đặc biệt hơn với đối tượng là phụ nữ, họ vừa tham gia đóng góp cho xã hội, vừa đảm nhận vai trò người vợ, người mẹ trong gia đình
Đối với người phụ nữ, gia đình và con cái luôn là ưu tiên hàng đầu Chính những đứa con khỏe mạnh, ngoan ngoãn sẽ là nguồn động lực giúp cho người phụ nữ có thể hoàn thành tốt các vai trò của mình Nhưng trong một số trường hợp không may mắn, người phụ nữ lại rơi vào hoàn cảnh có con bị khuyết tật
Theo Beck và cộng sự (1974) , cảm nhận tuyệt vọng đã được xác định là một trong những đặc điểm cốt lõi của trầm cảm, Một biểu hiện thường gặp của trầm cảm là những cách nhìntiêu cực về tương lai Việc sinh nở, có em bé gây
Trang 11ra hy vọng và kỳ vọng tích cực ở tương lai ở người mẹ Tuy nhiên, đứa con họ sinh ra lại mang khuyết tật, đây chính là cú sốc với người mẹ dẫn đến tình trạng trầm cảm Khi họ phải đối mặt với tình huống đó trong cuộc sống, sẽ xảy ra rất nhiều cảm xúc tiêu cực như : đau buồn, mất mát, sự hoài nghi, tội lỗi, từ chối, bất lực, phủ nhận, giả dối, lo lắng, tức giận và trầm cảm trong một thời gian dài[26]
Cuộc sống của gia đình trẻ khuyết tật bị thu hẹp, hầu hết xoay quanh việc chăm sóc và nuôi dạy trẻ khuyết tật, các hoạt động tương tác của gia đình trẻ với xã hội bên ngoài bị hạn chế Thêm vào đó là sự lo lắng của gia đình về tương lai,sự hòa nhập sau này của trẻ[39]
Khi trong gia đình có sự hiện diện của trẻ khuyết tật,gánh nặng kinh tế gia tăng,trách nhiệm chăm sóc trẻ nhiều hơn, cả gia đình phải thay đổi để thích nghi với hoàn cảnh mới, dẫn đến các xung đột trong mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình Gia đình trẻ cũng gặp nhiều vấn đề về tâm lý khi phải chấp nhận và chung sống với trẻ khuyết tật đồng thời là cầu nối giúp trẻ hòa nhập với gia đình và xã hội
Người mẹ phải dành phần lớn thời gian để chăm sóc trẻ khuyết tật, họ không có thời gian dành cho bản thân và các mối quan tâm khác, dẫn đến căng thẳng về cả thể chất lẫn tinh thần, nguy cơ mắc rối loạn trầm cảm ở bà
mẹ tăng cao
Sức khoẻ tâm thần của bà mẹ liên quan chặt chẽ đến khả năng chăm sóc trẻ, chính vì vậy chúng ta cần chú ý nâng cao sức khỏe củacác bà mẹ một cách toàn diện cả về sức khoẻ thể chất lẫn sức khỏe tâm thần Tại khoa Phục hồi chức năng, bệnh viện Nhi Trung ương, qua quá trình tìm hiểu và thu thập thông tin cho thấy hàng năm có khoảng 20.000 lượt trẻ khuyết tật đến khám chữa bệnh ; 80% trong số đó là trẻ dưới 06 tuổi[18]
Một trong những thực tế tại đây là chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa bệnh viện với gia đình trẻ vì ngoài thực hiện công tác chuyên môn, việc tư
Trang 12vấn cho gia đình về cách chăm sóc trẻ tại nhà còn cần sự cam kết và hợp tác
từ phía gia đình trẻ KT
Về phía gia đình và xã hội thường chỉ biết phụ thuộc vào sự điều trị tại bệnh viện chứ chưa phát huy hết vai trò của gia đình và cộng đồng trong công tác chăm sóc và PHCN cho trẻ khuyết tật
Qua kết quả phỏng vấn nhanh 10 bà mẹ có con đang điều trị tại khoa Phục hồi chức năng (tháng 12/2016) cho thấy chỉ có 2/10 bà mẹ cho biết có
sự khả quan về tình trạng tiến triển tốt lên về tình trạng bệnh của con em mình, 6/10 bà mẹ không tin tưởng vào sự tiến triển của tình trạng tàn tật 9/10
bà mẹ có sự lo lắng, bi quan và phiền muộn về tình trạng tàn tật của trẻ
Tại thời điểm hiện tại ở Việt Nam, chưa có nhiều nghiên cứu về trầm cảm ở những bà mẹ có con bị khuyết tật, chính vì lí do này chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài : "Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến trầm cảm
ở bà mẹ có con dưới 6 tuổi bị khuyết tật tại bệnh viện Nhi Trung ương”.
2 Đối tƣợng nghiên cứu
- Trầm cảm ở bà mẹ có con khuyết tật dưới 6 tuổi đến khám và chữa bệnh tại Bệnh viện Nhi Trung ương tại thời điểm nghiên cứu
3 Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ, sáng tỏ hơn về trầm cảm ở bà mẹ có con khuyết tật và những yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm ở bà mẹ.Từ đó đưa ra những kiến nghị giúp bản thân người mẹ, gia đình trẻ KT hiểu rõ hơn về trầm cảm, các nguy cơ để đưa ra cách ứng phó, phòng ngừa mắc trầm cảm
Về phía cộng đồng , xã hội cần thúc đẩy công tác hỗ trợ tâm lý cho gia đình trẻ KT đặc biệt là người mẹ, trợ giúp an sinh xã hội cho trẻ KT nhiều hơn nữa
Trang 134 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các lý luận về rối loạn trầm cảm và trầm cảm ở bà mẹ có
con khuyết tật dưới 6 tuổi
- Nghiên cứu mức độ trầm cảm của bà mẹ có con dưới 6 tuổi bị khuyết tật tại khoa Phục hồi chức năng - bệnh viện Nhi Trung ương, năm 2017
- Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến trầm cảm của bà mẹ có con dưới
6 tuổi bị khuyết tật tại khoa Phục hồi chức năng - bệnh viện Nhi Trung ương, năm 2017
- Đề xuất những kiến nghị về các biện pháp đẩy mạnh tuyên truyền và phổ biến kiến thức về sức khỏe tâm thần cho người dân Tăng cường các hoạt động phổ cập giáo dục cho bà mẹ, bố trí việc làm, tăng thu nhập hộ gia đình Thiết lập mô hình quản lý và chăm sóc trẻ khuyết tật dựa vào cộng đồng
5 Khách thể nghiên cứu
- 203 bà mẹ có con bị khuyết tật đến khám và điều trị ngoại trú tại bệnh viện Nhi Trung ương Các loại khuyết tật ở trẻ bao gồm : KT về vận động, KT về nhìn, KT về nghe nói , KT về học , các hành vi bất
thường, động kinh
6 Phạm vi và địa bàn nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu là các rối loạn loạn trầm cảm của các bà mẹ ở những mức độ khác nhau như : trầm cảm mức độ nặng, mức độ vừa, mức độ nhẹ và một số yếu tố liên quan đến trầm cảm trên 203 bà mẹ
có con khuyết tật dưới 6 tuổi đến khám chữa bệnh tại bệnh viện Nhi Trung ương
- Địa bàn nghiên cứu là tại khoa Phục hồi chức năng, tầng 1 nhà 8 tầng, Bệnh viện Nhi Trung ương ; Số 18/879 La Thành, Láng Thượng, Đống Đa, Hà Nội
Trang 14- Khoa phục hồi chức năng là khoa lâm sàng, tiếp nhận khám, chẩn đoán, điều trị vật lý trị liệu và phục hồi chức năng toàn diện cho bệnh nhi
7 Giả thuyết khoa học
- Bà mẹ có con khuyết tật có các rối loạn trầm cảm theo các mức độ khác nhau: trầm cảm ở mức độ nhẹ, trầm cảm ở mức độ vừa, trầm cảm ở mức độ nặng Trong đó, các bà mẹ có mức độ trầm cảm nặng và vừa chiếm ưu thế trong ba mức độ trầm cảm : trầm cảm ở mức độ nặng , trầm cảm ở mức độ vừa , trầm cảm ở mức độ nhẹ
- Một số yếu tố liên quan đến tình trạng trầm cảm của bà mẹ: Học vấn của bà mẹ, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế gia đình, số con bị khuyết tật, niềm tin của bà mẹ và một số stress gặp phải trong thời gian gần đây Trong đó, yếu tố điều kiện kinh tế, số con bị KT và niềm tin của
bà mẹ được xem như các yếu tố có tác động mạnh đến việc mắc trầm cảm ở bà mẹ có con mang KT
8 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc
- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
- Sử dụng thang đánh giá Beck
- Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan các nghiên cứu về trầm cảm và trầm cảm ở bà mẹ có con khuyết tật
1.1.1 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, theo nhiều nghiên cứu dịch tễ học khác nhau về trầm cảm cho thấy tỷ lệ mắc rối loạn trầm cảm trong cộng đồng khoảng từ 3 đến 8% :
Nghiên cứu của Bệnh viện tâm thần Trung ương năm 2000 tại Thường Tín – Hà Tây cho thấy tỷ lệ mắc trầm cảm chung là 8,35% dân số[20]
Theo Trần Văn Cường (2001), nghiên cứu điều tra dịch tễ 10 bệnh tâm thần tại 8 địa điểm của các vùng sinh thái khác nhau, cho kết quả về tỷ lệ mắc các bệnh tâm thần là 12,5%, trong đó rối loạn trầm cảm (F32): 2,47%; rối loạn lo âu (F 41): 2,27% Tỷ lệ bệnh nhân khám tại các cơ sở y tế nhà nước là 31,9%; tại các cơ sở y tế tư nhân là 21,9% và số bệnh nhân chưa bao giờ đi khám là 68,5% [4]
Tác giả Hồ Ngọc Quỳnh (2009) với đề tàinghiên cứu trầm cảm ở sinh viên điều dưỡng và y tế công cộng tại thành phố Hồ Chí Minh chỉ ra tỷ lệ mắc trầm cảm ở sinh viên y tế công cộng lên tới 17,6%, ở sinh viên điều dưỡng là 16,5% Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm ví dụ như: sự quan tâm của cha mẹ, gắn kết với nhà trường, thành tích học tập, quan hệ xã hội, tự nhận thức về bản thân[12]
Tác giả Nguyễn Văn Siêm (2010) với đề tài nghiên cứu dịch tễ lâm sàng rối loạn trầm cảm tại một xã đồng bằng sông Hồng đưa ra tỷ lệ mắc rối loạn trầm cảm là 8,35% dân số ≥ 15 tuổi Tỷ lệ bệnh nhân nữ/nam là 5/1 Tỷ
lệ mắc trầm cảm ở độ tuổi 30-59 là 58,21%, từ 60 tuổi trở lên là 36,9% Tỷ lệ mới mắc trầm cảm là 0,48% Đại đa số bệnh nhân (94,24%) mắc bệnh trầm
Trang 16cảm trên 1 năm Số ca mắc bệnh trên 4 năm có tỷ lệ 70,3% Tính chất tiến triển mạn tính của trầm cảm rất rõ rệt (93,6% là trầm cảm tái diễn) Các giai đoạn trầm cảm đơn độc chiếm 6,3% số ca Trầm cảm tái diễn có loạn thần có tỷ lệ 2,3%
và rối loạn cảm xúc lưỡng cực là 3,46% Các yếu tố tâm lý - xã hội ảnh hưởng đến bệnh trầm cảm được xếp theo thứ tự tăng dần: sống độc thân, ly thân, góa bụa, stress cường độ mạnh, đông con, stress trung bình, bệnh cơ thể [13]
Theo tác giả Nguyễn Thanh Cao và cộng sự (2011) , nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc trầm cảm người trưởng thành ở phường Sông Cầu thị xã Bắc Kạn là 4,3% trong đó: nam là 1,6%, nữ là 8,3% ; tỷ lệ mắc trầm cảm ở nữ giới cao gấp 5 lần so với nam giới [5]
Đối với các nghiên cứu ở đối tượng đặc biệt như người cao tuổi, phái nữ,phụ nữ sau sinh cho thấy tỷ lệ mắc trầm cảm cao hơn nhiều :
Trầm cảm ở đối tượng đặc biệt như phụ nữ sau sinh, theo tác giả Lương Bạch Lan (2009) có tỷ lệ mắc trầm cảm ở các bà mẹ sau sinh là 11,6%, các yếu tố liên quan làm gia tăng tỷ lệ trầm cảm như thời gian nằm viện của con trên 30 ngày, không khỏe khi mang thai, tử vong sơ sinh[10]
Theo Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2008), tỷ lệ mắc trầm cảm ở phụ nữ quanh tuổi mãn kinh lên tới 37,9% [9]
Trần Viết Nghị và cộng sự đã điều tra dịch tễ cho thấy các tỷ lệ bệnh phân
bổ như sau:bệnh tâm thần phân liệt (F20): 0,26%; rối loạn trầm cảm (F32): 2,6%; rối loạn lo âu (F41): 2,98%,tỷ lệ trầm cảm chung trong cộng đồng là 3,2%, nữ cao gấp 3 lần nam, hay gặp ở lứa tuổi từ 20-49 (65,1%) [11]
Một số nghiên cứu của Jane Fisher – Trung tâm nghiên cứu sức khỏe phụ nữ của WHO, chuyên nghiên cứu sức khỏe tâm thần bà mẹ và trẻ em ở nhiều nước trên thế giới đã chỉ ra rằng : Tại các nước nghèo phụ nữ bị trầm cảm cao hơn hẳn các nước giàu, 16% phụ nữ gặp các vấn đề về tâm thần ở Zimbabwe (1998); 23% phụ nữ mắc trầm cảm ở Goa, India (2003); 27,2% phụ nữ mắc trầm
Trang 17cảm ở Thổ Nhĩ Kỳ (2002); 32,7% phụ nữ mắc trầm cảm sau sinh ở Thành phố
Hồ Chí Minh, Việt Nam (2004) Sức khoẻ tâm thần của bà mẹ và con của họ
có mối liên quan tương hỗ nhau, do đó cần phải quan tâm đên sức khỏe tâm thần ở bà mẹ nuôi con nhỏ Mặt khác các yếu tố sinh học, văn hóa – xã hội, môi trường, điều kiện kinh tế khó khăn cũng làm tăng mức độ bị trầm cảm của phụ nữ Nghiên cứu này cũng cho thấy người mẹ sinh con thiếu tháng, con chậm phát triển, nhiều con, con khóc quá nhiều, dai dẳng không tự dỗ được, con không chịu ngủ yên, người mẹ thiếu sự hỗ trợ về tinh thần và sinh hoạt từ người thân trong gia đình cũng làm người mẹ dễ bị trầm cảm hơn[8]
Theo nghiên cứu của trung tâm nghiên cứu giáo dục mầm non thuộc Viện khoa học giáo dục Việt Nam tìm hiểu về sự phát triển của trẻ từ 0 -72 tháng tuổi cho thấy đa số trẻ em có một thể trạng tốt thì thường có những phát triển tâm vận động sớm hơn những đứa trẻhay ốm yếu Nghiên cứu trên còn chỉ ra khoảng 75% trẻ được người mẹ nuôi dưỡng, chăm sóc hoàn toàn trong những năm đầu đời Nghiên cứu này còn đưa ra nhiều dẫn chứng về vai trò chăm sóc của gia đình đối với trẻ em dưới 6 tuổi, lứa tuổi chưa đi học,trẻ chịu ảnh hưởng chủ yếu và nhiều nhất từ gia đình, cha mẹ Khẳng định trên không chỉ đúng với trẻ em nói chung mà còn đúng với trẻ tàn tật nói riêng Vì đối với trẻ tàn tật do đặc điểm của các khiếm khuyết cơ thể, tâm trí nên trẻ phải phụ thuộc nhiều hơn vào người chăm sóc trẻ tại gia đình Điều này khiến cho gia đình trẻ KT tăng thêm gánh nặng nuôi dưỡng, chi phí dành cho trẻ KT cũng tăng cao do phát sinh thêm chi phí khám chữa bệnh, những nguyên nhân này còn làm gia tăng các vấn đề về tâm lý cho gia đình trẻ KT [3],[19]
Tóm lại, khuyết tật ở trẻ là yếu tố quan trọng dẫn đến tình trạng lo âu, phiền muộn kéo dài ở bà mẹ, đó là lý do làm cho tỷ lệ trầm cảm ở bà mẹ có con khuyết tật tăng cao
Trang 181.1.2 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Trầm cảm là một tình trạng bệnh lý có tỷ lệ gặp cao ở các nước trên thế giới Nhiều nghiên cứu đã được triển khai nhằm xác định bệnh lý này Theo thống kê của một số nước châu Âu, rối loạn trầm cảm dao động từ 3 - 4% dân số Theo Fredéric Rouillon(2000) tiến hành nghiên cứu của tại Paris - Pháp năm 2000 cho thấy trầm cảm là một rối loạn thường gặp trên thế giới ngay cả những vùng mà người ta chưa nhận thức được rối loạn này, bất chấp sự khác biệt về nhóm tuổi, văn hoá, tầng lớp xã hội ở cả nam và nữ, trẻ, già nhưng ở những nhóm tuổi khác nhau thì tỷ lệ mắc khác nhau theo bảng số liệu sau[41]
Tỷ số mắc chung trong 6 tháng ở mỗi độ tuổi trong cộng đồng
tại Paris – Pháp năm 2000
Một nghiên cứu ở Ucraina của tác giả Tintle N (2011) cho kết quả như sau: 14,4% phụ nữ và 7,1% nam giới độ tuổi từ 50 trở lên bị trầm cảm[62]
Ở Hoa Kỳ, tỷ lệ mắc trầm cảm trong dân số theo nhiều nghiên cứu vào khoảng 5- 6% Theo Laura A Pratt (2006), trong vòng 2 tuần lễ có 5,4% người từ 12 tuổi trở lên bị trầm cảm Khoảng 80% người bị trầm cảm đã báo cáo bị ảnh hưởng đến khả năng làm việc, duy trì cuộc sống gia đình và các
Trang 19hoạt động xã hội khác của họ Tổng thiệt hại ước tính khoảng 2/3 trong tổng
80 tỷ USD trong năm 2000 vì khả năng sản xuất kém và hay nghỉ việc [55]
Ở Canada, theo Scott B Patten (2006), tỷ lệ trầm cảm chung trong cả cuộc đời là 12,2%, trầm cảm trong năm qua là 4,8%, trầm cảm trong 30 ngày qua là 1,8% Trầm cảm chủ yếu phổ biến ở phụ nữ (5%) cao hơn ở nam giới (2,9%) Tỷ lệ mắc trầm cảm cao nhất ở nhóm tuổi từ 15 đến 25 tuổi Tỷ lệ mắc trầm cảm nặng không liên quan đến trình độ học vấn nhưng có liên quan đến tình trạng bệnh mãn tính (4,9% so với người không có bệnh là 1,9%), thất nghiệp (4,6% so với người không thất nghiệp là 3,5%), và thu nhập (TC ở người nghèo nhất là 8,5%, người giàu nhất 3,2%) Người kết hôn có tỷ lệ thấp nhất (2,8% so với người không kết hôn là 5,3%, người ly dị là 6,5%) Phương trình hồi quy cho thấy tỷ lệ mắc trầm cảm hàng năm có thể tăng theo tuổi tác
ở nam giới chưa bao giờ kết hôn[53]
Ở các nước châu Á – Thái Bình Dương, theo tác giả Chiu E (2004), tỷ
lệ mắc trầm cảm trong vòng 1 tháng từ 1,3% đến 5,5%, trong vòng 1 năm qua
từ 1,7% đến 6,7% và tỷ lệ mắc trầm cảm trong cả cuộc đời từ 1,1% đến 19,9% trung bình là 3,7%, thấp hơn nhiều khu vực trên thế giới[34]
Ở Australia thì tỷ lệ trầm cảm cao hơn một số nước khác (20 - 30% dân số), trong đó 3 - 4% là trầm cảm vừa và nặng
Ở một số nước châu Á như Trung Quốc, theo tác giả Chen R, tỷ lệ trầm cảm ở người già trên 60 tuổi khu vực nông thôn là 6%, ở khu vực thủ đô
Trang 20thính giác, đặc biệt là các bà mẹ có nguy cơ lớn hơn mắc phải các bệnh tâm lý,trầm cảm và tâm thần[37]
Tác giả Gupta & Kaur (2010) kết luận rằng cha mẹ trẻ khuyết tật trí tuệ đấu tranh với mức stress cao ở mặt tâm lý hơn là về thể chất[44]
Tác giả Quittner et al (2010) đã đánh giá mức stress ở phụ huynh có con khiếm khuyết về nghe và phụ huynh có con bình thường Mẫu n = 181 ở trẻ khiếm khuyết về nghe và n = 92 ở trẻ bình thường Kết quả cho rằng các vấn đề về thính giác, chậm phát triển ngôn ngữ và vấn đề hành vi là những yếu tố tăng mức độ stress cho phụ huynh [57]
Theo các tác giả Asha, A, Bayat, M, Bozorgnezhad, A, và Salehi, M., (2011) với đề tài “So sánh các vấn đề tâm lý giữa cha mẹ có trẻ khuyết tật trí tuệ và cha mẹ của trẻ bình thường” trong tạp chí khoa học ứng dụng thế giới Trong nghiên cứu này, tác giả chỉ ra rằng cha mẹ có con bị khuyết tật về trí tuệ gặp nhiều vấn đề về tâm lý hơn so với cha mẹ có con bình thường Các bà
mẹ gặp nhiều các vấn đề về tâm lý hơn các ông bố[25]
Theo tác giả Choudhary, S.K., Gohel, M., & Mukherjee, S, (2011) với
đề tài “Tác động về mặt tâm lý –xã hội đối với các cha mẹ có con chậm phát triển trí tuệ ở quận Anand”, Choudhary và cộng sự đã xác định không có mối liên quan giữa tâm lý chậm phát triển của trẻ và sự ảnh hưởng tới anh chị em của trẻ Kết quả cho thấy 70% bà mẹ có kết quả trầm cảm từ mức độ nhẹ tới trung bình[43]
Theo tác giảSousa, A.D, & Singhvi, S (2011) với đề tài “Triệu chứng trầm cảm ở bà mẹ trẻ em bị bại não” Nghiên cứu chỉra có tới 71% bà mẹ có con bại não mắc trầm cảm Các yếu tố góp phần gây ra trầm cảm cho các bà mẹ được báo cáo là trợ cấp xã hội ít, trình độ học vấn thấp và thất nghiệp tăng cao [36]
Theo các tác giả J.W.Hung, Y.H.Wu, Y.C.Chiang ,W.C.Wu, C.H.Yeh, vớinghiên cứu: “Các vấn đề liên quan tới sức khỏe tâm thần ở cha mẹ có con
Trang 21khuyết tật” Nghiên cứu này chỉ ra rằngsự đau khổ, tuyệt vọng của cha mẹ khi
có con khuyết tật ở mức cao, chỉ số PSI (Chỉ số trầm cảm ở cha mẹ)
=97.11(SD=20.71) Sự đau khổ,tuyệt vọng của cha mẹ trẻ khuyết tật là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức khoẻ tinh thần của cha mẹ Tỷ lệ cha mẹ của trẻ khuyết tật gặp các vấn đề tinh thần trong nghiên cứu này vào khoảng 44% [47]
Đề tài nghiên cứu “Rối loạn trầm cảm ở một số phụ huynh có con khuyết tật” của nhóm giả J Aaron Resch, Timothy R Elliott, Michael R Benzkiểm tra tỷ lệ trầm cảm trên 110 phụ huynh của trẻ khuyết tật và thử nghiệm một
mô hình để xác định các yếu tố liên quan đến trầm cảm của cha mẹ Phân tích hồi quy cho thấy các đánh giá về mối đe dọa, sức khoẻ thể chất kém hơn và mức độ hài lòng của gia đình thấp hơn có liên quan đến tình trạng trầm cảm với độ chính xác ~ 83,3% Những kết luận này nhấn mạnh đến sự hài lòng của gia đình trẻ, khả năng giải quyết vấn đề, sức khoẻ thể chất có mối liên quan đến rối loạn trầm cảm ở cha mẹ của trẻ khuyết tật Khoảng 53% cha mẹ của trẻ khuyết tật mắc các vấn đề liên quan đến rối loạn trầm cảm[59]
Trong nghiên cứu của các tác giả Ziaul Islam, Sharmin Farjana, Runa Shahnaz (2013),các tác giả chỉ ra rằng chậm phát triển tâm thần ở trẻ là một trong những khuyết tật phát triển phổ biến nhất ở trẻ em trên toàn cầu.Nghiên cứu cắt ngang này đã so sánh sự khác nhau giữa căng thẳng tinh thần và căng thẳng thể chất ở hai nhóm cha mẹ: cha mẹ của trẻ chậm phát triển trí tuệ và cha mẹ của trẻ không bị chậm phát triển trí tuệ
Tổng số mẫu nghiên cứu có 220 phụ huynh bao gồm: 110 cha mẹ có trẻ bị chậm phát triển tâm thần và 110 cha mẹ khác có con bình thường Nghiên cứu cho thấy cha mẹ có trẻ bị chậm phát triển trí tuệ có số điểm căng thẳng là 34.27 cao hơn đáng kể so với bố mẹ của trẻ không bị chậm phát triển trí tuệ
là 21.66 Phần lớn các bậc cha mẹ có con khuyết tật có nhiều căng thẳng tinh thần hơn so với căng thẳng thể chất Đặc biệt, các bà mẹ có chỉ số căng thẳng
Trang 22tinh thần cao hơn nhiều so với các ông bố của trẻ bị khuyết tật (tỷ lệ các bà
mẹ bị căng thẳng tinh thần là 71,4% và ở các ông bố là 67,5%) [48]
Một nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng vấn đề khiếm thính ở trẻ gây ra thêm các vấn đề về tâm lý, cảm xúc, hành vi ở trẻ, dẫn đến gia tăng sự căng thẳng ở người mẹ Người tham gia nghiên cứu bao gồm 50 trẻ khiếm thính và
50 bà mẹ của trẻ Kết quả cho thấy rằng có mối liên quan giữa vấn đề trẻ bị khuyết tật và sự căng thẳng ở các bà mẹ (r = 0,412, p <0,01) Khiếm thính như là một sự thiếu hụt về giác quan cản trở hoạt động của trẻ,do đó khiến trẻ
dễ bị tổn thương; cụ thể là các trẻ khiếm thính gặp phải các vấn đề về tâm lý Kết quả nghiên cứu cho thấy cha mẹ nói chung, và đặc biệt là người mẹ, người bị ảnh hưởng nhiều hơn do phải gánh trách nhiệm chính trong việc nuôi dưỡng con bị khuyết tật [22]
Trong một nghiên cứu chi tiết, nhóm tác giả Prior, Glazner, Sanson và Debelle (2006) đã thu thập dữ liệu từ các bà mẹ của trẻ khiếm thính Các bà
mẹ có điểm cao hơn về lo lắng, trầm cảm và các vấn đề tổng thể khi đo bằng Bảng câu hỏi Y tế Tổng quát [56]
Gia đình là nguồn hỗ trợ chính cho trẻ khuyết tật trong bất kỳ xã hội nào Chính vì vậy, cha mẹ luôn phải đối mặt với sự căng thẳng về cả thể chất lẫn tinh thần trong quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng, hỗ trợ trẻ có khuyết tật
Việc nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ khuyết tật cần nhiều thời gian, công sức
và tiền bạc, điều này dễ dẫn đến những căng thẳng trong cuộc sống gia đình,
bố mẹ có xu hướng đổ lỗi cho nhau và tạo ra những vấn đề trong hôn nhân Thêm vào đó người mẹ thường phải đảm nhận việc chăm sóc chính cho trẻ bị khuyết tật nên người mẹ thường cảm thấy lẻ loi, cô độc, không có sự chia sẻ
từ gia đình so với những bà mẹ có con bình thường
Các tác giả đã tiến hành nghiên cứu trong thời gian từ tháng 11 năm
2009 đến tháng 2 năm 2010 trên 75 bà mẹ có con khuyết tật và 35 bà mẹ có
Trang 23con bình thường Kết quả nghiên cứu cho thấy, bà mẹ ở nhóm có con khuyết tật có chỉ số lo âu và trầm cảm cao hơn nhóm các bà mẹ có con bình thường: chỉ số lo âu (p=0.027), chỉ số trầm cảm (p=0.032) và tổng số bệnh nhân lo âu theo Thang trầm cảm (HADS) (p = 0,022) Nhóm tác giả báo cáo những bà
mẹ có con khuyết tật ở nước Ả Rập Saudi đạt điểm cao hơn nhiều trên thang điểm HADS ở mục trầm cảm và lo âu[24]
Theo tác giả Hill & Rose (2009), nghiên cứu của tác giả dựa trên phân tích hồi quy dự đoán tỷ lệ stress ở phụ huynh có trẻ mang khuyết tật vào khoảng 61%[45]
Trong nghiên cứu của Olsson (2001) chỉ ra rằng các cha mẹ của trẻ khuyết tật có trải nghiệm nhiều stress hơn các cha mẹ của trẻ bình thường, nhưng
tỷ lệ stress ở các bà mẹ lại cao hơn các ông bố có trẻ khuyết tật[52]
Các tác giả Sloper và Turner (1993) cũng đưa kết luận: các ông bố có con mang khuyết tật thường ít gặp phải vấn đề stress như ở các bà mẹ có con khuyết tật [61]
Trẻ khuyết tật ở lứa tuổi 0- 6 tuổi cần nhiều sự chăm sóc, quan tâm từ phía người mẹ, mọi hoạt động ăn uống, vui chơi, sinh hoạt đều phụ thuộc chinh vào người mẹ chính vì vậy cuộc sống của người mẹ thêm phần gánh nặng, căng thẳng dẫn đến nguy cơ trầm cảm
Tình trạng khuyết tật về trí tuệ của đứa trẻ là sự kỳ thị lên toàn bộ cuộc sống của gia đình trẻ đặc biệt dành cho các bà mẹ Một số bà mẹ cảm thấy đau đớn tinh thần khi biết rằng con mình không thông minh như những đứa trẻ khác và tình trạng này không thể đảo ngược được và không có phương án chữa khỏi vấn đề Việc thiếu nhận thức về cách quản lý vấn đề làm tăng thêm căng thẳng liên quan đến những ảnh hưởng tiêu cực liên quan đến tình trạng tàn tật của đứa trẻ Nhiều người trở thành nạn nhân của sự sợ hãi từ những lời chỉ trích và đánh giá tiêu cực
Trang 241.2 Lý luận về trầm cảm
1.2.1 Khái niệm về trầm cảm
Buồn chán là những phản ứng cảm xúc bình thường, tự nhiên của con người trong cuộc sống Tuy nhiên những phản ứng này có thể trở thành bệnh lý trầm cảm, nếu mức độ trở nên trầm trọng, diễn biến kéo dài và gây cản trở rõ rệt đến khả năng thích ứng cuộc sống, lao động, học tập và các mối quan hệ xã hội
Theo từ điển tâm lý học của Vũ Dũng định nghĩa: “Trầm cảm là trạng thái xúc cảm mạnh đặc trưng bởi bối cảnh cảm xúc âm tính, bởi những thay đổi của môi trường về những quan điểm của động cơ nhận thức và bởi tính thụ động của hành vi nói chung” [6]
Theo Bảng phân loại bệnh quốc tế (ICD 10) và Bảng phân loại bệnh tâm thần lần thứ IV của hiệp hội tâm thần học Mỹ (DSM IV): “Trầm cảm là trạng thái rối loạn cảm xúc, biểu hiện bằng giảm khí sắc, mất mọi quan tâm thích thú, giảm năng lượng dẫn đến tăng sự mệt mỏi và giảm hoạt động, phổ biến là tăng sự mệt mỏi sau một số cố gắng nhỏ, tồn tại trong một khoảng thời gian kéo dài, ít nhất là hai tuần”
Tóm lại, trầm cảm là một trạng thái rối loạn cảm xúc được biểu hiện rõ rệt bởi khí sắc, hành vi, ứng xử thể hiện sự buồn rầu, kèm theo cảm giác chán chường, bi quan thậm chí có ý nghĩ tự sát, ức chế gần như toàn bộ các mặt hoạt động thể chất và tâm lý
Như vậy, trầm cảm là trạng thái giảm khí sắc, giảm năng lượng hoạt động , rối loạn cảm xúc kéo dài ít nhất hai tuần Gọi “trầm cảm” là “Rối loạn trầm cảm” để thể hiện rõ tính chất bệnh lý của trạng thái cảm xúc này Vì vậy trong luận văn này tôi xin phép được đồng nhất hai khái niệm “trầm cảm” và
“rối loạn trầm cảm”
Trang 251.2.2 Biểu hiện lâm sàng của rối loạn trầm cảm:
* Biểu hiện về mặt cơ thể và sinh hoạt hàng ngày:
- Nhiều bệnh nhân luôn than phiền đau đầu, đau khớp , đau bụng, đau ngực trái…có khi chính xác các triệu chứng đau này là nguyên nhân khiến bệnh nhân đi khám bệnh Họ thường đến khám ở các bác sỹ chuyên khoa không tâm thần (thần kinh, khớp, tiêu hóa, tim mạch…) Khi không phát hiện được tổn thương thực thể và điều trị không có kết quả, họ lại tìm đến các bác sỹ khác Quá trình này có thể diễn ra trong nhiều năm khiến bệnh nhân tốn kém nhiều tiền bạc và thời gian
- Khi được khuyên đến khám ở các chuyên khoa tâm thần học thường phản ứng rất mạnh theo hướng phủ nhận hay chối bỏ Chỉ đến khi qua mệt mỏi vì điểu trị không hiệu quả hoặc bệnh quá trầm trọng họ mới đến bác sỹ tâm thần thăm khám và phát hiện ra mình bị trầm cảm
- Mất cảm giác ngon miệng, chán ăn, ăn ít hoặc sút cân là biểu hiện rất phổ biến Sự ngon miệng thường bị giảm sút, nhiều bệnh nhân có cảm giác chán ăn, họ ăn rất ít, thậm chí trong trường hợp bệnh nặng bệnh nhân nhịn ăn hoàn toàn Vì vậy bệnh nhân thường sút cân nhanh chóng (có thể sút vài cân trong một tháng)
- Cũng như các triệu chứng liên quan đến ăn uống, các bất thường về giấc ngủ cũng được bệnh nhân than phiền nhiều nhất Người bệnh có thể bị mất ngủ hoặc có thể ngủ quá nhiều nhưng chất lượng giấc ngủ kém Rối loạn mất ngủ hay gặp nhất trong giai đoạn trầm cảm và triệu chứng chủ yếu là mất ngủ Các bệnh nhân thường mất ngủ giữa giấc (nghĩa là tỉnh ngủ vào ban đêm và khó ngủ tiếp) hoặc mất ngủ đầu giấc (nghĩa là khó bắt đầu giấc ngủ) Mất ngủ là triệu chứng gây khó chịu rất nhiều cho người bệnh
Trang 26- Năng lượng giảm sút, kiệt sức và mệt mỏi cũng là một triệu chứng thường gặp, đặc biệt ở người mắc trầm cảm mãn tính Một người có thể than phiền mệt mỏi mà không có một nguyên nhân cơ thể nào Thậm chí với một công việc rất nhẹ nhàng thôi cũng cần phải nỗ lực rất lớn
để hoàn thành , hiệu quả công việc thường là giảm sút
Ví dụ một người có thể than phiền rằng việc rửa mặt và mặc quần áo buổi sang cũng khiến họ kiệt sức và họ cần nhiều thời gian nhiều gấp đôi, gấp ba lần so với bình thường Cảm giác mệt mỏi thường tăng lên vào buổi sáng và giảm sút một chút vào chiều tối
* Biểu hiện về mặt cảm xúc:
- Khí sắc trầm cảm (khí sắc giảm) là nét mặt của bệnh nhân rất đơn điệu, luôn buồn bã hoặc vô cảm, các nếp nhăn giảm nhiều, thậm chí mất hết các nếp nhăn.Tình trạng khí sắc giảm rất bền vững do bệnh nhân buồn, bi quan, mất hi vọng Bệnh nhân hầu như không cười hoặc nếu cười cũng rất gượng gạo, không tự nhiên Một số thì than phiền học không còn nhiệt tình, không còn cảm giác gì, luôn ở trong trạng thái lo
âu, giảm hoặc mất hết sở thích đã từng có, thậm chí không có hứng thú làm bất kỳ việc gì
* Biểu hiện về nhận thức:
- Cảm giác vô dụng, mặc cảm tội lỗi: Ở người mắc trầm cảm thì cảm giác vô dụng hoặc tội lỗi rất phổ biến trong giai đoạn trầm cảm chủ yếu Bệnh nhân cho rằng mình là kẻ vô dụng, không làm nên trò trống
gì Họ luôn nghĩ rằng mình là kẻ làm hỏng mọi việc, trở thành gánh nặng cho gia đình, cơ quan và xã hội Thậm chí, bệnh nhân có mặc cảm tội lỗi với những lỗi lầm rất nhỏ nhặt và phóng đại hậu quả
- Một số khác lại giải thích sai lệch các hiện tượng thông thường hàng ngày và cho rằng đó là khiếm khuyết của họ Bệnh nhân có xu hướng
Trang 27đổ lỗi cho bản thân vì sự không thành công hay thất bại của mình và thậm chí của cả người khác Họ cho rằng bản thân không đáp ứng được yêu cầu của nghề nghiệp hoặc quan hệ với mọi người, không hoàn thành nghĩa vụ với gia đình
- Khó suy nghĩ tập trung hoặc đưa ra quyết định : Đây là triệu chứng rất hay gặp khiến bệnh nhân khó chịu và phải đi thăm khám Nhiều bệnh nhân than phiền học khó tập trung chú ý vào việc gì đó, rất khó khăn khi đưa ra quyết định, họ cần mất nhiều thời gian cân nhắc, quyết định những việc thông thường (ví dụ một người nội trợ không thể quyết định
là mua thịt hay cá) Khó tập trung chú ý thể hiện ở những việc đơn giản nhất như : không thể đọc hết một bài báo ngắn, không thể nghe hết một bài hát yêu thích, không thể xem hết chương trình TV mà trước đây bệnh nhân rất quan tâm
- Rối loạn trí nhớ: ở bệnh nhân thường giảm trí nhớ ngắn hạn, họ có thể quên luôn mình vừa làm gì (chẳng hạn không nhớ sáng nay ăn gì, không nhớ để chìa khóa vừa cầm ở đâu…) Trong khi đó trí nhớ dài hạn (tên, tuổi, quê quán…) thì vẫn được duy trì tương đối tốt trong một thời gian dài
- Ý nghĩ muốn chết hoặc hành vi tự sát hay toan tự sát: hầu hết các bệnh nhân trầm cảm đều có ý nghĩ về cái chết, nặng hơn là họ có ý định
tự sát hoặc hành vi tự sát Lúc đầu họ nghĩ bệnh nặng thế này (mất ngủ, chán ăn, mệt mỏi, mất hết hi vọng…) thì chết mất Sau một thời gian, bệnh nhân nghĩ rằng chết đi sẽ hết đau khổ, được giải thoát Ý nghĩ này dần dần trở thành niềm tin rằng những người thân trong gia đình, đồng nghiệp sẽ dễ chịu hơn khi mình chết đi
- Từ ý nghĩ tự sát sẽ dẫn đến hành vi tự sát, có đến 75% các trường hợp
tứ sát có nguyên nhân từ trầm cảm Tự sát có thể gặp ở người có trầm
Trang 28cảm ở bất kỳ mức độ nào: trầm cảm nhẹ, trầm cảm vừa, trầm cảm nặng
Vì thế không thể chủ quan cho rằng tự sát chỉ xảy ra ở người mắc trầm cảm nặng Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng không thể dự đoán chính xác được bệnh nhân trầm cảm có cố gắng tự sát hay không và khi nào
họ có ý định Động cơ tự sát của bệnh nhân là mong muốn cao độ chấm dứt trạng thái cảm xúc đau khổ vượt sức chịu đựng, sự tra tấn
mà bản thân phải chịu đựng
* Biểu hiện về mặt hành vi:
- Mất hứng thú hoặc sở thích với hầu hết các hoạt động: mất hứng thú hoặc sở thích biểu hiện ở mọi mức độ trầm cảm Các bệnh nhân cho rằng họ đã mất hết các sở thích vốn có ( bây giờ tôi không thích gì cả) Tất cả các sở thích trước đây của bệnh nhân đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng, kể cả ham muốn tình dục Những việc trước đay họ làm với sự say mê, thích thú thì giờ đây không hề gây chút hứng thú nào nữa, thậm chí họ cảm thấy đó là gánh nặng với họ
- Rối loạn hoạt động tâm thần vận động: Thay đổi tâm thần vận động bao gồm kích động (bệnh nhân đi đi lại lại, không thể ngồi yên), vận động chậm chạp (nói chậm, vận động cơ thể chậm), tăng khoảng nghỉ trước khi trả lời, giọng nói nhỏ, số lượng lời nói ít, nội dung nghèo nàn, thậm chí một số trở nên câm lặng, không muốn giao tiếp
- Ở những lần đầu tiên, khởi đầu bệnh trầm cảm có thể không rõ ràng
và không kéo dài Tuy nhiên, nếu không được để ý và điều trị , trầm cảm có thể tái diễn ở mức độ nghiêm trọng hơn, thành hội chứng bao gồm : khí sắc buồn bã, nặng nề, cáu kỉnh, dễ bị kích thích, kéo dài ít nhất hai tuần, kèm theo là những thay đổi đáng kể về giấc ngủ và sự ngon miệng, giảm năng lượng, giảm khả năng tập trung và trí nhớ, mất quan tâm hứng thú với các hoạt động, các triệu chứng,mặc cảm, tự ti,
Trang 29buồn rầu, trống vắng… Khi bệnh đến giai đoạn nặng, người bệnh trở nên chán nản, tuyệt vọng đến mức suy nghĩ đến cái chết, toan tự sát và hành vi tự sát
Nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở tìm hiểu các thông số về tuổi tác, tình trạng kinh tế - xã hội và khoảng thời gian những người con nuôi sống với
mẹ ruột không bị trầm cảm So sánh tỉ lệ trầm cảm giữa hai nhóm, thấy rằng ở nhóm khách thể thứ nhất, tỉ lệ bị trầm cảm nhiều gấp 8 lần và đã từng có ý định tự sát nhiều gấp 15 lần, so với họ hàng ruột của chính những người con nuôi này Không thấy có sự khác biệt giữa các nhóm khi xét đến những mức
Trang 30này đã bị những dữ liệu gần đây phủ định Có vẻ như khí sắc là kết quả của sự tương tác giữa serotonin và norepinephrine Thậm chí nó có thể là kết quả của
sự tương tác giữa hai chất này với các cơ quan khác của não Ví dụ, Rampello
và cộng sự (2000) đã giải thích rằng khí sắc là kết quả của sự không cân bằng giữa một số chất dẫn truyền thần kinh ,bao gồm serotonin và norepinephrine, dopamine và acetylcholine
Có thể là serotonin đóng vai trò quá lớn trong việc kiểm soát các cơ quan khác nhau của não, và sự giảm chất này đã phá vỡ hoạt động trong các
cơ quan này, dẫn đến trầm cảm Khu vực não có liên quan chủ yếu đến trầm cảm là hệ viền[50] Theo mô hình tâm sinh học (psychobiological), các quá trình này xảy ra do tác động của cả các yếu tố tâm lí - xã hội lẫn yếu tố di truyền; do đó, nó đòi hỏi mức độ quan tâm thích đáng của mỗi lĩnh vực, trước khi một giai đoạn trầm cảm diễn ra
* Yếu tố tâm lý - xã hội
Những sang chấn tâm lí - xã hội đã góp phần làm tăng nguy cơ trầm cảm
- Sự khác biệt về vị thế kinh tế- xã hội
Các biến cố xã hội: tiếp cận này cho rằng những vấn đề về SKTT
chiếm tỉ lệ cao ở những người thuộc tầng lớp kinh tế – xã hội bên dưới là do các cá nhân luôn phải đối mặt với những vấn đề về kinh tế để tồn tại Họ có thể không duy trì được công việc hoặc không thể làm thêm gì để duy trì mức sống và điều đó càng đẩy họ trượt xuống phía dưới của thang kinh tế- xã hội
Năm 1978, Brown và Harris đã tiến hành nghiên cứu trên những phụ nữ thuộc tầng lớp lao động Một nhóm bao gồm những người có tới 3 con nhỏ hoặc nhiều hơn, thiếu một người bạn gái thân thiết để tâm tình, không có nghề nghiệp bên ngoài và mồ côi cha từ khi còn rất nhỏ Nhóm còn lại cũng là những phụ nữ thuộc tầng lớp lao động nhưng có hoàn cảnh ngược lại Kết quả
Trang 31cho thấy những phụ nữ ở nhóm thứ nhất có khả năng bị trầm cảm cao hơn so với nhóm thứ hai[31]
Những cá nhân túng thiếu về mặt kinh tế có xu hướng trải qua nhiều sự kiện tiêu cực trong cuộc sống hơn là những người có điều kiện kinh tế được cải thiện, và có lẽ nguồn tài chính và xã hội dùng để giải quyết những khó khăn của họ cũng ít hơn
Stress xã hội: tiếp cận này cho rằng sống trong các điều kiện kinh tế –
xã hội khác nhau sẽ tạo ra những mức độ stress khác nhau: càng ở phía dưới của bậc thang kinh tế – xã hội thì mức stress càng cao Stress liên quan đến những vấn đề suy giảm vị thế kinh tế- xã hội sẽ gây ra các vấn đề về SKTT.Tỉ
lệ trầm cảm thường thấy tương đối cao ở người nghèo, dân tộc thiểu số và những người có nguồn trợ cấp xã hội ít ỏi (Jenkins và cộng sự, 1998) Ở rất nhiều người, một số yếu tố kết hợp với nhau, khiến cho trầm cảm đặc biệt dễ xảy ra
Mô hình thiếu nguồn lực: tương tự như mô hình stress xã hội, mô hình
này cho rằng những người có kinh tế kém thì cũng ít có nguồn lực để giúp họ giải quyết những yêu cầu của cuộc sống Những nguồn lực này có thể là kinh
tế, tâm lí, xã hội hoặc môi trường Những stress cuộc sống mạnh, ví dụ như ly hôn hay ly thân, có thể gây ra các đợt trầm cảm Ngược lại, một hệ thống nâng đỡ xã hội tốt có thể bảo vệ cá nhân khỏi căn bệnh trầm cảm này[38]
Do vậy những vấn đề về SKTT cũng được xem như là hậu quả của thiếu nguồn lực
- Sự khác biệt về giới
Thiện chí bày tỏ rối loạn stress: có một lí thuyết cho rằng sự khác biệt
về giới xung quanh những vấn đề SKTT chẳng qua chỉ là bề ngoài chứ không thực chất bởi vì phụ nữ sẵn sàng đến chỗ bác sĩ của họ để bày tỏ những vấn
đề SKTT Tuy nhiên lí thuyết này hầu như không đứng vững (Weich et al 1998)[63]
Trang 32Sự căng thẳng về vai trò: một giả thuyết khác cho rằng phụ nữ chịu
căng thẳng trong các vai trò gồm cả những yêu cầu của công việc và gia đình nhiều hơn nam giới Họ phải chịu nhiều stress hơn và đương nhiên là cũng nhiều vấn đề SKTT hơn Có rất nhiều lời giải đáp khác nhau cho câu hỏi tại sao phụ nữ lại thường bị trầm cảm nhiều hơn nam giới Thoạt đầu thì điều này
bị bỏ qua vì người ta cho rằng đó chỉ là biểu hiện của định kiến, giờ đây đã có chứng cứ thuyết phục hơn, chứng minh rằng, thật sự có sự khác biệt về giới trong tỉ lệ thường thấy của trầm cảm [63]
Ở khía cạnh xã hội, người ta giải thích rằng phụ nữ ngày nay phải gánh vác nhiều trách nhiệm hơn nhưng lại có chất lượng cuộc sống thấp hơn nam giới Phụ nữ có xu hướng làm những việc có vị thế thấp; công việc ở công sở
và trong gia đình khiến họ bị quá tải (Bird và Rieker, 1999)[30]
Điều đó có nghĩa là, khác với nam giới, khi phụ nữ làm xong việc ở cơ quan, vai trò nội trợ đang chờ đợi họ ở nhà, và họ phải tiếp tục làm việc Phụ
nữ cũng dễ phải chịu những áp lực về mặt văn hoá hơn so với đàn ông, bao gồm cả việc phải tuân theo các tư tưởng phương Tây về sự quyến rũ, điều này càng làm tăng thêm khả năng bị stress của họ Lời giải thích từ khía cạnh tâm
lí học, đó là, so với đàn ông, phụ nữ dễ bị quy lỗi lầm cho bản thân của họ hơn, do đó, họ càng dễ tự buộc tội và đánh giá thấp bản thân
Thêm vào đó, Nolen-Hoeksema (1990) đã lí luận rằng khi đàn ông trải qua những hoàn cảnh có thể dẫn đến trầm cảm, khả năng quên đi những ý nghĩ tiêu cực của họ tốt hơn Trong khi đó, phụ nữ lại hay để tâm đến hậu quả
và nguyên nhân; suy nghĩ này thúc đẩy sự xuất hiện của những ý nghĩ bi quan vốn đã tiềm tàng trong đầu óc họ[51]
- Vị thế thiểu số
Nhầm lẫn với tầng lớp xã hội: mô hình này cho rằng sự liên quan giữa
vị thế thiểu số với những vấn đề SKTT thực ra là không đúng Điều này, theo
Trang 33mô hình, là bản thân những người thuộc dân tộc thiểu số thường chủ yếu rơi vào tầng lớp kinh tế – xã hội bên dưới Do vậy những vấn đề SKTT của họ là
do kinh tế – xã hội chứ không phải do họ là dân tộc thiểu số
Thái độ kì thị: mô hình này cho rằng có mối liên hệ trực tiếp giữa người
dân tộc thiểu số với SKTT Những vấn đề SKTT có thể do những stress mà
họ gặp phải do là người dân tộc thiểu số như thái độ kì thị quá đáng Nhiều cá nhân thuộc các dân tộc ít người gặp phải tình trạng kinh tế bất lợi Thêm nữa,
họ phải đấu tranh với định kiến và sự hoà nhập với dân tộc chiếm số đông, điều này có thể gây nên stress
Giao thoa văn hoá: Một nguồn có thể gây stress nữa là sự căng thẳng
khi cá nhân phải chấp nhận hoặc chối bỏ mực chuẩn văn hoá của họ hay của nền văn hoá khác Điều này cũng có thể gây ra những vấn đề SKTT
Các biến cố xã hội: tiếp cận này cho rằng những vấn đề về SKTT
chiếm tỉ lệ cao ở những người thuộc tầng lớp kinh tế – xã hội bên dưới là do các cá nhân luôn phải đối mặt với những vấn đề về kinh tế để tồn tại Họ có thể không duy trì được công việc hoặc không thể làm thêm gì để duy trì mức sống và điều đó càng đẩy họ trượt xuống phía dưới của thang kinh tế- xã hội
1.2.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm và phân loại trầm cảm theo ICD-10
1.2.4.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm theo ICD-10
* Ba triệu chứng đặc trưng của trầm cảm:
- Giảm khí sắc: bệnh nhân cảm thấy buồn vô cớ, chán nản, ảm đạm, thất vọng, bơ vơ và bất hạnh, cảm thấy không có lối thoát Đôi khi nét mặt bất động, thờ ơ, vô cảm
- Mất mọi quan tâm và thích thú: là triệu chứng hầu như luôn xuất hiện Bệnh nhân thường phàn nàn về cảm giác ít thích thú, ít vui vẻ trong các hoạt động sở thích cũ hay trầm trọng hơn là sự mất nhiệt tình, không hài lòng với
Trang 34mọi thứ.Thường xa lánh, tách rời xã hội, ngại giao tiếp với mọi người xung quanh
- Giảm năng lượng dẫn đến tăng mệt mỏi và giảm hoạt động
* Bảy triệu chứng phổ biến của trầm cảm
- Giảm sút sự tập trung và chú ý
- Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin
- Những ý tưởng bị tội, không xứng đáng
- Nhìn vào tương lai thấy ảm đạm, bi quan
- Ý tưởng và hành vi tự huỷ hoại hoặc tự sát
- Rối loạn giấc ngủ: ngủ nhiều hoặc ngủ ít, thức giấc lúc nửa đêm hoặc dậy sớm
- Ăn ít ngon miệng
* Các triệu chứng cơ thể (sinh học) của trầm cảm :
- Mất quan tâm ham thích những hoạt động thường ngày
- Thiếu các phản ứng cảm xúc với những sự kiện và môi trường xung quanh mà khi bình thường vẫn có những phản ứng cảm xúc
- Thức giấc sớm hơn ít nhất 2 giờ so với bình thường
- Trầm cảm nặng lên về buổi sáng
- Chậm chạp tâm lý vận động hoặc kích động, có thể sững sờ
- Giảm cảm giác ngon miệng
- Sút cân (thường ≥ 5% trọng lượng cơ thể so với tháng trước)
- Giảm hoặc mất hưng phấn tình dục, rối loạn kinh nguyệt ở phụ nữ
* Các triệu chứng loạn thần :
- Trầm cảm nặng thường có hoang tưởng, ảo giác hoặc sững sờ Hoang tưởng, ảo giác có thể phù hợp với khí sắc (hoang tưởng bị tội, bị thiệt hại, bị trừng phạt, nghi bệnh, nhìn thấy cảnh trừng phạt, ảo thanh kết tội
Trang 35hoặc nói xấu, lăng nhục, chê bai bệnh nhân) hoặc không phù hợp với khí sắc (hoang tưởng bị theo dõi, bị hại)
- Ngoài ra, bệnh nhân có thể có lo âu, lạm dụng rượu, ma tuý và có triệu chứng cơ thể như đau đầu, đau bụng, táo bón… sẽ làm phức tạp quá trình điều trị bệnh[16]
* Trong chẩn đoán cần chú ý:
- Thời gian tồn tại ít nhất 2 tuần
- Giảm khí sắc không tương ứng với hoàn cảnh
- Hay lạm dụng rượu, ám ảnh sợ, lo âu và nghi bệnh
- Giai đoạn trầm cảm nhẹ (F32) (mức độ nhẹ, vừa, nặng):
+ Giai đoạn trầm cảm nhẹ
Khí sắc trầm, mất quan tâm, giảm thích thú, mệt mỏi nhiều khó tiếp tục công việc hằng ngày và hoạt động xã hội.Ít nhất phải có 2 trong số những triệu chứng chủ yếu cộng thêm 2 trong số những triệu chứng phổ biến khác ở trên để chẩn đoán xác định
Thời gian tối thiểu phải có khoảng 2 tuần và không có hoặc có những triệu chứng cơ thể nhưng nhẹ
+ Giai đoạn trầm cảm vừa
Có ít nhất 2 trong 3 triệu chứng chủ yếu đặc trưng cho giai đoạn
Trang 36 Thời gian tối thiểu là khoảng 2 tuần và có nhiều khó khăn trong hoạt động xã hội, nghề nghiệp hoặc công việc gia đình; không có hoặc có 2-3 triệu chứng cơ thể ở mức độ trầm trọng vừa phải
+ Giai đoạn trầm cảm nặng không có triệu chứng rối loạn tâm thần
Buồn chán, chậm chạp nặng hoặc kích động; mất tự tin hoặc cảm thấy vô dụng hoặc thấy có tội lỗi, nếu trầm trọng có hành vi tự sát
Triệu chứng cơ thể hầu như có mặt thường xuyên; có 3 triệu chứng điển hình của giai đoạn trầm cảm, cộng thêm ít nhất 4 triệu chứng phổ biến khác
Thời gian kéo dài ít nhất là 2 tuần, nếu có triệu chứng đặc biệt không cần đến 2 tuần; ít có khả năng hoạt động xã hội, nghề nghiệp và công việc gia đình
+ Giai đoạn trầm cảm nặng có triệu chứng rối loạn tâm thần
Thỏa mãn tất cả các tiêu chuẩn rối loạn trầm cảm và có hoang tưởng, ảo giác phù hợp với khí sắc bệnh nhân hoặc sững sờ trầm cảm
Hoang tưởng gồm tự buộc tội, hèn kém hoặc có những tai họa sắp xãy ra; ảo giác gồm áo thanh, ảo khứu, những lời phỉ báng bệnh nhân, mùi khó chịu và giảm hoặc mất vân động
+ Các giai đoạn trầm cảm khác
Các triệu chứng chính của trầm cảm không rõ ràng, có những triệu chứng cụt và không có giá trị chẩn đoán như căng thẳng, lo lắng, buồn chán và hỗn hợp các triệu chứng đau hoặc mệt nhọc dai dẳng không có nguyên nhân thực tổn còn gọi là trầm cảm ẩn
Trang 37- Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại giai đoạn trầm cảm (F31)
- Rối loạn trầm cảm tái diễn (F33)
* Trầm cảm không điển hình
Do ảnh hưởng của nhiều yếu tố,trong thực hành lâm sàng trầm cảm đã
có sự biến dạng hình ảnh lâm sang với sự xuất hiện một số dạng trầm cảm không điển hình như [14]:
- Trầm cảm suy nhược
- Trầm cảm lo âu
- Trầm cảm vật vã, kích thích
- Trầm cảm sững sờ
- Trầm cảm với hoang tưởng tự buộc tội
- Trầm cảm biểu hiện bằng rối loạn cơ thể và thực vật
- Trầm cảm loạn khí sắc
- Trầm cảm ám ảnh
- Trầm cảm nghi bệnh
1.3 Một số lí thuyết tâm lí học về trầm cảm
1.3.1 Thuyết phân tâm học của Freud về trầm cảm
Theo S.Freud,trầm cảm là một quá trình tương tự như đau buồn, trầm cảm có thể xuất hiện và tiềm ẩn từ rất sớm như trong giai đoạn trong thời thơ
ấu Khi sự xung đột bản năng giữa bản năng và bản ngã, giữa bản ngã và siêu ngã trong khi đó chủ thể không giải quyết được xung đột này - tức đưa nó về trạng thái cân bằng, chủ thể không được thỏa mãn hoặc được thỏa mãn quá dư thừa các nhu cầu của cả bản năng và siêu ngã
Khi quá đau buồn, cá nhân có thể thoái lui về giai đoạn môi miệng của
sự phát triển, như là một cơ chế phòng vệ chống lại những nỗi buồn quá lớn Điều này dẫn cá nhân đến chỗ phụ thuộc hoàn toàn vào người mà họ yêu quý,
Trang 38hậu quả là họ đồng nhất mình với những người đó và qua đó,một cách đặc trưng, họ giành lại được mối quan hệ đã mất Tiếp theo, qua một quá trình gọi
là tiếp nhận (introjection), cá nhân hướng những cảm nhận về người mà họ yêu quý đến chính bản thân
Trong bản thân chủ thể có những vấn đề tồn tại trong điều kiện bị kích hoạt bởi những sự kiện nghiêm trọng, mất mát, đau buồn xảy ra thì chủ thể đó
sẽ hướng các cảm xúc tiêu cực về mình thay vì về người khác và bắt bản thân phải chấp nhận sự tiêu cực đó Những cảm xúc tiêu cực, giận dữ đó là kết quả của những xung đột bản thân không thể giải quyết đươc.Chính những việc này qua thời gian dài sẽ khiến cho chủ thể có nhiều suy nghĩ tiêu cực, tức giận
và thù ghét bản thân dễ dẫn đến các rối loạn trầm cảm
S.Freud cho rằng trầm cảm “bình thường” là kết quả của những mất mát có tính tượng trưng hay tưởng tượng Những người dễ bị trầm cảm nhất,
là những người không thể thỏa mãn quá nhiều hay quá ít được.Những người như thế trong suốt cuộc đời mình, sẽ còn phụ thuộc vào tình yêu thương và sự chấp nhận của người khác, họ còn rất nhạy cảm với những sự kiện gây ra lo lắng hoặc những trải nghiệm mất mát[2]
1.3.2 Trầm cảm theo học thuyết nhận thức
Mô hình nhận thức đặt trọng tâm vào bộ ba nhận thức (Cognitive triad) bao gồm việc quy kết những mặt: không có giá trị (tôi không được tốt); không làm được gì (vô dụng, tôi không làm được điều gì cả) và thất vọng (Cuộc đời luôn là thế này sao?)
Thứ nhất, bằng chứng về nhận thức “không có giá trị” đến từ nghiên cứu về mối quan hệ giữa trầm cảm và cảm nhận về lòng tự trọng thấp hoặc sự thành thạo Có một mối liên hệ mạnh mẽ giữa bản thân có giá trị và khí sắc.Nghiên cứu dọc cũng cho thấy rằng lòng tự trọng thấp là một yếu tố dự báo trước trầm cảm Hơn nữa, cái nhìn tiêu cực về bản thân ở mỗi cá nhândẫn
Trang 39đến sự diễn dịch lệch lạc thông tin theo cách thức “khẳng định” niềm tin của bản thân vào sự không hoàn hảo của chính mình
Thứ hai, khái niệm của Bandura về “bản thân có hiệu quả” cho chúng
ta hiểu biết về nhận thức “vô dụng” Cảm nhận bản thân có hiệu quả nói đến niềm tin về khả năng của bản thân ảnh hưởng được đến thế giới xung quanh nhằm đạt được kết quả mong muốn
Khi không có được cảm nhận rằng có thể tạo ra được hiệu ứng bằng hành động của chính mình sẽ có ít động cơ để thực hiện hành động hoặc không đủ kiên nhẫn để đối mặt với những thách thức Bandura và cộng sự cho rằng cảm nhận kém về bản thân có hiệu quả góp phần vào trầm cảm theo ba con đường
Đầu tiên, liên quan đến cảm nhận về bản thân không có giá trị và sự chán nản, những điều này xuất hiện khi cảm thấy chính mình không có khả năng thực hiện được những mong đợi và đáp ứng được những khát vọng của mình Điều thứ hai, liên quan đến cảm nhận không hiệu quả về mặt xã hội, điều này xuất hiện khi chúng ta tin rằng bản thân không có khả năng hình thành những mối quan hệ hài lòng, làm bản thân rút lui khỏi người khác
Cơ chế thứ ba liên quan đến việc cảm nhận mình không có khả năng kiểm soát các suy nghĩ trầm cảm của chính mình Những suy nghĩ tiêu cực góp phần vào trầm cảm, những can thiệp làm thay đổi những kiểu suy nghĩ này làm giảm đi trầm cảm, những nghiên cứu gợi ý rằng những cá nhân bị trầm cảm thiếu một cảm nhận về tính hiệu quả về khả năng điều chỉnh các suy nghĩ tiêu cực của chính mình [27]
Thứ ba, Seligman và cộng sự đã góp phần thêm vào hiểu biết của chúng ta về nhận thức tuyệt vọng bằng cách thêm vào phần khác đó là qui kết nguyên nhân (Causal attribution) Ba chiều kích nhận thức liên quan đến qui kết nguyên nhân dẫn đến trầm cảm là: ở bên trong nội tâm (đó là do chính tôi); có tính ổn định (stable) (Tôi sẽ luôn luôn là như thế) và có tính toàn thể
Trang 40(global) (Mọi thứ đến với tôi đều theo cách này) Khi những sự kiện tiêu cực góp phần vào những đặc tính của cá nhân hơn là các tác nhân bên ngoài, lòng
tự trọng giảm đi khi cảm nhận vô dụng gia tăng.Khi các sự kiện tiêu cực góp phần vào các yếu tố tồn tại lâu dài thì nhận thức vô dụng có tính ổn định.Khi
sự tiêu cực được khái quát hoá đối với nhiều tình huống, cảm nhận vô dụng
có tính toàn thể
Thứ tư, kết hợp và dựa trên sự khác biệt của mô hình lý thuyết về sự tuyệt vọng tập nhiễm những người theo trường phái nhận thức đã thay đổi giải thích về trầm cảm, tiêu biểu nhất trong số đó là A.Beck (1997)
Ông cho rằng trầm cảm khởi phát từ những nhận thức sai lệch mà theo Beck gọi là ý nghĩ tiêu cực tự động đối với những sự kiện ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng ta
Trong trầm cảm, Beck gọi đáp ứng tức thời với những sự kiện này là ý nghĩ tiêu cực tự động Những ý nghĩ này có vẻ tức thời, hợp lý và trên thực tế thường được chấp nhận Tuy nhiên, một cách có hệ thống, chúng ta lại giải thích sai các sự kiện và vì thế dẫn đến trầm cảm Đặc trưng cho kiểu suy nghĩ này là sự khái quát thái quá, sự trừu tượng hóa có chọn lọc và những suy nghĩ
không dứt khoát Những điều này ảnh hưởng đến mà Beck đã đề cập là bộ ba nhận thức:niềm tin về bản thân chúng ta, sự kiện hoặc cá nhân có ảnh hưởng
đến chúng ta và tương lai chúng ta [28]
Theo Beck, những suy nghĩ có ý thức của chúng ta bị méo mó bởi các
sơ đồ trầm cảm tiềm ẩn Đó là những niềm tin vô thức về bản thân và thế giới, chúng tác động đến những suy nghĩ ý thức và được hình thành trong suốt tuổi thơ mỗi người Các sự kiện tiêu cực trong tuổi thơ, chẳng hạn như việc bị bố
mẹ từ chối, sẽ hình thành nên một sơ đồ nhận thức về bản thân và thế giới xung quanh Hầu như trong toàn bộ thời gian này, nếu chúng rõ rệt thì cá nhân bị trầm cảm mạn tính Tuy nhiên, đến tuổi trưởng thành, khi chúng ta đối mặt với những tình huống gây stress, đặc biệt là những tình huống gợi lại