Hệ thống chính trị có vai trò quan trọng trong việc trực tiếp chỉ đạo các tổ chức chính trị, xã hội, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
LÊ MINH HOA
HOÀN THIỆN TỔ CHỨC VÀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ THÀNH PHỐ
TUYÊN QUANG HIỆN NAY
U N VĂN THẠC S Chuyên ngành: Chính trị học
Hà Nội - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
LÊ MINH HOA
HOÀN THIỆN TỔ CHỨC VÀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ THÀNH PHỐ
TUYÊN QUANG HIỆN NAY
Trang 3MỤC ỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 6
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 6
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu luận văn 7
6 Đóng góp về khoa học của luận văn 7
7 Kết cấu của luận văn……… 8
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ Ý U N VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG 9
1.1 Một số vấn đề lý luận về hệ thống chính trị và hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang 9
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 9
1.1.2 Hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang 20
1.2 Hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang đối với phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của thành phố 23
1.2.1 Hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang lãnh đạo đối với phát triển kinh tế 23
1.2.2 Vai trò của hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang đối với đời sống chính trị 24 1.2.3 Trách nhiệm của hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang đối với đời sống văn hóa, xã hội 25
Tiểu kết chương 1 26
Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 27
2.1 Khái quát về thành phố Tuyên Quang 27
2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 27
2.1.2 Về xã hội, văn hóa 29
2.1.3 Về kinh tế 30
Trang 42.2 Những ưu điểm và hạn chế về tổ chức và đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính
trị thành phố Tuyên Quang 31
2.2.1 Những ưu điểm trong xây dựng tổ chức và đội ngũ cán bộ 31
2.2.2 Những hạn chế trong xây dựng tổ chức và đội ngũ cán bộ và nguyên nhân 44
2.3 Những vấn đề đặt ra đối với việc hoàn thiện tổ chức và đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang 47
2.3.1 Những vấn đề đặt ra đối với việc hoàn thiện tổ chức bộ máy 47
2.3.2 Những vấn đề đặt ra đối với việc hoàn thiện đội ngũ cán bộ 50
Tiểu kết chương 2 53
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC VÀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG HIỆN NAY 54
3.1 Dự báo những nhân tố tác động đến việc hoàn thiện tổ chức và đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang 54
3.1.1 Tác động từ tình hình thế giới 54
3.1.2 Tác động từ tình hình trong nước 56
3.2 Phương hướng hoàn thiện tổ chức và đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang 59
3.2.1 Hoàn thiện tổ chức và đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội của địa phương 59
3.2.2 Hoàn thiện tổ chức và đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang phù hợp với đặc điểm, điều kiện thành phố Tuyên Quang 62
3.2.3 Hoàn thiện tổ chức và đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang phải đặt trong tổng thể hoàn thiện tổ chức và đội ngũ cán bộ hệ thống chính trị tỉnh Tuyên Quang 64
3.3 Giải pháp hoàn thiện tổ chức và đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang hiện nay 66
3.3.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện tổ chức 66
3.3.2 Nhóm giải pháp hoàn thiện đội ngũ cán bộ 73
3.3.3 Những giải pháp mang tính đặc thù của tỉnh Tuyên Quang trong hoàn thiện tổ chức và đội ngũ cán bộ………78
Trang 5Tiểu kết chương 3 79
KẾT U N 80 DANH MỤC TÀI IỆU THAM KHẢO 83
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị - xã hội bao gồm các đảng chính trị, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp được liên kết với nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vào các quá trình của đời sống xã hội, để củng cố, duy trì và phát triển chế độ chính trị phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền
Hệ thống chính trị ở Việt Nam là cơ chế, là công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Hệ thống chính trị
ở Việt Nam hiện nay bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức như: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam Đây là các tổ chức chính trị - xã hội được thành lập trên
cơ sở tự nguyện, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các thành viên, hội viên tổ chức mình và cùng các thành viên khác của Mặt trận phối hợp và thống nhất hành động trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Hệ thống chính trị có vai trò quan trọng trong việc trực tiếp chỉ đạo các
tổ chức chính trị, xã hội, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng khẳng định 6 nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ 2016 - 2021, trong đó có 2 nhiệm vụ đầu tiên là về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị đó là: Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối
Trang 7sống, biểu hiện “ tự diễn biến”, “ tự chuyển hóa” trong nội bộ; Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín ngang tầm nhiệm vụ xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu
Thành phố Tuyên Quang là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Tuyên Quang Những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, cùng với việc phát huy nội lực, các cấp ủy đảng, chính quyền và nhân dân thành phố Tuyên Quang đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể: Kinh tế không ngừng phát triển, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng lên; quốc phòng, an ninh được giữ vững; hệ thống chính trị cơ sở ngày càng được củng cố…
Tuy nhiên, thành phố Tuyên Quang cũng còn nhiều khó khăn, thách thức như nguồn lực đầu tư cho phát triển còn hạn chế; kinh tế phát triển chưa tương xứng với tiềm năng; đời sống của một bộ phận nhân dân còn khó khăn Công tác quản lý Nhà nước trên một số lĩnh vực và địa bàn có lúc thiếu chặt
chẽ, chưa hiệu quả; cải cách hành chính chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn
Trong hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang còn bộc lộ nhiều hạnchế về tổ chức bộ máy và chất lượng đội ngũ cán bộ cần khắc phục như: Chưa xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của các thành viên trong hệ thống chính trị; nội dung và phương thức hoạt động của các tổ chức còn chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội; trình độ quản lý và năng lực điều hành công tác của đội ngũ cán bộ còn nhiều hạn chế , chưa ngang tầm với yêu cầu đổi mới, hội nhập và phát triển của thành phố
Thực tiễn đang đặt ra yêu cầu về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của
hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ thành phố Tuyên Quang nhằm đưa Thành phố phát triển ngang tầm, nhiệm vụ trong tình hình mới Việc hoàn
Trang 8thiện tổ chức và đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang trong giai đoạn hiện nay là yêu cầu cấp thiết, vì đây là cơ sở cho sự xây dựng phát triển, hệ thống chính trị của tỉnh Tuyên Quang nói chung và thành phố Tuyên Quang nói riêng
Việc nghiên cứu quá trình hoàn thiện tổ chức và đội ngũ cán bộ trong
hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang đang đặt ra cấp thiết và có ý nghĩa khoa học, thực tiễn sâu sắc, nhưng đến nay chưa có công trình nào được công
bố, nghiên cứu một cách hệ thống, dưới góc độ chính trị học
Với các lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Hoàn thiện tổ chức và đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang hiện nay” làm
luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Chính trị học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến đề tài luận văn đã có các công trình nghiên cứu được công
bố trong thời gian qua với các nhóm nội dung sau:
Nhóm thứ 1: Những nghiên cứu về hệ thống chính trị nói chung
- GS Nguyễn Đức Bình, GS-PTS Trần Ngọc Hiên, GS Đoàn Trọng
Truyền, Nguyễn Văn Thảo, PGS-PTS Trần Xuân Sầm (đồng chủ biên), “Đổi
mới và tăng cường hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn hiện nay”
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội, 1999 Đây là cuốn sách nghiên cứu một cách sâu sắc việc xây dựng hệ thống chính trị ở Việt Nam
- TS Vũ Hoàng Công, “ Hệ thống chính trị cơ sở, đặc điểm – xu hướng
và giải pháp”, Nxb Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002
Cuốn sách trình bày những vấn đề lý luận cơ bản của hệ thống chính trị Việt nam nói chung và hệ thống chính trị cơ sở (cấp xã) nói riêng; từ đó rút ra những đặc điểm và kiến nghị những giải pháp cơ bản trong việc củng cố, nâng cao hiệu quả của hệ thống chính trị cấp cơ sở
Trang 9- TS Chu Văn Thành (chủ biên) “Hệ thống chính trị cơ sở - Thực
trạng và một số giải pháp đổi mới”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004
Cuốn sách trình bày về hệ thống chính trị và các giải pháp cần đổi mới hệ thống chính trị cấp cơ sở trong giai đoạn hiện nay
- Công trình “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chủ chốt của hệ
thống chính trị cấp tỉnh, thành phố” (Qua kinh nghiệm Hà Nội) của tác giả
Cao Khoa Bảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008 Tác giả đã phân tích
vị trí, vai trò cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị, chủ yếu là cấp tỉnh, thành phố; xác định phương hướng và các giải pháp chủ yếu để xây dựng đội ngũ, cán bộ, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch; nâng cao chất lượng công tác, bồi dưỡng cán bộ
Nhóm thứ 2: Những nghiên cứu về tổ chức và đội ngũ cán bộ nói
chung và đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị
- Tô Huy Rứa với tác phẩm: Mô hình tổ chức và hoạt động của hệ
thống chính trị ở một số nước trên thế giới, Nxb Chính trị quốc gia, 2008
Cuốn sách đưa ra những đánh giá chung về các mô hình hệ thống chính trị có tính chất đại diện cho các hệ tư tưởng chính trị cũng như tiêu biểu cho các nền văn hoá và trình độ phát triển xã hội; vận dụng những giá trị văn minh chính trị ở các nước tư bản vào thực tiễn Việt Nam hiện nay
Bên cạnh đó còn có các bài viết về vận dụng chủ trương của Đảng trong công tác cán bộ và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ vào từng địa phương, cụ thể như:
- Bài viết của tác giả Nguyễn Sáng Vang - Nâng cao chất lượng đào
tạo đội ngũ cán bộ, công chức ở Tuyên Quang, Tạp chí Cộng sản, số 814
(8/2010) Tác giả tập trung làm rõ thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ở tỉnh Tuyên Quang và đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời gian tới
Trang 10- “Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức viên chức trong tình hình hiện nay”, của tác giả Hà Vũ Tuyến, tạp chí
Lịch sử Đảng, số tháng 7 – 2013 Tác giả tập trung làm rõ vai trò trách nhiệm của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của Đảng bộ tỉnh Vĩnh phúc trong thời gian tới
Các bài tạp chí trên đề cập công tác cán bộ nói chung, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói riêng, nhấn mạnh yêu cầu về trình độ chuyên môn, cũng như kỹ năng quản lý của cán bộ lãnh đạo ở các địa phương để từ đó có những giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ, cán bộ trong giai đoạn hiện nay
- Luận án tiến sỹ: “Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ chủ chốt từ năm 1997 đến năm 2021”, của tác giả Bùi Ngọc Hà
(2015) Luận án làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nhất là cán bộ chủ chốt trong những năm qua
- Luận văn thạc sỹ: “Xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số
ở tỉnh Tuyên Quang trong giai đoạn hiện nay”, của tác giả Chu Văn Liều
(2016) Luận văn tập trung làm rõ công tác xây dựng đội ngũ cán bộ đặc biệt là cán
bộ dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang và đưa ra các giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang trong giai đoạn hiện nay
Các luận án, luận văn trên đã đề cập về tổ chức và đội ngũ cán bộ trong
hệ thống chính trị, luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc hoàn thiện tổ chức và đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu đặt ra ở nhiều địa phương khác nhau Tuy nhiên hoàn thiện tổ chức và đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị ở các địa phương (cấp thành phố) cũng còn ít tác giả đề cập tới
Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu và các bài tạp chí khác bàn
về hoàn thiện tổ chức và đội ngũ cán bộ nói chung và hoàn thiện tổ chức và đội
Trang 11ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị nói riêng Nhưng thực tế cho thấy đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp, chuyên sâu dưới góc độ chính trị học về hoàn thiện tổ chức và đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở khảo sát và đánh giá thực trạng về tổ chức và đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang, từ đó đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện tổ chức và đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương hiện nay
Để đạt được mục đích trên, luận văn hướng vào giải quyết các nhiệm
vụ cơ bản như:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về hoàn thiện tổ chức và đội ngũ cán
bộ trong hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang nói riêng
- Khảo sát thực trạng, làm rõ ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế trong việc xây dựng tổ chức và đội ngũ cán bộ thuộc hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang giai đoạn 2011 - 2016
- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện tổ chức và đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hiện nay
4 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Là tổ chức và đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
Trang 124.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Khảo sát thực trạng tổ chức và đội ngũ cán bộ thuộc hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang; đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện trong thời gian tới
- Về không gian: Cơ bản nghiên cứu trên địa bàn thành phố Tuyên Quang; có so sánh với việc hoàn thiện tổ chức và đội ngũ cán bộ hệ thống chính trị một vài huyện có hoàn cảnh, điều kiện tương đồng với thành phố Tuyên Quang
- Về thời gian: Khảo sát thực trạng tổ chức và đội ngũ cán bộ hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang từ năm 2011 đến 2016
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu luận văn
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu cơ bản của luận văn là phương pháp lôgic với phương pháp lịch sử và các phương pháp như phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh…
6 Đóng góp về khoa học của luận văn
- Cung cấp thêm nguồn tư liệu, nhất là tư liệu địa phương về công tác
hoàn thiện tổ chức và đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị
- Góp phần tổng kết, đánh giá về công tác xây dựng tổ chức và đội ngũ
cán bộ trong hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang
Trang 13- Những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể tham khảo vận dụng ở các địa bàn có điều kiện tương đồng, nhất là ở khu vực miền núi phía Bắc
7 Kết cấu của luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo và phụ lục, luận văn kết cấu gồm 3 chương, 9 tiết
Trang 14Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ Ý U N VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG 1.1 Một số vấn đề lý luận về hệ thống chính trị và hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
Khái niệm chính trị
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia cho rằng: Chính trị là tất cả những hoạt động, những vấn đề gắn với quan hệ giai cấp, dân tộc, quốc gia và các nhóm xã hội xoay quanh một vấn đề trung tâm đó là vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước
Theo Đại Từ Điển tiếng Việt: “chính trị” là “Những vấn đề về điều hành
bộ máy nhà nước hoặc những hoạt động của giai cấp, chính đảng nhằm giành hoặc duy trì quyền điều hành nhà nước; những hiểu biết về mục đích, về đường lối và nhiệm vụ đấu tranh của các chính đảng cũng như của đông đảo quần chúng [65, tr.339]
Trong những năm qua, có nhiều công trình khoa học đã đưa ra định nghĩa
về “chính trị” và “hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa”, đáng chú ý là định nghĩa trong cuốn sách: Đổi mới và tăng cường hệ thống chính trị ở nước ta
trong giai đoạn mới do GS Nguyễn Đức Bình, GS.TS Trần Ngọc Hiển đồng
chủ biên Các nhà khoa học cho rằng: “Chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc, giữa các quốc gia có liên quan tới vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước, là biểu hiện tập trung của kinh tế, là những phương hướng, những mục tiêu được quy định bởi những lợi ích cơ bản của các giai cấp, các đảng phái, các nhà nước để hiện thực hóa lợi ích cơ bản của mình trong mối tương quan với các chủ thể chính trị khác” [1, tr.38-39]
Trang 15Từ những quan niệm nêu trên có thể khái quát về chính trị như sau:
gắn với vấn đề giành, giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước; là sự tham gia của nhân dân vào công việc của nhà nước và của xã hội, là hoạt động chính trị thực tiễn của giai cấp, các đảng phái chính trị, các nhà nước nhằm tìm kiếm những khả năng thực hiện đường lối và những mục tiêu đã đề ra
Khái niệm hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị xuất hiện cùng với sự xuất hiện của giai cấp, nhà nước nhằm thực hiện đường lối chính trị của giai cấp, đảng phái cầm quyền, do
đó hệ thống chính trị mang bản chất phản ánh lợi ích của giai cấp cầm quyền
Hệ thống chính trị là một bộ phận kiến trúc thượng tầng xã hội, bao gồm các thiết chế và thể chế có quan hệ với nhau về mặt mục tiêu, chức năng trong việc thực hiện quyền lực chính trị Trong các sách, báo và công trình nghiên cứu khoa học hiện nay, khái niệm “hệ thống chính trị” thường được hiểu theo hai nghĩa:
Theo nghĩa rộng, khái niệm “hệ thống chính trị” được sử dụng để chỉ
toàn bộ lĩnh vực chính trị của đời sống xã hội với tư cách là một hệ thống hoàn chỉnh bao gồm các tổ chức, các chủ thể chính trị, các quan điểm, quan
hệ chính trị, hệ tư tưởng và các chuẩn mực chính trị
Theo nghĩa hẹp, khái niệm “hệ thống chính trị” được sử dụng để chỉ
hệ thống các cơ quan, tổ chức thực hiện các hoạt động mang tính chính trị trong xã hội gồm đảng chính trị, cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội có mối liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với quyền lực chính trị Trong đó, nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị và là nền tảng của hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị là một bộ phận kiến trúc thượng tầng xã hội, bao gồm các tổ chức có quan hệ với nhau về mặt mục đích, chức năng trong việc
Trang 16thực hiện, tham gia thực hiện quyền lực chính trị hoặc đưa ra các quyết định chính trị
Hệ thống chính trị bao gồm các tổ chức với tư cách là chủ thể của các quyết định chính trị Hệ thống có tính hợp pháp, là hệ thống tổ chức được Hiến pháp, pháp luật quy định, được xã hội, Nhà nước thừa nhận, không đối lập với Nhà nước, pháp luật, chế độ chính trị hiện hành Các tổ chức, thiết chế trong hệ thống có mục địch, chức năng thực hiện, tham gia thực hiện quyền lực nhà nước, quyền lực chính trị; thực hiện hoặc tham gia vào các quyết định chính trị, vào việc thực hiện các chính sách quốc gia Đây là cơ sở quan trọng
để phân biệt các tổ chức của hệ thống chính trị với các tổ chức có mục đích hoặc chức năng kinh tế – xã hội rất đa dạng khác
Ở Việt Nam, khái niệm “hệ thống chính trị” lần đầu tiên được Đảng Cộng sản Việt Nam sử dụng trong Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khoá VI (tháng 3-1989) thay cho khái niệm “hệ thống chuyên chính vô sản” Cấu trúc hệ thống chính trị gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội Hệ thống chính trị Việt Nam vận hành theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa
là sự kế thừa và phát triển các thành tựu về tổ chức và hoạt động của hệ thống chuyên chính vô sản trong các giai đoạn trước đổi mới, đồng thời phản ánh một hiện thực mới về chính trị và dân chủ trong điều kiện đổi mới kinh tế - xã hội ở Việt Nam
Hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay là hệ thống các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp hiện nay Hiến pháp năm 2013 và các đạo luật khác của nhà nước Tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị được quy định bởi các nguyên tắc chủ yếu là tất cả quyền
Trang 17lực thuộc về nhân dân, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay là một chỉnh thể gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp và mối quan hệ qua lại giữa các tổ chức đó nhằm đảm bảo mọi quyền lực thuộc về nhân dân, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Đảng Cộng sản Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trị nhưng là bộ
phận hạt nhân lãnh đạo của toàn bộ hệ thống chính trị Vai trò lãnh đạo của Đảng thể hiện bằng việc Đảng đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối, chiến lược, những quan điểm, chủ trương phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời Đảng
là người lãnh đạo và tổ chức thực hiện Cương lĩnh, đường lối của Đảng
Đảng lãnh đạo xã hội chủ yếu thông qua Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội Đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng được Nhà nước thể chế hóa, cụ thể bằng pháp luật và những chủ trương, chính sách, kế hoạch, chương trình cụ thể Ngoài ra, Đảng lãnh đạo bằng phương pháp giáo dục, thuyết phục
và nêu gương, làm công tác vận động quần chúng, lãnh đạo thực hiện tốt quy chế dân chủ
Nhà nước Việt Nam là trụ cột của hệ thống chính trị ở Việt Nam, là
công cụ tổ chức thực hiện ý chí và quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân để quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội Đó chính là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Mặt khác, Nhà nước chịu sự lãnh đạo của Đảng, Đảng lãnh đạo Nhà nước thực hiện và đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân
Như vậy, Nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là cơ quan quyền lực, vừa là bộ máy hành chính, vừa là tổ chức quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội của nhân dân
Trang 18Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hôi:
Mặt trân Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính tri – xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư nước ngoài
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; Tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại, nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân là các tổ chức thể hiện ý chí, nguyện vọng và phát huy quyền làm chủ thông qua bầu cử Quốc hội và Hội đồng Nhân dân; tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; thực hiện giám sát của nhân dân với cán bộ, công chức và giải quyết những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân
Các tổ chức chính trị - xã hội có nhiệm vụ giáo dục chính trị tư tưởng, động viên và phát huy tính tích cực xã hội của các tầng lớp nhân dân, góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị; chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng và hợp pháp của nhân dân; tham gia vào công việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, giữ vững và tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần thực hiện và thúc đẩy quá trình dân chủ hoá và đổi mới xã hội, thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ
Quan niệm về tổ chức trong hệ thống chính trị
Trang 19Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Tổ chức là các hoạt động cần
thiết để xác định cơ cấu, guồng máy của hệ thống, xác định những công việc phù hợp với từng nhóm, từng bộ phận và giao phó các bộ phận cho các nhà quản trị hay người chỉ huy với chức năng nhiệm vụ và quyền hạn nhất định để thực hiện nhiệm vụ được giao Việc tổ chức này gọi là tổ chức bộ máy Hoạt động tổ chức còn là việc bố trí sắp xếp việc thực hiện các công việc trong một cơ cấu tổ chức” [14, tr 80]
Dưới góc độ triết học “Tổ chức, nói rộng là cơ cấu tồn tại của sự vật Sự vật không thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội dung Tổ chức vì vậy là thuộc tính của bản thân các sự vật”
Dưới góc độ khoa học tổ chức và quản lý: Tổ chức với nghĩa hẹp là “tập thể của con người tập hợp nhau lại để thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm đạt tới một mục tiêu xác định của tập thể đó” Quan niệm về tổ chức theo Khoa học tổ chức và quản lý xác định tổ chức thuộc về con người, là của con người trong
xã hội; vì là tổ chức của con người, có các hoạt động chung, do vậy mục tiêu của tổ chức là một trong những điều kiện quan trọng, không thể thiếu của tổ chức
Khi tìm hiểu khái niệm chung về tổ chức cần chú ý những nội dung cơ bản như:
Tổ chức là của con người trong xã hội gắn với một hình thái kinh tế -
xã hội và một kiểu nhà nước
Con người trong tổ chức gắn kết với nhau bởi những mục đích xác định
và hành động để đạt đến mục tiêu chung
Có phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và cơ cấu xác định Được hình thành và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định phù hợp với quy định pháp luật
Trang 20Từ những lập luận trên, có thể đưa ra định nghĩa về tổ chức như sau: Tổ chức là tập hợp những con người trong xã hội có phạm vi, chức năng, nhiệm
vụ, thẩm quyền, cơ cấu xác định; được hình thành và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định phù hợp với quy định pháp luật nhằm gắn kết con người với nhau bởi những mục đích xác định và hành động để đạt đến mục tiêu chung…
“Tổ chức” là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau trong đó có khoa học tổ chức nhà nước Thuật ngữ “Tổ chức” được nhiều ngành khoa học sử dụng với ý nghĩa không giống nhau
Tổ chức là sự sắp xếp người một cách có hệ thống nhằm thực hiện một mục đích nào đó…Với quan niệm như trên, tổ chức có ba đặc tính: Một là, mỗi một tổ chức đều được hình thành và tồn tại vì một mục đích nào đó; sự khác biệt về mục đích của mỗi tổ chức dẫn đến sự khác biệt giữa tổ chức này
và tổ chức khác; hai là, mỗi tổ chức phải là tập hợp gồm nhiều thành viên; ba
là, tất cả các tổ chức đều được xây dựng theo một trật tự nhất định
Tổ chức cũng được coi là một hệ thống các hoạt động do hai hay nhiều người phối hợp với nhau nhằm đạt được mục tiêu chung Theo quan niệm này, tổ chức bao gồm các yếu tố cấu thành sau:
Những người trong tổ chức đều phải làm việc hướng tới một mục tiêu chung của tổ chức
Phối hợp các nỗ lực của những con người trong tổ chức là nền tảng tạo nên tổ chức
Hệ thống chính trị gồm nhiều tổ chức bộ máy, mỗi tổ chức bộ máy có
vị trí, vai trò khác nhau do chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, nhưng cùng tác động vào các quá trình phát triển kinh tế - xã hội nhằm đảm bảo quyền lực của nhân dân
Trang 21Quan niệm về đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị
Trong đời sống xã hội, theo cách hiểu thông thường, cán bộ được coi là tất cả những người thoát ly, làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể, quân đội, được hưởng lương
Tại điều 4, khoản 1, Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định:
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trong biên chế
và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước [42, tr.8]
Tại điều 4, khoản 1, Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định:
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [42, tr.8]
Tại điều 2, Luật cán bộ, công chức năm 2010 quy định:
Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc,
Trang 22hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật
Khái niệm “đội ngũ” được dùng rộng rãi trong các tổ chức, như đội ngũ
cán bộ công nhân viên, đội ngũ trí thức, đội ngũ cán bộ khoa học, đội ngũ y, bác sỹ khái niệm đội ngũ cán bộ được quan niệm gồm nhiều người tập hợp thành một lực lượng hoàn chỉnh
Là tập hợp nhiều người có cùng chức năng, nhiệm vụ và nghề nghiệp Các quan niệm về “đội ngũ” tuy có khác nhau nhưng đều thống nhất ở chỗ: Đội ngũ là tập hợp một số người thành một lực lượng để thực hiện một hay một số chức năng, nhiệm vụ nhất định
Nội hàm “đội ngũ cán bộ” cũng bao gồm nhiều nội dung Xét về mặt
cấu trúc, có thể quan niệm đội ngũ cán bộ bao gồm hai bộ phận: Bộ phận thứ
nhất, gồm những cán bộ được hình thành qua con đường đào tạo tại các
trường; bộ phận thứ hai, gồm những người cán bộ được hình thành qua con
đường bầu cử hoặc đề bạt, bổ nhiệm
Xét về loại hình đội ngũ cán bộ, có thể phân thành các loại
- Cán bộ đảng và đoàn thể;
- Cán bộ Nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp);
- Cán bộ kinh tế và quản lý kinh tế;
- Cán bộ khoa học - kỹ thuật, văn hóa, giáo dục, y tế, thể thao, xã hội và cán bộ quản lý thuộc các ngành này;
- Cán bộ lực lượng vũ trang
Đội ngũ cán bộ có vị trí, vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp cách mạng, quyết định sự thành bại của cách mạng Theo Hồ Chí Minh “cán bộ là cái gốc của mọi công việc Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” Vai trò quan trọng và quyết định của đội ngũ cán bộ được thể hiện:
Trang 23Đội ngũ cán bộ là người trực tiếp đề ra chủ trương chính sách, kế hoạch hoạt động của mỗi cơ quan đơn vị Muốn có đường lối chủ trương, chính sách đúng, có kế hoạch tốt thì trước hết phải có một đội ngũ cán bộ có trình độ, năng lực, có đạo đức, tâm huyết với sự nghiệp cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng và sự nhạy bén chính trị Cán bộ thiếu trình độ kiến thức, không nắm vững quy luật thì rất dễ đưa ra những chủ trương chính sách sai lầm, làm chệch hướng mục tiêu, đường lối cách mạng và do đó sư nghiệp cách mạng sẽ thất bại
Đội ngũ cán bộ là người trực tiếp tổ chức triển khai đường lối, chủ trương chính sách trong thực tiễn, trực tiếp tuyên truyền vận động nhân dân,
tổ chức các phong trào cách mạng của nhân dân thực hiện chủ trương đường lối chính sách của Đảng Như vậy, đội ngũ cán bộ quyết định việc hiện thực hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước vào đời sống thực tiễn Hay nói cách khác, đội ngũ cán bộ quyết định trực tiếp đến kết quả và thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của Đảng
Mối quan hệ giữa tổ chức và đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay
Tổ chức là bộ máy bao gồm đội ngũ cán bộ trong bộ máy đó Đội ngũ cán bộ quyết định chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức Quy mô và chức năng, nhiệm vụ của tổ chức quyết định số lượng cán bộ và trình độ, năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ
Xây dựng đội ngũ cán bộ là khâu then chốt của công tác xây dựng Đảng, khâu trọng yếu trong quy trình lãnh đạo của Đảng Đảng phải xây dựng đội ngũ cho các tổ chức trong hệ thống chính trị và toàn xã hội Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Quán triệt và nghiêm túc thực hiện quan điểm Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy quyền và trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ” [23, tr.206] Vì thế, Đảng phải trực tiếp nắm vấn
Trang 24đề cán bộ, từ việc định ra đường lối, chính sách cán bộ đến việc quyết định bố trí cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong các cơ quan nhà nước và đoàn thể nhân dân, chuẩn bị cán bộ cho cả hệ thống chính trị, trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; thông qua các tổ chức đảng để thực hiện đường lối, chính sách cán bộ Đảng phân công, phân cấp quản lý cán bộ cho các cấp ủy và các tổ chức đảng, đồng thời thường xuyên kiểm tra việc thực hiện công tác cán bộ của các ngành, các cấp, coi đây là một việc quan trọng bậc nhất của lãnh đạo
Tổ chức và đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị ở Việt Nam có mối quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình hoàn thiện bộ máy hiện nay
Xây dựng Đảng về tổ chức là xây dựng hệ thống tổ chức, bộ máy của
hệ thống chính trị (Đảng, Nhà nước, Mặt trận, các đoàn thể chính trị - xã hội)
từ Trung ương đến cơ sở thật sự khoa học, tinh gọn, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ phẩm chất, bản lĩnh và năng lực để luôn có nhận thức đúng, nhanh nhạy, sáng tạo ; xây dựng tổ chức cơ sở Đảng, đảng viên
từ các chi bộ thật sự trong sạch, vững mạnh, đủ sức chiến đấu và lãnh đạo, tổ chức thực hiện thắng lợi mọi đường lối, chủ trương và các nghị quyết của Đảng; thực hiện bảo vệ chính trị nội bộ…
Đối với các tổ chức đảng và từng cán bộ, đảng viên, tăng cường xây dựng Đảng về đạo đức là không quan liêu, lãng phí, tham ô, là “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; có lối sống khiêm tốn, giản dị, trung thực, nêu cao tinh thần trách nhiệm; tích cực học tập lý luận, r n luyện chuyên môn, nâng cao trình độ về mọi mặt…, đó cũng chính là giải pháp cơ bản nhất hiện nay để củng cố và tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng, tiếp tục tạo dựng niềm tin trong nhân dân Trong Di chúc, Bác đã nhấn mạnh, xây dựng Đảng về đạo đức đặt ra yêu cầu cơ bản đối với mỗi cán bộ, đảng viên, đó là
“phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư… phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung
Trang 25thành của nhân dân” Trong thời điểm hiện nay, mỗi cán bộ, đảng viên càng cần phát huy gương mẫu, nêu gương đi đầu trong tu dưỡng r n luyện đạo đức, giữ gìn lối sống để quần chúng làm theo
Cấu trúc hệ thống chính trị cấp cơ sở thành phố Tuyên Quang bao gồm: Đảng ủy (Chi ủy); Chính quyền (Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân); Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cơ sở
Tổ chức trong hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang
Tổ chức trong hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang bao gồm: Bộ máy Ban chấp hành Đảng bộ (Thành ủy), Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Mặt trận tổ quốc Việt Nam thành phố Tuyên Quang và các tổ chức chính trị - xã hội thành phố (Liên đoàn Lao động, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thành phố)
Tổ chức hệ thống cấp cơ sở thành phố Tuyên Quang bao gồm: Bộ máy Đảng ủy, Chi ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cấp cơ sở (Đoàn thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ)
Trang 26Các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc Thành ủy: 05 cơ quan (Văn phòng Thành ủy, Ban Tổ chức Thành ủy, Ủy ban Kiểm tra Thành ủy, Ban Tuyên giáo Thành ủy, Ban Dân vận Thành ủy)
Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố: 12 cơ quan chuyên môn (Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thành phố, Phòng Nội vụ thành phố, Phòng Tài chính - Kế hoạch thành phố, Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố, Phòng Kinh tế thành phố, Phòng Văn hóa và Thông tin thành phố, Phòng Tư pháp thành phố, Phòng Y tế thành phố, Phòng Quản lý đô thị thành phố, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố, Thanh tra thành phố)
Các đơn vị sự nghiệp thuộc Ủy ban nhân dân thành phố: 03 đơn vị (Trung tâm Văn hóa - Thông tin - Thể thao thành phố, Đài Truyền thanh - Truyền hình thành phố, Trạm Khuyến nông thành phố)
Các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc, các tổ chức chính trị - xã hội thành phố: 06 cơ quan (Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc thành phố, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thành phố, Liên đoàn Lao động thành phố, Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố, Hội Nông dân thành phố, Hội Cựu chiến binh thành phố)
Các tổ chức trong hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang có mối quan
hệ mật thiết với nhau cùng thực hiện các chức năng, nhiệm vụ phát triển kinh tế -
xã hội của thành phố Tuyên Quang
Hoàn thiện tổ chức trong hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang là
cơ cấu lại bộ máy của tổ chức, là kiện toàn hệ thống chính trị từ cấp thành phố đến cơ sở, bảo đảm bộ máy đồng bộ, tinh gọn, ổn định, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ
Trang 27Đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang bao gồm những cán bộ chủ chốt của Đảng bộ thành phố, của chính quyền thành phố, của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Tuyên Quang và các tổ chức chính trị - xã hội từ thành phố đến cơ sở
Thực hiện yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo theo quan điểm của Đại hội Đảng lần thứ XII là: "Quán triệt và nghiêm túc thực hiện quan điểm Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy quyền và trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các
tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ" [23, tr.206]
Hoàn thiện đội ngũ cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ, giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, phát huy truyền thống yêu nước
và đoàn kết dân tộc; gắn việc xây dựng đội ngũ cán bộ với xây dựng tổ chức,
cơ chế, chính sách Thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân, nâng cao trình độ để tuyển chọn, giáo dục, r n luyện, bồi dưỡng cán bộ Trong bố trí cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm
vụ để chọn người có đạo đức, trình độ chuyên môn phù hợp cho công việc; nghĩa là công tác cán bộ phải xuất phát từ việc để tìm người, chứ không xuất phát từ người để sinh ra công việc
Nắm vững tiêu chuẩn cán bộ trong thời kỳ mới, có kế hoạch tạo nguồn
và xây dựng quy hoạch cán bộ, đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, thị trấn Nâng cao chất lượng công tác đánh giá, quy hoạch cán bộ; đổi mới, trẻ hoá đội ngũ lãnh đạo, quản lý trên cơ sở đảm bảo tiêu chuẩn, kết hợp các độ tuổi, đảm bảo tính liên tục, kế thừa và quan tâm tới cán bộ nữ
Để có được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có đủ năng lực, phẩm chất, hoàn thành nhiệm vụ, Đảng bộ thành phố Tuyên Quang phải xây dựng được đội ngũ cán bộ kế cận có đủ đức, đủ tài để đảm đương nhiệm vụ nhằm
r n luyện cả năng lực, phẩm chất cán bộ lãnh đạo, quản lý
Trang 281.2 Hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang đối với phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của thành phố
1.2.1 Hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang lãnh đạo đối với phát triển kinh tế
Nhiệm vụ trọng tâm của thành phố Tuyên Quang là phát triển kinh tế thành phố Để đạt được mục tiêu đó Đảng bộ thành phố Tuyên Quang có vai trò quyết định nhất trong việc đề ra các chính sách, kế hoạch phù hợp với điều kiện thành phố Tuyên Quang, Chỉ đạo các tổ chức chính quyền trong hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế tập trung vào các ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố, đảm bảo thu hút vốn đầu tư trong tỉnh và ngoài tỉnh đầu tư phát triển các công trình đảm bảo nâng cao kết cấu hạ tầng, các ngành, khu công nghiệp đảm bảo nâng cao đời sống của nhân dân
Các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang có vai trò chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh theo kế hoạch Tuyên truyền, vận động các thành viên trong tổ chức tập hợp, đoàn kết nhân dân thực hiện các chương trình, kế hoạch các mục tiêu kinh tế đã đề ra Các tổ chức chính trị, xã hội thành phố Tuyên Quang là nòng cốt trong phát huy sức mạnh của nhân dân thực hiện các mục tiêu kinh tế, phấn đấu đưa thành phố Tuyên Quang trở thành đô thị loại II trong thời gian tới
Thành ủy Tuyên Quang có vai trò đề ra các phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu đổi mới tổ chức, cơ chế, chính sách, tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế-xã hội nhanh và bền vững; khơi gợi mọi tiềm năng, huy động các nguồn lực xây dựng cơ sở vật chất, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
Trang 29Chính quyền từ thành phố đến cơ sở có vai trò tổ chức thực hiện 3 nhiệm vụ trọng tâm: Xây dựng, quản lý, phát triển đô thị; phát triển du lịch trở thành trung tâm trong các ngành dịch vụ; phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với xây dựng thương hiệu sản phẩm
1.2.2 Vai trò của hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang đối với đời sống chính trị
Hệ thống chính trị của thành phố Tuyên Quang có vai trò quan trọng trong xây dựng đời sống chính trị thành phố thể hiện qua việc nâng cao hiệu quả, hiệu lực của chính quyền các cấp; phát huy vai trò của nhân dân thành phố trong thực hiện nhiệm vụ chính trị trên địa bàn Nhờ vậy, nhiều chủ trương, nghị quyết của Đảng bộ, chính quyền các cấp đã nhận được sự ủng hộ, đồng tình của nhân dân, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh – quốc phòng trên địa bàn, tạo niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ thành phố trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
Với mục tiêu xây dựng thành phố Tuyên Quang trở thành đô thị loại II vào năm 2020, Đảng bộ thành phố đã lãnh đạo chính quyền, các đoàn thể triển khai thực hiện hiệu quả đề án xây dựng thành phố Tuyên Quang xanh, sạch đẹp gắn với phong trào xây dựng tuyến phố văn minh, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” Các đoàn thể các cấp trên địa bàn đã tích cực tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên và nhân dân thực hiện tốt các các phong trào gắn với những phong trào, hoạt động cụ thể của tổ chức mình Cụ thể, các chi hội phụ nữ, cựu chiến binh, đoàn thanh niên ở các xã, phường đã xây dựng được hàng trăm tuyến phố tự quản, xanh sạch, đẹp, góp phần xây dựng đô thị văn minh; nhân dân đã tích cực tham gia đóng góp tiền của, công lao động xây dựng hàng chục nhà văn hóa, sân chơi thể thao, tổng số tiền lên đến hàng tỷ đồng…
Trang 30Với sự vào cuộc tích cực, sự tuyên truyền, vận động hiệu quả của chính quyền các cấp, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, các phong trào, hoạt động trên địa bàn thành phố đã được nhân dân đồng tình hưởng ứng Qua đó, tạo sự đồng thuận trong nhân dân, phát huy được tinh thần đoàn kết trong cộng đồng dân cư
1.2.3 Trách nhiệm của hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang đối với đời sống văn hóa, xã hội
Sự phát triển văn hóa, xã hội là một trong những yếu tố cơ bản trong quá trình phát thành phố Tuyên Quang
Việc tổ chức các sự kiện văn hóa, xã hội của thành phố Tuyên Quang luôn được Đảng bộ thành phố Tuyên Quang quan tâm, chỉ đạo sát sao trong công tác điều hành các lễ hội trong tỉnh cũng như trong khu vực miền núi phía Bắc Bên cạnh đó là vai trò quan trọng của các tổ chức trong hệ thống chính trị nhất là các
tổ chức chính trị, xã hội đã đóng góp một phần không nhỏ để phát huy các lễ hội văn hóa phục vụ cho du lịch thành phố Tuyên Quang
Với sức hấp dẫn của Lễ hội Thành Tuyên, du lịch tâm linh, thành phố
đã thu hút 394.000 lượt du khách Hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang
có vai trò quan trọng trong việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đạt 19/19 tiêu chí
Đảng bộ thành phố Tuyên Quang đã ban hành các kế hoạch phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội thành phố Tuyên Quang Chỉ đạo chính quyền, các tổ chức chính trị xã hội thực hiện các nhiệm vụ được giao, vận động các hội viên tham gia phát huy các truyền thống văn hóa của các dân tộc trong địa phương
Hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang đã góp phần xây dựng thành phố Tuyên Quang thành trung tâm văn hóa, xã hội của tỉnh; xây dựng khu dịch vụ và vệ sinh môi trường, tạo quỹ đất sạch cho thu hút đầu tư
Trang 31Tiểu kết chương 1
Chương 1 của luận văn làm rõ những vấn đề lý luận về hệ thống chính trị và hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang; làm rõ vai trò của hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang đối với phát triển kinh tế, đời sống chính trị
và đời sống văn hóa, xã hội ở địa phương
Giai đoạn 2011 - 2016, trên cơ sở quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ cũng như đặc điểm, tình hình của địa phương, Đảng bộ thành phố Tuyên Quang đã đổi mới toàn diện, mạnh mẽ hơn công tác lãnh đạo và chỉ đạo việc hoàn thiện tổ chức và đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị Đổi mới đồng bộ giữa các khâu, các bước trong quy trình đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng tốt số cán bộ hiện có với thực hiện đồng bộ các giải pháp để đào tạo, bồi dưỡng, bổ sung số cán bộ mới
Hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang có vai trò rất lớn trong việc định ra những chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của thành phố Tuyên Quang đã phát huy hết vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị tham gia thực hiện các nhiệm vụ Vai trò nòng cốt của các tổ chức chính trị, xã hội đã phát huy sức mạnh của nhân dân trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế, phát triển các bản sắc văn hóa dân tộc của địa phương Nâng cao nhận thức và đời sống nhân dân góp phần thúc đẩy kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội thành phố Tuyên Quang ngày càng phát triển
Trang 32Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG VÀ NHỮNG
VẤN ĐỀ ĐẶT RA 2.1 Khái quát về thành phố Tuyên Quang
2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Thành phố Tuyên Quang nằm ở phía Nam của tỉnh Tuyên Quang, cách thành phố Hà Nội 165km về phía Nam theo Quốc lộ 2, cách thành phố Thái Nguyên 86km về phía Đông theo Quốc lộ 37, cách thành phố Yên Bái 60km
về phía Tây theo Quốc lộ 37 Địa giới hành chính thành phố Tuyên Quang:
Phía Bắc giáp xã Tân Long, Trung Môn, Phú Thịnh, huyện Yên Sơn Phía Nam giáp xã Nhữ Khê, Đội Bình, thị trấn Tân Bình, huyện Yên Sơn Phía Đông giáp xã Cấp Tiến, Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương; xã Tiến Bộ, thị trấn Tân Bình, huyện Yên Sơn
Phía Tây giáp xã Nhữ Hán, Hoàng Khai, Kim Phú, huyện Yên Sơn Tọa độ địa lý: từ 21047’ đến 2105’ vĩ độ Bắc; từ 105o 11’ đến 105o 17’ kinh độ Đông
Thành phố Tuyên Quang có dòng sông Lô chảy qua trung tâm hình thành đô thị hai bên bờ sông góp phần tạo cảnh quan, giữ gìn môi trường sinh thái Thành phố Tuyên Quang có Quốc lộ 2, Quốc lộ 37, Quốc lộ 2C và trong thời gian tới sẽ có thêm những tuyến đường giao thông huyết mạch của cả nước đi qua như đường Hồ Chí Minh, đường cao tốc nối với tuyến cao tốc Hải Phòng - Côn Minh… và tuyến đường sông chạy qua Vì vậy thành phố có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc giao lưu phát triển kinh tế, văn hoá xã hội với các vùng trong và ngoài tỉnh
Trang 33Thành phố Tuyên Quang nằm trong vùng khí hậu của vùng núi Bắc Bộ, một năm chia thành 2 mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 23,00
C Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.600mm, tập trung nhiều nhất vào các tháng 7, 8, 9 Độ ẩm trung bình 84%
Phía tây thành phố là vùng có địa hình tương đối bằng phẳng tập trung chủ yếu ở các phường Tân Hà, Ỷ La, Hưng Thành, Phan Thiết, Minh Xuân, Tân Quang và xã An Tường Có dòng sông Lô chảy qua thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, công nghiệp, ngư nghiệp Vùng đồi núi tập trung ở các xã, phường, Nông Tiến, Tràng Đà, An Khang, Thái Long, Đội Cấn, Lưỡng Vượng Hệ thống đồi núi ở thành phố chủ yếu là đồi núi thấp có hình bát úp, có trữ lượng lớn về đá vôi Thuận lợi cho việc phát triển về lâm nghiệp
và công nghiệp khai khoáng
Thành phố Tuyên Quang có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú, trong đó các loại khoáng sản phân bố tập trung một số khu vực, mỗi khu vực có nhiều loại khoáng sản có thể khai thác kết hợp như: quặng sắt, ba rít, cao lanh, thiếc, mangan, chì - kẽm, Vonfram thuận lợi cho phát triển công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của thành phố Tuyên Quang đã tạo những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ địa phương Bên cạnh đó điều kiện tự nhiên cũng có những khó khăn trong quá trình phát triển các lĩnh vực ở Thành phố Tuyên Quang Như vị trí địa lý chủ yếu là đồi núi cũng gây khó khăn trong giao lưu giữa các xã, phường, thôn bản; lượng mưa nhiều cũng ảnh hưởng đến việc sản xuất và đời sống nhân dân cũng gặp nhiều khó khăn
Trang 342.1.2 Về xã hội, văn hóa
Thành phố Tuyên Quang gồm 7 phường, 6 xã miền núi thuộc khu vực
I, 115.241 người với 28.483 hộ với 95.675 khẩu, 19 dân tộc sinh gồm: Kinh, Tày, Dao, Cao Lan, Nùng, Hoa, Mông (trong đó dân tộc Kinh có 81.358 người chiếm 85% với 24.730 hộ; dân tộc thiểu số 14.317 người chiếm 15% với 3.753 hộ gia đình)
Thành phố Tuyên Quang là trung tâm hội tụ văn hóa đặc sắc của các dân tộc thiểu số trong vùng, là nơi giao lưu hội nhập với nền văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tạo nên một nền văn hóa phong phú, đa dạng Văn hóa tinh thần của các dân tộc với nhiều thể loại truyện cổ tích, thơ,
ca dao, tục ngữ Mỗi dân tộc có tiếng nói, trang phục riêng, những phong tục tập quán riêng trong việc cưới, tang, thờ cúng, lễ hội
Về lễ hội, có nhiều sắc thái văn hóa rất đặc trưng và đa dạng như lễ hội đua thuyền trên sông Lô; Lễ hội đền Hạ, đền Thượng, đền Ỷ La; Lễ hội đường phố được tổ chức vào dịp rằm Trung thu với hàng trăm mô hình đ n lung linh, độc đáo do nhân dân trên địa bàn thành phố thực hiện được diễu khắp các ngả đường của thành phố, tạo nên nét đặc sắc, thu hút khách du lịch trong và ngoài tỉnh đến tham gia Các hoạt động văn hóa, lễ hội truyền thống chất lượng được nâng cao (Đêm hội Thành Tuyên đã được nhân dân cả nước
biết đến và được nâng cấp thành lễ hội cấp tỉnh); đời sống văn hoá tinh thần
của nhân dân không ngừng được cải thiện Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" được đẩy mạnh
Lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm đầu tư, phát triển hài hòa hơn với tăng trưởng kinh tế, đáp ứng tốt hơn nhu cầu nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe, hưởng thụ văn hóa, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân
Trang 35Bên cạnh những thuận lợi thì văn hóa, xã hội thành phố Tuyên Quang cũng có những khó khăn nhất là các dân tộc sống không tập trung, mỗi dân tộc
có nét văn hóa riêng không đồng nhất, điều đó cũng ảnh hưởng đến đời sống của người dân Các nét văn hóa và bản sắc của một số dân tộc dần dần bị mai một do tác động của quá trình đổi mới
2.1.3 Về kinh tế
Trong những năm 2011- 2016 điều kiện kinh tế bình quân của thành phố đạt trên 17%; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành dịch vụ, thương mại, công nghiệp; giảm dần tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp
(dịch vụ, thương mại 52,64%, công nghiệp và xây dựng 43,39%, nông, lâm nghiệp 3,97%) Giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng tăng bình quân
18,57% Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng bình quân 12,22%
Thu ngân sách trên địa bàn hằng năm đều đạt và vượt chỉ tiêu được giao, tăng bình quân trên 11,97%/năm Đời sống của nhân dân ngày càng được nâng lên, thu nhập bình quân đầu người năm 2016 là 46,18 triệu đồng/người/năm
Nông, lâm nghiệp tiếp tục có bước chuyển biến mạnh theo hướng sản xuất hàng hóa, trong đó thành tựu nổi bật nhất là đưa một số giống cây, con mới, có hiệu quả kinh tế cao vào sản xuất, hình thành các vùng chuyên canh Thành phố Tuyên Quang đã chủ động khai thác tiềm năng, lợi thế về thương mại, du lịch, dịch vụ, huy động mọi nguồn lực để tập trung đầu tư xây dựng hạ tầng đô thị, phát triển mạng lưới giao thông; xây dựng mới và cải tạo, nâng cấp, bảo trì các tuyến đường theo quy hoạch; một số công trình trọng điểm
đã hoàn thành đưa vào sử dụng như: Nhà văn hóa Trung tâm thành phố, Đại
lộ Tân Trào, đường Minh Thanh, công viên Hồ Tân Quang, hệ thống chiếu sáng đường phố, cây xanh góp phần thay đổi diện mạo đô thị Một số dự án trọng điểm đã và đang triển khai thực hiện như: Tập đoàn Vingroup với dự án Trung tâm thương mại và nhà phố tại phường Phan Thiết; Tập đoàn Khách
Trang 36sạn Mường Thanh với dự án Khách sạn Mường Thanh Tuyên Quang; Doanh nghiệp tư nhân Hòa Thu với khách sạn 18 tầng Royal Tuyên Quang Đặc biệt, hiện nay tỉnh đang xúc tiến đầu tư xây dựng tuyến đường cao tốc đoạn Tuyên Quang - Phú Thọ nối đường cao tốc Lào Cai - Hải Phòng kết nối thành phố Tuyên Quang với các trung tâm kinh tế, các tỉnh, thành phố, tạo thuận lợi để thành phố Tuyên Quang phát triển kinh tế - xã hội
Những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế đã tạo điều kiện cho thành phố Tuyên Quang phát triển, cơ sở vật chất kỹ thuật, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao Bên cạnh đó kinh tế thành phố Tuyên Quang cũng gặp những khó khăn trong phát triển, một số công trình xây dựng thiếu vốn đầu tư, các ngành công nghiệp, khai thác chế biến khoáng sản còn khó khăn trong việc đầu tư dây chuyền sản xuất
2.2 Những ƣu điểm và hạn chế về tổ chức và đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang
2.2.1 Những ưu điểm trong xây dựng tổ chức và đội ngũ cán bộ
Ưu điểm trong xây dựng tổ chức bộ máy Đảng thành phố Tuyên Quang
Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố (gọi tắt là Thành ủy) là cơ quan
lãnh đạo của Đảng bộ thành phố giữa hai kỳ Đại hội, có trách nhiệm lãnh đạo toàn diện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trên địa bàn thành phố Thành ủy lãnh đạo bằng nghị quyết, chỉ thị, các văn bản chỉ đạo của Ban Thường vụ,
Thường trực Thành ủy và Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố (gọi tắt
là Thành ủy viên)
Thành ủy chịu trách nhiệm quán triệt, lãnh đạo và tổ chức thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng; các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nghị quyết, chỉ thị, văn bản chỉ
Trang 37đạo của Tỉnh ủy; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ XIX, các nghị quyết, chỉ thị, văn bản chỉ đạo của Thành ủy
Thành ủy thành phố Tuyên Quang bao gồm: 01 Bí thư thành ủy; 01 Phó
Bí thư thường trực; 01 Phó Bí thư thành ủy, 11 Ủy viên Ban thường vụ thành ủy
Đối với các ban đảng, Văn phòng Thành ủy, Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố
Thành ủy mà trực tiếp và thường xuyên là Ban Thường vụ Thành ủy, Thường trực Thành ủy lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện đối với các ban đảng, Văn phòng Thành ủy, Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị thành phố
Các ban đảng, Văn phòng Thành uỷ, Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị thành phố có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ, tổ chức thực hiện các công việc được giao, tham mưu, đề xuất chương trình, kế hoạch, biện pháp thực hiện và hướng dẫn, đôn đốc, theo dõi, kiểm tra, giám sát các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Đối với các chi bộ, đảng bộ trực thuộc thành phố Tuyên Quang có 37 Chi bộ, Đảng bộ trực thuộc với trên 8000 đảng viên
Ban Thường vụ và Thường trực Thành ủy thường xuyên chỉ đạo, kiểm tra, giám sát hoạt động, nắm tình hình của cấp ủy trực thuộc và thông qua các ban đảng, Văn phòng Thành ủy, các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng
bộ thành phố được phân công phụ trách, theo dõi các chi bộ, đảng bộ cơ sở
Các cấp ủy cơ sở chịu trách nhiệm trước Thành ủy, Ban Thường vụ Thành ủy về toàn bộ các mặt công tác ở địa phương, đơn vị Có trách nhiệm quán triệt, tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, quyết định, chỉ thị, văn bản chỉ đạo của Thành ủy, Ban Thường vụ Thành ủy, Thường trực Thành ủy, của HĐND, UBND thành phố Thực hiện đúng chế độ báo cáo
Trang 38định kỳ hằng tháng, quý, 6 tháng, 01 năm và các vấn đề đột xuất xảy ra ở địa phương, đơn vị với Thường trực Thành ủy bằng văn bản hoặc trực tiếp
Đối với Hội đồng nhân dân thành phố và Uỷ ban nhân dân thành phố Thành uỷ lãnh đạo HĐND, UBND thành phố bằng các nghị quyết, chỉ thị, quyết định, quy chế, quy định và các văn bản của Đảng; giao trách nhiệm
tổ chức thực hiện cho các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Thành
ủy viên và các đảng viên công tác trong Thường trực HĐND, UBND thành phố, các đảng viên là đại biểu HĐND thành phố, là thành viên UBND thành phố Thành ủy tạo điều kiện phát huy quyền lực của HĐND thành phố và hiệu lực quản lý, điều hành của UBND thành phố, đồng thời thường xuyên kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan, đơn vị từ thành phố tới cơ sở
Thành ủy đã tập trung đẩy mạnh xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh; đổi mới phương thức lãnh đạo, cách thức ra nghị quyết; chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tổng kết rút kinh nghiệm; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra
Tỷ lệ các chi, đảng bộ cơ sở đạt trong sạch, vững mạnh năm 2011 là 81,5%, năm 2012 đạt 76,3%; năm 2013 đạt 78,4%, năm 2014 đạt 81,1%, năm
2015 đạt 80,5%, năm 2016 đạt 85,2%
Tỷ lệ đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên năm 2011 là 86,2%; năm 2012 đạt 90,4%; năm 2013 đạt 90,8%, năm 2014 đạt 89,6%, năm 2015 đạt 88,5%, năm 2016 đạt 90,5%
Các cấp uỷ đã tiến hành kiểm tra 392 tổ chức đảng, 60 đảng viên; giám sát 249 tổ chức đảng, 79 đảng viên UBKT các cấp đã tiến hành kiểm tra 313, giám sát 103 tổ chức đảng; kiểm tra 593, giám sát 113 đảng viên, cấp uỷ viên Khiển trách: 30 đảng viên; cảnh cáo: 22 đảng viên; cách chức: 01 đảng viên; khai trừ: 10 đảng viên
Trang 39Đảng bộ thành phố hiện có 37 chi bộ, đảng bộ cơ sở, trong đó 23 đảng
bộ cơ sở, 14 chi bộ cơ sở, gồm 06 loại hình tổ chức cơ sở đảng (có 06 đảng bộ xã; 07 đảng bộ phường; 9 chi bộ, đảng bộ cơ quan; 13 chi bộ, đảng bộ đơn vị
sự nghiệp; 02 đảng bộ lực lượng vũ trang; 01 đảng bộ doanh nghiệp) Có 414 chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở, trong đó: 232 chi bộ trực thuộc đảng bộ phường, 135 chi bộ trực thuộc đảng bộ xã, 15 chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ quan hành chính, 13 chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở sự nghiệp, 15 chi bộ trực thuộc đảng bộ lực lượng vũ trang, 04 chi bộ trực thuộc đảng bộ doanh nghiệp Tổng số đảng viên hiện nay là 7.550 đảng viên với 175 đảng viên dự bị, 7.375 đảng viên chính thức
Ưu điểm trong xây dựng tổ chức bộ máy chính quyền thành phố Tuyên Quang Hội đồng nhân dân thành phố Tuyên Quang bao gồm: 01 Chủ tịch, 02 Phó Chủ tịch và 30 ủy viên ban chấp hành
Hội đồng nhân dân thành phố thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật và trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, xây dựng chính quyền; trong lĩnh vực kinh tế, tài nguyên, môi trường; Quyết định biện pháp phát triển hệ thống giáo dục mầm non, tiểu học
và trung học cơ sở; biện pháp phát triển sự nghiệp văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao; biện pháp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, phòng, chống dịch bệnh, thực hiện chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình; biện pháp phát triển việc làm, thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng, chính sách bảo trợ xã hội, xóa đói, giảm nghèo; biện pháp bảo đảm việc thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật; Giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện; giám sát hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Ban của Hội đồng nhân dân cấp mình; giám sát
Trang 40văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp và văn bản của Hội đồng nhân dân cấp xã; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
Giữa hai kỳ họp, để bảo đảm việc điều hành kinh tế - xã hội và quốc phòng
- an ninh của thành phố, HĐND thành phố ủy quyền cho Thường trực HĐND thành phố giải quyết một số việc thuộc thẩm quyền của HĐND thành phố tại các Khoản 5 Điều 17; Điểm b, Khoản 2 Điều 27; Khoản 5 Điều 28, Khoản 3 Điều 29, Điểm a Khoản 1 Điều 91 Luật đầu tư công; Khoản 4, Khoản 8 Điều 30 Luật Ngân sách nhà nước và báo cáo HĐND thành phố tại kỳ họp gần nhất
Thường trực HĐND thành phố thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 104 Luật tổ chức chính quyền địa phương, Quy chế hoạt động của HĐND thành phố
Thường trực HĐND thành phố có nhiệm vụ xây dựng dự kiến chương trình kỳ họp HĐND thành phố trên cơ sở nghị quyết về kế hoạch tổ chức kỳ họp thường lệ của HĐND thành phố và đề nghị của Chủ tịch UBND, Chủ tịch UBMTTQ thành phố, Chánh án Tòa án nhân dân (TAND), Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), các Ban của HĐND, đại biểu HĐND thành phố