1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các tổ chức xã hội dân sự trong mối quan hệ giữa nhà nước và kinh tế thị trường

92 137 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái quát chung về đặc điểm của các tổ chức xã hội dân sự trong mối quan hệ giữa nhà nước và kinh tế thị trường ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay .... Sự tác động của các tổ chức xã hội dân

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

THÁI THỊ TÚ ANH

CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ TRONG MỐI QUAN HỆ

GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: TRIẾT HỌC

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của cá nhân tôi Nội dung và các trích dẫn nêu trong luận văn là trung thực

Tác giả luận văn

Thái Thị Tú Anh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biến ơn sâu sắc tới TS.Phạm Quỳnh đã hướng dẫn khoa học, tận tình giúp đỡ, chỉ bảo và góp ý cho luận văn của tôi được hoàn thành

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Triết học, Phòng Quản lý Đào tạo đã làm việc đầy trách nhiệm, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Trường Đại học Thuỷ Lợi - nơi tôi công tác đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin được cảm ơn các Thầy, Cô giáo, các nhà khoa học của khoa Triết học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã có những chia sẻ, đóng góp tâm huyết, trách nhiệm và định hướng cho tôi để công trình nghiên cứu của tôi được hoàn thành

Cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã quan tâm, động viên, chia sẻ với tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu./

Tác giả

Thái Thị Tú Anh

Trang 5

HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 38 2.1 Các tổ chức xã hội dân sự tham gia cùng nhà nước trong hoạt động bảo vệ quyền

và lợi ích chính đáng cho người dân trong nền kinh tế thị trường 38 2.2 Các tổ chức xã hội dân sự vừa hỗ trợ thực hiện chức năng xã hội của nhà nước, vừa tham gia phản biện xã hội, giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước trong nền kinh tế thị trường 41 2.3 Các tổ chức xã hội dân sự thực hiện chức năng tự điều tiết những vấn đề phát sinh

từ hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường 45 Chương 3 VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ TRONG MỐI QUAN

HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY 49 3.1 Khái quát chung về đặc điểm của các tổ chức xã hội dân sự trong mối quan hệ giữa nhà nước và kinh tế thị trường ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay 49 3.2 Sự tác động của các tổ chức xã hội dân sự trong mối quan hệ giữa nhà nước và kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay 54 3.3 Một số vấn đề đặt ra trong sự tác động của các tổ chức xã hội dân sự đến mối quan

hệ giữa nhà nước và kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay 74 KẾT LUẬN 81 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ADB Ngân hàng phát triển châu Á

AFEO Tổ chức Hành động vì môi trường

CBO Tổ chức cộng đồng

CCS Trung tâm Xã hội dân sự

CSO Tổ chức xã hội dân sự

CIVICUS Liên hội quốc tế các tổ chức xã hội dân sự

DOC Bộ Thương mại Hoa Kỳ

ENV Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên

ITC Uỷ ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ

MO Tổ chức quần chúng

NGO Tổ chức phi chính phủ

NPO Tổ chức phi lợi nhuận

PO Tổ chức nhân dân

SSA Liên minh Tôm miền Nam Hoa Kỳ

VACNE Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam VASEP Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VIDS Viện những vấn đề Phát triển

VINATAS Hội tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng

VUFO Hiệp hội Hoà bình, Hữu nghị và Đoàn kết Việt Nam VUSTA Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam VWAA Liên hiệp Văn học và Nghệ thuật Việt Nam

WB Ngân hàng Thế giới

XHDS Xã hội dân sự

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, các tổ chức xã hội dân sự đang ngày càng phát triển với nhiều hình thức tổ chức phong phú, hoạt động trên nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự trang trải về tài chính, đề cao sự đồng thuận, chia sẻ về lợi ích Các tổ chức này, trong đa số trường hợp là cầu nối giữa nhân dân với nhà nước, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, tham gia vào quá trình hoạch định chính sách và tư vấn, phản biện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước

Ở nước ta, thực tiễn hơn 30 năm đổi mới cho thấy, trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, các tổ chức xã hội dân sự có điều kiện để phát triển nhanh về số lượng và phong phú về loại hình, hình thức tổ chức, đa dạng về phương thức hoạt động Vai trò của các tổ chức xã hội dân sự ngày càng trở nên quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội mà nhà nước "không với tới" hoặc kém hiệu quả trong đời sống các cộng đồng dân cư; góp phần giảm thiểu các tác động tiêu cực của kinh tế thị trường

Hiện nay, chúng ta cũng có thể nhận thấy rõ, thị trường có những khuyết tật và

cơ chế thị trường có thể bị thất bại trong việc giải quyết một số vấn đề phát triển, ví

dụ như khủng hoảng, đói nghèo, công bằng xã hội, môi trường, v.v Để khắc phục chúng và tránh khỏi thất bại thị trường, không chỉ có vai trò điều tiết, quản lý của nhà nước mà còn có sự tham gia của các tổ chức xã hội dân sự để điều chỉnh và cùng tham gia giải quyết các vấn đề xã hội

Những hạn chế trong mối quan hệ giữa nhà nước và kinh tế thị trường chỉ có thể được khắc phục một cách hiệu quả khi xây dựng và phát triển xã hội dân sự, tức

là phát huy vai trò của các tổ chức xã hội dân sự, huy động sự tham gia rộng rãi của người dân và cộng đồng vào công việc xã hội Thực tiễn đã khẳng định sự hình thành và phát triển của các tổ chức xã hội dân sự là một tất yếu khách quan gắn liền với quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo điều kiện để người dân được làm

Trang 8

những việc mà pháp luật không cấm, nhằm thoả mãn nhu cầu và lợi ích ngày càng phong phú, đa dạng của mình

Từ những lý do kể trên, tác giả lựa chọn vấn đề “Các tổ chức xã hội dân sự trong

mối quan hệ giữa nhà nước và kinh tế thị trường” làm đề tài luận văn của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Trong những năm gần đây, vấn đề xã hội dân sự được giới nghiên cứu lý luận quan tâm, chú ý Qua sự tìm tòi, nghiên cứu và tiếp cận với những tư liệu liên quan đến đề tài, tác giả tổng quan tư liệu chủ yếu trên ba nhóm chủ đề lớn như sau:

2.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về xã hội dân sự

Phạm Văn Đức (2015), Lịch sử triết học của xã hội dân sự [10], Nxb Khoa

học xã hội, Hà Nội đã nêu rõ các quan điểm của một số nhà triết học tiêu biểu trong lịch sử triết học như Aristotle, T.Hobber, J.Locke, Montesquieu, J.J.Rousseau, I.Kant, G.W.F.Hegel và kể cả K.Marx về xã hội dân sự Đồng thời, tác phẩm cũng trình bày một số quan điểm và cách tiếp cận hiện đại của chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa cộng đồng và chủ nghĩa cộng hòa về vấn đề xã hội dân sự Hơn hết, tác phẩm đã chỉ

ra mô hình xã hội dân sự ở một số nước trên thế giới và cũng cho thấy được quan điểm của tác giả về các mô hình xã hội dân sự nêu trên

Vũ Duy Phú (2008), Xã hội dân sự - Một số vấn đề chọn lọc [36], Nxb Tri

thức, Hà Nội đã đi vào khái quát vị trí, chức năng, sự đa dạng của xã hội dân sự, quan hệ giữa xã hội dân sự với các tổ chức nhà nước và thị trường ở trong nước và trên thế giới Đặc biệt là trong điều kiện toàn cầu hóa đã mở rộng và nền kinh tế tri thức đang phát triển, tác phẩm khẳng định rằng vấn đề xã hội dân sự lại càng cần được tiếp tục phân tích và phổ biến rộng rãi trong nhân dân

Ngoài ra, còn có một số bài báo cũng đề cập nhiều đến vấn đề xã hội dân sự như: bài trao đổi ý kiến của tác giả Phạm Xuân Nam (2009), "Quan điểm của chủ nghĩa Marx về xã hội dân sự trong chế độ dân chủ và những tư tưởng gần gũi của

Hồ Chí Minh" [29], Tạp chí Triết học, số 07 (218) Trong bài viết, tác giả đã phân

tích nhằm làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Marx về xã hội dân sư, đặc biệt là tư

Trang 9

mọi công việc của người dân trong xã hội Trên cơ sở phân tích các quan điểm về

xã hội dân sự, tác giả đã rút ra 4 nhận định cơ bản; trong đó có ý kiến đề nghị Đảng

và nhà nước cần thừa nhận, tạo điều kiện và chăm lo cho sự phát triển của xã hội dân sự theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Trần Hữu Quang (2009), “Một số quan niệm cổ điển về xã hội dân sự”, Tạp

chí Khoa học xã hội [40], số 07 (131) Ở bài viết này, tác giả trình bày khái quát

lịch sử sinh thành của khái niệm xã hội dân sự ở các nhà tư tưởng cổ điển phương Tây, đồng thời cho thấy diễn trình chuyển biến của khái niệm này

Trần Hữu Quang (2009), “Một số quan niệm đương đại về xã hội dân sự”, Tạp

chí Khoa học xã hội [41], số 12 (136) Bài viết này điểm lại một số quan niệm về

khái niệm xã hội dân sự trên thế giới trong vòng vài chục năm trở lại đây

2.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về nhà nước và mối quan hệ giữa nhà nước và kinh tế thị trường

Nguyễn Đăng Dung (2007), Ý tưởng về một nhà nước chịu trách nhiệm[4],

Nxb Đà Nẵng nghiên cứu về một nhà nước của nhân dân, từ một nhà nước dân chủ

đi đến một nhà nước đại diện và sự thay thế này dẫn đến việc nhà nước phải chịu trách nhiệm Từ đó, tác phẩm đi đến kết luận về trách nhiệm của chính quyền nhà nước Việt Nam, giúp độc giả thấy được vai trò thực sự của nhà nước Việt Nam

Nguyễn Đăng Dung (2009), Nhà nước là những con số cộng giản đơn [5],

Nxb Lao động nêu rõ, muốn có một nhà nước chịu trách nhiệm thì cách thức tổ chức của nhà nước phải hết sức đơn giản bằng những con số cộng đơn giản hai số hạng, và mỗi số hạng phải chịu trách nhiệm về những hành vi của mình Muốn làm được điều đó, trước hết phải phân biệt giữa nhà nước và xã hội công dân, nhà nước chỉ được phép làm những gì mà người dân không thể làm được

N.M.Voskresenskaia, N.B.Daviletshina (2008), Chế độ dân chủ - Nhà nước và

xã hội [52] do Phạm Nguyên Trường dịch, Nxb Tri thức, Hà Nội trình bày một cách

mạch lạc về những điều hết sức cơ bản: Thế nào là dân chủ? Xã hội và các giá trị dân chủ, quyền con người trong xã hội dân chủ, xã hội dân sự, các hình thức tổ chức

Trang 10

chính quyền và nhà nước, văn hóa chính trị và văn hóa quyền lực, Tác phẩm được viết như một thử nghiệm đầu tiên trong việc soản thảo sách giáo khoa về dân chủ

Tài liệu học tập và nghiên cứu môn học (2006), Lý luận chung về nhà nước và

pháp luật (tập I) [18], Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội trình bày quy luật ra đời, tồn tại và

phát triển của hai định chế nhà nước và pháp luật; đồng thời còn bàn đến vấn đề bản chất, vai trò, chức năng và mối quan hệ hữu cơ giữa nhà nước và pháp luật nói chung, nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa nói riêng trên cơ sở của chủ nghĩa Marx - Lenin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm đổi mới của Đảng và pháp luật hiện hành

Sách kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế (2012) Nhà nước pháp quyền Một số

vấn đề lý luận và thực tiễn [53], khoa Triết học, trường Đại học Khoa học Xã hội và

Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tập hợp những bài viết tiêu biểu đề cập đến những khía cạnh khác nhau của vấn đề đó Mặc dù đề cập đến những vấn đề khác nhau nhưng những bài viết này đều bàn về những vấn đề lý luận chung về nhà nước pháp quyền; thực tiễn nhà nước pháp quyền và những vấn đề đặt ra trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

2.3 Nhóm các công trình nghiên cứu về mối tương quan giữa xã hội dân sự với nhà nước và kinh tế thị trường

Nguyễn Mạnh Bình (2012), "Hoàn thiện cơ chế pháp lý giám sát xã hội đối

với việc thực thi quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay" [2], Nxb Chính trị Quốc

gia đã chỉ rõ, trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta hiện nay, việc mở rộng dân chủ đi đôi với thực hiện quyền giám sát của người dân là một đòi hỏi tất yếu khách quan Sự tham gia của nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng vào các quá trình hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, góp phần hoàn thiện các chủ trương, chính sách, pháp luật sát hợp với thực tiễn của đời sống xã hội, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng và thể hiện được ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân Vì vậy, xây dựng cơ chế pháp lý giám sát xã hội hữu hiệu đối với việc thực hiện quyền lực

Trang 11

Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương (2010), Vai trò của các tổ chức xã hội

đối với phát triển và quản lý xã hội [37], Nxb Chính trị Quốc Gia - Sự thật đã cung

cấp tài liệu tìm hiểu về vai trò của các tổ chức xã hội ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam Công trình chủ yếu tập trung giải đáp những câu hỏi lớn như: Thế nào là

tổ chức xã hội? Chúng được hình thành và hoạt động trên cơ sở, nguyên tắc nào? Vai trò của các tổ chức xã hội đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa? Cần có những chính sách, cơ chế, pháp luật nào để bảo đảm cho các tổ chức này hoạt động đúng với tính chất của tổ chức nhân dân, góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn mình?, v.v

Sách kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc gia (2010), Các lý thuyết kinh tế trong

bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu và thực tiễn Việt Nam [24], Nxb Đại học

Quốc gia Hà Nội, Hà Nội đã tập hợp các bài viết tiêu biểu bàn về các lý thuyết kinh

tế và những vấn đề rút ra cho Việt Nam Thông qua các bài viết của mình, các tác giả muốn khẳng định vấn đề có tính thời sự, không chỉ của Việt Nam mà là của toàn nhân loại, đó là chắt lọc, tìm tòi như thế nào để hình thành nền tảng lý luận kinh tế phục vụ mục tiêu phát triển đất nước Đây là một vấn đề khó, phức tạp và nhạy cảm; đòi hỏi cần tiếp tục nghiên cứu và thảo luận

Vũ Thị Thu Hường (2010), Mối quan hệ giữa xã hội dân sự và nhà nước pháp

quyền ở Việt Nam [22], khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội đã trình bày sự hình

thành và phát triển các tư tưởng xã hội dân sự và quá trình xây dựng xã hội dân sự ở Việt Nam Luận văn đã đi sâu phân tích mối quan hệ giữa xã hội dân sự và nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, từ đó đề ra phương hướng phát triển xã hội dân sự

trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay

Lê Văn Quang (2004), “Quan hệ giữa nhà nước xã hội chủ nghĩa và đời sống

xã hội dân sự” [43], Tạp chí Triết học, số 3 (154) trình bày quan hệ giữa nhà nước

với xã hội dân sự là quan hệ giữa hệ thống thiết chế điều tiết với khách thể của sự điều tiết ấy; đồng thời, đó còn là quan hệ giữa bản thân thiết chế với cơ sở xã hội của thiết chế ấy Trong đó, những nội dung quan trọng nhất cần khẳng định chính là

Trang 12

phương thức mà nhà nước xã hội chủ nghĩa sử dụng để giải quyết các mối liên hệ biện chứng giữa tập trung và dân chủ, giữa chính trị và nhân văn, giữa giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa với phát triển kinh tế nhiều thành phần và phát huy đại đoàn kết dân tộc, giữa thực hiện chức năng xã hội - chính trị và chức năng xã hội -

dân sự trên các phương diện của đời sống xã hội v.v

Tóm lại, các công trình nghiên cứu kể trên đã nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực tiễn trong vấn đề xã hội dân sự nói chung ; mối quan hệ giữa nhà nước, kinh tế thị trường và xã hội dân sự nói riêng Tuy nhiên, do mục đích nghiên cứu của mỗi

công trình khác nhau nên chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt về “Các tổ

chức xã hội dân sự trong mối quan hệ giữa nhà nước và kinh tế thị trường”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu vai trò củacác tổ chức xã hội dân sự trong

mối quan hệ giữa nhà nước và kinh tế thị trường Từ đó, liên hệ một số vấn đề về vai trò của các tổ chức xã hội dân sự trong mối quan hệ giữa nhà nước và kinh tế thị

trường ở Việt Nam hiện nay

+ Khái quát một số vấn đề lý luận về nhà nước, kinh tế thị trường và các tổ chức

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Các tổ chức xã hội dân sự trong mối quan hệ giữa nhà

nước và kinh tế thị trường

Trang 13

- Phạm vi nghiên cứu: Trong khuôn khổ luận văn này, phạm vi nghiên cứu

khoanh vùng phân tích vai trò của các tổ chức xã hội dân sự trong mối quan hệ giữa nhà nước và kinh tế thị trường biểu hiện ở một số mặt sau:

+ Các tổ chức xã hội dân sự tham gia cùng nhà nước trong hoạt động bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho người dân trong nền kinh tế thị trường

+ Các tổ chức xã hội dân sự vừa hỗ trợ thực hiện chức năng xã hội của nhà nước, vừa tham gia phản biện xã hội, giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước trong nền kinh tế thị trường

+ Các tổ chức xã hội dân sự thực hiện chức năng tự điều tiết những vấn đề phát sinh từ hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa

Marx - Lenin, các nhà kinh điển và các nhà khoa học về nhà nước, kinh tế thị trường và xã hội dân sự

- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích - tổng

hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá, so sánh đối chiếu trong phương pháp nghiên cứu cũng như phương pháp trình bày

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn hệ thống hoá, khái quát hoá những vấn đề lý luận về nhà nước, kinh

tế thị trường và các tổ chức xã hội dân sự

- Luận văn bước đầu phân tích về sự tác động của các tổ chức xã hội dân sự trong mối quan hệ giữa nhà nước và kinh tế thị trường ở Việt Nam từ khi đổi mới đất nước đến nay Từ đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện vai trò của các tổ chức xã hội dân sự trong mối quan hệ giữa nhà nước và kinh tế thị trường

ở Việt Nam hiện nay

- Luận văn có thể coi là một tài liệu tham khảo, cung cấp thêm thông tin về vai trò của các tổ chức xã hội dân sự trong mối quan hệ giữa nhà nước và kinh tế thị

Trang 14

trường dành cho các học giả cũng như sinh viên, học viên cao học các chuyên

ngành triết học, luật học, chính trị học

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, gồm 3 chương và 8 tiết

Trang 15

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC, KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ

CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ

1.1 Một số vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa nhà nước và kinh tế thị trường

1.1.1 Một số vấn đề lý luận về nhà nước và kinh tế thị trường

Bản chất và chức năng của nhà nước

Học thuyết Marx - Lenin đã giải thích một cách đúng đắn và khoa học về bản

chất của nhà nước Khi nghiên cứu về nguồn gốc và sự ra đời của nhà nước, các nhà

kinh điển của chủ nghĩa Marx - Lenin đã chỉ rõ, nhà nước chỉ sinh ra và tồn tại

trong xã hội có giai cấp, và chính vì thế nhà nước luôn luôn mang bản chất giai cấp

sâu sắc Theo đó, chúng ta có thể xác định bản chất của nhà nước như sau: nhà nước

là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị trong xã hội có giai cấp, thực hiện

chuyên chính giai cấp và chức năng quản lý đặc biệt nhằm bảo vệ lợi ích của giai

cấp thống trị trong xã hội, duy trì trật tự xã hội và phục vụ những nhu cầu thiết yếu

của đời sống cộng đồng [18, tr.18]

Có nhiều cách tiếp cận và xác định chức năng cơ bản của nhà nước Theo tiêu

chí căn cứ vào phạm vi hoạt động của nhà nước, các chức năng của nhà nước được

chia thành chức năng đối nội và chức năng đối ngoại Chức năng đối nội là những

phương diện hoạt động chủ yếu của nhà nước trong nội bộ đất nước như: bảo vệ trật

tự xã hội, trấn áp những phần tử chống đối chế độ, bảo vệ và phát triển chế độ kinh

tế, văn hoá Chức năng đối ngoại thể hiện vai trò của nhà nước trong quan hệ với

các nhà nước và dân tộc khác như: phòng thủ đất nước, chống sự xâm lược từ bên

ngoài, thiết lập mối quan hệ với các quốc gia khác Các chức năng này có mối

quan hệ mật thiết với nhau, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau

Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động của nhà nước, có thể chia các chức năng của

nhà nước thành các loại: chức năng kinh tế nhằm điều tiết, quản lý nền kinh tế của

đất nước; chức năng xã hội nhằm giải quyết những vấn đề chung vì sự phát triển

của xã hội như: phát triển văn hoá, ý tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng, cung cấp dịch vụ

Trang 16

công, ; chức năng trấn áp nhằm bảo vệ địa vị và quyền thống trị của giai cấp thống trị, giữ vững an ninh, trật tự, an toàn xã hội; chức năng quốc phòng để chống xâm lược, bảo vệ độc lập, chủ quyền của đất nước; chức năng thiết lập các mối quan hệ ngoại giao, hữu nghị và hợp tác quốc tế

Căn cứ vào mục đích hoạt động của nhà nước, có thể chia chức năng của nhà nước thành hai loại là chức năng tổ chức và quản lý, bao gồm một số chức năng cụ thể như: chức năng kinh tế, xã hội, thiết lập các mối quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế ; chức năng bảo vệ như bảo vệ tổ quốc, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội Tuy nhiên, mỗi kiểu nhà nước có bản chất riêng, nên chức năng của các nhà nước và việc tổ chức bộ máy để thực hiện các chức năng đó cũng có những đặc điểm riêng

Nhà nước là một phạm trù lịch sử, luôn vận động, thay đổi phụ thuộc vào các yếu tố như kinh tế, xã hội, chính trị, văn hoá, lịch sử Lịch sử phát triển xã hội loài người đã chỉ rõ, nhà nước được hình thành và bị quy định bởi cơ sở hạ tầng, nghĩa

là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội Các kiểu nhà nước khác nhau đều dựa trên cơ cấu kinh tế của xã hội ở những trình độ phát triển khác nhau Nhà nước phải được hình thành và phát triển trên nền tảng cơ cấu kinh tế thị trường và xã hội dân sự

Kinh tế thị trường và những đặc trưng cơ bản của nó

Kinh tế thị trường là sản phẩm của nền văn minh nhân loại, nó cũng có một quá trình phát triển lâu dài, có những nét đặc thù ở mỗi quốc gia và mỗi chế độ xã hội Chỉ khi nào lực lượng sản xuất và phân công đạt tới trình độ cao, sản xuất hàng hoá phát triển mạnh, trao đổi trở nên phổ biến và thị trường mở rộng, các quan hệ thị trường và thể chế được hoàn thiện, các loại hình thị trường hình thành đồng bộ và vận hành thông suốt thì mới có kinh tế thị trường Trong lịch sử nhân loại, kinh tế thị trường ra đời khi xuất hiện phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Chủ nghĩa tư bản

là xã hội đầu tiên sử dụng kinh tế thị trường phục vụ cho mục tiêu tạo ra của cải, lợi nhuận và tăng tích luỹ Có kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và kinh tế thị trường xã

Trang 17

phát triển đến trình độ phổ biến và hoàn chỉnh Nấc thang phát triển cao hơn của kinh

tế thị trường chính là nền kinh tế cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa Để phát triển lên nấc thang này, nền kinh tế thị trường phải phát triển hết mức, phải trở thành phổ biến trong đời sống kinh tế - xã hội Như vậy, kinh tế thị trường được xác định là một nấc thang tất yếu, mang tính phổ biến trong quá trình phát triển của lịch sử nhân loại

Sự khác biệt giữa kinh tế thị trường so với kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá giản đơn không chỉ ở chỗ chúng biểu hiện cho những giai đoạn phát triển kinh tế thị trường mà còn chủ yếu là ở bản chất xã hội hoá Nếu xét về nội dung và bản chất, kinh tế thị trường được hiểu là quan hệ sản xuất và quan hệ kinh tế đặc trưng cho xã hội hoá, là kiểu tổ chức xã hội và sự kết hợp xã hội các quá trình kinh tế Kinh tế thị trường là quan hệ đặc biệt gắn kết lao động cá nhân và lao động xã hội, là quan hệ phân công lao động xã hội và quan hệ giữa các giá trị xã hội, là quan hệ giá trị nhằm tạo ra giá trị thặng dư và giá trị gia tăng ngày càng cao Nếu xét về mặt nội dung, kinh tế thị trường khác với kinh tế truyền thống ở chỗ nó là kinh tế hàng hoá tích luỹ và tăng trưởng, gắn với tính hiệu quả và quá trình tái sản xuất mở rộng, luôn cách mạng hoá ngay chính trong cơ sở công nghệ và kinh tế [1, tr.31]

Kinh tế thị trường nói chung bao gồm một số đặc trưng cơ bản như sau:

Thứ nhất, quá trình lưu thông những sản phẩm vật chất và phi vật chất từ sản xuất đến tiêu dùng phải được thực hiện chủ yếu bằng phương thức mua - bán

Do có sự phân công chuyên môn hoá trong việc sản xuất ra sản phẩm xã hội ngày càng cao dẫn đến có sự luân chuyển vật chất trong nền kinh tế, sản phẩm trước khi đến với người tiêu dùng cần được gia công qua nhiều khâu chuyển tiếp nhau Bên cạnh đó, giữa những người sản xuất, xuất hiện tình trạng thừa hoặc thiếu sản phẩm, do đó cần có sự trao đổi cho nhau Sự luân chuyển vật chất trong quá trình sản xuất có thể được thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau: luân chuyển nội

bộ, luân chuyển qua mua - bán Trong nền kinh tế thị trường, sản phẩm được sản xuất ra chủ yếu để trao đổi thông qua thị trường

Trang 18

Thứ hai, trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể kinh tế độc lập với nhau

Nền kinh tế thị trường đòi hỏi sự tồn tại của các chủ thể kinh tế độc lập dưới nhiều hình thức sở hữu khác nhau Các chủ thể trong nền kinh tế thị trường hoàn toàn độc lập, tự chủ trong việc quyết định: Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? Họ có quyền tự quyết định sản xuất kinh doanh và chịu trách nhiệm đối với quyết định đó Trong kinh tế thị trường, sở hữu tư nhân luôn luôn là thành tố tất yếu Bên cạnh sở hữu tư nhân, trong kinh tế thị trường còn tồn tại các dạng sở hữu khác như sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, các dạng đồng sở hữu của các chủ thể khác Về nguyên tắc, các chủ sở hữu và các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường là độc lập và bình đẳng với nhau trong hoạt động kinh doanh và trước pháp luật Mỗi hình thức sở hữu và chủ thể sở hữu có vai trò, chức năng khác nhau trong nền kinh tế thị trường

Thứ ba, sự hoạt động của kinh tế thị trường phải dựa trên cơ sở cơ chế thị trường và các quy luật thị trường

Cơ chế thị trường đảm bảo sự vận hành của hệ thống kinh tế thị trường Cơ chế vận hành hệ thống kinh tế thị trường là cơ chế về mối liên hệ và tác động qua lại giữa các bộ phận chủ yếu của thị trường là cung, cầu và giá cả Cơ chế thị trường thực hiện vai trò phối hợp hoạt động giữa các chủ thể kinh tế riêng và tự điều tiết sự phân bổ các phúc lợi cũng như nguồn lực trong nền kinh tế thông qua các quy luật kinh tế thị trường

Các quy luật kinh tế thị trường là một hệ thống bao gồm quy luật giá trị, quy luật giá trị thặng dư, quy luật cung - cầu, quy luật lưu thông tiền tệ Quy luật giá trị

là quy luật chung của kinh tế hàng hoá Quy luật này yêu cầu sản xuất và trao đổi hàng hoá trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết Quy luật giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của nền kinh tế thị trường phát triển Thực chất, quá trình sản xuất giá trị và giá trị thặng dư là thống nhất trong nền kinh tế Tuy nhiên, trong điều kiện sản xuất tư bản chủ nghĩa, quy luật này lại mang bản chất tư bản chủ nghĩa, nhằm phục vụ cho mục tiêu chiếm đoạt giá trị thặng dư, tăng lợi nhuận của

Trang 19

của cơ chế thị trường Nói đến kinh tế thị trường thì không thể không nhắc đến cạnh tranh tự do Cạnh tranh thúc đẩy cải tiến hợp lý hoá sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, giảm chi phí và hạ giá thành sản xuất, tăng năng suất lao động và phát triển lực lượng sản xuất Tuy nhiên, cạnh tranh luôn tiềm ẩn xu hướng dẫn đến độc quyền tự nhiên, gây tổn thất cho sự phát triển sản xuất và phúc lợi xã hội

Một nền kinh tế có được những đặc trưng cơ bản trên đây được gọi là nền kinh

tế thị trường Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của sức sản xuất trong từng quốc gia và sự hội nhập kinh tế mang tính toàn cầu đã tạo điều kiện và khả năng vô cùng to lớn để phát triển nền kinh tế thị trường đạt đến trình độ cao - kinh tế thị trường hiện đại Kinh tế thị trường hiện đại là nền kinh tế có đầy đủ các đặc trưng của một nền kinh tế thị trường, đồng thời nó còn có những đặc trưng sau đây:

Một là, có sự thống nhất mục tiêu kinh tế với các mục tiêu chính trị - văn hoá - xã hội:

Tăng trưởng kinh tế là động lực cơ bản thúc đẩy phát triển, là nhân tố quan trọng hàng đầu và điều kiện vật chất để giải quyết các vấn đề xã hội Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội Tăng trưởng kinh tế là điều kiện để thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội Nếu sự tăng trưởng kinh tế không bảo đảm thực hiện hiệu quả tiến bộ và công bằng xã hội thì sự tăng trưởng này không có ý nghĩa Công bằng xã hội thể hiện ở cách xử lý các quan

hệ lợi ích ngay trong nội bộ kinh tế thị trường, ở việc góp phần to lớn vào việc giải quyết các vấn đề xã hội, ở việc cung ứng các hàng hoá và dịch vụ có giá trị không chỉ về kinh tế mà còn có giá trị cao về văn hoá Mục tiêu chính trị là làm cho xã hội dân chủ, biểu hiện ở chỗ dân chủ hoá nền kinh tế Mọi người, mọi thành phần kinh

tế có quyền tham gia vào hoạt động kinh tế, vào sản xuất - kinh doanh, có quyền sở hữu về tài sản của mình: quyền của người sản xuất và tiêu dùng được bảo vệ trên cơ

sở pháp luật của nhà nước

Hai là, trong nền kinh tế thị trường hiện đại, cần phải có sự điều tiết kinh tế

của nhà nước:

Theo quan điểm của nhà kinh tế học cổ điển Adam Smith, thị trường cũng có chức năng điều tiết Nhờ giá cả, nó điều chỉnh những số lượng cung và những số lượng

Trang 20

cầu Bàn tay vô hình của cạnh tranh bảo đảm cho xã hội những gì sản xuất ra phù hợp với những nhu cầu của các thành viên của nó, và theo những số lượng mong muốn Tóm lại, thị trường đảm bảo cho những giá cả ganh đua [15, tr.35] Tuy nhiên, thực tế

đã chứng minh lý thuyết "Bàn tay vô hình" của Adam Smith không còn tác dụng mạnh

mẽ để bảo đảm nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa hiện đại phát triển theo nghĩa tự điều chỉnh Để khắc phục những điểm chưa hợp lý của thuyết này, J.M.Keynes đã đưa

ra lý thuyết về "Bàn tay hữu hình" Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, học thuyết của J.M.Keynes đã trở nên phổ biến trong kinh tế vĩ mô và được nhiều chính phủ vận dụng vào chính sách của mình Các nhà tư bản đã sử dụng các chính sách và công cụ trong quản lý vĩ mô như chính sách tài khoá, tiền tệ, chính sách thu nhập để can thiệp vào thị trường nhằm chống suy thoái, đảm bảo sự ổn định trong hoạt động kinh tế Điểm mới của cơ chế vận hành trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa hiện đại, đó là nền kinh tế không hoàn toàn do "bàn tay vô hình" của thị trường quyết định mà còn có

cả "bàn tay hữu hình" của nhà nước tham gia điều tiết

Ngoài ra, trong nền kinh tế thị trường hiện đại, bên cạnh khu vực kinh tế tư nhân còn có sự tồn tại của khu vực kinh tế nhà nước, chủ yếu bao gồm các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá dịch vụ công cộng và các doanh nghiệp thuộc những ngành then chốt của nền kinh tế quốc dân Sự tồn tại của khu vực kinh tế nhà nước với mục đích khắc phục những khuyết tật vốn có của cơ chế thị trường, tối đa hoá phúc lợi xã hội và trong chừng mực nhất định, nó có tác dụng thúc đẩy, tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển

Ba là, trong nền kinh tế thị trường hiện đại, có sự chi phối mạnh mẽ của phân

công và hợp tác quốc tế, tạo ra một nền kinh tế thị trường mang tính quốc tế, vượt

ra khỏi biên giới quốc gia động và mở, tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc

tế Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế giữa các quốc gia đang diễn ra với quy mô ngày càng lớn, tốc độ ngày càng tăng làm cho nền kinh tế thế giới ngày càng trở nên một chỉnh thể thống nhất, trong đó mỗi quốc gia là một bộ phận gắn bó hữu cơ với các bộ phận khác [17, tr.7-8]

Trang 21

Một là, tự động đáp ứng nhu cầu có thể thanh toán được của xã hội một cách

linh hoạt và hợp lý;

Hai là, có khả năng huy động tối đa mọi nguồn lực của xã hội

Ba là, tạo ra động lực mạnh mẽ để thúc đẩy hoạt động của các doanh nghiệp đạt

hiệu quả cao, và thông qua phá sản tạo ra cơ chế đào thải các doanh nghiệp yếu kém;

Bốn là, phản ứng nhanh nhạy trước các thay đổi của nhu cầu xã hội và các

điều kiện kinh tế trong nước và thế giới;

Năm là, buộc các doanh nghiệp phải thường xuyên học hỏi lẫn nhau, hạn chế

các sai lầm trong kinh doanh diễn ra trong thời gian dài và trên các quy mô lớn;

Sáu là, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công

nghệ - kỹ thuật, nền kinh tế năng động và đạt hiệu quả cao

Mặt khác, thực tiễn cũng cho thấy, không phải lúc nào thị trường cũng đúng trong việc phân bố nguồn lực của nền kinh tế; sự thất bại của thị trường sẽ mang đến những hệ quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế, tạo nên những cuộc khủng hoảng kinh tế Kinh tế thị trường thừa nhận nguyên tắc tự do cạnh tranh: cạnh tranh trong kinh doanh, cạnh tranh trong tìm kiếm việc làm, tự do cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Từ đó, một mặt tạo động lực phát triển kinh tế; song mặt khác, có thể dẫn tới cạnh tranh không lành mạnh, mang tính chất bất ổn định, có thể xuất hiện hiện tượng độc quyền của các doanh nghiệp, làm hạn chế nghiêm trọng các ưu điểm của kinh tế thị trường Sự cạnh tranh không lành mạnh dẫn đến mất cân đối vĩ

mô, lạm phát Động lực lợi nhuận tạo ra môi trường thuận lợi dẫn đến nguy cơ vi phạm pháp luật, thương mại hoá các giá trị đạo đức và đời sống tinh thần Thị trường càng mở rộng quy mô thì tình trạng "cạnh tranh không hoàn hảo"1 sẽ xuất

1

Cạnh tranh không hoàn hảo, trong kinh tế học, là một dạng cạnh tranh trong các thị trường khi các điều kiện

cần thiết cho việc cạnh tranh hoàn hảo không được thỏa mãn.Các loại cạnh tranh không hoàn hảo gồm:

- Độc quyền: chỉ có một người bán một mặt hàng

- Độc quyền nhóm bán: Thị trường mà ở đó chỉ có một số lượng nhỏ người bán

- Cạnh tranh độc quyền: có nhiều người bán nhưng mỗi người đều tìm cách làm cho sản phẩm của mình trở nên khác biệt

- Độc quyền mua: Thị trường chỉ có một người mua một mặt hàng

- Độc quyền nhóm mua: Thị trường trong đó chỉ có một số lượng nhỏ người mua

Trong thị trường cũng có thể xảy ra cạnh tranh không hoàn hảo do những người bán hoặc người mua thiếu các thông tin về giá cả các loại hàng hóa được trao đổi

Trang 22

hiện độc quyền gây tổn thất cho sự phát triển sản xuất và phục lợi xã hội Sự vận động của kinh tế thị trường với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, do đó, có thể dẫn tới tình trạng có doanh nghiệp làm ăn thua lỗ và phá sản, người lao động mất việc làm Ngoài ra, bản thân nền kinh tế thị trường còn gây ra những hệ luỵ nghiêm trọng cho

xã hội như: lợi ích chung dài hạn của xã hội không được chăm lo; mang theo các tệ nạn như buôn gian bán lận, tham nhũng ; tài nguyên thiên nhiên và môi trường bị tàn phá một cách nghiêm trọng và lan rộng; sản sinh và dẫn đến các cuộc chiến tranh kinh tế

Như vậy, với những khuyết tật của nó, kinh tế thị trường luôn cần phải có sự can thiệp của nhà nước Sự can thiệp của nhà nước sẽ bảo đảm hiệu quả cho sự vận động của thị trường được ổn định, nhằm tối đa hoá hiệu quả kinh tế, bảo đảm định hướng chính trị của sự phát triển kinh tế, tạo ra những công cụ quan trọng để điều tiết kinh tế thị trường ở tầm vĩ mô Bằng cách đó, nhà nước mới có thể kiềm chế tính tự phát của kinh tế thị trường, đồng thời kích thích đối với sản xuất thông qua trao đổi hàng hoá dưới hình thức thương mại

Tuy nhiên, các nhà nước đang thấy rằng, những cải cách của nền kinh tế thị trường cùng với sự tiến triển nhanh như vũ bão của khoa học công nghệ đang đặt ra những thách thức mới cho sự điều tiết của nhà nước Ở nhiều quốc gia hiện nay, nhà nước và thị trường vẫn có sự mâu thuẫn nhau về căn bản Các quy định pháp luật của nhà nước cứng nhắc dẫn đến hậu quả là ngăn cản sức sáng tạo của tư nhân Các doanh nghiệp nhà nước lại được hưởng những đặc quyền đặc lợi, khống chế các lĩnh vực kinh tế mà đáng ra có thể thu được kết quả lớn hơn nếu có sự cạnh tranh lành mạnh của khu vực kinh tế tư nhân

Trước tình hình đó, các doanh nghiệp mong muốn nhà nước phải chịu trách nhiệm đảm bảo tài sản đã bỏ ra, các công dân đòi hỏi sự ban phát các dịch vụ công cộng một cách có trách nhiệm, có hiệu quả hơn và một sự trung thực hơn trong việc

sử dụng những tài nguyên công cộng Đồng thời, công cuộc toàn cầu hoá làm gia tăng những đòi hỏi về một nhà nước linh hoạt, một nhà nước có thể đáp ứng nhanh

Trang 23

nhiều nhà nước: làm thế nào có thể kiểm soát được việc định ra các chính sách có thể là độc đoán, mà không tạo nên những sự cứng nhắc, không kìm chế sự đổi mới [4, tr.99] Để chia sẻ trách nhiệm và tham gia cùng nhà nước và kinh tế thị trường trong việc thúc đẩy phát triển bền vững và tiến bộ xã hội, đòi hỏi cần phải xây dựng một thể chế xã hội mới - xã hội dân sự

1.1.2 Một số quan điểm hiện đại về mối quan hệ giữa nhà nước và kinh tế thị trường

Quan niệm của trường phái Tân cổ điển

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh chuyển sang chủ nghĩa tư bản độc quyền, nhiều hiện tượng kinh tế và mâu thuẫn kinh tế mới xuất hiện Sự xuất hiện của chủ nghĩa Marx đã trở thành đối tượng phê phán mạnh mẽ của các nhà kinh tế học tư sản Kinh tế tư sản cổ điển tỏ ra bất lực trong việc bảo vệ tư bản và khắc phục những khó khăn về kinh tế, đòi hỏi phải có hình thức mới thay thế Trong bối cảnh đó, học thuyết kinh tế Tân cổ điển ra đời Tư tưởng về "bàn tay vô hình" của A.Smith (1723 - 1790) - nhà kinh tế chính trị cổ điển Anh đã thống trị trong các học thuyết kinh tế phương Tây đến đầu thế kỷ XX trong các trào lưu của học thuyết Tân cổ điển

Trường phái Tân cổ điển (những người vực dậy kinh tế học cổ điển trong thập niên 1970) tin rằng, nền kinh tế nhất thiết sẽ tự điều chỉnh, tiền và tài chính chỉ là những phương tiện giúp thực hiện những giao dịch kinh tế thực Họ ủng hộ tự do cạnh tranh, chống lại sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế, tin tưởng cơ chế thị trường sẽ tự điều tiết thăng bằng cung cầu và có hiệu quả Họ đưa ra một quan niệm tổng quát về nền kinh tế thị trường, từ đó đánh giá vai trò của nhà nước, phân biệt

rõ khu vực hoạt động của thị trường và phạm vi can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế

Theo phái Tân cổ điển, trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh tự do thường xuyên sẽ đảm bảo sự cân bằng chung của nền kinh tế Sự ổn định là thuộc tính vốn

có của nền kinh tế thị trường chứ không cần thiết đến sự can thiệp của nhà nước Theo quan niệm của các nhà kinh tế Tân cổ điển, sở hữu tư nhân sẽ đảm bảo cho nền kinh tế thị trường thích ứng với mọi sự thay đổi của giá cả Chính chế độ sở

Trang 24

hữu tư nhân là nhân tố cơ bản làm cho nền kinh tế thị trường luôn khôi phục được

sự cân bằng chung Do đó, nếu nhà nước thu hẹp không gian kinh tế của khu vực tư nhân chắc chắn sẽ dẫn tới bất ổn Vì vậy, nhà nước có những chức năng chính là: (1) Duy trì ổn định chính trị; (2) Tạo môi trường pháp luật ổn định và chính sách thuế khoá hợp lý, khuyến khích người tiêu dùng; (3) Sử dụng hợp lý ngân sách quốc gia, hướng chỉ tiêu ngân sách cho mục tiêu phát triển kinh tế như đào tạo nhân lực, nghiên cứu cơ bản để đổi mới công nghệ, hỗ trợ cho những ngành sản xuất có triển vọng cạnh tranh cao trên thị trường thế giới Ngoài những chức năng cơ bản đó, nhà nước không nên can thiệp quá sâu vào nền kinh tế thị trường

Quan niệm của John Maynard Keynes

Vào những năm 30 của thế kỷ XX, khủng hoảng kinh tế diễn ra thường xuyên Tình trạng thất nghiệp nghiêm trọng đã làm cho các lý thuyết tự điều chỉnh kinh tế của trường phái Cổ điển, Tân cổ điển tỏ ra kém hiệu quả Thực tiễn chứng minh rằng, các lý thuyết kinh tế cho rằng hoạt động của các quy luật kinh tế khách quan

sẽ tự điều tiết nền kinh tế và đưa đến sự cân bằng mà không cần đến sự can thiệp của nhà nước tỏ ra thiếu tính xác đáng Sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất và sự xã hội hoá lực lượng sản xuất đòi hỏi cần phải có sự can thiệp điều chỉnh của nhà nước đối với sự phát triển kinh tế Trước thực tế đó, học thuyết của John M.Keynes (1883 - 1946) ra đời

Khác với quan niệm của trường phái Tân cổ điển, Keynes cho rằng, muốn thoát khỏi khủng hoảng, thất nghiệp và suy thoái, nhà nước phải trực tiếp điều tiết kinh tế Ông đánh giá cao vai trò của hệ thống thuế khoá của nhà nước đối với nền kinh tế, theo ông, trước hết nhà nước cần có biện pháp để tăng cầu hiệu quả Chính phủ có thể can thiệp vào nền kinh tế thông qua công cụ chính sách tài khoá, bao gồm thuế và chi tiêu ngân sách Cách thức can thiệp này sẽ dẫn đến hiệu ứng số nhân cho nền kinh tế Ngoài ra, nhà nước có thể kích thích cầu đầu tư bằng cách tăng số cung về tiền tệ, hoặc chấp nhận lạm phát có điều tiết Theo Keynes, thất nghiệp và lạm phát là hai vấn nạn của nền kinh tế tư bản, trong đó, thất nghiệp nguy

Trang 25

hiểm hơn nhiều lần so với lạm phát Khi nền kinh tế ở trạng thái cân bằng với mức sản lượng và việc làm cao hơn thì khi đó, lạm phát sẽ tự động dừng lại

Từ những kiến giải của Keynes có thể nhận định rằng, nền kinh tế thị trường không có khả năng tự điều tiết tuyệt đối và vô hạn Do vậy, để thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển, nhà nước cần phải trực tiếp can thiệp và điều tiết Dựa trên cơ

sở lý thuyết của Keynes, các nhà kinh tế học tiếp tục xây dựng thành trường phái Keynes Trường phái Keynes đã kế thừa và phát triển các lý thuyết của Keynes trong điều kiện mới, tiếp tục ủng hộ sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế thông qua các chính sách khuyến khích đầu tư, tiêu dùng Trường phái này đã đưa

ra các lý thuyết tăng trưởng kinh tế, cụ thể hoá các chính sách kinh tế và hoàn thiện

cơ chế điều chỉnh nền kinh tế tư bản chủ nghĩa

Quan điểm của chủ nghĩa tự do mới

Chủ nghĩa tự do mới là một trong những trào lưu tư tưởng kinh tế lớn xuất hiện từ những năm 1930 và phát triển cho tới nay Dựa trên nền tảng lập trường tự

do tư sản cổ điển và kết hợp quan điểm của trường phái Keynes, trường phái trọng thương, chủ nghĩa tự do mới hình thành hệ tư tưởng mới điều tiết nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Theo các đại biểu của chủ nghĩa tự do mới, mô thức nền kinh tế phải đạt

được đồng thời hai yêu cầu sau: Một là,cần phải khai thác triệt để những ưu việt vốn

có của nền kinh tế thị trường; Hai là, nhà nước phải có cách thức điều tiết mới để

khắc phục những sai lệch của thị trường Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa tự

do mới, nhà nước có vai trò xác định trong nền kinh tế Tuy nhiên, nhà nước chỉ can thiệp ít để cho thị trường tự do phát triển với phương châm "Nhà nước tối thiểu, thị trường tối đa" Đây được coi là bước tiến bộ của chủ nghĩa tự do mới trong việc nhìn nhận vai trò của nhà nước đối với kinh tế thị trường

Trào lưu tự do mới xuất hiện ở nhiều nước tư bản với các tên gọi khác nhau, trong đó điển hình là các khuynh hướng ở Mỹ và ở Đức Lý thuyết tự do kinh tế ở

Mỹ biểu hiện thành nhiều trào lưu cụ thể với những tên gọi khác nhau như: phái Trọng tiền, phái Trọng cung, và phái Kinh tế vĩ mô mong đợi hợp lý Nhìn chung, các phái của chủ nghĩa tự do mới ở Mỹ về cơ bản đều cho rằng, chính sách can

Trang 26

thiệp kinh tế của nhà nước có hại nhiều hơn có lợi và vì vậy, nên giảm thiểu sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế Khác với các phái tự do mới của Mỹ, khuynh hướng của chủ nghĩa tự do mới ở Đức có tên là Chủ nghĩa thị trường xã hội cho rằng, nền kinh tế thị trường xã hội đòi hỏi nhà nước phải mạnh, song nhà nước chỉ can thiệp vào nền kinh tế với mức độ và tốc độ cần thiết và phải dựa trên hai nguyên tắc hỗ trợ và tương hợp Những đại biểu của học thuyết nền kinh tế thị trường xã hội ở Đức đã đưa nhà nước lên tầm cao hơn hẳn chủ nghĩa tự do cũ

Theo quan điểm của chủ nghĩa tự do mới, để lựa chọn cách thức can thiệp phù hợp, nhà nước cần phải hiểu được cấu trúc của nền kinh tế thị trường, cơ chế vận hành của nó và tôn trọng những quy luật khách quan liên quan đến cung - cầu Sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế thị trường cần phải dựa trên những nguyên

tắc cơ bản sau: Một là, phải đảm bảo chắc chắn cho sự tồn tại, thống trị của chế độ

tư hữu tư sản; Hai là, các xí nghiệp phải được độc lập, tự chủ trong hoạt động kinh

tế, không ai có quyền can thiệp; Ba là, phải phát huy tối đa tác dụng của cơ chế thị trường, cấm mọi tác động cản trở đến tự do kinh doanh; Bốn là, nhà nước điều

chỉnh những sai lệch của thị trường, bảo đảm những điều kiện thuận lợi cho lưu thông trong nước và nước ngoài, tạo môi trường lâu dài cho các doanh nghiệp cạnh tranh Ngoài ra, nhà nước cần duy trì hiệu năng và tạo ra những cân bằng xã hội bên ngoài nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động của nhà nước phải chịu sự kiểm soát của các công cụ pháp lý, đồng thời nhà nước phải đưa ra những chính sách thống nhất, không đối đầu nhau, không đi ngược lại thị trường và không

bị thay thế bởi các sai lệch của thị trường

Nói tóm lại, cho đến nay, mặc dù tồn tại nhiều hình thức kinh tế thị trường khác nhau nhưng trên thực tế chưa bao giờ tồn tại kiểu kinh tế thị trường hoàn toàn thoát ly khỏi nhà nước Nhà nước luôn là bộ phận hữu cơ tồn tại trong cấu trúc tổng thể của nền kinh tế thị trường Đây là một tất yếu kinh tế, tất yếu lịch sử, ở đó, nhà nước vừa có thể là một chủ thể sở hữu, bên cạnh những chủ thể sở hữu khác, đồng thời là một chủ thể quản lý Ở những giai đoạn lịch sử cụ thể, ở mỗi quốc gia cụ thể

Trang 27

sẽ quyết định đến tính chất, cách thức can thiệp, quản lý điều tiết và hệ quả của sự can thiệp này đối với nền kinh tế thị trường

Theo J.K.Galbraith, chủ nghĩa tự do mới chủ trương cá nhân phục vụ lợi ích của cộng đồng nhằm thoả mãn lợi ích cá nhân của mình; thị trường tự do và cạnh tranh tự do là cơ chế điều chỉnh của hệ thống; nhà nước càng ít can thiệp vào hoạt động kinh tế càng tốt; thị trường và cạnh tranh phải được bảo vệ bằng mọi giá Những chủ trương ấy quy định kết cấu xã hội theo cách thức tự do chủ nghĩa: nhà nước tối thiểu, thị trường trên hết và cùng với đó, xã hội dân sự là những gì "còn lại", một "phạm trù tồn dư" của kết cấu xã hội [Dẫn theo 10, tr.125]

1.2 Một số vấn đề lý luận về xã hội dân sự và tổ chức xã hội dân sự

1.2.1 Bối cảnh ra đời xã hội dân sự

Vào khoảng thế kỷ XV-XVI, sự phát triển của lực lượng sản xuất với nền sản xuất hàng hoá của một số nước phong kiến Tây Âu đã làm cho chủ nghĩa phong kiến bước vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc Tại các nước này, hàng loạt công trường thủ công và nhiều thành thị đã xuất hiện Đây là các trung tâm thương mại lớn Tầng lớp thị dân ngày càng trở nên đông đúc, tầng lớp tiểu thương, tiểu chủ xuất hiện ngày càng nhiều, giai cấp tư sản ngày càng khẳng định vị trí của mình trong xã hội Đây chính là những nhân tố dẫn đến sự khủng hoảng toàn diện của xã hội phong kiến

Dựa trên sự phát triển của lực lượng sản xuất, phương thức sản xuất phong kiến

tỏ rõ sự lỗi thời và bất lực trong quản lý nền kinh tế, trở thành yếu tố kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất là sự ra đời của lực lượng xã hội mới: tư sản và vô sản Giai cấp tư sản sau khi chiếm vị trí chủ đạo trong kinh tế đã nhanh chóng giành quyền lực trong lĩnh vực chính trị nhằm thủ tiêu quan hệ sản xuất phong kiến lỗi thời, thiết lập phương thức sản xuất mới, tiến

bộ, vượt qua sự khủng hoảng, tạo đà cho lực lượng sản xuất phát triển

Nhiệm vụ trên yêu cầu giai cấp tư sản thực hiện sứ mạng cao cả là phải tiến hành cách mạng xã hội, thay thế hình thái kinh tế - xã hội cũ bằng hình thái kinh tế -

xã hội mới, thiết lập hệ thống quan hệ sản xuất mới, tạo đà cho lực lượng sản xuất

Trang 28

phát triển Qua cuộc cách mạng tư sản, quyền lực chính trị chuyển từ tay giai cấp thống trị cũ sang giai cấp thống trị mới, tức là chuyển từ tay giai cấp địa chủ, phong kiến sang tay giai cấp tư sản Nhà nước tư sản ra đời là kết quả của cuộc cách mạng

tư sản Với sự ra đời của nhà nước tư sản, các đặc quyền, đặc lợi của giai cấp quý tộc phong kiến đã bị loại bỏ, giai cấp tư sản tuyên bố các quyền bình đẳng, tự do, bác ái, nhân quyền Nhà nước tư sản mới tiến bộ hơn rất nhiều so với nhà nước phong kiến trước đó mà nó đã thủ tiêu Thắng lợi của cuộc cách mạng tư sản và sự

ra đời của nhà nước tư sản đã đánh dấu một bước phát triển mạnh mẽ và tiến bộ, mở

ra một giai đoạn phát triển mới trong lịch sử nhân loại Mặc dù vậy, nhà nước tư sản vẫn không vượt khỏi bản chất nhà nước bóc lột, nhà nước tư sản xét về bản chất nó vẫn là nhà nước bóc lột

Bản chất của nhà nước tư sản do chính những điều kiện nội tại của xã hội tư sản quyết định, đó chính là cơ sở kinh tế, cơ sở xã hội và cơ sở tư tưởng Cơ sở kinh

tế của nhà nước tư sản là nền kinh tế tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ tư hữu tư bản

về tư liệu sản xuất (chủ yếu dưới dạng nhà máy, hầm mỏ, đồn điền ) được thực hiện thông qua hình thức bóc lột giá trị thặng dư Cơ sở xã hội của nhà nước tư sản

là một kết cấu xã hội phức tạp trong đó có hai giai cấp cơ bản, cùng tồn tại song song có lợi ích đối kháng với nhau là giai cấp tư sản và giai cấp vô sản Trong hai giai cấp này, giai cấp giữ vị trí thống trị là giai cấp tư sản, mặc dù chỉ chiếm thiểu

số trong xã hội nhưng lại là giai cấp nắm giữ tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội, chiếm đoạt những nguồn tài sản lớn của xã hội Giai cấp vô sản là bộ phận đông đảo trong xã hội, là lực lượng lao động chính trong xã hội Về phương diện pháp lý họ được tự do, nhưng vì không có tư liệu sản xuất nên họ chỉ là người bán sức lao động cho giai cấp tư sản, là những người làm thuê cho giai cấp tư sản Ngoài hai giai cấp chính nêu trên, trong xã hội tư sản còn có nhiều tầng lớp xã hội khác như: nông dân, tiểu tư sản, trí thức Về mặt tư tưởng, giai cấp tư sản luôn tuyên truyền về tư tưởng dân chủ - đa nguyên, nhưng trên thực tế luôn tìm mọi cách đảm bảo địa vị độc tôn của ý thức hệ tư sản, ngăn cản mọi sự phát triển và tuyên truyền tư tưởng cách

Trang 29

Tuy nhiên, trong nhà nước tư sản, mối quan hệ giữa nhà nước với cá nhân đã

có sự thay đổi rất căn bản Vai trò của cá nhân trong nhiều mối quan hệ được pháp luật tư bản ghi nhận Quyền con người được thừa nhận đầu tiên trong pháp luật tư sản Đó là những quyền tạo hoá bất khả xâm phạm Trong bối cảnh đó, xã hội dân

sự ra đời đánh dấu bước phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa Cùng với sự phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa - nền kinh tế có vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội, lợi ích cá nhân đóng vai trò động lực cho sự phát triển này Xã hội dân sự nếu chỉ được hiểu là một tập hợp của các cá nhân độc lập liên kết với nhau chỉ bởi các lợi ích cá nhân của riêng mình thôi thì chưa đủ Như Hegel đã chỉ

rõ, xã hội dân sự cần thiết phải có một tính thống nhất cụ thể do nhà nước đem lại Hegel coi xã hội dân sự như một mắt xích trong cấu trúc hữu cơ của đời sống đạo đức (ethical life) Đời sống đạo đức bao gồm ba yếu tố là gia đình, xã hội dân sự và nhà nước Đây cũng là ba giai đoạn thiết yếu trong sự phát triển của tự do Hegel đã coi xã hội dân sự hay xã hội tư sản chỉ là một giai đoạn phát triển của tự do, là nơi

đề cao quyền của chủ thể hay tự do cá nhân, là nơi con người có quyền theo đuổi lợi ích cá nhân của mình, được tự do trao đổi hàng hoá thông qua cơ chế thị trường Tuy nhiên, theo Hegel, những tự do này mang tính trừu tượng và hình thức bởi nó chứa đựng những mục đích cá nhân, mà phần lớn những mục đích này vẫn bị chi phối bởi những nhu cầu và ham muốn mang tính tự nhiên của con người như một sinh vật Tự do đích thực là tự do bao gồm cả năng lực giúp con người thoát khỏi những ham muốn bản năng và hành động theo nguyên lý lý tính Mặc dù tự do đích thực như vậy chỉ tồn tại trong đời sống đạo đức trong giai đoạn nhà nước nhưng xã hội dân sự là một phần quan trọng, đóng vai trò giáo dục và định hướng con người đến giai đoạn tiếp theo của đời sống đạo đức, giai đoạn nhà nước

1.2.2 Khái niệm xã hội dân sự

Quan niệm về xã hội dân sự trong lịch sử triết học

Thứ nhất, về vấn đề khái niệm xã hội dân sự, Aristotle (384 - 322 TCN) - nhà

triết học Hy Lạp cổ đại là người đặt nền móng quan trọng cho sự hình thành khái niệm này Trong hệ thống triết học của mình, mặc dù ông không đưa ra một khái

Trang 30

niệm hoàn chỉnh về xã hội dân sự nhưng cũng có thể thấy rõ những tư tưởng quan

trọng cho sự hình thành khái niệm này được đề cập đến trong khái niệm polis (thành

bang), hay khái niệm "cộng đồng chính trị" Theo quan niệm của Aristotle, "cộng đồng chính trị" hay "thành bang" có nhiệm vụ điều hành các hoạt động chính trị mang tính dân chủ của các công dân tự do trong cộng đồng vì mục đích phát triển chung của cá nhân và cộng đồng Chính việc cùng sống và điều hành cộng đồng đã kết nối các thành viên với nhau vì mục đích phát triển chung Trong quan niệm của

Aristotle về polis, các khái niệm "nhà nước" và "xã hội" gắn bó chặt chẽ với nhau

Nếu chúng ta hiểu xã hội dân sự như là một khu vực tách biệt khỏi nhà nước thì

hiển nhiên khái niệm đó không tồn tại trong quan niệm của Aristotle về polis Quan niệm về polis chính là tiền đề quan trọng cho sự hình thành khái niệm xã hội dân sự

của phương Tây sau này Ông đi đến khẳng định, bản chất của một cộng đồng chính trị là xã hội dân sự Theo ông, trong xã hội dân sự, các thành viên tham gia tự nguyện, không có sự cưỡng bức, hành động vì mục đích chung Như vậy, ở đây, sự phát triển của cá nhân luôn gắn với sự phát triển của cộng đồng, không có sự khác biệt lớn giữa cái "tư" với cái "chung" Trong tư tưởng của Aristotle, không hề có sự đối lập giữa "chính trị" (nhà nước) với "xã hội dân sự" [10, tr.15]

Montessquieu (1689 - 1755) - nhà triết học Khai sáng Pháp cũng đề cập đến những khía cạnh liên quan đến khái niệm xã hội dân sự trong tác phẩm của mình

Tuy nhiên, ông chỉ sử dụng từ "xã hội dân sự" duy nhất một lần trong tác phẩm Bàn

về tinh thần pháp luật, trong đó tính từ "dân sự" lại được liên kết với rất nhiều từ

ngữ khác: luật dân sự, chính quyền dân sự, tự do dân sự, nô lệ dân sự, quan lại dân

sự, những bất đồng dân sự, viên chức dân sự, tổ chức tư pháp dân sự, nhà nước dân

sự, trạng thái dân sự, [Dẫn theo 10, tr.46] Trong quan niệm của Montessquieu, không có sự phân biệt giữa hai phạm trù "xã hội dân sự" và "đời sống dân sự" Đây đều là những khái niệm bao hàm trong đó các hoạt động liên quan đến công dân và các quan hệ giữa các công dân trong xã hội như chính trị, luật pháp, kinh tế, giáo dục, đạo đức, dân chủ Bên cạnh đó, ông đã có sự phân biệt rõ ràng phạm vi của

Trang 31

các quan hệ dân sự với các lĩnh vực tôn giáo, quân sự và hình sự Như vậy, rõ ràng quan điểm của Montessquieu khác với quan điểm hiện đại về xã hội dân sự

Khái niệm xã hội dân sự được xác định rõ ràng trong quan điểm của Hegel (1770 - 1831) - nhà triết học người Đức Hegel đã xác định khái niệm xã hội dân sự như là sự tổng hợp những điều kiện vật chất của đời sống xã hội, là hệ thống những nhu cầu dựa trên chế độ tư hữu, những quan hệ tài sản, pháp luật và đẳng cấp Xã hội dân sự là lĩnh vực những điều kiện sinh hoạt vật chất, là sản phẩm có tính chất tự nhiên, trong đó các cá nhân ràng buộc với nhau thông qua những lợi ích vật chất ích

kỷ [6, tr.90] Đặc biệt, Hegel nhận thấy rằng, xã hội dân sự xuất hiện ở trong thời đại chủ nghĩa tư bản, ở những quốc gia tư sản Xã hội dân sự trong quan niệm của ông chính là xã hội tư sản Quan điểm này của Hegel đã được K.Marx kế thừa và phát triển sau này

Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức (1845 - 1846), K.Marx cho rằng, thuật ngữ

"xã hội dân sự" xuất hiện trong thế kỷ XVIII khi những quan hệ sở hữu thoát khỏi thể cộng đồng (Gemeinwesen) cổ đại và trung cổ Xã hội tư sản (Burgerliche Gesellschaft) với tính cách là xã hội tư sản chỉ phát triển cùng với giai cấp tư sản; tuy nhiên, tổ chức xã hội trực tiếp sinh ra từ sản xuất và giao tiếp và trong mọi thời đại đều cấu thành cơ sở của nhà nước và của kiến trúc thượng tầng tư tưởng, vẫn luôn luôn được gọi bằng danh từ đó" (xã hội dân sự - TG) [Dẫn theo 10, tr.108] Theo ông, xã hội dân sự chân chính ra đời và phát triển cùng với xã hội tư sản Do vậy, khi bàn về xã hội dân sự, K.Marx chủ yếu nói đến xã hội tư sản với tư cách là hình thái xã hội dân sự điển hình nhất trong thời kỳ mà ông sinh sống Trong quan niệm của K.Marx, xã hội dân sự thuộc về lĩnh vực kinh tế, nó chính là cơ sở hạ tầng, thuộc về tồn tại xã hội Xã hội dân sự ra đời và phát triển cùng với xã hội tư sản, vì thế, nó cũng gắn liền với kinh tế thị trường Như vậy, chúng ta có thể thấy, quan điểm của K.Marx và quan điểm hiện đại về khái niệm xã hội dân sự có những nét tương đồng với nhau Mặc dù trong quan niệm của ông, xã hội dân sự được đề cập đến chủ yếu ở phương diện hoạt động kinh tế, nhưng xét đến cùng, mục đích của học thuyết Marx là giải phóng con người, mang lại tự do, dân chủ, bình đẳng

Trang 32

cho con người Điều này hoàn toàn không khác với những quan điểm hiện đại về xã hội dân sự K.Marx quan niệm xã hội dân sự là một hiện tượng lịch sử và nó sẽ không thể tiếp tục tồn tại một khi giai cấp vô sản lật đổ giai cấp tư sản Sự tiêu vong của xã hội dân sự mà K.Marx nói đến ở đây cần được hiểu như là sự tiêu vong của hình thái xã hội dân sự tư bản chủ nghĩa, gắn với sự tiêu vong của quan hệ sản xuất

tư bản chủ nghĩa, chứ không phải là sự tiêu vong của các nghiệp đoàn, các tổ chức, các hiệp hội, Theo K.Marx, xã hội chủ nghĩa hay xã hội cộng sản chủ nghĩa là nơi

mà xã hội dân sự đạt đến đỉnh cao của nó [10, tr.119]

Thứ hai, khi bàn về vấn đề cơ sở hình thành xã hội dân sự, Thomas Hobbes

(1588 - 1679) và John Locke (1632 - 1704) - hai nhà triết học người Anh đã bắt đầu

từ việc nghiên cứu trạng thái tự nhiên Trong học thuyết của mình, Thomas Hobbes

đã sử dụng thuật ngữ "trạng thái tự nhiên" để chỉ trạng thái của đời sống con người trước khi có sự hình thành xã hội và chính quyền Thomas Hobbes cho rằng, trong trạng thái tự nhiên, bản tính con người là cá nhân chủ nghĩa dẫn đến trạng thái chiến tranh chống lại chính mình [10, tr.25] Theo ông, nếu cứ tiếp tục sống trong trạng thái tự nhiên, sống trong trạng thái chiến tranh thì con người sẽ không thể tồn tại lâu dài Vì thế, muốn hoà bình, con người buộc phải từ bỏ hoặc chuyển giao một số quyền tự nhiên của mình cho nhà nước, tạo thành một khế ước xã hội và kết quả là hình thành xã hội dân sự Như vậy, Thomas Hobbes cho rằng, xã hội dân sự chính

là nơi con người đánh đổi tự do tuyệt đối để nhận lấy sự an toàn cho chính mình Nói cách khác, ông xem việc gia nhập vào xã hội dân sự là điều hiển nhiên, người ta phải chấp nhận nếu không muốn chiến tranh như trong trạng thái tự nhiên Ngược lại, John Locke cho rằng, trạng thái tự nhiên là tốt đẹp, vì thế, muốn bảo vệ nó đòi hỏi con người phải tiến hành ký kết một khế ước xã hội để thành lập ra nhà nước Khế ước xã hội được coi là một phương tiện để con người thoát khỏi trạng thái tự nhiên, bước sang xã hội chính trị và xã hội dân sự Xã hội dân sự trong quan niệm của John Locke là điều tốt, là nơi bảo vệ cho sự an toàn tính mạng và sở hữu của các cá nhân trong cộng đồng

Trang 33

Những quan điểm về khế ước xã hội và xã hội dân sự của John Locke đã được J.J.Rousseau (1712 - 1778) - nhà triết học Khai sáng Pháp kế thừa và phát triển sau này Theo đó, J.J.Rousseau cho rằng, bước chuyển của loài người từ trạng thái tự nhiên sang trạng thái dân sự là tất yếu [10, tr.62] Ông viết, "sự chuyển biến từ trạng thái tự nhiên qua trạng thái dân sự mang lại một thay đổi rất lớn lao nơi con người; trong hành

xử, công lý thay cho bản năng đã đem đến cho con người giá trị đạo đức chưa từng có Chỉ lúc ấy, khi tiếng nói của bổn phận thay thế cho các thôi thúc vật chất và lòng ham muốn, thì con người - cho đến bấy giờ hãy còn nghĩ đến bản thân - mới nhận ra mình bị buộc hành động theo những nguyên tắc khác và phải lắng nghe lý trí trước khi làm theo

sở thích của mình" [45, tr.51] Theo ông, sự hình thành khế ước xã hội và xã hội dân sự

đã đánh dấu một bước phát triển cao hơn của xã hội loài người

Immanuel Kant (1724 - 1804) - triết gia cổ điển Đức đã kế thừa quan niệm của các nhà Khai sáng, đặc biệt là J.J.Rousseau về sự hình thành xã hội dân sự dựa trên khế ước xã hội Theo đó, xã hội dân sự được hiểu là một tổ chức xã hội được hình thành thông qua sự ký kết một bản khế ước xã hội, sự thành lập nhà nước và hệ thống luật pháp Xã hội dân sự bao gồm toàn bộ đời sống sinh hoạt của con người, cuộc sống gia đình, công việc buôn bán, các tổ chức tôn giáo, các tổ chức xã hội, đời sống chính trị, cuộc sống quân đội, đời sống kinh tế Đặc biệt, I.Kant không dừng lại ở việc mô tả xã hội dân sự bên ngoài với khế ước xã hội, nhà nước, luật pháp, mà ông còn tìm ra bản chất và những quy luật tất yếu bên trong của nó Ông mong muốn xây dựng một xã hội dân sự hoàn hảo dựa trên những nguyên tắc đạo đức hay quy luật luân lý [10, tr.79]

Thứ ba, khi bàn về vấn đề mối quan hệ giữa xã hội dân sự và nhà nước,

Thomas Hobbes cho rằng, nhà nước và xã hội dân sự xuất hiện đồng thời và tồn tại không tách rời nhau Theo ông, nhà nước và xã hội dân sự là trạng thái xã hội được hình thành trên cơ sở của khế ước xã hội, đánh dấu bước chuyển của con người thoát ra khỏi trạng thái tự nhiên Thông qua việc ký kết khế ước của người dân, chính quyền được thiết lập và nó có quyền lực tuyệt đối, không thể bị thay đổi bởi ý muốn chủ quan của người dân Khác với Thomas Hobbes, John Locke

Trang 34

lại cho rằng, sau khi đại đa số người dân hợp nhất lại thành một xã hội, người dân

sử dụng quyền lực chung của mình để làm ra luật cho cộng đồng, đồng thời họ bầu

ra những người đứng đầu cơ quan nhà nước để thi hành luật Như vậy, John Locke

đã có một bước tiến dài so với Thomas Hobbes trong quan niệm về mối quan hệ giữa xã hội dân sự và nhà nước Trong quan điểm của John Locke, hình thức chính quyền là một chính quyền dân chủ, trong đó xã hội dân sự trao quyền lực lập pháp cho nhà nước chỉ trong một khoảng thời gian giới hạn Nhà nước tồn tại phụ thuộc vào việc trao quyền hoặc phế bỏ của xã hội dân sự, của cộng đồng Những quan điểm của John Locke đã trở thành nền tảng cho các lý luận về nhà nước, xã hội dân sự sau này

Cũng giống như Thomas Hobbes và John Locke, J.J.Rousseau cũng cho rằng,

xã hội dân sự ra đời đồng thời cùng với nhà nước dựa trên sự phát triển tất yếu của

xã hội từ trạng thái tự nhiên thông qua khế ước xã hội Theo ông, xã hội dân sự luôn cần phải có nhà nước để đảm bảo và duy trì ổn định của nó bằng luật pháp Quyền lực tối cao thuộc về xã hội dân sự, thuộc về toàn dân Trong mối quan hệ với nhà nước, công dân không những được nhà nước đảm bảo quyền lợi mà còn phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước Công dân có vai trò xây dựng pháp luật, bảo vệ quyền lợi của cộng đồng, đồng thời bảo vệ quyền lợi của chính mình Những tư tưởng của J.J.Rousseau đã đặt ra những vấn đề gợi mở cho việc xây dựng xã hội dân sự và nhà nước pháp quyền hiện đại ngày nay

Trong lịch sử triết học trước Marx, nhà triết học đầu tiên nghiên cứu đầy đủ nhất mối quan hệ biện chứng giữa xã hội dân sự và nhà nước chính là Hegel Hegel

đã xác định, gia đình, xã hội dân sự và nhà nước là những giai đoạn trong sự phát triển của "thực thể đạo đức" [Dẫn theo 10, tr.100] Trong đó, ông xác định nhà nước như là kết quả phát triển của gia đình và xã hội dân sự Đồng thời, ông cũng coi nhà nước là cơ sở đúng đắn của gia đình và xã hội dân sự Theo Hegel, trong mối quan hệ này, xã hội dân sự phụ thuộc vào nhà nước, còn nhà nước là hình thức chân chính và cao nhất của thực thể đạo đức, của đời sống xã hội Ông phân biệt xã hội dân sự với

Trang 35

chức chính trị của xã hội Tuy nhiên, Hegel đã rơi vào mâu thuẫn khi phân tích mối quan hệ giữa xã hội dân sự và nhà nước theo nhiều cách tiếp cận phương pháp luận khác nhau Khi căn cứ vào cấu trúc thì Hegel nghiên cứu xã hội dân sự như là giai đoạn trước nhà nước, đồng thời, khi phân tích một nhà nước hiện thực cụ thể thì ông coi xã hội dân sự như là cơ sở của nhà nước Ngược lại, khi coi nhà nước là giai đoạn phát triển cao nhất của thực thể đạo đức so với gia đình và xã hội dân sự, thì Hegel lại đặt nhà nước đứng trên xã hội dân sự và xã hội dân sự hoàn toàn phụ thuộc vào nhà nước Theo ông, nhà nước trong hiện thực nói chung là cái thứ nhất mà chỉ trong phạm vi ấy thì gia đình mới phát triển thành xã hội dân sự [Dẫn theo 10, tr.106] K.Marx đã tiếp thu những điểm hợp lý trong quan niệm của Hegel về xã hội dân sự Tuy nhiên, khi đánh giá tư tưởng của Hegel về mối quan hệ giữa xã hội dân sự và nhà nước, K.Marx đã phê phán quan niệm của Hegel coi nhà nước như

là cơ sở và động lực của xã họi dân sự, coi nhà nước đứng trên chế độ tư hữu Theo K.Marx, biện chứng của quan hệ giữa xã hội dân sự và nhà nước là ở chỗ,

xã hội dân sự đã sinh ra nhà nước, còn nhà nước là kết quả phát triển lịch sử của gia đình và xã hội dân sự Theo đó, K.Marx cho rằng, xã hội dân sự luôn là cơ

sở, tiền đề của nhà nước, đồng thời quyết định kiến trúc thượng tầng, trong khi nhà nước là đại diện cho lợi ích của xã hội dân sự Tuy nhiên, trong quan điểm của K.Marx, nhà nước không phải đại diện cho toàn bộ các giai cấp, tầng lớp của

xã hội dân sự, mà chỉ đại diện cho giai cấp tư sản K.Marx thừa nhận sự tách rời giữa nhà nước và xã hội dân sự, đó là sự tách rời giữa một bên là lĩnh vực chính trị và bên kia là những quan hệ kinh tế Một trong những đặc trưng lớn nhất của

xã hội dân sự là không mang tính chính trị, xã hội dân sự thuần tuý mang tính kinh tế Trong quan điểm của K.Marx, ông ít bàn đến những thành tố của xã hội dân sự, như những tổ chức, những nghiệp đoàn, các hiệp hội, Ông cũng không

đề cập nhiều đến các vấn đề liên quan đến xã hội dân sự, như cơ chế tổ chức, vai trò của chúng đối với nhà nước và xã hội Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận rằng, những quan điểm của K.Marx về xã hội dân sự đã cho chúng ta một cách nhìn đúng đắn, khách quan, lịch sử cụ thể đối với vấn đề này

Trang 36

Các cách tiếp cận hiện đại về xã hội dân sự

Cho đến nay, vẫn còn nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm xã hội dân sự Do vậy, trước hết chúng ta cần xác lập một định nghĩa nhất định, để từ đó công trình nghiên cứu này mới có một cơ sở nhất quán để tiến hành công việc tìm tòi và phân tích vai trò của các tổ chức xã hội dân sự trong mối quan hệ giữa nhà nước và kinh tế thị trường

Trung tâm Xã hội dân sự (CCS) thuộc Trường Kinh tế London (LSE) định nghĩa: "Xã hội dân sự là từ dùng để chỉ phạm vi những hoạt động tập thể tự nguyện xung quanh những lợi ích, mục đích và giá trị được chia sẻ Về mặt lý luận, những hình thức tổ chức của nó phân biệt với những hình thức tổ chức của nhà nước, gia đình và thị trường, dù trên thực tế, ranh giới giữa nhà nước, xã hội dân sự, gia đình

và thị trường thường rất phức tạp, mập mờ và có sự dàn xếp Thường thì xã hội dân

sự bao hàm sự đa dạng của địa điểm, chủ thể hành động và hình thức tổ chức, biến đổi theo trình độ tổ chức, quyền hạn và sức mạnh của chúng Xã hội dân sự thường được hình thức hoá thành những tổ chức như những hội từ thiện có ghi danh, những

tổ chức phát triển phi chính phủ, những nhóm cộng đồng, những tổ chức nữ quyền, những tổ chức dựa trên đức tin, những hiệp hội nghề nghiệp, công đoàn, những nhóm tự giúp đỡ, những phong trào xã hội, những đoàn thể doanh nhân, những tổ chức liên kết và luật gia đoàn" [Dẫn theo 10, tr.132 - 133] Trong định nghĩa của CCS, xã hội dân sự được hiểu là những hoạt động mang tính tập thể, dựa trên nguyên tắc tự nguyện, được thực hiện công khai và không chịu áp lực từ lợi ích của bất kỳ nhóm nào trong xã hội Bên cạnh đó, có sự phân biệt giữa xã hội dân sự với gia đình, nhà nước và thị trường Ngoài ra, xã hội dân sự được nhìn nhận dưới các hình thức rõ ràng như những tổ chức, nhóm, nghiệp đoàn, Do vậy, hiện nay, khái niệm "xã hội dân sự" (civil society) thường được hiểu gần như đồng nghĩa với khái niệm "tổ chức xã hội dân sự" (civil society organization - CSO)

Tổ chức phi chính phủ quốc tế CIVICUS (Liên hội quốc tế các tổ chức XHDS)

định nghĩa: Xã hội dân sự là "lĩnh vực vượt ra ngoài phạm vi gia đình, nhà nước và

Trang 37

chung" [59] Định nghĩa này được sử dụng chính thức cho tài liệu nghiên cứu về chỉ

số xã hội dân sự (CSI - Civil Society Index), trong đó Việt Nam là một trong chín nước tham gia khảo sát Định nghĩa này nhằm mục tiêu mở rộng và bao quát hơn phạm vi hoạt động của xã hội dân sự không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà còn cả trong lĩnh vực chính trị - xã hội Đồng thời, định nghĩa này chủ yếu tập trung vào các chức năng (người hành động) chứ không chỉ hình thức, cơ cấu của xã hội dân sự

Theo UNDP thì "XHDS là một khu vực thứ ba tồn tại song song và tác động

qua lại/ảnh hưởng lẫn nhau với nhà nước và kinh doanh tư nhân" [60] Trong định

nghĩa này, xã hội dân sự được hiểu là khu vực nằm trong mối quan hệ hữu cơ với khu vực nhà nước và thị trường; chúng nương tựa vào nhau nhưng cũng chế ngự nhau để hài hoà hơn trong phát triển

Mặc dù còn có sự khác nhau nhiều về khái niệm của xã hội dân sự nhưng nhìn chung, xã hội dân sự có các đặc trưng cơ bản sau đây:

Một là, xã hội dân sự là tổ chức ở ngoài nhà nước, là đối tác với nhà nước;

Hai là, xã hội dân sự hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện (có tổ chức);

Ba là, xã hội dân sự tự chủ, độc lập về tài chính (tự trang trải);

Bốn là, quy mô, hình thức tồn tại, các thiết chế tổ chức của xã hội dân sự rất đa dạng;

Năm là, mục tiêu chung của xã hội dân sự là vì sự phát triển của cộng đồng,

phần lớn là tổ chức không vì lợi nhuận (phi lợi nhuận)

Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm xã hội dân sự với

nội hàm như sau: Xã hội dân sự là tổng thể các quan hệ xã hội được tổ chức một

cách tự nguyện, tự quản, tự chủ, để thực hiện các mục đích chung, dưới hình thức các phong trào, các tổ chức nằm ngoài thể chế nhà nước, liên kết với nhau bằng hệ thống các quy tắc thoả thuận của các thành viên

1.2.3 Khái niệm tổ chức xã hội dân sự và sự phân loại các tổ chức xã hội dân sự

Khái niệm tổ chức xã hội dân sự

Các tổ chức xã hội dân sự (CSOs) là tổ chức của những người hoạt động phi nhà nước không nhằm mục tiêu lợi nhuận cũng như tìm kiếm quyền lực quản lý Các CSO đoàn kết mọi người nhằm thúc đẩy các mục tiêu và lợi ích chung

Trang 38

[57, tr.3] Các tổ chức này hiện diện trong đời sống công cộng, đại diện thể hiện lợi ích và giá trị của thành viên của mình hoặc của những người khác, và thành lập dựa trên cơ sở đạo đức, văn hoá, tôn giáo hoặc từ thiện CSO bao gồm các tổ chức phi chính phủ (NGO), hiệp hội nghề nghiệp, các quỹ, các viện nghiên cứu độc lập, các

tổ chức cộng đồng (CBOs), các tổ chức tín ngưỡng, các tổ chức nhân dân, các phong trào xã hội và các công đoàn

Một số nhà nghiên cứu khác thì cho rằng, tổ chức xã hội dân sự là hình thức liên hiệp con người, một trong những hình thức tổ chức cộng đồng xã hội và là một phương thức tổ chức đời sống xã hội cần thiết trong lĩnh vực "phi nhà nước" Tổ chức

xã hội dân sự chính là các hội quần chúng với tư cách là tổ chức tự nguyện của công dân nhằm phát huy tính năng động sáng tạo, tự giác, tự nguyện, tự quản của người dân - những người chung ngành nghề, sở thích, giới có chung mục đích tập hợp, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên tham gia, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra sự cân bằng giữa nhà nước với cá nhân, giữa các cộng đồng dân cư với các tổ chức xã hội dân sự khác Các tổ chức xã hội dân sự hoạt động trong khuôn khổ pháp luật của nhà nước, không phải là cơ quan quyền lực thuộc nhà nước Vì vậy, các tổ chức xã hội dân sự cũng còn được một số người gọi là các tổ chức phi chính phủ (Non Govermental Organizations - NGOs)

Vậy khái niệm tổ chức xã hội dân sự được hiểu như sau: Tổ chức xã hội dân sự là

tổ chức tự nguyện của người dân được thành lập một cách hợp pháp dựa trên cơ sở cùng ngành nghề, cùng giới, cùng sở thích có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, thành viên, hoạt động thường xuyên, không vì mục tiêu lợi nhuận, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thành viên, hội viên, hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Mục đích hoạt động của tổ chức xã hội dân sự không trái lợi ích của dân tộc, Tổ quốc, với pháp luật và đạo đức xã hội

Sự phân loại các tổ chức xã hội dân sự

Trong Báo cáo tóm tắt về xã hội dân sự Việt Nam của Ngân hàng phát triển Châu

Trang 39

- Các tổ chức phi chính phủ (NGO): là các tổ chức chuyên môn, trung gian và

phi lợi nhuận cung cấp hoặc hỗ trợ việc cung cấp các dịch vụ liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội, nhân quyền, phúc lợi công cộng hoặc cứu trợ khẩn cấp

- Hiệp hội nghề nghiệp: Đây là tổ chức đại diện cho quyền lợi của các thành

viên là những người hoạt động trong một lĩnh vực nghề nghiệp nhất định hoặc làm những nghề đặc biệt nào đó Các hiệp hội nghề nghiệp có thể tạo ra những chuẩn mực liên quan đến ngành nghề của các thành viên, ví dụ như Hiệp Hội kiến trúc sư,

kế toán công được chứng nhận và các nhà kinh tế học

- Các quỹ: Là tổ chức từ thiện được thành lập bởi các cá nhân hay đơn vị nào đó

với tư cách là một thực thể pháp lý (một tập đoàn hoặc một quỹ uỷ thác) ủng hộ những sự nghiệp phù hợp với mục tiêu của quỹ Ví dụ: Quỹ Ford (Mỹ), Quỹ Aga Khan (Thuỵ Sỹ), Quỹ uỷ thác Sir Ratan Tata (Ấn Độ), Quỹ Ayala (Philippines)

- Các viện nghiên cứu độc lập: Là những tổ chức ngoài công lập (tự trang trải

tài chính) chủ yếu thực hiện các hoạt động nghiên cứu và phân tích liên quan đến các vấn đề chính sách công và truyền bá những kết quả nghiên cứu và khuyến nghị của mình với hy vọng có thể gây ảnh hưởng lên các nhà hoạch định quyết sách và những người xác lập chủ trương Ví dụ như Viện nghiên cứu phát triển Campuchia, các thành viên của Mạng lưới các Viện nghiên cứu Kinh tế Nam Á, và Viện nghiên cứu Nguồn lực thế giới

- Các tổ chức cộng đồng (CBO): Các tổ chức này thường giải quyết những mối

quan tâm của các thành viên Đặc tính cơ bản của CBO là chúng có thể huy động các cộng đồng thông qua việc thể hiện các nhu cầu, tổ chức và thực hiện những quá trình có sự tham gia, tiếp cận các dịch vụ phát triển từ bên ngoài, chia sẻ lợi ích giữa các thành viên Các tổ chức này có chức năng đa dạng bao gồm những hoạt động liên quan đến các vấn đề kinh tế, xã hội, tôn giáo và thậm chí là giải trí Các ví dụ

về CBO gồm các Hiệp hội cư dân trong một địa bàn, Hiệp hội người thuê nhà, các

tổ chức phát triển cộng đồng, các nhóm sử dụng nước và Hiệp hội tín dụng

Trang 40

- Các tổ chức tín ngưỡng: Những nhóm có cơ sở tôn giáo được thành lập quanh

một khu vực thờ cúng hoặc giáo đoàn, một cơ sở tôn giáo hoặc một cơ sở có hoặc không đăng ký có tôn chỉ tôn giáo

- Các tổ chức nhân dân (PO): Là những tổ chức gồm những tình nguyện viên

bình dân, nhằm thúc đẩy sự phồn thịnh về kinh tế và xã hội của các thành viên Tại một số nước, thuật ngữ PO thường được dùng hoán đổi với CBO, PO thường là những tổ chức giải quyết các mối quan tâm liên quan đến một lĩnh vực cụ thể (ví dụ như Hội ngư phủ) hơn là một khu vực địa lý cụ thể Những ví dụ khác về PO bao gồm các PO được thành lập bởi nông dân, lao động địa phương hoặc các nhóm người bản địa

- Các phong trào xã hội: Là những nhóm phi chính thức có quy mô lớn, gồm

nhiều cá nhân hoặc tổ chức nhằm thay đổi xã hội, thông qua những hành động tập thể có tổ chức và lâu dài Phong trào xã hội không phải là những thể chế thường trực, mà là những nhóm người được tập hợp, theo đuổi mục tiêu của mình và giải thể Ví dụ về phong trào xã hội bao gồm các phong trào như: nhằm chấm dứt chế độ

nô lệ, tử hình, a-pác-thai, tự do kinh tế Phong trào dân sự rộng lớn nhất kêu gọi kết thúc tình trạng nghèo và bất công là Tiếng gọi Toàn cầu Hành động Xoá nghèo

- Công đoàn: Là các hiệp hội được tổ chức một cách chính thức của người lao

động, những người đoàn kết lại để thúc đẩy thực hiện các quan điểm của mình về tiền lương, giờ làm và điều kiện làm việc Công đoàn thường được tổ chức trên cơ sở một ngành nghề hoặc trong một ngành công nghiệp Chúng thường xuyên gắn kết với các liên đoàn, đại hội hoặc mạng lưới bảo trợ cao hơn như là: Đại hội Công đoàn Indonesia, Đại hội Công đoàn Quốc gia Ấn Độ, Mạng lưới Lao động Châu Á của các

Tổ chức Tài chính Quốc tế, Tổ chức Dịch vụ công Quốc tế và Liên đoàn Quốc tế các Công đoàn

Bên cạnh những tổ chức xã hội dân sự (CSO) mô tả trên đây, cũng có những liên minh hoặc mạng lưới các CSO tập hợp lại trên cơ sở địa lý, thành viên, nhóm mục tiêu, hoặc lĩnh vực hoạt động Ví dụ như Hội nghị Mạng lưới về các NGO về

Ngày đăng: 21/12/2018, 11:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w