1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khai thác giá trị các di sản trong phát triển du lịch của tỉnh quảng ninh

155 108 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 155
Dung lượng 4,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tiễncho thấy, việc bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản luôn đồng hành - gắn liềnvới việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và nguồn lực quan trọng để phát triển củađất nước, vì

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÊ THANH HUỆ

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÊ THANH HUỆ

KHAI THÁC GIÁ TRỊ CÁC DI SẢN TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA

TỈNH QUẢNG NINH

Mã số: 60 31 05 01

Người hướng dẫn khoa học: TS DƯƠNG QUỲNH PHƯƠNG

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 1 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu trong luận văn là trung thực Luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào.

Tác giả

LÊ THANH HUỆ

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 2 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tác giả luận văn xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến cô giáo hướng dẫn khoa học: TS Dương Quỳnh Phương đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn này.

Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Địa lý, đặc biệt các thầy cô trong tổ Kinh tế - xã hội, Ban chủ nhiệm khoa Địa lý trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên; Phòng sau đại học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành luận văn này.

Tác giả xin chuyển lời cảm ơn đến Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ninh, Ban quản lý các di tích trọng điểm tỉnh Quảng Ninh; Phòng Văn hóa - Thông tin, UBND thị xã Quảng Yên cùng những người dân địa phương đã giúp tôi trong quá trình thu thập tài liệu thực tế.

Cuối cùng, tôi xin tỏ lòng biết ơn gia đình, bạn bè đã chia sẻ những khó khăn, cổ vũ, động viên và tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả hoàn thành luận văn.

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015

Tác giả luận văn

Lê Thanh Huệ

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 3 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH .vi MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 2

3 Mục tiêu và nhiệm vụ 4

4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 5

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 5

6 Những đóng góp của đề tài 8

7 Cấu trúc của đề tài 8

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DI SẢN VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 9

1.1 Cơ sở lí luận 9

1.1.1 Di sản 9

1.1.2 Du lịch 16

1.1.3 Vai trò của di sản đối với sự phát triển du lịch 26

1.2 Cơ sở thực tiễn 27

1.2.1 Khái quát về di sản, di tích quốc gia đặc biệt ở Việt Nam 27

1.2.2 Thực tiễn phát triển du lịch từ khai thác giá trị các di sản của Việt Nam 32 Tiểu kết chương 1 34

Chương 2 DI SẢN - THẾ MẠNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA TỈNH QUẢNG NINH 35

2.1 Tổng quan tỉnh Quảng Ninh 35

2.1.1 Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ 35

2.1.2 Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 37

2.1.3 Đặc điểm kinh tế, xã hội 40

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 4 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

2.2 Giá trị của các di sản được UNESCO công nhận và các di sản đặc biệt

cấp quốc gia ở tỉnh Quảng Ninh 43

2.2.1 Vịnh Hạ Long - Di sản thiên nhiên thế giới 43

2.2.2 Di tích quốc gia đặc biệt Yên Tử 48

2.2.3 Di tích quốc gia đặc biệt chiến thắng Bạch Đằng 50

2.3 Hiện trạng phát triển du lịch từ việc khai thác giá trị các di sản của tỉnh Quảng Ninh 54

2.3.1 Vịnh Hạ Long 54

2.3.2 Di tích quốc gia đặc biệt Chùa Yên Tử 62

2.3.3 Di tích quốc gia đặc biệt Bạch Đằng 68

2.4 Phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với khai thác di sản trong phát triển du lịch của tỉnh 69

2.4.1 Điểm mạnh 69

2.4.2 Điểm yếu 70

2.4.3 Cơ hội 71

2.4.4 Thách thức 71

2.5 Liên kết không gian du lịch của tỉnh Quảng Ninh, kết nối di sản với những điểm du lịch khác 72

Tiểu kết chương 2 76

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA CÁC DI SẢN VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA TỈNH QUẢNG NINH 77

3.1 Cơ sở để đưa ra các giải pháp 77

3.1.1 Định hướng phát triển du lịch gắn với việc bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản 77

3.1.2 Quy hoạch phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 78

3.2 Nhóm các giải pháp chung 81

3.2.1 Về phát triển cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật 81

3.2.2 Về đào tạo nguồn nhân lực 82

3.2.3 Về công tác quản lí và quy hoạch của nhà nước 83

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – v ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

3.2.4 Xây dựng các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch, bảo tồn các

khu di tích văn hoá và có những biện pháp bảo vệ môi trường du lịch

83 3.3 Một số giải pháp phát triển du lịch gắn với phát huy các giá trị di sản của tỉnh Quảng Ninh 84

3.3.1 Vịnh Hạ Long 84

3.3.2 Di tích quốc gia đặc biệt Yên Tử 92

3.3.3 Di tích quốc gia đặc biệt Bạch Đằng 97

Tiểu kết chương 3 100

KẾT LUẬN 101

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN

102 TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

PHỤ LỤC 1

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 4 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

Trách nhiệm hữu hạn UBND :

Ủy ban nhân dân

UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên Hợp Quốc

VQG : Vườn Quốc gia

WHC : Hội đồng di sản thế giới

EATOF : Diễn đàn du lịch Đông Á

WTM : Hội chợ Du lịch quốc tế

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 5 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Di sản thế giới tại Việt Nam 28

Bảng 1.2 Danh sách di tích quốc gia đặc biệt 29

Bảng 2.1 Số lượng khách du lịch đến thăm quan Vịnh Hạ Long giai đoạn 2009 - 2013 59

Bảng 2.2 Số lượng khách nội địa đến thăm Vịnh Hạ Long giai đoạn 2004 - 2013 60

Bảng 2.3 Số lượng khách quốc tế đến thăm Vịnh Hạ Long giai đoạn 2004 - 2013 60

Bảng 2.4 Doanh thu vé thăm Vịnh Hạ Long giai đoạn 2004 - 2013 61

Bảng 2.5 Các tuyến tham quan Vịnh Hạ Long 62

Bảng 2.6 Doanh thu cáp treo tại Yên Tử giai đoạn 2005 - 2014 67

Bảng 2.7 Lượng khách du lịch đến Quảng Ninh giai đoạn từ năm 2009-2013

75 Bảng 3.1 Các dự án quy hoạch, bảo tồn và phát huy giá trị Di sản Vịnh Hạ Long đến năm 2020 85

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 6 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

DANH MỤC CÁC HÌNH

2.1 36

h 2.2 53Hình 2.3 Biểu đồ thể hiện khách du lịch đến Vịnh Hạ Long giai đoạn

2004 - 2013 59Hình 2.4 Biểu đồ thể hiện lượng khách du lịch đến Yên Tử giai đoạn

2004 - 2013 662.5 74

Hình 2.6 Biểu đồ thể hiện tổng khách và tốc độ tăng khách du lịch tỉnh

Quảng Ninh giai đoạn 2004 - 2013 76

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 1 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Di sản tự nhiên và di sản văn hoá là tài sản vô giá của mỗi quốc gia Thực tiễncho thấy, việc bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản luôn đồng hành - gắn liềnvới việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và nguồn lực quan trọng để phát triển củađất nước, vì di sản của mỗi quốc gia chính là một trong những nội lực giúp ngành dulịch cất cánh Di sản và du lịch có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ Du lịch không chỉdựa vào di sản để phát triển, mà còn mang sứ mệnh cao cả đó là tôn vinh giá trị disản đồng thời bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản đã được kết tinh và gìn giữ

Có nhiều lý do để thu hút con người đến với du lịch trong đó các di sản lànhịp cầu giúp con người tìm về với lịch sử của dân tộc, tìm về những nét độc đáo,hấp dẫn của thiên nhiên Việt Nam là một đất nước có cảnh quan, địa hình, thiênnhiên phong phú đa dạng cộng với truyền thống văn hóa lịch sử hàng nghìn năm củadân tộc, vì vậy, nước ta có một khối lượng khá lớn các di sản cả về thiên nhiên lẫnvăn hóa, lịch sử Với 22 di sản được UNESCO vinh danh ở tầm thế giới (gồm cả disản tư liệu), hơn 4 vạn di tích và danh lam thắng cảnh phong phú, khai thác giá trị disản trong hoạt động du lịch vẫn luôn được khẳng định là quân “Át chủ bài” trongchiến lược phát triển du lịch Việt Nam

Quảng Ninh là một tỉnh nằm ở phía Đông Bắc của nước ta, phía bắc giáp đấtnước Trung Hoa rộng lớn, phía nam là các tỉnh thuộc tam giác châu thổ sông Hồng,phía tây tựa lưng vào núi rừng trùng điệp, phía đông nghiêng thoải dần xuống vịnhBắc Bộ, bao bọc phía ngoài là hơn 2000 hòn đảo lớn nhỏ, đặc biệt là Vịnh Hạ Long -được hai lần UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới Đồng thời QuảngNinh còn có lịch sử văn hóa truyền thống từ lâu đời được lưu giữ lại thông qua các lễhội truyền thống, thể hiện đậm nét văn hóa tâm linh, bản sắc văn hóa người Việt Sovới các tỉnh khác trong cả nước, Quảng Ninh là một trong những tỉnh có thế mạnhnhất để phát triển du lịch, đặc biệt là dựa vào các di sản cấp quốc gia và di sản thếgiới Nếu khai thác tốt lợi thế này thì ngành du lịch của tỉnh phát triển nhanh chóng,kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế khác Vấn đề đặt ra đối với tỉnh QuảngNinh là cái giá phải trả của quá trình thương mại hóa du lịch, quan điểm phát triểnnóng vội là rất đắt và bài học của quá trình phát triển kinh tế bền vững là hãy để

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 1 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

chính người dân cùng tham gia vào quá trình bảo tồn, phát huy giá trị di sản của dântộc

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 2 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

Xuất phát từ những lí do có tính cấp thiết trên, tôi đã chọn hướng nghiên cứu

đề tài: “KHAI THÁC GIÁ TRỊ CÁC DI SẢN TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA TỈNH QUẢNG NINH”.

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

2.1 Trên thế giới

Mỗi di sản của các quốc gia đều có vai trò rất quan trọng cả về giá trị tựnhiên và văn hóa, xã hội Chúng được hình thành một cách tự nhiên qua một thờigian khá dài có thể là trải qua cùng với thời kì thành tạo và phát triển của Trái Đấtứng với các di sản thiên nhiên - địa chất, cũng có thể là được tạo ra trong từng quátrình phát triển của con người Chính vì vậy, con người muốn tìm hiểu cụ thể về các

di sản thông qua nhiều công trình nghiên cứu để hiểu rõ hơn về chúng

Các di sản thiên nhiên, văn hóa - xã hội đều có vai trò quan trọng trong việcphát triển du lịch ở hầu hết các quốc gia trên thế giới

Từ năm 1972, Hội đồng di sản thế giới (WHC) của UNESCO đã được thànhlập và tiến hành xây dựng các tiêu chuẩn, điều kiện công nhận của các di sản văn hóa

và thiên nhiên thế giới, đồng thời nghiên cứu, giúp đỡ các quốc gia trong việc nghiêncứu, tôn tạo, bảo vệ các di sản thế giới Trên thế giới, đã có nhiều các công trình

nghiên cứu các di sản như “Quản lý di sản ở New Zealand và Australia, Quản lý du

khách, Tuyên truyền quảng bá và Tiếp thị” của Michael C Hall và Simon McArthur

(năm 1993), “Đa dạng sinh học rừng nhiệt đới và Công ước di sản Thế Giới” của

Jeffrey, Sayer, Ishwaran, Natarajan, Thorsell, James và TodSagaty (năm 2000), cuốn

sách: “Du lịch bền vững trong những khu vực được bảo vệ” của Tiến sỹ Paul Eagles

(năm 2002) thuộc Ủy ban thế giới về những khu vực được bảo vệ với sự đóng góp

của nhiều chuyên gia quốc tế, công trình “World cultural and natural heritage sites:

Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới” (2002) của Luo Zhewen đã giới thiệu các

danh thắng ở Trung Quốc đã được công nhận là những di sản văn hoá Thế giới,

Ngành du lịch trên thế giới được ra đời cùng với sự phát triển của các ngànhcông nghiệp, thương mại và những sinh hoạt tôn giáo Nhưng những công trình khoahọc nghiên cứu về các khía cạnh của du lịch như tài nguyên du lịch, quy hoạch dulịch và tổ chức lãnh thổ du lịch mới chỉ xuất hiện vào cuối thế kỉ XIX và ngày càngnhận được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học cùng với xu hướng quy hoạchphát triển

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 3 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

kinh tế - xã hội và phát triển của ngành du lịch từ những năm 30 của thế kỉ XX Vềsau này, số lượng khách du lịch ngày càng tăng lên, du lịch càng được quan tâm vànghiên cứu ở nhiều quốc gia Một số các công trình nghiên cứu về các khía cạnh của

du lịch: “Tổ chức lãnh thổ du lịch” của Gunn (1972), “Nghiên cứu các chỉ tiêu đánh

giá, phục vụ mục đích quy hoạch du lịch” của L.I Mukhina (1973), “Du lịch và sự phát triển sáng tạo” của Lawson và Baud Bovy (1977),…

các công trình nghiên cứu về di sản: “Di sản thiên nhiên thế giới: Vườn quốc gia

Phong Nha-Kẻ Bàng” Trần Nghi (năm 2003), “Quần thể di tích Huế” Phan Thuận

An (năm 2005), “Giá trị nổi bật về địa chất vịnh Hạ Long” Trần Đức Thạnh, Tony Waltham,… Mới đây, Tổng cục du lịch Việt Nam cho xuất bản cuốn “Would

heritage in Viet Nam” nhằm cung cấp cho bạn đọc thông tin đầy đủ, phong phú về vị

trí, đặc điểm, các giá trị nổi bật của di sản cũng như các dịch vụ du lịch liên quanđến từng di sản,… và một số bài báo có giá trị trên các tạp chí Du lịch Việt Nam,Nghiên cứu kinh tế, Toàn cảnh sự kiện và dư luận…

Đối với ngành du lịch ở Việt Nam được đánh dấu bắt đầu từ năm 1960, từ đóđến nay, các công trình nghiên cứu Địa Lí du lịch vẫn chưa nhiều Phần lớn tậptrung vào tổ chức không gian du lịch, cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu dulịch của một số tác giả tiêu biểu như PGS.TS Vũ Tuấn Cảnh, GS.TS Lê Thông,PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ, PGS.TS Đặng Duy Lợi,… Một số các dự án, công trình

nghiên cứu về du lịch Việt Nam như: “Quy hoạch phát triển vùng du lịch Nam

Trung bộ và Nam bộ”, 2001; “Quy hoạch phát triển vùng Đông Bắc”, 1995; “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Trung du miền núi Bắc Bộ đến năm 2020”,

2006; Địa lý du lịch Việt Nam, Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, 2010; Quản lý di sản

văn hóa với phát triển du lịch, Lê Hồng Lý (chủ biên) 2010, Gần đây, Tổng cục

du lịch Việt Nam đã xuất bản cuốn sách: “Di sản Thế giới ở Việt Nam” (2012).

Trong cuốn sách này, các di sản thế giới tại Việt Nam (di sản thiên nhiên, di sản

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 3 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

văn hóa vật thể, di sản văn hóa phi vật thể, di sản tư liệu) đã được giới thiệu vàphân tích dưới góc độ du lịch

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 4 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

2.3 Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

Trên thực tế, đã có một số công trình nghiên cứu về di sản tỉnh Quảng Ninhcủa Tổng cục Du lịch hay Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ninh, điểnhình là Vịnh Hạ Long - di sản thế giới được 2 lần UNESCO công nhận, vì vậy là đề

tài nghiên cứu cho nhiều nhà nghiên cứu như “Lịch sử địa chất vịnh Hạ Long” Trần Đức Thạnh (năm 1998), “Báo cáo thẩm định của IUCN về địa chất vịnh Hạ Long” của Giáo sư Smith, “Những di sản thể giới nổi tiếng” Trần Mạnh Thường (năm

2000),…

Một số cuốn sách viết về du lịch Quảng Ninh, chủ yếu là giới thiệu, hướngdẫn khách du lịch: “Quảng Ninh, Đất và Người” của Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ QuảngNinh, xuất bản năm 2005; “Du lịch Quảng Ninh” năm 1995 và “Quảng Ninh - Hạ

Long” năm 2003 của UBND tỉnh Quảng Ninh; “Du lịch Hạ Long” Phạm Hoàng

Hải (năm 2012),…

Hầu hết các công trình nghiên cứu hay các bài báo cáo, tài liệu đều chỉ tậptrung nghiên cứu về một điểm cụ thể mà chưa có tài liệu nào nghiên cứu về tổnghợp các di sản gắn với sự phát triển du lịch của tỉnh Vì vậy, đề tài “Khai thác giá trịcủa các di sản trong phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh” là một đề tài nghiêncứu độc lập, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ có những đóng góp nhất định cho sựphát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới

3 Mục tiêu và nhiệm vụ

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu, vận dụng một cách có chọn lọc những vấn đề lí luận

và thực tiễn về giá trị di sản, du lịch; vận dụng vào việc khai thác giá trị di sản phục

vụ du lịch ở Quảng Ninh Đề tài đề xuất một số giải pháp có tính khuyến nghị nhằmbảo tồn và phát huy các giá trị của di sản và phát triển du lịch hướng tới sự pháttriển bền vững ở tỉnh Quảng Ninh

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan có chọn lọc những vấn đề lí luận và thực tiễn về di sản, du lịch

- Đánh giá tiềm năng và giá trị của các di sản đối với sự phát triển du lịchcủa tỉnh Quảng Ninh

- Thu thập thông tin tư liệu, tìm hiểu thực tế, hiện trạng phát triển du lịch tỉnhQuảng Ninh, đặc biệt là tại các khu di sản

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 4 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

- Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị của di sản vàphát triển du lịch hướng tới sự phát triển bền vững ở tỉnh Quảng Ninh

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 5 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: đề tài nghiên cứu tập trung nghiên cứu Vịnh Hạ Long - di sản

thế giới được UNESCO công nhận hai lần và hai di tích quốc gia đặc biệt là khu ditích chùa Yên Tử và khu di tích chiến thắng Bạch Đằng

Từ đó, tập trung nghiên cứu về giá trị của chúng đối với sự phát triển du lịchcủa tỉnh Quảng Ninh; phân tích hiện trạng phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh;Định hướng phát triển du lịch gắn với các giá trị di sản trong thời kì hội nhập

- Về nguồn tư liệu: đề tài sử dụng số liệu thống kê về dân số, kinh tế, du lịch

(số liệu từ năm 2009 đến năm 2013) và các bài báo của những cơ quan liên quan vàđiều tra thực tế ở tỉnh Quảng Ninh

- Về không gian: tỉnh Quảng Ninh (tập trung vào các khu vực có di sản, đặc

biệt là di sản được UNESCO công nhận và di sản cấp Quốc gia)

- Về thời gian: đề tài tập trung sử dụng, phân tích các tài liệu, số liệu thống

kê của các cơ quan chức năng như Sở văn hóa - du lịch - thể thao tỉnh Quảng Ninhtrong 10 năm trở lại đây

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

5.1 Quan điểm nghiên cứu

5.1.1 Quan điểm duy vật biện chứng

Mọi sự vật hiện tượng đều vận động và biến đổi không ngừng và đều có xuhướng phát triển Dựa trên quan điển duy vật biện chứng để nghiên cứu sẽ giúp chocác kết quả nghiên cứu có tính logic và phản ánh đúng quá trình phát triển vànguyên nhân của sự phát triển

đề cần nghiên cứu

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 6 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

Quảng Ninh là tỉnh có diện tích khá lớn, đồng thời cũng có tài nguyên du lịchkhá phong phú, đặc biệt là các di sản Yếu tố này được xem xét là một trong cácmối quan hệ tổng thể

5.1.4 Quan điểm lịch sử

Các đối tượng, hiện tượng địa lý đều phải có thời gian hình thành và pháttriển nhất định Vì vậy, cần phải vận dụng quan điểm này để gắn liền giữa lí luận vàthực tiễn, từ đó tránh có cái nhìn phiến diện, chủ quan về vấn đề nghiên cứu Đồngthời, khi xem xét quá khứ và hiện tại của các đối tượng, ở một mức độ nhất định cóthể dự đoán được tương lai của chúng

Đối với luận văn, dù là di sản tự nhiên hay văn hóa, xã hội cũng đều có mộtthời gian dài để hình thành Sự hình thành của chúng gắn liền với quá trình thànhtạo của Trái Đất hay sự phát triển lịch sử, văn hóa của người dân tộc trên cả nướcnói chung, của tỉnh nói riêng Đồng thời, sự hình thành và phát triển của du lịchQuảng Ninh của gắn liền với chúng Tạo ra sức hấp dẫn riêng biệt, một thương hiệu

du lịch của tỉnh Quảng Ninh

5.1.5 Quan điểm phát triển bền vững

Ngành du lịch hiện nay đang trở thành một ngành kinh tế phát triển cao Tuynhiên, việc khai thác lợi thế của các di sản trong phát triển du lịch cần phải gắn liềnvới sự phát triển bền vững Cần có những kế hoạch và biện pháp sao cho sử dụnghợp lý, hiệu quả, đồng thời cũng cần tôn tạo và phát huy những giá trị quý báu củacác di sản để đảm bảo phát triển bền vững, không ảnh hưởng tới thế hệ tương lai

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 7 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

Phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh cần phải gắn với việc bảo vệ môi trường xanh sạch - đẹp, đồng thời cũng cần có những biện pháp kịp thời ngăn chặn những tácđộng xấu đến môi trường tự nhiên, văn hóa và xã hội

-5.1.6 Quan điểm viễn cảnh

Du lịch là ngành luôn vận động và phát triển không ngừng, vì vậy nó đòi hỏinhững cách thức hoạt động, sản phẩm và dịch vụ du lịch mới nhằm đáp ứng nhu cầungày càng đa dạng, phong phú của khách thăm quan Vận dụng quan điểm này đểđưa ra những định hướng, giải pháp phát triển du lịch cụ thể trên cơ sở đánh giáhiện trạng hoạt động hướng tới sự phát triển lâu dài cho du lịch Quảng Ninh

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp, xử lý các số liệu, tài liệu

Đây là phương pháp được sử dụng để nghiên cứu những đối tượng có mốiquan hệ đa chiều, biến động trong không gian và thời gian, do đó rất thích hợpvới việc nghiên cứu du lịch Phương pháp này cho phép tác giả tổng quan các tàiliệu, kế thừa những nghiên cứu trước đó và có cơ sở đ ể đưa ra những nhận định

và kết quả của công trình Những thông tin, những nguồn tài liệu tham khảo, sửdụng từ các nguồn xử lý, thống kê từ các ban ngành có liên quan đến di sản và

du lịch Quảng Ninh (Nhất là tài liệu từ Sở văn hóa, thể thao - du lịch QuảngNinh, UBND Quảng Ninh,…)

Ngoài ra, để phục vụ cho mục đích và yêu cầu của luận văn, tác giả có sửdụng tài liệu từ các dự án, đề tài nghiên cứu có liên quan đến di sản và du lịch của cảnước nói chung và của tỉnh nói riêng Đồng thời, phân tích, tổng hợp và xử lí số liệu

để tự biên vẽ, thành lập một số bản đồ, biển đồ nhằm làm nổi bật vấn đề cần nghiêncứu

Hiện nay, sự bùng nổ mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã giúp cho việckhai thác và xử lí thông tin qua internet trở nên dễ dàng, là nguồn tư liệu hữu íchcho việc nghiên cứu luận văn

5.2.2 Phương pháp thực địa

Đây là một phương pháp khá đặc trưng và truyền thống của khoa học Địa

Lý Cùng với việc nghiên cứu bản đồ và tìm hiểu các tài liệu liên quan, phương

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 7 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

pháp thực địa sẽ cho chúng ta thấy thực tế hơn về các vấn đề cần nghiên cứu, đặcbiệt với đối với các đề tài về du lịch

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 8 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

Trước và trong quá trình làm luận văn, tác giả đã trực tiếp đi thực tế ở một số

di sản (như Vịnh Hạ Long, Chùa Yên Tử) cũng như một số tuyến du lịch trong tỉnh.Qua đó, chọn lọc và ghi chép nhưng tư liệu cần thiết cho quá trình nghiên cứu luậnvăn

5.2.3 Phương pháp biểu đồ, bản đồ, lược đồ

Đối với khoa học địa lý thì các bản đồ, biểu đồ, lược đồ là không thể thiếu.Chúng vừa là những hình ảnh minh họa nhưng cũng đồng thời chúng ta cũng khaithác kiến thực từ đó Bằng ngôn ngữ kí hiệu, bản đồ mô phỏng hình ảnh thu nhỏ mộtcách trung thực nhất các đối tượng nghiên cứu Địa lý du lịch với sự phân bố về bềmặt không gian lãnh thổ cũng như bản chất của đối tượng Kết hợp với bản đồ làbiểu đồ chỉ ra xu hướng phát triển của hiện tượng hoặc các dạng biểu đồ so sánh vớikhông gian nhất định

5.2.4 Phương pháp SWOT

Du lịch là ngành có tính liên tục, liên ngành, mang tính xã hội hóa cao.Trong vấn đề khai thác di sản đối với sự phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh, tácgiả sử dụng phương pháp SWOT để đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và tháchthức của vấn đề Từ đó, cho thấy cái nhìn tổng quát về việc khai thác di sản trongphát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh nói riêng và cả nước nói chung

5.2.5 Phương pháp sử dụng các kĩ thuật phụ trợ: ứng dụng CNTT để biên vẽ và

7 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung đề tàiđược chia thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về di sản và phát triển du lịch

Chương 2: Di sản - thế mạnh phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 8 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

Chương 3: Một số giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị của các di sản và pháttriển du lịch của tỉnh Quảng Ninh

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 9 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

Theo Từ điển tiếng Việt, Di sản là di chỉ, di tích hay danh thắng của một

quốc gia như rừng, dãy núi, hồ, sa mạc, tòa nhà, quần thể kiến trúc, văn hoá dân tộc

… có những giá trị về tự nhiên, những giá trị văn hoá vật thể hoặc phi vật thể được

để lại từ xa sưa vả tồn tại cho tới ngày nay, đó chính là tài sản của mỗi quốc gia

Theo nghiên cứu của UNESCO, toàn bộ di sản thế giới được chia làm baloại: di sản thiên nhiên, di sản văn hóa và di sản hỗn hợp

* Di sản thiên nhiên

Trong Công ước về di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới tại đại hội Tổ

chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên Hợp Quốc (UNESCO) họp ở Paris từ

17 tháng 10 đến 21 tháng 11 năm 1992, kỳ họp lần thứ 17 Những loại hình thuộc về di sản thiên nhiên:

Các cấu tạo tự nhiên (natural features): bao gồm các thành tạo vật lý hoặcsinh học hoặc các nhóm có thành tạo thuộc loại đó mà, xét theo quan điểm thẩm mỹhoặc khoa học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu;

Các thành tạo địa chất và địa văn (geological and physiographical formations)

và các khu vực được khoanh vùng chính xác làm nơi cư trú cho các loài động vật vàthảo mộc bị đe doạ mà, xét theo quan điểm khoa học hoặc bảo tồn là có giá trị nổitiếng toàn cầu;

Các di chỉ tự nhiên (natural sites) hoặc các khu vực tự nhiên đã dược khoanhvùng cụ thể mà, xét theo quan điểm khoa học, bảo tồn hoặc vẻ đẹp thiên nhiên là cógiá trị nổi tiếng toàn cầu

Như vậy, Những di sản thiên nhiên là những tuyệt tác do thiên nhiên tạo racùng với quá trình thành tạo của Trái Đất Các đặc trưng tự nhiên bao gồm thành tạo

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 9 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

hoặc các nhóm thành tạo vật lý hoặc sinh học có giá trị nổi bật toàn cầu xét theoquan

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 10 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

điểm thẩm mỹ hoặc khoa học; các thành tạo địa chất hoặc địa văn và các khu vực córanh giới được xác định chính xác tạo thành một môi sinh của các loài động thực vậtđang bị đe dọa có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm khoa học hoặc bảo toàn;các di chỉ tự nhiên hoặc các khu vực tự nhiên có ranh giới được xác định chính xác

có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm khoa học, bảo toàn hoặc vẻ đẹp tựnhiên

*Di sản văn hóa

Di sản là những giá trị vật chất và tinh thần của một quốc gia, dân tộc để lạicho thế hệ sau Văn hóa là là một hệ thống các giá trị chân lý, chuẩn mực, mục tiêucùng con người thống nhất với nhau trong quá trình tương tác và hoạt động sángtạo Nó được bảo tồn và chuyển cho thế hệ nối tiếp theo sau

Có thể hiểu di sản văn hóa là toàn bộ những sản phẩm mà con ngườisáng tạo ra, chứa đựng những giá trị về chân, thiện, mĩ và nó được truyền từđời này sang đời khác

Trên bình diện quốc tế, năm 1989, UNESCO đã định nghĩa DSVH như sau:DSVH là tập hợp những biểu hiện vật thể hoặc biểu tượng di sản quá khứ truyền lạicho mỗi nền văn hóa, và do đó là của toàn thể nhân loại Là một phần của việckhẳng định cũng như làm giàu thêm bản sắc văn hóa, là một dạng di sản nhân loại,DSVH mang lại những đặc điểm riêng cho mỗi địa danh cụ thể, và vì thế nên là nơicất giữ kinh nghiệm con người Việc bảo tồn và giới thiệu DSVH này là cốt lõi củamọi chính sách văn hóa [6 tr.14]

Luật DSVH của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định:

"DSVH bao gồm DSVH phi vật thể và DSVH vật thể, là sản phẩm tinh thần, vậtchất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệkhác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam" [5]

Như vậy, theo các quan điểm trên, con người bao giờ cũng có 2 nhu cầu cơbản, đó là nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần Do đó hoạt động của conngười cũng có 2 loại cơ bản, đó là sản xuất ra của cải vật chất và sản xuất ra các giátrị tinh thần Tương ứng với nó là những giá trị của DSVH vật thể và DSVH phi vậtthể:

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 10 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

DSVH vật thể bao gồm toàn bộ những sản phẩm do sản xuất vật chất củacon người tạo ra như các công trình kiến trúc, công cụ sản xuất và sinh hoạt, đồ ăn,

đồ mặc, các phương tiện đi lại DSVH vật thể là một dạng thức tồn tại của văn hóa

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 11 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

chủ yếu dưới dạng vật thể có hình khối, có chiều cao, chiều rộng, trọng lượng,đường nét, màu sắc, kiểu dáng tồn tại trong không gian và thời gian xác định.DSVH vật thể được tạo tác từ bàn tay khéo léo của con người, để lại dấu ấn lịch sử

rõ rệt DSVH vật thể được khách thể hóa và tồn tại như một thực thể ngoài bản thâncon người, luôn chịu sự thách thức của quy luật bào mòn của thời gian, trong sự tácđộng của con người thời đại sau DSVH vật thể luôn đứng trước nguy cơ biến dạnghoặc thay đổi rất nhiều so với nguyên gốc Do đó, vấn đề giữ gìn những DSVH vậtthể lâu đời đòi hỏi cần công nghệ kỹ thuật cao mới có thể phục nguyên lại như cũ

Tại điều 4, Luật DSVH định nghĩa DSVH vật thể như sau: "DSVH vật thể làsản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử- vănhóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia" [7]

DSVH phi vật thể bao gồm những sản phẩm do hoạt động sản xuất tinh thầncủa con người sáng tạo ra như phong tục, tập quán thể hiện trong lối sống, trong cácmối quan hệ xã hội của con người, các quy ước thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân

và cộng đồng, giữa con người với tổ tiên, với lực lượng siêu nhiên mà con ngườiluôn tin tưởng Đó là toàn bộ tri thức liên quan đến việc sản xuất ra của cải vật chất

để duy trì sự sống và phát triển của con người như sản xuất lương thực, y học dângian, văn hóa ẩm thực, nghề thủ công Đó là các loại hình nghệ thuật biểu diễn như

âm nhạc, múa rối, sân khấu, các loại hình thức trình diễn cho đến kiến trúc, trangtrí, đồ họa Đó là các loại hình nghệ thuật ngôn từ như truyện kể, ca dao, dân ca,thành ngữ, tục ngữ

Các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo

đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan màcác cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, côngnhận là một phần DSVH của họ Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác,DSVH phi vật thể được các cộng đồng và nhóm người không ngừng tái tạo để thíchnghi với môi trường và quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của

họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích

lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 12 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

“DSVH phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” [31]

Trên thực tế, sự phân biệt hai thể loại DSVH như trên chỉ có ý nghĩa quyước, thực ra chúng có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau, khó phân biệt rạch ròi

Cả hai loại này sẽ mất đi nếu không được cộng đồng, cá nhân giữ gìn và phát huy

Dựa trên những văn bản của Đảng, Nhà nước Việt Nam và của các tác giả đitrước về DSVH mà chúng tôi vừa khái quát, có thể rút ra: DSVH là tổng thể nhữngtài sản văn hóa truyền thống bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thểtrong hệ thống giá trị của nó, được chủ thể nhận biết, qua đó tiến hành giữ gìn vàphát huy nhằm đáp ứng những nhu cầu và đòi hỏi của cuộc sống hiện tại

Trong Điều 1 của luật Di sản văn hóa: “Di sản văn hóa gồm DSVH vật thể và

di sản văn hóa phi vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [30]

Ngoài ra còn các khái niệm về: Di tích lịch sử - văn hoá là công trình xâydựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó

có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiênhoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc cógiá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học

* Di sản hỗn hợp

Năm 1992, Ủy ban di sản thế giới mới đưa ra khái niệm di sản hỗn hợp haycòn gọi là cảnh quan văn hóa để miêu tả các mối quan hệ tương hỗ nổi bật giữa vănhóa và thiên nhiên của một số khu di sản Hay nói cách khác, di sản thế giới hỗnhợp là một loại di sản kép, nó đáp ứng đủ cả hai yếu tố nổi bật về văn hóa và thiênnhiên Một địa danh được công nhận là di sản thế giới hỗn hợp phải thỏa mãn ítnhất là một tiêu chí về di sản văn hóa (tiêu chuẩn i, ii, iii, vi, v, vi) và một tiêu chí

về di sản thiên nhiên (tiêu chuẩn vii, viii, ix, x) [1]

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 13 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

1.1.1.2 Tiêu chí công nhận di sản

* Tiêu chí công nhận di sản của UNESCO

- Tiêu chí để đưa các tài sản văn hóa vào danh sách Di sản thế giới [1]:

Các di tích: Các công trình kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội họa hoànhtráng, các yếu tố hay các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, hang cư trú và cácđặc trưng kết hợp, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệthuật và khoa học

Quần thể các công trình xây dựng: Quần thể các công trình xây dựng táchbiệt hay liên kết lại với nhau mà, do kiến trúc của chúng, do tính đồng nhất hoặc vịtrí của chúng trong cảnh quan, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử,nghệ thuật và khoa học

Các di chỉ: các công trình do con người tạo nên hoặc có sự kết hợp giữa thiênnhiên và nhân tạo, và các khu vực trong đó có các di chỉ khảo cổ có giá trị nổi bậttoàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học

Một di tích, một quần thể các công trình xây dựng hoặc một di chỉ được địnhnghĩa như trên nếu đề nghị được đưa vào danh sách Di sản thế giới sẽ được coi là có

“giá trị toàn cầu nổi bật” phù hợp với mục tiêu của Công ước khi Ủy ban thấy rằngchúng đáp ứng một hoặc nhiều tiêu chí sau đây, và chứng minh được tính nguyênbản của chúng Vì vậy, mỗi di sản đệ trình cần phải:

"(i) là một kiệt tác cho thấy thiên tài sáng tạo của con người, hoặc

(ii) biểu hiện sự giao lưu các giá trị của con người, trong một thời gian dài hoặc trong một khu vực văn hóa của thế giới, về những bước phát triển trong kiến trúc, nghệ thuật tượng đài hoặc quy hoạch thành phố và thiết kế cảnh quan; hoặc

(iii) là minh chứng độc đáo hoặc chí ít cũng là hiếm có cho truyền thống văn hóa hoặc cho một nền văn minh còn đang tồn tại hoặc đã mất; hoặc

(iv) là một mẫu hình nổi bật của một loại công trình xây dựng hoặc quần thể kiến trúc hay cảnh quan minh họa cho một (các) giai đoạn trong lịch sử loài người; hoặc

(v) là một mẫu hình nổi bật về nơi sinh sống truyền thống hoặc sử dụng đất đai của con người đại diện cho một (hoặc nhiều) nền văn hóa, đặc biệt khi nó trở nên dễ bị tổn thương do tác động của những biến đổi không cưỡng lại được; hoặc

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 14 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

(vi) liên quan trực tiếp hoặc đích thực tới các sự kiện hay truyền thống đang còn tồn tại, với những ý tưởng hoặc niềm tin, với các tác phẩm nghệ thuật hoặc văn học có ý nghĩa toàn cầu nổi bật (tiêu chuẩn này chỉ được xem xét trong những hoàn cảnh đặc biệt hoặc liên quan đến các tiêu chí văn hóa hoặc thiên nhiên khác khi Ủy ban xem xét có đưa vào danh sách Di sản thế giới hay không)" [1, tr.17]

- Tiêu chí một tài sản thiên nhiên là một di sản thế giới [1]

“Các đặc trưng tự nhiên bao gồm thành tạo hoặc các nhóm thành tạo vật lý

hoặc sinh học có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm thẩm mỹ hoặc khoa học; các thành tạo địa chất hoặc địa văn và các khu vực có ranh giới được xác định chính xác tạo thành một môi sinh của các loài động thực vật đang bị đe dọa có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm khoa học hoặc bảo toàn; các di chỉ tự nhiên hoặc các khu vực tự nhiên có ranh giới được xác định chính xác có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm khoa học, bảo toàn hoặc vẻ đẹp tự nhiên” Một tài sản

thiên nhiên - như đã định nghĩa trên - khi được đệ trình để đưa vào danh sách Di sảnthế giới, sẽ được coi là “có giá trị toàn cầu nổi bật” theo mục tiêu của Công ước nếu

Ủy ban thấy chúng đáp ứng một hay nhiều tiêu chí sau đây, và đáp ứng đầy đủnhững điều kiện toàn vẹn dưới đây Do đó, các khu được đệ trình cần phải:

"(i) là những mẫu hình nổi bật tiêu biểu cho các giai đoạn lớn của lịch sử

trái đất, bao gồm hồ sơ về sự sống, các tiến trình địa chất có ý nghĩa đang diễn ra trong sự phát triển của địa hình hoặc các đặc điểm địa mạo hay địa văn có ý nghĩa; hoặc

(ii) là những mẫu hình nổi bật tiêu biểu cho các quá trình sinh thái và sinh học đang diễn ra trong sự tiến hóa và phát triển của các hệ sinh thái đất, nước ngọt, vùng duyên hải ven biển và của các cộng đồng động thực vật; hoặc

(iii) chứa đựng những hiện tượng tự nhiên siêu phàm hoặc những khu vực có

vẻ đẹp tự nhiên kiệt xuất có tầm quan trọng về thẩm mỹ, hoặc

(iv) chứa đựng những khu cư trú tự nhiên quan trọng và có ý nghĩa nhấtđối với việc bảo toàn tại chỗ tính đa dạng sinh học, bao gồm cả các loài có giá trịtoàn cầu nổi bật có nguy cơ tuyệt chủng theo quan điểm khoa học và bảotoàn".[4, tr.17,18]

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 15 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

1.1.1.3 Phân loại, phân cấp quản lí di sản ở Việt Nam

Theo Điều 29, luật di sản văn hóa số 28/2001/QH10, Căn cứ vào giá trị lịch

sử, văn hóa, khoa học, di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh (gọi là di tích)được chia thành: di tích cấp tỉnh, di tích cấp quốc gia và di tích cấp quốc gia đặc biệt

Di sản thế giới tại Việt Nam sẽ được Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin (nay

là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) lập hồ sơ di tích tiêu biểu của Việt Nam trìnhThủ tướng Chính phủ quyết định việc đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Vănhóa của Liên hợp quốc xem xét Hồ sơ này phải có ý kiến thẩm định bằng văn bảncủa Hội đồng di sản văn hóa quốc gia [30]

Đối với các di sản, Bộ Văn hóa - Thông tin có trách nhiệm trong việc quản lýnhà nước về di sản văn hóa theo phân công của Chính phủ Đồng thời, Chính phủcũng quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan thuộcChính phủ trong việc phối hợp với Bộ Văn hóa - Thông tin để thực hiện thống nhấtquản lý nhà nước về di sản văn hóa Ủy ban Nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm

vụ và quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa ở địaphương theo phân cấp của chính phủ [30] (Điều 55, Chương V, Mục 1, Luật di sảnvăn hóa số 28/2001/QH10) Đối với các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia trong quátrình thăm dò hoặc cá nhân, tổ chức tìm kiếm được, sẽ phải giao nộp và tạm nhậpvào kho bảo quản của bảo tàng cấp tỉnh nơi phát hiện ra Bảo tàng cấp tỉnh có tráchnhiệm tiếp nhận, quản lý và báo cáo cho Bộ Văn hóa - Thông tin

Các cơ quan chức năng trong việc quản lý di sản cần phải thực hiện cácnhiệm vụ nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị to lớn của các di sản Việc xâydựng và thực hiện các cơ chế, chính sách, chương trình, giải pháp quản lý; thực hiệnđầu tư, tu bổ, tôn tạo các công trình phục vụ bảo tồn và phát huy giá trị di sản, cùngvới các ngành, địa phương có liên quan thẩm định, trình ủy ban nhân dân tỉnh phêduyệt các dự án, chương trình phát triển kinh tế xã hội trên khu vực di sản theo quyđịnh Nhằm góp phần quảng bá hình ảnh cũng như là những giá trị văn hóa truyềnthống của Việt Nam ra trường quốc tế

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 16 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

1.1.2 Du lịch

1.1.2.1 Khái niệm về du lịch

Thực tế hoạt động du lịch đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển của xãhội loài người, từ thời kì cổ đại với một số nền văn hóa lớn như Ai Cập, Hi Lạp Tuynhiên đó chỉ là những hoạt động mang tính tự phát Đến thế kỉ thứ XVII, thời kìPhục hưng ở các nước Châu Âu, kinh tế xã hội đã khá phát triển, các lĩnh vực thôngtin, giao thông vận tải theo đó cũng phát triển nhanh chóng, điều đó đã thúc đẩy dulịch phát triển Đến thời kì hiện đại, cùng với sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoahọc kĩ thuật, sự ra đời của các phương tiện giao thông mới, du lịch có điều kiện pháttriển mạnh mẽ Đồng thời trong thời đại công nghiệp hiện nay, con người phải làmviệc nhiều với các loại máy móc, máy tính, bó hẹp trong không gian văn phòng nênnhu cầu đi du lịch càng lớn nhằm có những thời gian nghỉ ngơi, thư giãn Như vậy

du lịch đã dần trở thành một hoạt động quen thuộc trong đời sống của con người,đồng thời ngày càng phát triển phong phú cả về chiều rộng lẫn chiều sâu

Thuật ngữ “du lịch” ngày nay được sử dụng khá rộng rãi và phổ biến trênthế giới Tuy nhiên còn có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau về nguồn gốc củathuật ngữ này

Theo một số nhà nghiên cứu, du lịch bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp “tonos” nghĩa

là đi một vòng Thuật ngữ này được La tinh hóa thành “turnur” và sau đó thành

“tour” (theo tiếng Pháp), nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi, còn “touriste” làngười đi dạo chơi Theo Robert Langquar (năm 1980), từ “tourism” (du lịch) lầnđầu tiên xuất hiện trong tiếng Anh khoảng năm 1800 và được quốc tế hóa nên nhiềuquốc gia đã sử dụng trực tiếp mà không dịch nghĩa Một số ý kiến khác lại khôngcho rằng thuật ngữ du lịch bắt nguồn từ Hi Lạp mà là từ tiếng Pháp “le tour”, cónghĩa là một cuộc hành trình đến nơi nào đó và quay trở lại, sau đó từ gốc này ảnhhưởng ra phạm vi toàn thế giới Nhìn chung trên thế giới chưa có một sự thống nhất,đồng nhất quan điểm về thuật ngữ này nhưng một điểm khá chắc chắn rằng thuậtngữ này được bắt nguồn từ chuyến đi đến một nơi nào đó và có sự quay trở lại.Trong tiếng Việt, thuật ngữ du lịch được giải nghĩa theo âm Hán - Việt: “du” nghĩa

là đi chơi, “lịch” có nghĩa là sự từng trải

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 17 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

Năm 1811, định nghĩa về du lịch xuất hiện đầu tiên tại nước Anh: “Du lịch là

sự phối hợp nhịp nhàng giữa lí thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mụcđích giải trí” Quan niệm này cho thấy còn khá đơn giản và động cơ cho hoạt động

du lịch chỉ có mục tiêu giải trí

Hai học giả Huziker và Krapf, những người đặt nền móng cho lí thuyết về

cung - cầu du lịch đã đưa ra định nghĩa: “du lịch là tập hợp các mối quan hệ và

các hiện tượng phát sinh trong cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời” [21] So với các quan niệm trước đó, quan niệm của

Huziker và Krapf đã thể hiện tương đối đầy đủ và bao quát các hiện tượng du lịch.Song quan niệm này chưa làm rõ được đặc trưng của các hiện tượng và của mốiquan hệ du lịch (các mối quan hệ nào và các hiện tượng nào thuộc loại kinh tế,chính trị, xã hội, văn hóa,…)

Tháng 6/1991, tại Otawa (Canada), Hội nghị quốc tế về thống kê Du lịch

cũng đưa ra định nghĩa: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài

môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng đến thăm" [21].

Tổ chức Du lịch Thế giới định nghĩa: “Du lịch bao gồm tất cả các hoạt độngcủa một cá nhân đi đến và lưu trú tại những điểm ngoài nơi ở thường xuyên của họtrong thời gian không dài hơn một năm với mục đích nghỉ ngơi, công vụ và mục đíchkhác”

Ở Việt Nam, khái niệm du lịch được nêu trong Pháp lệnh Du lịch như sau:

“Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằmthỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhấtđịnh”

Định nghĩa trong Từ điển Bách khoa về Du lịch: “Du lịch là tập hợp các

hoạt động tích cực của con người nhằm thực hiện một dạng hành trình, là một công nghiệp liên kết nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch… Du lịch là cuộc

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 17 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

hành trình mà một bên là người khởi hành với mục đích đã được chọn trước và một bên là những công cụ làm thỏa mãn các nhu cầu của họ”.[21]

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 18 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, du lịch, đầu tiên là một dạngnghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ở ngoài nơi cư trú với mụcđích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình vănhoá, nghệ thuật,… Thứ hai là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao vềnhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hoá dântộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài làtình hữu nghị với dân tộc mình Về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanhmang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và lao độngdịch vụ tại chỗ Hầu như nước nào cũng coi trọng phát triển hoạt động du lịch Nóichung trên thế giới, du lịch ra nước ngoài có xu hướng phát triển nhanh Việt Nam

là nước có tiềm năng du lịch rất lớn

Từ các định nghĩa trên cho ta thấy du lịch là một hoạt động liên quan đếnmột cá nhân, một nhóm hay một tổ chức đi ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của họbằng các cuộc hành trình ngắn ngày hoặc dài ngày ở một nơi khác với mục đích chủyếu không phải là kiếm lời Quá trình đi du lịch của họ được gắn với các hoạt độngkinh tế, các mối quan hệ, hiện tượng ở nơi họ đến

1.1.2.2 Tài nguyên du lịch

Theo Điểm 4, Điều 4, Chương I của Luật Du lịch Việt Nam (2005):

“Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử

- văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác

có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch” [32]

1.1.2.3 Khách du lịch

Có nhiều người đã nghiên cứu và đưa ra những ý kiến khác nhau về kháiniệm “khách du lịch” Theo một số nhà nghiên cứu, định nghĩa đầu tiên về khách dulịch xuất hiện vào cuối thế kỷ XVIII tại Pháp: “khách du lịch là những người thựchiện một cuộc hành trình lớn” (cuộc hành trình dọc theo Địa Trung Hải, xuống phíaTây Nam nước Pháp và vùng Bourgone)

Vào đầu thế kỷ XX, nhà kinh tế học người Áo, Josef Stander định nghĩa:

“khách du lịch là những hành khách đi lại, ở lại theo ý thích ngoài nơi cư trú thường

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 18 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

xuyên để thỏa mãn những nhu cầu sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi các mụcđích kinh tế”

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 19 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

Theo Khadginicolov (Bungari) “Khách du lịch là người hành trình tựnguyện, với những mục đích hòa bình Trong cuộc hành trình của mình, họ điqua những

chặng đường khác nhau và thay đổi một hoặc nhiều lần nơi cư trú của mình”

Như vậy, có nhiều ý kiến, quan điểm về khách du lịch Tuy nhiên, về cơ bảnchúng còn phiến diện và chưa phản ánh đầy đủ nội hàm của khái niệm Một số mớichỉ dừng lại ở việc phân tích động cơ du lịch, hoặc bóc tách du lịch khỏi các chứcnăng kinh tế - xã hội,

Hội nghị quốc tế về du lịch tại Hà Lan (năm 1989) đã đưa ra quan niệm:

“khách du lịch quốc tế là những người trên đường đi thăm một hoặc một số nước

khác với nước mà học cư trú thường xuyên với mục đích của chuyến đi là thăm quan, thăm viếng, nghỉ ngơi với thời gian 3 tháng, nếu trên 3 tháng phải được phép gia hạn Khách du lịch không được làm bất cứ việc gì để được trả thù lao tại nước đến do ý muốn của khách hay do yêu cầu của nước sở tại, sau khi kết thúc đợt tham quan hay lưu trú, phải rời khỏi nước đến thăm quan để về nước thường trú của mình hoặc đi đến một số nước khác”.[21]

Năm 1993, theo đề nghị của Tổ chức Du lịch Thế giới, Hội đồng Thống kêLiên hiệp quốc (UNSC) đã công nhận những thuật ngữ sau để thống nhất việc soạnthảo thống kê du lịch:

- Khách du lịch quốc tế (International tourist) bao gồm:

+ Khách du lịch quốc tế đến (Inbound tourist): gồm những người nước ngoàiđến du lịch một quốc gia

+ Khách du lịch quốc tế ra nước ngoài (Outbound tourist): gồm những ngườiđang sống trong một quốc gia đi du lịch nước ngoài

- Khách du lịch trong nước (Internal tourist): gồm những người là công dâncủa một quốc gia và những người nước ngoài đang sống trên lãnh thổ của quốc gia

đó đi du lich trong nước

+ Khách du lịch nội địa (Domestic tourist): bao gồm khách du lịch trongnước và khách du lịch quốc tế đến

+ Khách du lịch quốc gia (National tourist): bao gồm khách du lịch trongnước và khách du lịch quốc tế ra nước ngoài

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 20 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

Hiện nay, trong các thống kê của Việt Nam: Khách du lịch là những người đi

ra khỏi môi trường sống thường xuyên của mình để đến một nơi khác trong thờigian ít hơn 12 tháng liên tục, với mục đích chính của chuyến đi là tham quan, nghỉngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài việc tiến hành các hoạt động đểđem lại thu nhập và kiếm sống ở nơi đến Khái niệm khách du lịch này được ápdụng cho cả khách du lịch trong nước, khách du lịch quốc tế và áp dụng cho cảkhách du lịch đi trong ngày và đi dài ngày có ngủ qua đêm [13]

Khách du lịch quốc tế được hiểu là khách đi ra khỏi môi trường sống thườngxuyên của một nước đang thường trú đến một nước khác trong thời gian ít hơn 12tháng với mục đích của chuyến đi không phải để tiến hành các hoạt động nhằm thuđược thù lao ở nơi đến

Khách du lịch quốc tế không bao gồm các trường hợp sau:

- Những người đến và sống như một người cư trú ở nước đó, kể cả nhữngngười đi theo sống dựa vào họ

- Những người dân lao động cư trú ở vùng biên giới của một nước, nhưng lạilao động ở nước khác đi lại hằng ngày

- Những nhân viên đại sứ quán, tham tán, các tùy viên quân sự đi nhận nhiệm

vụ ở các nước và cả những người đi theo sống dựa vào họ

- Những người đi tị nạn hoặc du mục

- Những người quá cảnh không vào trong nước, chỉ chờ để chuyển máy bay

ở sân bay, hoặc phương tiện khác trong thời gian rất ngắn tại nhà ga, sân bay, bêntàu, bến cảng,

Khách du lịch trong nước là những người đi ra khỏi môi trường sống thườngxuyên của mình trong nước với thời gian liên tục ít hơn 12 tháng cùng với các mụcđích của chuyến đi không phải để tiến hành các công việc nhằm thu được thù lao ởnơi đến

Khách du lịch trong nước không bao gồm các trường hợp sau đây:

- Những người đi ra khỏi môi trường sống thường xuyên của mình với mụcđích thường trú ở nơi đến

- Những người đi đến một nơi khác trong nước với mục đích để tiến hành cáchoạt động nhận thù lao ở nơi đến

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 21 ht t p : / / www lrc.tnu e du v n

- Những người đến và làm việc tạm thời ở nơi đó

Ngày đăng: 21/12/2018, 02:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Arthur Pedersen (2002), Tài liệu hướng dẫn về Di sản Thế giới, 2002, Trung tâm di sản thế giới của UNESCO Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn về Di sản Thế giới
Tác giả: Arthur Pedersen
Năm: 2002
2. Lê Tuấn Anh (chủ biên) (2008), Di sản thế giới ở Việt Nam, NXB văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản thế giới ở Việt Nam
Tác giả: Lê Tuấn Anh (chủ biên)
Nhà XB: NXB văn hóa thông tin
Năm: 2008
4. Ban quản lí các di tích trọng điểm tỉnh Quảng Ninh (2011), Khu di tích lịch sử Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288, NXB khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu di tích lịch sửChiến thắng Bạch Đằng năm 1288
Tác giả: Ban quản lí các di tích trọng điểm tỉnh Quảng Ninh
Nhà XB: NXB khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 2011
5. Bộ Văn hóa - Thông tin (2003), Quy định của Nhà nước về hoạt động và quản lý văn hóa thông tin, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định của Nhà nước về hoạt động và quản lývăn hóa thông tin
Tác giả: Bộ Văn hóa - Thông tin
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2003
6. Nguyễn Chí Bền (Chủ biên), (2010), Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Vật thể Thăng Long - Hà Nội, Nxb Hà Nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Vậtthể Thăng Long - Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Chí Bền (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Hà Nội)
Năm: 2010
7. Cục di sản văn hóa (2007), Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, Tập 1, Nxb Thế giới, Hà Nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể
Tác giả: Cục di sản văn hóa
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2007
8. Danh sách di tích lịch sử văn hóa, Cục Di sản - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh sách di tích lịch sử văn hóa
9. Danh sách di sản văn hóa Thế giới tại Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh sách di sản văn hóa Thế giới tại Việt Nam
10. Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa (2004), Giáo trình kinh tế du lịch, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế du lịch
Tác giả: Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa
Nhà XB: NxbLao động - Xã hội
Năm: 2004
11. Phạm Hoàng Hải (2012), Du lịch Hạ Long, Sở du lịch Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch Hạ Long
Tác giả: Phạm Hoàng Hải
Năm: 2012
12. Kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác năm 2013, Phương hướng thực hiện năm 2014, Phòng văn hóa - thông tin, UBND thị xã Quảng Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác năm 2013, Phương hướng thực hiện năm2014
3. Ban quản lí các di tích trọng điểm tỉnh Quảng Ninh (2011), Di tích lịch sử - văn hóa và danh thắng Yên Tử, NXB khoa học xã hội Hà Nội Khác
13. Lý Minh Khải (2001), Thực trạng và hướng hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê du lịch Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w