1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá thiệt hại kinh tế của nước biển dâng do biến đổi khí hậu đến sử dụng đất nông nghiệp tỉnh nam định

162 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 162
Dung lượng 4,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thực trạng trên cho thấy, việc đánh giá tác động và xác định được thiệt hại kinh tế của nước biển dâng do tác động của nước biển dâng đến khu vực Đồng bằng sông Hồng nói chung và

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu của bản thân và không sao chép các công trình nghiên cứu khác để làm sản phẩm của riêng mình Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận án có nguồn gốc tin cậy và được trích dẫn rõ ràng Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận án

Tác giả

Vũ Văn Doanh

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS Doãn Hà Phong

PGS TS Vũ Quyết Thắng

Hà Nội - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu của bản thân và không sao chép các công trình nghiên cứu khác để làm sản phẩm của riêng mình Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận án có nguồn gốc tin cậy và được trích dẫn rõ ràng Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận án

Tác giả

Vũ Văn Doanh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành công trình này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của Bộ môn Quản lý Môi trường - Khoa Môi trường, Phòng Sau đại học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội; tập thể và cá nhân, những nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực trong và ngoài ngành Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành đến:

PGS TS Doãn Hà Phong – Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu và PGS TS Vũ Quyết Thắng – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội những người thầy đã hướng dẫn hết mực nhiệt tình, chỉ dạy cho tôi, động viên trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận án;

Tập thể lãnh đạo và các thầy cô Khoa Môi trường, Phòng Sau đại học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội những người đã giúp đỡ, đóng góp ý kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi nghiên cứu;

Ban giám hiệu Nhà trường, Ban lãnh đạo khoa, Các thầy cô khoa Môi trường – trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, đặc biệt là cô Lê Thị Trinh và Nguyễn Thị Hồng Hạnh luôn động viên, giúp đỡ công tác chuyên môn để tôi có thời gian tập trung hoàn thành luận án;

Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu, Trung tâm Điều tra Đánh giá Tài nguyên đất - Tổng cục Quản lý đất đai; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Chi cục Biển và Hải đảo; Chi cục Quản lý chất lượng nông, lâm

& thủy sản tỉnh Nam Định; Hội nuôi trồng thủy sản Nghĩa Hưng; Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn; phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Nghĩa Hưng, Hải Hậu, Giao Thủy và Xuân Trường; Công ty TNHH một thành viên Khai thác công trình thủy lợi Xuân Thủy đã hỗ trợ cho tôi trong quá trình thực địa và thu thập số liệu

Trân trọng cảm ơn gia đình và bạn bè luôn ủng hộ, động viên và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận án này!

Trang 5

MỤC LỤC

_Toc515323913

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CẢM ƠN iii

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC HÌNH VẼ ix

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT xi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Những điểm mới của luận án 5

5 Ý nghĩa khoa học và đóng góp thực tiễn của luận án 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7

1.1 BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG 7

1.1.1 Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan 7

1.1.2 Biểu hiện của biến đổi khí hậu, nước biển dâng tại Việt Nam 9

1.1.3 Biểu hiện của biến đổi khí hậu, nước biển dâng tại Nam Định 11

1.2 TÁC ĐỘNG CỦA NƯỚC BIỂN DÂNG DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 14

1.2.1 Tác động qua lại giữa nước biển dâng và sử dụng đất 14

1.2.2 Cách tiếp cận và các đối tượng bị tác động của nước biển dâng 15

1.2.3 Phương pháp đánh giá tác động của nước biển dâng 17

1.2.4 Nghiên cứu tác động của nước biển dâng do biến đổi khí hậu trên thế giới 19

1.2.5 Nghiên cứu tác động của nước biển dâng do biến đổi khí hậu ở Việt Nam 22

1.3 LƯỢNG GIÁ GIÁ TRỊ KINH TẾ 27

1.3.1 Các yếu tố cấu thành tổng giá trị kinh tế 27

1.3.2 Phương pháp lượng giá tổng giá trị kinh tế 30

1.3.3 Nghiên cứu lượng giá giá trị kinh tế đã thực hiện ở Việt Nam 31

1.4 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 36

1.4.1 Điều kiện tự nhiên của tỉnh Nam Định 36

1.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 40

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 44

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 44

2.1.1 Đối tượng có khả năng bị tác động do nước biển dâng khu vực ngoài đê 44

2.1.2 Đối tượng có khả năng bị tác động do nước biển dâng khu vực trong đê 49

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 52

Trang 6

2.2.1 Sơ đồ nghiên cứu của luận án 52

2.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp 53

2.2.3 Phương pháp Delphi 54

2.2.4 Phương pháp điều tra khảo sát thực tế 54

2.2.5 Phương pháp bản đồ 59

2.2.6 Phương pháp lượng giá giá trị kinh tế 59

2.2.7 Phương pháp phân tích chi phí lợi ích mở rộng 63

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 66

3.1 XÂY DỰNG QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ THIỆT HẠI KINH TẾ DO NƯỚC BIỂN DÂNG ĐẾN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 66

3.1.1 Cơ sở dữ liệu xây dựng quy trình đánh giá thiệt hại kinh tế do nước biển dâng 66

3.1.2 Quy trình tổng hợp đánh giá thiệt hại kinh tế do nước biển dâng 69

3.1.3 Quy trình đánh giá thiệt hại kinh tế của nước biển dâng cho Nam Định 72

3.2 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA NƯỚC BIỂN DÂNG ĐẾN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP KHU VỰC VEN BIỂN TỈNH NAM ĐỊNH 78

3.2.1 Xu hướng biến động sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Nghĩa Hưng, Hải Hậu, Giao Thủy và Xuân Trường từ 2010 đến 2020 78

3.2.2 Bản đồ tác động của nguy cơ ngập do nước biển dâng theo các kịch bản đến nhóm đất nông nghiệp 82

3.3 ĐÁNH GIÁ THIỆT HẠI KINH TẾ DO TÁC ĐỘNG CỦA NƯỚC BIỂN DÂNG ĐẾN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI KHU VỰC VEN BIỂN TỈNH NAM ĐỊNH 94

3.3.1 Xây dựng công thức đánh giá thiệt hại kinh tế 94

3.3.2 Đánh giá thiệt hại kinh tế do tác động của nước biển dâng đến 4 huyện vào năm 2020, 2030, 2040 và 2050 theo các phương án sử dụng đất 94

3.4 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG VỚI NƯỚC BIỂN DÂNG TRONG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP KHU VỰC VEN BIỂN TẠI TỈNH NAM ĐỊNH 113 3.4.1 Lồng ghép, tích hợp vấn đề nước biển dâng do biến đổi khí hậu với quy hoạch sử dụng đất 114

3.4.2 Bảo vệ và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong bối cảnh nước biển dâng do biến đổi khí hậu 118

3.4.3 Nâng cấp đê và hệ thống công trình thủy nông 124

3.4.4 Các giải pháp hỗ trợ 125

3.5 MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỒN TẠI CỦA LUẬN ÁN 128

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 131

Trang 7

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 134 TÀI LIỆU THAM KHẢO 135 PHỤ LỤC 144

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Biến đổi của nhiệt độ trung bình mùa và năm tại Nam Định thời kỳ 1960

– 2014 (°C/thập kỷ) 11

Bảng 1.2 Biến đổi của lượng mưa mùa và năm tại Nam Định thời kỳ 1971 – 2014 (mm/năm) 12

Bảng 1.3 Đặc trưng các kịch bản RCP và so sánh với kịch bản SRES 13

Bảng 1.4 Mực nước biển dâng theo các kịch bản RCP cho tỉnh Nam Định 14

Bảng 1.5 Phương pháp đánh giá tác động của NBD đến một số lĩnh vực 18

Bảng 1.6 Tổng hợp công trình nghiên cứu liên quan tại Nam Định 24

Bảng 1.7 Tổng hợp các công trình lượng giá giá trị kinh tế ở Việt Nam 32

Bảng 1.8 Diện tích, dân số và mật độ dân số các huyện nghiên cứu năm 2015 40

Bảng 1.9 Tổng sản phẩm theo giá so sánh 2010 phân theo khu vực kinh tế tỉnh Nam Định 41

Bảng 1.10 Cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Nam Định 41

Bảng 2.1 Tổng hợp đối tượng và nội dung tham vấn 54

Bảng 2.2 Tổng hợp các đợt điều tra khảo sát thực tế 55

Bảng 2.3 Phiếu điều tra phân bố theo khu vực và đối tượng điều tra 57

Bảng 2.4 Phương pháp xác định giá trị kinh tế của đối tượng bị tác động 60

Bảng 3.1 Mức thiệt hại cho 2 khu vực trong và ngoài đê 68

Bảng 3.2 Đối tượng bị tác động theo 2 khu vực trong và ngoài đê tại 4 huyện 69

Bảng 3.3 Giá trị kinh tế trung bình của các đối tượng bị tác động do NBD tại 4 huyện so với năm 2010 77

Bảng 3.4 Diện tích nhóm ĐNN bị tác động do NBD tại 4 huyện nghiên cứu từ 2020 đến 2050 theo bản đồ QH sử dụng đất 2020 84

Bảng 3.5 Diện tích nhóm ĐNN bị tác động do NBD tại 2 khu vực trong và ngoài đê từ năm 2020 – 2050 theo bản đồ quy hoạch 2020 86

Bảng 3.6 Diện tích nhóm ĐNN bị tác động do NBD tại 4 huyện nghiên cứu từ 2020 đến 2050 theo bản đồ HT sử dụng đất 2015 87

Bảng 3.7 Diện tích ĐNN có nguy cơ ngập theo 2 khu vực trong và ngoài đê vào các năm 2020 – 2050 dựa trên bản đồ hiện trạng 2015 88

Bảng 3.8 Diện tích nhóm ĐNN bị tác động do NBD tại 4 huyện nghiên cứu từ 2020 đến 2050 theo bản đồ HT sử dụng đất 2010 90

Bảng 3.9 Diện tích ĐNN có nguy cơ ngập được phân định theo 2 khu vực trong và ngoài đê tại các năm 2020 – 2050 dựa trên bản đồ hiện trạng 2010 92

Bảng 3.10 So sánh diện tích nguy cơ ngập theo các phương án sử dụng đất 92

Bảng 3.11 Giá trị thiệt hại kinh tế do tác động của NBD vào năm 2020 tính theo theo bản đồ quy hoạch 2020 97

Bảng 3.12 Giá trị thiệt hại kinh tế do NBD vào năm 2050 tính theo bản đồ quy hoạch sử dụng đất năm 2020 100

Trang 9

Bảng 3.13 Giá trị thiệt hại kinh tế do NBD vào năm 2040 tính theo bản đồ hiện

trạng sử dụng đất năm 2015 104

Bảng 3.14 Giá trị thiệt hại kinh tế do NBD vào năm 2030 tính theo bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010 108

Bảng 3.15 Giá trị thiệt hại kinh tế do NBD vào năm 2020 - 2050 tính theo bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2015 cho 2 khu vực trong và ngoài đê 110

Bảng 3.16 Giá trị thiệt hại kinh tế do NBD vào năm 2020 - 2050 tính theo bản đồ quy hoạch sử dụng đất năm 2020 cho 2 khu vực trong và ngoài đê 111

Bảng 3.17 Chi phí, lợi nhuận của các hình thức nuôi theo vụ (triệu đồng) 119

Bảng 3.18 Chi phí, lợi ích của các hình thức nuôi theo năm (triệu đồng) 120

Bảng 3.19 Lựa chọn giống lúa chịu mặn theo khu vực địa lý 122

Bảng 3.20 Các giải pháp thích ứng với BĐKH, NBD đang được áp dụng cho hoạt động nuôi trồng thủy sản tại 4 huyện ven biển tỉnh Nam Định 127

Bảng 3.21 Các giải pháp thích ứng với BĐKH, NBD đang được áp dụng cho hoạt động sử dụng đất lúa tại 4 huyện ven biển tỉnh Nam Định 127

Trang 10

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1.1 Xu thế biến đổi mực nước biển trung bình năm tại các trạm hải văn 10

Hình 1.2 Xu thế thay đổi mực nước biển toàn Biển Đông theo số liệu vệ tinh 10

Hình 1.3 Nhiệt độ trung bình năm ở khu vực Nam Định thời kỳ 1960 - 2014 11

Hình 1.4 Chuẩn sai mực nước trung bình năm tại trạm Hòn Dáu giai đoạn 1966 – 2013 12

Hình 1.5 Chuẩn sai mực nước trung bình năm ở khu vực Nam Định theo số liệu vệ tinh giai đoạn 1993 - 2013 13

Hình 1.6 Các thành phần của tổng giá trị kinh tế (TEV) 27

Hình 1.7 Sơ đồ các phương pháp lượng giá giá trị kinh tế của các HST 31

Hình 1.8 Bản đồ hành chính tỉnh Nam Định 37

Hình 2.1 Sơ đồ nghiên cứu của luận án 53

Hình 3.1 Quy trình tổng hợp đánh giá thiệt hại kinh tế do NBD đến sử dụng đất nông nghiệp khu vực ven biển phía Bắc Việt Nam 71

Hình 3.2 Sơ đồ các bước xây dựng bản đồ nguy cơ ngập 73

Hình 3.3 Mô hình cây quyết định nguy cơ ngập khu vực ngoài đê 74

Hình 3.4 Sơ đồ xác định thiệt hại kinh tế do NBD đến sử dụng ĐNN 76

Hình 3.5 Xu hướng biến động sử dụng đất nông nghiệp từ 2010 - 2020 tại huyện Nghĩa Hưng 79

Hình 3.6 Xu hướng biến động sử dụng đất nông nghiệp từ 2010 - 2020 tại huyện Hải Hậu 80

Hình 3.7 Xu hướng biến động sử dụng đất nông nghiệp từ 2010 - 2020 tại huyện Giao Thủy 81

Hình 3.8 Xu hướng biến động sử dụng đất nông nghiệp từ 2010 - 2020 tại huyện Xuân Trường 81

Hình 3.9 Bản đồ tác động của nguy cơ ngập do NBD đến sử dụng ĐNN của 4 huyện vào năm 2050 theo bản đồ QHSD đất 2020 85

Hình 3.10 Bản đồ tác động của nguy cơ ngập do NBD đến sử dụng ĐNN của 4 huyện vào năm 2030 theo bản đồ HTSD đất 2015 89

Hình 3.11 Bản đồ tác động của nguy cơ ngập do NBD đến sử dụng ĐNN của 4 huyện vào năm 2020 theo bản đồ HTSD đất 2010 91

Hình 3.12 Bản đồ giá trị thiệt hại kinh tế khu vực ngoài đê do NBD tại 4 huyện ven biển tỉnh Nam Định vào năm 2020 theo quy hoạch sử dụng đất năm 2020 99

Hình 3.13 Bản đồ giá trị khu vực trong đê do NBD tại 4 huyện ven biển tỉnh Nam Định năm 2050 theo quy hoạch sử dụng đất năm 2020 103

Hình 3.14 Bản đồ giá trị thiệt hại kinh tế khu vực ngoài đê do NBD tại 4 huyện ven biển tỉnh Nam Định vào năm 2040 theo hiện trạng sử dụng đất năm 2015 106

Hình 3.15 Bản đồ giá trị thiệt hại kinh tế khu vực trong đê do NBD tại 4 huyện ven biển tỉnh Nam Định năm 2030 theo hiện trạng sử dụng đất năm 2010 107

Trang 11

Hình 3.16 Tổng giá trị thiệt hại kinh tế 4 huyện do NBD theo các phương án sử dụng đất với mức thiệt hại K=1 và K = 0,5 ứng với khu vực ngoài đê và khu vực ở trong đê 112 Hình 3.17 Tổng giá trị thiệt hại kinh tế do NBD 4 huyện theo phương án sử dụng đất với mức thiệt hại K =0,7 khu vực ngoài đê và thiệt hại K=0,3 ở khu vực trong

đê 113Hình 3.18 Bản đồ định hướng sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2050 tại 4 huyện Nghĩa Hưng, Hải Hậu, Giao Thủy và Xuân Trường có lồng ghép với NBD do BĐKH 117

Trang 12

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ADB Ngân hàng phát triển Châu Á (Asian Development Bank)

DEM Mô hình số hóa độ cao (Digital Elevation Model)

GDP Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)

(Intergovernmental Panel on Climate Change)

NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

NPV Giá trị hiện tại ròng (Net Present Value)

RCP Đường nồng độ khí nhà kính đặc trưng

(Representative Concentration Pathways)

UNDP Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (United Nations

Development Programme) Viện KHKTTVBĐKH Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) năm 2013 đã công bố giá trị mực nước biển dâng trung bình toàn cầu do biến đổi khí hậu vào năm 2100 dao động từ 36 – 71 cm với kịch bản phát thải khí nhà kính trung bình thấp RCP4.5;

52 – 98 cm với kịch bản phát thải khí nhà kính cao RCP8.5 [109]

Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng 2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ước tính, nếu mực nước biển dâng 100 cm thì khoảng 16,8% diện tích Đồng bằng sông Hồng có nguy cơ bị ngập Theo đó Nam Định là một trong hai tỉnh (cùng với Thái Bình) có nguy cơ ngập cao nhất với khoảng 58,0% diện tích toàn tỉnh [8]

Tỉnh Nam Định có vị trí quan trọng ở Đồng bằng Sông Hồng với địa hình tương đối bằng phẳng, Phía Đông bắc tỉnh tiếp giáp sông Hồng, phía Tây Nam là sông Đáy và có đường bờ biển gần 80km nên rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ hải sản Theo số liệu thống kê năm 2016, tổng sản phẩm (GDP) trong tỉnh trung bình đạt 31.392,5 tỷ đồng, trong đó ngành nông, lâm, thủy sản chiếm 24%; ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 41%; dịch vụ thương mại chiếm 35% [53] Trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay, bên cạnh điều kiện thuận lợi về điều kiện tự nhiên, tỉnh Nam Định cũng tiềm ẩn những rủi ro thiên tai như bão, nước dâng, lũ, triều cường

Đối với khu vực đồng bằng gần biển như tỉnh Nam Định, mực nước biển dâng ảnh hưởng lớn đến tình hình sử dụng đất ven biển, đặc biệt đối với đất nông nghiệp Năm 2013, diện tích đất bị ngập trong toàn tỉnh là 34.020 ha, tập trung phần lớn ở các huyện ven biển Nghĩa Hưng, Giao Thủy và Hải Hậu với diện tích 17.991 ha [71] Theo kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng 2016, nếu nước biển dâng 100 cm, diện tích nguy cơ ngập các huyện ven biển như: huyện Hải Hậu 67,34%; Giao Thủy 64,6%; Nghĩa Hưng 81,61% và Xuân Trường 59,3% [8] Theo

số liệu quan trắc từ các đơn vị quản lý, phạm vi xâm nhập mặn do nước biển dâng đang có xu hướng mở rộng làm suy giảm và ảnh hưởng đến diện tích hệ sinh thái rừng ngập mặn [14] Ngoài ra, nước biển dâng có thể làm giảm khả năng chống

Trang 14

chịu của các công trình thủy lợi do thay đổi các đặc trưng động lực học cửa sông, ven biển như mực nước, dòng chảy, sóng, [66]

Từ thực trạng trên cho thấy, việc đánh giá tác động và xác định được thiệt hại kinh tế của nước biển dâng do tác động của nước biển dâng đến khu vực Đồng bằng sông Hồng nói chung và các tỉnh ven biển nói riêng như Nam Định là rất cần thiết nhằm giúp cho các địa phương chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng nhằm đáp ứng chương trình mục tiêu quốc gia về biến đổi khí hậu

Nhiều nghiên cứu đánh giá thiệt hại kinh tế - xã hội do biến đổi khí hậu, đặc biệt là nước biển dâng đã được thực hiện trên thế giới cũng như khu vực, nhóm quốc gia, ngành lĩnh vực hay các quốc gia cụ thể như Mỹ, Singgapore, Indonesia

điển hình như một số nghiên cứu sau: Susmita Dasgupta và nnk (2007) về tác

động của nước biển dâng đối với các quốc gia đang phát triển, đã đưa ra danh sách 10 quốc gia bị tác động khi mực nước biển dâng lên 1m trong đó diện tích đất của Việt Nam chịu ảnh hưởng khoảng 5,17%, tương ứng với 10,79% dân số

bị tác động, tổn thất 10,21% GDP; Hay nghiên cứu của Wei- Shiuen và Robert về tác động của NBD đến Singapore Theo nghiên cứu đã tính toán chi phí xây dựng và bảo trì các đê, kè để bảo vệ bờ biển phụ thuộc nhiều vào kịch bản NBD, khoảng 0,3 triệu USD vào năm 2050 và 0,9 triệu USD vào năm 2100 theo kịch bản nước biển dâng 0,2 m Tuy nhiên, theo kịch bản nước biển dâng 0,87 m, chi phí xây dựng và bảo trì lên đến 5,7 triệu USD vào năm 2050 và 16,8 triệu USD vào năm 2100; Akhmad và nnk (2009) đã phân tích hiệu quả kinh tế của chiến lược thích ứng với NBD ở Indonesia Nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp GIS để xác định ảnh hưởng nước biển dâng đến nông nghiệp với mức dâng từ 0,5 – 1,0m tại 6/13 tỉnh bị tác động ở Indonesia Tại Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã

3 lần xây dựng và cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam từ năm 2009 đến 2016 Bên cạnh đó còn có nhiều nghiên cứu khác như tác động của biến đổi khí hậu đến các lĩnh vực, ngành và khu vực khác nhau như tác động của biến đổi khí hậu đến kinh tế; hay nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu - nước biển dâng trên địa bàn một số tỉnh ven biển như Cà Mau, Thừa Thiên Huế Tuy nhiên, các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở các tác động mang tính chất định tính, số ít trong nghiên cứu đã định lượng được mức độ thiệt hai, tuy nhiên phạm vi quy mô quá rộng, kịch bản nước biển dâng chưa phù hợp với điều kiện

Trang 15

nước ta, phương án sử dụng và biến động về đất chưa được tính tới trong các nghiên cứu

Thực tế, có nhiều phương pháp tính toán thiệt hại kinh tế nói chung và của nước biển dâng nói riêng đã được áp dụng rộng rãi trên thế giới và các nước trong khu vực nhưng vẫn còn rất hạn chế trong thực tiễn vận dụng các phương pháp này

ở nước ta (như chưa xác định mức thiệt hại cho các đối tượng và khu vực khác nhau do tác động của nước biển dâng) Do vậy, xác định các đối tượng bị tác động của nước biển dâng, chọn lọc và vận dụng các phương pháp tính toán thiệt hại kinh tế phù hợp để đánh giá thiệt hại kinh tế của nước biển dâng do biến đổi khí hậu có vai trò quan trọng và cần được thực hiện để hoàn thiện cơ sở khoa học về nghiên cứu đánh giá thiệt hại kinh tế của nước biển dâng do biến đổi khí hậu tới đất nông nghiệp

Thời gian gần đây, vấn đề tổn thất và thiệt hại (Loss and Damage) đã được quan tâm hơn khi cơ chế quốc tế Warsaw được thành lập (2013) và Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu được thông qua (2015) Ở nước ta, Quyết định số 2053/QĐ-TTg “Phê duyệt chiến lược Quốc gia về biến đổi khí hậu” và Quyết định 672/QĐ- BTNMT “Ban hành kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu” đã đề cập tới vấn đề “đánh giá mức độ rủi ro, tính dễ bị tổn thương, các giải pháp cho tổn thất và thiệt hại’’

Từ những lý do trên việc lựa chọn đề tài “Đánh giá thiệt hại kinh tế của nước biển dâng do Biến đổi khí hậu đến sử dụng đất nông nghiệp tỉnh Nam Định” có ý nghĩa khoa học và thực tiễn nhằm xác định tác động của nước biển

dâng do biến đổi khí hậu tới sử dụng đất nông nghiệp một cách định lượng Khi luận án này được hoàn thành sẽ cung cấp cơ sở khoa học và phương pháp luận xác định đối tượng bị tác động, giá trị thiệt hại kinh tế của nhóm đất nông nghiệp Việc xác định được giá trị thiệt hại kinh tế của đất nông nghiệp làm cơ sở cho việc định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, góp phần quan trọng phục vụ hiệu quả công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên trong bối cảnh biến đổi khí hậu

Trang 16

2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu

Mục tiêu: - Xây dựng được quy trình đánh giá thiệt hại kinh tế của nước

biển dâng do biến đổi khí hậu đến sử dụng đất nông nghiệp tại khu vực ven biển miền Bắc Việt Nam;

- Áp dụng quy trình và hệ phương pháp để xác định giá trị bị thiệt hại trong

sử dụng đất nông nghiệp do nước biển dâng tại khu vực ven biển tỉnh Nam Định;

- Đề xuất các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng trong sử dụng đất nông nghiệp trước bối cảnh ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới tỉnh Nam Định ngày càng rõ nét

Nội dung nghiên cứu:

Với mục tiêu trên, nội dung nghiên cứu của luận án bao gồm:

- Tổng quan về tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng trên thế giới, Việt Nam và tỉnh Nam Định; tổng quan về lượng giá giá trị kinh tế; điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và sử dụng đất nông nghiệp tại Nam Định trong thời gian gần đây trước tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng;

- Xây dựng quy trình tổng hợp đánh giá thiệt hại kinh tế của nước biển dâng

do biến đổi khí hậu tới sử dụng đất nông nghiệp khu vực ven biển miền Bắc Việt Nam;

- Áp dụng quy trình tổng hợp xây dựng được bộ dữ liệu đánh giá thiệt hại kinh tế cho Nam Định, hệ thống bản đồ nguy cơ ngập, bản đồ tác động của nước biển dâng đến sử dụng đất nông nghiệp tại các huyện ven biển tỉnh Nam Định;

- Xác định được các đối tượng bị tác động và định lượng giá trị thiệt hại kinh tế do tác động của nước biển dâng đến sử dụng đất nông nghiệp tại các huyện ven biển tỉnh Nam Định;

- Nghiên cứu đề xuất các biện pháp thích ứng với nước biển dâng do biến đổi khí hậu đến sử dụng đất nông nghiệp tại các huyện ven biển tỉnh Nam Định, phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh biến đổi khí hậu Đặc biệt là nhóm giải pháp lồng ghép, tích hợp vấn đề nước biển dâng do biến đổi khí hậu với quy hoạch sử dụng để xây dựng bản đồ định hướng sử dụng đất nông nghiệp đến

2050

Trang 17

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: nhóm đất nông nghiệp gồm: đất trồng lúa, nuôi

trồng thủy sản, làm muối và rừng ngập mặn bị tác động của nước biển dâng tại 4 huyện ven biển Ngoài ra, hệ thống đê biển và công trình thủy nông chống xâm nhập mặn cũng được nghiên cứu nhằm hạn chế tác động của nước biển dâng và nâng cao khả năng thích ứng đối với sử dụng đất nông nghiệp

Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi về thời gian: Tính toán thiệt hại các đối tượng bị tác động của nước biển dâng do biến đổi khí hậu với giả thuyết diện tích nguy cơ ngập sẽ bị giảm giá trị kinh tế ở một số mốc thời gian từ 2020 – 2050 theo giá trị quy đổi năm 2010

Phạm vi không gian: 4 huyện của tỉnh Nam Định, gồm Nghĩa Hưng, Hải Hậu, Giao Thủy và Xuân Trường

4 Những điểm mới của luận án

(1) Xây dựng được quy trình đánh giá thiệt hại kinh tế có cơ sở khoa học

và thực tiễn để xác định mức độ ảnh hưởng của nguy cơ ngập lụt do nước biển dâng đối với đất nông nghiệp dựa trên điều kiện tự nhiên và hoạt động của người dân ở 2 khu vực trong và ngoài đê tại 4 huyện nghiên cứu;

(2) Lần đầu định lượng được thiệt hại kinh tế do tác động của nước biển dâng đến sử dụng đất nông nghiệp tại tỉnh Nam Định;

(3) Đề xuất được các giải pháp thích ứng một cách chủ động với nước biển dâng do biến đổi khí hậu đặc biệt là nhóm giải pháp về xây dựng bản đồ định hướng sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2050 có lồng ghép, tích hợp với biến đổi khí hậu trong bối cảnh biến đổi khí hậu tác động ngày càng rõ nét

5 Ý nghĩa khoa học và đóng góp thực tiễn của luận án

Tác động của NBD do BĐKH đối với khu vực đồng bằng ven biển là một trong những thách thức lớn ở thế kỷ 21 tại Việt Nam Vì vậy, nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của NBD đến đất nông nghiệp tại tỉnh Nam Định – một tỉnh có tỷ trọng nông nghiệp cao ở Đồng bằng sông Hồng - vừa có ý nghĩa về lý luận vừa có nghĩa

về mặt thực tiễn:

(1) Cung cấp cơ sở khoa học và phương pháp luận đánh giá thiệt hại kinh của NBD do BĐKH đến sử dụng đất nông nghiệp;

Trang 18

(2) Xây dựng được quy trình tổng hợp đánh giá thiệt hại kinh tế của NBD

do BĐKH cho khu vực miền Bắc Việt Nam; và áp dụng thử nghiệm các phương pháp lượng giá giá trị kinh tế để xác định thiệt hại tới sử dụng đất nông nghiệp do

NBD tại 4 huyện ven biển tỉnh Nam Định từ 2020 đến năm 2050;

(3) Đề xuất các giải pháp có cơ sở khoa học và phù hợp với điều kiện địa

phương, hỗ trợ ra quyết định về sử dụng hiệu quả đất nông nghiệp có tính đến yếu

tố BĐKH trong quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Nam Định, góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH tại Việt Nam;

(4) Cung cấp quy trình, hệ phương pháp khoa học xác định mức độ ảnh hưởng của nguy cơ ngập lụt do NBD đến nhóm đất nông nghiệp phù hợp với các địa phương có điều kiện tự nhiên tương đồng với tỉnh Nam Định

Trang 19

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG

1.1.1 Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan

Nước biển dâng (NBD): là sự dâng mực nước của đại dương trên toàn cầu,

trong đó không bao gồm triều, nước dâng do bão NBD tại một vị trí nào đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt độ của đại dương và các yếu tố khác [4,5, 6, 8]

Ngập lụt: là hiện tượng mặt đất bị ngập nước do ảnh hưởng của mưa lớn,

lũ, triều cường, NBD Nguy cơ ngập lụt được xác định qua xác suất xảy ra ngập và những hậu quả của nó Nguy cơ ngập lụt là khả năng hoặc xác suất xảy ra ngập lụt

ở các mức độ khác nhau [99]

Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu: là nghiên cứu xác định các ảnh

hưởng của BĐKH đến môi trường và các hoạt động kinh tế xã hội của địa phương Ngoài các ảnh hưởng bất lợi còn có thể có các ảnh hưởng có lợi [69]

Tổng giá trị kinh tế: (TEV) là cơ sở của việc lượng giá các giá trị môi

trường và cả tài nguyên thiên nhiên, hoặc TEV là tổng hợp tất cả các dạng giá trị

có liên quan đến một tài nguyên, hàng hóa, hay dịch vụ môi trường [78]

Theo Bolt và nnk (2005), TEV được tính theo công thức sau:

Trong đó: TEV (total economic value): tổng giá trị kinh tế; UV (use value): giá trị sử dụng; NUV (non use value): giá trị không sử dụng; DUV (direct use value): giá trị sử dụng trực tiếp; IUV (indirect use value): giá trị sử dụng gián tiếp; OV (option value): giá trị lựa chọn; EV (existence value): giá trị tồn tại; BV (bequest value): giá trị lưu truyền

Khái niệm về tổn thất và thiệt hại do BĐKH

Tổn thất - Mất mát (Loss): Tác động không thể phục hồi do BĐKH

Thiệt hại (Damage): Tác động có thể phục hồi do BĐKH

Tổn thất và thiệt hại: Những tác động của BĐKH mà con người không thể

đối phó hoặc thích ứng [11]

TEV = UV + NUV = DUV + IUV + OV + EV+ BV (1.1)

Trang 20

Thiên tai: là hiện tượng tự nhiên bất thường có thể gây thiệt hại về người,

tài sản, môi trường, điều kiện sống và các hoạt động kinh tế - xã hội, bao gồm bão,

áp thấp nhiệt đới, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần và các loại thiên tai khác [36]

Rủi ro thiên tai: Những tổn thất tiềm ẩn về tính mạng, tình trạng sức khỏe,

các hoạt động sinh kế, tài sản và các dịch vụ do thiên tai gây ra cho một cộng đồng hoặc một xã hội cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định [36]

Thiệt hại do thiên tai: là những tác động của các loại hình thiên tai ảnh

hưởng đến con người, động vật nuôi ở các mức độ khác nhau; làm phá hủy hoặc

hư hỏng về vật chất, môi trường, điều kiện sống và các hoạt động kinh tế, xã hội xảy ra trong hoặc ngay khi thiên tai xảy ra [1]

Mức thiệt hại của thiên tai: theo Thông tư 43/2015/TTLT- BNNPTNT-

BKHDT, được chia làm 4 mức sau: 1.Thiệt hại hoàn toàn: là những vật chất bị mất trắng hoặc bị phá hủy, hư hỏng trên 70% không thể khôi phục lại 2 Thiệt hại

rất nặng: là những vật chất bị giảm năng suất hoặc bị phá hủy, hư hỏng từ

50-70% 3 Thiệt hại nặng: là những vật chất bị giảm năng suất hoặc bị phá hủy, hư hỏng từ 30-50% 4 Thiệt hại một phần: là những vật chất bị giảm năng suất hoặc

bị hư hỏng dưới 30% [1]

Đất nông nghiệp (ĐNN): Theo Luật đất đai (2003, 2013), là đất được xác

định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp Căn cứ mục đích sử dụng, ĐNN được chia thành các loại đất như sau: (a) Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; (b) Đất trồng cây lâu năm; (c) Đất rừng sản xuất; (d) Đất rừng phòng hộ; (đ) Đất rừng đặc dụng; (e) Đất nuôi trồng thuỷ sản; (g) Đất làm muối; (h) ĐNN khác theo quy định của Chính phủ [35]

Sử dụng ĐNN: là hành vi lấy đất kết hợp với sức lao động, vốn, để sản xuất

nông nghiệp tạo ra lợi ích, tuỳ vào mức độ phát triển kinh tế - xã hội, ý thức của loài người về môi trường sinh thái được nâng cao, phạm vi sử dụng ĐNN được mở rộng ra các mặt sản xuất, sinh hoạt, sinh thái [15,47]

Trang 21

Thích ứng với BĐKH: là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người

đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động và BĐKH hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do

nó mang lại [13]

Thích ứng với BĐKH dựa vào hệ sinh thái (EbA): là sử dụng đa dạng sinh

học và dịch vụ HST như một phần quan trọng trong chiến lược tổng thể để giúp cho con người thích ứng được với các tác động bất lợi từ BĐKH [94]

Sáng kiến về nông nghiệp thông minh với khí hậu (CSA) là mô hình thích

ứng với BĐKH trong nông nghiệp theo hướng đảm bảo tăng năng suất và thu nhập, nâng cao tính chống chịu bền vững của các hệ sinh thái, nguồn sinh kế cho nông dân và giảm/loại trừ phát thải khí nhà kính (KNK) đang được nhiều quốc gia chú trọng phát triển Trong đó tập trung phát triển các mô hình nông nghiệp thông minh thích ứng với BĐKH, được coi là hướng phát triển đem lại “3 lợi ích kép” (triple win) cho nông nghiệp, khí hậu và an ninh lương thực gồm (i) tăng năng suất và thu nhập; (ii) cải thiện khả năng thích ứng về sinh kế và hệ sinh thái; và (iii) giảm và loại trừ phát thải KNK [86]

1.1.2 Biểu hiện của biến đổi khí hậu, nước biển dâng tại Việt Nam

Theo Bộ TNMT (2016), trong thời kỳ 1958 - 2014, nhiệt độ có xu thế tăng tại hầu hết các trạm quan trắc với nhiệt độ trung bình năm trên cả nước tăng khoảng 0,62oC (khoảng 0,10oC/thập kỷ) Mực nước biển tại các trạm hải văn của Việt Nam

có xu hướng tăng rõ rệt với mức tăng khoảng 2,45 mm/năm Trong thời kỳ

1993-2014, mực nước biển trung bình tại các trạm hải văn đều có xu thế tăng với mức độ tăng trung bình khoảng 3,34 mm/năm (Hình 1.1)

Trang 22

Hình 1.1 Xu thế biến đổi mực nước biển trung bình năm tại các trạm hải văn

(Nguồn: Bộ TNMT, 2016)

Theo số liệu vệ tinh, trong giai đoạn 1993 - 2014, mực nước trung bình toàn

Biển Đông biến đổi với tốc độ khoảng 4,05 ± 0,6 mm/năm, cao hơn so với tốc độ

tăng trung bình toàn cầu trong cùng giai đoạn (3,25 ± 0,08 mm/năm) Tính trung

bình cho toàn dải ven biển Việt Nam, mực nước biển tăng khoảng 3,50 ±

0,7mm/năm Khu vực ven biển Trung Bộ tăng mạnh nhất với tốc độ tăng khoảng

trên 4mm/năm; khu vực ven biển vịnh Bắc Bộ có mức tăng thấp hơn, khoảng 2,5 mm/năm (Hình 1.2)

Hình 1.2 Xu thế thay đổi mực nước biển toàn Biển Đông giai đoạn 1993 -2014

theo số liệu vệ tinh

(Nguồn: Bộ TNMT, 2016)

Trang 23

1.1.3 Biểu hiện của biến đổi khí hậu, nước biển dâng tại Nam Định

a Nhiệt độ

Theo hình 1.3 biểu diễn biến trình nhiệt độ trung bình năm từ số liệu khí tượng tại 04 trạm ở khu vực Nam Định và lân cận cho thấy, nhiệt độ trung bình thời kỳ 1960 - 2014 dao động từ 22,90C đến 24,60C Ở thời kỳ này, nhiệt độ trung bình năm tại Nam Định tăng 0,130C/thập kỷ

Hình 1.3 Nhiệt độ trung bình năm ở khu vực Nam Định thời kỳ 1960 - 2014

(Nguồn số liệu: Trung tâm thông tin và Dữ liệu KTTV)

Mức tăng nhiệt độ giữa các mùa trong năm là rất khác nhau như bảng 1.1 Mức tăng nhiệt độ trung bình mùa đông thời kỳ từ 1960 đến 2014 là nhỏ nhất (0,1°C/thập kỷ) và mùa xuân là lớn nhất (0,15°C/thập kỷ)

Bảng 1.1 Biến đổi của nhiệt độ trung bình mùa và năm tại Nam Định thời kỳ

1960 – 2014 (°C/thập kỷ)

(XII – II)

Xuân (III – V)

Hè (VI – VIII)

Thu (IX – XI) Năm

Trang 24

Bảng 1.2 Biến đổi của lượng mưa mùa và năm tại Nam Định thời kỳ

1971 – 2014 (mm/năm)

(XII – II)

Xuân (III – V)

Hè (VI –VIII)

trạm Hòn Dáu giai đoạn 1966 - 2013

Hình 1.4 Chuẩn sai mực nước trung bình năm tại trạm Hòn Dáu giai đoạn

1966 – 2013

(Nguồn số liệu: Trung tâm thông tin và Dữ liệu KTTV)

Theo hình 1.4, mực nước tại khu vực Nam Định tăng với tốc độ trung bình 1,95 mm/năm Nếu tính trong thời kỳ 1993 - 2013, mực nước biển trung bình khu vực Nam Định tăng với mức tăng trung bình 2,94 mm/năm Hình 1.5 biểu diễn chuẩn sai mực nước trung bình năm tại khu vực Nam Định theo số liệu vệ tinh giai đoạn 1993 - 2013 Theo đó, mực nước tại khu vực Nam Định giai đoạn 1993 -

2013 tăng với tốc độ trung bình là 2,9 mm/năm, khá tương đồng với mức tăng tại trạm Hòn Dáu trong cùng giai đoạn

Trang 25

Hình 1.5 Chuẩn sai mực nước trung bình năm ở khu vực Nam Định theo số

liệu vệ tinh giai đoạn 1993 – 2013

(Nguồn số liệu: https://podaac.jpl.nasa.gov/)

d Kịch bản NBD cho Nam Định

Năm 2016, Bộ TNMT đã công bố kịch bản BĐKH và NBD cho Việt Nam Trong đó, kịch bản NBD chi tiết cho 28 tỉnh ven biển, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được xây dựng dựa trên kịch bản phát thải chuẩn hay đường nồng độ khí nhà kính đại diện (Representative Concentration Pathways – RCP) nhằm thay thế cho các kịch bản SRES, bao gồm 4 kịch bản: RCP8.5, RCP6.0, RCP4.5 và RCP2.6 Bảng 1.3 trình bày các đặc trưng của kịch bản RCP, mức tăng nhiệt độ so với thời kỳ tiền công nghiệp và so sánh với kịch bản SRES [4,6,7,8]

Bảng 1.3 Đặc trưng các kịch bản RCP và so sánh với kịch bản SRES

RCP

Bức xạ tác

động năm 2100

Nồng độ

CO2tđ năm

2100 (ppm)

Tăng nhiệt độ

toàn cầu (oC) vào năm 2100 so với thời kỳ cơ sở (1986 - 2005)

Đặc điểm đường phân bố cưỡng bức bức xạ tới năm 2100

Kịch bản SRES tương đương

Trang 26

giữa thế kỷ 21, mực NBD trong khoảng từ 14 – 32 cm, đến cuối thế kỷ 21, mực NBD trong khoảng từ 33 – 75 cm Với kịch bản nồng độ KNK trung bình cao (RCP6.0), vào giữa thế kỷ 21, mực NBD trong khoảng từ 14 – 32 cm, đến cuối thế

kỷ 21, mực NBD trong khoảng từ 36 – 79 cm Với kịch bản nồng độ KNK cao (RCP8.5), mực nước biển tăng lên từ 17 – 35 cm vào giữa thế kỷ 21 và tăng từ 49 – 102 cm vào cuối thế kỷ 21 như Bảng 1.4 cho biết mực NBD theo các kịch bản RCP vào các thập kỷ của thế kỷ 21 cho tỉnh Nam Định

Bảng 1.4 Mực nước biển dâng theo các kịch bản RCP cho tỉnh Nam Định

1.2 TÁC ĐỘNG CỦA NƯỚC BIỂN DÂNG DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN

SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

1.2.1 Tác động qua lại giữa nước biển dâng và sử dụng đất

1.2.1.1 Tác động của nước biển dâng đến sử dụng đất

Theo hướng dẫn đánh giá tác động của BĐKH và NBD của Viện KHKTTVBĐKH (2011), NBD có ảnh hưởng lớn đến sử dụng ĐNN và đất phi nông nghiệp như sau:

+ Đất nông nghiệp: NBD làm một phần diện tích đất bị nhiễm mặn, ngập úng, dẫn đến giảm diện tích ĐNN…Cơ cấu sử dụng ĐNN có thể thay đổi, như: đất

Trang 27

trồng lúa chuyển sang đất nuôi trồng thủy sản do ngập và mặn, đất lâm nghiệp có thể bị thu hẹp do NBD

+ Đất phi nông nghiệp: cùng với BĐKH, NBD đang gây cản trở và ảnh hưởng tới việc sử dụng đất cho các mục đích khác nhau như đất giao thông, thủy lợi, đất ở,…

Đánh giá sự thay đổi về sử dụng đất ở các vùng, miền khác nhau trên cả nước do BĐKH, NBD của Viện KHKTTVBĐKH cho thấy, sự tăng lên của mực nước biển tại khu vực đồng bằng sông Hồng (bao gồm tỉnh Nam Định) làm diện tích RNM bị thu hẹp, tăng khó khăn cho nghề làm muối và nuôi trồng thủy sản, đe dọa các công trình giao thông, cầu cảng ven biển và trên các đảo, tăng chi phí đối với các công trình xây dựng, các hoạt động công nghiệp, các hoạt động du lịch biển [69,70]

1.2.1.2 Tác động của việc sử dụng đất đến nước biển dâng

Theo Tổng cục Quản lý đất đai, lượng phát thải KNK do sử dụng đất và chuyển đổi mục đích sử dụng đất cũng là một trong những nguyên nhân tác động tới BĐKH, NBD toàn cầu [51] Một số nghiên cứu của Viện Môi trường Nông nghiệp, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đã chỉ rõ, canh tác nông nghiệp tạo

ra nguồn phát thải khí (NH4, CO2) gây hiệu ứng nhà kính, là nguyên nhân của BĐKH, NBD Theo Bộ TNMT (2014), tổng lượng phát thải KNK ở nước ta năm

2010 là 246,8 Tg CO2 (1 Tg CO2 = 1 triệu tấn CO2 tương đương), trong đó, phát thải KNK trong lĩnh vực nông nghiệp là 88,3 Tg CO2, chiếm 35,8% tổng lượng phát thải KNK quốc gia (đứng thứ hai sau lĩnh vực công nghiệp), khu vực trồng lúa nước có lượng phát thải cao nhất (50,49%) trong lĩnh vực nông nghiệp

1.2.2 Cách tiếp cận và các đối tượng bị tác động của nước biển dâng

Đánh giá tác động của NBD là việc xác định các ảnh hưởng của NBD đến môi trường và các hoạt động kinh tế - xã hội Ngoài các ảnh hưởng bất lợi, NBD

có thể có các ảnh hưởng có lợi

NBD ảnh hưởng trực tiếp đến vùng đồng bằng ven biển và hải đảo, đặc biệt khi kết hợp với một số hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, ANTĐ, mưa lớn Nếu xét theo ngành, lĩnh vực thì các đối tượng bị tác động của NBD như sau [3,71]:

- Nông nghiệp và an ninh lương thực;

Trang 28

- Thủy sản;

- Công nghiệp;

- Giao thông vận tải;

- Xây dựng, hạ tầng, phát triển đô thị/nông thôn;

- Môi trường/tài nguyên nước/đa dạng sinh học;

- Y tế, sức khỏe cộng đồng/các vấn đề xã hội khác;

- Kinh doanh dịch vụ, thương mại và du lịch

Có nhiều cách tiếp cận trong đánh giá tác động của BĐKH nói chung và NBD nói riêng Theo IPCC (2009) có 3 cách tiếp cận: Tiếp cận tác động (impact approach), tiếp cận tương tác (interaction approach) và tiếp cận tổng hợp (integrated approach) Mỗi cách tiếp cận có những điểm mạnh và điểm hạn chế riêng Việc lựa chọn cách tiếp cận phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như yêu cầu đánh giá, phạm vi, khung thời gian và nguồn lực cho phép Dựa trên phạm vi đánh giá và khung thời gian đã xác định ở trên, cách tiếp cận đánh giá thường được thực hiện như sau [70, 108]:

+ Đầu tiên đánh giá tác động của NBD ở thời điểm hiện tại (ứng với các điều kiện kinh tế, xã hội, môi trường hiện tại);

+ Sau đó đánh giá tác động của NBD trong tương lai (thực hiện theo các kịch bản BĐKH, NBD và điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường trong tương lai của địa phương);

+ Đánh giá tác động của NBD được cập nhật khi các kịch bản BĐKH, NBD được cập nhật;

+ Đánh giá tác động của NBD có thể được thực hiện theo ngành, theo vùng địa lý, theo ranh giới HST hay theo lưu vực sông v.v ;

+ Đánh giá tác động của NBD cần có sự tham gia của các bên liên quan ở địa phương, trong đó, cộng đồng đóng vai trò đặc biệt quan trọng;

+ Các yếu tố về giới cần được xem xét trong quá trình đánh giá tác động của NBD

Trong luận án này, đối tượng đánh giá tác động của NBD cho thời gian tương lai tại khu vực các huyện ven biển tỉnh Nam Định là nhóm ĐNN gồm: Đất trồng lúa, đất rừng ngập mặn, đất nuôi trồng thủy sản và đất làm muối

Trang 29

1.2.3 Phương pháp đánh giá tác động của nước biển dâng

Đánh giá tác động của NBD đã được nghiên cứu bởi các tổ chức và nhiều nước trên thế giới với cách tiếp cận và phương pháp khác nhau tùy thuộc vào các đối tượng bị tác động Phổ biến nhất phải kể đến nghiên cứu của IPCC (2001) trong báo cáo đánh giá lần thứ 3 (TAR) đã nêu ra 4 nhóm phương pháp đánh giá tác động của NBD gồm: (1) Phát hiện qua vật chỉ thị của các hệ sinh thái; (2) Dự đoán ảnh hưởng; (3) Đánh giá tổng hợp; (4) Giá và giá trị (lượng giá) [107] Trong

4 nhóm phương pháp này, mỗi phương pháp có những ưu, nhược điểm nhất định, đáng lưu ý là phương pháp giá và giá trị Phương pháp này xác định giá trị kinh tế phụ thuộc vào quan điểm về giá như chi phí cơ hội của các nguồn tài nguyên Giá cũng có thể phụ thuộc vào thị trường là cạnh tranh hay độc quyền và vào các yếu

tố bên ngoài đã được quốc tế hóa hay không Nó cũng phụ thuộc vào tỷ lệ hạ giá khác nhau giữa các nước trong tương lai và khác nhau theo thời gian Tác động của những điểm chưa chắc chắn cũng cần được đánh giá nếu xác suất của các kết quả đạt được có thể khác nhau được biết trước

Viện KHKTTVBĐKH (2011) đã khuyến cáo 4 nhóm phương pháp đánh giá tác động của BĐKH, NBD đến các ngành và lĩnh vực khác nhau bao gồm: phương pháp thực nghiệm; phương pháp ngoại suy các số liệu lịch sử; phương pháp sử dụng các trường hợp tương tự; phương pháp chuyên gia Trong đó, các nghiên cứu đã khuyến cáo các phương pháp đánh giá tác động của NBD từng ngành, lĩnh vực cụ thể khác nhau như tài nguyên nước; trồng trọt; chăn nuôi; thủy sản; sức khỏe cộng đồng và y tế; giao thông; mạng lưới cấp thoát nước; quy hoạch

sử dụng đất đô thị; công nghiệp và dịch vụ đô thị; năng lượng Bảng 1.5 Tổng hợp phương pháp đánh giá tác động đến một số lĩnh vực liên quan đến luận án [70]

Trang 30

Bảng 1.5 Phương pháp đánh giá tác động của NBD đến một số lĩnh vực

ĐNN

Tăng diện tích đất canh tác bị nhiễm mặn

Quan trắc và thống kê

Các mô hình đánh giá xâm nhập mặn

Năng suất bị suy giảm do đất và nước bị nhiễm mặn

Làm gia tăng dịch bệnh, sâu hại ảnh hưởng đến năng suất cây trồng

Tàn phá, làm hư hỏng các cơ sở hạ tầng chăn nuôi như chuồng trại, ao, hồ…

Điều tra, khảo sát

HST thủy

sinh

Nhiễm mặn có nguy cơ phá hủy HST thủy sản nước ngọt, nhiễu loạn sinh thái vùng cửa sông

Mất những vùng đất ngập nước ven biển và sinh thái cửa sông do sự thay đổi dòng chảy và mực nước biển

Giống/loài Sự xâm nhập của các loài khác dẫn đến

sự cạnh tranh mới

(Nguồn: Trích Viện KHKTTVBĐKH, 2011[70])

Từ bảng 1.5 có thể thấy các phương pháp thường sử dụng trong đánh giá

Trang 31

tác động của NBD là: quan trắc và khảo sát thực địa; phương pháp bản đồ; phương pháp thống kê và lượng giá các giá trị chi phí Trong đó, phương pháp lập bản đồ nguy cơ ngập lụt là quan trọng và thường được sử dụng

Phương pháp lượng giá thiệt hại là một trong những phương pháp đánh giá tác động một cách định lượng và ngày càng được sử dụng rộng rãi ở nước ta bởi kết quả cụ thể, dễ so sánh Luận án lựa chọn phương pháp lượng giá các tác động của NBD đến các đối tượng của ĐNN là phương pháp nghiên cứu chính sẽ trình bày ở mục 1.3 và trong chương 2 Trong bối cảnh nguồn ngân sách dành cho sự nghiệp bảo vệ môi trường ở nước ta không nhiều (1% tổng chi ngân sách nhà nước) và sự gia tăng các nhu cầu về hoạt động bảo vệ tài nguyên và môi trường, các cơ quan nhà nước thường gặp khó khăn khi quyết định phân bổ các khoản đầu

tư công để bảo vệ và phục hồi môi trường tự nhiên Vì phải cân nhắc nhiều mục tiêu, bao gồm chất lượng môi trường, những đe dọa đến tính nguyên vẹn của HST, và các ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của con người… Việc lượng giá giá trị kinh tế các HST môi trường là công cụ hữu hiệu, và cơ sở biện minh cho các quyết định của các nhà quản lý tài nguyên và môi trường liên quan đến cái được và cái mất của các quyết định mà chúng đòi hỏi phải phân tích kinh tế

1.2.4 Nghiên cứu tác động của nước biển dâng do biến đổi khí hậu trên

thế giới

Cho đến nay, IPCC đã lần lượt cập nhật 5 phiên bản xây dựng kịch bản BĐKH và NBD cho toàn cầu Theo đó, khu vực Đông Nam Á là một trong những khu vực bị tác động mạnh nhất, do khu vực này bao gồm các quốc đảo và nhiều quốc gia nằm ở những vùng bờ biển thấp hoặc những vùng ngay cửa sông, là khu vực đặc biệt dễ bị tổn thương do BĐKH và mực NBD [107]

Thời gian gần đây, nghiên cứu tác động của BĐKH nói chung và NBD nói riêng đến các lĩnh vực khác nhau ngày càng tăng Đặc biệt là khi Cơ chế quốc tế Warsaw về tổn thất và thiệt hại được thành lập từ năm 2013 và gần đây là Hiệp định Paris về BĐKH được thông qua (2015) Khu vực ven biển và tài nguyên đất đang là đối tượng nghiên cứu nhiều trên thế giới

NBD có thể gây ra những thay đổi đáng kể và thường là tiêu cực đối với những vùng đất ven biển (ví dụ các đảo cát, bãi biển, cồn cát và đầm lầy ven biển), cũng như các HST, cửa sông, kênh rạch, dân số và sự phát triển của con người ở

Trang 32

ven biển [103] Sự gia tăng dân số không ngừng, đặc biệt ở những vùng ven biển, và sự tăng mực nước biển ngày một nhanh hơn dẫn đến việc thích ứng với những thay đổi đó đang và sẽ trở thành một thách thức lớn cho nhân loại [112]

Nghiên cứu đầu tiên trên thế giới về tác động của NBD được thực hiện từ năm 1980 bởi Schneider và Chen trong nghiên cứu về sự nóng lên do Carbon dioxide (CO2) và lũ lụt khu vực ven biển [100] Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp ước tính (phần trăm % giá trị bị thiệt hại so với GDP) để tính toán thiệt hại cho nước Mỹ Cụ thể, với mực NBD 15 feet (4,6m) và mực NBD 25 feet (7,6m) lần lượt giá trị bị thiệt hại là 110 tỷ USD và 150 tỷ USD (so với năm 1971 tương ứng với % giá trị bị thiệt hại so với GDP là 4 và 6%)

Cline (1992) và Nordhaus (2007) nghiên cứu kinh tế về những tổn thất của mực NBD do BĐKH ảnh hưởng đến nước Mỹ bằng việc ước tính tỷ lệ (%) phúc lợi bị tác động bởi BĐKH, NBD thể hiện như là tăng thu nhập tương đương hoặc

bị mất trong GDP Theo đó, thiệt hại của nước Mỹ có thể lên tới khoảng 100 tỷ USD để chi cho các biện pháp bảo vệ khi mực NBD cao lên 1 mét vào năm 2100 và thiệt hại hàng năm từ mực NBD cho nước Mỹ là 7 tỷ USD [98]

Một nghiên cứu khác về thiệt hại kinh tế do hiệu ứng nhà kính và NBD đối với nước Mỹ của Gary Yohe và nnk (1996) đã chỉ ra rằng, nếu lượng KNK của

Mỹ tăng gấp đôi vào năm 2065 thì tổn thất do hiệu ứng nhà kính và NBD có thể gây thiệt hại cho Mỹ khoản kinh phí đáng kể là 331 triệu USD, hay thiệt hại hằng năm do hiệu ứng nhà kính và NBD là 19 – 26 triệu USD [87]

Wei- Shiuen và Robert (2005) nghiên cứu tác động của NBD đến Singapore dựa trên ba kịch bản NBD là 0,2m; 0,49m; và 0,86m vào năm 2100 Theo tính toán, chi phí xây dựng và bảo trì các đê, kè để bảo vệ bờ biển phụ thuộc nhiều vào kịch bản NBD, khoảng 0,3 triệu USD vào năm 2050 và 0,9 triệu USD vào năm

2100 theo kịch bản 0,2 m Tuy nhiên, theo kịch bản 0,87 m, chi phí xây dựng và bảo trì lên đến 5,7 triệu USD vào năm 2050 và 16,8 triệu USD vào năm 2100 Nghiên cứu này cho thấy rằng, sự thích ứng chủ động với mực NBD có thể giảm đáng kể thiệt hại do NBD gây ra [111]

Jeffrey (2007) chỉ ra rằng, NBD là một trong những tác động nghiêm trọng nhất của BĐKH, gây thiệt hại kinh tế lớn cho cộng đồng ven biển Giá trị của đất ven biển và tài sản bị ngập dưới mực nước biển là một trong những biểu hiện rõ

Trang 33

ràng nhất của BĐKH, và hầu như tất cả giá trị thiệt hại bởi mực NBD là do ngập lụt Ngoài ra, mực NBD còn làm tăng tính dễ tổn thương của cơ sở hạ tầng ven biển do thiệt hại lũ lụt từ bão ngay cả khi chúng ở độ cao an toàn không bị ngập lụt Theo ước tính, mực NBD gây ra thiệt hại lũ lụt hàng năm ở khu vực Piney Point, Vịnh Chesapeake, bang Viginia, Mỹ khoảng 126.182 USD vào năm 2050 và tiếp tục tăng lên 231.603 USD vào năm 2100 [91]

Akhmad và nnk (2009) đã phân tích hiệu quả kinh tế của chiến lược thích ứng với NBD ở Indonesia Nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp GIS để xác định ảnh hưởng NBD đến nông nghiệp với mức dâng từ 0,5 – 1,0m tại 6/13 tỉnh bị tác động ở Indonesia Nghiên cứu xác định 3 nhóm ĐNN bị tác động là trồng lúa, nuôi thủy sản (tôm và cá) và trồng cây ăn quả vì bị nhiễm mặn và ngập hoàn toàn

do NBD Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỉnh Barito Kuala bị thiệt hại nhiều nhất khoảng 630,26 tỷ IDR (Rupiah Indonesia) khi mực NBD lên 0,5m [76]

Dan Wei và Samrat Chatterjee (2013) đã ước tính giá trị kinh tế của ảnh hưởng bởi ngập lụt do NBD tại thành phố Los Angeles (Mỹ) với giả thuyết mực NBD 0,5m vào năm 2050 và 1,4m vào năm 2100 Kết quả nghiên cứu cho thấy, với mực NBD 0,5m vào năm 2050, thành phố Los Angeles phải chi 2,7 - 3,4 tỷ USA để kiến thiết lại các khu vực bị ngập lụt; Với mực nước dâng 1,4m, có thể phải chi đến 4,5 tỷ Với trận lũ lịch sử ứng với tần suất 100 năm, tổng thiệt hại trực tiếp là 410,3 triệu USD khi mực NBD 0,5m và gần gấp đôi khi mực NBD 1,4m [83]

Tổng hợp các nghiêu cứu trên thế giới cho thấy vấn đề NBD đã được quan tâm từ khá sớm (từ những năm 1980), tuy nhiên các nghiên cứu này còn tồn tại một số vấn đề sau:

- Các kịch bản BĐKH và NBD của hầu hết các nghiên cứu tác động của NBD đến tài nguyên đất đều sử dụng cho các mốc thời gian tương lai khá xa phổ biến là đến năm 2100, thậm chí một số nghiên cứu tính đến năm 2200

- Việc lượng giá thiệt hại đến tài nguyên đất chỉ tập trung các giá trị của những tài sản cố định hay nói cách khác thường xem tài nguyên đất như một mặt bằng xây dựng cùng với các yếu tố về cơ sở hạ tầng Các nghiên cứu này chủ yếu chú trọng các giá trị trực tiếp để xác định diện tích đất, công trình phụ trợ bị tác động Mặc dù thời gian tính toán trong các nghiên cứu này thường khá xa nhưng

Trang 34

thường giả thuyết phương án sử dụng đất không thay đổi so với thời điểm hiện tại tính toán

- Lượng giá thiệt hại bằng phương pháp ước tính mức thiệt hại chung theo

tỷ lệ (phần trăm %) so với GDP của quốc gia, khu vực Kết quả tính toán của các nghiên cứu cho thấy, mức thiệt hại được đánh giá có khoảng dao động khá rộng,

từ 4% cho tới 79% so với GDP, tùy thuộc vào đối tượng hay quy mô khu vực nghiên cứu Bên cạnh đó, một số nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp phân tích chi phí - lợi ích (CBA) để đánh giá mức độ tác động theo các kịch bản thích ứng

- Chưa phân biệt được mức thiệt hại cho các khu vực địa lý và đối tượng bị tác động khác nhau trong quá trình tính toán thiệt hại với sự thay đổi của các kịch bản BĐKH và NBD, ví dụ như khu vực trong và ngoài đê, các loại đất sử dụng khác nhau

Trong luận án này, kế thừa phương pháp chung của các công trình nghiên cứu khi xây dựng bản đồ nguy cơ ngập, bản đồ tác động của nguy cơ ngập do NBD đến sử dụng ĐNN, đồng thời luận án sẽ hạn chế các điểm tồn tại trên để tính toán tác động của NBD với phương án sử dụng đất khác nhau cùng các giá trị sử dụng gián tiếp của đối tượng bị tác động

1.2.5 Nghiên cứu tác động của nước biển dâng do biến đổi khí hậu ở

Việt Nam

a) Nghiên cứu ngoài nước về Việt Nam

Một trong những nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam về tác động của NBD đến dải ven bờ thực hiện giai đoạn 1994 - 1996 là dự án Đánh giá tổn thương và định hướng quản lý tổng hợp dải ven bờ biển Việt Nam với sự hỗ trợ của Chính phủ Hà Lan (Tổng cục Môi trường, 2003) Dự án đạt được một số kết quả chính như sau: (1) Diện tích đất bị ngập ở nước ta khá lớn có thể do ảnh hưởng của con người, không phải do mực nước dâng lên; (2) Thiệt hại do ngập lụt hằng năm ước tính khoảng 720 triệu USD và trong 30 năm tới con số này có thể tăng gấp 10 lần do phát triển và đầu tư vào những vùng đất có mức độ rủi ro cao; giá trị này bằng khoảng 3% và 5% GDP của các năm 1995 và 2025; (3) Ước tính vào năm 2025 khoảng 60% dân số chịu rủi ro do ngập lụt hằng năm [3]

Nghiên cứu về khả năng bị tổn thương khu vực đới bờ Việt Nam do BĐKH và NBD của Tom và nnk (1996) đã chỉ ra rằng: 17 triệu dân của Việt Nam sẽ chịu

Trang 35

ảnh hưởng bởi lũ lụt hằng năm, trong đó 14 triệu dân thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, khoảng 1.700km2 đất ngập nước bị ảnh hưởng, trong đó 60% diện tích đất ngập nước ven biển Chi phí cho việc xây dựng đê, bảo vệ hệ thống sinh cảnh khu vực châu thổ ven biển ước tính khoảng 24 tỷ USD/năm ứng với mức ngập 1m [106]

Tương tự như vậy, Adger (1999) cũng nghiên cứu tính dễ bị tổn thương về mặt xã hội do BĐKH và các hiện tượng thời tiết cực đoan ở khu vực ven biển Việt Nam Nghiên cứu chỉ ra rằng tính dễ tổn thương thay đổi theo thời gian, liên quan đến khía cạnh kinh tế, sử dụng đất, và cộng đồng [75]

Nghiên cứu tổng quan của ADB (2009) về kinh tế trong điều kiện BĐKH của khu vực phía Nam Châu Á đã chỉ rõ: Tại Việt Nam, nhiệt độ và mực NBD có thể tăng thêm 4,80C và 70 cm vào cuối thế kỷ 21, đồng thời sản lượng lương thực

có thể giảm tới 15% Nghiên cứu cũng ước tính chi phí cho các biện pháp thích ứng trong nông nghiệp và dải ven bờ của 4 nước Philippines, Indonesia, Thái Lan và Việt Nam (tập trung xây dựng đê biển và phát triển các giống cây trồng chịu hạn và nóng) trung bình khoảng 5 tỷ USD/năm vào năm 2020 [74]

Nghiên cứu của Carew-Reid (2007) có sử dụng số liệu địa hình số để mô phỏng ngập lụt do NBD 1m và xác định rằng, Đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Mê Kông là hai khu vực chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất Nếu NBD 1m, một phần lớn diện tích các tỉnh, thành phố Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên và một phần các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình có cao độ mặt đất thấp hơn mực nước trung bình, sẽ bị ngập lụt nặng nếu vỡ đê [79]

Từ các nghiên cứu ngoài nước thấy rằng: Nghiên cứu ảnh hưởng của NBD đến Việt Nam chủ yếu tập trung vào đánh giá định tính, một số ít đã định lượng được mức độ thiệt hai, tuy nhiên phạm vi quy mô quá rộng, kịch bản NBD chưa chi tiết và phù hợp với khu vực nước ta; Mức thiệt hại do tác động của BĐKH, đặc biệt là nguy cơ ngập do NBD cho các khu vực và đối tượng khác nhau chưa được xem xét trong các nghiên cứu cùng với các phương án sử dụng và biến động về sử dụng đất

b) Nghiên cứu điển hình liên quan ở nước ta và khu vực Nam Định

Cũng như trên thế giới, nghiên cứu về tác động của BĐKH nói chung và NBD nói riêng tại Việt Nam được thực hiện ở nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau

Trang 36

Bộ TNMT (2009) đã xây dựng kịch bản đầu tiên về BĐKH và NBD cho Việt Nam theo các kịch bản phát thải khác nhau SRES (kịch bản phát thải thấp B1, kịch bản phát thải trung bình B2 và kịch bản phát thải cao A1FI) [4] Năm 2012, Bộ TNMT đã cập nhật kịch bản BĐKH và NBD cho Việt Nam chi tiết đến cấp tỉnh và 7 khu vực ven biển đối với NBD Năm 2016, Bộ TNMT đã công bố bản cập nhật mới nhất về kịch bản BĐKH và NBD cho Việt Nam dựa trên cách tiếp cận mới về kịch bản phát thải chuẩn hay kịch bản nồng độ KNK đặc trưng RCP do IPCC (2013) đề xuất Kịch bản BĐKH và NBD cho Việt Nam phiên bản 2016 có nhiều điểm mới so với phiên bản năm 2012, như đã xây dựng kịch bản BĐKH và một số cực trị khí hậu chi tiết cho 63 tỉnh/thành phố, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam và chi tiết cho 150 trạm khí tượng (tương đương với cấp huyện) Về kịch bản NBD, phiên bản 2016 đã chi tiết cho 28 tỉnh/thành phố ven biển, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Về đánh giá nguy cơ ngập do NBD, đối với khu vực có bản đồ địa hình tỷ lệ 1: 2.000, mức độ chi tiết đến cấp xã [8,9]

Việc đánh giá tác động của BĐKH, NBD bằng phương pháp lượng giá giá trị kinh tế ngày càng được quan tâm Đặc biệt, sau khi thông qua Thỏa thuận Paris vào năm 2015, Chính phủ Việt Nam đã thúc đẩy việc xây dựng kế hoạch, phê duyệt Thỏa thuận Paris và đến tháng 11 năm 2016 thì Thỏa thuận Paris đã có hiệu lực Tại điều 8 khoản 4 của Thỏa thuận Paris (2015), vấn đề tổn thất và thiệt hại do BĐKH được nhấn mạnh Trong văn bản phê duyệt thực hiện Thỏa thuận Paris của Việt Nam [11], vấn đề tổn thất và thiệt hại được quy định là nhiệm vụ bắt buộc cần thực hiện của kế hoạch

Có thể thấy, khu vực tỉnh Nam Định nói chung và các huyện ven biển nói riêng có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội với điều kiện thiên nhiên ưu đãi Tuy nhiên, Nam Định cũng là khu vực dễ bị tác động do các quá trình tự nhiên và hoạt động của con người Vì vậy, trong thời gian gần đây có khá nhiều nghiên cứu liên quan đã được thực hiện như Bảng 1.6 Tổng hợp các công trình nghiên cứu liên quan đến đối tượng và khu vực nghiên cứu tại Nam Định

Bảng 1.6 Tổng hợp công trình nghiên cứu liên quan tại Nam Định

TT Tên/nhóm nghiên

cứu/ năm công bố

Tên công trình Kết quả đạt được/Phương pháp sử

dụng

1 Nguyễn Chu Hồi -

2004 [22]

Cơ sở khoa học sử dụng hợp lý vùng bãi bồi ven

Đã phân được 8 vùng chức năng cho hoạt động sản xuất tại khu vực bãi bồi

Trang 37

TT Tên/nhóm nghiên

cứu/ năm công bố

Tên công trình Kết quả đạt được/Phương pháp sử

để tính toán NPV trong khoảng 15 năm,

có tính tới 5% và 10% tổng lợi nhuận cho khắc phục, xử lý môi trường

obovata Sheue, Liu &

Yong) trồng ven biển huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định

Đã định lượng được lượng cacbon tích luỹ trong rừng trang (Kandelia obovata), trên cơ sở đó khẳng định RNM tích luỹ và tạo bể chứa KNK, làm giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính

3 LATS Đinh Đức

Trường - 2010 [56]

Đánh giá giá trị kinh tế phục vụ quản lý đất ngập nước – áp dụng tại vùng đất ngập nước cửa sông

Ba Lạt, tỉnh Nam Định

Đã hệ thống cơ sở khoa học của việc đánh giá giá trị kinh tế phục vụ quản lý tài nguyên ĐNN Trên cơ sở ứng dụng thử nghiệm các phương pháp đánh giá tiên tiến trên thế giới, đã xác định giá trị kinh

tế của tài nguyên ĐNN tại vùng cửa sông

Ba Lạt, tỉnh Nam Định

4 LATS Phạm Thị Phin

-2012 [32]

Nghiên cứu sử dụng bền vững đất nông nghiệp huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định

Làm rõ đặc tính và tính chất đất đai ở huyện Nghĩa Hưng Sử dụng phương pháp đánh giá đất thích hợp của FAO, kết hợp với phương pháp tiếp cận hệ thống và phương pháp tính trọng số (Analytic Hierarchy Process - AHP) để xác định các loại hình sử dụng ĐNN (gồm đất 2 lúa, lúa đặc sản, 2 lúa 1 màu, 2 màu 1 lúa, chuyên màu, 1 lúa 1 NTTS ) bền vững cho huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định

5 LATS Nguyễn Thị

Thu Trang - 2013 [54]

Nghiên cứu sử dụng đất bền vững vùng Cửa Ba Lạt huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định

Đã xác định tiềm năng đất, đánh giá phân hạng mức độ thích hợp của đất đai, đề xuất giải pháp sử dụng bền vững cho sản xuất nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản vùng Cửa Ba Lạt, huyện Giao Thủy

6 LATS Hoàng Văn

Hoan - 2014 [21]

Nghiên cứu xâm nhập mặn nước dưới đất trầm tích đệ tứ vùng Nam Định

Xác định hiện trạng phân bố mặn - nhạt nước dưới đất, đánh giá và dự báo diễn biến XNM ở vùng nghiên cứu Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, quy hoạch tài nguyên nước, các nhà hoạch định chính sách và các nhà khoa học nhằm phục vụ khai thác

Trang 38

TT Tên/nhóm nghiên

cứu/ năm công bố

Tên công trình Kết quả đạt được/Phương pháp sử

Nghiên cứu tiềm năng đất đai, đánh giá hiệu quả sử dụng đất các loại/kiểu sử dụng đất (LUT) ở huyện Hải Hậu, phân hạng thích hợp đất đai, đánh giá hiệu quả các mô hình sản xuất nông nghiệp, đánh giá tính bền vững của các LUT được lựa chọn, đề xuất định hướng và giải pháp sử dụng ĐNN bền vững ở huyện Hải Hậu đến năm 2020

8 LATS Trần Thị Kim

Tĩnh- 2014 [47]

Nghiên cứu chất lượng đất, nước của khu vực Ramsar Xuân Thủy - Nam Định trong bối cảnh nước biển dâng

Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn về hiện trạng, nguyên nhân, xu thế biến đổi chất lượng đất, nước và ảnh hưởng đến đa dạng sinh học (ĐDSH) khu Ramsar Xuân Thủy, trong bối cảnh NBD nhằm quản lý bền vững và sử dụng khôn khéo vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế của Việt Nam

9 LATS Doãn Tiến Hà

-2015 [17]

Nghiên cứu biến động bãi do tác động của công trình giảm sóng, tạo bồi cho khu vực Hải Hậu - Nam Định

Xác định được một số quy luật biến động đường bờ, bãi biển dưới tác động của chế độ động lực ven bờ, dựa trên số liệu về biến động bãi, bờ biển và biến động các cửa sông làm ảnh hưởng tới ổn định đường bờ khu vực Hải Hậu; Sử dụng mô hình toán và mô phỏng trên mô hình vật

lý để làm rõ quá trình tương tác sóng – công trình và tác động của công trình đến diễn biến hình thái ven bờ tại khu vực nghiên cứu, đồng thời đề xuất giải pháp chỉnh trị phù hợp phục vụ phòng chống thiên tai, ổn định vùng bờ biển khu vực Hải Hậu

10 LATS Trần Thị Giang

Hương - 2015 [24,25]

Thực trạng và định hướng sử dụng đất tỉnh Nam Định trong điều kiện biến đổi khí hậu

Xác định các ảnh hưởng chính do BĐKH đến sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Nam Định, đề xuất các giải pháp giảm thiểu rủi

ro khi sử dụng đất để giải quyết các mục tiêu phát triển bền vững trong tương lai

11 LATS Đặng Thị Hoa

-2017 [20]

Nghiên cứu sự thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp của người dân ven biển tỉnh Nam Định

Đã điều tra và xác định các biện pháp thích ứng với BĐKH trong sản xuất nông nghiệp với các lĩnh vực cụ thể như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, diêm nghiệp, lâm nghiệp

(Tác giả tổng hợp)

Trang 39

Tổng hợp các nghiên cứu đã được thực hiện trên địa bàn tỉnh Nam Định có thể thấy 2 nhóm chính sau: Nhóm thứ nhất nghiên cứu vai trò, tầm quan trọng và giá trị của các dạng tài nguyên và hệ sinh thái quan trọng, nhạy cảm ở Nam Định như: tài nguyên đất, RNM, đất ngập nước Nhóm này có sử dụng các phương pháp lượng giá đối với rừng ngập mặn, đất ngập nước, hay tính toán định lượng Các bon với rừng ngập mặn, với tài nguyên ĐNN sử dụng phương pháp xác định thành phần tính chất của đất, đánh giá phân loại thích nghi đất Nhóm nghiên cứu thứ 2 nghiên cứu các tác động của BĐKH, xâm nhập mặn đến các nhóm đối tượng cụ thể khác nhau,

sử dụng phương pháp mô hình tính toán biến động bờ, xâm nhập mặn, sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu, mô hình thích ứng với BĐKH Với những công trình đã công

bố, nghiên cứu của luận án không trùng lặp với bất kỳ công trình nào trước đó

1.3 LƯỢNG GIÁ GIÁ TRỊ KINH TẾ

1.3.1 Các yếu tố cấu thành tổng giá trị kinh tế

Theo Bolt và nnk (2005), Pearce (1990) các yếu tố cấu thành tổng giá trị kinh tế (TEV) như sau:

Giá trị chắn sóng, điều hòa khí hậu, điều tiết và duy trì nguồn nước, hấp thụ carbon, cung ứng bãi đẻ,

Giá trị lựa chọn (Option values)

Giá trị lưu truyền (Bequest values)

Giá trị tồn tại (Existence values)

Hình 1.6 Các thành phần của tổng giá trị kinh tế (TEV)

(Theo Bolt và nnk, 2005; Pearce, 1990)

a Giá trị sử dụng

Giá trị sử dụng là giá trị hoặc lợi ích thu được từ việc sử dụng trực tiếp tài

Trang 40

nguyên môi trường Giá trị sử dụng được chia làm ba loại [78, 83]:

* Giá trị sử dụng trực tiếp: là giá trị của tất cả các loại sản phẩm hàng hóa

khai thác được từ một vùng cụ thể nào đó như: nông sản, thuỷ hải sản, lâm sản, sản phẩm công nghiệp, sản phẩm tiêu thụ công nghiệp…

Nguyên tắc tính: lấy tổng số lượng từng loại sản phẩm khai thác được từ một HST nhân (x) với đơn giá mỗi loại sản phẩm theo giá cả thị trường tại một thời điểm nào đó Tổng lượng giá trị của các loại sản phẩm này hình thành giá trị

sử dụng trực tiếp

Yêu cầu về số liệu: lấy số liệu thống kê nhiều năm liên tục, tổng lượng sản phẩm có giá trị sử dụng trực tiếp dùng để tính toán là số lượng sản phẩm tính theo bình quân năm

Nếu không có số liệu thống kê, phải đánh giá được tổng số lượng tài sản của nguồn tài nguyên cùng mức độ tăng trưởng tài nguyên hằng năm để được khả năng cung cấp các loại sản phẩm bình quân hằng năm của HST Cách tính giá trị

sử dụng trực tiếp như sau:

Trong đó: Qi: Tổng lượng sản phẩm bình quân năm loại hàng hoá i;

Pi: Đơn giá loại sản phẩm hàng hóa i trên thị trường tại thời điểm gần nhất

* Giá trị sử dụng gián tiếp: là các giá trị về chức năng sinh thái của hệ

thống tài nguyên môi trường như: chức năng về khả năng tự làm sạch môi trường (chứa đựng, đồng hóa chất thải), chức năng dinh dưỡng, chức năng phòng hộ, tích luỹ cacbon…Các giá trị này không thể mua bán trên thị trường với giá cả cụ thể Tuy nhiên, có thể tính toán theo cách quy đổi giá trị bằng tiền của các chức năng này thông qua việc đánh giá theo đường cầu từ việc sẵn lòng chi trả (WTP: willingness to pay) của công chúng về loại môi trường này

Nguyên tắc tính: tính bằng phương pháp chi phí thay thế (RC: replacement cost) hoặc chi phí ngăn ngừa (PE: preventive expenditure) Đó là các chi phí để phục hồi nguyên trạng HST sau khi bị xâm hại hoặc giữ cho môi trường không bị xuống cấp Đối với cảnh quan du lịch thường được tính bằng chi phí du hành (TCM: travel cost method)

Yêu cầu về số liệu: thông tin có thể nhận được bằng 4 cách:

Giá trị sử dụng trực tiếp = (∑ Qi×Pi)/năm (1.2)

Ngày đăng: 20/12/2018, 14:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[9] Vũ Thanh Ca, 2014, Đánh giá tác động của BĐKH và nước biển dâng tới vùng ven biển Đồng bằng Bắc Bộ, Báo cáo tổng kết dự án cấp Bộ Tài nguyên và Môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tác động của BĐKH và nước biển dâng tới vùng ven biển Đồng bằng Bắc Bộ
[11] Chính phủ, 2016, Nghị quyết số 93/NQ-CP phê duyệt Thỏa thuận Paris thực hiện Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (Thỏa thuận Paris về biến đối khí hậu) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 93/NQ-CP phê duyệt Thỏa thuận Paris thực hiện Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu
[14] Nguyễn Thị Kim Cúc, Trần Văn Đạt, 2012, “Nghiên cứu khả năng thích ứng của hệ sinh thái rừng ngập mặn vùng ven biển dưới tác động của nước biển dâng nghiên cứu ở đồng bằng sông Hồng”, tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thủy lợi và Môi trường, số 37 (16/2012), tr.45-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng thích ứng của hệ sinh thái rừng ngập mặn vùng ven biển dưới tác động của nước biển dâng nghiên cứu ở đồng bằng sông Hồng”, "tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thủy lợi và Môi trường
[15] Lại Tông Dụ, 1999, Lý luận Địa chính hiện đại, Công ty xuất bản Ngũ Nam Đồ Thư (Đài Loan), Bản dịch Tôn Gia Huyên, tài liệu lưu hành nội bộ tại Tổng cục Quản lý đất đai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận Địa chính hiện đại
[16] Trần Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài Thu, 2012, “Biến đổi khí hậu và sinh kế ven biển”, Diễn đàn phát triển Doanh nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi khí hậu và sinh kế ven biển”, "Diễn đàn phát triển Doanh nghiệp
[17] Doãn Tiến Hà, 2015, Nghiên cứu biến động bãi do tác động của công trình giảm sóng, tạo bồi cho khu vực Hải Hậu - Nam Định, Luận án Tiến sỹ, Viện KHKTTVBĐKH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu biến động bãi do tác động của công trình giảm sóng, tạo bồi cho khu vực Hải Hậu - Nam Định
[18] Nguyễn Thị Hồng Hạnh, 2009, Nghiên cứu khả năng tích luỹ cacbon của rừng trang (Kandelia obovata Sheue, Liu & Yong) trồng ven biển huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định, Luận án Tiến sỹ, Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng tích luỹ cacbon của rừng trang (Kandelia obovata Sheue, Liu & Yong) trồng ven biển huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định
[19] Nguyễn Xuân Hiền, Nguyễn Hữu Tân, 2009, Tác động của biến đổi khí hậu - nước biển dâng trên địa bàn tỉnh Cà Mau, Viện Quy hoạch thủy lợi Miền Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của biến đổi khí hậu - nước biển dâng trên địa bàn tỉnh Cà Mau
[20] Đặng Thị Hoa, 2017, Nghiên cứu sự thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp của người dân ven biển tỉnh Nam Định, Luận án Tiến sỹ, Học viện Nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp của người dân ven biển tỉnh Nam Định
[21] Hoàng Văn Hoan, 2014, Nghiên cứu xâm nhập mặn nước dưới đất trầm tích đệ tứ vùng Nam Định, Luận án Tiến sỹ, Đại học Mỏ địa chất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xâm nhập mặn nước dưới đất trầm tích đệ tứ vùng Nam Định
[22] Nguyễn Chu Hồi, 2004, Báo cáo tổng kết đề tài: Xây dựng cơ sở khoa học cho việc quy hoạch nuôi trồng thuỷ sản trên vùng bãi bồi ven biển huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định, Viện Kinh tế và Quy hoạch Thuỷ sản, Bộ Thuỷ sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết đề tài: Xây dựng cơ sở khoa học cho việc quy hoạch nuôi trồng thuỷ sản trên vùng bãi bồi ven biển huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
[23] Phan Nguyên Hồng, Nguyễn Hoàng Trí, Đỗ Văn Nhượng, Nguyễn Thế Chinh, 2000, Định giá kinh tế rừng ngập mặn Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định giá kinh tế rừng ngập mặn Cần Giờ
[24] Trần Thị Giang Hương, Nguyễn Thị Vòng, 2013, “Thực trạng và định hướng sử dụng đất tỉnh Nam Định trong điều kiện biến đổi khí hậu”, Tạp chí Khoa học và Phát triển, tập 11, số 5, tr. 672-680. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và định hướng sử dụng đất tỉnh Nam Định trong điều kiện biến đổi khí hậu”, "Tạp chí Khoa học và Phát triển
[25] Trần Thị Giang Hương, 2015, Thực trạng và định hướng sử dụng đất tỉnh Nam Định trong điều kiện biến đổi khí hậu, Luận án Tiến sỹ, Học viện Nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và định hướng sử dụng đất tỉnh Nam Định trong điều kiện biến đổi khí hậu
[26] Trần Thanh Lâm, 2009, “Tác động của biến đổi khí hậu đến kinh tế: Dự báo và giải pháp”, Tạp chí Cộng Sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của biến đổi khí hậu đến kinh tế: Dự báo và giải pháp”
[27] Trần Đình Lân, Hoàng Thị Chiến, Nguyễn Thị Minh Huyền, Nguyễn Thị Thu, Bùi Đức Quang, Ngô Minh Tuân, 2015, “Lượng giá kinh tế giá trị du lịch từ các hệ sinh thái biển vùng đảo Bạch Long Vĩ, Hải Phòng”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển; Tập 15, Số 1; p45-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lượng giá kinh tế giá trị du lịch từ các hệ sinh thái biển vùng đảo Bạch Long Vĩ, Hải Phòng”, "Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển
[28] Nguyễn Khắc Nghĩa, 2010, Nghiên cứu giải pháp khoa học và công nghệ xây dựng đê biển phòng chống được bão cấp 12 triều cường (từ Quảng Ninh đến Ninh Bình), Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giải pháp khoa học và công nghệ xây dựng đê biển phòng chống được bão cấp 12 triều cường (từ Quảng Ninh đến Ninh Bình)
[29] Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn Trọng Hiệu, 2003, Khí hậu và tài nguyên khí hậu Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khí hậu và tài nguyên khí hậu Việt Nam
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
[30] Nguyễn Đức Ngữ, 2008, Biến đổi khí hậu, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi khí hậu
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
[31] Nguyễn Đình Hoè, Vũ Văn Hiếu, 2002, Xây dựng và thử nghiệm bộ chỉ số đánh giá tính bền vững của nuôi trồng thuỷ sản ven biển, Viện Kinh tế và Quy hoạch Thuỷ sản, Bộ Thuỷ sản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và thử nghiệm bộ chỉ số đánh giá tính bền vững của nuôi trồng thuỷ sản ven biển

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w