LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của tôi, có sự hỗ trợ của đề tài khoa học cấp Bộ Tài nguyên và Môi trường “Nghiên cứu phương pháp dự báo lượng nước thải
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
=====o0o=====
Phạm Thanh Tuấn
CƠ SỞ DỰ BÁO LƯỢNG NƯỚC THẢI PHỤC VỤ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG
DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG KHU CÔNG NGHIỆP
TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Hà Nội, 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
=====o0o=====
Phạm Thanh Tuấn
CƠ SỞ DỰ BÁO LƯỢNG NƯỚC THẢI PHỤC VỤ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG
DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG KHU CÔNG NGHIỆP
TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của tôi, có sự hỗ trợ của
đề tài khoa học cấp Bộ Tài nguyên và Môi trường “Nghiên cứu phương pháp dự báo
lượng nước thải khu công nghiệp phục vụ đánh giá tác động môi trường dự án xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp trong điều kiện Việt Nam”, mã số
TNMT.2016.04.04, do tôi làm chủ nhiệm Các kết quả trong luận án là trung thực
và chính xác Các số liệu, tài liệu tham khảo đã được chỉ dẫn rõ ràng và đầy đủ
Hà Nội, tháng 04 năm 2018
NCS Phạm Thanh Tuấn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Nguyễn Mạnh Khải, Chủ nhiệm Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội và TS Mai Thanh Dung, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận án
Xin cảm ơn TS Phạm Thị Thúy, Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học
tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội; TS Nguyễn Như Dũng, Viện Nhiệt đới môi trường thành phố Hồ Chí Minh và các thành viên chính, thành viên thuộc đề tài TNMT.2016.04.04 đã hỗ trợ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài và thực hiện luận án
Xin cảm ơn Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai, Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai, Ban quản lý khu công nghiệp Việt Nam - Singapore tỉnh Bình Dương, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương, Ban quản lý các khu chế xuất và công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, Tổng Công ty Tín Nghĩa, Tổng Công ty phát triển khu công nghiệp Sonadezi, các doanh nghiệp phát triển hạ tầng khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và các tổ chức, cá nhân phối hợp công tác đã tạo mọi điều kiện cần thiết để tôi hoàn thành luận án
Xin cảm ơn Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tạo điều kiện cho tôi làm chủ nhiệm đề tài cấp Bộ mang mã số TNMT.2016.04.04 Kết quả của đề tài có giá trị lớn trong việc hỗ trợ tôi hoàn thành luận án
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn các thày cô và đồng nghiệp tại Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội; các đồng nghiệp tại Cục Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường, Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng như các chuyên gia đã trợ giúp, tư vấn, động viên tôi trong suốt thời gian nghiên cứu, thực hiện luận án
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục 1
Danh mục bảng biểu 5
Danh mục hình vẽ 7
Danh mục từ viết tắt 8
Mở đầu 9
1 Đặt vấn đề 9
2 Mục tiêu nghiên cứu của luận án 11
3 Nội dung nghiên cứu 11
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu 12
6 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn và điểm mới của luận án 12
6.1 Ý nghĩa khoa học 12
6.2 Ý nghĩa thực tiễn 12
6.3 Điểm mới của luận án 12
Chương 1 Tổng quan 13
1.1 KCN và nước thải KCN ở Việt Nam 13
1.1.1 Thực trạng đầu tư và phát triển các KCN ở Việt Nam 13
1.1.2 Thoát nước và xử lý nước thải KCN 16
1.2 ĐTM dự án xây dựng cơ sở hạ tầng KCN ở Việt Nam 23
1.2.1 Nguyên tắc ĐTM dự án xây dựng cơ sở hạ tầng KCN ở Việt Nam 23
1.2.2 Thông tin cơ sở phục vụ dự báo lượng nước thải KCN 23
1.3 Phương pháp dự báo nước thải của các ngành công nghiệp 25
1.3.1 Phương pháp dự báo nước thải của các ngành công nghiệp trên thế giới 26 1.3.2 Hệ số tiêu thụ nước và phát sinh nước thải của một số ngành công nghiệp tại Việt Nam 27
Trang 61.4 Phương pháp dự báo nước thải KCN 33
1.5 Tổng quan về phương pháp xây dựng hệ số phát thải 37
1.5.1 Phương pháp đo đạc nguồn thải 38
1.5.2 Phương pháp khảo sát/phỏng vấn gián tiếp 39
1.5.3 Phương pháp tính toán cân bằng vật chất 39
1.5.4 Các tiêu chí đánh giá hệ số phát thải 41
1.6 Phương pháp xử lý số liệu thống kê 44
1.6.1 Đại lượng trung bình 44
1.6.2 Phương sai 44
1.6.3 Phương pháp sai số toàn phương trung bình quân phương 45
1.6.4 Phân tích hồi quy tương quan 46
1.6.5 Phân tích thành phần chính 48
Chương 2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 50
2.1 Đối tượng nghiên cứu 50
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 50
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 50
2.1.3 KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 50
2.1.4 KCN Long Thành 55
2.1.5 KCN Nhơn Trạch III GĐ2 55
2.2 Phương pháp nghiên cứu 56
2.2.1 Phương pháp tổng quan, nghiên cứu và thu thập tài liệu 56
2.2.2 Phương pháp điều tra, khảo sát, phỏng vấn thực địa 57
2.2.3 Phương pháp khảo sát và đo đạc lượng nước thải phát sinh tại từng nhà máy trong KCN 59
2.2.4 Phương pháp tính toán cân bằng nước 62
2.2.5 Phương pháp xử lý số liệu thống kê 66
2.2.6 Tính toán kiểm chứng kết quả nghiên cứu 67
2.2.7 Sơ đồ nghiên cứu 67
2.2.8 Xác định một số nguyên tắc trong quá trình nghiên cứu 68
Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 69
Trang 73.1 Đánh giá các phương pháp dự báo lượng nước thải KCN đang được áp dụng
trong các báo cáo ĐTM ở Việt Nam 69
3.1.1 Thực trạng áp dụng các phương pháp ước tính lượng nước thải KCN trong các báo cáo ĐTM 69
3.1.2 So sánh lượng nước thải thực tế và lượng nước thải dự báo theo các phương pháp dự báo 71
3.2 Đánh giá cơ sở hạ tầng và quản lý thu gom nước thải KCN tại Đồng Nai 78
3.2.1 Đánh giá cơ sở hạ tầng và quản lý thu gom nước thải 79
3.2.2 Đánh giá đặc điểm lượng phát sinh nước thải 81
3.3 Nghiên cứu cân bằng nước tại KCN Long Thành và Nhơn Trạch III GĐ2 84
3.3.1 Đặc điểm của KCN Long Thành và Nhơn Trạch III GĐ2 84
3.3.2 Thực trạng nước thải của các ngành nghề trong KCN Long Thành và Nhơn Trạch III GĐ2 86
3.3.3 Cân bằng nước của KCN Long Thành và Nhơn Trạch III GĐ2 114
3.4 Xây dựng hệ số phát sinh nước thải qua phân tích số liệu thống kê 122
3.4.1 Hệ số phát sinh nước thải của các ngành công nghiệp 122
3.4.2 Hệ số phát sinh nước thải của KCN 131
3.5 Xây dựng công thức tính toán lượng nước thải qua phân tích hồi quy 133
3.5.1 Phân tích tương quan hồi quy cho 06 ngành công nghiệp của 11 KCN thuộc tỉnh Đồng Nai 133
3.5.2 Phân cụm số liệu và phân tích hồi quy theo nhóm ngành 137
3.6 Xây dựng công thức dự báo lượng nước thải KCN 144
3.7 Kiểm chứng kết quả dự báo lượng nước thải KCN 145
Kết luận và kiến nghị 149
1 Kết luận 149
2 Kiến nghị 151
Danh mục các công trình đã công bố của tác giả có liên quan đến luận án 152
Tài liệu tham khảo 153
Phụ lục 159
Phụ lục 1 Danh sách 114 KCN nghiên cứu 160
Phụ lục 2 Biểu mẫu đề nghị cung cấp thông tin 164
Trang 8Phụ lục 3 Tổng hợp kết quả cung cấp thông tin 165
Phụ lục 4 Phiếu điều tra thông tin doanh nghiệp KCN 178
Phụ lục 5 RMSE của các KCN dự báo theo TCXDVN 7957:2008 182
Phụ lục 6 Tỷ lệ nước thải dự báo/thực tế tại các KCN dự báo lượng nước thải theo TCXDVN 7957:2008 182
Phụ lục 7 RMSE của các KCN dự báo theo TCXDVN 33:2006 183
Phụ lục 8 Tỷ lệ nước thải dự báo/thực tế tại các KCN dự báo lượng nước thải theo TCXDVN 33:2006 184
Phụ lục 9 RMSE của các KCN dự báo không chỉ rõ căn cứ 185
Phụ lục 10 Tỷ lệ nước thải dự báo/thực tế tại các KCN dự báo lượng nước thải không chỉ rõ căn cứ 186
Phụ lục 11 Tình hình đấu nối và xử lý nước thải trong các KCN tỉnh Đồng Nai 187
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Bảng nước cấp, nước thải tháng 5-7/2016 tại KCN Đức Hòa 1, tỉnh Long
An 20
Bảng 1.2 Lượng nước tiêu thụ trong ngành dệt nhuộm 30
Bảng 1.3 Tiêu thụ nước tại một nhà máy bia điển hình 31
Bảng 1.4 Tiêu thụ nước tính theo diện tích bề mặt mạ 31
Bảng 1.5 Hệ số phát sinh nước thải của một số cơ sở chế biến mủ cao su 32
Bảng 1.6 Số liệu thu thập trong vòng 5 năm của một số ngành công nghiệp 43
Bảng 2.1 Danh mục các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 53
Bảng 2.2 Thông tin chung về 11 KCN nghiên cứu tại Đồng Nai 59
Bảng 3.1 Tình hình đấu nối và xử lý nước thải của 11 KCN nghiên cứu thuộc tỉnh Đồng Nai 83
Bảng 3.2 Bảng tính toán cân bằng nước và hệ số phát sinh nước thải của ngành hóa chất trong KCN Long Thành và Nhơn Trạch III GĐ2 89
Bảng 3.3 Bảng tính toán cân bằng nước và hệ số phát sinh nước thải của ngành dược phẩm trong KCN Long Thành và Nhơn Trạch III GĐ2 91
Bảng 3.4 Bảng tính toán cân bằng nước và hệ số phát sinh nước thải của ngành nhựa, cao su trong KCN Long Thành và Nhơn Trạch III GĐ2 94
Bảng 3.5 Bảng tính toán cân bằng nước và hệ số phát sinh nước thải của ngành SP đồ gỗ trong KCN Long Thành 96
Bảng 3.6 Bảng tính toán cân bằng nước và hệ số phát sinh nước thải của ngành may trong KCN Long Thành và Nhơn Trạch III GĐ2 97
Bảng 3.7 Bảng tính toán cân bằng nước và hệ số phát sinh nước thải của ngành SP da giày trong KCN Long Thành 100
Bảng 3.8 Bảng tính toán cân bằng nước và hệ số phát sinh nước thải của ngành dệt trong KCN Long Thành và Nhơn Trạch III GĐ2 101
Bảng 3.9 Bảng tính toán cân bằng nước và hệ số phát sinh nước thải của ngành nhuộm trong KCN Long Thành 103
Bảng 3.10 Bảng tính toán cân bằng nước và hệ số phát sinh nước thải của ngành cơ khí trong KCN Long Thành và Nhơn Trạch III GĐ2 105
Bảng 3.11 Bảng tính toán cân bằng nước và hệ số phát sinh nước thải của ngành bao bì trong KCN Nhơn Trạch III GĐ2 109
Bảng 3.12 Bảng tính toán cân bằng nước và hệ số phát sinh nước thải của ngành điện tử trong KCN Long Thành và Nhơn Trạch III GĐ2 110
Trang 10Bảng 3.13 Bảng tính toán cân bằng nước và hệ số phát sinh nước thải của ngành thực phẩm trong KCN Long Thành 112
Bảng 3.14 Bảng tính toán cân bằng nước và hệ số phát sinh nước thải của ngành VLXD trong KCN Long Thành và Nhơn Trạch III GĐ2 113
Bảng 3.15 Hệ số phát sinh nước thải theo các ngành nghề ở KCN Long Thành và KCN Nhơn Trạch III GĐ2 120
Bảng 3.16 Số liệu phát sinh nước thải của các ngành công nghiệp trong 11 KCN tại tỉnh Đồng Nai năm 2016 123
Bảng 3.17 Hệ số phát sinh nước thải qua phân tích số liệu thống kê 11 KCN của tỉnh Đồng Nai năm 2012 - 2016 130
Bảng 3.18 Hệ số phát sinh nước thải của 11 KCN thuộc tỉnh Đồng Nai 132
Bảng 3.19 Phương pháp dự báo nước thải bằng hệ số và hồi quy ngành 137
Bảng 3.20 Tổng hợp phương pháp dự báo nước thải được thiết lập theo ngành 143
Bảng 3.21 Kết quả tính toán thử nghiệm tại 02 KCN thuộc tỉnh Bình Dương 146
Trang 11DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Tình hình phát triển KCN trong giai đoạn 1991 - 2016 15
Hình 1.2 Tỷ lệ phân bố KCN trên địa bàn cả nước năm 2016 16
Hình 1.3 Sơ đồ nguyên tắc thoát nước KCN 18
Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Đồng Nai 52
Hình 2.2 Bản đồ vị trí các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 54
Hình 2.3 Quy hoạch KCN Long Thành 55
Hình 2.4 Vị trí KCN Nhơn Trạch III GĐ2 56
Hình 2.5 Phương pháp đo lưu lượng Manning 61
Hình 2.6 Đường biên nghiên cứu cân bằng nước KCN 62
Hình 2.7 Sơ đồ hóa mô hình luân chuyển các dòng nước trong KCN 65
Hình 2.8 Sơ đồ nghiên cứu 67
Hình 3.1 RMSE của các phương pháp dự báo nước thải KCN 71
Hình 3.2 Lượng nước thải thực tế và dự báo của các KCN dự báo theo TCXDVN 7957:2008 73
Hình 3.3 Lượng nước thải thực tế và dự báo của các KCN dự báo theo TCXDVN 33:2006 75
Hình 3.4 Lượng nước thải thực tế và dự báo của các KCN không rõ căn cứ dự báo nước thải 77
Hình 3.5 Cơ cấu ngành công nghiệp theo diện tích của 11 KCN tỉnh Đồng Nai 84
Hình 3.6 Tỷ lệ ngành nghề theo diện tích của KCN Long Thành 87
Hình 3.7 Tỷ lệ ngành nghề theo diện tích trong KCN Nhơn Trạch III GĐ2 87
Hình 3.8 Cân bằng nước trong KCN Long Thành 115
Hình 3.9 Cân bằng nước của KCN Nhơn Trạch III GĐ2 118
Hình 3.10 Tỷ lệ nước thải/ nước cấp của 8 ngành trong KCN Long Thành và Nhơn Trạch III GĐ2 119
Hình 3.11 Hệ số phát sinh nước thải của các ngành công nghiệp và KCN qua phân tích số liệu thống kê 11 KCN của tỉnh Đồng Nai 131
Hình 3.12 Biểu đồ độ dốc % yếu tố ảo 138
Hình 3.13 Phân cụm ngành nghề tương đồng trong phát sinh nước thải 139
Hình 3.14 Lượng nước thải thực tế và tính toán của KCN VSIP II 148
Hình 3.15 Lượng nước thải thực tế và tính toán của VSIP IIA 148
Trang 12ĐMC Đánh giá môi trường chiến lược
ĐTM Đánh giá tác động môi trường
SXKD Sản xuất kinh doanh
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TCXDVN Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
VLXD Vật liệu xây dựng
XLNTTT Xử lý nước thải tập trung
Tiếng Anh:
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
MSE Sai số bình phương trung bình
PCA Phân tích thành phần chính
RMSE Sai số bình phương trung bình quân phương US-EPA Cục Bảo vệ môi trường Liên bang Mỹ
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Kể từ khi Khu công nghiệp (KCN) đầu tiên ở Việt Nam là Khu chế xuất (KCX) Tân Thuận1 được hình thành năm 1991, gần 3 thập kỷ qua, Việt Nam đã dần hình thành và phát triển các KCN trên địa bàn hầu hết các tỉnh trong cả nước Tính đến tháng 8 năm 2016, đã có 318 KCN được hình thành, trong đó có 216 KCN đã đi vào hoạt động [26, 44] Cho đến nay, có đến trên 50% giá trị công nghiệp, 53% giá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam được hình thành từ các KCN và sẽ còn tiếp tục tăng trong các năm tiếp theo [43] Trong tương lai gần, số lượng KCN vẫn sẽ tiếp tục tăng nhanh theo quy hoạch phát triển đã được phê duyệt
Hiệu quả về kinh tế - xã hội của các KCN là không thể phủ nhận Nhưng bên cạnh đó, vấn đề ô nhiễm môi trường do chất thải phát sinh từ KCN, đặc biệt là nước thải KCN, cũng nhận được sự quan tâm của không chỉ cơ quan nhà nước về bảo vệ môi trường mà còn của đông đảo tầng lớp nhân dân trong xã hội [55, 42]
Pháp luật về bảo vệ môi trường của Việt Nam có quy định cụ thể đối với bảo
vệ môi trường KCN như sau:
(1) Nước thải KCN phải được xử lý 02 cấp Sau khi được xử lý cục bộ tại trạm
xử lý của từng nhà máy, nước thải sẽ được đấu nối vào mạng lưới thu gom chung của KCN và được tiếp tục xử lý tại trạm xử lý nước thải tập trung (XLNTTT) trước khi thải ra môi trường [5, 12]
(2) KCN phải có báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM2) được phê duyệt trước khi triển khai thực hiện [13, 21]
Pháp luật về bảo vệ môi trường cũng yêu cầu trong nội dung báo cáo ĐTM phải có dự kiến/dự báo quy mô, công suất của trạm XLNTTT và quy mô, công suất này có tính pháp lý, bắt buộc chủ dự án phải thực hiện khi triển khai xây dựng KCN Chủ đầu tư KCN sẽ bị xử phạt nếu không xây dựng đúng quy mô, công suất
1 Khu chế xuất về bản chất là khu công nghiệp, chỉ khác là 100% sản phẩm được xuất khẩu
2 ĐTM là công cụ dự báo Theo định nghĩa tại Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 thì ĐTM là “việc phân tích, dự báo tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó”
Trang 14trạm XLNTTT đã được phê duyệt
Như vậy, quy mô, công suất trạm XLNTTT được dự báo trong báo cáo ĐTM
là căn cứ pháp lý để triển khai thực tế của KCN
Kết quả dự báo lượng nước thải trong báo cáo ĐTM có ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn công suất và diện tích xây dựng của trạm XLNTTT của KCN Nếu dự báo không chính xác sẽ dẫn đến gây hậu quả như sau:
- Nếu khối lượng nước thải dự báo thấp hơn thực tế sẽ vượt quá công suất xử
lý của trạm XLNTTT, không đảm bảo cho quá trình xử lý nước thải, gây ô nhiễm môi trường;
- Nếu khối lượng nước thải dự báo cao hơn thực tế sẽ lãng phí trong đầu tư xây dựng, quản lý và vận hành trạm XLNTTT Trong trường hợp trạm xử lý nước thải có công suất quá lớn so với nước thải đầu vào thực tế, trạm xử lý cũng không thể vận hành hiệu quả vì lý do kỹ thuật
Trên thực tế, trong thời gian khoảng 05 năm trở lại đây, tình trạng KCN đã xây dựng xong hệ thống XLNTTT nhưng lại không có đủ nước thải để vận hành ổn định diễn ra khá phổ biến Nguyên nhân của vấn đề này liệu có thể được xác định là
do phương pháp dự báo lượng nước thải KCN được áp dụng trong các báo cáo ĐTM dự án xây dựng cơ sở hạ tầng KCN ở Việt Nam còn thiếu chính xác và không phù hợp với thực tế?
Theo định hướng phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong các năm tới đây, việc hình thành và phát triển các khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, trong đó có loại hình KCN vẫn là xu hướng chủ đạo Do đó, việc nghiên cứu, đề xuất phương pháp dự báo nước thải KCN có tính chính xác cao là yêu cầu cấp thiết
để bảo vệ môi trường Vì vậy, đề tài luận án “Cơ sở dự báo lượng nước thải phục
vụ đánh giá tác động môi trường dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp trong điều kiện Việt Nam” được thực hiện sẽ góp phần dự báo khối lượng
nước thải KCN phát sinh trong tương lai, giúp tiết kiệm chi phí xây dựng và vận hành trạm XLNTTT
Trang 152 Mục tiêu nghiên cứu của luận án
- Xác định hiệu quả của các phương pháp dự báo lượng nước thải đang được
áp dụng trong các báo cáo ĐTM dự án xây dựng cơ sở hạ tầng KCN tại Việt Nam
- Xác định cơ sở khoa học dự báo lượng nước thải KCN phục vụ công tác đánh giá tác động môi trường dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN phù hợp với điều kiện Việt Nam
3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá các phương pháp dự báo lượng nước thải KCN đang được áp dụng trong các báo cáo ĐTM ở Việt Nam, so sánh kết quả nước thải KCN dự báo và thực
tế để kiểm chứng sai số khi dự báo lượng nước thải KCN trong báo cáo ĐTM;
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát sinh nước thải để xác định cơ
sở dự báo lượng nước thải KCN;
- Xây dựng phương pháp dự báo lượng nước thải KCN phục vụ công tác đánh giá tác động môi trường dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN phù hợp với điều kiện Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Phương pháp dự báo lượng nước thải KCN đã và đang được áp dụng trong các báo cáo ĐTM dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN của Việt Nam
- 195 KCN đang hoạt động trên phạm vi cả nước đã được phê duyệt báo cáo ĐTM để phân tích số liệu về phát sinh nước thải của toàn KCN
- 114 KCN (trên tổng số 195 KCN đã hoạt động trên phạm vi cả nước nói trên) có tỷ lệ lấp đầy từ 80% trở lên để nghiên cứu và đánh giá tính chính xác của các phương pháp dự báo lượng nước thải đã được áp dụng trong ĐTM dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN;
- 11 KCN thuộc tỉnh Đồng Nai có đầy đủ số liệu trong khoảng thời gian 05 năm (2012 - 2016) để xây dựng phương pháp dự báo lượng nước thải KCN;
- 02 KCN Long Thành và Nhơn Trạch III GĐ2 thuộc tỉnh Đồng Nai được lựa chọn là 02 KCN để khảo sát, đo đạc lượng nước thải phát sinh thực tế của từng nhà máy để tính toán cân bằng nước và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát
Trang 16sinh nước thải KCN
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng quan và thu thập số liệu;
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn;
- Phương pháp khảo sát và đo đạc thực tế;
- Phương pháp tính toán cân bằng nước;
- Phương pháp xử lý số liệu thống kê với sự hỗ trợ của phần mềm máy tính
6 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn và điểm mới của luận án
6.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả luận án sẽ cung cấp cơ sở và công cụ khoa học cho việc dự báo lượng nước thải KCN trong ĐTM dự án xây dựng cơ sở hạ tầng KCN nói riêng và cho khoa học ĐTM nói chung
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần dự báo chính xác khối lượng nước thải phát sinh trong KCN ngay từ giai đoạn phê duyệt đầu tư dự án Điều này một mặt sẽ tránh lãng phí trong đầu tư xây dựng và vận hành hệ thống XLNTTT của KCN, mặt khác nâng cao hiệu quả hoạt động và xử lý của các trạm XLNTTT của KCN, qua đó làm giảm khả năng gây ô nhiễm môi trường do nước thải KCN Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM và điều chỉnh chính sách liên quan đến quản lý nước thải KCN
6.3 Điểm mới của luận án
- Tổng hợp các phương pháp dự báo lượng nước thải phát sinh tại KCN đang được áp dụng trong các báo cáo ĐTM dự án xây dựng cơ sở hạ tầng KCN tại Việt Nam
- Xây dựng và kiểm chứng các phương pháp và hệ số dự báo lượng nước thải phát sinh tại KCN cho các ngành công nghiệp chủ yếu để định hướng phục vụ cho ĐTM dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN trong điều kiện Việt Nam
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 KCN và nước thải KCN ở Việt Nam
1.1.1 Thực trạng đầu tư và phát triển các KCN ở Việt Nam
Như đã đề cập, khái niệm về KCN tại Việt Nam đã được hình thành từ năm
1991 với KCN đầu tiên của Việt Nam là KCX Tân Thuận Kể từ thời điểm đó, nhận thức về KCN đã dần được hình thành và phát triển rõ ràng hơn Theo văn bản pháp quy mới nhất về KCN là Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 164/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013, KCN được định nghĩa là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định pháp luật KCX được định nghĩa là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu [11]
Bên cạnh đó, Việt Nam còn có loại hình cụm công nghiệp, là một dạng KCN ở quy mô nhỏ (thường dưới 70 ha) và không có hệ thống hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh như KCN
Trong các quy định của pháp luật và các tài liệu, nghiên cứu có liên quan khác, trừ khi được chỉ rõ, thuật ngữ “khu công nghiệp” và “khu chế xuất” thường được gọi chung là KCN Trong luận án này, thuật ngữ KCN cũng được sử dụng chung cho KCN và KCX, không bao gồm loại hình cụm công nghiệp
1.1.1.1 Phân loại KCN ở Việt Nam
KCN ở Việt Nam chia thành 4 loại như sau:
(1) Các KCN được thành lập trên khu vực đã có một số doanh nghiệp công nghiệp đang hoạt động như KCN Biên Hòa 1 (Đồng Nai); KCN Tân Bình, KCN Bình Chiểu (thành phố Hồ Chí Minh)… nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển KCN theo đúng quy hoạch mới, đồng thời tạo hạ tầng kỹ thuật phục vụ tốt việc phát triển công nghiệp, có điều kiện xử lý chất thải công nghiệp một cách tập trung, đảm bảo yêu cầu về bảo vệ môi trường
(2) Các KCN được hình thành nhằm đáp ứng yêu cầu cho việc di dời các nhà
Trang 18máy, xí nghiệp đang ở trong nội thành các đô thị lớn, do nhu cầu chỉnh trang đô thị
và bảo vệ môi trường như KCN Lê Minh Xuân (thành phố Hồ Chí Minh); KCN Bình An, KCN Bình Đường (Bình Dương)…
(3) Các KCN hiện đại và có quy mô lớn, xây dựng mới Các KCN thuộc loại này do các công ty trong và ngoài nước đầu tư xây dựng và phát triển hạ tầng theo quy định của pháp luật về đầu như KCN Nomura (Hải Phòng), KCN Việt Nam - Singapore (Bình Dương, Bắc Ninh, Quảng Ngãi…), KCN Amata, KCN Nhơn Trạch (Đồng Nai) Nhìn chung các KCN này có tốc độ xây dựng hạ tầng tương đối nhanh, chất lượng hạ tầng đạt tiêu chuẩn quốc tế, hệ thống xử lý chất thải công nghiệp tiên tiến, đồng bộ và một số KCN có nhà máy phát điện riêng, tạo điều kiện hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước muốn làm ăn lâu dài tại Việt Nam, có khả năng tài chính, công nghệ tiên tiến cần KCN đạt tiêu chuẩn quốc tế
(4) Các KCN có quy mô nhỏ gắn liền với nguồn nguyên liệu nông, lâm, thủy sản được hình thành ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng Trung du Bắc Bộ và duyên hải miền Trung
Các KCN ở Việt Nam chủ yếu là KCN đa ngành, đa lĩnh vực, có loại hình sản xuất công nghiệp đa dạng và phong phú KCN chuyên ngành, là KCN chỉ có 01 loại hình sản xuất công nghiệp duy nhất, chiếm tỷ lệ khá nhỏ trong tổng số các KCN ở Việt Nam
1.1.1.2 Tình hình phát triển KCN ở Việt Nam
Tính đến tháng 8 năm 2016, trong tổng số 318 KCN được thành lập, có 216 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên 57,9 ngàn ha và 97 KCN đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản, với tổng diện tích đất tự nhiên 26,1 ngàn ha [43] Tổng diện tích đất công nghiệp đã cho thuê của các KCN đạt 26,5 ngàn ha, tỷ lệ lấp đầy các KCN đạt 48%, tính riêng các KCN đã
đi vào hoạt động, tỷ lệ lấp đầy đạt trên 67% Tình hình phát triển KCN ở Việt Nam được thể hiện ở Hình 1.1
Trang 19Nguồn: [43, 44]
Hình 1.1 Tình hình phát triển KCN trong giai đoạn 1991 - 2016
Trong số 318 dự án đầu tư phát triển hạ tầng KCN, có 49 dự án KCN có vốn đầu tư nước ngoài và 269 dự án KCN có vốn đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký 318,5 ngàn tỷ đồng; tổng vốn đầu tư thực hiện đạt 132 ngàn tỷ đồng (đạt 41,5%) [43, 44]
Các KCN trên cả nước thu hút được 6.160 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng vốn đầu tư đăng ký 95 tỷ USD, tổng vốn đầu tư đã thực hiện đạt 58,5
tỷ USD, bằng 61,6% tổng vốn đầu tư đăng ký Tổng doanh thu từ các cơ sở sản xuất kinh doanh trong KCN đạt 108 tỷ USD; kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp đạt 80 tỷ USD; kim ngạch nhập khẩu đạt 71 tỷ USD; đóng góp vào ngân sách nhà nước 2,2 tỷ USD; tổng số lao động trong KCN khoảng 2,6 triệu người [43, 44] Cho đến nay, có đến trên 50% giá trị công nghiệp, 53% giá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam được hình thành từ các KCN và sẽ còn tiếp tục tăng trong các năm tiếp theo [43]
Các KCN nhìn chung được thành lập phù hợp với quy hoạch phát triển các KCN cả nước cũng như quy hoạch sử dụng đất và phát triển công nghiệp của địa phương Vùng Đông Nam Bộ có số lượng KCN được thành lập nhiều nhất với 105 KCN (33% cả nước), tiếp đến là vùng Đồng bằng sông Hồng với 79 KCN (25% cả nước) và vùng Tây Nam Bộ với 51 KCN (16% cả nước) [43, 44]
Trang 20Tỷ lệ phân bố KCN trên cả nước được thể hiện ở Hình 1.2 dưới đây
Nguồn: [43, 44]
Hình 1.2 Tỷ lệ phân bố KCN trên địa bàn cả nước năm 2016
Với thông tin tổng quan về tình hình phát triển KCN ở Việt Nam có thể thấy tốc độ hình thành và phát triển các KCN là khá nhanh chóng và ổn định trong các năm qua Nếu vẫn giữ tốc độ này, đến năm 2030, Việt Nam có thể có đến khoảng
700 KCN các loại Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (trong đó 03 tỉnh Đông Nam
Bộ là Đồng Nai, Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo) là khu vực có số lượng KCN nhiều nhất trong cả nước
1.1.2 Thoát nước và xử lý nước thải KCN
1.1.2.1 Nguồn phát sinh nước thải KCN
Một cách tổng quát, nước thải KCN gồm có các loại sau:
(1) nước thải sản xuất phát sinh từ các cơ sở sản xuất trong KCN, bao gồm nước thải công nghệ, nước thải vệ sinh nhà xưởng, vệ sinh trang thiết bị và nước làm mát (nếu có chứa chất ô nhiễm do làm mát trực tiếp);
(2) nước thải từ các cơ sở dịch vụ công nghiệp trong KCN, và
Trung du miền núi phía Bắc 8%
Đồng bằng sông Hồng 25%
Miền Trung 15%
Tây Nguyên 3%
Đông Nam Bộ
33%
Tây Nam Bộ 16%
Trang 21(3) nước thải sinh hoạt phát sinh từ các cơ sở trong KCN
Thông thường, một cơ sở sản xuất công nghiệp có nước thải công nghiệp, có thể có nước thải sinh hoạt và nước thải dịch vụ Tất cả các loại nước thải phát sinh
từ cơ sở sản xuất công nghiệp được gọi chung là nước thải công nghiệp
1.1.2.2 Đặc trưng về thoát nước và xử lý nước thải KCN ở Việt Nam
Mô hình KCN có ở nhiều nơi trên thế giới, trong đó có các quốc gia công nghiệp phát triển; tuy nhiên, các cơ sở sản xuất trong KCN ở các quốc gia này phải
tự xử lý nước thải của mình trước khi thải ra môi trường (trong một số trường hợp
có thể xả ra đường thoát nước thải chung của KCN trước khi thải ra nguồn tiếp nhận nước thải)
Trong khi đó, pháp luật Việt Nam có quy định về hạ tầng và thoát nước KCN như sau:
(1) KCN phải có hệ thống cấp nước đến từng cơ sở tiêu thụ nước;
(2) KCN phải có hệ thống tiêu thoát nước mặt (gồm nước mưa chảy tràn, nước thải quy ước sạch) độc lập với hệ thống thu gom, xử lý nước thải; áp dụng nguyên tắc thoát nước riêng cho mọi KCN;
(3) Nước thải KCN phải được xử lý 02 cấp Sau khi được xử lý cục bộ tại trạm
xử lý nước thải của từng nhà máy, nước thải sẽ được đấu nối vào mạng lưới thu gom nước thải chung của KCN và được tiếp tục xử lý tại trạm XLNTTT trước khi thải ra nguồn tiếp nhận;
(4) Chủ đầu tư KCN có trách nhiệm hoàn thiện cơ sở hạ tầng KCN trước khi tiếp nhận nhà đầu tư thực hiện đầu tư vào KCN;
(5) KCN phải có báo cáo ĐTM được phê duyệt trước khi triển khai thực hiện
Sơ đồ nguyên tắc thoát nước các KCN ở Việt Nam được thể hiện ở Hình 1.3
Trang 22Hình 1.3 Sơ đồ nguyên tắc thoát nước KCN
Tùy thuộc tính chất nước thải của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ KCN cũng như công nghệ của trạm XLNTTT và đặc điểm của nguồn tiếp nhận nước thải, từng KCN có quy định cụ thể về mức độ chất lượng đạt được của nước thải sau khi
xử lý cục bộ tại từng cơ sở Yêu cầu về chất lượng, khối lượng nước thải có thể được tiếp nhận để xử lý tại trạm XLNTTT được thể hiện bằng văn bản thỏa thuận giữa chủ đầu tư hạ tầng KCN với nhà đầu tư thứ cấp trong KCN
1.1.2.3 Tình hình quản lý nước thải KCN
Tính đến tháng 8/2016, trong số 216 KCN đã đi vào hoạt động trên phạm vi cả nước, có 189 KCN đã có hệ thống XLNTTT hoàn chỉnh, chiếm 59% tổng số KCN được thành lập và 87,5% số KCN đã đi vào hoạt động Tổng công suất của các nhà máy XLNTTT hiện đang hoạt động đạt 720 ngàn m3/ngđ, công suất trung bình đạt 4.046 m3/ngđ/trạm [3]
Ngoài ra, hiện có 32 KCN đang xây dựng công trình XLNTTT với tổng công suất thiết kế khoảng 96 ngàn m3/ngđ Trong thời gian tới, các địa phương cũng sẽ xây dựng mới và mở rộng thêm 62 trạm XLNTTT với tổng công suất 248 ngàn
m3/ngđ Hiện nay, các KCN có trạm XLNTTT đã đi vào hoạt động phần lớn tại
TRẠM XỬ
LÝ NƯỚC THẢI CỤC BỘ CỦA TỪNG CƠ
SỞ
NGUỒN TIẾP NHẬN NƯỚC THẢI
NGUỒN TIẾP NHẬN NƯỚC MƯA
Trang 23vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng, chiếm 69,7% tổng số KCN có trạm XLNTTT đi vào hoạt động và bằng 76,3% tổng công suất các trạm XLNTTT [3] Tuy nhiên, vẫn tồn tại sự mất cân đối giữa lượng phát sinh và công suất xử lý giữa các vùng/địa phương nên hiệu quả xử lý nước thải vẫn chưa đáp ứng nhu cầu
Ví dụ, KCN Cầu Nghìn (Thái Bình) phát sinh hơn 1.000 m3/ngđ, nhưng chưa đầu tư
hệ thống XLNTTT, trong khi KCN An Hạ (thành phố Hồ Chí Minh) đã đầu tư hệ thống XLNTTT công suất 2.000 m3/ngđ nhưng hầu như không có ngành nghề sản xuất phát sinh nước thải, còn KCN Hoà Bình (Kon Tum) đã đầu tư hệ thống XLNTTT nhưng chưa có hệ thống thu gom nước thải nên không thể vận hành [41] Tại KCN Đức Hòa 1 (Long An), hầu hết các doanh nghiệp trong KCN đã đấu nối xả thải vào đường ống thu gom nước thải của KCN, nhưng lượng nước thải thu gom vào hệ thống thu gom tập trung của KCN theo thống kê 03 tháng của năm
2016 chỉ bằng 1/3 lượng nước cấp và có nhiều đột biến trong bảng số liệu nước thải/nước cấp Có 04 doanh nghiệp (Jianon Biotech, Phú Tường, Tacheng, TSC) có
tỷ lệ nước thải/nước cấp tăng đột biến lớn hơn 80% trong một tháng; có 16 doanh nghiệp (4 Orange, Hòa Bình, NERO, Tân Đại Việt, Tân Nam Phát, TEP, Thăng Long, Trung Tự, Đệ Nhất, Điền Dương, Kangsan VINA, Địa Cầu, Kim Long, Phước Thạnh, Tiên Tiên, Thép không gỉ Long An) có tỷ lệ nước thải/nước cấp nhỏ hơn hoặc bằng 20%; có 03 doanh nghiệp (Chemtex Cord, Đồng Xanh, Jianon Biotech) thậm chí có tỷ lệ nước thải/nước cấp vượt quá 100% (xem Bảng 1.1) Nguyên nhân của hiện tượng này có thể do: (1) không ít doanh nghiệp lén xả nước thải chưa qua xử lý ra ngoài môi trường, (2) các doanh nghiệp không đầu tư
hệ thống xử lý nước thải sơ bộ, hay đầu tư xây dựng xong nhưng không vận hành hoặc chỉ vận hành một cách đối phó, (3) doanh nghiệp có nguồn nước cấp khác mà công ty quản lý hạ tầng KCN không quản lý được, và (4) doanh nghiệp quản lý không tốt hệ thống thu gom, xử lý nước thải cục bộ, không tách được nước mưa ra khỏi nước thải
Trang 24Bảng 1.1 Bảng nước cấp, nước thải tháng 5-7/2016 tại KCN Đức Hòa 1, tỉnh Long An
TT Tên công ty Ngành nghề
Tháng 05/2016 Tháng 06/2016 Tháng 07/2016 Nước
cấp (m 3 )
Nước thải (m 3 )
Tỉ lệ nước thải/nước cấp (%)
Nước cấp (m 3 )
Nước thải (m 3 )
Tỉ lệ nước thải/nước cấp (%)
Nước cấp (m 3 )
Nước thải (m 3 )
Tỉ lệ nước thải/nước cấp (%)
1 4 Orange Sản xuất các loại sơn, dầu bóng, keo dính, bột trét, hóa chất sơn 6.008 233 4 4.837 324 7 4.874 234 5
2 An Nông Sản xuất và gia công, đóng gói thuốc bảo vệ thực vật 1.899 209 11 1.032 242 23 907 336 37
3 Chemtex
Cord
Sản xuất chất men sinh vật, chất hoạt tính bề mặt, chất keo từ nhựa cây
8 Kiên Nam Sản xuất và gia công, sang chai đóng gói thuốc bảo vệ thực vật 1.389 381 27 1.973 400 20 1.592 316 20
9 NERO Sản xuất sơn, bột trét tường 1.075 95 9 836 95 11 1.183 148 13
10 Ngọc Tân Kiên Tái chế, xử lý chất thải rắn; Thu mua sắt thép kim loại vụn 1.646 916 56 1.670 810 49 1.623 678 42
11 PNP Chemitec Sẩn xuất nhựa sử dụng cho sơn nước; sản xuất nhựa hòa tan 2.874 917 32 1.810 775 43 2.332 958 41
12 Poly pack Sản xuất các loại bao bì, bao bì 188 70 37 142 89 63 166 55 33
Trang 25TT Tên công ty Ngành nghề
Tháng 05/2016 Tháng 06/2016 Tháng 07/2016 Nước
cấp (m 3 )
Nước thải (m 3 )
Tỉ lệ nước thải/nước cấp (%)
Nước cấp (m 3 )
Nước thải (m 3 )
Tỉ lệ nước thải/nước cấp (%)
Nước cấp (m 3 )
Nước thải (m 3 )
Tỉ lệ nước thải/nước cấp (%)
14 Simmy Sản xuất, gia công thực phẩm thủy sản đông lạnh 5.292 1.496 28 5.623 665 12 6.196 2.296 37
15 Tacheng
Sản xuất, gia công xây dựng, lắp đặt các loại cửa, lan can, khung vách bằng vật liệu kim loại
238 77 32 171 a 170 a 99 a 229 61 27
16 Tân Đại Việt Sản xuất cầu dao điện, SP nhựa, gia công bộ khuôn cơ khí 464 52 11 260 37 14 342 51 15
17 Tân Nam Phát Sản xuất sơn, bột sơn tĩnh điện 534 96 18 487 92 19 573 66 12
18 TEP Sản xuất, gia công hạt nhựa PVC 837 83 10 798 129 16 645 138 21
19 Thăng Long
Sản xuất chất phụ gia, dược phẩm, thức ăn sinh học thủy sản, thức ăn cho con giống thủy sản
7.851 970 12 6.576 1.146 17 7.662 1.003 13
20 Thiên Quỳnh Sản xuất bột cá làm thức ăn gia súc 3.205 1.338 42 2.239 1.191 53 2.396 1.446 60
21 Thôn Trang Sản xuất phân bón và hợp chất nitơ 1.095 362 33 697 255 37 870 297 34
22 Trung Tự
Sản xuất tôn lợp mái và vách các loại, khung trang trí, khung thép chịu lực, lưới nhựa các loại
246 18 7 193 15 8 206 20 10
24 Trường Vinh Sản xuất thực phẩm các loại 1.687 190 11 1.146 319 28 910 337 37
26 Vô Song Sản xuất khuôn mẫu, chai, nắp chai,
tuýp nhựa mềm từ nhựa PP, PE 1.924 322 17 1.304 641 49 1.328 294 22
27 Yuen Foong
Yu
Sản xuất, gia công các loại giấy miếng, thùng giấy, hộp giấy 4.253 1.417 33 3.106 2.593 83 3.068 1.822 59
28 APPC Sản xuất và gia công các SP nhựa, khuôn mẫu 648 216 33 521 228 44 519 284 55
29 TSC Sang chai, đóng gói thuốc bảo vệ
thực vật 435 120 28 215 202 94 203 143 70
30 Đệ Nhất Sản xuất ống nhựa PVC, HDPE 3.498 77 2 3.194 69 2 3.890 80 2
31 Điền Dương Sản xuất hạt nhựa, hạt nylon 404 27 7 173 31 18 408 42 10
Trang 26TT Tên công ty Ngành nghề
Tháng 05/2016 Tháng 06/2016 Tháng 07/2016 Nước
cấp (m 3 )
Nước thải (m 3 )
Tỉ lệ nước thải/nước cấp (%)
Nước cấp (m 3 )
Nước thải (m 3 )
Tỉ lệ nước thải/nước cấp (%)
Nước cấp (m 3 )
Nước thải (m 3 )
Tỉ lệ nước thải/nước cấp (%) VINA dẫn nhựa; bồn nhựa chịu lực
33 Tech FOCUS Sản xuất dụng cụ văn phòng 845 138 16 643 137 21 634 200 32
Sản xuất, gia công Inox gia dụng;
linh kiện bếp gas, vòi nước; thép lưới các loại
152 20 13 41 20 49 214 20 9
37 Kim Long Sản xuất thiết bị bếp và gia dụng 283 20 7 307 20 7 195 20 10
38 Phước Thạnh Sản xuất thiết bị điện 863 10 1 783 10 1 328 10 3
39 Tiên Tiến Sản xuất thuốc trừ sâu và hóa chất khác dùng trong nông nghiệp 500 16 3 506 16 3 922 16 2
40 DELTA Gia công, sang chai, đóng gói
thuốc bảo vệ thực vật và phân bón 1.459 1.021,3 70 1.286 900,2 70 705 493,5 70
41 Thép không
rỉ Long An Thép, gia công thép không rỉ 2.400 240 10 1.912 191,2 10 2.146 214,6 10
Nguồn:[14]
a Số liệu nước thải cao bất thường
b Số liệu nước thải thấp bất thường
Trang 271.2 ĐTM dự án xây dựng cơ sở hạ tầng KCN ở Việt Nam
1.2.1 Nguyên tắc ĐTM dự án xây dựng cơ sở hạ tầng KCN ở Việt Nam
ĐTM là công cụ dự báo, được thực hiện trên 02 yếu tố cơ bản: (1) thông tin cơ
sở phục vụ cho dự báo, gồm nội dung dự án đầu tư (báo cáo nghiên cứu khả thi) và thông tin về đối tượng bị tác động bởi dự án; (2) phương pháp dự báo
Theo quy định tại Nghị định số 18/2015/NĐ-CP, dự án xây dựng cơ sở hạ tầng KCN ở Việt Nam phải có báo cáo ĐTM được cơ quan có thẩm quyền tổ chức thẩm định và phê duyệt Theo đó, chủ đầu tư các KCN có trách nhiệm ĐTM đối với dự
án xây dựng cơ sở hạ tầng KCN, lập báo cáo ĐTM theo đúng quy định và gửi đến
cơ quan nhà nước có thẩm quyền để tổ chức thẩm định và phê duyệt trước khi triển khai xây dựng Các KCN có diện tích dưới 200 ha do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM; KCN có diện tích từ 200 ha trở lên thuộc thẩm quyền tổ chức thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM của Bộ Tài nguyên
và Môi trường [13]
Nội dung quan trọng nhất của báo cáo ĐTM dự án xây dựng cơ sở hạ tầng KCN là đề xuất được phương án thu gom, xử lý nước thải KCN, bao gồm cách thức quản lý nước thải, quy mô và nguyên lý công nghệ của trạm XLNTTT Các nội dung này mang tính dự báo, nhưng đồng thời còn mang tính pháp lý để các chủ đầu
tư dự án xây dựng cơ sở hạ tầng KCN ở Việt Nam phải thực hiện [19, 20] Do vậy, việc dự báo tổng lượng nước thải KCN trong báo cáo ĐTM là căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra và xử phạt chủ đầu tư KCN; nếu không xây dựng đúng quy mô, công suất trạm XLNTTT đã được phê duyệt trong báo cáo ĐTM Như vậy, để đảm bảo thu gom, xử lý toàn bộ lượng nước thải này trước khi thải ra môi trường cần phải dự báo chính xác khối lượng nước thải KCN phát sinh khi ĐTM Căn cứ cho việc dự báo lượng nước thải KCN phát sinh là: (1) các thông tin cơ sở của dự án phục vụ cho dự báo và (2) các phương pháp dự báo
1.2.2 Thông tin cơ sở phục vụ dự báo lượng nước thải KCN
Thông thường đối với một dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN có các thông tin để phục vụ cho việc dự báo lượng nước thải KCN như sau:
Trang 28(1) Diện tích toàn KCN;
(2) Diện tích đất công nghiệp cho các nhà đầu tư thứ cấp thuê lại (còn được gọi là diện tích có thể cho thuê): thường chiếm không quá 70% diện tích toàn KCN; (3) Diện tích cây xanh chung của KCN: không thấp hơn 10% tổng diện tích KCN;
(4) Diện tích đất hạ tầng kỹ thuật chung: thường khoảng 20% diện tích toàn KCN Diện tích này dùng để xây dựng đường giao thông, khu dịch vụ chung và các
hạ tầng kỹ thuật chung khác;
(5) Ngành nghề công nghiệp dự kiến thu hút đầu tư: là các ngành nghề công nghiệp của các nhà đầu tư thứ cấp dự kiến sẽ được thực hiện đầu tư trong KCN; (6) Bố trí không gian phân khu chức năng KCN trên cơ sở ngành nghề dự kiến thu hút đầu tư Trong nội dung bố trí không gian phân khu chức năng KCN sẽ chỉ rõ diện tích dành cho từng ngành nghề công nghiệp dự kiến thu hút đầu tư;
(7) Thông tin về nguồn và phương án cấp nguyên, nhiên, vật liệu trong quá trình xây dựng và hoạt động của KCN; thông tin về phương án thoát nước mưa, nước thải và nguồn tiếp nhận nước mưa, nước thải KCN; thông tin dự báo về khối lượng nước cấp, số lượng lao động, số lượng doanh nghiệp…
Có thể thấy tại thời điểm thực hiện ĐTM, số liệu và thông tin của các dự án đầu tư thứ cấp vào KCN là chưa có, ngoài việc xác định diện tích đất công nghiệp dành cho từng ngành nghề dự kiến thu hút đầu tư Chính vì vậy, việc dự báo lượng nước thải công nghiệp trong KCN không thể dựa vào quy mô sản xuất của các cơ sở sản xuất công nghiệp (tính theo đơn vị sản phẩm hoặc đơn vị nguyên liệu), mà chỉ
có thể dựa vào diện tích của ngành nghề công nghiệp đó
Tóm lại, đặc trưng của KCN trong điều kiện Việt Nam bao gồm các nội dung sau:
(1) KCN có hệ thống xử lý nước thải 02 cấp: sơ bộ và tập trung
(2) Kết quả dự báo trong ĐTM, bao gồm dự báo tổng lượng nước thải KCN phát sinh là số liệu mang tính pháp lý, bắt buộc chủ đầu tư KCN phải xây dựng trạm
Trang 29XLNTTT với quy mô tương ứng với lượng nước thải KCN dự báo được nêu trong báo cáo ĐTM
(3) Thông tin đầu vào cho dự báo lượng nước thải KCN là diện tích đất cho các ngành công nghiệp dự kiến thu hút đầu tư vào KCN Không thể sử dụng số liệu
về quy mô sản xuất (công suất tính theo nguyên liệu hoặc tính theo sản phẩm) của các dự án đầu tư thứ cấp vì tại thời điểm thực hiện ĐTM chưa có các số liệu này
1.3 Phương pháp dự báo nước thải của các ngành công nghiệp
Phương pháp đánh giá nhanh được sử dụng để dự báo nhanh khối lượng và tải lượng các chất ô nhiễm phát sinh từ các nguồn ô nhiễm nói chung và từ nguồn ô nhiễm do nước thải nói riêng Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực môi trường nói chung và trong lĩnh vực quy hoạch môi trường, ĐMC, ĐTM nói riêng Nguyên lý cơ bản của phương pháp đánh giá nhanh là:
Tải lượng ô nhiễm = Quy mô hoạt động x Hệ số ô nhiễm (công thức 1.1) Trong đó:
Tải lượng ô nhiễm là khối lượng chất ô nhiễm (tấn, kg, g, mg)/đơn vị thời gian (năm, tháng, ngày, giờ, phút, giây)
Quy mô hoạt động được xác định trên cơ sở điều tra thực tế: (1) công suất sản phẩm (như nhà máy bia, nước giải khát); (2) công suất tiêu thụ nguyên liệu, nhiên liệu (như nhà máy cơ khí); (3) số người (như khu đô thị, khu dân cư); (4) diện tích
sử dụng (như KCN); (5) quãng đường đi qua (như giao thông)…
Hệ số ô nhiễm là lưu lượng (m3) hay khối lượng chất ô nhiễm (tấn, kg, g, mg) trên một đơn vị hoạt động Hệ số ô nhiễm có thể được xác định bằng 02 phương pháp sau:
- Phương pháp 1: Tra cứu trong tài liệu Đánh giá nhanh môi trường của WHO phát hành năm 1993 hoặc các tài liệu liên quan khác do Cục Bảo vệ môi trường liên bang Mỹ (US-EPA), Ủy ban Châu Âu (EC) công bố
- Phương pháp 2: Dựa vào kết quả điều tra thực tế, đo đạc lưu lượng, nồng độ
chất thải của các cơ sở đang hoạt động để tính “tải lượng ô nhiễm”, sau đó chia cho
“quy mô hoạt động”; hệ số ô nhiễm sẽ được xác định càng chính xác nếu số lượng
Trang 30các cơ sở có cùng công nghệ được điều tra càng nhiều và thời gian điều tra thu thập
số liệu càng dài
Trong thời gian qua, trên thế giới có nhiều nghiên cứu liên quan đến xác định
hệ số ô nhiễm (hay hệ số phát thải) phục vụ đánh giá hiện trạng, dự báo phát thải từ một ngành hay một lĩnh vực, tuy nhiên, vấn đề này ít được quan tâm tại Việt Nam nên số công trình nghiên cứu liên quan đến hệ số ô nhiễm nói chung, hệ số phát sinh nước thải nói riêng còn khá hạn chế
1.3.1 Phương pháp dự báo nước thải của các ngành công nghiệp trên thế giới
Trên thế giới, việc tính toán xả thải dựa trên nghiên cứu xác định hệ số phát thải công nghiệp đã được quan tâm từ nhiều năm trước đây Tài liệu quan trọng nhất trong dự báo nước thải các ngành công nghiệp được WHO công bố năm 1993 là
“Đánh giá nguồn gây ô nhiễm khí, nước và đất” [56, 93]; đây là nguồn thông tin được sử dụng phổ biến nhất và được tổng hợp là từ những năm 80 của thế kỷ 20, bao trùm hầu hết các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ trong phạm vi toàn cầu, dựa trên trình độ công nghệ, thiết bị, quản lý sản xuất và quản lý môi trường của một số quốc gia tại thời điểm những năm 80 Tài liệu này là cơ sở cho một loạt các công bố về
dự báo phát thải từ hoạt động công nghiệp đã được xuất bản sau này
Sau năm 1993, Cục Bảo vệ môi trường Liên bang Mỹ (US-EPA) đã ban hành tài liệu hướng dẫn phát thải cho các ngành công nghiệp căn cứ trên kết quả điều tra
về tuân thủ môi trường của các lĩnh vực sản xuất khác nhau trên toàn liên bang Mỹ, tập trung chủ yếu vào hệ số phát thải khí thải [61-79, 81-90]
Năm 2007, Ủy ban châu Âu (EC) ban hành tài liệu về các hệ số phát thải tiêu chuẩn cho các quá trình công nghiệp [51], đề cập tới hệ số phát thải của 167 quá trình sản xuất khác nhau tại châu Âu Cũng trong năm đó, Ngân hàng Thế giới (WB) ban hành Hướng dẫn hợp tác tài chính trong môi trường, sức khỏe và an toàn [92], chủ yếu đề cập đến các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ có tiềm năng vay vốn từ WB hoặc các tổ chức tài chính quốc tế khác có liên quan với hệ số phát thải của khoảng
54 lĩnh vực sản xuất công nghiệp và dịch vụ
Trang 31Năm 2013, Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) phối hợp với Viện Công nghệ Á châu (AIT) ban hành tài liệu Hướng dẫn kiểm kê phát thải [59], trong đó tập trung vào hệ số phát thải của các loại chất thải khí và xây dựng các công thức, các phương pháp tính toán ô nhiễm trong phát thải khí
Dựa vào các công bố về dự báo phát thải nêu trên, có thể nhận thấy việc xây dựng hệ số phát thải trên thế giới chủ yếu dựa vào phương pháp điều tra khảo sát và
xử lý số liệu thống kê Ngoài ra, hiện nay, cùng với sự phát triển và áp dụng của một số công cụ quản lý mới dựa trên cơ sở là kinh tế môi trường và kiểm toán chất thải như sản xuất sạch hơn (CP - Cleaner Production), phân tích vòng đời sản phẩm (LCI - Life Cycle Inventory), đánh giá vòng đời sản phẩm (LCA - Life Cycle Assessment) cũng được áp dụng để dự báo phát thải
Qua nghiên cứu các hệ số phát thải đã được công bố trên thế giới có thể thấy,
hệ số phát sinh nước thải của một số ngành công nghiệp cụ thể đã được các quốc gia phát triển và các tổ chức công bố là rất đa dạng và phong phú Dựa trên đặc trưng
về việc tự xử lý và chịu trách nhiệm về chất lượng nước thải của của các cơ sở sản xuất trước khi thải ra môi trường, các nghiên cứu này đã đưa ra các hệ số phát sinh nước thải theo từng ngành công nghiệp dựa trên quy mô sản xuất (tính theo nguyên liệu hoặc theo sản phẩm), và thiếu thông tin về hệ số phát sinh nước thải của KCN Điều này dẫn đến việc áp dụng các hệ số này cho các KCN tiến hành thu gom và XLNTTT như ở Việt Nam là không phù hợp; do vậy, cần xây dựng bộ hệ số phát sinh nước thải riêng áp dụng tại Việt Nam với phương pháp tương tự
1.3.2 Hệ số tiêu thụ nước và phát sinh nước thải của một số ngành công
nghiệp tại Việt Nam
Việc nghiên cứu xây dựng các hệ số phát thải phục vụ cho các nhiệm vụ quản
lý, quy hoạch môi trường, ĐMC, ĐTM ở Việt Nam cơ bản ít được quan tâm trong thời gian qua Vì vậy, cho đến nay có khá ít nghiên cứu trong nước nghiên cứu sâu
về vấn đề này, mà chỉ chủ yếu tập trung vào lĩnh vực ứng dụng các hệ số có sẵn trên thế giới phục vụ đánh giá nhanh trong các báo cáo ĐTM
Một số đề tài, dự án của Tổng cục Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường
Trang 32các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Hậu Giang đã tiến hành điều tra nguồn thải, xác định các hệ số phát thải của một số nhóm đối tượng chính, sau đó tiến hành ước tính tổng tải lượng ô nhiễm do khí thải, nước thải, chất thải rắn (hiện trạng và dự báo đến năm 2020, 2025, 2030) phục vụ cho công tác kiểm soát ô nhiễm Năm 2009, dựa trên nhiệm vụ “Điều tra, đánh giá các nguồn thải, đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Đồng Nai” [33], Trung tâm Công nghệ Môi trường thành phố Hồ Chí Minh (ENTEC) đã điều tra tình hình phát sinh chất thải nói chung
và nước thải nói riêng đối với một số nhóm đối tượng chính và xác định được hệ số phát thải, trong đó có hệ số về lưu lượng nước thải phát sinh từ 10 ngành dựa vào kết quả điều tra thực tế về quy mô, công suất của ngành nghề
Ngoài ra, một số dự án sản xuất sạch hơn, xây dựng được các định mức tiêu thụ nước và hệ số về lưu lượng thải của các ngành công nghiệp để phục vụ đánh giá hiệu quả của các giải pháp sạch hơn Một số định mức tiêu thụ nước và hệ số về lưu lượng nước thải của các ngành chế biến thuỷ sản, giết mổ lợn, giấy và bột giấy… được xây dựng thông qua các dự án sản xuất sạch hơn
Hệ số tiêu thụ nước và phát sinh nước thải của một số ngành được liệt kê dưới đây
1.3.2.1 Hệ số tiêu thụ nước của ngành chế biến thuỷ hải sản
Năm 2003, hệ số này được xây dựng thông qua dự án Seaqip/Seafish (2003) của Bộ Thủy sản trước đây (nay đã được sáp nhập vào Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) nhằm giảm thiểu định mức sử dụng nước và giảm lưu lượng xả nước thải trong chế biến thủy sản với lượng nước sử dụng biến động từ là 3 - 40
m3/tấn sản phẩm [22] Năm 2011, Chi cục BVMT thành phố Hồ Chí Minh đã điều tra tình hình sử dụng nước và xả nước thải tại Xí nghiệp Agrex Saigon và Xí nghiệp sản xuất & chế biến hàng xuất khẩu quận 8, thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó
đã xây dựng Hướng dẫn sản xuất sạch hơn ngành chế biến thủy sản và đề xuất mức tiêu thụ nước tại các nhà máy chế biến thủy sản dao động trong khoảng từ 4,3 - 93,8
m3/tấn nguyên liệu hoặc 25 - 267 m3/tấn thành phẩm, mức tiêu thụ tối ưu trung bình khoảng 30 m3/tấn thành phẩm [10]
Trang 331.3.2.2 Hệ số phát sinh nước thải từ ngành công nghiệp giết mổ heo
Năm 2006, theo kết quả của đề tài “Áp dụng sản xuất sạch hơn cho cơ sở giết
mổ heo Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh” [31], hệ số phát sinh nước thải được tính theo hệ số 3,0 m3/tấn heo sống đối với cơ sở chưa thực hiện sản xuất sạch hơn và 2,05 m3/tấn heo sống đối với cơ sở đã thực hiện sản xuất sạch hơn
1.3.2.3 Hệ số phát sinh nước thải từ ngành công nghiệp giấy và bột giấy
Nghiên cứu của Hợp phần Sản xuất sạch hơn trong công nghiệp (Chương trình hợp tác phát triển Việt Nam - Đan Mạch) đối với ngành giấy và bột giấy [37] cho thấy hệ số phát sinh nước thải cho một tấn giấy của một nhà máy giấy và bột giấy tại Việt Nam là 150 - 300 m3/tấn, khi áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn thì hệ
số nước thải sẽ giảm xuống còn khoảng 20 - 60 m3/tấn giấy
Theo kết quả điều tra và tính hệ số phát sinh nước thải của ngành công nghiệp giấy trên địa bàn tỉnh Đồng Nai do ENTEC thực hiện, hệ số phát sinh nước thải từ các cơ sở sản xuất giấy và bột giấy từ 13,33 - 43,19 m3/tấn giấy [32]
Theo tài liệu do Tổng cục Môi trường công bố năm 2011, hệ số phát sinh nước thải của ngành giấy, bột giấy được đưa ra là: sản xuất bột giấy từ 20 - 300 m3/tấn sản phẩm; sản xuất giấy từ bột giấy từ 0,5 - 13,5 m3/tấn sản phẩm; sản xuất giấy tái chế từ phế liệu là từ 0,06 - 50 m3/tấn sản phẩm [29]
1.3.2.4 Hệ số sử dụng nước của ngành công nghiệp dệt nhuộm
Kết quả nghiên cứu của Trung tâm sản xuất sạch Việt Nam phối hợp với Văn Phòng Hợp phần Sản xuất sạch hơn trong công nghiệp (Chương trình hợp tác phát triển Việt Nam - Đan Mạch) đối với ngành dệt nhuộm [34] cho thấy lượng nước sử dụng trong quá trình nhuộm và hoàn tất vải có biên độ dao động lớn, từ 16 - 900
m3/tấn sản phẩm Hầu như tất cả các công đoạn của quá trình nhuộm và hoàn tất đều phát sinh nước thải với lượng và thành phần nước thải phụ thuộc loại thiết bị nhuộm, loại nguyên liệu đem nhuộm, màu sắc nhuộm và loại thuốc nhuộm sử dụng
Hệ số sử dụng nước nhuộm cho các loại vải khác nhau thể hiện tại Bảng 1.2
Trang 34
Bảng 1.2 Lượng nước tiêu thụ trong ngành dệt nhuộm
1.3.2.5 Hệ số phát sinh nước thải từ ngành công nghiệp sản xuất tinh bột sắn
Kết quả nghiên cứu của Trung tâm sản xuất sạch Việt Nam phối hợp với Văn Phòng Hợp phần Sản xuất sạch hơn trong công nghiệp (Chương trình hợp tác phát triển Việt Nam - Đan Mạch) đối với ngành sản xuất tinh bột sắn cho thấy định mức tiêu thụ nước của ngành sản xuất tinh bột sắn khoảng 30 - 40 m3/tấn sản phẩm [35] Lượng nước thải ra môi trường thường chiếm 80 - 90% nước sử dụng
1.3.2.6 Hệ số tiêu thụ nước của ngành công nghiệp sản xuất bia
Kết quả nghiên cứu của Trung tâm sản xuất sạch Việt Nam phối hợp với Văn Phòng Hợp phần Sản xuất sạch hơn trong công nghiệp (Chương trình hợp tác phát triển Việt Nam - Đan Mạch) đối với ngành sản xuất bia cho thấy các nhà máy bia định mức việc tiêu hao nước và nước thải dựa trên sản lượng bia (thường tính trên 1 hoặc 100 lít bia) [38] Mức tiêu hao nước cho 3 loại công nghệ (truyền thống, trung bình và công nghệ tốt nhất) trong các nhà máy bia ở Việt Nam là: 2,0-3,5; 0,7-1,5; 0,4 m3/100 lít bia tương ứng Nhà máy bia công nghệ tốt nhất là nhà máy mà tiêu hao nước và ô nhiễm ở mức thấp nhất Mức tiêu thụ nước tại nhà máy bia vận hành tốt nằm trong khoảng 0,4 - 1,0 m3/100 lít bia
Lượng nước tiêu thụ của các công đoạn sản xuất của một nhà máy bia điển hình được nêu trong Bảng 1.3 cho thấy chỉ có một lượng nước ở trong bia, nước bay hơi, nước trong bã hèm, bã bia không đi vào hệ thống nước thải; lượng nước không
đi vào hệ thống nước thải khoảng 0,15 m3/100 lít bia
Trang 35Bảng 1.3 Tiêu thụ nước tại một nhà máy bia điển hình
1.3.2.7 Hệ số tiêu thụ nước của ngành công nghiệp thuộc da
Kết quả nghiên cứu của Trung tâm sản xuất sạch Việt Nam phối hợp với Văn Phòng Hợp phần Sản xuất sạch hơn trong công nghiệp (Chương trình hợp tác phát triển Việt Nam - Đan Mạch) đối với ngành thuộc da cho thấy mức tiêu thụ nước trong nhà máy thuộc da (da muối) áp dụng công nghệ thuộc truyền thống vận hành tốt nằm trong khoảng 30 m3/tấn da nguyên liệu [39] Nước sử dụng ở hầu hết các công đoạn trong quá trình thuộc da: hồi tươi, rửa, tẩy lông, ngâm vôi, làm mềm, làm xốp, thuộc da, thành ướt, vệ sinh thiết bị nhà xưởng, nồi hơi
1.3.2.8 Hệ số tiêu thụ nước của ngành công nghiệp hoàn tất kim loại
Kết quả nghiên cứu của Trung tâm sản xuất sạch Việt Nam phối hợp với Văn Phòng Hợp phần Sản xuất sạch hơn trong công nghiệp (Chương trình hợp tác phát triển Việt Nam - Đan Mạch) đối với ngành hoàn tất kim loại [36] cho thấy nước thải
từ quá trình tiền xử lý chủ yếu là nước thải bị ô nhiễm từ các bể rửa và nước vệ sinh cho quy trình sản xuất Lượng nước tiêu thụ của ngành mạ điện rất khác nhau tùy thuộc vào diện tích bề mặt được mạ; mức tiêu thụ nước tại công đoạn mạ điện trong thực hành sản xuất tốt có thể đạt mức 10 - 20 lít/m2 bề mặt (xem Bảng 1.4)
Bảng 1.4 Tiêu thụ nước tính theo diện tích bề mặt mạ
Loại mạ kiện Lượng nước tiêu thụ (lít/m 2 )
Trang 361.3.2.9 Hệ số phát sinh nước thải từ ngành công nghiệp tấm lợp amiăng xi măng
Kết quả nghiên cứu của Trung tâm sản xuất sạch Việt Nam phối hợp với Văn Phòng Hợp phần Sản xuất sạch hơn trong công nghiệp (Chương trình hợp tác phát triển Việt Nam - Đan Mạch) đối với ngành tấm lợp amiăng xi măng [40] cho thấy lượng nước trung bình sử dụng cho 1 tấm sản phẩm là 9 lít; một số nhà máy sử dụng đến 40 lít/tấm (tỷ trọng 15 kg/m2, kích thước trung bình 1 tấm là 870 x 1.500 mm)
1.3.2.10 Hệ số phát sinh nước thải từ ngành công nghiệp chế biến mủ cao su
Với công suất 10.000 tấn/năm, hàng năm các nhà máy chế biến cao su thuộc Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam tiêu thụ khoảng 160.000 m3 nước Định mức sử dụng nước trung bình là 16 m3/tấn mủ cao su [9]
Kết quả điều tra và ước tính hệ số về lưu lượng nước thải của các cơ sở chế biến mủ cao su tại Đồng Nai [32] được tóm tắt trong Bảng 1.5, cho thấy hệ số phát sinh nước thải của các nhà máy chế biến mủ cao su tại Đồng Nai dao động từ 9,18 đến 16,3 m3/tấn mủ cao su
Bảng 1.5 Hệ số phát sinh nước thải của một số cơ sở chế biến mủ cao su
tại Đồng Nai
Lưu lượng (m 3 /ngày)
Công suất (Tấn mủ/ngày)
Hệ số phát sinh nước thải (m 3 /tấn mủ)
1 Nhà máy chế biến mủ cao su
Tóm lại, tổng hợp các kết quả nghiên cứu nêu trên cho thấy việc xây dựng hệ
số tiêu thụ nước và hệ số phát thải nước thải từ một số ngành công nghiệp điển hình tại Việt Nam đã bước đầu được nghiên cứu Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu sâu và có hệ thống về vấn đề này mà nằm sơ bộ, tản mát và chiếm phần nhỏ
Trang 37trong một số đề tài, nhiệm vụ, dự án làm cơ sở đánh giá nhanh lưu lượng nước thải, tải lượng ô nhiễm phục vụ cho công tác quy hoạch môi trường, đánh giá khả năng chịu tải, phân vùng xả thải, cấp phép xả thải, đánh giá hiệu quả của các giải pháp sản xuất sạch hơn Một số ngành công nghiệp cơ bản đã được bước đầu nghiên cứu
và công bố hệ số định mức tiêu thụ nước và hệ số phát sinh nước thải thông qua các
dự án sản xuất sạch hơn Toàn bộ các hệ số đều được xây dựng trên cơ sở phương pháp điều tra, khảo sát số liệu và sử dụng công cụ thống kê, có tham khảo số liệu đã công bố của nước ngoài và dựa trên thông tin đầu vào là quy mô sản xuất (công suất sản xuất tính theo nguyên liệu hoặc sản phẩm), không dựa trên diện tích chiếm đất của cơ sở sản xuất
1.4 Phương pháp dự báo nước thải KCN
Hầu hết các quốc gia có nền công nghiệp phát triển đều có xây dựng các khu sản xuất tập trung tương tự như KCN ở Việt Nam Tuy nhiên, mô hình quản lý nước thải tại các khu này lại có điểm khác cơ bản với Việt Nam: từng cơ sở sản xuất phải
tự chịu trách nhiệm về việc xử lý nước thải của mình trước khi thải ra môi trường Chính vì vậy mà các nước phát triển không có tài liệu công bố về phương pháp dự báo lượng nước thải chung cho KCN mà chỉ có nghiên cứu về dự báo lượng nước thải cho từng ngành công nghiệp cụ thể
Tại Việt Nam với mô hình quản lý nước thải KCN 02 cấp (cục bộ và tập trung), nhưng cho đến nay cũng chưa có tài liệu công bố chính thức về phương pháp
dự báo lượng nước thải KCN Các báo cáo ĐTM của dự án xây dựng cơ sở hạ tầng KCN đều sử dụng phương pháp dự báo lượng nước thải KCN chủ yếu dựa trên 02 căn cứ chính sau đây:
(1) Căn cứ vào các hệ số do Bộ Xây dựng ban hành tại các quy chuẩn, tiêu chuẩn liên quan; đây là loại phương pháp được sử dụng rộng rãi, phổ biến nhất; (2) Căn cứ vào kinh nghiệm của các dự án tương tự trước đó, phương pháp này không được sử dụng rộng rãi mà thường chỉ áp dụng đối với một số KCN có phân kỳ đầu tư thành nhiều giai đoạn, việc dự báo nước thải giai đoạn sau căn cứ
Trang 38vào thực tiễn triển khai giai đoạn trước đó hoặc chủ đầu tư có nhiều KCN, dựa vào kinh nghiệm thực hiện KCN trước đó để dự báo nước thải cho KCN thực hiện sau Phương pháp (2) cho kết quả dự báo khá chính xác với điều kiện quy hoạch ngành nghề và tỷ lệ đất dành cho từng ngành nghề là tương đồng giữa 02 giai đoạn của KCN hoặc giữa 02 KCN; tuy nhiên, điều kiện này là khó xảy ra trên thực tế Do
đó, phương pháp (1) nêu trên được sử dụng rộng rãi với các hệ số do cơ quan nhà nước (chủ yếu là Bộ Xây dựng) ban hành
Các hệ số được áp dụng thường được tham khảo trong một số tiêu chuẩn, quy chuẩn và tài liệu như TCXDVN 33:2006, TCXDVN 7957:2008, QCVN 07:2010/BXD, Nghị định số 80/2014/NĐ-CP
TCXDVN 33:2006 “Cấp nước - Mạng lưới và công trình bên ngoài, tiêu chuẩn thiết kế” do Bộ Xây dựng ban hành năm 2006 [6]
Phạm vi hướng dẫn của tài liệu này khá rộng, bao gồm định lượng đến nước cấp cho khu đô thị, công nghiệp, nông thôn Tài liệu cũng chỉ ra phương pháp tính lưu lượng nước thải sinh hoạt từ khu dân cư, quy định rõ nhu cầu dùng nước sinh hoạt cho công nhân lao động tại các môi trường lao động khác nhau trong sản xuất công nghiệp căn cứ vào chỉ tiêu tỏa nhiệt cơ sở là 20 KCal/m3 nhà xưởng Đối với nước thải từ KCN có quy định 2 mức: 45 m3/ha.ngđ đối với công nghiệp sản xuất bia, rượu, sữa, đồ hộp, chế biến thực phẩm, giấy, dệt và 22 m3/ha.ngđ cho các ngành công nghiệp khác, tuy nhiên không nêu rõ cách tính theo diện tích của toàn thể KCN hay chỉ tính cho diện tích xây dựng nhà máy Đối với nhu cầu nước sinh hoạt cho công nhân trong các KCN có chia thành 2 nhóm KCN lớn và KCN nhỏ, nhưng chưa làm rõ tiêu chí phân định KCN lớn và KCN nhỏ, trong khi thực tế nhu cầu cấp nước sinh hoạt cho hai đối tượng này khác nhau khá nhiều: 45 l/người/ca đối với phân xưởng tỏa nhiệt trên 20 Kcalo/m3.giờ, 25 l/người/ca đối với phân xưởng khác Ngoài ra tài liệu cũng quy định định lượng lưu lượng nước dùng để tưới cây xanh, rửa đường làm cơ sở lập kế hoạch cấp nước cho khu đô thị, KCN
Tiêu chuẩn này bản chất là tiêu chuẩn cấp nước, muốn dự báo khối lượng nước thải phải tính toán thông qua hệ số tương quan nước thải - nước cấp (thông
Trang 39thường chọn tỷ lệ nước thải/nước cấp bằng 80%, và theo một số quy định mới đây
về thoát nước đô thị và KCN thì có thể tính với hệ số 100%)
TCXDVN 7957:2008 “Thoát nước - Mạng lưới và công trình bên ngoài Tiêu chuẩn thiết kế” do Bộ Xây dựng ban hành năm 2008 [7]
Đây là tiêu chuẩn ban hành thay thế TCVN 51-1984 và nêu tài liệu viện dẫn là TCXDVN 33:2006 Tài liệu này tập trung cập nhật hệ số không điều hòa đối với nước thải sinh hoạt và đô thị; đồng thời đưa ra công thức tính lượng phát sinh nước thải trong mục 8.1.3 của tiêu chuẩn này
Theo đó, công suất của trạm xử lý nước thải của KCN tập trung được xác định dựa vào lượng nước thải của từng nhà máy đưa về trạm Trong trường hợp không có
số liệu này thì công suất của trạm xử lý nước thải Q (m3/ngđ) được xác định theo công thức 1.2 sau:
Trong đó: F - Diện tích KCN mà hệ thống thoát nước thải phục vụ (ha)
q - Tiêu chuẩn nước thải (m3/ha.ngđ), phụ thuộc vào loại hình sản xuất trong KCN, đối với loại hình sản xuất ít nước thải, q sơ bộ bằng 15 - 25
m3/ha.ngđ, đối với loại hình sản xuất có lượng nước thải trung bình q = 30 - 40
m3/ha.ngđ, và đối với loại hình sản xuất nhiều nước thải q = 50 - 70 m3/ha.ngđ Tiêu chuẩn không hướng dẫn cụ thể loại hình sản xuất tương ứng với phát sinh nhiều hay ít nước thải nên rất khó áp dụng, dẫn đến khó cho kết quả chính xác trong
dự báo khối lượng nước thải KCN Có thể thấy giá trị max (70 m3/ha.ngđ) gấp đến 4,6 lần so với giá trị min (15 m3/ha.ngđ)
QCVN 07:2010/BXD Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị do Bộ Xây dựng ban hành [8]
Đây là quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, là quy định bắt buộc phải tuân thủ trong đầu tư và xây dựng mới, cải tạo hoặc nâng cấp các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị Trong đó, tại mục 2.2 của quy chuẩn có đề cập đến lượng nước cấp cho công
Trang 40nghiệp như sau: “Nước 3 cho các KCN tập trung: xác định theo loại hình công nghiệp, đảm bảo tối thiểu 40m 3 /ha.ngđ cho tối thiểu 60% diện tích”
Như vậy, theo các tài liệu cơ sở kỹ thuật phục vụ quy hoạch cấp nước và kiểm soát ô nhiễm nước thải như đã nêu ở trên, nhu cầu nước cấp dự báo và lượng nước thải phát sinh trong KCN được tính dựa trên hệ số sử dụng nước hay tiêu chuẩn thải nước trên cơ sở diện tích của KCN (m3/ha.ngđ)
Nghị định số 80/2014/NĐ-CP ngày 06 tháng 8 năm 2014 của Chính phủ về thoát nước và xử lý nước thải [12]
Nghị định này quy định tại Điều 39 về xác định khối lượng nước thải như sau: + Trường hợp các hộ thoát nước4 thải sinh hoạt sử dụng nước sạch từ hệ thống cấp nước tập trung, khối lượng nước thải được tính bằng 100% khối lượng nước cấp sạch tiêu thụ theo hóa đơn tiền nước;
+ Trường hợp các hộ thoát nước thải sinh hoạt không sử dụng nước sạch từ hệ thống cấp nước tập trung, khối lượng nước thải được xác định căn cứ theo lượng nước sạch tiêu thụ bình quân đầu người tại địa phương do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định
+ Đối với loại nước thải khác (ngoài nước thải sinh hoạt), trường hợp các hộ thoát nước sử dụng nước sạch từ hệ thống cấp nước tập trung, khối lượng nước thải được tính bằng 80% khối lượng nước sạch tiêu thụ theo hóa đơn tiền nước; trường hợp các hộ thoát nước không sử dụng nước sạch từ hệ thống cấp nước tập trung thì khối lượng nước thải được xác định thông qua đồng hồ đo lưu lượng nước thải Trường hợp không lắp đặt đồng hồ, đơn vị thoát nước và hộ thoát nước căn cứ hợp đồng dịch vụ thoát nước để thống nhất về khối lượng nước thải phù hợp
Như vậy, trong tất cả các cơ sở kỹ thuật hiện hành vẫn chủ yếu tập trung vào nước thải đô thị, chỉ có TCXDVN 7957:2008 có nêu ra phương pháp tính toán dự báo lượng nước thải thông qua hệ số tiêu chuẩn nước thải; còn lại các tài liệu khác,
hệ số phát sinh nước thải phải tính toán khối lượng nước thải thông qua dự báo nhu
3 Quy chuẩn đề cập “nước” với tư cách là nước cấp
4 Hộ thoát nước/hộ tiêu thụ nước là khái niệm chung chỉ cá nhân, hộ gia đình, cơ quan, tổ chức, doanh