Trả hồ sơ điều tra bổ sung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí MinhTrả hồ sơ điều tra bổ sung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí MinhTrả hồ sơ điều tra bổ sung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí MinhTrả hồ sơ điều tra bổ sung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí MinhTrả hồ sơ điều tra bổ sung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí MinhTrả hồ sơ điều tra bổ sung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí MinhTrả hồ sơ điều tra bổ sung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí MinhTrả hồ sơ điều tra bổ sung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí MinhTrả hồ sơ điều tra bổ sung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí MinhTrả hồ sơ điều tra bổ sung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
DƯƠNG VĂN HOÀNG
TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ
THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HÀ NỘI, năm 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
DƯƠNG VĂN HOÀNG
TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ
THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS ĐINH XUÂN NAM
HÀ NỘI, năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Trả hồ sơ để điều tra bổ sung đối với các tội
xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam
từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự
hướng dẫn khoa học của TS Đinh Xuân Nam Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng, kết quả nghiên cứu là trung thực Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu
và tính trung thực của luận văn
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan trên của mình
Hà Nội, ngày 09 tháng 8 năm 2018
Tác giả luận văn
Dương Văn Hoàng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG GIỮA CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT 7 1.1.Khái niệm, đặc điểm pháp lý các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 7
1.2 Những vấn đề lý luận về trả hồ sơ điều tra bổ sung 11
1.3 Quy định của pháp luật về trả hồ sơ để điều tra bổ sung 14
Tiểu kết Chương 1 36
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT GIỮA CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 38
2.1 Diễn biến tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2013 đến năm 2017 trả hồ sơ để điều tra bổ sung 38
2.2 Tình hình trả hồ sơ điều tra bổ sung đối với tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2013 đến năm 2017 40
2.3 Nguyên nhân dẫn đến trả hồ sơ để điều tra bổ sung 51
Tiểu kết Chương 2 56
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ, NHẰM HẠN CHẾ VIỆC TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT 57
3.1 Tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của Lãnh đạo của các cơ quan tiến hành Tố tụng trong việc trả hồ sơ điều tra bổ sung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 57 3.2 Nâng cao nhận thức đối với Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán trong
Trang 5việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung 59 3.3 Tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán 61 3.4 Tăng cường quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát với Tòa án 64 3.5 Tăng cường công tác tổng kết rút kinh nghiệm trong tố tụng 65 3.6.Tăng cường công tác ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 66
Tiểu kết Chương 3 69 KẾT LUẬN 70 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Bảng thống kê số liệu các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm
đoạt từ năm 2013 đến năm 2017 trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 38
Hình 2.2 Biểu đồ phân tích các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt từ
năm 2013 đến năm 2017 39
Bảng 2.3 Bảng thống kê các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt Viện
kiểm sát trả hồ sơ cho cơ quan điều tra để điều tra bổ sung từ năm 2013 đến năm
2017 40
Bảng 2.4 Bảng thống kê các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt Tòa
án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung từ năm 2013 đến năm 2017 44
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, để đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố và xét xử đúng người đúng tội đúng pháp luật, không bỏ lột tội phạm và người phạm tội Bộ luật TTHS năm 2015 tại các điều 245, 246, 280 đã quy định căn cứ để trả điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, Thông tư liên tịch số 02 ngày 22 tháng 12 năm 2017 giữa VKSND Tối cao, Tòa án nhân dân Tối cao, Bộ công an, Bộ quốc phòng quy định quy định việc phối hợp cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thực hiện các quy định của Bộ luật TTHS 2015 về trả hồ sơ điều tra bổ sung Đây là những căn cứ pháp lý quan trọng bảo đảm cho các cơ quan tiến hành tố tụng trả hồ sơ điều tra bổ sung có căn cứ và đúng pháp luật, tránh trường hợp lợi dụng việc trả hồ sơ điều tra bổ sung trong việc gây khó khăn trong công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự
Có thể nói rằng trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao bảo đảm việc truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế ở mức thấp nhất các trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung dẫn đến tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án
Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, văn hóa-xã hội của cả nước, là địa phương có nền kinh tế phát triển sôi động nhất cả nước, nhiều khu công nghiệp, nhiều khu chế xuất ra đời thu hút mạnh
mẽ nhà đầu tư trong và ngoài nước, các dịch vụ du lịch vui chơi giải trí, nhà hàng khách sạn ngày còn phát triển Mặc khác đây cũng là địa phương thu hút nguồn lao động trong cả nước về đây làm việc, học tập, sinh sống và làm việc dân số tăng nhanh đến nay có khoảng 8,4 triệu người dẫn đến việc quản lý tình hình trật tự trị
an, an toàn xã hội, quản lý con người gặp nhiều khó khăn Theo số liệu thống kê của VKSND thành phố Hồ Chí minh, trong 5 năm gần đây kể từ năm 2013 đến năm
2017 Trên địa bàn thành phố trung bình hàng năm VKS truy tố khoảng 9500 đến
10 000 vụ án hình sự với trên 12 000 bị can trong đó các tội xâm phạm sở hữu có
Trang 9tính chất chiếm đoạt chiếm khoảng trên 70% tổng số vụ và gần 80% số bị can
Mặc dầu số lượng các vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt xảy ra trên đại bàn toàn thành phố luôn chiếm tỷ lệ cao nhất Nhưng cơ quan tiến hành tố tụng đã nhận thức và thể hiện đúng chức năng nhiệm vụ theo quy định của pháp luật do đó trong số các vụ án đã khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử, số lượng vụ án trả hồ sơ điều tra bổ sung đều nằm trong trong tỷ lệ quy định của mỗi cơ quan tiến hành tố tụng (từ 3,3 đến 0,4%) Tuy nhiên do tình hình tội phạm đều diễn biến phức tạp, một số vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt việc phát hiện vì thiếu chứng cứ chứng minh tội phạm và người phạm tội dẫn đến bỏ lọt tội phạm, người phạm tội, làm oan người vô tội Mặc khác trong một số bị can phạm tội là người nước ngoài , đối tượng người các tỉnh, sống lang thang không có nơi cư trú; quy mô tính chất tội phạm ngày càng tinh vi xảo nguyệt, một số vụ án phạm tội có tổ chức, nhiều đối tượng tham gia nên việc phát hiện thu thập chứng cứ gặp rất nhiều khó khăn do đó vẫn còn tình trạng trả hồ sơ điều tra bổ sung, thậm chí trong số đó có vụ phải đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án làm giảm uy tín của các cơ quan bảo vệ pháp luật gây ra bức xúc trong quần chúng nhân dân
Từ ý nghĩa đó việc lựa chọn vấn đề “ Trả hồ sơ điều tra bổ sung đối với các
tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn là đáp ứng yêu cầu
tất yếu khách quan hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Qua nghiên cứu các công trình khoa học đã công bố, cho thấy có một số công trình đề cập về trả điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng như sau:
Một số công trình nghiên cứu về vấn đề trả điều tra bổ sung ở Việt Nam cho
đến nay: Tạp chí Tòa án nhân dân số 4/2008; Tạp chí kiểm sát, số 6/2008, “Chuyên
đề về việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự”;Vụ 1A Viện kiểm sát nhân dân tối cao 2008, “Chuyên đề trả hồ sơ để điều tra
bổ sung”; Tác giả Nguyễn Ngọc Kiện, “Một số vấn đề về việc Tòa án trả lại hồ sơ
để điều tra bổ sung”, Tác giả Nguyễn Hải Ninh, “Sửa đổi, bổ sung quy định của
Trang 10pháp luật về điều tra bổ sung”, Tạp chí Luật học, số 7/2008; Tác giả Nguyễn Hữu
Hậu, “Thẩm quyền của Viện kiểm sát và của Kiểm sát viên trong việc đề ra các yêu
cầu điều tra và điều tra bổ sung”, Tạp chí kiểm sát số 16/2009; Tác giả Lê Ngọc
Huấn, “Một số giải pháp nhằm hạn chế việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các
cơ quan tiến hành tố tụng”, Tạp chí kiểm sát số 10/2009; Tác giả Nguyễn Đình
Huề, “Một số vấn đề về trả hồ sơ vụ án hình sự để điều tra bổ sung”, Tạp chí Tòa
án số 4/2009; Tác giả Trần Vi Dân, “Một số giải pháp khắc phục việc trả hồ sơ điều
tra bổ sung, điều tra lại”, Tạp chí kiểm sát số 2/2010; Tác giả Nguyễn Ngọc Kiện,
“Hoàn thiện chế định Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung trong Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2003”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 7/2012; Tác giả Nguyễn Thị
Phương Thảo, “Một số vấn đề về hoạt động điều tra bổ sung của Viện kiểm sát ở
giai đoạn xét xử phúc thẩm”, Tạp chí kiểm sát số 6/2012; Tác giả Vũ Gia Lâm,
“Hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về việc Tòa án cấp sơ thẩm trả hồ
sơ để điều tra bổ sung”, Tạp chí Tòa án số 8/2013; Tác giả Nguyễn Quang Lộc,
“Bàn về chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung”, Tạp chí Tòa án số 8/2013; Tác giả
Thái Chí Bình, “Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2013 về yêu cầu điều tra bổ sung”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 11/2013; Tác giả Lê
Ngọc Duy, “Một số giải pháp nhằm hạn chế việc trả hồ sơ điều tra bổ sung đối với
Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội”, Tạp chí kiểm sát số
6/2013; Tác giả Lê Tấn Cường, “Giải pháp để hạn chế việc trả hồ sơ điều tra bổ
sung trong giai đoạn truy tố”, Tạp chí kiểm sát số 10/2014; Tác giả Đào Anh Tới,
“Hoàn thiện chế định trả hồ sơ điều tra bổ sung”, Tạp chí kiểm sát số 13/2014…
Các công trình nghiên cứu và bài viết nói trên đã đề cập đến trả hồ sơ điều tra
bổ sung được quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nhưng các công trình nghiên cứu trên chỉ nghiên cứu về cơ sở pháp lý mà chưa nghiên cứu đầy đủ, toàn diện và bao quát đối thực tế đối với các án trả hồ sơ để điều tra bổ sung Vì vậy việc nghiên cứu
đề tài của tác giả trong giai đoạn hiện tại là vấn đề cần thiết
Một số vấn đề về mặt lý luận liên quan đến trả hồ sơ để điều tra bổ sung chưa được làm rõ, còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn, nhiều khía cạnh pháp lý
Trang 11cần được tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc hơn Mặt khác, thực tiễn
hoạt động Trả hồ sơ để điều tra bổ sung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính
chất chiếm đoạt theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố
Hồ Chí Minh chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, một phần là do các quy định của
pháp luật TTHS liên quan đến vấn đề này còn nhiều bất cập, chưa phù hợp trong tình hình hiện nay, cần phải tiếp tục nghiên cứu, làm rõ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo pháp luật TTHS Việt Nam đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh, luận văn góp phần làm sáng tỏ những bất cập và những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật TTHS Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất những giải pháp nhằm hạn chế trả
hồ sơ điều tra bổ sung đối với các loại tội phạm này
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu phân tích và làm rõ những vấn đề lý luận và pháp luật về trả hồ
sơ điều tra bổ sung
Nghiên cứu tình hình tội XPSH có tính chất chiếm đoạt thực tiễn tại TP HCM Đánh giá thực tế trả hồ sơ điều tra bổ sung đối với các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Những kết quả đạt được và những tồn tại hạn chế đồng thời làm rõ nguyên nhân của những tồn tại hạn chế, khó khăn vướng mắc dẫn đến trả hồ sơ điều tra bổ sung
Đề giải pháp khắc phục tình trạng trả hồ sơ điều tra bổ sung các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về trả hồ sơ điều tra
bổ sung đối với các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt theo pháp luật TTHS Việt
Nam của Bộ luật TTHS năm 2015, và thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh
Trang 12+ Phạm vi về thời gian: Số liệu khảo sát đánh giá trong phạm vi 05 năm từ năm 2013 đến năm 2017
+ Phạm vi về không gian: Địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin; quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về việc trả hồ sơ điều tra bổ sung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm và cải cách tư pháp
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu
+ Phương pháp thống kê, tổng kết
+ Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
+ Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp số liệu
+ Phương pháp khảo sát
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn được nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của Pháp luật
tố tụng hình sự hiện hành về thủ tục trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật hình sự trong việc giải quyết các vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt phải trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn thành phố TP HCM từ năm
Trang 13là kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình
sự và các giải pháp nhằm hạn chế tình trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung của các
Cơ quan tiến hành tố tụng ở Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về trả hồ sơ để điều tra bổ
sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về trả hồ sơ để
điều tra bổ sung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt giữa các
cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Một số giải pháp kiến nghị, nhằm hạn chế việc trả hồ sơ để điều
tra bổ sung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG GIỮA CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT 1.1 Khái niệm, đặc điểm pháp lý các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
1.1.1 Khái niệm
Các tội XPSH là những hành vi có lỗi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu và sự gây thiệt hại này thể hiện được đầy đủ nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi [36, tr 5]
Các tội này được quy định tại Chương XIV Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 gồm 13 tội được quy định rất cụ thể từ Điều 133 đến Điều 145
Đó là các tội: tội cướp tài sản được quy định tại Điều 133; tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 134; tội cưỡng đoạt tài sản được quy định tại Điều 135; tội cướp giật tài sản được quy định tại Điều 136; tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 137; tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 138; tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139; tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 140; tội chiếm giữ trái phép tài sản được quy định tại Điều 141; tội sử dụng trái phép tài sản được quy định tại Điều 142; tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản được quy định tại Điều 143; tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước được quy định tại Điều 144; tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản được quy định tại Điều 145
Nay các tội này được quy định tại Chương XVI BLHS năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), cũng gồm 13 tội từ điều 168 đến điều 180 Vậy BLHS năm
2015 về tên gọi (các tội xâm phạm sở hữu) và số lượng điều luật (13 điều) không thay đối so với BLHS năm 1999 Sự không thay đổi này phản ánh sự ổn định của nhóm tội phạm có tính chất truyền thống từ trước đến nay qua các lần thay đổi của
Trang 15BLHS
Về tê tội danh thì BLHS năm 2015 ( Sửa đổi, bổ sung năm 2017) có sửa tên tội danh của Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của nhà nước (Điều 144 BLHS năm 1999) thành tội thiếu trách nhiệm gây thiết hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp (Điều 179 BLHS) [8, tr 182]
Căn cứ vào tính chất mục đích phạm tội khoa học luật hình sự chia các tội XPSH thành hai nhóm tội
Nhóm 1: là nhóm các tội phạm có mục đích tư lợi bao gồm 10 tội được quy định từ Điều 133 đến Điều 142 BLHS Và nhóm 2: là nhóm tội phạm không có mục đích tư lợi được quy định từ Điều 143 đến Điều 145 BLHS Đối với nhóm các tội có mục đích tư lợi, dựa vào đặc điểm chung của hành vi phạm tội có thể chia thành nhóm có tính chất chiếm đoạt (bao gồm 8 tội từ Điều 133 đến Điều 140 và nhóm không có tính chất chiếm đoạt (gồm các Điều 141, 142) Vậy tính chất chiếm đoạt ở đây được hiểu như thế nào?
Trong khi đó, theo Từ điển tiếng Việt, chiếm đoạt là “Chiếm của người làm
của mình, bằng cách dựa vào vũ lực, quyền thế”[36, tr 212] Như vậy, khái niệm
chiếm đoạt cần phải bao quát cả ở khía cạnh hành vi phạm tội và mục đích phạm tội Từ đó, chúng tôi cho rằng khái niệm chiếm đoạt trong dấu hiệu chiếm đoạt cần
được hiểu như sau: “Chiếm đoạt là việc cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang
thuộc sự quản lí của chủ sở hữu thành tài sản của mình Chúng được biểu hiện dưới dạng hành vi hoặc mục đích phạm tội”
Trên cơ sở khái niệm các tội XPSH và khái niệm chiếm đoạt ở trên, có thể đưa ra khái niệm về các tội XPSH có tính chiếm đoạt như sau:
Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là những hành vi cố ý chiếm lấy, đoạt lấy tài sản đang do người khác sở hữu hợp pháp làm tài sản của mình vì mục đích vụ lợi
1.1.2 Dấu hiệu pháp lý đặc trưng
Dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt (dựa vào bốn yếu tố cấu thành tội phạm và khái niệm các tội XPSH có tính chất chiếm
Trang 16đoạt) cụ thể như sau:
140 BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009
Về đối tượng tác động thuộc khách thể của tội phạm, các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt có đối tượng tác động là tài sản thuộc sở hữu của người khác và chúng còn nằm trong sự chiếm hữu, quản lí của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản Về nguyên tắc tài sản này là hợp pháp, bao gồm: vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền về tài sản (theo Điều 163 Bộ luật dân sự)
Thứ hai, mặt khách quan của tội phạm
Hành vi phạm tội được hiểu là hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự quy định chịu sự kiểm soát, điều khiển bởi ý thức, ý chí của người phạm tội [35, tr 93-97] Hành vi phạm tội có hai hình thức thể hiện là hành động và không hành động
Thực tiễn áp dụng các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt có những hành vi khách quan khác nhau, theo quy định của BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009
Đó có thể là hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực như tội Cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, Cưỡng đoạt tài sản (nhóm 1); hành vi lợi dụng sơ hở của chủ tài sản để thực hiện tội phạm như tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản, Trộm cắp tài sản (nhóm 2); hành vi dùng thủ đoạn gian dối như tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (nhóm 3) hay hành vi nhanh chóng chiếm đoạt tài sản một cách công khai rồi tẩu thoát như tội Cướp giật tài sản Đối tượng thực hiện hành vi và điều kiện khi thực hiện hành vi là khác nhau Cụ thể,
Trang 17trong nhóm 1, đối với tội Cướp tài sản, người phạm tội dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực “Ngay tức khắc” đối với chủ tài sản; đối với tội Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản thì hành vi đe dọa dùng vũ lực lại nhằm vào con tin từ đó khiến người thân của con tin (người có tài sản) phải lo sợ, giao nộp tài sản; hoặc cùng là đe dọa dùng vũ lực đối với chủ tài sản nhưng ở tội Cưỡng đoạt tài sản không có đặc điểm
“Ngay tức khắc” như tội Cướp tài sản Đối với nhóm 2, người phạm tội Trộm cắp tài sản có thủ đoạn lén lút khi thực hiện hành vi chiếm đoạt; còn ở tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội lại có hành vi công khai Ở nhóm 3,tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được phân biệt với nhau bởi thủ đoạn gian dối được thực hiện trước hay sau khi hành vi chiếm đoạt được thực hiện
Qua những hành vi nói trên gây ra hậu quả là những thiệt hại cho quan hệ sở hữu được thể hiện dưới dạng thiệt hại vật chất cụ thể là tài sản bị mất Đối với những tội như Cướp tài sản, Cướp giật tài sản, Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản thì thiệt hại còn bao gồm cả thiệt hại về thể chất (thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe, tinh thần)
Thứ ba, chủ thể của tội phạm
Chủ thể của nhóm tội này có thể là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định: từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc những tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 133; khoản 2,3, và 4 của các Điều 134, 135, 136; khoản 3 và 4 các Điều 137, 138, 139, 140 Ngoài ra tại các Điều 139, 140 BLHS,
Thứ tư, mặt chủ quan của tội phạm:
Mặt chủ quan của tội phạm các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp Người thực hiện hành vi chiếm đoạt biết tài sản chiếm đoạt là tài sản đang có người quản lí nhưng vẫn mong muốn biến tài sản đó thành của mình
Về động cơ và mục đích phạm tội: người phạm tội mong muốn chiếm đoạt
Trang 18được tài sản của người khác và dấu hiệu chiếm đoạt là dấu hiệu bắt buộc đối với các tội này Không chỉ tùy thuộc vào đặc trưng của từng tội do BLHS quy định mà dấu hiệu chiếm đoạt trong các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt là khác nhau Chúng có thể là hành vi chiếm đoạt, mục đích chiếm đoạt hoặc chiếm đoạt được Cụ thể: Đối với các tội từ Điều 133 đến Điều 135 BLHS, khách thể được bảo vệ bao gồm quan
hệ sở hữu và quan hệ nhân thân Để xâm phạm quan hệ sở hữu, người phạm tội phải
có hành vi xâm hại quan hệ nhân thân Trong đó, quan hệ nhân thân rõ ràng quan trọng hơn quan hệ sở hữu nên các tội này có cấu thành hình thức, chỉ cần người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội xem như tội phạm đã hoàn thành và dấu hiệu chiếm đoạt được thể hiện qua mục đích phạm tội Vì vậy, mục đích chiếm đoạt là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của các tội này Đây là cơ sở phân biệt các tội này với các tội khác do BLHS quy định có hành vi khách quan tương tự như hành vi phạm tội của các tội này
Đối với tội cướp giật tài sản, mặc dù khách thể mà tội này xâm phạm cũng là quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân nhưng khác với các tội tại các Điều 133, 134,
135 BLHS Hành vi khách quan do BLHS quy định đối với tội cướp giật tài sản xâm phạm trực tiếp đến quan hệ sở hữu và qua việc xâm phạm quan hệ sở hữu mới xâm phạm đến quan hệ nhân thân nên dấu hiệu chiếm đoạt được thể hiện qua hành
vi chiếm đoạt được mô tả trong điều luật
1.2 Những vấn đề lý luận về trả hồ sơ điều tra bổ sung
1.2.1 Khái niệm trả hồ sơ để điều tra bổ sung
Trả hồ sơ để điều tra bổ sung là việc TA chuyển trả hồ sơ cho VKS hoặc VKS chuyển trả hồ sơ cho CQĐT để điều tra bổ sung Vậy việc trả hồ sơ điều tra bổ sung có thể được hiểu là quá trình khắc phục những vi phạm về thủ tục nếu có, làm
rõ, bổ sung thêm những chứng cứ còn yếu, còn thiếu, chưa toàn diện
1.2.2 Chế định trả hồ sơ điều tra bổ sung trong Bộ luật tố tụng hình sự
Trả hồ sơ để điều tra bổ sung là chế định pháp lý được quy định tại các Điều 168, 179 BLTTHS năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009, cho phép CQĐT, VKS, TA thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và giải quyết vụ
Trang 19án hình sự
Đây là quyền hạn của CQĐT, VKS, TA được thực hiện khi có căn cứ pháp luật nhằm đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm
Điều 168 Bộ luật TTHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 được quy định rất cụ thể về việc VKS ra quyết định trả hồ sơ cho CQĐT để điều tra bổ sung khi phát hiện thấy hồ sơ vụ án còn thiếu những bằng chứng, chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà VKS không thể tự mình bổ sung chứng cứ được Nên khi có căn cứ
để khởi tố bị can về một tội phạm khác hoặc có đồng phạm khác hay có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, thì VKS ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong thời hạn truy tố quy định tại khoản 1 Điều 166 của BLTTHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009
Thẩm phán được phân công nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm ra quyết định trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung trong giai đoạn trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm trong thời hạn cụ thể được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 176 của BLTTHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009
Trong quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, Thẩm phán cũng cần nêu rõ thuộc trường hợp cụ thể nào quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều
179 của BLTTHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 và những vấn đề cụ thể cần điều tra bổ sung Đó là: Khi cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với
vụ án mà không thể bổ sung tại phiên tòa được; khi có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác; hoặc khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Tại phiên tòa Hội đồng xét xử cũng có thể ra quyết định yêu cầu điều tra bổ sung, quyết định yêu cầu điều tra bổ sung trong giai đoạn này cần tuân thủ quy định tại Điều 199 BLTTHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm
2009, quyết định đó phải được thảo luận và thông qua tại phòng nghị án và phải được lập thành văn bản
Điều tra bổ sung là một chế định TTHS được qui định trong BLTTHS do các
Trang 20cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền quyết định và thực hiện nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án hình sự khách quan, toàn diện và đúng pháp luật, không làm oan và bỏ lọt tội phạm
Chế định trả điều tra bổ sung được BLTTHS 2003 qui định tại các Điều 168, khoản 1 Điều 166 và Điều 179, khoản 2 Điều 199 của BLTTHS 2003 Việc trả hồ
sơ vụ án để điều tra bổ sung của VKS, Thẩm phán và Hội đồng xét xử của TA được BLTTHS 2003 cho phép Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, áp dụng các Điều
168, 1 Điều 166, Điều 179 và Khoản 2 Điều 199 Bộ luật TTHS 2003 giữa các cơ quan tiến hành tố tụng còn chưa thống nhất dẫn đến tình trạng số án trả điều tra bổ sung vẫn còn cao Để hạn chế việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhiều lần, kéo dài thời gian giải quyết vụ án không cần thiết Ngày 27/8/2010, liên ngành gồm VKSND tối cao, Bộ Công an và TAND tối cao đã ký ban hành Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT đã hướng dẫn thi hành các quy định của BLTTHS về vấn đề trả hồ
sơ để điều tra bổ sung rất cụ thể
Hiện nay BLTTHS 2015 có hiệu lực thì có nhiều điểm mới nổi bậc giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng dễ áp dụng và phân hóa điều luật rõ ràng hơn so với BLTTHS 2003 BLTTHS 2015 gồm có 4 căn cứ so với BLTTHS 2003 chỉ có 3 căn
cứ để trả hồ sơ điều tra bổ sung
BLTTHS 2015 được quy định rất cụ thể tại các điều 245, 246, 280 và Điều
240, khoản 2 Điều 298 trong việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung hiện nay
VKS trả hồ sơ cho CQĐT dựa vào 4 căn cứ tại khoản 1 điều 245 Điểm mới được bổ sung vào BLTTHS 2015 đó là quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung của VKS trả hồ sơ cho CQĐT được cụ thể hóa bằng khoản 2 Điều 245 vào BLTTHS
2015 Và trách nhiệm của CQĐT được quy định rõ tại khoản 3 Điều 245 BLTTHS
2015
TA trả hồ sơ cho VKS dựa vào 4 căn cứ tại khoản 1 Điều 280 BLTTHS
2015 Khoản 2 Điều 280 VKS yêu cầu TA trả hồ sơ điều tra bổ sung nếu phát hiện
có căn cứ Đối với Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung của TA cho VKS được quy định tại khoản 3 Điều 280 BLTTHS 2015 đây cũng là điểm mới Vấn đề giải
Trang 21quyết yêu cầu điều tra bổ sung của TA được thể hiện rất rõ tại Điều 246 BLTTHS
2015
Ngoài ra Thông tư liên tịch số BQP của VKSND tối cao - TAND – Bộ công an – Bộ quốc phòng ngày 22 tháng 12 năm 2017 đi kèm hướng dẫn sẽ giúp các cơ quan tiến hành tố tụng làm giảm đáng
02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-kể việc trả hồ sơ điều tra bổ sung trong thời gian tới
1.3 Quy định của pháp luật về trả hồ sơ để điều tra bổ sung
1.3.1 Căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung
1.3.1.1 Căn cứ thứ nhất là căn cứ chứng cứ trong hồ sơ vụ án
Theo giáo trình của trường Đại học Luật Hà Nội thì: “ Chứng cứ là những gì
có thật có liên quan đến vụ án hình sự, được cơ quan điều tra, Viện kiểm sát , Tòa
án dung làm căn cứ để xá định có hay không hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn
vụ án hình sự” [37, tr 77] Khái niệm về chứng cứ này đã đưa ra tính liên quan của
chứng cứ với vụ án hình sự, tuy nhiên đối với tính hợp pháp là một trong những thuộc tính quan trọng của chứng cứ thì khái niệm này không đề cập đến
Theo giáo trình của Trường Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội thì:” Trong pháp luật
tố tụng hình sự, chứng cứ là những sự việc, hiện tượng, những dấu vết, được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thu thập trong quá trình điều tra, xét xử theo đúng tình tự, do pháp luật quy định, để chứng minh là có hay không có hành vi nguy hiểm cho xã hội, lỗi của người thực hiện hành vi ấy và những tình tiết khác có
ý nghĩa giải quyết đúng đắn vụ án” [31, tr 21]
Như vậy, khái niệm chứng cứ này chỉ thể hiện được tính khách quan và tính hợp pháp mà chưa đề cập đến tính liên quan của nó
Từ khái niệm này cho thấy chứng cứ trong vụ án hình sự trước hết là những thông tin có thật, được ghi nhận hoặc lưu giữ trong các nguồn do luật định và mang đầy đủ ba thuộc tính: tính xác thật, tính hợp pháp và tính liên quan
Theo quy định tại Điều 86 BLTTHS năm 2015 quy định thì: “Chứng cứ là
những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được
Trang 22dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án “
[23, tr 86]
Đồng thời theo Điều 87 BLTTHS năm 2015 thì chứng cứ được thu thập, xác
định từ các nguồn: “Vật chứng; Lời khai, lời trình bày; Dữ liệu điện tử; Kết luận
giám định, định giá tài sản; Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử, thi hành án; Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác; Các tài liệu, đồ vật khác Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục
do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn
cứ để giải quyết vụ án hình sự.” [23, tr 87]
Như vậy các vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt cần phải chứng minh một
số vấn đề cần chứng minh phải đúng căn cứ theo pháp lý, những vấn đề cần chứng minh việc thiếu sót một hay một số chứng cứ quan trọng sẽ không đảm bảo giải quyết vụ án hình sự một cách toàn diện, khách quan
BLTTHS 2003, và Điều 86 BLTTHS 2015 quy định thì chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự thủ tục do BLTTHS quy định mà CQĐT, VKS và
TA dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án
Như vậy, chứng cứ là những gì có thật, tức là phải tồn tại trong thực tế khách quan, độc lập với ý thức chủ quan của những người tiến hành tố tụng Nếu người tiên hành tố tụng nhận thức không đúng, chủ quan, suy diễn về những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự cũng như những tình tiết khác cho việc giải quyết đúng đắnvụ án, thì những tào liệu mà họ thu thập được không được công nhận là chứng cứ vì chúng không mang tính khác quan
Ngoài tính khác quan, chứng cứ cón phải mang tính kiên quan, tức là quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng có thể thu thập được nhiều tài liệu khác nhau, nhưng chỉ tài liệu nào có liên quan, có khả năng làm rõ vấn
Trang 23đề phải chứng minh trong vụ án hình sự cũng như tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết đúng đắn vụ án mới có thể được công nhận là chứng cứ
Để công nhận là chứng cứ, ngoài việc phải thỏa mãn tính khách quan và tính
có liên quan, chứng cứ còn thỏa mãn tính hợp pháp, nghĩa là chứng cứ phải được thu thập theo trình tự thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định Ví dụ, con dao là vật chứng trong vụ cướp tài sản chỉ được coi là chứng cứ khi nó được điều tra viên thu giữ theo đúng quy định của BLTTHS (thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường hoặc trong biên bản thu giữ tang vật [34, tr 93]
chất chiếm đoạt
Trong các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, cần phải chứng minh được các vấn đề sau:
+ Có hành vi phạm tội xảy ra hay không Việc chứng minh có hành vi phạm
tội xảy ra hay không là một trong những vấn đề cơ bản , quan trọng, là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền quyết định khởi tố vụ án hoặc không khởi tố vụ án hình sự Các tài liệu, chứng cứ… chứng minh có hành vi phạm tội xảy ra hay không xảy ra cũng chính là những căn cứ để kiểm sát viên, kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự Trên thực tế , có những hành vi xam hại xảy ra nhưng cũng có thể hành vi này không phải là hành vi phạm tội Ví dụ: Nguyễn Văn T 15 tuổi, chưa có tiền án, tiền sự, có hành vi trộm xe đạp của bạn học cùng lớp trị giá 480.00 đồng Hành vi trộm cắp này không được coi là hành vi phạm tội, vì theo quy định của BLHS, hành vi của T không được coi là hành vi phạm tội vì không có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm ( về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, về giá trị tài sản chiếm đoạt)
Nếu không làm rõ vấn đề này mà khởi tố vụ án thì có thể dẫn đến oan sai Để làm rõ vấn đề này thì phần lớn các vụ án trong nhóm tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt cần phải được khám nghiệm hiện trường, lấy lời khai người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩ vụ liên quan
+ Thời gian và địa điểm xảy ra phạm tội Thời gian và địa điểm xảy ra vụ án
là những vấn đề buộc phải xác định để chứng minh sự tồn tại của tội phạm Quá
Trang 24trình điều tra phải làm rõ hành vi phạm tội xảy ra khi mào, ở đâu Thực tiễn điều tra
vụ án hình sự cho thấy, nếu còn xác định chính xác thời gian và địa điểm xảy ra vụ
án bao nhiêu, thì càng có điều kiện thuận lợi để chứng minh các tình tiết khác của hành vi phạm tội Nhiều trường hợp do không xác định được thời gian xảy ra vụ án nên đã mất phương hướng điều tra, người phạm tội có điều kiện bỏ trốn Chẳng hạn, trong vụ giết người, cướp tài sản do không xác định kịp thời gian và chính xác thời gian xảy ra vụ án nên người phạm tội đã bỏ trốn, gây khó khăn cho công tác điều tra
+ Đối tượng bị xâm hại trong các vụ án đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu
có tính chất chiếm đoạt là tài sản gồm: đồ vật, tiền bạc, hoặc các loại giấy tờ có giá
trị…Những tình tiết phải chứng minh là dấu hiệu của đồ vật bị chiếm đoạt, về tính năng, nơi sản xuất, số lượng, giá trị… phải được ghi nhận trong các tài liệu hồ sơ vụ
án hoặc thu giữ, bảo quản theo quy định về vật chứng
+ Thủ đoạn phạm tội: Trong các vụ án đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu
có tính chất chiếm đoạt Cần làm rõ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, từ giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phương thức phạm tội, thủ đoạn che giấu tội phạm Trong đó mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội được xác định trên cơ sở nghiên cứu tính chất của hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra khi thực hiện hành vi
đó Làm rõ thủ đoạn phạm tội còn là cơ sở để phân biệt giữa các loại tội phạm trong nhóm tội xâm phạm sở hữu (vd: cướp tài sản với công nhiên chiếm đoạt tài sản)
+ Công cụ, phương tiện, vũ khí, tài liệu… người phạm tội sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội: Phải chứng minh làm rõ người phạm tội sử dụng hung khí,
vũ khí, công cụ, phương tiện gì để phạm tội, có phải thuộc loại nguy hiểm không, nguồn gốc của nó Đây là những tài liệu , chứng cứ, vật chứng rất quan trọng để chứng minh sự khách quan của vụ án Làm rõ được vấn đề này cón là cơ sở trong việc định khung, lượng hình khi điều tra, truy tố, xét xử đối với các bị can sau này Mặt khác, qua đó có thể sơ bộ nhận định về người phạm tội thuộc dạng đối tượng nào Các yêu cầu này có thể được xác định thông qua khám nghiệm hiện trường , khám xet, hỏi cung, lấy lời khai, trưng cầu giám định Ví dụ: Việc làm rõ người
Trang 25phạm tội có sử dụng hung khí nguy hiểm ( dao sắc nhọn) trong khi dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản giúp chúng ta điều tra, truy tố, xét xử người đó đúng theo Khoản 2 Điều 133 BLTTHS 2003 và hiện nay theo Điều 185 BLTTHS 2015
+ Người bị hại trong vụ án, người làm chứng trong vụ án: Cần làm rõ người
bị hại là ai (Nhà nước hay công dân) Nếu quá trình thực hiện tội phạm, người phạm tội gây tổn hại đến danh dự, sức khỏe, tính mạng…của người bị hại thì cần làm rõ
về mức độ tổn hại Đây là cơ sở để cá thể hóa trách nhiệm hình sự, hình phạt, mức
độ bồi thường, nhiều trường hợp là căn cứ của việc định tội, định khung, xem xét các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị can, bị cáo
+ Cần làm rõ ai là người phạm tội, có đồng phạm không: Vị trí và vai trò
của những người phạm tội trong vụ đồng phạm cần lập lý lịch bị can, danh chỉ bản, trích lục tiền án tiền sự Cần làm rõ người phạm tội có năng lực trách nhiệm hình
sự không, phạm tội có tính chất cơ hội hay lưu manh chuyên nghiệp… Làm rõ vấn
đề này có ý nghĩa rất lớn cho việc định tội, định khung hình phạt, lượng hình, đề ra phương pháp hỏi cung, đấu tranh đối với bị can
+ Động cơ, mục đích phạm tội tính chất lỗi: Làm rõ động cơ mục đích phạm
tội, như: Có vụ lợi hoặc tư lợi hay không, mục đích chiếm đoạt? Để đánh giá đầy đủ vấn đề này cần phải dựa trên cơ sở đánh giá đặc điểm hành vi phạm tội, các mối quan hệ của người phạm tội, mối quan hệ giữa người phạm tội với người bị hại; giá trị tài sản mà người phạm tội chiếm đoạt , đã gây thiệt hại hoặc định gây thiệt hại, định chiếm đoạt, ý thức chủ quan của người phạm tội Ví dụ: Việc xác định rõ động
cơ mục đích của tội phạm sẽ giúp cho người tiến hành tố tụng phân được hành vi trong tội sử dụng trái phép tài sản với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
+ Những đặc điểm thân nhân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng trách nhiệm hình sự Những đặc điểm về nhân thân của người phạm tội có ý
nghĩa rất quan trọng trong việc xác định trách nhiệm hình sự của người phạm tội, tuy nhân thân người phạm tội không phải là yếu tố cấu thành tội phạm các cơ quan tiến hành tố tụng muốn giải quyết đúng đắn bất kỳ vụ án hình sự nào nói chung,
Trang 26cũng như những vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nói riêng đòi hỏi phải nghiên cứu đầy đủ vấn đề nhân thân người phạm tội
Điều này cho thấy , ngoài việc phải thu thập chứng cứ chứng minh về số lượng tài sản bị xâm hại… người tiến hành tố tụng trong các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt phải làm rõ các vấn đề về nhân thân người phạm tội, để biết được người đó có tiền án tiền sự chưa, có thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm không
Ngoài ra trong quá trình xác lập chứng cứ chứng minh trong các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt còn cần phải làm rõ nguyên nhân, điều kiện xảy ra tội phạm, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can
Các yêu cầu cơ bản nêu trên cần được xem xét đánh giá toàn diện, đầy đủ ttrong quá trình điều tra vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, nhằm đảm bảo việc khởi tố, điều tra, truy tố xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.[34,
an – Bộ quốc phòng ngày 22 tháng 12 năm 2017
Việc chứng minh tội phạm, làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án đòi hỏi phải
có các thông tin, tài liệu phản ánh sự kiện phạm tội, phản ánh các yếu tố khách quan, chủ quan của tội phạm và các yếu tố liên quan đến người phạm tội Khi giải quyết vụ án hình sự, trong quá trình thực hiện các hoạt động tố tụng, CQĐT, VKS
và TA cần xác minh những sự việc có liên quan đến tội phạm đang được tiến hành xem xét, cần phải khẳng định được rằng tội phạm đã xảy ra, xác định được người
cụ thể đã thực hiện tội phạm và họ phải chịu trách nhiệm về hành vi đã thực hiện
Trang 27Để làm được điều đó, cơ quan tiến hành tố tụng phải dựa vào chứng cứ Dựa vào chứng cứ để Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đưa ra những lời buộc tội đối với bị cáo trước TA Còn đối người bào chữa của bị cáo, thân chủ của bị cáo có thể bác bỏ lời buộc tội của họ hoặc đưa ra những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo TA cũng có thể xét xử phù hợp với quy định của pháp luật nếu thông qua những tài liệu, chứng cứ mà CQĐT, VKS thu thập được
Thông qua việc phát hiện chứng cứ, xem xét và ghi nhận chứng cứ về mặt tố tụng, kiểm tra tính xác thực của chứng cứ, đánh giá chứng cứ, cơ quan tiến hành tố tụng có thể nghiên cứu đầy đủ và toàn diện các tình tiết của vụ án, xác định sự phù hợp của chúng với hiện thực từ đó tìm ra chân lý khách quan
1.3.1.2 Căn cứ thứ hai là căn cứ một hay nhiều tội phạm khác hay ngoài hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố, bị can còn thực hiện hành vi khác
Căn cứ thứ hai quy định :”Có căn cứ khởi tố bị can về một hay nhiều tội phạm khác “ theo điểm b Điều 245 BLHS 2015 được hiều rằng:
Khởi tố và điều tra về một hay nhiều tội nhưng chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy hành vi của bị can đã thực hiện cấu thành một hay nhiều tội khác
BLTTHS 2015 bổ sung “một hay nhiều” Phần bổ sung trên thể hiện sự chính
xác về kỹ thuật xây dựng văn bản Rõ ràng, hiểu theo quy định của điều luật trong BLTTHS 2003 thì chưa bao quát được hết các trường hợp Do đó, thực tiễn áp dụng quy định này của BLTTHS 2003 đã thể hiện những hạn chế và được khắc phục bởi hướng dẫn của Thông tư liên tịch 01/2010/TTLT [1, tr 240]
Khi có căn cứ để khởi tố bị can về một hay nhiều tội phạm khác thuộc một trong các trường hợp sau đây thì VKS trả hồ sơ để điều tra bổ sung Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP của VKSND tối cao - TAND tối cao – Bộ công an – Bộ quốc phòng ngày 22 tháng 12 năm 2017 làm rõ
vấn đề cụ thể tại điểm a,b khoản 1 Điều 4 như sau: Khởi tố và điều tra về một hay
nhiều tội nhưng chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy hành vi của bị can đã thực hiện cấu thành một hay nhiều tội khác; Ngoài tội phạm đã khởi tố và điều tra, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy còn có căn cứ để khởi tố bị can về một hoặc
Trang 28nhiều tội khác; [41, tr 4]
Theo điểm b khoản 1 Điều 280 BLTTHS 2015 “ Có căn cứ cho rằng ngoài hành vi mà VKS đã truy tố, bị can còn thực hiện hành vi khác mà BLHS quy định là tội phạm;” Tuy nhiên nếu thấy việc điều tra đã đầy đủ nhưng VKS truy tố không đúng tội danh và TA có thể xét xử bị cáo về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã truy tố thì vẫn đưa vụ án ra xét xử mà không cần trả điều tra bổ sung [1, tr 272]
Khi có căn cứ để cho rằng bị can hoặc bị cáo còn thực hiện hành vi khác mà BLHS quy định là tội phạm mà BLHS quy định là tội phạm liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can thuộc một trong các trường hợp sau đây thì Thẩm phán (trong giai đoạn chuẩn bị xét xử), Hội đồng xét xử (tại phiên tòa) trả hồ sơ để điều tra bổ sung: điểm a,b khoản 1 điều 5 Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP của VKSND tối cao - TAND tối cao – Bộ công an – Bộ quốc phòng ngày 22 tháng 12 năm 2017 có hướng dẫn cụ thể:
a) Viện kiểm sát truy tố về một hay nhiều tội, nhưng chứng cứ trong hồ sơ vụ
án cho thấy hành vi của bị can hoặc bị cáo đã thực hiện cấu thành một hay nhiều tội khác;
b) Ngoài hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát đã truy tố, chứng cứ trong hồ sơ
vụ án cho thấy còn có căn cứ để khởi tố bị can hoặc bị cáo về một hay nhiều tội khác;
Trong trường hợp tại điểm b khoản 1 Điều 280 BLTTHS năm 2015 sử dụng thuật ngữ để chỉ tư cách tố tụng của người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự là
“bị can”, khác với thuật ngữ “bị cáo”) để chỉ tư cách tố tụng của người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại điểm b khoản 1 Điều 179 BLTTHS năm 2003 Mục 2 Phần II Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 15/11/2004 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao: TA có thể xét xử bị cáo về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội
mà VKS đã truy tố, có nghĩa là với những hành vi mà VKS truy tố, TA có thể xét
xử bị cáo về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã truy tố
Trang 29Tuy nhiên khoản 3 Điều 298 BLTTHS 2015 đã có bổ sung điểm mới khắc
phục được vấn đề này và cũng là một vấn đề rất hợp lý “Trường hợp xét thấy cần
xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố thì Tòa án trả hồ
sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu Viện kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó.”[23, tr 260]
Theo khoản 3 Điều 298 giới hạn xét xử của TA là khi TA nhận thấy bị cáo
có tội nặng hơn VKS đã truy tố thì Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung để truy tố lại, nhưng nếu VKS vẫn giữ nguyên quan điểm tội danh đã truy tố thì TA có quyền xét
xử bị cáo về tội danh nặng hơn Đây là điểm mới xuất phát từ thực tiễn trong quá trình truy tố xét xử được bổ sung vào BLTTHS năm 2015
1.3.1.3 Căn cứ thứ ba người đồng phạm hoặc người phạm tội khác
“Có căn cứ cho rằng còn có đồng phạm khác hoặc có người khác thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can;”
Là những người liên quan đến vụ án nhưng chưa được cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, truy tố bị can Việc xác định đồng phạm phải dựa vào quy định tại Điều 17 BLHS 2015 có quy định: Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố
ý cùng thực hiện một tội phạm; Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm;Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức
Có thể nêu vài quan điểm liên quan đến vấn đề này như sau:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng có căn cứ để khởi tố bị can về một tội phạm
khách là:” khi nghiên cứu hồ sơ vụ án mà phát hiện thấy ngoài tội phạm đã được
kết luận điều tra đề nghị truy tố, còn có căn cứ để khởi tố bị can về một tội khác với tội danh đã bị khởi tố và bị Cơ quan điều tra đề nghị truy tố” [39, tr 05] tức là bị
can không phạm vào tội đã bị khởi tố mà phạm vào tội khác
- Quan điểm thứ nhất cho rằng có căn cứ để khởi tố bị can về một tội phạm
khác là: “khi nghiên cứu hồ sơ vụ án mà phát hiện thấy còn lọt hành vi phạm tội”
Trang 30[10, tr 11], tức là trường hợp được kết luận điều tra đề nghị truy tố bị can còn phạm
thêm tội phạm khác chưa được khởi tố điều tra
- Quan điểm thứ ba: “ Sau khi nghiên cứu hồ sơ phát hiện ngoài tội phạm đã
được kết luận điều tra đề nghị truy tố, bị can còn phạm tội khác chưa được khởi tố điều tra hoặc bị can không phạm vào tội đã khởi tố mà phạm vào tội khác” [7, tr
41]
Quan điểm thứ ba thể hiện được đầy đủ nội hàm mà hai quan điểm trên không có Nó bao quát được tất cả các trường hợp xảy ra trong thực tế và nó cũng
phù hợp với nội dung quy định của pháp luật Tố tụng hình sự hiện nay
- VKS trả hồ sơ vụ án cho CQĐT yêu cầu điều tra bổ sung là: Theo điểm c
khoản 1 Điều 245 ”Có người đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan đến
vụ án nhưng chưa được khởi tố bị can;” [ 1, tr 241] Đây là trường hợp sau khi khởi tố, điều tra đối với bị can, đến giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát phát hiện cùng với bị can có người đồng phạm khác chưa được khởi tố hoặc cùng với bị can còn có người phạm tội khác liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố bị can
Ví dụ 1: A bị khởi tố và đề nghị bị truy tố về tội trộm cắp tài sản Đến giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát có thẩm quyền phát hiện B là người đồng phạm với A nhưng B chưa bị khởi tố bị can
Ví dụ 2: A bị khởi tố và đề nghị truy tố về tội trộm cắp tài sản Đấn giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát có thẩm quyền phát hiện C là người phạm tội tiêu thụ tài sản
do người khác phạm tội mà có ( C tiêu thụ tài sản do A trộm cắp) [1, tr 241]
Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP của VKSND tối cao - TAND tối cao – Bộ công an – Bộ quốc phòng ngày 22 tháng 12 năm 2017 tại điểm c khoản 1 Điều 4 hướng dẫn cụ thể: Khi có căn cứ có người đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố
bị can thuộc một trong các trường hợp sau đây thì VKS trả hồ sơ để điều tra bổ
sung: “ Ngoài bị can đã bị khởi tố và điều tra, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy
còn có người đồng phạm khác hoặc có người phạm tội khác có liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố bị can”
Trang 31- TA trả hồ sơ điều tra bổ sung : Điểm c khoản 1 Điều 280, Thẩm phán chủ
tọa phiên tòa ra quyết định trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung khi: “ Có căn cứ
cho rằng còn có đồng phạm khác hoặc có người khác thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can;”
Có căn cứ cho rằng còn có đồng phạm khác hoặc có người khác thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi
tố vụ án, khởi tố bị can Để đảm bảo cho việc xets xử được chính xác, tránh làm oan hoặc bỏ lột tội phạm, qua nghiên cứu hồ sơ nếu thấy có người khác cùng thực hiện tội phạm với bị can chưa được khởi tố hoặc có căn cứ xác định bị can phạm một tội khác thì thẩm phán quyết định trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung [1, tr 272]
Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP của VKSND tối cao - TAND tối cao – Bộ công an – Bộ quốc phòng ngày 22 tháng 12 năm 2017 tại điểm c khoản 1 Điều 5 hướng dẫn cụ thể: Khi có căn cứ để cho rằng còn có đồng phạm khác hoặc có người khác thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can thuộc một trong các trường hợp sau đây thì Thẩm phán (trong giai đoạn chuẩn bị xét xử), Hội đồng xét xử (tại phiên tòa) trả hồ sơ để điều tra bổ sung:
c) Ngoài bị can hoặc bị cáo đã bị truy tố, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy còn có người đồng phạm khác hoặc có người phạm tội khác liên quan đến vụ
án, nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can
Có căn cứ cho rằng còn có đồng phạm khác hoặc có người khác thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi
tố vụ án khởi tố bị can Để đảm bảo cho việc xét xử được chính xác đúng pháp luật
và tránh làm oan hoặc bỏ lọt tội phạm, qua nghiên cứu hồ sơ nếu thấy có người khác cùng thực hiện tội phạm với bị can nhưng chưa bị truy tố hoặc có căn cứ xác định bị can phạm một tội khác thì Thẩm phán quyết định trả hồ sơ cho VKS để điều
tra bổ sung
Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 280 BLTTHS thì chỉ khi nào xác
Trang 32định có đồng phạm khác hoặc có người khác thực hiện hành vi TA mới trả hồ sơ để
VKS điều tra bổ sung
Khoản 1 Điều 5 Thông tư liên tịch số BCA-BQP của VKSND tối cao - TAND tối cao – Bộ công an – Bộ quốc phòng ngày 22 tháng 12 năm 2017 hướng dẫn: Khi có căn cứ để cho rằng bị can hoặc bị cáo còn thực hiện hành vi khác mà BLHS quy định là tội phạm, còn có đồng phạm khác hoặc có người khác thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can thuộc một trong các trường hợp sau đây thì Thẩm phán (trong giai đoạn chuẩn bị xét xử), Hội đồng xét
02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-xử (tại phiên tòa) trả hồ sơ để điều tra bổ sung:
a) Viện kiểm sát truy tố về một hay nhiều tội, nhưng chứng cứ trong hồ sơ vụ
án cho thấy hành vi của bị can hoặc bị cáo đã thực hiện cấu thành một hay nhiều tội khác;
b) Ngoài hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát đã truy tố, chứng cứ trong hồ sơ
vụ án cho thấy còn có căn cứ để khởi tố bị can hoặc bị cáo về một hay nhiều tội khác;
c) Ngoài bị can hoặc bị cáo đã bị truy tố, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy còn có người đồng phạm khác hoặc có người phạm tội khác liên quan đến vụ
án, nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can
Như vậy “tội khác” ở đây là tội đã được VKS truy tố nhưng TA thấy cần xét
xử theo tội danh nặng hơn phù hợp với BLTTHS 2017 hoặc chưa được VKS truy
tố
Căn cứ “đồng phạm khác” là trường hợp chỉ khi nào TA xác định được có thêm đồng phạm khác thì TA trả hồ sơ cho VKS điều tra bổ sung hay có người phạm tội khác liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố bị can
1.3.1.4 Căn cứ cuối cùng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
Theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 4 BLTTHS 2015 thì:“Vi phạm
nghiêm trọng thủ tục tố tụng là việc cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử không thực hiện hoặc thực hiện
Trang 33không đúng, không đầy đủ các trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng hoặc làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án” [23, tr 8]
Đây là quy định mới của BLTTHS năm 2015 so với BLTTHS năm 2003 thể hiện sự nhất quán và hệ thống khi những quy định về giải thích này trước kia chỉ xuất hiện ở các Nghị quyết hướng dẫn của TAND tối cao thì nay được nâng lên tầm quy định của luật Điều này cũng giúp cho các Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên và những người tham gia tố tụng khác và người hành nghề luật, người dân dễ dàng truy cứu các từ ngữ trong Bộ luật này.[1, tr 9]
VKS trả hồ sơ tại điểm d khoản 1 Điều 245 có quy định, vi phạm nghiêm
trọng thủ tục tố tụng là việc cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định và đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng hoặc làm ảnh
hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án.[1, tr 241]
Trả hồ sơ được quy định điểm d khoản 1 Điều 280 khi việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tụng Là những vi phạm mà do việc
cơ quan tiến hành tố tụng không làm, làm sai hoặc làm không đúng với những quy định của pháp luật ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án hoặc xâm phạm đến quyền tố tụng, ảnh hưởng đến quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng Những vi phạm nghiêm trọng tố tụng như: xác định nhân thân của bị can, bị cáo bị sai Không thay đổi người tham gia tố tụng theo yêu cầu, hoặc không có phân công Hay người giám định, người phiên dịch, trong những trường hợp có lý do phải thay đổi; không trưng cầu giám định trong nghững trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định, có việc mớm cung, bức cung hay nhục hình với bị can, bị cáo [1, tr 272]
Vi phạm thủ tục tố tụng là không thực hiện đúng các quy định của BLTTHS nhưng không phải vi phạm nào cũng là vi phạm nghiêm trọng Chỉ những vi phạm
mà hậu quả có nguy cơ ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án
Trang 34mới xem là nghiêm trọng như: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử không đúng người, không đúng tội, để lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội; xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và của công dân được pháp luật bảo vệ
Tuy nhiên, xác định vi phạm tố tụng nào là nghiêm trọng không hề đơn giản Chưa quy định cụ thể “Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” nên khó phân biệt vi phạm nghiêm trọng và không nghiêm trọng, chủ thể tiến hành tố tụng thường mang tính chủ quan dẫn đến trả hồ sơ để điều tra bổ sung tùy tiện
Hiện nay đã có một khái niệm và hướng dẫn cụ thể hơn được quy định tại điểm o khoản 1 Điều 4 BLTTHS 2015 và các trường hợp vi pham tố tụng thì VKS,
TA trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP của VKSND tối cao - TAND tối cao – Bộ công an – Bộ quốc phòng ngày 22 tháng 12 năm 2017 hướng dẫn cụ thể:
a) Lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra mà theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự phải
có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát, nhưng không có phê chuẩn của Viện kiểm sát hoặc việc ký lệnh, quyết định tố tụng không đúng thẩm quyền;
b) Không chỉ định, thay đổi hoặc chấm dứt việc chỉ định người bào chữa cho người bị buộc tội theo quy định tại Điều 76 và Điều 77 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
c) Xác định không đúng tư cách tham gia tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến xâm hại nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của họ;
d) Khởi tố vụ án hình sự nhưng không có yêu cầu của bị hại hoặc của người đại diện của bị hại theo quy định tại khoản 1 Điều 155 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
đ) Nhập vụ án hoặc tách vụ án không đúng quy định tại Điều 170 hoặc Điều
242 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
e) Không cấp, giao, chuyển, gửi, niêm yết hoặc thông báo văn bản tố tụng gồm lệnh, quyết định, yêu cầu, kết luận điều tra, bản cáo trạng, bản án cho người bị buộc tội và những người tham gia tố tụng khác theo đúng quy định của pháp luật
Trang 35xâm hại nghiêm trọng đến quyền bào chữa, quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội và những người tham gia tố tụng khác;
g) Chưa điều tra, lập lý lịch của bị can; chưa xác định được những đặc điểm quan trọng về nhân thân của bị can, bị cáo (tuổi, tiền án, tiền sự), lý lịch hoạt động của pháp nhân thương mại phạm tội (tên, địa chỉ, những vấn đề khác liên quan đến
hồ sơ pháp lý của pháp nhân thương mại);
h) Không có người phiên dịch, người dịch thuật cho người tham gia tố tụng trong trường hợp họ không sử dụng được tiếng Việt hoặc tài liệu tố tụng không thể hiện bằng tiếng Việt; họ là người câm, người điếc, người mù theo quy định tại Điều
l) Biên bản về hoạt động điều tra, thu thập, nhận được tài liệu liên quan đến
vụ án mà không chuyển cho Viện kiểm sát theo đúng quy định tại khoản 5 Điều 88 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
m) Chứng cứ để chứng minh đối với vụ án đã được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố nhưng không đưa vào hồ sơ vụ án hoặc bị sửa chữa, thêm bớt dẫn đến sai lệch hồ sơ vụ án;
n) Việc điều tra, truy tố không đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật; o) Có căn cứ để xác định có việc bức cung, nhục hình trong quá trình tiến hành tố tụng làm cho lời khai của bị can không đúng sự thật;
p) Khiếu nại, tố cáo của bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không được giải quyết theo đúng quy định của pháp luật xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ;
q) Những trường hợp khác phải ghi rõ lý do trong quyết định trả hồ sơ để
Trang 36điều tra bổ sung
Các trường hợp vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng như trên đã để lại sự thống nhất trong nhận thức đối với những người tiến hành tố tụng trong việc trả hồ
sơ để điều tra bổ sung Thông tư 02 quy định rất rõ về vấn đề vi phạm tố tụng nên hạn chế được việc các ĐTV, KSV, TA trả hồ sơ vì vi phạm tố tụng
Thẩm phán có quyền trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi có căn cứ xác định khởi tố, điều tra, truy tố vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng theo điểm d khoản
1 Điều 280 BLTTHS 2015
Trong trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung quy định tại khoản 3 Điều
298 của BLTTHS 2015, Theo quy định tại Điều 7 Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP của VKSND tối cao - TAND tối cao – Bộ công an – Bộ quốc phòng ngày 22 tháng 12 năm 2017 hướng dẫn cụ thể một trong các trường hợp trường hợp Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi có căn cứ cho rằng bị can hoặc bị cáo phạm tội khác nặng hơn tội danh mà VKS đã truy tố thì thực hiện như sau:
- Trường hợp phải thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi
tố bị can về tội danh khác nặng hơn thì VKS trả hồ sơ cho CQĐT để điều tra bổ sung để thay đổi tội danh và kết luận điều tra về tội danh khác nặng hơn;
- Trường hợp VKS đã yêu cầu mà CQTĐ không thực hiện thì VKS ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can về tội danh khác nặng hơn và yêu cầu CQĐT thực hiện theo quy định tại Điều 156 và Điều 180 của BLTTHS
VKS, TA không trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều
6 Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP của VKSND tối cao - TAND tối cao – Bộ công an – Bộ quốc phòng ngày 22 tháng 12
năm 2017 hướng dẫn cụ thể một trong các trường hợp sau đây:
- Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, nhưng không xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng;
- Người bị buộc tội, người bị hại, người làm chứng là người dưới 18 tuổi
Trang 37nhưng khi thực hiện hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thì họ đã đủ 18 tuổi
1.3.2 Thời hạn trả hồ sơ điều tra bổ sung
Khoản 2 Điều 174 BLTTHS năm 2015 quy định về thời hạn trả hồ sơ điều tra bổ sung Căn cứ vào thẩm quyền trả hồ sơ để điều tra bổ sung được quy định tại Điều 245 và 280 BLTTHS 2015 Để đảm bảo hạn chế trả hồ sơ để điều tra bổ sung
và khắc phục tình trạng kéo dài việc điều tra bổ sung Khoản 2 Điều 174 BLTTHS
2015 đã quy định cụ thể số lần và thời hạn trả hồ sơ điều tra bổ sung “ Trường hợp
vụ án do Viện kiểm sát trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá 02 tháng; nếu do Tòa án trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá 01 tháng Viện kiểm sát chỉ được trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hai lần Thẩm phán chủ tọa phiên tòa chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung một lần và Hội đồng xét xử chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung một lần Thời hạn điều tra bổ sung tính từ ngày Cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ vụ án
và yêu cầu điều tra bổ sung”
BLTTHS năm 2015 được quy định rõ ràng tránh được các cách hiểu khác nhau về số lần trả hồ sơ điều tra bổ sung của VKS, TA Mặt khác quy định như vậy
sẽ nâng cao trách nhiệm của Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án, xét xử tại phiên tòa, đảm bảo giải quyết kịp thời, không kéo dài thời gian giải quyết vụ án
Ngoài ra, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định cụ thể hơn Bộ luật tố tụng hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009 về giới hạn xét xử của Tòa án tại Điều
298, cụ thể: “Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm
sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tôị
mà Viện kiểm sát đã truy tố; trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại
và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu Viện kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo
về tội danh nặng hơn đó” [23, tr 260]
Nhìn chung chế định TA trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong BLTTHS năm
Trang 382015 được quy định rõ ràng, cụ thể hơn và khắc phục được những vướng mắc của chế định TA trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong BLTTHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009
Theo Điều 8 Thông tư liên tịch 02/2017 thì: “Trong thời hạn quyết định việc truy tố hoặc chuẩn bị xét xử, VKS, TA phải nghiên cứu toàn diện hồ sơ vụ án nhằm kịp thời phát hiện các trường hợp phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung và ra quyết định ngay để điều tra bổ sung”
Có rất nhiều trường hợp TA trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung nhưng do VKS không đủ điều kiện không thể tự điều tra bổ sung được nên phải trả hồ sơ cho CQĐT để cơ quan này tiến hành điều tra bổ sung Trong BLTTHS năm 1999 sửa đổi năm 2009 không có chế tài hay quy định cụ thể nào nên xảy ra nhiều tình trạng
hồ sơ của TA trả VKS bị giữ lại ở VKS rất lâu sau đó mới chuyển cho CQĐT Mặt khác đối với hồ sơ TA trả VKS để điều tra bổ sung, BLTTHS cũng không quy định trong vòng bao nhiêu ngày TA phải chuyển hồ sơ sang VKS để điều tra bổ sung kể
từ ngày ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung nên một số ở một số đơn vị, Thẩm phán đã ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung rồi để quên hồ sơ đến hết thời hạn tạm giam mới chuyển sang VKS Tình trạng này gây kéo dài thời gian giải quyết vụ
án, đây là vấn đề cần hoàn thiện khi sửa đổi BLTTHS
1.3.3 Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung
Trước đây việc thực hiện quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung không được quy định trong BLTTHS mà chỉ được hướng dẫn trong phần 4 Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 5/11/2004 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao và Điều 6 Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC ngày 27/8/2010
BLTTHS năm 2015 đã được bổ sung vào luật quy định trả hồ sơ để điều tra
bổ sung tại khoản 3 Điều 280 cụ thể: “Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung phải ghi rõ những vấn đề cần điều tra bổ sung và gửi cho Viện kiểm sát kèm theo hồ sơ
vụ án trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định
Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn tới việc đình chỉ vụ án thì VKS ra quyết
Trang 39định đình chỉ vụ án và thông báo cho TA biết trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định
Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn tới phải thay đổi quyết định truy tố thì VKS ban hành bản cáo trạng mới thay thế bản cáo trạng trước đó
Trường hợp VKS không bổ sung được những vấn đề mà TA yêu cầu và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố thì TA tiến hành xét xử vụ án [1, tr 272]
BLTTHS 2015 đã quy định rất rõ về nội dung quyết định trả hồ sơ điều tra
bổ sung của các cơ quan tiến hành tố tụng đây là điểm mới trong Bộ luật này mà trước đây BLTTHS 2003 không có Điểm mới của BLTTHS 2015 làm cho các cơ quan tiến hành tố tụng hiểu rõ hơn về vấn đề thời gian cũng như quy định cụ thể về nội dung để trả điều tra bổ sung TA ra quyết định thì trong thời hạn 03 ngày phải chuyển hồ sơ vụ án và quyết định cho VKS
Và ngược lại VKS ra quyết định đình chỉ vụ án thì trong thời hạn 03 ngày VKS phải thông báo cho TA biết kể từ ngày ra quyết định
Mặc khác theo khoản 2 Điều 245 BLTTHS 2015 quy định :” Quyết định trả
hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung phải ghi rõ vấn đề cần điều tra bổ sung quy định tại khoản 1 Điều này và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật
này”.Khoản 2 Điều 132 được quy định cụ thể như sau: “Văn bản tố tụng ghi rõ: Số,
ngày, tháng, năm, địa điểm ban hành văn bản tố tụng; Căn cứ ban hành văn bản tố tụng; Nội dung của văn bản tố tụng; Họ tên, chức vụ, chữ ký của người ban hành văn bản tố tụng và đóng dấu.”
Kết thúc điều tra bổ sung, CQĐT phải có bản kết luận điều tra bổ sung Bản kết luận điều tra bổ sung phải ghi rõ kết quả điều tra bổ sung, quan điểm giải quyết
vụ án Nếu kết quả điều tra bổ sung làm thay đổi cơ bản kết luận điều tra trước đó thì CQĐT phải ra bản kết luận điều tra mới thay thế
Việc chuyển hồ sơ vụ án kèm theo kết luận điều tra bổ sung cho VKS; việc giao, nhận, gửi thông báo kết quả điều tra bổ sung được thực hiện theo quy định tại Điều 232 và Điều 238 của Bộ luật này [1, tr 241]
BLTTHS 2015 cũng quy định cụ thể mà BLTTHS 2003 không có, vấn đề
Trang 40Giải quyết yêu cầu điều tra bổ sung của TA cho VKS theo Điều 246 của BLTTHS
2015 thì Cùng với VKS, quyền trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung cũng được quy định cho TA Thẩm quyền này được quy định tại Điều 280 và điểm c khoản 6 Điều
326 BLTTHS TA trả hồ sơ vụ án yêu cầu điều tra bổ sung đối VKS Khi nhận được yêu cầu điều tra bổ sung của Tòa, VKS phải kiểm tra tính có căn cứ của việc yêu cầu điều tra bổ sung Tùy từng trường hợp, VKS giải quyết như sau:
Nếu quyết định yêu cầu trả yêu cầu điều tra bổ sung có căn cứ thì VKS tiếp nhận và giải quyết VKS có thể tự mình thực hiện yêu cầu điều tra bổ sung của tòa hoặc VKS ra quyết định trả hồ sơ vụ án cho CQĐT yêu cầu điều tra bổ sung VKS xét thấy không cần phải trả hồ sơ cho CQĐT thì VKS trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra để bổ sung tài liệu, chứng cứ; trường hợp VKS không thể tự điều tra bổ sung được thì VKS ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung và chuyển ngay hồ sơ cho CQĐT để tiến hành điều tra
Trường hợp kết quả điều tra bổ sung làm thay đổi cơ bản nội dung bản cáo trạng trước đó thì VKS phải ra bản cáo trạng mới thay thế và chuyển hồ sơ đến TA Kết quả điều tra bổ sung làm thay đổi nội dung cơ bản của bản cáo trạng là rường hợp sau khi điều tra bổ sung, có căn cứ xác định bị can phạm tội khác, có căn cứ khởi tố đồng phạm khác của bị can hoặc có căn cứ khởi tố bị can đối với người phạm tội khác liên quan đến vụ án…Trường hợp kết quả điều tra bổ sung dẫn đến đình chỉ vụ án thì VKS ra quyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho Tòa án biết;
Nếu quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung không có căn cứ thì VKS
có văn bản nêu rõ lý do, giữ nguyên quyết định truy tố và chuyển lại hồ sơ cho TA [1, tr 242]
Quyết định trả điều tra bổ sung của TA cũng được quy định rất rõ ràng về mặt nội dung cũng như thời gian, theo khoản 3 điều 280 BLTTHS 2015 quy định
rất cụ thể: “ Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung phải ghi rõ những vấn đề cần
điều tra bổ sung và gửi cho Viện kiểm sát kèm theo hồ sơ vụ án trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định
Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn tới việc đình chỉ vụ án thì Viện kiểm sát ra