Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng từ thực tiễn huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí MinhQuyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng từ thực tiễn huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí MinhQuyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng từ thực tiễn huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí MinhQuyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng từ thực tiễn huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí MinhQuyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng từ thực tiễn huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí MinhQuyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng từ thực tiễn huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí MinhQuyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng từ thực tiễn huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí MinhQuyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng từ thực tiễn huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí MinhQuyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng từ thực tiễn huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ KHẮC TUẤN
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT DƯỚI MỨC THẤP NHẤT CỦA KHUNG HÌNH PHẠT ĐƯỢC ÁP DỤNG TỪ THỰC TIỄN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HÀ NỘI, năm 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ KHẮC TUẤN
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT DƯỚI MỨC THẤP NHẤT CỦA KHUNG HÌNH PHẠT ĐƯỢC ÁP DỤNG TỪ THỰC TIỄN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn
là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Lê Khắc Tuấn
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT DƯỚI MỨC THẤP NHẤT CỦA KHUNG HÌNH PHẠT ĐƯỢC ÁP DỤNG 8
1.1 Khái niệm quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng 8 1.2 Ý nghĩa của quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng 16 1.3 Khái quát so sánh quy định về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng của một số nước trên thế giới (Liên bang Nga, Trung Quốc, Liên bang Đức) 17
Tiểu kết Chương 1 21 Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT DƯỚI MỨC THẤP NHẤT CỦA KHUNG HÌNH PHẠT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 23
2.1 Khái quát lịch sử quy định của pháp luật hình sự về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng 23 2.2 Quy định của Bộ luật hình sự 2015 về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng 29 2.3 Thực tiễn áp dụng quy định về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng tại Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố
Hồ Chí Minh 48
Tiểu kết Chương 2 53 Chương 3: YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT DƯỚI MỨC THẤP NHẤT CỦA KHUNG HÌNH PHẠT ĐƯỢC ÁP DỤNG 54
3.1 Yêu cầu nâng cao hiệu quả áp dụng quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt 54
Trang 53.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng 57
Tiểu kết Chương 3 75 KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6Quyết định hình phạt Tòa án nhân dân Trách nhiệm hình sự Tình tiết giảm nhẹ Tình tiết tăng nặng
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tình hình thụ lý và giải quyết các vụ án hình sự sơ thẩm của
TAND huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2013 đến năm 2017
Bảng 2.2: Tổng hợp các hình phạt áp dụng của TAND huyện Bình Chánh,
thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2013 đến năm 2017
Bảng 2.3: Tổng hợp số liệu về áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của
khung hình phạt được áp dụng của TAND huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2013 đến năm 2017
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
QĐHP là việc Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể áp dụng đối với người phạm tội tương tứng với tội danh cụ thể quy định tại BLHS năm 2015 Về nguyên tắc khi QĐHP, Tòa án chỉ được phép lựa chọn loại và mức hình phạt đã được quy định cụ thể tại khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội Bởi lẽ, khi xây dựng luật, nhà làm luật đã cân nhắc đến tính chất và mức độ nguy hiểm cho
xã hội của những trường hợp phạm tội khác nhau để phân ra thành những tội, loại tội phạm khác nhau và các khung hình phạt khác nhau BLHS nước ta không quy định các khung hình phạt cứng (nghĩa là chỉ có một mức hình phạt cố định để áp dụng cho từng tội phạm), mà trong mỗi khung hình phạt có định mức hình phạt tối thiểu và tối đa Điều này cho phép Tòa án có thể có điều kiện lựa chọn loại và mức hình phạt phù hợp với từng trường hợp phạm tội cụ thể
Hình phạt được quy định trong mỗi khung hình phạt là sự phản ánh tính chất
và mức độ nguy hiểm của tội phạm được quy định trong phạm vi khung hình phạt (khoản) tương ứng với tội danh nhất định Tuy nhiên, việc cân nhắc tính chất, mức
độ nguy hiểm của tội phạm để quy định khung hình phạt đối với nhà làm luật bao giờ cũng mang tính khái quát tương đối Nhà làm luật không thể có điều kiện để dự trù hết tất cả các trường hợp phạm tội khác nhau để quy định những hình phạt tương ứng đối với từng trường hợp phạm tội có thể xảy ra trên thực tế Bởi vậy, để tăng khả năng lựa chọn của Tòa án khi QĐHP đối với những trường hợp phạm tội cụ thể khác nhau, nhất là khả năng lựa chọn hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật áp dụng đối với người phạm tội, pháp luật hình sự Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới còn mở rộng trường hợp cho phép Tòa án có khả năng lựa chọn mức
độ và loại hình phạt tương ứng với cùng một hành vi nhưng ở những trường hợp khác nhau, đây là trường hợp QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được
áp dụng quy định của BLHS Cụ thể, trong trường hợp này, Tòa án có thể áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn
Trang 9QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng quy định tại BLHS có vai trò hết sức quan trọng là phương tiện để tạo ra sự công bằng xã hội và thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước đối với người thực hiện hành vi phạm tội, bên cạnh đó, còn bảo đảm hình phạt được áp dụng tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của các hành vi phạm tội Tuy nhiên, nếu lạm dụng quy định này để QĐHP quá nhẹ, không nghiêm khắc sẽ làm giảm tính
uy nghiêm của hình phạt, từ đó, hình phạt được áp dụng không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội dẫn đến mục đích của hình phạt không đạt được Đây là điều các nhà làm luật không mong muốn
Ngày 27/11/2015, Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung ngày 20/6/2017), có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018 So với BLHS năm 1999 thì BLHS năm 2015 có rất nhiều nội dung mới, đồng thời, đã khắc phục được những thiếu sót của BLHS năm 1999 Và quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng tiếp tục được kế thừa và quy định tại Điều 54 BLHS năm 2015 So với BLHS năm 1999 thì BLHS năm 2015 đã quy định cụ thể và mở rộng hơn các trường hợp cho phép Tòa
án QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, tạo thuận lợi cho người áp dụng pháp luật trong việc QĐHP Tuy nhiên, nhìn chung qua nghiên cứu, đánh giá và từ thực tiễn công tác, Tác giả nhận thấy quy định này vẫn có một số bất cập cần được nghiên cứu
Trên thực tế, hiện nay việc QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng còn nhiều vướng mắc và sai sót, điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó, có những nguyên nhân chủ quan từ phía người áp dụng pháp luật do không nghiên cứu toàn diện các quy định của pháp luật hình sự, tuy nhiên phần lớn các vướng mắc, bất cập xuất phát từ nguyên nhân khách quan là do những quy định của BLHS năm 2015 về vấn đề này còn chưa rõ ràng, chưa được hướng dẫn cụ thể, dẫn đến người áp dụng pháp luật mà chủ yếu là Tòa án còn tỏ ra lúng túng khi vận dụng các quy định này trong quá trình giải quyết vụ án
Trang 10Do đó, việc nghiên cứu quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng trên phương diện lý luận là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật hình sự để đáp ứng yêu cầu thực tiễn xét xử của ngành Tòa án trong giai đoạn hiện nay Bên cạnh đó, việc nghiên cứu này không thể chỉ dừng lại ở phạm vi lý luận mà cần có sự mở rộng nghiên cứu trên phạm vi thực tiễn, bởi việc đối chiếu giữa lý luận với thực tiễn xét xử của Ngành Tòa án sẽ cho chúng ta những dẫn chứng sinh động về hoạt động QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng của Tòa án, từ đó có những nhìn nhận, đánh giá toàn diện, khách quan hơn Nếu làm được điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng quyết định và áp dụng hình phạt, đáp ứng mục tiêu nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác xét xử các vụ án hình sự
Đó cũng chính là lý do mà Tác giả quyết định chọn Đề tài “QĐHP dưới mức
thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng từ thực tiễn huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh” cho luận văn tốt nghiệp của mình Theo đó, Đề tài cũng gắn liền
với thực tiễn công tác của Tác giả tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Do có nhiều cách hiểu và những vướng mắc như tác giả đã phân tích ở trên nên quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng được nhiều tác giả uy tín trong lĩnh vực hình sự nghiên cứu và đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu khoa học khác nhau, như: “Một số ý kiến về áp dụng Điều 38 Khoản 3 Bộ luật Hình sự” của tác giả Trần Văn Độ năm 1989; “Vấn đề quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình sự” của tác giả Dương Tuyết Miên; “Căn cứ quyết định hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam, những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Lê Tường Vi năm 2007; “Tìm hiểu về hình phạt và quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam” của Thạc sĩ Đinh Văn Quế Bên cạnh đó, có bài viết “Các Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam” của Tiến sĩ Trần Thị Quang Vinh và luận văn: “Quyết định
Trang 11hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” năm 2017 của tác giả Phạm Thanh Thủy
Các bài viết này cũng đã bước đầu nghiên cứu đến nội dung QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, trong đó chỉ ra được các điều kiện cũng như là giới hạn của QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được
áp dụng Tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở mức độ nghiên cứu là các bài viết ngắn, chưa phân tích chuyên sâu về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng Đồng thời, các luận án, luận văn nêu trên chủ yếu phân tích QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng trong bối cảnh BLHS năm 1999 và có
đề cập sơ qua về quy định này trong BLHS năm 2015 Đồng thời, chưa phân tích được những khó khăn, vướng mắc của quy định QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng theo BLHS năm 2015
Trên trang wed kiemsat.vn ngày 12/3/2018 có đăng bài: “Điểm mới về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt” của tác giả Dương Văn Hưng-TAQS Khu vực 1 Quân chủng Hải Quân Bài viết này đã phân tích quy định QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng ở góc độ lý luận, những điểm mới của quy định này so với Điều 47 BLHS năm 1999 Tuy nhiên, chưa phân tích chuyên sâu về điều kiện áp dụng và giới hạn hình phạt về quy định này
Mặt khác, BLHS năm 2015 vừa có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018, đến nay chưa có Nghị định nào hướng dẫn BLHS năm 2015, do đó, các công trình nghiên cứu về vấn đề QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng trong BLHS năm 2015 có thể có nhưng chưa nhiều, đồng thời, trong bối cảnh BLHS năm 2015 vừa có hiệu lực thi hành chắc chắn sẽ có nhiều vướng mắc, bất cập mới phát sinh trong việc áp dụng pháp luật trên thực tiễn Do đó, nội dung này cần tiếp tục được mở rộng nghiên cứu ở nhiều mức độ khác nhau, trong đó, có kế thừa các các công trình nghiên cứu nêu trên về điều kiện và giới hạn của QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
Trang 123 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu toàn diện có hệ thống về các vấn đề lý luận và thực tiễn quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, đồng thời phân tích chuyên sâu quy định này kèm theo đánh giá thực tiễn áp dụng quy định này tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn năm 2013-2017; chỉ ra một số vướng mắt, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng pháp luật của Tòa án, từ đó đề xuất những yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục đích nêu trên, Luận văn phải thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau:
- Làm rõ những nội dung về mặt pháp lý cơ bản của quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng theo quy định của BLHS năm
2015 và một số nước trên thế giới Trong đó, có đề cập đến lịch sử hình thành quy định này theo quy định của pháp luật
- Phân tích những quy định của BLHS về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
- Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn năm 2013-2017; Phân tích các thiếu sót, vướng mắc trong thực tiễn xét xử và nguyên nhân của chúng để từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quy định của BLHS (bao gồm việc ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng) và các giải pháp khác nâng cao hiệu quả áp dụng về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Đề tài là những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật, chủ yếu là BLHS 2015 về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và thực tiễn áp dụng
Trang 134.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu lý luận, quy định của pháp luật (chủ yếu là BLHS 2015) về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và thực tiễn áp dụng của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng từ năm 2013 đến 2017
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc trưng của luật học như
so sánh, thống kê, phân tích, tổng hợp, lịch sử, tổng kết kinh nghiệm, xã hội học Tùy thuộc vào khách thể và đối tượng nghiên cứu trong từng chương, mục của Đề tài, sẽ có phương pháp nghiên cứu phù hợp Tuy nhiên, để đạt được mục đích nghiên cứu, tác giả kết hợp chặt chẽ các phương pháp này trong quá trình nghiên cứu toàn bộ nội dung Luận văn, tất nhiên có xác định phương pháp chủ đạo trong nghiên cứu từng chương, mục cụ thể
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Phân tích lý luận về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng trên cơ sở phân tích, đánh giá từ thực tiễn áp dụng quy định này tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh để đề xuất những yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng Đây là cơ sở quan trọng để nghiên cứu và hoàn thiện quy định này Hơn nữa góp phần nhận thức đúng căn cứ QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng trong thực tiễn
Trang 146.2 Ý nghĩa thực tiễn
Điểm mới quan trọng nhất của luận văn là phân tích những điểm chưa rõ ràng và có nhiều cách hiểu, cách áp dụng khác nhau của quy định QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng từ đó đưa ra giải pháp phù hợp nhất nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này
Luận văn cũng có thể là tài liệu nghiên cứu đối với những người quan tâm đến quy định QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm có 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng;
Chương 2: Quy định của pháp luật hình sự về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh;
Chương 3: Yêu cầu và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
Trang 15Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT DƯỚI MỨC
THẤP NHẤT CỦA KHUNG HÌNH PHẠT ĐƯỢC ÁP DỤNG
1.1 Khái niệm quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
1.1.1 Bản chất của quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng là một dạng của QĐHP Do đó, QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng sẽ mang một số đặc điểm chung của QĐHP như: Cùng là hoạt động áp dụng pháp luật trong thực tiễn của Hội đồng xét xử; Việc áp dụng phải căn cứ vào tính chất và mức
độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các TTTN, giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 Bên cạnh những đặc điểm chung này, QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt còn mang một số những đặc điểm riêng, còn được gọi là bản chất của riêng của quy định này
Pháp luật hình sự hiện hành không có quy định về khái niệm QĐHP và QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
Theo Luận án tiến sĩ của tác giả Dương Tuyết Miên “Quyết định hình phạt là
hoạt động thực tiễn của Tòa án (Hội đồng xét xử) được thực hiện sau khi đã xác định được tội danh để định ra biện pháp xử lý tương ứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm bị cáo đã thực hiện Nội dung của hoạt động quyết định hình phạt có thể là miễn TNHS hoặc có thể là miễn hình phạt (trong trường hợp này hoạt động quyết định hình phạt chấm dứt tại đây) hoặc nếu Tòa án quyết định áp dụng hình phạt thì hoạt động quyết định hình phạt bao gồm việc xác định khung hình phạt và việc xác định hình phạt cụ thể trong phạm vi luật cho phép đối với bị cáo” [23, tr 4]
Về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, hiện nay
có rất nhiều quan điểm của nhiều tác giả khác nhau, cụ thể:
Trang 16Theo Ths Đinh Văn Quế tại bài tìm hiểu về hình phạt và quyết định hình
phạt trong Bộ luật Hình sự Việt Nam thì: “QĐHP dưới mức thấp nhất của khung
hình phạt là trường hợp Tòa án có thể áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn”[24, tr 220]
Theo Giáo trình luật Hình sự (Phần chung) của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội thì QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định tức là áp dụng hình phạt đó với mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định đối với tội phạm bị xét xử, còn chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn nghĩa là thay thế loại hình phạt được quy định trong điều luật về tội phạm bị xét xử bằng một loại hình phạt khác nhẹ hơn không được quy định trong điều luật [40, tr 332]
Tuy nhiên, các khái niệm này chưa phân tích các tiêu chí đánh giá khách quan các quy định của pháp luật, chưa nêu ra được các điều kiện áp dụng QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng theo BLHS năm 2015 Hơn nữa, các khái niệm này được hình thành từ nền tảng BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, hiện nay đã thay thế bởi BLHS năm 2015
Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng có một số đặc điểm như sau:
- QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng là một dạng của QĐHP sau khi định tội danh và xác định khung hình phạt mà người phạm tội bị xét xử
- Là hoạt động chỉ do Tòa án (Hội đồng xét xử) thực hiện khi QĐHP bằng cách đưa ra mức hình phạt cụ thể đối với người phạm tội bằng bản án của Tòa án
- Chỉ áp dụng khi có các điều kiện quy định tại Điều 54 BLHS năm 2015
- QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của Điều luật (trừ trường hợp đồng phạm lần đầu với vai trò giúp sức không đáng kể) hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn
Trang 17- Thể hiện chính sách nhân đạo, cá thể hóa trong quyết định hình phạt
Từ những phân tích nêu trên có thể hiểu bản chất của việc QĐHP dưới mức
thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng như sau: “QĐHP dưới mức thấp nhất
của khung hình phạt được áp dụng là chế định đặc biệt trong QĐHP thể hiện chính sách nhân đạo, cá thể hóa hình phạt đối với người phạm tội, nhằm đạt được mục đích hình phạt do Tòa án (Hội đồng xét xử) thực hiện dựa trên cơ sở những điều kiện luật định và tùy trường hợp quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn”
1.1.2 Mục đích của quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong BLHS năm 2015, do Tòa án áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó (Điều 30 BLHS năm 2015)
Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội
mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm (Điều 31 BLHS năm 2015)
BLHS năm 2015 không có quy định mục đích của QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng Tuy nhiên, theo tác giả mục đích của QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cũng chính là mục đích của hình phạt thông qua hoạt động xét xử của Tòa án Cụ thể, mục đích của QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm
Ngoài ra, QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng là một trong những nội dung để thực hiện nguyên tắc xử lý quy định tại Điều 3 BLHS
Trang 18năm 2015 như thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước ta đối với người phạm tội; Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt đối với người phạm tội trong vụ án có đồng phạm
để tạo ra sự công bằng trong việc QĐHP
1.1.3 Điều kiện quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng là trường hợp đặc biệt của QĐHP Tùy trường hợp, khi áp dụng quy định này thì Tòa án có thể QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của Điều luật hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn
Tuy nhiên, việc áp dụng quy định QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng không chính xác sẽ dẫn đến hình phạt áp dụng cho người phạm tội quá nhẹ không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho cho xã hội của tội phạm, nhân thân người phạm tội, từ đó, ảnh hưởng đến mục đích của hình phạt được áp dụng Do đó, để đảm bảo áp dụng quy định này thống nhất trong thực tiễn và tránh tình trạng Tòa án áp dụng tùy tiện khi xét xử thì cần phải hiểu đúng quy định của pháp luật về điều kiện áp dụng chế định này
Điều 54 BLHS năm 2015 quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung
hình phạt được áp dụng như sau: “1 Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới
mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này; 2 Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể; 3 Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể QĐHP dưới mức thấp nhất của khung
Trang 19hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án”
Như vậy, khi có một trong các điều kiện sau đây thì Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng:
- Có ít nhất hai TTGN quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015;
- Người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể;
- Điều kiện quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn
1.1.3.1 Có ít nhất hai TTGN quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS năm
2015
Điều 51 BLHS nước ta quy định hai loại tình tiết giảm nhẹ TNHS: tình tiết giảm nhẹ do luật định (khoản 1) và TTGN do Toà án xem xét quyết định trong các trường hợp cụ thể nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án (khoản 2)
Khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 quy định các tình tiết TTGN TNHS từ điểm a đến điểm x Nhìn chung, mỗi điểm của điều luật quy định một TTGN; nhưng cũng có những điểm còn có quan điểm khác nhau trong lý luận cũng như thực tiễn áp dụng Đó là:
- Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm
(điểm a)
Quy định này kế thừa BLHS năm 1999, tuy nhiên, có thay dấu phẩy sau mỗi TTGN bằng từ “hoặc” Do đó, làm phát sinh vấn đề đây là một hay hai TTGN được quy định tại một điểm Chúng tôi cho rằng, đây là hai mức độ khác nhau của một tình tiết: 1/ người phạm tội đã ngăn chặn không cho hành vi phạm tội gây tác hại Nếu có tình tiết này thì sẽ không có tình tiết sau 2/ làm giảm bớt tác hại của tội phạm Trong trường hợp này mặc dù người phạm tội không ngăn chặn được hoàn toàn, nhưng đã có hành vi làm giảm một phần tác hại Cho nên, hai hành vi này không thể đồng thời tồn tại trên thực tế; nên người làm luật sử dụng từ hoặc Việc thay thế bằng từ “hoặc” trong BLHS 2015 hoàn toàn mang tính ngôn ngữ, không
Trang 20mang bản chất pháp lý Nên đây được xem là một TTGN TNHS, vì nó thể hiện sự tích cực của người phạm tội đối với hành vi phạm tội của mình nhằm giảm bớt hậu quả thiệt hại thực tế có thể xảy ra
- Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả (điểm b)
Quy định này được hiểu là người phạm tội tự nguyện thực hiện việc sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả Đây là ba hành vi có cùng một ý nghĩa là hạn chế hậu quả của tội phạm đã xảy ra Cho nên người phạm tội thực hiện
một, hai hay cả ba hành vi đều là một TTGN TNHS
- Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn (điểm h)
Cũng như quy định tại điểm a, đây là hai ý loại trừ nhau, không đồng thời tồn tại trong một trường hợp phạm tội Cho nên, chỉ cần có một tình tiết thì đã là TTGN TNHS Không thể coi đây là hai tình tiết giảm nhẹ
- Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (điểm i)
Đây là hai yếu tố cần và đủ của một tình tiết Người phạm tội lần đầu chỉ trong trường hợp ít nghiêm trọng mới được coi là một TTGN TNHS
- Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải
Thành khẩn khai báo được hiểu là người phạm tội trong quá trình tố tụng (điều tra, truy tố, xét xử) đã khai đầy đủ và đúng sự thật những gì liên quan đến hành vi phạm tội mà họ đã thực hiện Việc người phạm tội thành khẩn khai báo giúp cho quá trình tố tụng được nhanh chóng, đúng người, đúng tội
Ăn năn hối cải là trường hợp sau khi thực hiện tội phạm, người phạm tội thể hiện sự hối hận, cắn rứt, dày vò lương tâm về hành vi phạm tội của mình nên chứng minh cho việc mình muốn sửa chữa, cải tạo thành người có ích cho xã hội, bù đắp những tổn thất, thiệt hại do hành vi phạm tội của mình gây ra
Tuy nhiên có được xem “ người phạm tội thành khẩn khai báo” và “người phạm tội ăn năn hối cải” là hai TTGN TNHS hay không Quan điểm của tác giả,
“thành khẩn khai báo” và “ăn năn hối cải” là hai trường hợp khác nhau, có trường hợp thành khẩn khai báo nhưng không ăn năn hối cải hoặc ngược lại không thành
Trang 21khẩn khai báo nhưng ăn năn hối cải Những trường hợp như vậy vẫn phải xem đó là các TTGN TNHS, vì xét cho cùng hai tình tiết này đều thể hiện sự tích cực từ người phạm tội đối với người tiến hành tố tụng hoặc đối với xã hội TAND tối cao cần ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể quy định này để thực tiễn áp dụng pháp luật cho thống nhất Thực tế áp dụng cho thấy đã có rất nhiều Tòa án xem đây là hai TTGN TNHS khác nhau
1.1.3.2 Người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể
Đây là quy định mới được bổ sung trong BLHS 2015 về chế định này Việc
áp dụng khoản 2 Điều 54 BLHS cần chú ý mấy điểm sau:
- Để áp dụng khoản này cần thiết phải có đủ 3 điều kiện: 1/ Chỉ áp dụng đối với người giúp sức trong vụ án đồng phạm; 2/ Vai trò đồng phạm trong vụ án không đáng kể; 3/ Người phạm tội lần đầu;
- Việc áp dụng khoản này của điều luật không cần có nhiều TTGN Bởi vì, khoản 1, khoản 2 Điều 54 BLHS là hai khoản độc lập với các điều kiện áp dụng độc lập Cho nên các điều kiện quy định tại khoản 1 không bắt buộc phải có ở khoản 2;
- Mức hình phạt được quyết định không nhất thiết ở khung liền kề nhẹ hơn của điều luật; mà có thể ở tất cả các khung nhẹ hơn; thậm chí có thể chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn nếu có đủ điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 54 BLHS
Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể Đây là quy định mới của BLHS 2015 so với BLHS năm 1999 Việc quy định này thể hiện trình độ lập pháp của nước ta đã phát triển thêm một bậc khi cá thể hóa hình phạt Việc cá thể hóa hình phạt thể hiện ở chỗ việc QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng vai trò không đáng kể
Trang 22Phạm tội lần đầu là từ trước đến nay chưa phạm tội lần nào Nếu trước đó đã phạm tội và bị kết án, nhưng đã được xóa án tích hoặc chưa bị kết án, nhưng đã hết thời hiệu truy cứu TNHS hoặc chưa bị kết án, chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS nay bị truy cứu TNHS trong cùng lần phạm tội sau, thì không được coi là phạm tội lần đầu (Giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ số 01/2017-GĐ-TANDTC) Theo đó, những người đã từng phạm tội mà tiếp tục phạm tội thì lần phạm tội bị Tòa án đang xét xử không thể coi là “phạm tội lần đầu”
“Người giúp sức” là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm (khoản 3 Điều 17 BLHS năm 2015) “Đồng phạm” là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm (khoản 1 Điều 17 BLHS năm 2015) Riêng cụm từ “Có vai trò không đáng kể”, hiện nay chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể Hành vi của người phạm tội trong trường hợp nào sẽ được xem là
có vai trò không đáng kể… Do đó, thực tiễn áp dụng sẽ lúng túng hoặc áp dụng quy định này không thống nhất
1.1.3.3 Điều kiện quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn
Theo quy định tại khoản 3 Điều 54 BHS năm 2015 thì khi QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn Tuy nhiên, để áp dụng quy định này, cần đảm bảo có đủ các
điều kiện sau:
- Bị cáo phải có đủ các điều kiện để QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 54 BLHS năm
2015 nêu trên, có nghĩa là phải có ít nhất hai TTGN TNHS quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 hoặc điều kiện người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể Đây được xem là điều kiện cần
- Điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt bị cáo bị truy
tố, xét xử là khung hình phạt nhẹ nhất Nếu điều luật bị cáo bị xét xử có nhiều
Trang 23khung hình phạt hoặc khung hình phạt bị cáo bị xét xử không phải là khung hình phạt nhẹ nhất thì sẽ thuộc trường hợp QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 54 BLHS năm 2015
1.2 Ý nghĩa của quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
1.2.1 Ý nghĩa chính trị - xã hội
Việc quy định QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng trong BLHS năm 2015 có ý nghĩa chính trị- xã hội rất quan trọng vì đã tạo ra sự công bằng xã hội trong lĩnh vực hình sự, thể hiện rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước
ta đối với tình hình tội phạm ở từng giai đoạn nhất định Sự công bằng xã hội trong lĩnh vực hình sự cho thấy tất cả mọi cá nhân, pháp nhân đều ngang nhau, bình đẳng trước pháp luật và mọi hành vi vi phạm pháp luật thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật hình sự đều phải xử lý nghiêm Bên cạnh đó việc quy định QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt thể hiện cơ sở truy cứu TNHS giống nhau đối với tất cả chủ thể phạm tội; Quy định hệ thống các tội phạm và hình phạt thống nhất đối với tất cả các chủ thể phạm tội…
1.2.2 Ý nghĩa pháp lý hình sự
QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng có nghĩa pháp
lý hình sự quan trọng, cụ thể: Là một trong những nội dung thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội Bên cạnh đó, quy định này có ý nghĩa rất lớn trong việc thực hiện nguyên tắc cá thể hóa hình phạt của luật hình sự Người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng nhất với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Ngoài ra, chế định QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng còn là cơ sở quan trọng để xây dựng và hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam phù hợp với quy định của pháp luật hình sự thế giới, phù hợp với các điều ước mà Việt Nam là thành viên
1.2.3 Ý nghĩa giáo dục cải tạo người phạm tội
Bên cạnh ý nghĩa về chính trị-xã hội, ý nghĩa về pháp lý hình sự, QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng còn có ý nghĩa giáo dục, cải tạo
Trang 24người phạm tội vì giáo dục, cải tạo người phạm tội là mục đích của hình phạt Việc QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng càng sát với tính chất
và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội càng có ý nghĩa giáo dục, cải tạo người phạm tội Họ sẽ sớm cải tạo và trở lại xã hội, xây dựng cuộc sống, khắc phục lỗi lầm đã gây ra, đóng góp vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước Ngược lại, nếu QĐHP không phù hợp sẽ ảnh hưởng đến quá trình giáo dục, cải tạo người phạm tội và ý thức tự nguyên chấp hành pháp luật của họ
1.3 Khái quát so sánh quy định về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng của một số nước trên thế giới (Liên bang Nga, Trung Quốc, Liên bang Đức)
1.3.1 Những điểm tương đồng và khác biệt
Quy định QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng là một trong những nội dung thể hiện chính sách khoan hồng của một Nhà nước đối với người thực hiện hành vi phạm tội nên được nhiều nước quy định, trong đó, có Nước Liên bang Nga, Trung Quốc và Liên bang Đức
BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được Quốc hội Trung Hoa thông qua ngày 01/7/1997, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1990 Trong đó, quy định về QĐHP nhẹ hơn khung hình phạt quy định được quy định tại Điều 63 của BLHS
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, cụ thể: “Khi có TTGN mà Bộ luật này quy định
được áp dụng một hình phạt giảm nhẹ thì phải QĐHP theo khung hình phạt nhẹ hơn theo quy định Trong trường hợp không có TTGN theo quy định của Bộ luật này, nhưng căn cứ vào tình tiết đặc thù của vụ án, TAND tối cao có thể QĐHP nhẹ hơn trong khung hình phạt” Các điều kiện về TTGN là điều kiện để QĐHP theo
khung hình phạt nhẹ hơn quy định tại BLHS nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa chỉ có hai TTGN là “tự thú và “lập công” quy định tại Điều 67 và Điều 68 Cụ thể:
“Sau khi phạm tội mà tự nguyện đầu thú với công an và thật thà khai báo hành vi phạm tội của bản thân thì gọi là tự thú Đối với người phạm tội mà tự thú thì có thể
xử phạt nhẹ hơn hoặc áp dụng một khung hình phạt nhẹ hơn…” (Điều 67) và “Nếu người phạm tội có biểu hiện lập công như vạch trần được hành vi phạm tội của
Trang 25người khác qua kiểm tra thực tế thấy đúng hoặc cung cấp những manh mối quan trọng để từ đó phá được vụ án khác thì có thể xử phạt nhẹ hơn hoặc áp dụng một khung hình phạt nhẹ hơn, Đối với người tự thú và lập công lớn, sau khi phạm tội thì có thể áp dụng một khung hình phạt nhẹ hơn hoặc miễn hình phạt.” và (Điều
68) [12, tr 60-63]
BLHS Liên Bang nga được thông qua ngày 24/5/1996, được Hội đồng Liên bang phê chuẩn ngày 05/6/1996, bao gồm 360 Điều Trong đó, quy định về QĐHP
nhẹ hơn quy định của Bộ luật được quy định tại Điều 64 Bộ luật này, cụ thể: “1
Khi có các tình tiết loại trừ TNHS liên quan đến mục đích và động cơ phạm tội, vai trò, hành vi của người tham gia trong thời điểm và sau khi phạm tội và các tình tiết khác làm giảm đáng kể mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và khi người phạm tội theo nhóm có hành động giúp đỡ tích cực việc khám phá tội phạm thì hình phạt có thể được quyết định nhẹ hơn mức thấp nhất của khung hình phạt được quy định tại điều luật tương ứng ở Phần riêng của Bộ luật này, hoặc Tòa án
có thể QĐHP nhẹ hơn hình phạt đã được Điều luật này quy định hoặc không QĐHP bổ sung khi hình phạt này là bắt buộc…[42, tr 86-87]
BLHS Liên bang Đức quy định về Các căn cứ giảm nhẹ luật định đặc biệt tại
Điều 49 như sau: “(1) Nếu có sự giảm nhẹ được quy định hoặc cho phép theo quy
định thì việc giảm nhẹ được thực hiện như sau: 1 Thay cho hình phạt tự do suốt đời
là hình phạt tự do không dưới 3 năm; 2 Đối với hình phạt tự do có thời hạn thì mức cao nhất được quyết định chỉ có thể bằng ba phần tư của mức hình phạt cao nhất được quy định Đối với hình phạt tiền thì mức cao nhất của đơn vị ngày thu nhập cũng như vậy; 3 Mức thấp nhất gia tăng của hình phạt tự do được giảm còn 2 năm trong trường hợp mức thấp nhất là 10 hoặc 5 năm, còn 6 tháng trong trường hợp mức thấp nhất là 3 năm hoặc 2 năm, còn 3 tháng trong trường hợp mức thấp nhất
là 1 năm, bằng mức thấp nhất mà luật quy định trong các trường hợp còn lại (2) Nếu tòa án được phép giảm nhẹ hình phạt theo đánh giá của mình trên cơ sở của một luật khác được chỉ dẫn đến quy định này thì có thể giảm đến mức thấp nhất của
Trang 26loại hình phạt mà luật quy định hoặc có thể thay thế hình phạt tự do bằng hình phạt tiền” [41, tr 50-52]
Từ các quy định nêu trên có thể thấy, mặc dù có sự khác nhau về tên gọi nhưng cả BLHS của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và Nước Liên bang Nga
và Liên bang Đức đều quy định về QĐHP trong trường hợp đặc biệt (QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng) Đồng thời, điều kiện để QĐHP trong trường hợp này có điểm giống nhau là có thể căn cứ các TTGN để QĐHP Tuy nhiên, về điều kiện cụ thể và giới hạn QĐHP đặc biệt tại BLHS của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Nga và Đức có một số khác biệt như sau:
- Trong khi BLHS nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định điều kiện
QĐHP nhẹ hơn khung hình phạt rất khắt khe là “Khi có TTGN” (Chỉ có hai TTGN
là “tự thú và “lập công”) và thẩm quyền QĐHP trường hợp không có các TTGN theo quy định là TAND tối cao thì BLHS Liên bang Nga quy định điều kiện để QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng thoáng hơn, linh hoạt
hơn giao cho Tòa án tùy nghi quyết định “Khi có các tình tiết loại trừ TNHS liên
quan đến mục đích và động cơ phạm tội, vai trò, hành vi của người tham gia trong thời điểm và sau khi phạm tội và các tình tiết khác” Còn BLHS nước Liên Bang
Đức thì quy định điều kiện để QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được
áp dụng là “Nếu có sự giảm nhẹ được quy định hoặc cho phép theo quy định” hoặc
“tòa án được phép giảm nhẹ hình phạt theo đánh giá của mình trên cơ sở của một luật khác” BLHS Liên bang Đức vừa quy định chặt chẽ về điều kiện áp dụng tại
khoản 1, Điều 49 nhưng cũng đồng thời giao quyền cho tòa án tùy nghi được đánh giá điều kiện để QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
- Giới hạn QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng của BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa không được quy định Trong khi đó, BLHS nước Liên Bang Nga quy định Tòa án có thể được quyết định nhẹ hơn mức thấp nhất của khung hình phạt được quy định tại điều luật tương ứng ở Phần riêng của
Bộ luật, có thể QĐHP nhẹ hơn hình phạt đã được Điều luật này quy định hoặc không QĐHP bổ sung khi hình phạt này là bắt buộc Còn BLHS nước Liên bang
Trang 27Đức quy định giới hạn QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng rất chi tiết, cụ thể mức áp dụng đối với từng loại hình phạt như trích dẫn nêu trên, thuận lợi cho Tòa án QĐHP
1.3.2 Những kinh nghiệm cho Việt Nam
Qua phân tích những điểm tương đồng và khác biệt về quy định QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng của một số nước nêu trên, có thể thấy như sau:
So với quy định tại Điều 54 của BLHS năm 2015 thì thấy rằng điều kiện để QĐHP dưới mức tối thiểu của chế tài của BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa khắc khe hơn nhiều, vì chỉ quy định hai TTGN đặc biệt luật định là “tự thú” và “lập công” thì mới được áp dụng hình phạt dưới mức tối thiểu của chế tài, trong khi đó thì các TTGN dùng làm căn cứ để QĐHP dưới mức thấp nhất quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 thì có nhiều Về điều kiện TTGN thì BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định tương đối chặt chẽ chỉ có những TTGN đặc biệt mới được giảm nhẹ dưới mức tối thiểu của chế tài, nhưng về giới hạn giảm nhẹ thì không được quy định nên có thể dẫn đến tùy tiện, thiếu thống nhất trong khi áp dụng quy định này vào thực tiễn xét xử
So với Điều 54 BLHS năm 2015, quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng trong BLHS của nước Liên bang Nga thoáng hơn, Tòa án tùy nghi đánh giá điều kiện áp dụng quy định này Tuy nhiên khi áp dụng trên thực tế quy định này có thể sẽ dẫn đến việc tùy tiện
Quy định về quy định QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được
áp dụng tại BLHS Liên bang Đức vừa chặt chẽ, vừa linh hoạt về điều kiện và giới hạn QĐHP So với quy định tại Điều 54 BLHS năm 2015 thì căn cứ giảm nhẹ luật định đặc biệt của BLHS Liên bang Đức không quy định phải từ hai TTGN trở lên,
do đó, chỉ cần có sự giảm nhẹ được quy định hoặc cho phép được quy định là áp dụng quyết định giảm nhẹ luật định đặc biệt Ngoài ra, BLHS Liên bang Đức không quy định cụ thể các căn cứ giảm nhẹ hình phạt mà để Tòa án xác định trên cơ sở quy định của Luật hình sự hoặc một Luật khác được chỉ dẫn đến BLHS Như vậy,
Trang 28so với BLHS Việt Nam quy định QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt của BLHS Liên bang Đức tạo ra sự linh hoạt tối đa cho Tòa án và Tòa án sẽ linh hoạt hơn trong đánh giá tình tiết nào là TTGN để áp dụng hình phạt nhẹ hơn Tuy nhiên, việc quy định như trên có thể dẫn đến không thống nhất trong thực tiễn áp dụng pháp luật và việc áp dụng đòi hỏi trình độ, kinh nghiệm của đội ngũ Thẩm phán là rất lớn và án lệ phải rất phổ biến, phát triển
Tùy thuộc vào mỗi một quốc gia với những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau, khả năng nhận thức pháp luật khác nhau mà nhà làm luật cũng có những cách thức quy định khác nhau về cùng một vấn đề Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế, chính trị và xã hội của đất nước; xu hướng toàn cầu hóa, nhân đạo hóa thì nhiều vấn đề của luật hình sự trong đó có quy định QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cần tiếp tục được nghiên cứu hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu cấp thiết trong hoạt động xét xử của ngành Tòa án cũng như yêu cầu cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị trong giai đoạn hiện nay Từ khái quát so sánh, nhận xét và đánh giá về quy định QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng của các nước nêu trên, tác giả cho rằng, nhà làm luật Việt Nam cần có những nghiên cứu, tiếp thu tinh thần tiến bộ về quy định QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng của nước Liên bang Đức như đã phân tích nêu trên để xây dựng và hoàn thiện quy định QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng trong BLHS Việt Nam Tuy nhiên, việc nghiên cứu, thay đổi (nếu có) này cũng cần có lộ trình để đảm bảo phù hợp với các điều kiện thực tiễn tại Việt Nam
2015 hoặc người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng
có vai trò không đáng kể Đồng thời, tác giả phân tích được các ý nghĩa của quy
Trang 29định này (như: ý nghĩa chính trị-xã hội; ý nghĩa pháp lý hình sự và ý nghĩa giáo dục cải tạo người phạm tội); Hơn nữa, được tác giả khái quát so sánh quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng của một số nước trên thế giới (như Liên bang Nga, Trung Quốc, Liên bang Đức) và từ đó nêu ra được kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc xây dựng và hoàn thiện quy định QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
Trang 30Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT DƯỚI MỨC THẤP NHẤT CỦA KHUNG HÌNH PHẠT VÀ THỰC TIỄN ÁP
DỤNG TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Khái quát lịch sử quy định của pháp luật hình sự về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
2.1.1 Quy định về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng trong pháp luật hình sự từ năm 1945 đến năm 1985
Kể từ năm 1945 đến năm 1975 có rất nhiều Sắc lệnh được Chủ tịch nước ký ban hành, trong những sắc lệnh đó có một số Sắc lệnh liên quan đến quy định QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng Quy định QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng xuất hiện đầu tiên tại Điều thứ 22 của Sắc lệnh số 40-SL ngày 29/3/1946 của Chủ tịch nước về bảo đảm tự do
cá nhân, cụ thể: “Nếu có những lý do đáng khoan hồng, thì những người can vào
Điều 18 có thể chỉ bị phạt dưới hai năm tù và những người can vào Điều 19 chỉ bị phạt dưới năm năm tù Trong hai trường hợp này, toà án có thể cho bị cáo được hưởng án treo” Điều thứ 18 Sắc lệnh này quy định: “Những người sau đây sẽ bị
phạt tù từ 2 năm đến 5 năm và phạt tiền từ 1.000 đồng đến 10.000 đồng…” Điều thứ 19 Sắc lệnh Số 40- SL quy định: “Những nhân viên sau này sẽ bị phạt từ 5 đến
10 năm tội đồ và 3.000 đồng đến 100.000 đồng tiền phạt…” Mức phạt cao nhất của Điều thứ 18 Sắc lệnh nêu trên là phạt tù từ 2 năm đến 5 năm và phạt tiền từ 1.000 đồng đến 10.000 đồng, tuy nhiên, khi có lý do chính đáng khoan hồng theo quy định tại Điều thứ 22 thì mức phạt giảm xuống dưới khung (có thể chỉ dưới hai năm tù) Đồng thời mức phạt cao nhất của Điều thứ 19 Sắc lệnh 40-SL bị phạt tù từ 5 đến 10 năm tội đồ và 3.000 đồng đến 100.000 đồng tiền phạt, tuy nhiên, khi có lý
do chính đáng khoan hồng theo quy định tại Điều thứ 22 Sắc lệnh thì mức phạt giảm xuống dưới khung chỉ bị phạt dưới năm năm tù
Trang 31Như vậy, quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được
áp dụng đã được quy định đầu tiên tại Sắc lệnh số 40-SL, tuy nhiên, còn sơ khai vì chưa quy định cụ thể các điều kiện áp dụng và giới hạn giảm nhẹ hình phạt
Sắc lệnh số 113/SL ngày 20/01/1953 của Chủ tịch nước về trừng trị các loại Việt gian phản động cũng quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, cụ thể: điểm c, Điều 4 Sắc lệnh quy định: “Những kẻ phạm các tội trên mà tội trạng tương đối nhẹ sẽ bị phạt tù từ 10 năm trở xuống”, còn đối với những người bọn hoạt động đắc lực, làm hại nhiều mà phạm những tội vây quét, bắt, giết, tra tấn, khủng bố, hãm hiếp cán bộ… thì mức tù từ 10 năm trở lên; điểm b,
Điều 7 Sắc lệnh quy định: “Bọn gián điệp thường, tội trạng tương đối nhẹ, sẽ bị
phạt tù từ 10 năm trở xuống”, phạt 10 năm tù trở lên đối với bọn tổ chức, chỉ huy
hoặc bọn hoạt động đắc lực mà phạm tội làm gián điệp cho địch; Tương tự, Điều 9, Điều 10, Điều 11 Sắc lệnh cũng quy định QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với những người có mục đích phản quốc, nhưng tội trạng tương đối nhẹ
Thông tư số 2140/TT-VHH-HS ngày 06/12/1955 của Bộ Tư pháp về việc áp dụng luật lệ đã quy định cụ thể hơn về mức giới hạn QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, cụ thể: “Đối với tội định trong Thông tư số 442-TTg, về tội hối lộ định trong Sắc lệnh 233-SL ngày 27/11/1946, có thể xuống mức tối thiểu hoặc cho hưởng án treo được được không? Tùy từng trường hợp, có thể xuống mức tối thiểu hoặc cho hưởng án treo được, nhưng nên áp dụng dè dặt điều khoản khoan hồng này, có thể xuống mức tối thiểu thì cũng không nên xuống dưới
15 ngày tù” Tuy nhiên, Thông tư này vẫn chưa quy định cụ thể điều kiện để QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
Bản tổng kết số 329-HS2 ngày 11/5/1967 của TAND tối cao về đường lối xử tội hiếp dâm và một số tội phạm khác về mặt tình dục đã hướng dẫn cụ thể về điều kiện và giới hạn của QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với tội hiếp dâm và tội cưỡng dâm, cụ thể: Đối với tội hiếp dâm khi có nhiều TTGN hoặc khi có nhiều TTGN đặc biệt, nếu không có những TTGN khác thật sự
Trang 32nghiêm trọng có thể xử dưới các mức tối thiểu đã được tổng kết trên đây và đối với tội cưỡng dâm khi tập trung nhiều TTGN, hoặc khi có các TTGN đặc biệt, có thể xử dưới mức tối thiểu nói trên đây, có thể cho hưởng án treo hoặc đặc biệt có thể tha miễn hình phạt Như vậy, Bản tổng kết số 329-HS2 đã bước đầu xác định điều kiện QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng phải có nhiều TTGN
Kể từ sau năm 1967 cho đến năm 1985, tại các Hội nghị tổng kết, các văn bản ban hành và hướng dẫn về quy định QĐHP dưới mức thấp của khung hình phạt được áp dụng đã yêu cầu điều kiện áp dụng của quy định này là phải có nhiều TTGN Đồng thời, phạm vi QĐHP trong trường hợp này ngày càng được mở rộng đối với nhiều tội (Ví dụ: thêm tội cờ bạc theo Bản tổng kết số 9-NCPL ngày 08/01/1968 của TAND tối cao hướng dẫn đường lối xét xử các tội cờ bạc) và có nhiều các TTGN được bổ sung Bên cạnh các TTGN đã được quy định, Tòa án còn được quyền tùy nghi xác định các tình tiết khác là TTGN tùy theo trường hợp phạm tội cụ thể để có thể xử dưới khung hình phạt được quy định nhưng phải nói rõ trong bản án Nội dung này được quy hướng dẫn tại bản tổng kết của TAND tối cao năm
1971 về việc vận dụng hai Pháp lệnh ngày 21/10/1970 về trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và xâm phạm tài sản riêng của công dân khi xác định không có các TTGN quy định tại Điều 23 (Pháp lệnh thứ nhất) và Điều 19 (Pháp
lệnh thứ hai) vẫn có thể xử dưới khung hình phạt, cụ thể: Theo thực tiễn chấp nhận,
thì ngoài các TTGN nói ở Điều 23 (hoặc Điều 19) còn có TTGN khác nữa Khi có các TTGN đặc biệt hoặc có nhiều TTGN (phải là những TTGN thực sự, ví dụ như:
bị cáo là vị thành niên, bị cáo chỉ là một công phạm thứ yếu vẫn có thể xử dưới khung hình phạt được quy định nhưng phải nói rõ trong bản án
Như vậy, từ năm 1945 cho đến trước năm 1985, quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đã được ban hành ở nhiều văn bản khác nhau và được hoàn thiện hơn khi đã quy định về điều kiện áp dụng là phải có nhiều TTGN và giới hạn của QĐHP Đây là tiền đề quan trọng để xây dựng và hoàn thiện quy định QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng sau này và cho thấy, chính sách khoan hồng đối với người phạm tội đã được nhà nước
Trang 33ta nghi nhận từ rất sớm Tuy nhiên, ở giai đoạn này, việc áp dụng quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt gặp khó khăn và chưa thống nhất,
vì quy định này nằm ở nhiều văn bản khác nhau
2.1.2 Quy định về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng trong Bộ luật Hình sự năm 1985
Ngày 27/6/1985, Chủ tịch nước ban hành Lệnh số 17-LCT/HĐNN7 thông qua BLHS năm 1985 Quy định về QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng tiếp tục được kế thừa và hoàn thiện hơn tại khoản 3 Điều 38 Bộ luật
này, cụ thể: Khi có nhiều TTGN, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức
thấp nhất mà Điều luật đã quy định hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn Lý do của việc giảm nhẹ này phải được ghi trong bản án
So với các văn bản trước đó, thì BLHS năm 1985 đã quy định rõ về điều kiện
áp dụng và giới hạn của QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng Tuy nhiên, quy định này có hạn chế như sau: Chế định QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng là một quy định quan trọng, tuy nhiên, lại chỉ được quy định là một khoản của Điều luật có tên là “những TTGN” là chưa phù hợp về mặt lập pháp; Về điều kiện áp dụng “Khi có nhiều TTGN” là bao nhiêu TTGN và các TTGN này là thuộc khoản 1 hay khoản 2 hay cả khoản 1 và khoản 2 Điều 38 BLHS năm 1985; khi nào Tòa án quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất mà điều luật đã quy định, khi nào thì Tòa án quyết định chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn Một số hạn chế này đã được hướng dẫn tại Mục B, Phần II Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ ngày 19/4/1989 của Hội đồng thẩm phán TAND tối
cao hướng dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định của BLHS, cụ thể: Khi có
nhiều TTGN” là khi có từ 2 TTGN trở lên, trong đó có ít nhất là một tình tiết đã được quy định tại khoản 1 Điều 38 BLHS Tùy theo số lượng và tính chất của các TTGN, đồng thời tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà quyết định giảm nhẹ trong khung hình phạt hay áp dụng một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đó, hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn…
Trang 34Như vậy, điều kiện QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng là khi có từ 2 TTGN trở lên, trong đó có ít nhất là một tình tiết đã được quy định tại khoản 1 Điều 38 BLHS Còn một TTGN sẽ theo khoản 2 Điều 38 BLHS (Toà án có thể coi những tình tiết khác là TTGN, nhưng phải ghi trong bản án)
2.1.3 Quy định về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng trong Bộ luật hình sự năm 1999
Ngày 21/12/1999, Quốc hội ban hành BLHS số 15/1999/QH10 thay thế BLHS năm 1985 Quy định QĐHP nhẹ hơn quy định của bộ luật được quy định thành một Điều riêng và quy định rõ điều kiện QĐHP dưới mức thấp nhất của
khung hình phạt Tại Điều 47 BLHS năm 1999 quy định như sau: “Khi có ít nhất
hai TTGN quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án” BLHS năm 1999 đã quy định rõ điều
kiện QĐHP nhẹ hơn bộ luật là phải có ít nhất hai TTGN quy định tại khoản 1 Điều
xử theo khoản 3
Trang 35- Khi áp dụng quy định "Trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Toà án
có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn" cần chú ý: Đối với hình phạt tù có thời hạn, thì theo quy định tại Điều 33 BLHS năm 1999 mức tối thiểu của loại hình phạt này
là 3 tháng; do đó, trong mọi trường hợp khi quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định mức thấp nhất của khung hình phạt
là trên 3 tháng tù, thì không được quyết định mức hình phạt tù dưới 3 tháng; nếu mức thấp nhất của khung hình phạt là 3 tháng tù, thì chỉ có thể chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn; Đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, thì theo quy định tại Điều 31 BLHS năm 1999, mức tối thiểu của hình phạt này là 6 tháng;
do đó, trong mọi trường hợp khi quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, không được quyết định mức hình phạt cải tạo không giam giữ dưới 6 tháng; Đối với hình phạt tiền, thì theo quy định tại Điều 30 BLHS năm 1999, mức tối thiểu là 1 triệu đồng; do đó, trong mọi trường hợp khi quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, không được quyết định mức hình phạt tiền dưới 1 triệu đồng Nếu mức thấp nhất của khung hình phạt là 1 triệu đồng, thì chỉ có thể chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn là cảnh cáo
- Lý do của việc QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS cần được ghi rõ trong bản án; QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS chỉ áp dụng đối với các hình phạt chính
mà không áp dụng đối với hình phạt bổ sung, bởi vì đối với hình phạt bổ sung không thể có nhiều khung hình phạt, không có quy định một khung hình phạt, không có khung hình phạt nhẹ nhất và không quy định việc chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn
Như vậy, so với BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 đã quy định cụ thể điều kiện và giới hạn của QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng Tuy nhiên, bên cạnh đó, Bộ luật này cũng bộc lộ một số hạn chế Ví dụ: Chưa cá thể hóa hình phạt trong vụ án có đồng phạm…
Trang 362.2 Quy định của Bộ luật hình sự 2015 về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
BLHS năm 2015 được Quốc hội Khóa XIII kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27/11/2015 (đã được sửa đổi, bổ sung ngày 20/6/2017) gồm 26 Chương, 426 Điều Trong đó, kế thừa quy định về QĐHP nhẹ hơn quy định của bộ luật tại Điều 47 BLHS năm 1999 và Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP Tuy nhiên, đã thay đổi tên gọi của Điều luật từ “QĐHP nhẹ hơn quy định của bộ luật” thành “QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng”, đã cá thể hóa hình phạt và tách ra thành ba khoản quy định rõ hơn về điều kiện cũng như giới hạn của QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
2.2.1 Điều kiện áp dụng quy định về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
2.2.1.1 Có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015
Các TTGN TNHS là những tình tiết được quy định tại Điều 51 BLHS năm
2015 và những tình tiết do Hội đồng xét xử cân nhắc, quyết định trong từng vụ án
cụ thể đối với người phạm tội, các tình tiết này phản ánh mức độ giảm nhẹ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, phản ánh khả năng cải tạo tốt và được khoan hồng của người phạm tội Các TTGN này có vai trò quan trọng trong việc định tội danh và định khung hình phạt và là căn cứ quan trọng để Tòa án QĐHP (bao gồm QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng) Tuy nhiên, chỉ những TTGN quy định tại khoản 1, Điều 51 BLHS năm 2015 mới được xem là căn cứ để QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng Điều đó, đồng nghĩa với việc các TTGN quy định tại khoản 2, Điều 51 BLHS năm
2015 không phải là điều kiện để QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng Bên cạnh đó, dù người phạm tội có trên hai TTGN quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015, Tòa án cũng chỉ QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật
Trang 37Về các TTGN, khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 đã được bổ sung một số TTGN TNHS mới như: Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt người phạm tội; Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra; Người phạm tội là người khuyết tật hoặc khuyết tật đặc biệt nặng và người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha,
mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ Đồng thời, quy định cụ thể cụm các TTGN tại mỗi điểm của khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 bằng việc bổ sung thêm từ “hoặc’, ví
dụ: “người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm” Như
vậy, BLHS năm 2015 đã mở rộng phạm vi được QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng so với BLHS năm 1985 bằng việc bổ sung các TTGN TNHS Việc này càng cho thấy chính sách khoan hồng của Nhà nước ta ngày càng được mở rộng, quy định này phù hợp với các hiệp ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
Có quan điểm cho rằng điều kiện QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 54 BLHS năm 2015 là quá chặt chẽ vì chỉ căn cứ người phạm tội có ít nhất hai TTGN quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 Vậy nên mở rộng điều kiện đối với người phạm tội có ít nhất hai TTGN, trong đó, có ít nhất một TTGN quy định tại khoản 1 và đồng thời có từ hai TTGN quy định tại khoản 2, Điều 51 thì Tòa án cũng có thể QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, sẽ xem hai TTGN TNHS quy định tại khoản 2 Điều
51 bằng 1 tình tiết giản nhẹ TNHS quy định tại khoản 1 Điều 51 Theo tác giả, quan điểm này cũng nên được xem xét
Bên cạnh đó, Điều 54 BLHS năm 2015 không quy định trường hợp người phạm tội có ít nhất hai TTGN TNHS quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015
và đồng thời có TTTN TNHS quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015 thì có được áp dụng quy định QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng hay không? Và nếu được áp dụng, thì áp dụng như thế nào? Mặc dù Luật không quy định rõ, nhưng theo tác giả trường hợp này Tòa án vẫn có thể QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng Tại vì, theo khoản 1 Điều
Trang 3850 BLHS năm 2015 thì căn cứ QĐHP là “Khi QĐHP, Tòa án căn cứ vào quy định
của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi
phạm tội, nhân thân người phạm tội, các TTGN và tăng nặng TNHS” Đồng thời, tại
cụm từ “Tòa án có thể quyết định một hình phạt…” quy định tại khoản 1 Điều 54
BLHS năm 2015 là để Tòa án cân nhắc việc áp dụng Do đó, khi QĐHP phải căn cứ
vào quy định này để xem xét đồng thời giữa các TTGN TNHS và TTTN TNHS của
người phạm tội trong từng trường hợp phạm tội cụ thể để QĐHP cho phù hợp với
tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
2.2.1.2 Người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm
nhưng có vai trò không đáng kể
Khoản 2 Điều 54 BLHS năm 2015 đã bổ sung điều kiện QĐHP dưới mức
thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng “Tòa án có thể quyết định một hình
phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc
phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần
đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể” Do
đó, người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai
trò không đáng kể được xem là một điều kiện để QĐHP dưới mức thấp nhất của
khung hình phạt được áp dụng
Về nguyên tắc, Tòa án quyết định loại và mức hình phạt phải căn cứ vào tính
chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Thực tiễn cho thấy, có
nhiều trường hợp trong vụ án đồng phạm, người giúp sức có vai trò phụ, rất thứ yếu
trong vụ án nhưng họ bị truy tố theo tội danh và khung hình phạt rất nặng cùng với
người chủ mưu, người tổ chức, người thực hành nên dù có được Tòa án QĐHP dưới
khung thì vẫn còn rất nặng vì mức phạt trong khung liền kề nhẹ hơn đối với tội đó
cũng là quá nặng so với mức độ tham gia phạm tội của họ trong vụ án (Mục 8, Phần
I Bản thuyết minh chi tiết về dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi).Do đó, quy định về
QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng tại khoản 2 Điều 54
BLHS năm 2015 là trường hợp cá thể hóa hình phạt đối với người phạm tội nhằm
đáp ứng yêu cầu thực tiễn, theo đó, việc QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình
Trang 39phạt không bị ràng buộc bởi giới hạn “phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn
bởi có hai cách hiểu khác nhau cụ thể:
- Trường hợp thứ nhất: Có tác giả cho rằng để QĐHP dưới mức thấp nhất
của khung hình phạt được áp dụng theo khoản 2 Điều 54 BLHS năm 2015 thì người phạm tội cũng phải có ít nhất hai TTGN quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015 Như bài viết của tác giả Dương Văn Hưng – Tòa án Quân sự Khu vực 1 Quân chủng Hải Quân trên trang Wed: Kiemsat.vn theo quan điểm này
- Trường hợp thứ hai: Có một số quan điểm cho rằng QĐHP dưới mức thấp
nhất của khung hình phạt được áp dụng tại khoản 2 Điều 54 BLHS năm 2015 là trường hợp ngoại lệ nên không cần phải có ít nhất hai TTGN quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015 Những người theo quan điểm này cho rằng quy định tại khoản 1 Điều 54 và khoản 2 Điều 54 BLHS năm 2015 là hoàn toàn độc lập Đồng thời, khoản 2 Điều 54 cũng không quy định là phải có ít nhất hai TTGN tại khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015
Tuy nhiên, nếu hiểu như cách thứ hai thì liệu quy định như trên có đảm bảo sự công bằng khi một người phạm tội có nhiều hơn hai TTGN quy định tại Khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 thì chỉ được QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật,
trong khi đó nếu người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm
nhưng có vai trò không đáng kể như quy định tại khoản 2, Điều 54 BLHS năm 2015
thì người phạm tội có thể được quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật Về vấn đề này, rõ ràng cách quy định của nhà làm luật vẫn chưa cụ thể và đến nay cũng chưa có các Văn bản hướng dẫn, do đó dễ dẫn đến lúng túng trong quá trình hiểu và áp dụng pháp luật của Tòa án Do đó, cần ban hành Văn bản hướng dẫn cụ thể quy định nêu này
Quan điểm của tác giả, điều kiện QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng theo trường hợp thứ hai nêu trên phù hợp, có nghĩa là sẽ QĐHP
Trang 40dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng ngay cả đối với “người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể” mà không cần phải có ít nhất hai TTGN quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015 Vì quy định này đảm bảo nguyên tắc của BLHS năm 2015 về cá thể hóa loại và mức hình phạt đối với người phạm tội trong vụ án có đồng phạm Trong vụ án có đồng phạm, vai trò tham gia của từng người là khác nhau nên họ phải chịu TNHS đối với hành vi vi phạm pháp luật tương ứng, không phải cào bằng TNHS
Ngoài ra, hiểu như thế nào về cụm từ “Có vai trò không đáng kể” quy định tại khoản 2 Điều 54 BLHS năm 2015, vì hiện nay chưa có văn bản nào hướng dẫn quy định này Hành vi của người phạm tội trong trường này sẽ là bao nhiêu %/ tổng
số hành vi phạm tội sẽ được xem là có vai trò không đáng kể… Thực tiễn áp dụng
sẽ gặp khó khăn hoặc áp dụng quy định này sẽ không thống nhất Theo tác giả, vai trò không đáng kể có nghĩa là họ tham gia với vai trò rất nhỏ, không mang tính quyết định đến việc phạm tội Hành vi tham gia đó chỉ giúp tội phạm hoàn thành hoặc diễn ra nhanh chóng hơn Việc có hoặc không có sự tham của người giúp sức trong vụ án đồng phạm đó không ảnh hưởng nhiều đến vụ án
Rõ ràng quy định điều kiện QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng là “người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể” là quy định mới, tiến bộ của BLHS năm 2015 so với BLHS năm 1999 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2009) Tuy nhiên, cần phải có hướng dẫn cụ thể về quy định này
2.2.1.3 Điều kiện quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn
Khoản 3 Điều 54 BHS năm 2015 quy định “Trong trường hợp có đủ các
điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án
có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn” Do đó, khi QĐHP dưới mức thấp